Việc nghiên cứu “Ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đối với đời sống văn hóa tinh thần người Việt Nam hiện nay” có ý nghĩa thiết thực trong việc nhìn nhận, đánh giá khách quan về v
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Tôn giáo học
Mã số: 60 22 90
LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC
Người hướng dẫn: PGS.TS ĐẶNG THỊ LAN
HÀ NỘI - 2011
Trang 2MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU i
Chương 1: TỔNG QUAN CHUNG VỀ NHÂN SINH QUAN PHẬT GIÁO VÀ ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA NGƯỜI VIỆT NAM 8
1.1 Nhân sinh quan Phật giáo 8
1.1.1 Khái niệm nhân sinh quan 8
1.1.2 Nội dung chủ yếu của nhân sinh quan Phật giáo 14
1.2 Đời sống văn hóa tinh thần 28
1.2.1.Khái niệm đời sống văn hóa tinh thần 28
1.2.2 Sự biến đổi về đời sống văn hóa tinh thần Việt Nam hiện nay 35
Chương 2: ẢNH HƯỞNG CỦA NHÂN SINH QUAN PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI MỘT SỐ PHƯƠNG DIỆN CỦA ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN VIỆT NAM HIỆN NAY 45
2.1 Ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đối với đạo đức, nhân cách con người Việt Nam 45
2.1.1 Đối với đạo đức 45
2.1.2 Đối với nhân cách 53
2.2 Ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đối với tín ngưỡng, lễ hội và phong tục, tập quán 66
2.2.1 Đối với tín ngưỡng, lễ hội 66
2.2.2 Đối với phong tục, tập quán 75
2.3 Một số giải pháp 82
KẾT LUẬN 90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
Trang 3MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU i
Chương 1: TỔNG QUAN CHUNG VỀ NHÂN SINH QUAN PHẬT GIÁO VÀ ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA NGƯỜI VIỆT NAM 8
1.1 Nhân sinh quan Phật giáo 8
1.1.1 Khái niệm nhân sinh quan 8
1.1.2 Nội dung chủ yếu của nhân sinh quan Phật giáo 14
1.2 Đời sống văn hóa tinh thần 28
1.2.1.Khái niệm đời sống văn hóa tinh thần 28
1.2.2 Sự biến đổi về đời sống văn hóa tinh thần Việt Nam hiện nay 35
Chương 2: ẢNH HƯỞNG CỦA NHÂN SINH QUAN PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI MỘT SỐ PHƯƠNG DIỆN CỦA ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN VIỆT NAM HIỆN NAY 45
2.1 Ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đối với đạo đức, nhân cách con người Việt Nam 45
2.1.1 Đối với đạo đức 45
2.1.2 Đối với nhân cách 53
2.2 Ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đối với tín ngưỡng, lễ hội và phong tục, tập quán 66
2.2.1 Đối với tín ngưỡng, lễ hội 66
2.2.2 Đối với phong tục, tập quán 75
2.3 Một số giải pháp 82
KẾT LUẬN 90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Phật giáo vừa là một tôn giáo, vừa là một học thuyết triết học được truyền bá rộng rãi ở nhiều nơi trên thế giới, trong đó có Việt Nam Triết học Phật giáo là một hệ thống những tư tưởng về thế giới quan, nhân sinh quan thâm thúy, sâu sắc và tinh túy như “Tứ diệu đế”, “vô tạo giả”, “vô ngã”, “vô thường”, “nhân quả”, “nghiệp báo”, “sắc – không”, “Niết bàn”…
Trong suốt lịch sử tồn tại và phát triển tại Việt Nam, những tư tưởng đó luôn hòa mình cùng lịch sử tư tưởng dân tộc, có ảnh hưởng không nhỏ và chi phối đời sống xã hội nước ta Trong đó, đặc biệt hơn cả là những
tư tưởng nhân sinh quan Phật giáo - một trong những nhân tố cấu thành nền văn hóa dân tộc cũng như nhân cách, đạo đức Việt Nam ngày nay
Nhân sinh quan Phật giáo được thể hiện độc đáo trong nội dung
“Bát chính đạo’ tức “Giải thoát luận” của Phật giáo Đồng thời với Bát chính đạo (chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh, chính tinh tiến, chính niệm, chính định) còn là tám biện pháp phá chấp (phá thế giới, phá chủ thuyết thời gian, phá mọi chủ thuyết, phá mọi đối tượng của ý thức, phá lưỡng tính tương đối, phá nhân duyên và phá chấp), Ngũ giới (bất sát sinh, bất đạo tặc, bất tà dâm, bất vọng ngữ, bất ẩm tửu), và Lục
độ (bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, thiền định, bát nhã) Nhân sinh quan Phật giáo luôn có ảnh hưởng đến xã hội Việt Nam trong mọi thời đại, biến đổi cùng với những thăng trầm của lịch sử dân tộc Nhất là, trong công cuộc đổi mới và xây dựng đất nước chuyển từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa diễn ra trên đất nước ta, thì sự biến đổi của ảnh hưởng nhân sinh quan Phật giáo
Trang 5trong đời sống văn hóa tinh thần của con người Việt Nam càng diễn ra khá
rõ nét và có những biểu hiện mới trên các lĩnh vực tín ngưỡng, phong tục tập quán, đạo đức và nhân cách
Nhân sinh quan Phật giáo có ảnh hưởng cả tích cực và tiêu cực, không chỉ đến đời sống văn hóa tinh thần, mà đến cả đời sống xã hội Việt Nam nói chung Những tác động của nhân sinh quan Phật giáo luôn đan xen, sâu sắc và phong phú trong lịch sử cũng như hiện tại Việc nghiên cứu
“Ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đối với đời sống văn hóa tinh
thần người Việt Nam hiện nay” có ý nghĩa thiết thực trong việc nhìn nhận,
đánh giá khách quan về vai trò của Phật giáo trong đời sống xã hội
Nhất là, trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, theo quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta, chúng ta phải dựa vào các nguồn lực tinh thần của dân tộc để “ứng vạn biến”, trong đó có nguồn lực tôn giáo Phát huy các giá trị của nhân sinh quan Phật giáo trong đời sống văn hóa tinh thần dân tộc Việt Nam, như một phần không thể thiếu, là một hướng khả thi để xây dựng nhân cách con người Việt Nam, xây dựng nền văn hóa tinh thần dân tộc phong phú, đa dạng, đậm đà bản sắc dân tộc, đồng thời bảo tồn và phát triển được những sắc thái dân tộc một cách độc lập, tự chủ
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nghiên cứu về ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đối với đời sống văn hóa tinh thần của con người Việt Nam là đề tài rộng lớn Đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề này và đạt được những kết quả đáng trân trọng Có thể kể ra một số công trình sau đây:
- Các công trình nghiên cứu về lịch sử Phật giáo Việt Nam: Mấy
vấn đề Phật giáo và lịch sử tư tưởng Việt Nam của Viện Triết học; Lịch sử Phật giáo Việt Nam, Lịch sử tư tưởng Việt Nam, Nguyễn Tài Thư (chủ
biên), Việt Nam Phật giáo sử lược của Thích Mật Thể, Việt Nam Phật giáo
Trang 6sử luận của Nguyễn Lang… Trong rất nhiều các tác phẩm ấy, tiêu biểu hơn
cả là “Việt Nam Phật giáo sử luận” của Nguyễn Lang gồm 3 tập Trong
công trình này, tác giả đã giới thiệu khá chi tiết về lịch sử Phật giáo Việt Nam trong suốt tiến trình lịch sử dân tộc, cũng khái quát được một số đóng góp của Phật giáo từng thời kỳ lịch sử dân tộc với văn học nghệ thuật, giáo dục, chính trị, quân sự, văn hóa trong đó đã ít nhiều cũng có đề cập đến vấn đề ảnh hưởng của Phật giáo đến văn hóa tinh thần của người Việt Nam trong lịch sử dân tộc
- Nghiên cứu về triết học Phật giáo: Đại cương triết học Phật giáo
Việt Nam của Nguyễn Hùng Hậu, Triết học Phật giáo của Nguyễn Duy
Hinh, Phật giáo những vấn đề triết học của Ngô Văn Doanh và Nguyễn Hùng Hậu (dịch), Triết học Phật giáo Hoa Nghiêm Tông của Garma C.C.Chang, Tìm hiểu nhân sinh quan Phật giáo của Thích Tâm Thiện… Trong các tác phẩm kể trên, đặc biệt có tác phẩm “Tìm hiểu nhân sinh quan
Phật giáo” của Thích Tâm Thiện liên quan trực tiếp đến vấn đề nghiên cứu
Trong tác phẩm này, tác giả đã lấy Duyên sinh – Vô ngã làm điểm trung tâm để nghiên cứu nhân sinh quan Phật giáo Từ bản thể luận, nhận thức luận, tác giả dẫn độc giả đi qua khung cảnh lịch sử xã hội và triết học Ấn
Độ, bốn thời kỳ kết tập kinh điển Phật giáo rồi lần lượt giới thiệu những hình thức trình bày về duyên sinh vô ngã qua các thời kỳ, trong các bộ kinh Hoa Nghiêm, Pháp Hoa, Lăng Già… để cuối cùng giúp độc giả nhận diện Phật giáo trong sự đối chiếu với các học thuyết triết học, thấy được vị trí và giá trị của Phật giáo với những nguyên lý và nền tảng của Phật giáo Tác giả đã trình bày vấn đề trên cả hai bình diện lịch sử và tư tưởng Nội dung tác phẩm gồm 16 chương, cung cấp khối lượng kiến thức khá đầy đủ về nhân sinh quan của Phật giáo
Trang 7- Các công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của Phật giáo với đời
sống xã hội: Văn hóa Phật giáo và lối sống của người Việt ở Hà Nội và
châu thổ Bắc Bộ của Nguyễn Thị Bảy; Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con người Việt Nam hiện nay của Nguyễn Tài Thư (chủ
biên); Ảnh hưởng của tư tưởng triết học Phật giáo trong đời sống văn hóa
tinh thần ở Việt Nam của Lê Hữu Tuấn, Luận án tiến sĩ triết học; Phật Giáo với văn hóa Việt Nam của Nguyễn Đăng Duy; Ảnh hưởng của Phật giáo đối với lối sống của người Việt Nam hiện nay, đề tài cấp bộ, mã số B.09-01
của tác giả Hoàng Thị Lan, Đạo đức Phật giáo với đạo đức con người Việt
Nam của tác giả Đặng Thị Lan,… Trong các tác phẩm kể trên, có tác phẩm
“Đạo đức Phật giáo với đạo đức con người Việt Nam” của tác giả Đặng Thị Lan đã phản ánh một cách sâu sắc những ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo đến đời sống đạo đức của người Việt Trong công trình này trên cơ sở khái quát một số vấn đề lý luận khi nghiên cứu đạo đức Phật giáo đặt trong mối quan hệ với đạo đức tôn giáo, các phạm trù, các giá trị của đạo đức Phật giáo, đạo đức Phật giáo với đạo đức truyền thống và hiện đại của người Việt Nam Công trình nêu bật được những giá trị ảnh hưởng tích cực và hạn chế của đạo đức Phật giáo – một khía cạnh của đời sống văn hóa tinh thần xã hội Để từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy những mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của đạo đức Phật giáo Nhìn chung, dưới góc độ tiếp cận đạo đức Phật giáo đối với đạo đức xã hội, tác giả đã rất thành công trong việc khắc họa được một cách toàn diện nhất những ảnh hưởng của Phật giáo đến đời sống văn hóa tinh thần người Việt Nam trên phương diện đạo đức xã hội
Ngoài ra, còn có rất nhiều bài viết liên quan đến vấn đề nghiên cứu được đăng tải trên các báo, tạp chí trong nước và nước ngoài như: Tạp chí Triết học, Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, Tạp chí Công tác Tôn giáo, Tạp chí Thông tin khoa học xã hội,… được các học giả đánh giá cao, phần nào
Trang 8phản ánh những khía cạnh ảnh hưởng của Phật giáo trong đời sống văn hóa
xã hội Việt Nam hiện nay
Điểm qua tình hình nghiên cứu trên cho thấy, những công trình nghiên cứu đó đều thống nhất ở một số điểm: Phật giáo có ảnh hưởng nhất định trong đời sống xã hội Việt Nam, đặc biệt là đời sống văn hóa tinh thần Những triết lý đầy tính nhân sinh của Phật giáo kết hợp với văn hóa truyền thống đã tạo nên sự phong phú của đời sống tinh thần con người Việt Nam Các công trình nghiên đó hoặc trực tiếp, hoặc gián tiếp, ở các mức độ và khía cạnh khác nhau, đã thể hiện tư tưởng triết học Phật giáo và ảnh hưởng của nó đối với đời sống xã hội Việt Nam Do đó, việc đánh giá những ảnh hưởng tích cực, tiêu cực của Phật giáo, mà trước hết là nhân
sinh quan Phật giáo, trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp nhằm phát huy
những ảnh hưởng tích cực, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng triết học này trong đời sống xã hội Việt Nam lâu nay, là việc làm hết sức có
ý nghĩa Tuy nhiên, việc làm sáng tỏ những ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đối với đời sống văn hóa tinh thần của con người Việt Nam hiện nay dưới tác động mạnh mẽ của công cuộc đổi mới, toàn cầu hóa thì còn chưa nhiều Vì vậy, luận văn có nhiệm vụ là: trên cơ sở tiếp thu, kế thừa những kết quả nghiên cứu của những công trình đi trước để phân tích đánh giá về những ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đến đời sống văn hóa tinh thần người Việt Nam hiện nay trên một số phương diện cụ thể
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu: Luận văn phân tích những ảnh hưởng
của nhân sinh quan Phật giáo đối với đời sống văn hóa tinh thần của người Việt Nam hiện nay Trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp nhằm phát huy những ảnh hưởng tích cực và hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của nhân sinh
quan Phật giáo trong quá trình đổi mới ở nước ta hiện nay
Trang 93.2 Nhiệm vụ nghiên cứu: Để thực hiện được mục đích trên, luận
văn có nhiệm vụ cụ thể:
Thứ nhất, Tổng quan chung về nhân sinh quan Phật giáo và đời
sống văn hóa tinh thần của người Việt Nam
Thứ hai, Phân tích ảnh hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đến đời
sống văn hóa tinh thần của người Việt Nam hiện nay, trên một số lĩnh vực
cụ thể như: Tín ngưỡng, phong tục tập quán, đạo đức và nhân cách
Thứ ba, Luận văn đưa ra một số giải pháp nhằm phát huy ảnh
hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của nhân sinh quan Phật giáo trong quá trình đổi mới hiện nay
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Ảnh hưởng nhân sinh quan Phật giáo
đến đời sống văn hóa tinh thần của người Việt Nam
4.2 Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu ảnh
hưởng của nhân sinh quan Phật giáo đến đời sống văn hóa tinh thần của người Việt Nam hiện nay trên một số lĩnh vực chủ yếu: Tín ngưỡng, phong tục tập quán, đạo đức và nhân cách
5 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận: Luận văn dựa trên phương pháp luận của chủ
nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về tôn giáo nói chung và Phật giáo nói riêng
5.2 Cơ sở thực tiễn: Những biểu hiện sự ảnh hưởng nhân sinh
quan Phật giáo đến đời sống văn hóa tinh thần người Việt Nam hiện nay
5.3 Phương pháp nghiên cứu: Tác giả luận văn sử dụng các
phương pháp nghiên cứu của Tôn giáo học, phân tích và tổng hợp; lôgíc - lịch sử; khái quát hóa, trừu tượng hóa v.v
Trang 106 Đóng góp mới về mặt khoa học của luận văn:
- Luận văn góp phần vào việc phân tích sự ảnh hưởng nhân sinh quan sinh Phật giáo đối với đời sống văn hóa tinh thần của người Việt Nam hiện nay
- Luận văn bước đầu nêu lên một số giải pháp nhằm phát huy những ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của nhân sinh quan Phật giáo trong quá trình đổi mới ở nước ta hiện nay
7 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy tôn giáo ở các trường Đại học, Cao đẳng
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 2 chương, 5 tiết
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN CHUNG VỀ NHÂN SINH QUAN PHẬT GIÁO VÀ ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA NGƯỜI VIỆT NAM
1.1 Nhân sinh quan Phật giáo
1.1.1 Khái niệm nhân sinh quan
Nhân sinh quan là một trong những khái niệm thường được các học giả nhắc đến và bàn luận đặt trong mối quan hệ với thế giới quan
Thế giới quan là “toàn bộ những quan niệm của con người về thế giới, về bản thân con người, về vị trí của con người trong thế giới ấy”[18;7] Trong thế giới quan bao gồm ba hình thức sau:
Thế giới quan huyền thoại là “hình thức thế giới quan đặc trưng của người nguyên thủy Nó phản ánh những quan niệm của người nguyên thủy
Như vậy, từ những quan niệm trên theo chúng tôi hiểu, thế giới quan Phật giáo chính là sự giải thích hay những quan niệm của đạo Phật về thế giới về con người…
Thế giới quan giúp con người xác định mục tiêu, phương hướng hoạt động của bản thân Trên cơ sở đó, hoạt động của con người mới mang tính hướng đích và thể hiện được tính tự giác cao Thế giới quan giúp con người xác định lý tưởng, hoài bão, ước mơ, ý nghĩa cuộc sống Nói khác đi “Thế giới quan khoa học sẽ giúp con người định hướng đúng trong cuộc sống,
Trang 12xác lập được nhân sinh quan đúng đắn, tích cực”[18;8] Thế giới quan tôn giáo giúp cho các tín đồ theo đạo định hướng hành động theo những chuẩn mực tôn giáo quy định trong đời sống thực hành tôn giáo Là một tôn giáo lớn, thế giới quan Phật giáo giúp cho các tín đồ Phật giáo định hướng, xác định hành động của mình theo lý tưởng giải thoát khỏi mọi khổ đau, khỏi
vô minh và sinh tử luân hồi để hướng tới Niết Bàn, góp phần quyết định trực tiếp hình thành nhân sinh quan Phật giáo
“Nhân sinh” theo “Từ điển tiếng Việt” được hiểu là: “cuộc sống của con người”[78;511] Cũng theo “Từ điển tiếng Việt thông dụng” thì “Nhân sinh quan là quan niệm về cuộc đời, thành hệ thống bao gồm lý tưởng, lẽ sống, lối sống…”[81;764]
Nhân sinh quan là quan niệm về đời người, cách nhìn nhận về cuộc đời, là đạo làm người: “Nhân sinh quan nói vắn tắt thì đó là cách người ta nhìn cuộc đời hay là cái “Đạo” làm người của người ta”[34;5]
Như vậy, nghiên cứu vấn đề nhân sinh quan tức là “nghiên cứu vấn
đề bản chất, mục đích thái độ và hành vi của đời sống con người”[34;7]
Mỗi thời đại khác nhau, con người có một nhân sinh quan khác nhau, nhân sinh quan không thể tách khỏi sự phát triển của thời đại Theo quan niệm của các nhà kinh điển C.Mác – Ph Ăngghen, loài người trải qua năm hình thái kinh tế xã hội là xã hội cộng sản nguyên thủy, xã hội chiếm hữu
nô lệ, xã hội phong kiến, xã hội tư bản chủ nghĩa và chúng ta hiện nay đang tiến tới xã hội cộng sản chủ nghĩa, tương ứng với mỗi thời đại đó là một nhân sinh quan phù hợp “Nhân sinh quan là thuộc về ý thức tư tưởng cũng như bất cứ ý thức tư tưởng nào khác, mỗi nhân sinh quan đều có cơ sở kinh
tế nhất định”[48;7]
Trong xã hội cộng sản nguyên thủy, loài người vừa mới thoát khỏi tình trạng sống bầy đàn, ai nấy đều làm chung, hưởng thụ chung Chế độ tư
Trang 13hữu tài sản và sự áp bức giai cấp chưa xuất hiện, con người sống và hoạt động tập thể Thời bấy giờ, cuộc sống tập trung, giản dị, tri thức con người còn non nớt, không ai biết đến nhân sinh quan là gì Nhưng vì cảm thấy tính cách thần bí cũng như sự đe dọa của nhiều hiện tượng tự nhiên, như mưa gió, thú dữ, bệnh tật, chết chóc,… mà không tìm ra cách giải thích, cũng không đủ sức lực để chống cự, nên mọi người đều tin rằng mọi vật trên thế giới đều có thần linh chi phối tất cả các hiện tượng như: sinh, tử, họa, phúc Do đó sinh ra tôn giáo, sùng bái tự nhiên
Trong xã hội chiếm hữu nô lệ, xã hội xuất hiện chế độ tư hữu và có
sự phân chia giai cấp, đây là cơ sở hình thành nên nhân sinh quan của giai cấp: chủ nô và nô lệ Bọn chủ nô áp bức và bóc lột nô lệ tàn bạo Chủ nô không tự mình lao động mà chỉ lo xây dựng chế độ nhà nước, định ra luật pháp để thống trị nô lệ Chủ nô trong xã hội chiếm hữu nô lệ luôn giảng giải đạo làm người, lợi dụng sự kém hiểu biết của nô lệ, họ dựng lên những câu chuyện thần bí về “Thượng đế” hoặc về “thiên mệnh”, để bảo vệ cho
sự hợp lý địa vị của chúng Theo đó, chế độ nô lệ là do ý trời định sẵn, lừa bịp và ngăn cản, đàn áp những cuộc đấu tranh phản kháng của người nô lệ
Trong xã hội phong kiến, loài người lại chia thành hai giai cấp đối lập nhau là địa chủ và nông dân Địa chủ phong kiến thi hành chế độ bóc lột địa tô và nền chuyên chế thống trị rất tàn ác Điều này hình thành nên thế giới quan và nhân sinh quan của giai cấp địa chủ với nông dân Đó là sự phục tục của người nông dân đối với địa chủ Sự phục tục như trong quan niệm của Nho giáo Trung Quốc: theo “lễ giáo” và “chính danh”, theo “đạo làm người”, nghĩa là phải tôn kính quỷ thần, trung với vua, hiếu với cha và
an phận thủ thường
Khi xã hội phong kiến suy đồi, xuất hiện chế độ tư hữu, giai cấp tư sản bắt đầu xuất hiện, xã hội tư bản chủ nghĩa xuất hiện Trong chế độ tư
Trang 14hữu, mỗi người lao động sinh hoạt riêng rẽ, cạnh tranh lẫn nhau để dành quyền sống, người ta chỉ biết đến lợi ích cá nhân, đem lợi ích cá nhân đối lập với lợi ích chung của cộng đồng Vì vậy, nhân sinh quan phản ánh chế
độ tư hữu là nhân sinh quan cá nhân Vì vậy trong xã hội sự đối kháng giai cấp trở nên gay gắt giữa giai cấp tư sản và vô sản Giai cấp tư sản không ngừng bóc lột vô sản, phong trào đấu tranh của vô sản chống lại sự bóc lột
ấy lại gia tăng Bằng nhân sinh quan tiến bộ, cách mạng, giai cấp vô sản đã xây dựng được chính đảng của mình đó là Đảng cộng sản, xây dựng được chủ trương sáng suốt, đúng đắn nhằm cải tạo thế giới, xây dựng được thế giới quan và nhân sinh quan cách mạng trên nền tảng tư tưởng Mác – Lênin Đó là nhân sinh quan cách mạng Sinh thời Chủ tịch Mao Trạch Đông có cho rằng, “Nhân sinh quan cách mạng của chúng ta là đoàn kết với nhân dân, phục vụ nhân dân, suốt đời đấu tranh để thực hiện chủ nghĩa dân chủ mới và chủ nghĩa xã hội, giải phóng triệt để toàn nhân dân ta và toàn thể nhân dân thế giới”[48;162] Hay nhà Cộng sản chủ nghĩa Du Minh Hoàng có viết, “nhân sinh quan cách mạng tạo cho mỗi suy nghĩ và hành động của người vô sản nhằm mục đích tự giải phóng khỏi ách áp bức bóc lột của giai cấp tư sản và xây dựng một cuộc sống, cuộc đời tự do hạnh phúc”[48;6] Điều này được tác giả Du Minh Hoàng nhấn mạnh: “Giai cấp
vô sản hiện nay là giai cấp cách mạng nhất Họ có một chính đảng mạnh
mẽ là Đảng cộng sản, là một chủ trương sáng suốt và đúng đắn để cải tạo thế giới Họ lại còn có một đạo làm người rất cách mạng là thế giới quan và nhân sinh quan của chủ nghĩa Mác – Lênin”[34;13]
Bước sang chế độ xã hội chủ nghĩa, tư liệu sản xuất trở thành sở hữu chung cho toàn xã hội, và của tập thể Trên cơ sở công hữu đó là: lao động mỗi cá nhân là một bộ phận trực tiếp của lao động tập thể, căn bản, nhất trí với lợi ích tập thể, người lao động tập thể theo phương châm “mình vì mọi người, mọi người vì mình” điều này đã hình thành thế giới quan và nhân
Trang 15sinh quan cộng sản chủ nghĩa “Nhân sinh quan cộng sản chủ nghĩa là nhân sinh quan phản ánh cơ sở kinh tế xã hội chủ nghĩa, nhân sinh quan vì lợi ích tập thể của giai cấp công nhân suốt đời phấn đấu quên mình cho lý tưởng xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa”[48;9]
Như vậy, theo chúng tôi, nhân sinh quan là toàn bộ những quan niệm chung nhất về cuộc sống của con người Nhân sinh quan đề ra và giải đáp những vấn đề như con người sinh ra để làm gì? Lẽ sống của con người là gì? Sống như thế nào cho xứng đáng với con người?
Tóm lại, nhân sinh quan nói nên quan niệm của con người về bản chất, mục đích của cuộc sống, về thái độ và hành vi của con người trong cuộc sống
Nhân sinh quan có tính giai cấp, trong xã hội có giai cấp, mỗi giai cấp có một nhân sinh quan riêng Những giai cấp đối địch nhau có nhân sinh quan khác nhau “Nhân sinh quan của giai cấp bóc lột nói nên nguyện vọng muốn bóc lột được thật nhiều sức lao động của kẻ khác Nhân sinh quan của giai cấp bị bóc lột nói nên nguyện vọng, mong muốn phản kháng chống lại giai cấp bóc lột để dành quyền sống Nhân sinh quan của giai cấp tiểu tư sản chủ yếu nói lên nguyện vọng, mong muốn sống một cách an phận thủ thường, chấp nhận cuộc sống tạm được của mình”[48;4] Nhân sinh quan có tính giai cấp, điều đó không phải là ngẫu nhiên mà bởi nhân sinh quan là một bộ phận của ý thức tư tưởng Cũng như mọi ý thức tư tưởng khác, nhân sinh quan phản ánh tồn tại xã hội, nghĩa là phản ánh địa
vị giai cấp của con người trong sản xuất xã hội, phản ánh điều kiện sinh hoạt vật chất và lợi ích của con người trong xã hội Trong xã hội có các giai cấp khác nhau, địa vị khác nhau, trong hệ thống sản xuất xã hội có quan hệ khác nhau với tư liệu sản xuất, có vai trò khác nhau trong tính chất lao động xã hội, có thu nhập và phương thức hưởng thụ khác nhau Nghĩa là,
Trang 16địa vị xã hội và lợi ích khác nhau, nhân sinh quan phản ánh những điều kiện sinh hoạt vật chất là khác nhau, mang tính giai cấp Chỉ trong xã hội cộng sản văn minh hoàn toàn, khi không còn giai cấp, khi mà mọi người đều có địa vị và lợi ích như nhau trong sản xuất xã hội thì mới có một nhân sinh quan của toàn thể nhân dân không có tính giai cấp
Nhân sinh quan là vấn đề quan trọng nhất đối với con người Trong cuộc sống, con người luôn suy nghĩ về cuộc sống của chính mình và không lúc nào ngừng hoạt động để phục vụ cho cuộc sống của mình Nhân sinh quan là toàn bộ những kinh nghiệm, cách nhìn nhận chung nhất về cuộc sống, cho nên đồng thời chúng cũng là những tư tưởng chỉ đạo mỗi suy nghĩ và hành động của con người, là nguồn gốc của mỗi suy nghĩ và hành động đó Nhân sinh quan của con người là một phạm trù rộng, với tư cách
là hình thái ý thức, tư tưởng, trong mỗi giai cấp, mỗi cộng đồng người và thậm chí trong mỗi người đều tồn tại những kiểu nhân sinh quan khác nhau tương xứng với các hình thái ý thức xã hội khác nhau Hiểu như vậy, thì không chỉ có nhân sinh quan nói chung mà còn có nhân sinh quan cụ thể của từng hình thái ý thức, tư tưởng của con người như nhân sinh quan huyền thoại, nhân sinh quan triết học và nhân sinh quan tôn giáo
Nhân sinh quan tôn giáo được đặt trong mối quan hệ với thế giới quan tôn giáo Nhân sinh quan tôn giáo được hiểu là toàn bộ những quan niệm chung nhất của tôn giáo về cuộc sống con người nhằm giải đáp cho con người những vấn đề về lẽ sống và định hướng niềm tin vào
sự giải thoát
Vậy, qua phân tích trên, nhân sinh quan Phật giáo theo chúng tôi hiểu là toàn bộ những quan niệm chung nhất của Phật giáo về con người, cuộc sống của con người, bản chất của con người, đó là sự khổ” và thái độ, hành vi tu tập của con người nhằm mục đích giải thoát để đạt tới Niết bàn
Trang 171.1.2 Nội dung chủ yếu của nhân sinh quan Phật giáo
Nội dung chủ yếu của nhân sinh quan Phật giáo được được hình thành trên cơ sở của thế giới quan tôn giáo Thế giới quan Phật giáo giúp cho các tín đồ xác định được lý tưởng giải thoát, hướng tới Niết Bàn Nói cách khác, thế giới quan Phật giáo giúp cho các tín đồ định hướng tới chân
lý diệt khổ để được giải thoát trong cuộc sống, xác lập được nhân sinh quan hướng thiện Trên cơ sở đó xác định được thái độ, cách thức hoạt động, và cách sống, tu tập và rèn luyện của tín đồ để diệt trừ vô minh, thoát khỏi vòng sinh tử luân hồi, thoát khỏi bể khổ
Thế giới quan và nhân sinh quan Phật giáo chịu ảnh hưởng của hai
luận điểm: Vô ngã và Vô thường; qua bốn luận thuyết cơ bản: Vô tạo giả,
Vô ngã, Vô thường và Nhân quả tương tục
Thuyết vô thường (Anicca): Thuyết Vô thường là một trong những
triết thuyết quan trọng, nòng cốt của đạo Phật Vô thường là không thường,
là chuyển biến, là thay đổi Luật Vô thường chi phối vũ trụ, vạn vật, thân, tâm ta
Sự chuyển biến vô thường diễn ra dưới hai hình thức chủ yếu sau:
- Sát na vô thường: Là sự chuyển biến rất nhanh, trong một thời gian rất ngắn (một ngày đêm = 24 giờ = 6.400.099.980 sát na) Ngũ ấm đều chuyển biến sinh diệt qua mỗi sát na
- Nhất kỳ vô thường: Là sự chuyển biến trong từng giai đoạn Sự chuyển biến sát na là trạng thái chuyển biến liên tiếp, nhanh chóng, ngấm ngầm, thường ta không nhận thức kịp, mà kết quả gây ra sự vô thường, thường là trạng thái chuyển biến rõ rệt, kết thúc một trạng thái cũ, chuyển sang trạng thái mới Vạn vật tuân theo luật: Thành - Trụ - Hoại - Không Các sinh vật tuân theo luật: Sinh - Trụ - Dị - Diệt Một hành tinh, một ngôi
Trang 18sao có thời kỳ trụ dài hàng triệu năm… nhưng lại có loại hoa Phù dung trụ đúng một ngày
Xung quanh ta sinh vật biến chuyển không ngừng Theo luật vô thường thì không phải vạn vật sinh ra mới gọi là sinh, khi vạn vật diệt mới gọi là diệt, mà từng phút, từng giây, từng sát na, sự sống và sự chết đã liên tiếp xảy ra Dù sống để mà chết, chết để mà sống, trong sự sống có sự chết, trong sự chết là sự sống Sống chết tiếp diễn liên tục bất tận như trên một vòng tròn Vậy, chết không phải là hết mà là điều kiện cho cái sinh tiếp Thuận thế tâm, xã hội biến chuyển không ngừng
Đây là một cơ sở lý luận cho phương thức sống, cho triết lý sống của con người Không nhận thức được cái lẽ vô thường đó là sự sai lầm - ảo giác hay huyền giác Nếu hiểu thấu đáo thì sống tự tại, an lạc, không phiền não đau khổ trước những sự chuyển biến sự vật: Sinh - Trụ - Dị - Diệt; Thành - Trụ - Hoại - Không diễn ra hàng ngày
Thuyết vô ngã: Thuyết vô ngã được coi là nền tảng của cả hệ thống
giáo lý triết thuyết Phật giáo Nội dung cơ bản của thuyết vô ngã cho rằng: Trong một thế giới không có cái tôi nào cả - tức thế giới là vô ngã Ví như: Theo quan điểm của Bà la môn là Atman (cái tôi), còn Phật giáo là Anatman (không có cái tôi)
Trong đó nhấn mạnh hai điểm: Vô thường, vô ngã tức không có cái Ta, trường tồn vĩnh cửu mà biến chuyển không ngừng từng phút, từng giây, từng sát na Vậy, cái ta ở thời điểm nào là cái ta chân thực, bất biến Đó là cái Ta con người gồm hai phần: Sinh lý (Thân) và Tâm lý (Tâm)
Theo kinh Trung A Hàm, cái Ta sinh lý chỉ là sự kết hợp của bốn yếu tố: Đất (địa đại), nước (thuỷ đại), lửa (hoả đại), gió (phong đại) Trong đó cả bốn yếu tố này có những đặc tính khác nhau: Địa đại: Đặc, cứng - Tóc, răng, móng tay, da thịt, không thuộc ta; Thuỷ đại: Chất lỏng - Mật, máu,
Trang 19mồ hôi; Hoả đại: Chất sinh ra nhiệt trong cơ thể, biểu hiện sống; Phong đại:
Là những rung động như hơi thở, chất hơi ở dạ dày
Cái Ta sinh lý chỉ là một khoảng không gian giới hạn bởi sự kết hợp của xương thịt, thoáng là của ngoại cảnh, thoáng là của ta, sự thực, nó là của
ai Khi bốn yếu tố ấy tách rời nhau, trở về thể của nó, thì không còn gì ở lại
để gọi là cái Ta được nữa Cái Ta sinh lý chỉ là giả tướng, một nhất hợp tướng mà thôi
Còn cái Ta tâm lý thì gồm Thụ, Tưởng, Hành, Thức Bốn ấm này cùng sắc ấm che lấp trí tuệ làm ta không nhận thấy được cái Ta chân thực, chân ngã của ta là Phật tính Cái Ta tâm lý bao gồm những cảm giác, nhận thức, suy tưởng là sự hội tụ của thất tình (hỷ, nộ, ai, lạc, ái, ố, dục) là giả tướng
Vậy, “nhân vô ngã” không có linh hồn vĩnh cửu, nếu có thì linh hồn cũng luôn luôn biến chuyển không thực có: Còn tinh thần, vật chất trong con người? Tinh thần là cái thức, cái biết - cảm giác, nhận thức, suy tưởng, phụ thuộc vào giác quan, vào bộ não Ví như: ánh sáng và cây nến
Thức có 6: nhãn, nhĩ, tị, thiệt, thân, ý thức
Không có tinh thần độc lập, tồn tại vĩnh cửu Cảm giác bất biến về thân ta là do vọng niệm, do những giả tướng diễn ra liên tục, tiếp nhau rất nhanh chóng Các hiện tượng tâm lý, vật lý diễn ra rất nhanh, ta không nhận thấy được, tướng là có tính bất biến sinh ra, mất đi - một ảo tưởng (ví như que hương quay tròn tạo ra vòng lửa) Hay “phi nhất, phi dị” đời người dài bằng một hơi thở Sự sống là vô thuỷ, vô chung Người ta sống rồi chết, chết rồi sống (sinh sinh, tử tử) Đó là luân hồi; không có một linh hồn bất
tử chuyển từ kiếp này sang kiếp khác
Con người chưa thoát vòng sinh, tử, luân hồi do trong cuộc đời con người tham vọng, vị kỷ bám vào cái Ta Đó là sợi dây trói con người vào
Trang 20bánh xe luân hồi Cái dẫn dắt con người đi ấy là Nghiệp lực Luân hồi là sự kết hợp mới của ngũ uẩn mà động lực là Nghiệp lực, là dục vọng Còn dục vọng thì còn hành, còn Nghiệp lực, còn luân hồi Còn dục vọng còn gây ra những chủng tử hữu lậu tiềm tàng trong thức thứ 8 (A lại da) Với trạng thái ô nhiễm chủng tử này buộc con người vào bánh xe luân hồi Chỉ khi nào diệt trừ dục vọng, những chủng tử trên trở thành vô lậu thanh tịnh, con người thoát luân hồi, chứng được Niết bàn (tịch diệt, vẳng lặng, không còn dao động, trạng thái tâm hồn hoàn toàn giải thoát, đưa lại phương thức sống, triết lý cuộc sống: Lấy vị tha làm lý tưởng cao cả Chấp ngã là gốc của vô minh, là đầu mối của luân hồi, đau khổ)
Luật nhân quả - lý duyên khởi của “pháp tịnh”
Luật nhân duyên - quả báo (Nhân - Quả): Luật nhân duyên – quả báo cho rằng: Mọi vật không tự nhiên hay do thần quyền nào mà có, “nhất thiết vật, nhân duyên sinh” Nhân gặp duyên tạo Quả, Quả gặp duyên thành Nhân Chuỗi Nhân - Quả là không dứt
Như vậy, trong luật Nhân – Quả đã bao hàm quan niệm “Bất định pháp” Trong “Câu xá luận” nhắc tới 6 nhân Trong Du Già Luận = 10 Nhân: Tuỳ thuyết nhân, Quảng đại nhân, Khiêm dần nhân, Nhiếp thụ nhân, Sinh khởi nhân, Dẫn phát nhân, Định dị nhân, Đồng sự nhân, Tường vị nhân và Bất tương vi nhân Vừa là nhân đồng thời cũng vừa là duyên, không có nhân đầu tiên, cuối cùng sự vật là vô thuỷ, vô chung
Quan niệm về Duyên được đề cập đến trong kinh sách của Phật giáo cũng rất đa dạng: Trong kinh Trường A Hàm cho rằng có bốn loại: Nhân duyên, Đẳng vô gián duyên, Sở duyên duyên và Tăng thượng duyên Các duyên tạo thành Quả: Duyên sinh hay duyên khởi - Sự vật đều trực tiếp hay gián tiếp duyên khởi lẫn nhau Hay pháp giới là trùng trùng duyên khởi Con người, xã hội Nhân = Nghiệp (hạt giống gieo vào pháp giới) Có Nhân
Trang 21- Quả đồng thời, lại có Nhân - Quả dị thời Còn trong kinh Pháp Cú cũng nói: “Không một nơi nào trên dải đất liền, trên biển cả hay một khe núi nào kín đáo nhất mà thủ phạm một việc phi pháp có thể trốn tránh được luật Nhân - Quả” Điều đó nghĩa là: Sự vật không bao giờ tự nhiên mà sinh ra, cũng không có thần quyền nào tạo ra con người do chính nghiệp Nhân của mình tạo ra và có thể cải tạo đời mình
Trong thuyết Nhân – Quả, Nghiệp và Nghiệp báo (Karna) cũng là một trong những vấn đề được bàn đến Nghiệp là những hành động về thân, lời nói, ý nghĩ: Thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp Và kết quả do Nghiệp đưa lại gọi là Quả báo (trừ những việc vô ký: Không hại, không lợi cho người khác) Chia thành thiện, ác, bất động nghiệp (hành động tu luyện tự tâm, không bị lay động trước cảnh dục) Nghiệp đặc biệt (cực trọng nghiệp, tích tập nghiệp, cận tử nghiệp, dẫn nghiệp: Nghiệp báo có nghiệp lực dẫn dắt con người vào các loài khác nhau, số phận con người chính trong tay họ)
Pháp tịnh: Khái niệm “Pháp”: Dharma (Sanskrit); Dhamam (Pali) từ
gốc Dhar có nghĩa là giữ gìn, không cho biến đổi Chính là trật tự, phép tắc, đạo lý… Hoặc Pháp cũng là hiện tượng có tự thể hoặc tâm lý hoặc vật lý
Theo quan niệm của đạo Phật: Pháp là quy luật bắt nguồn từ luật Nhân
- Quả và thuyết duyên sinh - theo bốn nghĩa: Giáo pháp, Nhân duyên, Đức, Hiện tượng Quan trọng là hiện tượng Hiện tượng bao hàm các mối quan hệ nội hàm (yếu tố vật lý, sinh lý, tâm lý) và ngoại diên (quan hệ tồn tại và ý thức, chủ thể và khách thể); Đề cập tới các mặt nội dung và hình thức; gắn liền không gian với thời gian
Vậy Pháp là một tuệ giác hàm chứa các quy luật cơ bản chi phối các pháp, chi phối mọi sự vật hiện tượng Pháp chịu sự chi phối của lý nhân duyên và luật Nhân - Quả Nhưng sự vật hiện tượng đó tồn tại khách quan, thiên biến vạn hoá, có những mối quan hệ vô cùng phức tạp Là đối tượng
Trang 22quan sát của con người: Tìm ra sự thật về nó cả hình thức, bản chất; cả nội hàm, ngoại diên trong hiện tại, quá khứ, tương lai
Pháp có các đặc tính cơ bản sau: Đặc tính Như lai: Bản chất của Pháp
là tồn tại khách quan, biến đổi theo những quy luật vốn có Có sinh thì có tử;
có thành thì có trụ, hoại, không… là một hiện thực gắn liền với các yếu tố nằm trong nội thân sự vật; Đặc tính xác thực: Phản ánh đặc tính về nội hàm của sự vật: “Nhất thiết pháp, nhân duyên sinh” Sự vật không phải tự sinh hay do một nguyên nhân mà là sự cấu thành của nhiều nhân, nhiều duyên Nhân - Duyên không hoàn toàn có vị trí cố định trong sự vật, cũng như không có nhân đầu tiên; Bất định: Thể hiện mối quan hệ tất yếu mang tính quy luật trong mối tương quan giữa Nhân và Duyên Hay mối quan hệ Nhân - Quả mang tính tất yếu Muốn nhìn thấy thuộc tính này cần trừu tượng hoá nhiều cái ngẫu nhiên, phán đoán bản chất của sự vật qua lôgíc hình thức “Tam đoạn luận” Qua đó từ tri thức trực giác, phân tích, so sánh, suy luận, diễn dịch tìm tri thức mới
Luật nhân quả trong giới hữu tình: không tác động trực tiếp mà phải qua mối liên hệ phức tạp hơn, thông qua những hành động chủ động có ý thức của con người, chịu sự tác động của nghiệp
Tóm lại, đặc tính duyên khởi nhằm giải đáp vấn đề Có - Không; Sinh - Diệt
Có - Không: Sự vật bao hàm nhiều Nhân và Duyên tác động, biến đổi, khẳng định sự thống nhất lại bao hàm ý phủ định Cùng với luật vô thường, thuyết nguyên tử, đi vào thế giới vi mô, không còn ranh giới giữa vật lý - tâm lý Có - không thường gọi: sắc sắc - không không Sắc: Là những gì có hình tướng, màu sắc mà ta nhận thức được, nắm giữ được Nhưng do luật vô thường mà biến chuyển không ngừng Từ “có” trở về
“không”, “còn” thành “mất”, cái không lại chuyển biến không ngừng thành sắc Sắc không, không sắc đều là tương đối Trong sắc đã có không, trong
Trang 23không đã có sắc Không, không phải là không vô mà là tính liên tục của sự vật luôn luôn là nó để chuyển thành cái khác trong quan hệ với chính nó
Trong kinh Bát Nhã có nói: “Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc” để chỉ là hai dạng của bản thể không sai, không khác Thực thể vật - tâm vận động theo quy luật Nhân - Quả, Nhân
- Duyên và hình thức tồn tại: sắc sắc - không không theo vòng sinh - trụ -
dị - diệt, thành - trụ - hoại - không Các yếu tố tạo nên vũ trụ khi hội đủ nhân duyên sẽ hợp thành thực thể hữu hình gọi là sắc Riêng con người thì sắc phải có tâm (tâm lý, ý thức, tâm thức, tâm linh) vô thức, vô hình quyết định sự tồn tại đích thực của con người Nhưng sự tồn tại đó cũng chỉ tạm thời của sắc không trong vòng luân chuyển của vô số nhân duyên và trùng trùng duyên khởi
Sinh - Diệt: Theo các quy luật đã nói, sự vật đang trong quá trình sinh thành tàn tạ - phủ định trên cơ sở khẳng định Sự sinh - diệt đó là hiện hữu khách quan, không do quyền lực bên ngoài, mà do những điều kiện đã phát sinh trước, bắt buộc - sai khiến, ngăn ngừa - tăng tiến
Tóm lại, thuyết về pháp phản ánh bản thể luận đạo Phật là thuyết nguyên tử luận (nguyên tử - Sắc: Đất, nước, lửa, không khí; - Tâm: Thụ, tưởng, hành, thức, tâm lý, tâm thần, tâm linh) Qua đó cho thấy vũ trụ quan đạo Phật mang tính chất nhân bản; Bản thể luận vật lý Coi con người là một bộ phận của thế giới vật lý đã bị khách quan hoá Ngược lại, vũ trụ quan Phật giáo không thể tách rời tồn tại con người về thời gian hay không
gian ra khỏi tồn tại vũ trụ không có có con người
Bản chất của nhân sinh quan Phật giáo được phản ánh qua Lý duyên khởi Lý duyên khởi đã thể hiện pháp tính Đây là một năng lực nhận thức
ở trình độ cao nhìn thấy sự vật vị lai, không phải là sự kiến giải ngoài giác quan, tri thức con người Mà thực chất của tuệ giác duyên khởi - trí tuệ Bát
Trang 24Nhã là sản phẩm kỳ diệu của tư duy con người thâm nhập sâu vào bản chất thế giới hiện thực và là giai đoạn cao của quá trình nhận thức: Từ hình thành khái niệm đến trình độ phán đoán và suy luận Quá trình liên tục khai sáng trí tuệ, liên tục phân tích bằng các công cụ nhận thức khác nhau Từ quy nạp đến diễn dịch; Từ phân tích quan hệ Nhân - quả giữa các yếu tố nội hàm sinh vật đến tổng hợp nhiều mặt hiểu biết rút ra sự hiểu biết mới qua phán đoán đi đến kết quả là Tuệ giác tam minh; Tuệ giác Bát Nhã
Đối tượng của nhận thức Phật giáo cũng chính là pháp tính (có nhiều pháp tính) quan trọng là pháp tính về lý nhân duyên, thể hiện những quy luật chung nhất, tìm ra những chân lý phổ biến nhất
Nắm bắt thế giới hữu hình: Khẳng định sắc, thụ, tưởng, hành, thức là trật tự tự nhiên của con đường nhận thức thông thường từ cảm tính đến kinh nghiệm đến lý tính Ở đây tư duy lý tính không thể vượt qua được giới hạn của nhận thức bằng khái niệm (pháp)
Nắm bắt thực chất, cái thường còn, cái “không” tuyệt đối của vũ trụ tức bằng siêu khái niệm của chủ thể siêu ngã (chủ thể nhận thức) Nhận thức ở đây là quá trình chân không hoá cái ý thức của chủ thể Chủ thể phải làm chủ được bẩy tâm (nhục đoàn, duyên tư, tích tập, tạo khởi, tích tụ, tịch yến, tâm vương, tâm sở): chứa đựng cả yếu tố duy cảm, duy lý Sau đó phủ nhận tính chân thực của tri thức, giữ lại khái niệm “vô thường” Quá trình quan hệ chủ thể - khách thể vừa là thực lại vừa là không thực Do sự vật biểu hiện ra là sự tồn tại, nhưng khi cố hiểu, trí năng lại lạc hướng, không nắm được bản chất đối tượng bằng trí năng Phần nào gắn với chủ nghĩa hư
vô (chỉ phủ nhận thế giới hiện tượng) Do đằng sau còn một thế giới khác phi hiện tượng đó là Chân như Kết quả của quá trình nhận thức cho ta thấy các pháp thể hiện bốn đặc tính có tính chất quy luật: Như Lai, xác thực, tất định, duyên khởi
Trang 25Như vậy, nhân sinh quan Phật giáo chống hai khuynh hướng cực đoan chủ trương “tất cả đều có” - mọi sự vật đều trường tồn vĩnh cửu Và
“tất cả đều không” - mọi sự vật đều đoạn diệt hay tịch diệt và đi vào chỗ
hư vô
Tóm lại, nhân sinh quan Phật giáo cho chúng thấy rằng, chân lý là ở ngay thế gian, ở đời sống thực tế hiện hữu: Hiện thực khách quan luôn luôn biến đổi theo những quy luật vốn có của bản thân nó Chân lý có được từ hai thực tế: Thực tế thể hiện ra bề ngoài, ngũ quán ta dễ dàng biết được tạo nên chân lý mặc ước; Thực tế trừu tượng chỉ có thể nắm bắt được qua nhiều lần quan sát và xét đoán trên cơ sở các hoạt động thực tiễn, mới đầu phát hiện được phần vững chắc nhất trong các mặt biểu hiện của hiện tượng
- Chân lý cuối cùng hay chân lý tuyệt đối Các phương pháp nhận thức của Phật giáo dựa trên cơ sở của ba mối quan hệ đối đãi tương quan tương liên chặt chẽ: Quan hệ giữa tâm và vật (vật chất - tinh thần chủ quan và khách quan); Quan hệ giữa chủ thể và khách thể; Quan hệ giữa ý căn (bộ óc) và quá trình phát triển của nhận thức
Phật giáo cho rằng Vật (Sắc - Ruya) gồm bốn yếu tố cấu thành (tứ đại): Đất, nước, lửa, gió và các hình thức (sắc do tứ đại tạo thành) Đây là đối tượng của ý căn, là đối tượng quan sát của tâm Tâm bằng quá trình tập hợp nhiều dòng “thụ cảm” và nhiều dạng, không ngừng hoạt động phân tích tổng hợp để đi tới hình thành căn bản trí hay tri kiến chân như
Theo quan niệm của đạo Phật: chủ thể nhận thức - con người nhận thức và hành động để cải tạo thế giới xung quanh và cải tạo bản thân Nguồn gốc tri thức căn - trần và xúc duyên nơi thức Những tri giác có tới tuệ tri còn phụ thuộc vào tri nhận thức của con người trong quá trình hoạt động thực tiễn (cả về mặt tư duy) Nên chỉ riêng mặt nhận thức “tư tưởng thuần tuý” chưa phải là chủ thể Chủ thể phải có khả năng và sức mạnh của
tư duy trừu tượng Vì vậy, chủ thể và khách thể là một, mới chỉ là khả năng
Trang 26đạt đến trí tuệ của con người, còn đưa tới đời sống phải qua con đường Bát chính đạo, con đường của Tam học Giới - Định - Tuệ
Nhận thức luận Phật giáo thể hiện nội dung tư tưởng triết học phân tích bằng nhiều phương pháp phân tích khác nhau; Với đặc điểm: Từ kết quả tìm nguyên nhân để đạt tới trí tuệ: Chính niệm và tỉnh giác Qua 6 phép thần thông: Thần túc thông, Thiên nhĩ thông, Tha tâm thông, Túc mệnh thông, Thiên nhãn thông, Lậu tận thông
Nhân sinh quan Phật giáo được chi phối bởi thế giới quan, vũ trụ quan đã phân tích ở trên Nhằm giải đáp các vấn đề: Con người là gì? Từ đâu sinh ra, chết rồi đi đâu? Vị trí con người; quan niệm về tự do, bình đẳng; khổ, giải thoát…
Tất cả được thể hiện qua cấu trúc rắn của toàn bộ giáo lý, kinh điển Phật giáo là Tứ diệu đế
* Một là, Khổ đế được coi là một trong những giáo lý quan trọng của Phật giáo Thuật ngữ Khổ đế nguyên gốc là Dukkha, Duk nghĩa là Khó; Kha nghĩa là chịu đựng Dukkha với nghĩa đầy đủ là: Khổ, không thường còn, không hoàn toàn là hư giả, không có thực thể, là vô thường Khổ bao gồm:
- Khổ khổ: Là những khổ thụ trong cuộc sống, đau khổ về thể xác và tâm hồn (sinh, lão, bệnh, tử, ghét mà phải sống gần; yêu mà phải lìa xa, ước vọng không đạt, tội ác hoành hành, đạo đức nhân phẩm bị trà đạp)
- Hoại khổ: Những cảm giác lạc thụ trong cuộc sống, không tồn tại mãi Theo luật vô thường, trước sau cũng phải chấm dứt, khi ấy lạc thụ sinh
ra khổ thụ
- Hành khổ: Từ chữ Ta Ta là sự kết hợp của 5 uẩn, chuyển biến không ngừng, trong cả phần vật chất và tinh thần biến đổi từng giây, từng sát na
Khi ngũ ấm đó tương quan, tương duyên kết hợp với nhau thành một
cơ thể sinh lý, tâm lý Vô minh tưởng đó là trường tồn, bất biến, nên bám
Trang 27lấy không muốn rời ra để hưởng lạc Những luật vô thường làm biến đổi, dẫn tới con người phiền não
Sự sống con người được thể hiện đầy đủ là do sự tiếp xúc của 6 căn với 6 trần, tạo ra thức (cảm tính, khổ vui, trung tính hiện ra) Vậy, khổ thụ, lạc thụ là do những nhân duyên chủ quan, khách quan tạo tác Trong đó về khổ thụ - có cái ai cũng phải chịu đựng là:
+ Sinh khổ: Vì đã có cái sinh ắt có diệt, bị luân thường chi phối Huống chi sinh có một cơ thể sinh lý có hình tướng, phải chịu và đối phó với nóng lạnh, tìm sống, tai nạn Chính vì vậy con người suốt đời phiền não khổ đau
+ Lão khổ: Mong trẻ mãi không được, giác quan mờ dần, suy yếu… + Bệnh khổ: Khi sống thường bị ốm đau, chết là khi già yếu, thân thể suy nhược, bệnh tật hoành hành
+ Tử khổ: Khi chết, do nghiệp báo chịu cái thân nào thì gắn bó với thân ấy, coi nó như thân duy nhất của mình, nên khi chết phiền não vô cùng Hơn nữa, chúng sinh dùng cái thân để liên hệ với ngoại cảnh, cho nên khi chết thì luyến tiếc cái thân đó
+ Cầu bất đắc khổ: Chạy theo điều mình yêu thích, mong cầu này nọ chưa được thì phiền não
+ Oán tăng hội: Cái chán ghét mà cứ ở bên
+ Ái biệt ly: Khư khư giữ những vật mình yêu thích, nhưng mọi cái
vô thường sẽ mất đi
+ Ngũ ấm xí thịnh: Ngũ ấm che lấp trí tuệ, làm con người không nhận rõ thực tướng sự vật, không nhận rõ bản thể
Trong khổ thụ có những cái khổ phụ thuộc, nhiều hay ít do con người tạo nên: Sầu bi, oán tắng hội, ái biệt ly
Trang 28Với chân lý này, lấy Dukkha làm đối tượng quan sát Ở đây từ những hiện thực đa dạng trong cuộc sống đã có sự quy nạp (so sánh), phân biệt làm
3 loại khổ Sau đó diễn dịch thành khái niệm chung, diễn đạt chân lý phổ biến về các đau khổ của con người trong cuộc sống giữa tự nhiên và xã hội
là Dukkha Nhưng chưa khái quát được hoạt động sống của con người bằng khái niệm “hoạt động thực tiễn” Nối liền quan hệ chủ thể - khách thể, tồn tại
- nhận thức, khả năng - hiện thực, tự do - tất yếu
* Hai là, Tập đế: Về nguồn gốc Dukkha, đây là bước phát triển cao
hơn của tư duy Đi sâu phân tích và tổng hợp để phán đoán và hiểu biết về các loại nguyên nhân gây ra đau khổ cho con người Dẫn đến sự phán đoán
về nguồn gốc của khổ đau là do vô minh, khát ái và chấp trước, mà gốc rễ chính là “khát ái” Trong bản kinh có chép: “Bốn chân lý vi diệu” thuộc Tăng chi bộ: “Các Tỷ khiêu! thế nào là chân lý cao thượng về nhân khổ? Duyên vô minh có hành, duyên hành có thức, duyên thức có danh… như thế là nhân của toàn bộ khổ uẩn”
Đây là phần lý luận ứng dụng học thuyết nhân quả tương tục Đã có
sử dụng một số khái niệm trong ngành tâm lý, lý luận để cảm nhận thế giới của tâm lý học thực hành vốn có ở Ấn Độ Thập nhị nhân duyên là mô hình liên ngành triết học, tâm lý học một cách tất yếu Do nhu cầu nội tại của triết học con người Nguyên nhân đó không phải tìm đâu xa, nó ở ngay trong ta, có nhiều nhưng lược lại thành 10 kết sử là: Tham, sân, si, mạn, nghi, thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiến thủ, giới cấm thủ Với 3 nhân chính (tam độc) là tham, sân, si, khiến người ta bị luân hồi trong 3 cõi, chịu nhiều đau khổ: khổ đế, tập đế là nhân, là quả thế gian Sau đó là 12 nhân duyên - sợi dây trói buộc con người trong vòng sinh tử luân hồi trong cõi Dukkha
Thập nhị nhân duyên: Phật giáo quan niệm rằng có 12 nguyên nhân gây ra cái khổ của con người:
Trang 29- Vô minh: Là mê lầm, không sáng suốt Đối với những hiện tượng trong vũ trụ, không nhận thức được thực tướng, chân tướng của nó là chuyển biến không ngừng, là vô thường mà lại lầm tưởng là thực có, là thường còn Vô minh theo 3 bậc: Thượng (chấp ngã) - Trung (niệm khởi)
và Hạ (mê tính giác đây là chủ của sinh tử luân hồi, nguồn gốc của mọi cái sai lầm)
- Hành: Hành nghiệp do vô minh, là những tâm niệm sinh diệt chuyển biến không ngừng, mà chúng sinh lầm tưởng là có cái Ta riêng biệt Gây nên nghiệp xấu để chịu quả báo Trong 3 đời thì đây là Vô minh + Hành là nhân quá khứ, gây quả hiện tại
- Thức: Là nghiệp thức phân biệt Do vô minh + hành mà kết thành Thức phân biệt tạo ra cố chấp có năng có sở: bảo thủ thân mệnh mình bằng bất cứ giá nào Sinh ra những tâm niệm vui, buồn, yêu, ghét…
- Danh sắc: Chỉ cái tâm phân biệt hay cái thức Sắc là sắc chất, danh sắc chỉ tổng bào thai của loài hữu tình khi còn ở trong bào thai Nhờ có tâm năng phân biệt (danh) và cảnh sở phân biệt (sắc) nương tựa nhau thai mới dần dần lớn lên
- Lục nhập: Là 6 căn đối đãi với 6 trần Sự tiếp xúc với 6 trần là chưa
rõ ràng, nhưng nhờ sinh khí 6 trần do người mẹ truyền vào để nuôi con, bào thai mới sinh trưởng được Đó là Lục nhập
- Xúc: Là tiếp xúc, va chạm vào Thai sinh ra rồi tuy có giác quan (căn) tiếp xúc với cảnh trần Nhưng tiếp xúc chưa rõ rệt Đối với cảnh vui, buồn, ưa thích… chưa rõ rệt về cảm giác
- Cảm thụ: Từ xúc lên thụ là đã tiến lên một giai đoạn trong cuộc sống Khi tiếp xúc với cảnh trần đã biết phân biệt tình cảm vui buồn, yêu ghét (7, 8 tuổi)
- Ái: Tham ái, yêu thích do cảm thụ sinh ra Từ tham ái đến say đắm trước những cảnh ưa thích, vừa lòng, chán ghét những cảnh trái ý Say đắm
Trang 30cảnh, đuổi theo cảnh, bám lấy không muốn xa, khi không được dẫn đến buồn phiền
- Thủ: Khi đã yêu thích thì muốn giữ lấy, tìm mọi cách chiếm lấy tạo thành nghiệp ác, tội lỗi, thoả mãn dục vọng
- Hữu: Do ái, thủ chi phối lôi kéo tạo thành nghiệp nhân hữu lậu, phải kết sinh tương tác trong 3 cõi để chịu quả báo khổ đau
- Sinh: Do không rõ đại ý duyên khởi như huyễn, sự vật là không có
tự tính nên mê lầm nhận thức là có sinh, đã có sinh là có lão tử
- Lão tử: Do duyên khởi như huyễn, nhưng do mê lầm cho là có thực chất
Đây là sợi dây truyền liên tục từ khâu này sang khâu khác trong nhiều đời Nên chúng sinh bị chìm đắm mãi trong vòng luân hồi Nhưng xét đến cùng, mà trong cả một đời, trong từng niệm 12 nhân duyên cùng khởi ra nhau, liên tục không gián đoạn Cái nào cũng có thể làm nhân, làm duyên cho cái khác
* Ba là, Diệt đế: Chân lý được phát hiện trên cơ sở duy lý: “Bất cứ
cái gì, bản tính có sinh, tất cả cái ấy bản tính có diệt” Nguyên nhân, mầm mống khổ diệt cũng chính trong Dukkha Đưa tới bước suy lý: Dukkha sinh khởi bởi “khát cứ” và nó diệt nhờ trí tuệ
Đây chính là phần thực hành lý luận của liên ngành triết tâm lý có sự tham gia của đạo đức học Toàn bộ nội dung diệt đế là cơ sở cho những giới luật để điều chỉnh tâm lý sinh lý Với chủ trương: Dùng hoạt động tâm lý của thần kinh cấp cao để hạn chế tính hướng ngoại của chủ thể
Diệt đế là tịnh quả Niết bàn do thực hành tịnh nghiệp mà Đạo đế mang lại: Đó là sự diệt trừ sự khổ đi đến an lạc, kết nghiệp đã hết, không còn luân hồi sinh tử
Trang 31Niết bàn với 4 đặc điểm: thường, lạc, ngã, tịnh (thường hằng, không biến đổi, an lạc, giải thoát, hết phiền não, thân tâm tự tại, chân ngã, chân thực, thường còn, thanh tịnh trong sạch không còn ô nhiễm) Tuỳ theo công hạnh tu hành mà Niết bàn có các thứ bậc khác nhau
* Bốn là, Đạo đế: Đây là sự hoàn chỉnh lý luận về nhận thức chân lý:
Từ cụ thể (hiện thực đau khổ) đến trừu tượng trở về cuộc sống thực tế với
sự chứng ngộ của con người qua Bát chính đạo, xây dựng trên cơ sở của Tam học Chân lý chỉ ra con đường, pháp môn hướng đến cho con người
đạt được kết quả giải thoát có rất nhiều pháp môn
Như vậy, nội dung nhân sinh quan Phật giáo đề cập và giúp cho con người giải đáp được phần nào những vấn đề liên quan đến cuộc sống của con người, nhận thức được bản chất của con người là khổ và tìm ra được con đường tu tập thoát khổ, tự mình giải thoát cho chính mình Với những nội dung mang ý nghĩa nhân văn nhân đạo đó, khi được truyền vào Việt Nam, nhân sinh quan Phật giáo đã phát huy ảnh hưởng sâu sắc đến mọi mặt trong đời sống xã hội của người Việt, đặc biệt là trong đời sống văn hóa tinh thần
1.2 Đời sống văn hóa tinh thần
1.2.1 Khái niệm đời sống văn hóa tinh thần
Mọi khái niệm khoa học đều có lịch sử sinh thành và phát triển của
nó Với thời gian khám phá, bổ sung nó ngày càng mang nội dung hoàn chỉnh, thuật ngữ văn hóa cũng vậy Vốn được dịch từ tiếng Pháp là culture,
có nguồn gốc La tinh, thuật ngữ văn hóa được dùng lần đầu khoảng thế kỷ XIII với nghĩa “cây trồng” Qua thế kỷ XIV, nó có thêm những nghĩa và từ mới phát sinh “người trồng trọt” (cultivateur), rồi mở rộng ra là “người làm nông nghiệp” (agriculteur) Nhưng rồi với những biến đổi xã hội to lớn, có tính cách mạng ở thời Phục hưng (thế kỷ XIV-XVI), từ văn hóa ở thế kỷ
Trang 32XV được nhận thêm các nghĩa bóng trừu tượng: nhận thức, giáo dục, kiến thức Nghĩa bóng của từ cũng được dùng song song với các từ phát sinh cultiver (giáo dục) cultivé (có giáo dục, có học vấn), incultu (vô học, không học vấn) Đến thế kỷ XVIII – thế kỷ của Ánh sáng trong lịch sử nhân loại, thuật ngữ văn hóa nhận được đầy đủ nội dung và nâng cấp lên để chỉ sự tích hợp toàn bộ những hoạt động sáng tạo của con người Điều này Hồ Chủ Tịch khẳng định: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát sinh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn hóa, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với những biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”[43;431] Ở khái niệm trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên một số những sản phẩm do con người sáng tạo ra, trong đó có văn hoá vật thể (những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở…), có văn hoá phi vật thể (ngôn ngữ, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật) Chữ “giá trị” được ẩn dưới câu “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống… nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” Những sản phẩm do con người phát minh ra mà Chủ tịch Hồ Chí Minh liệt kê nêu trên phải là những sản phẩm nhằm phục vụ cho con người, có nghĩa là chứa đựng các giá trị
Xét về lịch sử vấn đề cho đến nay đã có rất nhiều định nghĩa về văn hóa xuất phát từ nhiều góc độ, nhiều ngành khoa học khác nhau Theo “Từ
điển triết học” thì văn hóa là “toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do
con người sáng tạo ra trong thực tiễn xã hội – lịch sử và tiêu biểu cho trình
độ đạt được trong lịch sử phát triển xã hội Theo nghĩa hẹp hơn, người ta vẫn quen nói về văn hóa vật chất (kỹ thuật, kinh nghiệm sản xuất, giá trị
Trang 33vật chất) và văn hóa tinh thần (khoa học, nghệ thuật, văn học, triết học, đạo đức, giáo dục ) Văn hóa là một hiện tượng lịch sử, phát triển phụ thuộc vào sự thay thế các hình thái kinh tế - xã hội”[79;656]
Văn hóa là khái niệm văn hoá bao gồm tất cả những sản phẩm vật thể và phi vật thể do con người sáng tạo ra và mang tính giá trị Theo khái niệm này, có thể thấy văn hoá bao gồm tất cả những gì con người làm ra và
từ cách ăn mặc, ứng xử, phong cách, trình độ của một con người, của cộng đồng người nào đó, ngoài những cái gì là chung của con người sinh học, đều có cái riêng, cái không thể lẫn lộn hòa trộn được, đó là nét riêng, là bản sắc, tinh hoa thuộc về văn hóa Văn hóa không bao trùm nhưng lại thấm sâu vào kinh tế, chính trị, pháp luật… Chính cái đặc điểm lan tỏa, thấm sâu này mà phương Đông có cách hiểu “văn hóa thiên hạ” Văn hóa từ bản chất, từ hàm lượng giá trị tinh thần của nó là thần thái của cuộc sống, con người xã hội Trong Nghị quyết Trung ương 4, khóa VII có viết: “Văn hóa
là nền tảng tinh thần của xã hội, là động lực đồng thời là mục tiêu của Chủ nghĩa xã hội”[Xem 16]
Vậy là, từ bản chất nhân văn, từ phạm vi tồn tại rộng khắp trong không gian và xuyên suốt thời gian “Văn hóa, hiểu theo nghĩa rộng nhất của dân tộc học, có nghĩa là một tổng thể phức tạp bao gồm các kiến thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật lệ, phong tục và tất cả những khả
Trang 34năng và thói quen mà con người đạt được với tư cách là thành viên của xã hội”[80;1]
Hay Kroeber và Cklukholm lại cho rằng, “Văn hóa gồm các mô hình bộc lộ ra rõ ràng và hàm ẩn về cách ứng xử, đạt được và lưu truyền qua các biểu tượng và thể hiện sự hoàn thiện đặc trưng giữa các nhóm người, trong
đó có cả các giả tượng thể hiện các nhóm ấy Hạt nhân của văn hóa được tạo nên bởi những tư tưởng truyền thống (nghĩa là chúng được lưu truyền bằng con đường phát sinh, hoặc tuyển chọn qua dòng lịch sử) và nhất là các giá trị gắn với các tư tưởng ấy Các hệ thống văn hóa một mặt có thể được xem như là hệ quả của hành động, mặt khác chúng được xem như yếu tố tạo điều kiện cho những hành động mới”[37;32]
Khái niệm văn hoá này được hiểu theo nghĩa rộng, nhấn mạnh về hoạt động sáng tạo của con người trong lịch sử xã hội, thiên về tính giá trị
và tính kế thừa Trong cuốn “Cơ sở văn hoá Việt Nam”, Trần Ngọc Thêm đưa ra khái niệm: “Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội” [74;10]
Có thể thấy hai khái niệm nêu trên có sự tương đồng Theo đó, văn hoá được hình thành từ khi con người biết sáng tạo (có nghĩa là văn hoá hình thành cùng với sự hình thành loài người) Văn hoá là tất thảy những sản phẩm vật chất (văn hoá vật thể) và tinh thần (văn hoá phi vật thể) do con người sáng tạo ra trong quá khứ, hiện tại, cả hai khái niệm nêu trên đều gắn với chữ “giá trị” Có nghĩa rằng, không phải tất cả những sản phẩm con người sáng tạo ra đều là văn hoá mà chỉ những sản phẩm có chứa đựng giá trị (là cái có ích cho con người) Cũng có nghĩa, những sản phẩm
do con người làm ra (sáng tạo ra) nhưng không mang tính giá trị thì không
Trang 35phải là văn hoá (ví dụ: bom hạt nhân, heroin, chất độc hoá học, vũ khí giết người…) Những danh lam thắng cảnh như vịnh Hạ Long, động Phong Nha - Kẻ Bảng… tuy không phải do con người làm ra nhưng con người tìm ra và thưởng thức vẻ đẹp của nó (thưởng thức là một sáng tạo) cũng là văn hoá
Trong thập kỷ thế giới phát triển văn hóa, năm 1988, UNESSCO, cũng đưa ra định nghĩa: “Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng: Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lí tính, có óc phê phán và dấn thân một cách có đạo lí Chính nhờ văn hóa mà con người
tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân”[88;24]
Khái niệm văn hóa của UNESSCO có đề cập đến văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần, đến hệ giá trị và đặc biệt là nêu lên “những nét riêng biệt
về văn hoá của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội” Như vậy, khái niệm trên cũng là khái niệm văn hoá theo nghĩa rộng, kèm theo đó là quan điểm công nhận mỗi dân tộc dù lớn hay nhỏ đều có bản sắc văn hoá riêng biệt
Văn hóa xuất hiện đáp ứng những nhu cầu của con người trong quá trình sinh hoạt, lao động Là một thực thể xã hội, trong đời sống của mình, con người bị chi phối và ràng buộc bởi nhiều mối quan hệ khác nhau, đồng
Trang 36thời, con người cũng có vô vàn những nhu cầu không giống nhau Nhu cầu của con người rất đa dạng, phong phú, trong đó có thể chia làm hai loại đó là: nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần Trong đời sống của mỗi con người, nhu cầu vật chất của con người là cốt yếu, song cùng với sự phát triển của xã hội thì nhu cầu tinh thần của con người cũng ngày càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết Chưa có bao giờ đời sống tinh thần xã hội của con người lại được đề cao như trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay
Đời sống tinh thần của xã hội là một trong hai hoạt động sống cơ bản của con người, trong đó, nếu đời sống vật chất chứa đựng trong nó các nhân tố tinh thần thì đời sống tinh thần lại tồn tại thông qua đời sống vật chất Đó chính là quan hệ qua lại giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần
Đời sống tinh thần xã hội có mối quan hệ mật thiết với ý thức xã hội Trong đời sống tinh thần cũng có ý thức xã hội, song ý thức ở đây không chỉ là sự phản ánh hiện thực mà nó còn là nguồn kích thích hành động, hình thành nên niềm tin và thái độ đúng đắn với hiện thực Khái niệm đời sống tinh thần xã hội bao trùm toàn bộ hiện thực tinh thần của xã hội, gồm cả ý thức cá nhân, ý thức của các tập đoàn người mà ý thức xã hội không thể biểu đạt hết được
Ý thức xã hội là phạm trù nhận thức luận, phản ánh tồn tại xã hội Ý thức xã hội chỉ là kết quả, là sản phẩm hoạt động thực tiễn của con người Nhưng đời sống tinh thần bao hàm toàn bộ quá trình sản xuất, phân phối, tiêu dùng các giá trị tinh thần Đời sống tinh thần của xã hội là tổng hòa tất
cả các hiện tượng tinh thần đang trong quá trình hình thành, trong đó có những hiện tượng đã trở thành phổ biến, có hiện tượng mới phôi thai, đồng thời có cả những hiện tượng cũ tồn tại với tư cách là tàn dư của xã hội Khi nhận định về vấn đề này C.Mác và Ph.Ăngghen cho rằng: Những quan hệ tinh thần của xã hội, xét đến cùng, chẳng qua chỉ là cái phản ánh những
Trang 37quan hệ vật chất xã hội Những quan hệ, những phương thức sản xuất vật chất quyết định những quan hệ, những phương thức sản xuất tinh thần, tức
là quyết định những cách thức tạo ra tinh thần; vì vậy, khi cái thứ nhất thay đổi thì cũng kéo theo sự thay đổi của cái thứ hai [Xem 41]
Như vậy, “đời sống tinh thần không thể là sự đồng nhất với ý thức xã hội, bởi vì lĩnh vực tác động của đời sống tinh thần rộng và đa dạng hơn nhiều [22;12]
Trong đời sống xã hội, các hiện tượng tinh thần – tư tưởng, khoa học, nghệ thuật, có mức độ hoàn thiện nhất định, có trình độ phát triển nhất định Chỉ những hiện tượng tinh thần tiến bộ mới biểu hiện ra là văn hóa tinh thần Như vậy, văn hóa tinh thần là chất lượng của hoạt động tinh thần Từng lĩnh vực của đời sống tinh thần đều có trình độ phát triển nhất định, tức là có nấc thang văn hóa nhất định Do đó, giữa đời sống tinh thần
và văn hóa tinh thần cũng có sự phân biệt khá rõ ràng
Văn hóa tinh thần của xã hội là sự dung nạp, thâu tóm, phản ánh sự phát triển của tất cả các lĩnh vực tinh thần, là sự thể hiện đặc trưng chất lượng đời sống tinh thần của xã hội nói chung Sự hoàn thiện, mức phong phú, bước chuyển từ trình độ này sang trình độ khác, từ trạng thái này sang trạng thái khác của đời sống tinh thần được thể hiện trong văn hóa tinh thần
Khi đề cập đến khái niệm đời sống tinh thần, là nói tới tất cả các
bộ phận, các lĩnh vực hoạt động tinh thần, còn khái niệm văn hóa tinh thần là nói về chất lượng của đời sống tinh thần, của các hoạt động tinh thần với tính cách là một hệ thống đang trong quá trình biến đổi, phát triển và hoàn thiện
Đời sống văn hóa tinh thần là một hệ thống bao gồm nhiều lĩnh vực như đời sống tư tưởng, hoạt động khoa học, hoạt động nghệ thuật, hoạt
Trang 38động giáo dục và đào tạo, các sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo, trong đó đời sống tư tưởng là quan trọng nhất Ngoài ra, các yếu tố tôn giáo nói chung, cũng có mối quan hệ rất mật thiết với đời sống văn hóa tinh thần, góp phần làm phong phú thêm cho đời sống văn hóa tinh thần của xã hội
Khái niệm đời sống văn hóa tinh thần theo chúng tôi là: toàn bộ những sản phẩm, những hiện tượng, những quá trình, những hoạt động, những quan hệ văn hóa, những giá trị tinh thần của con người phản ánh đời sống vật chất xã hội và được thể hiện như là một phương thức hoạt động văn hóa và tồn tại tinh thần của con người trong những giai đoạn phát triển lịch sử nhất định
Tóm lại, với tư cách là một hình thái ý thức xã hội, một tiểu hệ thống kiến trúc thượng tầng xã hội, tôn giáo với ý nghĩa vừa là đời sống tâm linh, vừa là nhu cầu tinh thần của con người trong cuộc sống có ảnh hưởng sâu sắc trong việc hình thành lối sống, nhân cách, phong tục tập quán và hoạt động xã hội của con người
1.2.2 Sự biến đổi về đời sống văn hóa tinh thần Việt Nam hiện nay
Suốt hàng ngàn năm lịch sử, đời sống văn hóa tinh thần của dân tộc Việt Nam luôn là một dòng chảy liên tục, không ngừng vận động, biến đổi phản ánh quá trình dựng nước và giữ nước Đó là sự kế thừa những giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của cha ông ta và là kết quả của sự giao lưu, tiếp thu tinh hoa của các nền văn minh, văn hóa thế giới để có nền văn hóa vừa đậm đà bản sắc dân tộc vừa tiên tiến hiện đại hiện nay
Đời sống văn hóa tinh thần có vai trò rất quan trọng khẳng định bản sắc văn hóa mỗi cộng đồng dân tộc Điều này càng có ý nghĩa quan trọng khi chúng ta phát triển một nền kinh tế thị trường, giao lưu và hội nhập với thế giới trong xu thế toàn cầu hóa với định hướng Xã hội chủ nghĩa
Trang 39Việt Nam là một quốc gia có đời sống văn hóa tinh thần phong phú
và đa dạng, được thể hiện trên nhiều lĩnh vực tiêu biểu như trong phong tục tập quán, tín ngưỡng và đạo đức, nhân cách của người Việt
Đối với phong tục tập quán: Người Việt vốn thiết thực, chuộng ăn chắc mặc bền Đầu tiên là ăn, "có thực mới vực được đạo", "trời đánh còn tránh bữa ăn" Cơ cấu ăn thiên về thực vật, cơm rau là chính cộng thêm thuỷ sản Luộc là cách nấu ăn đặc sắc của Việt Nam Nhưng cách thức chế biến món ăn lại giầu tính tổng hợp, kết hợp nhiều chất liệu và gia vị Ngày nay có nhiều thịt cá, vẫn không quên vị dưa cà
Người Việt hay dùng các chất liệu vải có nguồn gốc thực vật, mỏng, nhẹ, thóang, phù hợp xứ nóng, với các sắc màu nâu, chàm, đen Trang phục nam giới phát triển từ đóng khố ở trần đến áo cánh, quần ta (quần Tàu cải biến) Nữ giới xưa phổ biến mặc yếm, váy, áo tứ thân sau này đổi thành chiếc áo dài hiện đại Nói chung, phụ nữ Việt Nam làm đẹp một cách tế nhị, kín đáo trong một xã hội "cái nết đánh chết cái đẹp" Trang phục cũ cũng chú ý đến khăn, nón, thắt lưng
Ngôi nhà Việt Nam xưa gắn liền với môi trường sông nước (nhà sàn, mái cong) Sau đó là nhà tranh vách đất, lợp rạ, vật liệu chủ yếu là tre gỗ, không cao quá để chống gió bão, quan trọng nhất là hướng nhà thường quay về phía Nam chống nóng, tránh rét Nhà cũng không rộng quá để nhường diện tích cho sân, ao, vườn cây Vả lại, người Việt Nam quan niệm
"rộng nhà không bằng rộng bụng" Các kiến trúc cổ bề thế thường ẩn mình
và hoà với thiên nhiên
Phương tiện đi lại cổ truyền chủ yếu là đường thuỷ Con thuyền các loại là hình ảnh thân quen của cảnh quan địa lý - nhân văn Việt Nam, cùng với dòng sông, bến nước
Các phong tục hôn nhân, tang ma, lễ tết, lễ hội của Việt Nam đều gắn với tính cộng đồng làng xã Hôn nhân xưa không chỉ là nhu cầu đôi lứa
Trang 40mà còn phải đáp ứng quyền lợi của gia tộc, gia đình, làng xã, nên kén người rất kỹ, chọn ngày lành tháng tốt, trải qua nhiều lễ từ giạm ngõ, ăn hỏi, đón dâu đến tơ hồng, hợp cẩn, lại mặt, và phải nộp cheo để chính thức được thừa nhận là thành viên của làng xóm Tục lễ tang cũng rất tỉ mỉ, thể hiện thương xót và tiễn đưa người thân qua bên kia thế giới, không chỉ do gia đình lo mà hàng xóm láng giềng tận tình giúp đỡ Theo quan niệm phổ biến của người Việt thì từ cõi sống sang cõi chết, hồn sang thế giới ma và sau đó lại được đầu thai vào thai nhi, do bà mụ nặn ra trong bụng mẹ Giữa người sống và người chết có mối quan hệ khăng khít, mặc dù người sống không thấy được thế giới bên kia Vì vậy, con người thiết lập mối dây liên
hệ đặc biệt với thế giới tâm linh Người chết liên lạc với người sống qua báo mộng, linh tính, những hoạt động thần giao cách cảm Còn người sống giao tiếp với người chết thông qua những nhân vật môi giới Đó là những
“ông đồng bà cốt”, những người tì thiếp, cầu cơ
Việt Nam là đất nước của lễ hội quanh năm, nhất là vào mùa xuân, nông nhàn Các tết chính là tết Nguyên đán, tết Rằm tháng Giêng, tết Hàn thực, tết Đoan ngọ, tết Rằm tháng Bảy, tết Trung thu, tết Ông táo Mỗi vùng thường có lễ hội riêng, quan trọng nhất là các lễ hội nông nghiệp (cầu mưa, xuống đồng, cơm mới ), các lễ hội nghề nghiệp (đúc đồng, rèn, pháo, đua ghe )
Lễ hội là hình thức biểu hiện sức sáng tạo và trí tưởng tượng làm giàu thêm bản sắc và bề dày văn hóa tinh thần của người dân Việt Cuộc sống hàng ngày của họ diễn ra theo nhịp điệu của cây lúa gắn với đời sống tinh thần của người nông dân lao động Vì thế, lễ hội là một biểu tượng tinh thần nhằm thực hóa thế giới ý niệm về đời sống tâm linh bằng những giao tiếp, những hoạt động để con người giao tiếp với thần linh Do đó, lễ hội như một diễn xướng tập trung những nét tiêu biểu cho văn hóa nghệ thuật