1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Mối quan hệ giữa đức tin và lý trí trong triết học Tây Âu Trung cổ

105 4,7K 19

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 771,74 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Không phải đến thời kỳ này, vấn đề mối quan hệ giữa đức tin và lý trí mới được đặt ra mà ngay từ thời cổ đại, con người đã có quan niệm đối lập đức tin với lý trí, nhưng đến thời trung c

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 2

1 Lý do chọn đề tài 2

2 Tình hình nghiên cứu 4

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 7

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 7

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 8

6 Ý nghĩa của luận văn 8

7 Kết cấu của luận văn 8

Chương 1: ĐIỀU KIỆN, TIỀN RA ĐỜI VÀ THỰC CHẤT VẤN ĐỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐỨC TIN VÀ LÝ TRÍ TRONG TRIẾT HỌC TÂY ÂU TRUNG CỔ 9

1.1 Điều kiện, tiền đề ra đời quan niệm của các nhà triết học trung cổ Tây Âu về mối quan hệ giữa đức tin và lý trí 9

1.2 Thực chất vấn đề mối quan hệ giữa đức tin và lý trí trong triết học Tây Âu trung cổ 30

Chương 2: QUAN NIỆM CỦA CÁC GIÁO PHỤ VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐỨC TIN VÀ LÝ TRÍ 39

2.1 Quan niệm của Tertullien về mối quan hệ giữa đức tin và lý trí 40

2.2 Quan niệm của Augustino về mối quan hệ giữa đức tin và lý trí 44

Chương 3: QUAN NIỆM CỦA CÁC NHÀ TRIẾT HỌC KINH VIỆN VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐỨC TIN VÀ LÝ TRÍ 60

3.1 Quan niệm của Anselm von Canterbury về mối quan hệ giữa đức tin và lý trí 65

3.2 Quan niệm của Thomas Aquino về mối quan hệ giữa đức tin và lý trí 66 3.3 Đánh giá quan niệm của các nhà triết học Tây Âu trung cổ về mối quan hệ giữa đức tin và lý trí 83

KẾT LUẬN 95

Trang 4

có thần học trung cổ [16, tr 149] Các nhà nghiên cứu, hoặc do thù nghịch, hoặc dửng dưng với tôn giáo đều không thích tìm hiểu về triết học trung cổ Trong thời gian gần đây, đã có một số công trình quan tâm tới triết học thời

kỳ này, song nhìn chung còn ít, đặc biệt, vấn đề quan hệ giữa đức tin và lý trí trong thời kỳ này chưa được nghiên cứu một cách hệ thống

Xã hội thời kỳ trung cổ ở Tây Âu là thời kỳ mà về mặt đời sống tinh thần chịu sự chi phối của tôn giáo và thần học Vấn đề mối quan hệ giữa triết học và thần học, đức tin và lý trí nổi lên như những vấn đề trọng tâm nhất trong các học thuyết triết học Không phải đến thời kỳ này, vấn đề mối quan

hệ giữa đức tin và lý trí mới được đặt ra mà ngay từ thời cổ đại, con người đã

có quan niệm đối lập đức tin với lý trí, nhưng đến thời trung cổ, nhờ cuộc tranh luận giữa các nhà thần học - triết học, đã mở ra một xu hướng mới: xu hướng dung hợp đức tin và lý trí, triết học và thần học Các nhà triết học trung

cổ, dù bàn đến vấn đề gì, dù lập trường quan điểm khác nhau nhưng mục đích cuối cùng của họ vẫn hướng đến giải quyết vấn đề về mối quan hệ giữa đức tin và lý trí Mặt khác, thực chất của vấn đề mối quan hệ giữa đức tin và lý trí trong triết học Tây Âu trung cổ là vấn đề về mối quan hệ giữa Kito giáo nguyên thủy và triết học Hy Lạp cổ đại Những tư tưởng của các nhà triết học trung cổ tiêu biểu như Tertullien, Augustino, Anselm von Canterbury,

Trang 5

Thomas Aquino là sự kế thừa, luận giải những tư tưởng triết học của các nhà triết học cổ đại Do đó, việc đi sâu tìm hiểu vấn đề về mối quan hệ giữa đức tin và lý trí trong triết học Tây Âu trung cổ sẽ góp phần đưa ra cái nhìn toàn diện, khách quan hơn về triết học thời kỳ này và vị trí của nó trong lịch

sử triết học phương Tây nói chung

Đồng thời, việc các nhà triết học Tây Âu trung cổ dùng triết học để diễn giải học thuyết Kito giáo là yếu tố quyết định trong công cuộc Kito hóa

tư tưởng, là cơ sở lý luận cho đạo Kito

Trên thực tế, cuộc tranh luận về quan hệ giữa đức tin và lý trí (giữa tôn giáo và khoa học) đã diễn ra trong suốt chiều dài phát triển lịch sử triết học và vẫn tồn tại đến tận ngày nay Có quan điểm cho rằng cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, vai trò của tôn giáo sẽ ngày càng suy giảm, thậm chí mất đi Rõ ràng, khi khoa học công nghệ phát triển, hiểu biết của con người

mở rộng, cái siêu tự nhiên bị thu hẹp lại, con người có thể làm chủ cuộc sống của mình Tuy nhiên, thực tế những năm gần đây đã chứng minh chưa bao giờ con người đạt được những thành tựu khoa học khổng lồ như hiện nay, nhưng cũng chưa bao giờ con người lại khủng hoảng, mất niềm tin vào cuộc sống như hiện nay Sự phát triển của khoa học kỹ thuật tạo cơ hội cho con người cải thiện điều kiện vật chất, nâng cao đời sống nhưng trong cuộc sống, con người vẫn gặp phải rất nhiều rủi ro, bất trắc, khi đó rất nhiều người lại tìm đến tôn giáo như một chỗ dựa tinh thần, như cứu cánh an toàn nhất

Ngày nay, khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển, nhưng thế giới là vô hạn, nhận thức của con người lại là hữu hạn, hàng loạt hiện tượng kỳ lạ xuất hiện, con người chưa thể giải thích được, vai trò của tôn giáo và khoa học đối với đời sống lại được đặt ra như một trong những vấn đề cấp bách nhất Việc nghiên cứu quan niệm của các nhà triết học Tây Âu trung cổ về mối quan hệ

Trang 6

giữa đức tin và lý trí sẽ giúp cho chúng ta có cái nhìn khách quan, phong phú hơn về vấn đề này

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi chọn “Mối quan hệ giữa đức tin và lý trí trong triết học Tây Âu trung cổ” làm đề tài nghiên cứu của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Mối quan hệ giữa đức tin và lý trí là một trong những vấn đề nổi bật, xuyên suốt quá trình phát triển của triết học Tây Âu trung cổ Ở nước ta, tuy chưa có một công trình chuyên biệt về vấn đề này, nhưng khi bàn đến triết học Tây Âu trung cổ, dù ít hay nhiều, các học giả đều đề cập đến mối quan hệ giữa đức tin và lý trí Có thể kể đến các công trình sau:

Trước hết là tác phẩm “Lịch sử triết học và các luận đề’’ (2004) của tác giả Sumel Enoch Stump Cuốn sách bao gồm hai phần: Phần một, trình bày lịch sử triết học phương Tây từ thời kỳ sớm nhất đến thời kỳ hiện đại; phần hai là tuyển tập các tác phẩm gốc của các nhà triết học phương Tây từ thời kỳ sớm nhất đến thời kỳ hiện đại Triết học Tây Âu trung cổ được trình bày ở chương 2 với tên gọi: Hòa nhập giữa triết học và thần học Trong chương này, tác giả đi vào phân tích sự hòa nhập giữa triết học và thần học được thể hiện như thế nào trong quan niệm của một số triết gia cụ thể như: Augustino, Boethius, Dionysius, Eriugena, Thomas Aquino qua đó trình bày quan niệm của các ông về mối quan hệ giữa đức tin và lý trí

Công trình “Các trường phái triết học trên thế giới’’ (2005) của David

E Cooper gồm ba phần: Phần I - Các trường phái triết học cổ; phần II - Các trường phái triết học trung đại và cận đại; phần III - Các trường phái triết học cận đại Triết học Tây Âu trung cổ được trình bày ở phần II Thông qua việc trình bày mối quan hệ triết học và thần học; mối quan hệ giữa thuyết Tân Plato, học thuyết Augustino và thuyết sáng thế; sự tranh cãi giữa phe truyền thống và phe Hy Lạp; học thuyết Thomas Aquino; thuyết thần bí tác giả đã

Trang 7

gián tiếp bàn đến mối quan hệ giữa đức tin và lý trí, phản ánh được cuộc đấu tranh của các nhà triết học xung quanh vấn đề này

Trong công trình “Các phạm trù văn hoá trung cổ” (1998), A J A Gurevich đã tiếp cận thời trung cổ ở Tây Âu dưới góc độ triết học văn hoá, ông

đã giải mã được ngôn ngữ văn hoá trung cổ, dịch nó sang thứ ngôn ngữ người đọc hiện đại có thể hiểu được A J A Gurevich đã xác lập những phạm trù cơ bản của văn hoá trung cổ: Không gian, thời gian, lao động, phụng sự, Thượng đế Tuy không trực tiếp trình bày, phân tích mối quan hệ giữa đức tin và lý trí nhưng tác phẩm đã cho chúng tôi một cái nhìn khách quan về thời kỳ này, từ

đó thấy được sự biến đổi trong quan niệm của các nhà triết học Tây Âu trung

cổ về mối quan hệ giữa đức tin và lý trí qua các giai đoạn lịch sử

Trong cuốn “Triết học thượng cổ Tây phương ảnh hưởng trên Kito giáo” (2010), tác giả Piô Phan Văn Tình đã triển khai, phân tích quan niệm về

vũ trụ quan, nhân sinh quan của các nhà triết học tiêu biểu thời thượng cổ: Heraclite, Parmenide, Socrates, Plato, Aristotle và các triết gia Kito giáo: Thánh Justino, Augustino và Thomas Aquino; từ đó đưa ra các nhận định về ảnh hưởng của triết học thượng cổ đến các triết gia Kito giáo và ngược lại, thể hiện sự hoà nhập giữa triết học và thần học, đức tin và lý trí

Tác phẩm “Các nhà tư tưởng lớn của Kito giáo” (2010) của Hans Kung

đã trình bày chi tiết quan niệm của bảy nhà tư tưởng lớn của Kito giáo, trong

đó có quan niệm của Augustino và Thomas Aquino Augustino được nhắc đến như tổ phụ của toàn bộ nền thần học phương Tây Latinh, còn Thomas Aquino được coi như người mở đường cho khoa học đại học và thần học giáo triều, biến thần học thành một khoa học đại học mang tính lý tính

Công trình “Lịch sử triết học, tập 1: Triết học Tây Âu trung cổ” (1991) của J Hirschberger (dịch giả: Nguyễn Quang Hưng, Nguyễn Chí Hiếu) là một

Trang 8

Trong tác phẩm này, tác giả đã trình bày các giai đoạn phát triển cũng như những quan niệm của các nhà triết học trung cổ Sự ra đời của triết học trung

cổ được J Hirschberger làm rõ trên cơ sở kế thừa các học giả trước đó như: Plato, Aristote, Plato mới Mối quan hệ giữa đức tin và lý trí được trình bày một cách khái quát trong quá trình trình bày học thuyết của các nhà triết học

Với tác phẩm “Đại cương lịch sử triết học phương Tây’’ (2006), TS

Đỗ Minh Hợp, TS Nguyễn Thanh và TS Nguyễn Anh Tuấn đã đề cập đến những vấn đề chung nhất của triết học Tây Âu trung cổ: Ý nghĩa triết học của Kinh Thánh, những tư tưởng cơ bản của giáo phụ học, học thuyết Augustino, triết học kinh viện Trong đó, mối quan hệ giữa đức tin và lý trí được nói đến với tư cách là hệ chuẩn của triết học kinh viện

Trong hai cuốn “Nhập môn triết học phương Tây” (2005) của tác giả

Lê Văn Thiện, và cuốn “Triết học trung cổ Tây Âu” (2003) của Doãn Chính

và Đinh Ngọc Thạch, các tác giả đã cung cấp cho người đọc cái nhìn toàn diện về những vấn đề cơ bản của triết học Tây Âu thời kỳ trung cổ, trong đó

có vấn đề mối quan hệ giữa lý trí và đức tin

Bên cạnh đó, chúng ta có thể kể đến một số công trình:

- Lê Tôn Nghiêm (2000), Lịch sử triết học phương Tây (ba tập), Nxb

Thành phố Hồ Chí Minh

- E.E Nexmeyanov (2002), Triết học hỏi và đáp, Nxb Đà Nẵng

- Đỗ Minh Hợp, Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Thanh, Lê Hải Thanh

(2005), Tôn giáo, lý luận xưa và nay, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh

- Edward McNall Burns (2008), Văn minh phương Tây – Lịch sử và văn hóa, Nxb Từ điển bách khoa

- Nguyễn Thị Thanh Hải (2006), Một số nội dung cơ bản trong triết học Thomas Aquino, luận văn thạc sỹ khoa học Triết học, trường Đại học

Khoa học xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội), Hà Nội

Trang 9

- Hoàng Thị Mỹ Quỳnh (2010), Quan niệm của Augustino về con người

và ảnh hưởng của nó đến triết học hiện sinh của Karl Jaspers, luận văn thạc

sỹ khoa học Triết học, trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội), Hà Nội

Nhìn chung, trong các công trình nghiên cứu trên đây, chưa có một công trình chuyên biệt nào về mối quan hệ giữa đức tin và lý trí trong triết học Tây Âu trung cổ mà vấn đề này chỉ được đề cập một cách gián tiếp và khái quát thông qua việc phân tích quan niệm của các nhà triết học nói chung

Để có cái nhìn khách quan và đánh giá đúng giá trị của triết học Tây Âu trung

cổ, đặc biệt là quan niệm của các nhà triết học về mối quan hệ giữa đức tin và

lý trí, chúng tôi thấy cần phải có những công trình nghiên cứu chuyên sâu hơn nữa về vấn đề này

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích: Làm rõ quan niệm của các nhà triết học Tây Âu trung cổ về mối quan hệ giữa đức tin và lý trí; từ đó đưa ra nhận định về giá trị và hạn chế của quan niệm này

- Để đạt mục đích trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ sau:

+ Phân tích điều kiện, tiền đề ra đời và thực chất mối quan hệ giữa đức tin và lý trí trong triết học Tây Âu trung cổ

+ Phân tích quan niệm của các nhà triết học tiêu biểu trong triết học Tây Âu trung cổ về mối quan hệ giữa đức tin và lý trí

+ Đánh giá quan niệm của các nhà triết học Tây Âu trung cổ về mối quan hệ giữa đức tin và lý trí

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Quan niệm của các nhà triết học Tây Âu trung

cổ về mối quan hệ giữa đức tin và lý trí

Trang 10

- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu quan niệm của các triết gia tiêu biểu của triết học trung cổ Tây Âu: Tertullien, Augustino, Anselm von Canterbury, Thomas Aquino

5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

- Cơ sở lý luận: Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin về tôn giáo và về lịch sử triết học

- Phương pháp nghiên cứu: Trong luận văn, tác giả sử dụng các phương pháp chủ yếu sau: Phân tích, tổng hợp, thống nhất lôgic và lịch sử, trừu tượng hoá, khái quát hoá

6 Ý nghĩa của luận văn

- Luận văn nghiên cứu chuyên sâu quan niệm của các nhà triết học tiêu biểu thời kỳ Tây Âu trung cổ về mối quan hệ giữa đức tin và lý trí, từ đó góp phần đánh giá khách quan hơn về triết học trung cổ trong sự phát triển của lịch sử triết học phương Tây, cũng như vai trò của các nhà triết học, thần học thời kỳ này đối với sự hình thành quan điểm Kito giáo

- Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho sinh viên và học viên cao học ngành triết học, tôn giáo học

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 03 chương với 07 tiết

Trang 11

Chương 1: ĐIỀU KIỆN, TIỀN RA ĐỜI VÀ THỰC CHẤT VẤN ĐỀ

MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐỨC TIN VÀ LÝ TRÍ TRONG

TRIẾT HỌC TÂY ÂU TRUNG CỔ 1.1 Điều kiện, tiền đề ra đời quan niệm của các nhà triết học trung

cổ Tây Âu về mối quan hệ giữa đức tin và lý trí

triết học Tây Âu trung cổ về mối quan hệ giữa đức tin và lý trí

Vào những năm đầu công nguyên, ở các nước Tây Âu có sự chuyển biến căn bản trong xã hội Đó là sự tan rã của chế độ chiếm hữu nô lệ và sự ra đời của chế độ phong kiến, do những cuộc đấu tranh giai cấp quyết liệt diễn ra trong thời kỳ khủng khoảng của chế độ nô lệ kết hợp với các cuộc tấn công của những man tộc bên ngoài Thời kỳ trung cổ ở Tây Âu được đánh dấu bằng thời điểm sụp đổ của tây bộ đế quốc La Mã năm 476 và kết thúc khi xuất hiện các hình thức ban đầu của chủ nghĩa tư bản (thế kỷ XV) Một loạt nhà nước phong kiến vốn là các tỉnh thành của đế quốc La Mã đã hình thành như Anh, Pháp, Ý, Tây Ban Nha, Đức… Quá trình hình thành chế độ phong kiến ở Tây Âu được biểu hiện ở ba mặt chủ yếu: sự lãnh địa hoá toàn bộ ruộng đất trong xã hội, quá trình nông nô hoá giai cấp nông dân và trang viên hoá nền kinh tế

Trong giai đoạn đầu của sự chuyển biến từ chế độ nô lệ sang chế độ phong kiến ở các nước Tây Âu, nền kinh tế - xã hội bị suy sụp nghiêm trọng

Trong kinh tế, ngành nông nghiệp (gồm trồng trọt và chăn nuôi) chiếm địa vị thống trị Sản xuất nông nghiệp chủ yếu dựa trên chế độ tư hữu về ruộng đất Các thế lực quý tộc phong kiến chiếm giữ toàn bộ ruộng đất, đồng

cỏ, rừng rú lập thành các lãnh địa phong kiến Các lãnh chúa phong kiến

Trang 12

nghiệp, tổ chức các xưởng thủ công, đặt các loại thuế để bóc lột người lao động Đời sống của người nông nô hết sức thấp kém, tối tăm Phản ánh tình trạng này, Ph.Ănghen viết: “Sự cướp bóc của quý tộc đối với nông dân mỗi năm một tinh vi hơn Nông nô bị bóp nặn đến giọt máu cuối cùng, những nông dân phụ thuộc phải gánh thêm những khoản thuế và đảm phụ mới với mọi lý do và dưới mọi tên gọi Lao dịch, địa tô, phù thu lạm bổ, thuế thay đổi chủ, thuế di sản, tiền bảo hộ tăng lên một cách độc đoán, bất chấp tất cả mọi hợp đồng cổ” [5, tr 463]

Đến giữa thời kỳ trung cổ, thủ công nghiệp có bước phát triển, nhiều ngành nghề mới ra đời với trình độ kỹ thuật ngày càng hoàn thiện Đó là các nghề khai mỏ, luyện kim, chế tạo vũ khí, thuộc da, dệt len dạ Sự tiến bộ ấy của thủ công nghiệp đòi hỏi phải có những người thợ thủ công chuyên môn hoá, đồng thời phải biến thủ công nghiệp từ một nghề phụ của nông nghiệp thành một ngành độc lập Chính sự tách rời giữa thủ công nghiệp và nông nghiệp ấy là điều kiện quan trọng dẫn đến sự ra đời của thành thị thời trung đại ở Tây Âu Các thành thị, các xưởng sản xuất thủ công và những tầng lớp, giai cấp mới trong xã hội như chủ xưởng, thương nhân, thợ thủ công xuất hiện, dần dần trở thành đối thủ của tầng lớp quý tộc ruộng đất Tình hình nông nghiệp cũng có nhiều tiến bộ như nông cụ được cải tiến, diện tích canh tác không ngừng được mở rộng, năng suất lao động tăng cao, sản lượng và số chủng loại sản phẩm tăng lên nhiều

Đến thế kỷ VI, thương mại cũng bắt đầu sống lại Những trung tâm thương mại đầu tiên hình thành ở Venise Khi các điền chủ nhận ra rằng mình

có thể thu tiền lời bằng việc bán một loại nông sản nào đó, ông ta bắt đầu trồng nông sản đó nhiều hơn và dùng số tiền bán nông sản đó để mua những nông sản mà ông ta không có [13, tr 154] Khi đó, nhu cầu của con người ngày càng cao, kỹ nghệ ra đời Và sự phục hồi của thương mại cùng với

Trang 13

những khởi đầu của kỹ nghệ đã đưa đến sự hình thành các thành phố, những người thợ chẳng bao lâu cũng được tổ chức thành phường hội, những phiên chợ lớn được hình thành

Sự biến chuyển về kinh tế như trên ảnh hưởng lớn đến đặc điểm xã hội Tây Âu trung cổ

Trong đời sống xã hội Tây Âu trung cổ, sự phân hoá giai cấp diễn ra sâu sắc: “Đặc điểm của xã hội phong kiến ở các nước Tây Âu là có một cái thang tôn ti trật tự phức tạp - từ những kỵ sĩ phổ thông qua những công tước

và đến vua hay hoàng đế; đó là một cái thang mà cái chân của nó dựa vào số quần chúng nông dân phụ thuộc bị bóc lột tàn nhẫn, và sau đó dựa vào những thợ thủ công nhỏ” [79, tr 199] Sự phân hóa này còn được thể hiện ngay trong tầng lớp tăng lữ: “Giới tăng lữ cũng chia thành hai giai cấp hoàn toàn khác nhau Hệ tôn ti của giáo hội phong kiến hình thành nên giai cấp quý tộc: giám mục và tổng giám mục, trưởng tu viện, giáo chủ và các giáo chức cao cấp khác Các giáo chức cao cấp đó của giáo hội đều hoặc giả tự mình là những vương công của đế chế, hoặc giả là những chúa phong kiến phục tùng chính quyền tối cao của những vương công khác và chiếm hữu những vùng đất đai rộng lớn có nhiều nông nô và dân cư lệ thuộc” [5, tr 464]

Mặc dù có sự phân hóa, nhưng nhìn chung xã hội Tây Âu trung cổ gồm hai giai cấp cơ bản: nông dân và quý tộc phong kiến Trong đó, giai cấp quý tộc nắm trong tay nhiều tiền của, ruộng đất, còn giai cấp nông dân thì bị phụ thuộc một cách nhục nhã về cá nhân và về kinh tế Nông dân phải lao động quần quật từ lúc mặt trời mọc đến khi mặt trời lặn Cuộc sống của họ vô cùng khổ cực: nhà ở thường là một nơi tồi tàn, dơ dáy, làm từ các tấm liếp trát bùn; giường ngủ thường là cái thùng độn đầy rơm; ghế ngồi là chiếc ghế đẩu ba chân; thức ăn là chiếc bánh mì đen, pho mát và súp, thịt và cá muối được nấu

Trang 14

những sinh vật bị khinh miệt – những sinh vật chậm hiểu, bần tiện, xấu xí, được sinh ra rừ “đống phân lừa”…

Cùng với sự thống trị của quý tộc phong kiến, giới tăng lữ, Giáo hội cũng trở thành một lực lượng đầy quyền uy, nắm trong tay cả thần quyền, quyền lực về kinh tế và quyền lực về chính trị Giáo hội Kito giáo chiếm hữu khoảng một phần ba đất đai ở châu Âu và một số lượng lớn nông nô Mỗi Giáo hội có một tu viện và cả trăm thôn xã phụ thuộc với hàng vạn hécta đất, hàng chục vạn nông nô Giáo hội được vua chúa ban tặng rất nhiều ruộng đất và tài sản Ngay từ thế kỷ XII - XIII, quyền lực của Giáo hoàng đã rất lớn Giáo hoàng Inocento III viết: “Chúng ta được phó sứ mệnh thống trị mọi người và mọi nước”, “Giáo hoàng mang lại vinh quang và uy tín cho vương quyền như mặt trời đem lại ánh sáng cho mặt trăng”, “Giáo hoàng là đại diện cho Thượng

đế trên trái đất, không những là chủ của tăng lữ mà cũng là thủ lĩnh của hoàng

đế nữa” [71, tr 51-52] Tài sản, quyền lực của Giáo hoàng và Giáo hội ngày càng lớn mạnh nhờ những chính sách như: lập ra quỹ “nhà thờ thập tự” để quyên tiền chuẩn bị cho “thập tự chinh” hay chính sách bán thẻ “miễn tội” Theo tuyên truyền của Giáo hội, họ có thể xá tội cho những kẻ tội lỗi, giúp họ thoát khỏi nhục hình ở địa ngục, do đó người nào mua được thẻ thì có thể thoát tội, thậm chí khi chết có thể được lên thiên đàng

Đặc biệt, ở Đức, Giáo hoàng và Giáo hội hoành hành cực kỳ mạnh mẽ, giáo hội chiếm 1/3 diện tích ruộng đất, bóc lột nhân dân vô cùng tàn tệ Hàng năm, tiền của chở từ Đức sang La Mã rất nhiều, trong khi đó nông dân nhiều nơi chết đói, dân nghèo thành thị không có việc làm, đời sống thiếu thốn khổ cực Trước tình hình đó, nhiều tầng lớp nhân dân đều oán hận Giáo hội, thậm chí có những nơi diễn ra phong trào chống Giáo hội: phong trào dưới sự lãnh đạo của các nhà nhân văn chủ nghĩa như: Erasmus, Unrich von Hutten Để chống lại sự phản kháng của nhân dân, Giáo hoàng và Giáo hội đã thực hiện

Trang 15

những chính sách tàn khốc, hàng loạt tòa án dị giáo được lập ra, rất nhiều giáo dân bị thiêu sống trên cột lửa

Do ảnh hưởng của đặc điểm kinh tế - xã hội nên hệ tư tưởng thống trị suốt hàng thế kỷ trong đời sống xã hội Tây Âu trung cổ là Kito giáo với hai biến thể của nó là đạo Chính thống và Kito giáo La Mã Kito giáo thời kỳ đầu tiên là tôn giáo của người nghèo, đồng thời là tôn giáo của sự phản kháng chống lại trật tự hiện hành hà khắc, phi nhân tính Sự ra đời của Kito giáo trong xã hội La Mã lúc đó có thể được xem là một hiện tượng cách mạng Bởi

nó xoá bỏ sự phân biệt giàu nghèo, đề cao tính dân chủ trong sinh hoạt cộng đồng, tuyên truyền nguyên lý về sự bình đẳng; tư tưởng Kito giáo chủ trương xây dựng một thế giới mới, khắc phục tội lỗi, sự đố kỵ và thù hận, đáp ứng những mong muốn thầm kín của đại bộ phận quần chúng Mặc dù thế giới trong Kinh Thánh vẽ ra là hoang tưởng, tách khỏi mảnh đất trần tục, nhưng nó đem đến cho con người niềm an ủi, giúp họ quên đi những nỗi đau thể xác và tinh thần Điều đó có nghĩa là với sự ra đời của Kito giáo, trong ý thức con người đã diễn ra sự chuyển biến từ phản kháng bạo lực sang phản kháng đạo đức Kito giáo cảm nhận sự thiếu hoàn thiện và thiếu nhân tính trong các quan

hệ xã hội đương thời như kết quả của sự thiếu hoàn thiện trong mỗi người, do

đó lấy tinh thần hoà giải và tha thứ để cảm hoá họ: “ Tư tưởng nhất quán ấy khiến Kito giáo khác với các tôn giáo thiên về trừng phạt, bạo lực, kể cả Do thái giáo ” [16, tr 9]

Kito giáo đã phải trải qua những chặng đường đầy cam go thử thách để

có thể trở thành tín ngưỡng độc tôn Lúc đầu, các tập đoàn thống trị ở La Mã không mấy thiện cảm với Kito giáo vì nó chỉ thừa nhận một chân lý duy nhất, một Chúa duy nhất, một quyền năng duy nhất Ròng rã ba thế kỷ, Kito giáo bị truy bức và tàn sát hết sức đẫm máu, song các tín đồ với tính thống nhất và kỷ

Trang 16

chính quyền La Mã mới thay đổi thái độ với Kito giáo Các hoàng đế Licinnius và Constantinus chấm dứt những cuộc tàn sát và hợp pháp hoá Kito giáo vào năm 311 và 313 Tiếp đó là hai thế kỷ đấu tranh không mệt mỏi của Kito giáo đòi quyền tôn giáo chính thống Trở thành “nhà nước trong nhà nước”, Kito giáo hoàn thiện tổ chức của mình và bắt đầu can thiệp vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Đạo Kito giành được thắng lợi là do tính chất tổng hợp, từ Do Thái giáo, và cả những đóng góp của người Ba Tư, người Hy Lạp Các tôn giáo huyền bí và triết học cổ Hy Lạp đã tạo ra nhiều học thuyết

và thông lệ để đạo Kito có thể tiếp thu, đồng thời bảo tồn những điểm đặc trưng của mình Thuyết Ngộ đạo phát triển niềm tin vào sự khải huyền huyền

bí và dạy rằng khái niệm về con người nguyên thủy hay Chúa – Con Người sẽ hóa thân trong hình dạng con người Tục thờ thần Mithras giúp con người chú

ý vào các hình thức nghi lễ Bổ sung vào những ảnh hưởng này là ảnh hưởng của triết học theo chủ nghĩa Khắc kỷ, làm cho các tầng lớp có học thức quen với khái niệm về chủ nghĩa toàn thế giới và tình huynh đệ giữa con người [14,

tr 243]

Khi đế quốc La Mã sụp đổ vào thế kỷ V, “Giáo hoàng La Mã trở thành địa vị tối cao, được định chế vững chắc trong một thế giới mới và khủng khiếp ” [13, tr 11] Giáo hội là tổ chức độc quyền nắm trong tay lĩnh vực văn hoá, nhà trường và việc giáo dục Các tín điều tôn giáo là cơ sở cho tất cả các quan niệm về thế giới, về con người và nó đã trở thành nội dung tư tưởng chính thống dùng để giảng dạy trong các nhà trường của Giáo hội cũng như ngoài xã hội Nội dung học tập chủ yếu trong các trường đại học lúc bấy giờ

là thần học, môn học được suy tôn là “bà chúa của khoa học” Ngoài thần học còn có các môn ngữ pháp, tu từ học, logic học, số học, hình học, thiên văn học và âm nhạc, được gọi là “bảy môn nghệ thuật tự do”, song các môn học này đều là môn phụ trợ và phải phục vụ cho thần học

Trang 17

Qua những đặc điểm kinh tế - xã hội, chúng ta có thể nhận ra rằng nhà thờ đạo Kito là một tổ chức tập quyền hùng mạnh, thống trị châu Âu cả về tinh thần và chính trị Trong xã hội đó, khoa học và triết học không thể tìm cho mình một con đường đi độc lập, việc nghiên cứu khoa học và triết học chủ yếu tập trung trong các tu viện và trường học của nhà thờ [80, tr 215] Do

đó, tín điều nhà thờ là điểm xuất phát của mọi tư duy, và thế giới quan thời kỳ trung cổ là thế giới quan thần học bao trùm lên tất cả các lĩnh vực khác Trong thời kỳ đó, mối quan hệ giữa đức tin và lý trí trở thành vấn đề trọng tâm của các học thuyết triết học cũng như thần học

1.1.2 Tiền đề tư tưởng của quan niệm của các nhà triết học Tây Âu trung cổ về mối quan hệ giữa đức tin và lý trí

Với ý định tốt đẹp và cao thượng, các nhà triết học Tây Âu trung cổ chủ trương thống nhất mọi thứ tản mát (tính muôn màu muôn vẻ của triết học

Hy Lạp) về một chân lý duy nhất Bởi theo họ, trên con đường tìm kiếm chân

lý - Thiên Chúa, con người cần phải có lý trí dẫn đường để đức tin không bị

mù quáng, sai lạc Mặt khác, tin tưởng cũng là một hình thức suy tư, như Augustino từng nói: một người không có khả năng suy tư thì không có khả năng tin tưởng

Đức tin Kito giáo muốn vững chắc và được con người đón nhận, cần phải được luận giải, chứng minh bằng lý trí Trong tinh thần ấy, Kito giáo rất cần đến sự liên minh với triết học, lấy tư tưởng, ngôn ngữ triết học để lý giải, chú giải nội dung của Kinh Thánh Tuy nhiên, do đặc thù của xã hội thời kỳ này nên quan niệm về mối quan hệ giữa đức tin và lý trí của các nhà triết học Tây Âu trung cổ không phải kế thừa toàn bộ nền triết học cổ đại mà chỉ tiếp thu, cải biến một số học thuyết triết học cổ đại như triết học Plato, Aristotle, chủ nghĩa Plato mới

Trang 18

1.1.2.1 Một số học thuyết triết học cổ đại

Plato được coi là “một trong những cái đầu sáng tạo vĩ đại của thời cổ

đại” [67, tr 93], học thuyết của ông có ảnh hưởng mạnh mẽ đến tư tưởng của nhiều nhà triết học sau này, trong đó có các nhà triết học Tây Âu trung cổ

Nền tảng trong học thuyết triết học của Plato là học thuyết về ý niệm Ông ví đời sống con người như một cái hang, trong hang có một dãy người tù

bị trói quay lưng ra cửa hang, họ chỉ được nhìn về phía vách hang trước mặt, ngoài cửa hang có một đoàn người mang theo nhiều đồ vật đi qua đi lại Dưới ánh sáng mặt trời hắt bóng đoàn người trên vách hang, những người tù chỉ nhìn thấy bóng người mang theo đồ vật in trên vách, và ông cho rằng cái bóng

đó chỉ là kết quả của sự bắt chước nguyên mẫu, chỉ là tri thức mờ nhạt (thuộc

về dư luận) chứ không phải là tri thức chân thực Plato khẳng định: chỉ có nguyên mẫu (ý niệm) mới là thế giới chân thực, là cái chung, tồn tại thực sự Thế giới ý niệm của Plato chủ yếu mang tính đạo đức nên trong tất cả các ý niệm thì ý niệm phúc lợi là ý niệm tối cao, là ngọn nguồn của chân lý Sau này, các học trò của Plato (chủ nghĩa Plato mới) coi ý niệm phúc lợi tối cao của ông chính là Thượng đế

Như vậy, Plato đã phân chia thế giới thành hai phần: thế giới sự vật cảm tính và thế giới ý niệm Trong đó, thế giới sự vật cảm tính không phải là thế giới chân thực, đúng đắn mà thế giới đó luôn vận động, biến đổi; chỉ có thế giới ý niệm là bản chất, tồn tại vĩnh viễn, là nguồn gốc của vạn vật

Mặt khác, khi bàn đến vấn đề con người, Plato cho rằng: con người gồm hai phần là thể xác và linh hồn, trong đó bản chất của linh hồn là trong sáng nhưng khi thể xác sinh ra lại luôn luôn chịu ảnh hưởng của thế giới vật chất, luôn luôn bị lôi kéo bởi dục vọng Ông ví ý niệm như một cỗ xe ngựa có hai con ngựa cùng kéo, nếu con ngựa dục vọng khỏe hơn sẽ kéo con người đi xuống, con người sẽ quên mất nhiều thứ và không thể hồi tưởng được Nhưng

Trang 19

nếu con ngựa linh hồn khỏe hơn, nó sẽ kéo cỗ xe đi lên, hướng về ý niệm tuyệt đối, lúc đó con người sẽ hồi tưởng được nhiều hơn, trở nên thông thái và thông minh hơn

Theo Plato, con người luôn bị lệ thuộc vào những dữ kiện cảm tính nên

họ thường coi những cái bóng là hiện thực chân chính, và khi được giải phóng khỏi những gông cùm, họ cũng không thể nhận thức ngay được thế giới tối thượng mà sự nhận thức đó phải diễn ra dần dần Nhưng cuối cùng, họ vẫn đến được với thế giới màu nhiệm đó bởi “họ không chỉ là thể xác, trong linh

hồn của họ có một điểm nào đó là tinh thần, hay như Plato thường gọi là trí tuệ, mà trí tuệ này là miền giao của hai thế giới Linh hồn chỉ gắn với thể xác trong một thời hạn nhất định, còn tự nó khác với thể xác, nó giống với cái thần thánh và cũng bất tử, nó là cái chỉ nhận thức được bằng trí tuệ Nó là cái

khởi nguyên đầu tiên nhất trong con người và có nhiệm vụ lãnh đạo thể xác Sau khi ly biệt thể xác thì linh hồn đi về nơi của nó là vị trí có tính thần thánh bất tử và lý tính sau khi đạt được vị trí đó rồi sẽ đạt tới sự hoan lạc và sẽ vĩnh viễn thuộc về các thần linh” [2, tr 139]

Với học thuyết về ý niệm, Plato chỉ ra rằng: tồn tại hai thế giới - thế giới sự vật cảm tính và thế giới ý niệm Quan niệm này được các trường phái triết học sau này như Plato mới hay các nhà thần học Kito (đặc biệt là Augustino) kế thừa và phát triển để xây dựng quan niệm về hai thế giới: thế giới con người và thế giới Thiên Chúa Học thuyết về linh hồn của ông cũng chính là cơ sở để các nhà thần học đưa ra quan niệm về thần linh, Thượng đế

Ngoài Plato, Aristotle cũng là một trong những tên tuổi được nhắc đến

nhiều trong học thuyết của các nhà triết học Tây Âu trung cổ khi lý giải vấn đề mối quan hệ giữa đức tin và lý trí Tư tưởng của Aristotle được Thomas Aquino và các nhà triết học kinh viện sử dụng làm tiền đề, từ đó xây dựng nên

Trang 20

Nội dung chủ yếu trong học thuyết của Aristotle là học thuyết về tồn tại, được trình bày chủ yếu trong tác phẩm “Siêu hình học” Aristotle cho

rằng tồn tại nói chung xuất phát từ bốn nguyên nhân:

+ Materie (vật chất) - đó là cái mà khái niệm hiện thực hóa trong nó + Hình dạng (hình thức) - nhờ nó mà người ta nhận biết, phân biệt được

sự vật này với sự vật khác

+ Vận động - nhờ đó mà hình dạng được hiện ra trong vật chất thành vật + Mục đích - là cái mà hành động hoạt động xảy ra và vì nó mà mọi hành động được thực hiện [68, tr 7-8]

Theo Aristotle, trong số các nguyên nhân trên thì nguyên nhân hình dạng

là cơ bản nhất Nó là thực chất của tồn tại, là bản chất của sự vật Bản thân nó

đã bao hàm cả nguyên nhân vận động và nguyên nhân mục đích Ông đã rất đúng khi cho rằng bản chất của sự vật (tức hình dạng) nằm trong chính sự vật Ông chia bản chất thành hai cấp độ: bản chất thứ nhất, là bản chất có thể mất đi cùng sự vật, còn bản chất thứ hai nằm ngoài sự vật, là hình dạng phi vật chất

Và theo ông, mọi sự vật hiện tượng đều phải phát triển theo những trình tự, quy luật, xu hướng riêng, tức có mục đích nhất định theo sự sắp đặt của Thượng đế Ông coi Thượng đế là nguyên nhân đầu tiên, nguyên nhân của mọi nguyên nhân, hình dạng của mọi hình dạng Vậy Aristotle đã luận giải thế nào cho sự tồn tại của nguyên nhân đầu tiên này? Trong “Các trường phái triết học trên thế giới”, David E Cooper viết: “Aristotle nhấn mạnh rằng: chuyển động tất yếu phải vĩnh cửu vì nếu không có chuyển động vĩnh cửu thì không có thời gian, và như thế là vô lý bởi vì không thể có cái trước, cái sau nếu không có thời gian Vậy mà, vì mọi bản thể bình thường đều sẽ bị hủy diệt nên tất yếu phải hiện hữu một bản thể vĩnh cửu để đảm bảo sự tiếp nối chuyển động Vì là nguồn chuyển động, tác nhân chuyển động này không thể bị chuyển động bởi một vật

Trang 21

nào khác Hơn nữa vì bất cứ vật gì là vật chất đều sẽ bị hủy diệt nên tác nhân chuyển động vĩnh cửu này phải là vô chất” [18, tr 129]

Thượng đế của Aristotle là nguyên nhân tuyệt đối, tách rời khỏi tất cả

sự vật cảm tính Đó là Thượng đế triết học, nó giống Thượng đế của Xenophane nhưng nó cũng khác với Thượng đế của vị tiền bối ở chỗ: Thượng

đế (động cơ đầu tiên) không bao giờ hòa nhập với tự nhiên, nó sống và hoạt động nhờ vào lý trí của nó, nghĩa là “Lý tính mà nó đang suy tư bản thân và chính ý tưởng của nó là tư duy về tư duy” [68, tr 11]

Với học thuyết về Thượng đế, Aristotle đã biến triết học thứ nhất (triết học lý luận, siêu hình học) của mình thành thần học, thành cơ sở nền tảng của thần học sau này Và như trên đã nói, những quan niệm của Aristotle được Thomas Aquino và các nhà triết học kinh viện kế thừa, kết hợp với các quan

niệm thần học Kito giáo, vận dụng phù hợp với hoàn cảnh lịch sử đương thời

Khi nói đến ảnh hưởng của học thuyết cổ đại trong quan niệm về mối quan hệ giữa đức tin và lý trí của các nhà triết học Tây Âu trung cổ, chúng ta

không thể bỏ qua chủ nghĩa Khắc kỷ - một trường phái triết học lớn thời kỳ

Hy Lạp hóa Các nhà triết học trung cổ tiếp thu chủ nghĩa Khắc kỷ trong quan niệm về vật lý học và đạo đức học

Trong vật lý học, tức quan niệm về giới tự nhiên, các nhà Khắc kỷ cho

rằng vũ trụ là “một toàn thể kết hợp gồm chất thể thụ động hay vật chất và một nguyên lý chất thể chủ động gọi là pneuma (khí hay hơi thở), được mô tả như một lửa sáng tạo Hơn nữa, preuma còn có mục đích, trí khôn và lý trí” [18,

tr 139] Mọi sự vật đều phát triển theo những trình tự tất yếu nhất định do Thượng đế sắp đặt trước nên vật lý học còn bao hàm cả thần học - học thuyết

về Thượng đế Các nhà triết học Khắc kỷ đã chỉ ra sự tồn tại của thần thánh thông qua sự nhất trí của con người về vấn đề này Theo Crip - một trong

Trang 22

chung của tất cả mọi vật là thần Zeus, kể cả số phận và tất yếu của chúng Không có các họ thánh nam và nữ cũng như không có những quốc gia và phẩm hạnh như vậy, các thánh chỉ được gọi bằng các tên của nam giới hay nữ giới, ví

dụ như người ta gọi mặt trăng là Se’lena, Arex nghĩa là trật tự quân sự, là chế

độ và sự đối vị Mặt trời, mặt trăng, và cả các vì sao, cả quy luật là các thần” [Dẫn theo 68, tr 61] Nói cách khác, các thần tồn tại là do có sự nhất trí của mọi người gọi các thần như vậy Cleanf cũng đã đưa ra cách chứng minh bản thể luận về tồn tại của các thần: “Nếu một bản chất tốt hơn bản chất khác thì tồn tại một bản chất nào đó tốt hơn Do đó là thần tồn tại” [Dẫn theo 68, tr 61] Còn Pirxria bào chữa cho các thần như sau: các thần là sự vĩ đại, không để cho tội lỗi xảy ra, những cái ác trong thế giới hiện thực không phải do các thần thánh mà là kết quả của những hoạt động sai lầm của con người

Bàn về đạo đức, phái Khắc kỷ coi mục đích tối thượng của bất kỳ hành động nào của con người chính là hạnh phúc Muốn đạt được hạnh phúc, con người phải sống hòa hợp với tự nhiên bằng cách sống theo quy luật của thế giới thần thánh

Từ những quan niệm về thần thánh và đạo đức, các nhà Khắc kỷ đã đưa vào học thuyết triết học của mình những môtip tôn giáo thần học, sau này các nhà thần học Kito lấy đó để xây dựng quan niệm về Thượng đế

Do chịu ảnh hưởng của triết học Khắc kỷ và thần học, Philon được coi

là nhà triết học tiêu biểu cho sự dung hòa Kinh Thánh Do Thái giáo và truyền thống Hy Lạp, La Mã Những quan niệm của ông trở thành cơ sở đầu tiên của giáo phụ học trung cổ Ông đã dịch và bình chú Kinh Thánh từ tiếng Do Thái sang tiếng Hy Lạp, nhất là bộ Ngũ kinh của Moses, dung hòa nó với triết học của trường phái Plato và Khắc kỷ [16, tr 34], trong thần học, ông còn lấy cả ý niệm thiện của Plato

Trang 23

Theo Philon, sở dĩ triết học Hy Lạp và Kinh Thánh có thể dung hòa với nhau vì chúng thừa nhận một sức mạnh nền tảng là lý trí thần minh, lời thiêng (hay Logos) Nhưng Kinh Thánh có ưu thế hơn vì nó đơn giản là lời Chúa, còn triết học Hy Lạp là lời Chúa đã được con người lĩnh hội và tái lập lại nên mất đi tính thiêng liêng và uyên bác ban đầu Chúa của Kinh Thánh là đơn tử tuyệt đối, nhất thể, không thể dùng lý trí đại chúng mà cắt nghĩa Ngôn ngữ con người thiếu hoàn thiện, cụ thể và cảm tính, khó có thể diễn đạt hình ảnh của Chúa [16, tr 34]

Philon cho rằng Chúa tồn tại và chúng ta có thể nhận thức Chúa bằng cách đặt những câu hỏi mà mở đầu bằng những câu trả lời “không”: Chúa không phân chia, Chúa không bị giới hạn, Chúa không cần bất kỳ điều kiện tồn tại nào Nhưng do đâu mà chúng ta đặt được những câu hỏi này? Do trực giác, xuất thần và mặc khải Trong đó, trực giác và xuất thần nằm trong truyền thống Hy Lạp, mặc khải nằm trong Kinh Thánh

Tương tự như vậy, khái niệm Logos cũng được diễn đạt theo tinh thần dung hòa Logos của Philon được hiểu theo hai nghĩa:

Theo nghĩa truyền thống Hy Lạp, Logos một mặt là trật tự thế giới, quy luật thống nhất vạn vật, sức mạnh nội tại và lý trí thế giới, chi phối các quá trình tự nhiên và đời sống của con người; mặt khác, là sự ngự trị của những ý tưởng siêu việt, thống nhất với ý tưởng tối cao hay Thượng đế [16, tr 35]

Theo tinh thần của Kinh Thánh, Logos trước hết là lời phán truyền vì Logos chính là lý trí của Chúa, đồng thời cũng là ý chí sáng tạo theo hình mẫu của Chúa với tính cách hiện hữu bao trùm, duy nhất Con người là khâu trung gian giữa Chúa (đúng hơn là Logos lý trí của Chúa) và vũ trụ, bởi con người thừa hưởng sức mạnh từ cả hai, nhưng trong đó chỉ có Chúa mới đem đến cho con người sức mạnh siêu phàm, vượt lên trên thế giới hữu hình Chúa sinh ra

Trang 24

thần, lý trí của Chúa Logos, đó còn là ý chí của Chúa để thế giới hình thành, vận động Đó là lý do vì sao chỉ có Chúa mới biết có ngày tận thế

Để đánh giá đúng vai trò, vị trí những tư tưởng của Philon, các tác giả cuốn sách “Triết học trung cổ Tây Âu” viết: “Tư tưởng của Philon khác với tư tưởng Kito giáo chính thống ở nhiều điểm, bởi lẽ ông không phải là giáo phụ mà

là triết gia Do Thái - Hy Lạp hóa, nhưng được các giáo phụ nhắc đến như hình ảnh tiêu biểu trong quá trình xây dựng thế giới quan nhất thần” [16, tr 36]

Cùng với Philon, chủ nghĩa Plato mới được coi là cầu nối đa thần giáo

với nhất thần giáo, cổ đại với trung cổ Chủ nghĩa Plato mới là “đứa con tinh thần muộn màng” của thế giới cổ đại già nua, đó là sự tiếp tục sự nghiệp của Plato, hòa nhập với hệ tư tưởng cùng thời Thực chất của chủ nghĩa Plato mới

là chiết trung triết học, kết hợp chủ nghĩa duy tâm khách quan với chủ nghĩa Khắc kỷ, chủ nghĩa Pitago và phái tiêu dao Aristotle

Plutac là người đặt nền móng cho chủ nghĩa Plato mới, Ammoni là người sáng lập ra trường phái này nhưng chính Plotin mới là người làm cho

nó được nhắc đến trong lịch sử như chiếc cầu nối giữa truyền thống Hy Lạp với hình thức tư duy trung cổ Khái niệm trọng tâm, đồng thời là nguyên lý

tối hậu, tuyệt đối của bản thể luận trong quan niệm của Plotin là đơn nhất -

cơ sở và nguồn gốc của mọi tồn tại Plotin chỉ ra các đặc tính cơ bản của đơn nhất:

Thứ nhất, trong khi là nguồn gốc của tồn tại, đơn nhất cũng đồng thời

là thực tại đầu tiên không giới hạn, không hình thức, không chịu bất kỳ sự quy định nào

Thứ hai, đơn nhất là sự thống nhất thuần túy và giản đơn, hoàn toàn

loại trừ mọi đa thể tính, vì chúng đã bị dung nạp, đúng hơn là hòa tan vào nó

Đó là sự nhất trí tuyệt đối

Trang 25

Thứ ba, đơn nhất là bản chất tự nhiên, siêu việt, không được nhận biết,

không thể hiện ra cho tri giác và không diễn đạt được bằng ngôn ngữ Ta chỉ

có thể chiêm nghiệm đơn nhất bằng sự hòa đồng huyền diệu, được trợ giúp bởi năng lực trực giác thần bí

Thứ tư, đơn nhất không là tư tưởng, không là ý chí bởi tất cả những thứ

ấy đều thiết định sự tồn tại của các mặt đối lập, chủ thể và đối tượng, nhưng

do đó nó vừa là tất cả, vừa là “không gì cả”, tóm lại là bản thể hư vị

Thứ năm, dù là bản thể hư vị, đơn nhất của Plotin vẫn được gán cho thế

giới các ý niệm (ý niệm cái thiện) Chúng ta luôn hướng tới đơn nhất như hướng tới cái thiện [16, tr 49-50]

Đơn nhất của Plotin chính là sự pha trộn tồn tại của Parmenit, cái thiện của Plato và Thượng đế - đệ nhất động cơ của Aristotle Trong cái đơn nhất

có sự dẫn xuất từ đơn nhất đến sự vật (con đường đi xuống) và từ các sự vật

trở về với cái đơn nhất (con đường đi lên hoặc phục hồi) Với cái đơn nhất,

các dẫn xuất diễn ra song song với nhau, tạo nên dòng chảy liên tục trong vũ trụ Cũng như ý niệm của Plato (nếu linh hồn hướng tới ý niệm thì có đạo đức), trở về với cái đơn nhất, với Plotin, đó là sự hướng thiện thông qua những bậc thang tri thức như: cảm tính, trí năng, lý tính

Sự phân tích trên cho thấy, chủ nghĩa Plato mới chịu ảnh hưởng trực tiếp của triết học Plato, Aristotle và sau này, nó ảnh hưởng mạnh mẽ đến tư tưởng của các nhà triết học Tây Âu trung cổ Plotin được coi là cây cầu nối quyết định giữa triết học cổ đại và Augustino, đồng thời những quan niệm của ông cũng nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà triết học kinh viện, đặc biệt là Thomas Aquino

Như vậy, các học thuyết triết học cổ đại có ảnh hưởng sâu sắc, trực tiếp đến quan niệm của các nhà triết học Tây Âu trung cổ, đặc biệt là quan niệm

Trang 26

cổ ra đời là một tất yếu khách quan, kế thừa, phát triển quan niệm của thời kỳ triết học trước chứ không phải là sự đứt quãng hay giai đoạn thoái trào trong tiến trình lịch sử triết học

1.1.2.2 Kinh Thánh

Cùng với triết học Hy Lạp cổ đại, Kinh Thánh là một trong những tiền

đề tư tưởng hình thành nên quan niệm của các giáo phụ và các nhà triết học kinh viện về mối quan hệ giữa đức tin và lý trí Kinh Thánh là bộ sách quý giá nhất đối với các giáo phụ cũng như với mọi tín hữu - một bộ sách chứa đựng chân lý hoàn hảo về hồng phúc và sự thiện Kinh Thánh là lời Thiên Chúa mặc khải cho con người, là chỗ dựa tinh thần của đời sống Kito hữu, là nguồn sinh lực tiềm tàng của triết học và thần học

Kinh Thánh hay Thánh Kinh có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp là Biblica,

có nghĩa là “các cuốn sách” Có thể hiểu Kinh Thánh là “sách giáo lí và nghi lễ” của đạo Do Thái và đạo Kito được viết ra vào những thời gian khác nhau

từ thế kỉ VIII TCN đến thế kỉ II SCN Kinh Thánh gồm hai phần: Sách Cựu ước, kinh chung cho cả đạo Do Thái và đạo Kito; Sách Tân ước, kinh riêng cho đạo Kito Theo quan niệm của nhà thờ, Kinh Thánh là “lời cổ vũ của thần thánh, Kinh Thánh phản ánh những điều kiện sinh hoạt xã hội của người Do Thái cổ đại: bao gồm những truyền thuyết, những luật lệ, những lễ nghi tôn giáo, những bài thơ và dân ca Đặc biệt, Sách Tân ước kể về cuộc đời của chúa Jesus và những cộng đồng Kito giáo đầu tiên” [7] Tuy cùng thờ Thiên Chúa nhưng Do Thái giáo chỉ thừa nhận Cựu ước là Thánh Kinh vì họ quan niệm rằng Đấng cứu thế sẽ đến cứu rỗi nhân loại, nhưng chưa đến Còn Kito giáo lại cho rằng Đấng cứu thế đã đến, đó là Chúa Jesus Kito, điều đó đã được sách Cựu ước dự báo nên họ thừa nhận cả Cựu ước và Tân ước

Theo một số quan niệm, Kinh Thánh là sự mặc khải của Thiên Chúa đối với loài người, được các ngôn sứ ghi lại, là sự thiêng liêng, dạy dỗ của

Trang 27

Thiên Chúa đối với con người, là nền tảng giáo lý và soi dẫn đức tin Nói cách khác, Kinh Thánh là bộ sách do Thiên Chúa linh ứng mặc khải cho các ngôn sứ ghi lại cho con người biết về bản thân Thiên Chúa và ý định của Người đối với họ, được Kito giáo thừa nhận trở thành nền tảng của giáo lý đức tin để dẫn dắt tín hữu sống đạo [51, tr 13]

Theo Mel Thomson, mặc khải có thể lý giải theo hai cách:

Thứ nhất, nếu một người khẳng định rằng mình trở nên nhạy cảm hơn

với các hiện tượng tâm linh thì người đó có quyền nói rằng tôn giáo đã mở ra cho mình chân lý về cuộc đời mà trước đó người ấy không biết Điều đó cũng giống như việc bóc lớp vữa trát tường để mở ra lõi xây bằng gạch hay một thực tại sâu xa hơn Trong trường hợp này, không đòi hỏi niềm tin vào một lực lượng siêu nhiên mà chỉ là phương thức chỉ ra rằng con người có khả năng cho phép cuộc sống mở ra một điều gì đó trước kia con người không biết

Thứ hai, mặc khải được hiểu theo nghĩa: con người tin rằng trải qua sự

tiếp xúc với Chúa (hay với thiên thần, với một bản chất tinh thần khác), Chúa

đã mở ra một tri thức nào đó về mình, con người nhận thức được phần nào về Chúa [66, tr 43-44]

Nội dung cơ bản của Kinh Thánh đều gắn liền với tư tưởng trung tâm

là “di huấn”, tức là lời giao ước của Thiên Chúa với loài người Người Do

Thái giáo và Kito giáo tin rằng sự sinh tồn của con người do luật của Chúa

quy định Luật này được thiết lập không phải giữa con người với nhau mà nó

có tính chất thần thánh Theo đó thì mặc dù Kinh Thánh do những con người

cụ thể viết ra nhưng những điều viết ra đó là do có sự linh ứng mặc khải của Thiên Chúa chứ không thuộc về con người Nói cách khác, chính Thiên Chúa

đã hé lộ bức màn bí mật của mình, tự cởi mở mình thông qua Kinh Thánh Do

đó, chúng ta không thể đọc và hiểu Kinh Thánh bằng lý trí thuần túy hay cái

Trang 28

nhìn lạnh nhạt mà phải đọc với một đức tin tuyệt đối, với khát vọng khám phá, tìm hiểu những điều bí ẩn trong nó

Kinh Thánh gồm hai phần cơ bản là Cựu ước và Tân ước Cựu ước là lời giao ước cũ của Thiên Chúa với người Do Thái qua đại diện của họ là tổ phụ Neo, Abraham và Moises cùng các tiên tri khác Trong lần giao ước thứ nhất, Thiên Chúa giao ước với ông Neo công chính trước nạn hồng thủy Lần thứ hai, Thiên Chúa giao ước với tổ phụ Abraham, nhận ông là thủy tổ của các dân tộc và là dân của Chúa Lần thứ ba, Thiên Chúa giao ước với loài người qua Moises trên núi Sinai bằng việc ban cho họ Mười điều răn Lời giao ước đó nhằm dẫn dắt họ thoát khỏi Ai Cập để trở về vùng đất hứa Jerusalem Về sau, Thiên Chúa còn giao ước với một vài nhà tiên tri Do Thái khác [51, tr 15]

Ngược lại với sách Cựu ước, sách Tân ước là lời giao ước mới của Thiên Chúa với nhân loại qua đấng trung gian là Jesus Kito Sứ vụ của đức Kito là làm cho mọi người biết rằng họ là con Thiên Chúa Cơ sở của sách Tân ước là bốn cuốn Phúc âm (của Marco, Luca, Gioan và Mattheu) kể về cuộc đời cũng như những việc làm, hoạt động truyền giáo và những phép màu của Chúa Jesus: về những môn đồ tôn phục Chúa, về những cuộc truy nã Chúa, về việc Juda phản bội Chúa, về việc Chúa bị đóng đinh trên cây thánh giá, và về sự phục sinh rồi lên trời của Chúa

Trước khi Kito giáo ra đời, các tôn giáo thường tồn tại dưới dạng đa thần giáo, con người chưa hề biết đến một thần linh duy nhất và có nhân cách theo đúng nghĩa của từ này Sự xuất hiện của Kito giáo đánh dấu một bước ngoặt triệt để trong tư duy triết học Kito giáo, với Kinh Thánh đã đưa ra được một quan niệm về Chúa như một thần linh duy nhất và độc đáo, vô tận về tiềm năng, vượt trên cả con người và tự nhiên, trở thành cơ sở niềm tin của con người [35, tr 188]

Trang 29

Trước đây, trong thời kỳ cổ đại Hy Lạp cũng có nhắc đến thần linh nhưng đó không phải thần linh tồn tại với tư cách một nhân cách Đến thời kỳ này, Chúa đã có nhân cách Và nhân cách của chúa Jesus thể hiện rõ nhất ở hình ảnh chúa Jesus, với tư tưởng sáng thế, sự sáng tạo ra từ hư vô, chỉ ra tính tuyệt đối, toàn năng của Chúa Theo Kinh Thánh, Thiên Chúa là hiện hữu và sự hiện hữu đó được công nhận như một khởi thủy mà không cần giải thích; Thiên Chúa không có nguồn gốc, không biến dịch Chưa ai nhìn thấy Thiên Chúa bao giờ, nhưng thông qua Đức Jesus Kito, ta biết được Thiên Chúa trong ánh sáng chan hòa và huyền nhiệm của Người Khi được hỏi: “Thưa Thầy, trong mọi điều răn, điều răn nào đứng đầu?”, Đức Jesus trả lời: “Điều răn đứng đầu là: Nghe đây hỡi It-ra-en, Đức Chúa Thiên Chúa chúng ta là Đức Chúa duy nhất Ngươi phải yêu mến Đức Chúa, Thiên Chúa của ngươi, hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn và hết sức lực ngươi” (Mc 12, 28-30) [36, tr 1712-1713] Thiên Chúa là Đức Chúa duy nhất, nhưng đồng thời Thiên Chúa duy nhất cũng là Cha – Con và Thánh Thần Bởi thông qua Đức Jesus, con người nhận biết được Thiên Chúa là Cha – trong mối tương quan với người Con duy nhất và ngược lại Mặt khác, trước khi bước vào cuộc tử nạn, Đức Jesus đã loan báo với các môn đệ rằng Ngài sẽ gửi “Đấng bảo trợ là Thánh Thần Chúa Cha sẽ sai đến nhân danh Thầy, Đấng đó sẽ dạy anh em mọi điều và sẽ làm cho anh em nhớ lại mọi điều Thầy đã nói với anh em” (Ga 14, 26) [36, tr 1852] Cha và Thánh Thần hằng hiện diện và hoạt động nơi Con

Tư tưởng sáng thế trong Kinh Thánh đã loại bỏ những mâu thuẫn mà tư tưởng trước Kito giáo mắc phải, khắc phục tính duy lý của triết học cổ đại Nếu các nhà triết học cổ đại coi con đường nhận thức khoa học, con đường tư duy là con đường duy nhất tiếp cận với cái thần thánh thì tư tưởng Kito giáo công khai khẳng định tính siêu lý tính, siêu duy lý trong hành vi sáng tạo của Chúa

Trang 30

Thiên Chúa là Cha toàn năng, Đấng tạo thành trời đất và muôn vật, trong đó có con người Thiên Chúa tạo dựng con người theo hình ảnh của Ngài, do đó con người có vị trí ưu việt trong công trình sáng tạo của Chúa Con người chính là hình ảnh của Thiên Chúa, phẩm giá cao quý này được bộc

lộ trọn vẹn nơi Đức Jesus – Đấng Thần Nhân, Thiên Chúa làm người Theo Kinh Thánh, “Đức Chúa là Thiên Chúa lấy bụi từ đất nặn ra con người, thổi sinh khí vào lỗ mũi và con người trở nên một sinh vật” (St 2, 7) [36, tr 33-34] Con người bao gồm cả yếu tố vật chất và yếu tố tinh thần, hai yếu tố này liên kết chặt chẽ với nhau Thể xác con người là tổng hợp những yếu tố thuộc về thế giới vật chất, nhưng tổng hợp vật chất ấy được linh động hóa bởi nguyên

lý tinh thần là hồn thiêng Hồn thiêng ấy do Thiên Chúa trực tiếp tạo nên, mang tính bất tử, không bị tiêu diệt, kể cả khi hồn lìa khỏi xác Là hình ảnh của Chúa nên con người mang phẩm giá đặc biệt, khả năng đặc biệt – khả năng nhận biết và yêu mến Nhờ đó, con người có thể đáp trả tiếng gọi của Thiên Chúa và bước vào giao ước yêu thương với Ngài Là hình ảnh của Thiên Chúa nên con người là đỉnh cao của tạo thành và Thiên Chúa tạo dựng mọi sự là cho con người Như vậy, nếu triết học Hy Lạp cổ đại coi con người như tiểu vũ trụ, là một bộ phận của vũ trụ thì theo Kinh Thánh, con người hoàn toàn tách biệt, đứng trên mọi sinh thể vì con người được tạo ra theo hình ảnh và sự tương tự của Chúa Con người trở thành trung tâm của thế giới trần tục Con người nguyên thủy sống trong mối hiệp thông thân tình với Thiên Chúa, hài hòa với chính mình Trong hạnh phúc nguyên thủy đó, con người làm chủ chính mình, không chịu sự thống trị của dục vọng Tuy nhiên, hạnh phúc nguyên thủy ấy bị mất đi khi con người vi phạm những lời răn của Chúa – mong muốn vươn lên ngang hàng với Chúa Hậu quả của hành động đó được Kinh Thánh ghi lại trong câu chuyện về “tội tổ tông”

Trang 31

Trong “Kinh sáng thế” (Génesis) gồm 50 chương có ghi lại “tội tổ tông”

do Adam và Eva gây ra Đây là tội lỗi lớn nhất do đã vi phạm vào những lời răn của Chúa Tội lỗi này con người mắc phải chứng tỏ họ có thiên hướng dựa vào bản thân mình, nhưng muốn vậy, con người cũng phải biết mặt trái của mong muốn này nên sau khi ăn phải trái cấm, Thượng đế đã đuổi Adam và Eva

ra khỏi vườn Eden Từ đó, tội lỗi không những trở thành đặc tính tất yếu của cuộc sống con người cá thể trần trụi mà còn đi vào lịch sử phát triển loài người Eva theo tiếng Hebrew có nghĩa là “thuộc về mẹ” hay là nguồn gốc của sự sống Còn Adam, theo tiếng Hebrew: Adhàm, nguyên nghĩa là “từ bùn đất mà ra”, “được tạo ra”, “con người” [44, tr 10] Chính “tội tổ tông” không thể tránh khỏi này đã làm cho lịch sử trở thành lịch sử của con người Tính hữu tử của con người trở thành cái đồng nghĩa với tội lỗi của con người và chỉ có thể tránh được tội lỗi bằng cách quay trở lại với Chúa Sự tái sinh của Chúa, sự hy sinh của Người nhằm khắc phục cho tội lỗi của Adam gieo rắc vào thế giới chứng tỏ thái độ sẵn sàng của Chúa giúp con người tránh khỏi tội lỗi, giải thoát con người khỏi những hậu quả của tội lỗi, khẳng định hơn nữa đức tin của con người vào Chúa Thiên Chúa là cái không thể biết, là bắt đầu của cái bắt đầu, kết thúc của cái kết thúc Nghịch lý này không thể dùng lý trí thông thường để hiểu được mà phải hiểu bằng đức tin, tình yêu và hy vọng Tuy nhiên, khi xem xét vấn đề niềm tin, khác với thời kỳ trước, Kinh Thánh khước từ việc xem xét niềm tin như một thuần tuý nhận thức Niềm tin thể hiện năng lực của tâm hồn, không thể quy về tri thức hay không tri thức Niềm tin là niềm tin, nó có thể tồn tại không phụ thuộc vào sự hiện diện hay sự vắng mặt của tri thức, vào sự hoàn hảo hay không hoàn hảo của tri thức Sự mặc khải kêu gọi con người ý thức về giá trị niềm tin tự nó, hệ giá trị khác với hệ giá trị mà trí tuệ có

Tóm lại, Kinh Thánh (bao gồm Cựu ước và Tân ước) là một trong

Trang 32

đặc biệt là về triết học, thần học Nội dung xuyên suốt của Kinh Thánh là câu chuyện về lịch sử cứu độ với tư tưởng trung tâm là “di huấn” (giao ước) của Thiên Chúa với loài người và việc thực hiện di huấn đó Kinh Thánh đòi hỏi niềm tin tuyệt đối của con người vào Thiên Chúa thông qua mặc khải, tức với

sự ra đời của Kinh Thánh, trọng tâm nhận thức đã được chuyển sang niềm tin, tạo ra bộ mặt mới khác với thời kỳ cổ đại, làm nên sự phong phú, đa dạng của các tư tưởng triết học và thần học

Cùng với các học thuyết triết học cổ đại, Kinh Thánh đã có ảnh hưởng sâu sắc, trực tiếp đến quan niệm của các nhà triết học Tây Âu trung cổ về mối quan hệ giữa đức tin và lý trí, đánh dấu một bước ngoặt trong tư duy triết học

và thần học, tạo nên đặc trưng nổi bật ở thời kỳ này: sự kết hợp giữa đức tin

và lý trí, triết học cổ đại và Kinh Thánh

1.2 Thực chất vấn đề mối quan hệ giữa đức tin và lý trí trong triết học Tây Âu trung cổ

1.2.1 Một số khái niệm cơ bản

Trang 33

mình và lại quay quanh mặt trời Đó chính là nhờ “nhân” tin mới có “quả” như vậy

Tạo hoá đã bày ra trước mắt con người một nghịch lý mà từ khi xuất hiện đến mãi mai sau, loài người muốn vượt qua nhưng không thể vượt qua được, đó là mối quan hệ giữa cái hữu hạn và cái vô hạn, giữa cái thánh thiện

và cái trần tục Đó là nghịch lý giữa phần Con và phần Người trong con người Con người ý thức được rằng mình là hữu hạn trên thế giới này, nhưng lại tham lam, ham sống, ham hưởng thụ Nghịch lý ấy nằm trong mỗi con người, trong từng phút từng giây mà ở đâu, trong bất cứ hoàn cảnh nào con người cũng phải đối diện với nó Đứng trước hoàn cảnh ấy, con người đã tìm

ra nhiều giải pháp: Có người tập trung mọi cố gắng lập nên sự nghiệp “lưu danh thiên cổ” để trường tồn cùng năm tháng, có người lại đưa ra giải pháp sinh con đẻ cái để kéo dài đời mình, dòng họ của mình Nhưng chủ yếu, bên cạnh cuộc đời thực hữu hạn, con người xây dựng cho mình một thế giới thánh thiện, vĩnh hằng bằng đức tin vốn có của mình, một thế giới bên kia; đó là khi con người bất lực trước tự nhiên, không thể lý giải được các hiện tượng xảy ra trong cuộc sống Họ tìm đến đức tin như một điều tất yếu, tự nhiên Họ tin vào những bậc Thánh nhân bởi với họ, đó là những bậc có đức hạnh tuyệt luân, có tuệ giác siêu quần, công đức trọn vẹn, là những bậc “vô ngã vị tha”,

“cứu nhân độ thế” Họ tin vào cõi Niết Bàn, tin vào Thiên đường, tin vào con đường, cách thức mà các tôn giáo đã đưa ra để đưa con người thoát khỏi bể khổ trầm luân, mong muốn cuộc sống tốt đẹp hơn ở thế giới bên kia

Tôn giáo xuất hiện trong lịch sử nhân loại từ lúc người ta bắt đầu tin rằng có cái gọi là thế giới bên kia, nghĩa là sau khi chết lại có một cuộc sống khác Cái chấm hết của thế giới bên này đồng thời là cái mở đầu của thế giới bên kia Con người bắt đầu muốn nhìn thấy những cái không thể nhìn thấy,

Trang 34

là ở thế giới bên kia, những mất mát đã gặp phải ở thế giới bên này Trong cuốn sách “Tính đa dạng của kinh nghiệm tôn giáo”, William James đã khẳng định kết quả của sự đi theo tôn giáo là: tránh được sự bất an, nhận thức các chân lý trước đó chưa biết, cảm nhận thấy rằng những chuyển biến khách quan đang diễn ra trong thế giới [66, tr 38]

Theo quan niệm của Phật giáo, đức tin cũng giống như kinh nghiệm Chỉ khi nghe nhiều, thấy nhiều con người mới hiểu biết nhiều Cũng như vậy, đức tin càng cao thì công đức càng lớn, có thể thấy biết và làm những việc phi thường Tin tức là tín, là tin ở mình (tín lực), tin ở ngoài (tín tha), tin ở nhân, tin ở quả, tin ở sự, tin ở lý; riêng tin ở đức Phật là tin Phật là đấng Toàn Trí, Toàn Bi và đấng Đại Năng, là thầy thuốc cao quý nhất của ba cõi, là bậc đạo -

sư - vô thượng của muôn loài; đó là tin mình có sẵn đủ Phật tính để dồn hết tâm lực “tu hành thành Phật” (Tín - Nguyện - Hành)

Đối với Kito giáo, “Đức tin là sự toàn bản thân con người gắn bó với Thiên Chúa mặc khải Đức tin gồm một sự gắn bó của trí tuệ và của ý chí đối với mặc khải mà Thiên Chúa đã thực hiện về bản thân Ngài qua các hành động của Ngài” [Dẫn theo 69, tr 64] Khoa thần học dựa trên đức tin để suy luận, thần học khởi sự từ Thiên Chúa và những chân lý mặc khải để tìm biết

sự tạo vật trong mối tương quan với Thiên Chúa Đức tin được coi là một lĩnh vực gồm tất cả những chân lý được biết nhờ ánh sáng mặc khải mà ta không thể biết được sự hiển nhiên nội tại của nó

Đức tin, đó là vấn đề trung thành và tin tưởng của cá nhân Đức tin của con người không giống như một số sự vật, mà theo lời khẳng định của bản thân nó, nó coi là đáng tin cậy Tôi tin vào một cái gì đó không có nghĩa đơn giản cho rằng đó là sự thật Đức tin là sự mô tả của con người có thái độ như thế nào với hiện thực mà họ đang đối diện

Trang 35

Tóm lại, đức tin là niềm tin vào một đấng siêu nhiên là có thật, hằng hữu và vĩnh cửu; nó không thể không có, không thể và không cần tìm thấy từ phép suy diễn logic hoặc từ các số liệu khoa học [27, tr 453]

1.2.1.2 Lý trí

Khi nhắc đến khái niệm “lý trí”, người ta thường nhắc đến khái niệm đi kèm với nó - “lý tính” Theo cuốn “Từ điển triết học”, lý trí được hiểu là phương thức suy lý đúng đắn, trình bày những tư tưởng của mình một cách nhất quán; còn lý tính là phương thức tìm ra những nguyên nhân và bản chất của các hiện tượng, xem xét chúng một cách toàn diện, vạch rõ sự thống nhất của các mặt đối lập [73, tr 344]

Sự phân chia lý tính - lý trí này xuất hiện sớm trong lịch sử triết học Theo Kant, lý trí đem lại hình thức cho nội dung cảm tính, nên nó biết được các vật không phải theo bản chất của chúng mà theo cái chúng thể hiện ra (thế giới hiện tượng) Ông thể hiện sự đề cao vai trò của lý tính khi cho rằng:

sự vận động đi lên của nhận thức chỉ có thể được thực hiện bởi lý tính, mà những ý niệm về linh hồn, về thế giới và về Chúa lại chính là những hình thức tổng hợp của lý tính Kant đã đưa ra những luận điểm nhằm luận chứng

cho việc con người chỉ có thể nhận biết được thế giới hiện tượng chứ không thể nhận biết được thế giới vật tự nó Theo ông, khi cố gắng nhận thức các ý

niệm bằng lý tính, trí tuệ con người rơi vào những mâu thuẫn không thể giải

quyết được, và do đó, con đường đi đến thế giới vật tự nó cũng bị đóng kín

Cách duy nhất để con người có thể đến được thế giới đó là dùng đến “lý tính thực tiễn” và mở rộng thế giới quan nhờ vào lòng tin, đức tin

Giống như Kant, Hegel cho rằng: lý trí không đi xa hơn tính quy định bất động, những mặt đối lập cứng đờ, tách rời nhau (bản chất và hiện tượng, tất nhiên và ngẫu nhiên, sống và chết ) Tư duy lý trí thì không đủ, nó chỉ là

Trang 36

một bậc thang cần thiết cho phép lên cao hơn nữa, tới những hình thức lý tính của nhận thức [73, tr 344]

Như vậy, hầu hết các nhà triết học đều có sự phân biệt rạch ròi giữa lý tính và lý trí Trong cuốn “Đại Từ điển tiếng Việt”, Nguyễn Như Ý cũng đưa

ra những định nghĩa về lý trí và lý tính như sau: Lý tính là nhận thức trên cơ

sở nắm bắt bản chất và quy luật của khách quan, trái với cảm tính Còn lý trí

là nhận thức bằng suy luận, trái với cảm giác, tình cảm [85, tr 1016] Trong

“Giáo trình triết học Mác - Lênin”, lý tính được định nghĩa là giai đoạn cao

hơn của quá trình nhận thức, nảy sinh trên cơ sở nhận thức cảm tính Đó là sự phản ánh gián tiếp và khái quát hiện thực khách quan [15, tr 355]

Hai khái niệm này tuy có sự khác biệt nhưng về thực chất, chúng vẫn

có những mối liên hệ qua lại với nhau Chúng đều là những nhận thức cần đến

sự suy xét, suy nghĩ, kiểm tra, đối lập với dạng nhận thức chỉ cần đến niềm tin, đức tin Do đó, trong phạm vi của luận văn, hai khái niệm này được dùng như hai khái niệm đồng nhất

Thực chất, đức tin và lý trí không phải là hai lĩnh vực đối lập nhau mà giữa chúng luôn có mối liên hệ hữu cơ: nhờ có lý trí, con người mới có được những thành tựu khoa học kỹ thuật, đời sống con người ngày càng được nâng cao; còn đức tin làm cho đời sống tinh thần của con người ngày càng phong phú và đã làm nên biết bao di sản về văn hóa Các nhà khoa học nổi tiếng nhất trong thời kỳ cận đại và hiện đại đều không phải là những người hoàn toàn vô thần I.Newton là một tín đồ Kito giáo chân chính, còn Albert Einstein cũng là người theo thuyết của phái Yoga… Nguyên nhân giúp họ thành công không chỉ do họ nắm vững tư duy lý tính khoa học mà còn nhờ đức tin đặc biệt bắt nguồn từ chiều sâu tiềm thức đã tạo nên năng lực, linh cảm thúc đẩy họ Tri thức kết hợp với xúc cảm, tình cảm sẽ hình thành nên đức tin, nâng cao ý thức tích cực hoạt động của con người Tuy nhiên, chúng ta cũng cần nhấn mạnh

Trang 37

rằng đó phải là những đức tin chân chính, phải phù hợp với quy luật phát triển cũng như chuẩn mực của xã hội

Thần học dựa trên đức tin, triết học dựa trên lý trí Đức tin vượt quá lý trí ở đối tượng, còn lý trí vượt quá đức tin về phương cách nên mỗi bên đều

có lĩnh vực khác biệt Trong lịch sử đã có những cuộc xung đột trầm trọng giữa khoa học và đức tin Nhà bác học Galile bị kết án vì quả quyết rằng trái đất quay xung quanh mặt trời, trong khi các nhà thần học quan niệm mặt trời quay xung quanh trái đất Nguyên nhân là do các nhà thần học thời đó giải thích vấn đề theo mặt chữ bản văn trong sách Sáng thế Ngày nay, người ta không còn mắc phải những sai lầm như vậy nữa – Kinh Thánh không có ý dạy ta về khoa học mà là về tôn giáo Khoa học chân chính và đức tin đích thực không thể mâu thuẫn nhau Ta có thể thấy rõ điều này khi phân tích mối quan hệ giữa đức tin và lý trí trong một giai đoạn cụ thể - triết học trung cổ ở Tây Âu

học Tây Âu trung cổ

Vào đầu thời trung cổ, các tu viện là cơ sở giáo dục độc quyền Người xây dựng tu viện với vai trò như các cơ sở giáo dục là Cassiodorus Ông đã soạn thảo chương trình giảng dạy gồm Bảy môn Nghệ thuật tự do: Ngữ pháp,

tu từ học, luân lý học, số học, hình học, thiên văn học và âm nhạc Sách giáo khoa sử dụng trong các trường học tu viện thường là các sách cơ bản ở cấp tiểu học Tuy nhiên, trong một số trường học nổi tiếng, người ta thường nghiên cứu bản dịch các tác phẩm của Aristotle Không có nhiều người dành

sự chú ý cho các môn khoa học trong phòng thí nghiệm cũng như môn lịch

sử, không hề có sự đào tạo chuyên ngành, ngoại trừ các nghề phục vụ Giáo hội Do đó, trong thời sơ kỳ trung đại ở Tây Âu chỉ có một vài trường học do

Trang 38

trào cải cách tôn giáo, tu viện có khuynh hướng sao nhãng giáo dục, thể chế giáo dục dần dần chuyển từ tu viện sang nhà thờ Sự phát triển giáo dục quan trọng nhất của thời trung cổ là sự ra đời của các trường đại học Mục đích cơ bản của môn học tại các trường đại học là nghiên cứu và chú giải Thánh Kinh, Thánh truyền (các tác phẩm của các linh mục thuộc Giáo hội) Việc chú giải Thánh Kinh là đặc quyền tuyệt đối của Giáo hội và các nhà khoa học gắn liền với nó nhằm mục đích ngăn chặn việc phổ biến những phán đoán ngu dốt về đức tin Kito giáo

Trường đại học ra đời sớm nhất ở Tây Âu là đại học Bolona ở Ý, được thành lập vào thế kỷ XI Sang thế kỷ XII - XIII, nhiều trường đại học đã lần lượt ra đời như: Đại học Pari, đại học Oclean ở Pháp, đại học Oxford Trong đó, điển hình và nổi tiếng nhất thời kỳ đó là trường đại học Pari Trường bao gồm bốn khoa: Nghệ thuật, Y học, Luật học và Thần học, trong

đó Nghệ thuật là khoa sơ cấp, chương trình học tập là “bảy môn nghệ thuật

tự do”, tốt nghiệp bậc sơ cấp thì được cấp bằng cử nhân Các khoa Y học, Luật học và Thần học thuộc về bậc cao cấp, chỉ những người đã có bằng cử nhân mới được học [50, tr 262] Khoa Thần học có nhiệm vụ nghiên cứu chính xác Thánh Kinh theo cách chú giải nó và trình bày có hệ thống học thuyết Kito giáo Còn các nghệ thuật tự do lại được nghiên cứu dựa trên di sản cổ đại - các tác phẩm của Plato, Aristotle hay phái Plato mới Các nghệ thuật tự do được quan niệm là tri thức hoàn toàn dựa vào lý tính, bước chuyển lên cấp độ học vấn cao hơn - nghiên cứu thần học lại đánh dấu sự thống trị của thời kỳ định hướng vào niềm tin [34, tr 233-234] Đây là hai môn khoa học, hai sự đối lập nhưng không loại trừ lẫn nhau mà ngược lại, chúng đan xen vào nhau

Do đó, vấn đề mối quan hệ giữa đức tin và lý trí trong triết học Tây Âu trung cổ thực chất là mối quan hệ, sự kết hợp giữa chú giải Kinh Thánh và

Trang 39

triết học cổ đại Đức tin ở đây được hiểu là đức tin vào quyền uy của Thánh Kinh và của các linh mục nên vấn đề mối quan hệ giữa đức tin và lý trí chính

là vấn đề tạo dựng những cách lý giải khác nhau về nội dung Kinh Thánh và nội dung tác phẩm của các linh mục, có tính đến những thành tựu của triết học

cổ đại Thực tế cho thấy, trong triết học Tây Âu trung cổ, các nhà thần học cố gắng bảo vệ quyền uy của Thánh Kinh và Thánh truyền nhưng họ cũng không thể loại bỏ học thuyết và tác phẩm của các tác giả cổ đại [34, tr 234] Đó là lý

do vì sao suốt thời kỳ trung cổ nói chung và thời kỳ triết học kinh viện nói

riêng, vấn đề tư duy tự do và chân lý mặc khải luôn được đặt ra

Mặt khác, việc giải quyết mối quan hệ giữa đức tin và lý trí còn gắn liền với nhu cầu làm cho những người không phải là tín đồ theo đạo, khi cần thiết phải có sự luận chứng [34, tr 235] Các nhà triết học Tây Âu trung cổ, đặc biệt là các nhà triết học kinh viện đã sử dụng những phương tiện của lý trí

để xây dựng cách chứng minh cho chân lý sẽ dẫn tới đức tin, hay ít nhất không mâu thuẫn với các nguyên tắc căn bản của lý trí

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Thời kỳ trung cổ ở Tây Âu, nhà thờ Kito giáo nắm trong tay cả thế quyền và thần quyền, chi phối mọi lĩnh vực của đời sống xã hội; khoa học và triết học chủ yếu được nghiên cứu trong các tu viện và trường học của nhà thờ Do đặc thù của điều kiện kinh tế - xã hội nên hầu như tất cả các nhà triết học Tây Âu trung cổ đều là các nhà thần học và một trong những vấn đề trọng tâm của triết học thời kỳ này là chứng minh sự tồn tại thực của thần thánh

Triết học trung cổ kết hợp chặt chẽ với ý thức hệ tôn giáo, được xây dựng dựa trên nguyên lý mặc khải và nhất thần, là nguyên lý chung của Do thái giáo, Kito giáo và Hồi giáo Nhờ công lao của các nhà triết học trung cổ, Kinh Thánh trở thành nguồn chất liệu tiềm tàng của triết học, chứ không chỉ

Trang 40

thần học - tôn giáo tạo ra bản sắc riêng của ý thức thời kỳ trung cổ Trong liên minh ấy, đức tin định hướng lý trí

Thực chất của mối quan hệ giữa đức tin và lý trí trong thời kỳ Tây Âu trung cổ là mối quan hệ giữa chú giải Kinh Thánh và triết học cổ đại Trong

đó, những thế hệ đầu tiên của triết học Kito giáo chỉ chấp nhận một phần tư tưởng của triết học cổ đại (Aristotle, phái Khắc kỷ, chủ nghĩa Plato mới ) những yếu tố phù hợp, có lợi cho công việc truyền bá giáo lý mới Trong một chừng mực nhất định, các nhà triết học Tây Âu trung cổ đã tin vào sự hỗ trợ của triết học cổ đại (lý trí) đối với đức tin vào Thiên Chúa Tuy nhiên, theo

họ, tin vào sự hiểu biết hay đức tin tri thức cũng rất cần thiết, song nếu chỉ dừng lại ở đó, nó không thể cứu rỗi được ai Đức tin tri thức chỉ giúp con người nhận ra có một Đấng sáng tạo, còn đức tin cứu rỗi giúp con người lấy tấm lòng chân thành để tiếp nhận Ngài, mời Ngài cai quản cuộc sống của mình Với đức tin này, con người sẽ chuyển những nhận biết từ lý trí xuống con tim, chuyển giáo lý thành các nguyên tắc của hành động

Ngày đăng: 23/03/2015, 17:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Mortimer J. Adler (2010), Triết học Hy Lạp và thần học Thiên Chúa giáo [Internet]. 18/10/2010. Lấy từ: URL: http://giacngo.vn/triethoc/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học Hy Lạp và thần học Thiên Chúa giáo
Tác giả: Mortimer J. Adler
Năm: 2010
3. Thomas Aquino (2001 - 2003), Tổng luận thần học, Tòa tổng giám mục thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng luận thần học
Tác giả: Thomas Aquino
Nhà XB: Tòa tổng giám mục thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2001 - 2003
5. Ph. Ănghen (1993), Chiến tranh nông dân ở Đức// C. Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến tranh nông dân ở Đức
Tác giả: Ph. Ănghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1993
6. Ph. Ănghen (1995), Bàn về lịch sử đạo Kito sơ kỳ// C. Mác và Ph. Ăngghen, Toàn tập, tập 22, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về lịch sử đạo Kito sơ kỳ
Tác giả: Ph. Ănghen
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1995
7. Bách khoa toàn thư mở Wikipedia (2011), Kinh Thánh [Internet] Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh Thánh
Nhà XB: Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Năm: 2011
11. Alan C. Bowen (2004), Khoa học và triết học Hy Lạp cổ đại, Nxb Văn hoá thông tin, dịch giả Lê Sơn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khoa học và triết học Hy Lạp cổ đại
Tác giả: Alan C. Bowen
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin
Năm: 2004
12. John Bowker (2003), Các tôn giáo trên thế giới, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các tôn giáo trên thế giới
Tác giả: John Bowker
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2003
14. Edward McNall Burns (2008), Văn minh phương Tây – Lịch sử và Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn minh phương Tây – Lịch sử và
Tác giả: Edward McNall Burns
Năm: 2008
15. Các bộ môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh (2002), Giáo trình triết học Mác - Lênin, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình triết học Mác - Lênin
Tác giả: Các bộ môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2002
16. Doãn Chính, Đinh Ngọc Thạch (2003), Triết học trung cổ Tây Âu, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triết học trung cổ Tây Âu
Tác giả: Doãn Chính, Đinh Ngọc Thạch
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2003
17. Franciss Collins (2007), Ngôn ngữ của Chúa, những bằng chứng khoa học về đức tin, Nxb Lao động, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ của Chúa, những bằng chứng khoa học về đức tin
Tác giả: Franciss Collins
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2007
18. David E Cooper (2005), Các trường phái triết học trên thế giới, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các trường phái triết học trên thế giới
Tác giả: David E Cooper
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2005
19. Đỗ Kiên Cường (2001), Hiện tượng tâm linh, Nxb Trẻ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện tượng tâm linh
Tác giả: Đỗ Kiên Cường
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2001
20. Đỗ Kiên Cường (2003), Lý giải các hiện tượng dị thường, khoa học và tâm linh, Nxb Trẻ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý giải các hiện tượng dị thường, khoa học và tâm linh
Tác giả: Đỗ Kiên Cường
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2003
21. Vũ Dũng (2001), Một số đặc điểm của niềm tin tôn giáo, tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, tập 7 (số 1), tr. 28-30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm của niềm tin tôn giáo
Tác giả: Vũ Dũng
Nhà XB: tạp chí Nghiên cứu tôn giáo
Năm: 2001
22. Jean - Baptiste Duroselle và Jean - Marie Mayeur (2004), Lịch sử đạo Thiên Chúa, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử đạo Thiên Chúa
Tác giả: Jean - Baptiste Duroselle và Jean - Marie Mayeur
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2004
23. Phạm Đức Dương (2003), Thế giới tâm linh, tạp chí Nghiên cứu tôn giáo, tập 21 (số 3), tr. 15-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: tạp chí Nghiên cứu tôn giáo
Tác giả: Phạm Đức Dương
Năm: 2003
24. Lưu Phóng Đồng (2001), Giáo trình hướng tới thế kỷ 21, triết học phương Tây hiện đại, Nxb Lý luận chính trị, thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình hướng tới thế kỷ 21, triết học phương Tây hiện đại
Tác giả: Lưu Phóng Đồng
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2001
25. Domique Folscheid (2003), Các triết thuyết lớn, Nxb Thế giới, Hà Nội, dịch giả Huyền Giang Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các triết thuyết lớn
Tác giả: Domique Folscheid
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2003
26. A. J. A. Gurevich (1998), Các phạm trù văn hóa trung cổ, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phạm trù văn hóa trung cổ
Tác giả: A. J. A. Gurevich
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 1998

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w