Tôn giáo với tính cách là một yếu tố của cấu trúc xã hội, đã có những ảnh hưởng không nhỏ đến con người và xã hội trên cả hai mặt, tích cực và tiêu cực, góp phần tạo nên sắc thái đặc biệ
Trang 1Hà Nội - 2010
Tìm hiểu một số ảnh h ởng của tôn giáo
đến đời sống văn hoá tinh thần
ng ời việt hiện nay
Tìm hiểu một số ảnh h ởng của tôn giáo
đến đời sống văn hoá tinh thần
ng ời việt hiện nay
Luận văn thạc sỹ triết học
Vũ đức chính (Thích Thanh Nhiễu)
Vũ đức chính (Thích Thanh Nhiễu)
Trang 2Hà Nội - 2010
Luận văn thạc sỹ triết học
Chuyên ngành Mã số
Chuyên ngành Mã số
: Tôn giáo học : 60.22.90
: Tôn giáo học : 60.22.90
Giỏo viờn hướng dẫn:
TS Trần thị kim oanh
Giỏo viờn hướng dẫn:
TS Trần thị kim oanh
Tìm hiểu một số ảnh h ởng của tôn giáo
đến đời sống văn hoá tinh thần
ng ời việt hiện nay
Tìm hiểu một số ảnh h ởng của tôn giáo
đến đời sống văn hoá tinh thần
ng ời việt hiện nay
Vũ đức chính (Thích Thanh Nhiễu)
Vũ đức chính (Thích Thanh Nhiễu)
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 3
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 5
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 6
6 Đóng góp của luận văn: 6
7 Ý nghĩa của luận văn: 6
8 Kết cấu của luận văn 7
Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM VÀ ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA NGƯỜI VIỆT Ở ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ TRƯỚC KHI CÓ TÔN GIÁO NGOẠI NHẬP 8
1.1 Khái quát về tôn giáo ở Việt Nam 8
1.1.1 Tôn giáo và những biểu hiện của tôn giáo 8
1.1.2 Vài nét về tôn giáo ở Việt Nam 21
1.2 Đời sống văn hóa tinh thần của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ trước khi có tôn giáo ngoại nhập 25
1.2.1 Một số khái niệm chung 25
1.2.2 Đôi nét về đời sống văn hóa tinh thần của người Việt 32
Chương 2: MỘT SỐ ẢNH HƯỞNG CỦA TÔN GIÁO ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN NGƯỜI VIỆT HIỆN NAY 38
2.1 Ảnh hưởng của Phật giáo đến đời sống văn hoá tinh thần người Việt 40 2.1.1 Ảnh hưởng của Phật giáo đến văn hóa tín ngưỡng và luân lý đạo đức 40 2.1.2 Ảnh hưởng của Phật giáo đối với văn học nghệ thuật 56
2.2 Ảnh hưởng của Công giáo đối với đời sống văn hoá tinh thần người Việt 73
Trang 42.2.1 Ảnh hưởng của Công giáo đến văn hóa tín ngưỡng và luân lý đạo đức 732.2.2 Ảnh hưởng của Công giáo đối với văn học nghệ thuật 94
2.3 Một số giải pháp nhằm phát huy những ảnh hưởng tích cực và khắc phục một số hạn chế của tôn giáo đối với đời sống văn hoá tinh thần của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ hiện nay 103 KẾT LUẬN 107 TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ V (khóa VIII), Đảng ta đã ra Nghị quyết “Về xây dựng và phát triển văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”, trong đó xác định một trong mười nhiệm vụ cụ thể là “chính sách văn hóa đối với tôn giáo” Nghị quyết ghi:
“Về tôn giáo, thi hành nhất quán chính sách tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào của công dân Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật
Bảo đảm cho sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật Nhà nước Nghiêm cấm việc xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước Nhà nước chăm lo phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, giúp đỡ đồng bào có đạo xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống, tham gia các công việc xã hội, từ thiện
Đồng bào theo đạo và các vị chức sắc tôn giáo có nghĩa vụ làm tròn trách nhiệm công dân đối với Tổ quốc, sống "tốt đời đẹp đạo"”[21;126]
Như vậy, trong quan điểm chỉ đạo Đảng và Nhà nước ta đã nhận thấy
rõ vị trí và tầm quan trọng của tôn giáo trong đời sống văn hóa xã hội Tôn giáo với tính cách là một yếu tố của cấu trúc xã hội, đã có những ảnh hưởng không nhỏ đến con người và xã hội trên cả hai mặt, tích cực và tiêu cực, góp phần tạo nên sắc thái đặc biệt cho đời sống văn hóa tinh thần của nhân loại
Ảnh hưởng của tôn giáo đối với đời sống văn hóa tinh thần được đánh giá hết sức khác nhau, thậm chí đối lập nhau trong lịch sử Tuy nhiên, có nhiều ý kiến thống nhất với nhau rằng: tôn giáo vừa có khả năng tạo nên những giá trị làm phong phú và thúc đẩy đời sống văn hóa tinh thần của xã hội song cũng có thể tạo nên những cản trở đối với sự phát triển đời sống văn hóa tinh thần, đời sống xã hội Vì vậy, vấn đề được đặt ra cho người nghiên cứu
Trang 6tôn giáo học là phải thấy được những hợp lý và khiếm khuyết của hiện tượng tôn giáo và những ảnh hưởng của nó đã, đang và sẽ cản trở lịch sử nhân loại Điều này thực sự cần thiết trong thời đại ngày nay, khi cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, các trào lưu hiện đại hóa, các tôn giáo thế giới có xu hướng gắn bó hơn với đời sống thế tục, đặc biệt trong các lĩnh vực văn hóa tín ngưỡng truyền thống, luân lý đạo đức và văn học nghệ thuật để tự điều chỉnh, thích ứng với xu thế của thời đại, mong giữ được thánh địa thiêng liêng của mình để tiếp tục tồn tại và tồn tại lâu dài
Việt Nam là một quốc gia đa tôn giáo Bên cạnh những tôn giáo nội sinh như đạo Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo, còn có những tôn giáo được du nhập từ bên ngoài vào như Phật giáo, Công giáo, Tin Lành, Hồi giáo…
Các tôn giáo ở Việt Nam luôn tồn tại song hành cùng lịch sử dân tộc, bên cạnh những hạn chế nhất định, tôn giáo đã có những đóng góp tích cực nhất định cho nền văn hóa dân tộc, góp phần tạo nên bản sắc văn hóa độc đáo của dân tộc Việt Nam
Hiện nay, xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ, trước những biến đổi của tình hình thế giới và trong nước, tôn giáo
ở Việt Nam đang có những biến động phức tạp theo nhiều chiều hướng Vì vậy, nhiều vấn đề được đặt ra, nhất là xung quanh việc đánh giá ảnh hưởng của tôn giáo đến đời sống văn hóa tinh thần của xã hội
Trong các tôn giáo ở Việt Nam, Phật giáo và Công giáo là những tôn giáo thế giới vào nước ta từ rất sớm Nhìn chung, đây là các tôn giáo khá gắn
bó, đồng hành cùng dân tộc Trong quá trình tồn tại và phát triển, các tôn giáo này đã đóng góp cho dân tộc trên nhiều phương diện, đặc biệt là phương diện văn hóa tinh thần, tạo ra sự đa dạng trong đời sống văn hóa tín ngưỡng truyền thống, những chuẩn mực trong luân lý đạo đức và giá trị nhân văn, nhân bản trong văn học nghệ thuật của người Việt Nam
Trang 7Do vậy, nghiên cứu ảnh hưởng của tôn giáo (đặc biệt là hai tôn giáo thế giới Phật giáo và Công giáo) đối với văn hóa Việt Nam là công việc có ý nghĩa nền tảng, góp phần vào công cuộc xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Để hiểu đúng hơn về vị thế của tôn giáo đối với văn hóa nước nhà là một vấn đề hết sức cần thiết Xuất phát từ những suy nghĩ
như vậy, chúng tôi chọn vấn đề nghiên cứu:“Tìm hiểu một số ảnh hưởng của
tôn giáo đến đời sống văn hóa tinh thần người Việt hiện nay” làm luận văn
của mình Hy vọng, với đề tài này, chúng tôi góp phần vào việc nghiên cứu tôn giáo, có một cách nhìn khách quan hơn về vị thế của tôn giáo thế giới (Phật giáo, Công giáo) hiện nay trong xã hội Việt Nam
Nghiên cứu về văn hóa có các công trình tiêu biểu như: “Cơ sở văn hóa
Việt Nam” của Trần Quốc Vượng (chủ biên); “Việt Nam văn hóa sử cương”
của học giả Đào Duy Anh; “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam” của Trần Ngọc Thêm; Một số vấn đề lý luận văn hoá thời kỳ đổi mới” của Hoàng Văn Vinh;
“Văn hoá và văn hóa học thế kỷ XX”, của Viện khoa học xã hội; “Văn hóa và
sự phát triển” của một số tác giả nước ngoài viết về văn hóa như: Iu.Đavưđôp,
L.G.Ionin, V.E.Đaviđôvich, Zđanôp
Nghiên cứu về tôn giáo tiêu biểu là các công trình: “Lý luận về tôn
giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam” của Đặng Nghiêm Vạn, “Một số tôn
Trang 8giáo ở Việt Nam”, của Nguyễn Thanh Xuân; “Mười tôn giáo lớn trên thế giới”, của Hoàng Tâm Xuyên; “Tôn giáo thế giới và Việt Nam” của Mai
Thanh Hải; Lịch sử Phật giáo Việt Nam, tập 1, 2 của Lê Mạnh Thát, “Phật
giáo Việt Nam những vấn đề hiện nay”, của Nguyễn Tài Thư; “Phật giáo trong mạch sống dân tộc”, của Thích Thanh Từ; “Việt Nam giáo sử”, của
Phan Phát Huồn; “Lịch sử truyền giáo”, tập 1, 2 của Nguyên Hồng; “Nghi lễ
và lối sống Công giáo trong văn hoá Việt Nam” của Nguyễn Hồng Dương
Ngoài ra, còn một số ít công trình đề cập trực tiếp tới một vài phương
diện biểu hiện sự tác động qua lại giữa văn hóa và tôn giáo: “Tôn giáo trong
mối quan hệ với văn hóa và phát triển ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Hồng
Dương; “Di sản văn hóa dân tộc trong tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam” của Chu Quang Trứ; “Ảnh hưởng của các hệ tư tưởng và tôn giáo đối với con
người Việt Nam hiện nay” do Nguyễn Tài Thư chủ biên; “Những vấn đề lý luận và thực tiễn tôn giáo ở Việt Nam” và “Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam”, của Đặng Nghiêm Vạn
Một số tạp chí cũng có những bài viết nghiên cứu về tôn giáo và ảnh
hưởng của tôn giáo đến đời sống văn hóa xã hội như: Tạp chí Triết học, Tạp
chí Nghiên cứu Tôn giáo, Tạp chí Công tác tôn giáo, Tạp chí Nghiên cứu Phật học, Tạp chí Công giáo và dân tộc, Có thể kể đến các bài viết như: “Đạo đức và đạo đức tôn giáo nhìn từ góc độ triết học” của Nguyễn Hữu Vui (Tạp
chí triết học, số 4, 1995); “Tôn giáo tín ngưỡng trong đời sống văn hóa hiện
nay” của tác giả Đỗ Quang Hưng (Tạp chí Cộng sản, số 15, 1999); “Phật giáo Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hoá”, của Nguyễn Đức Lữ, (Tạp chí Triết
học số, 11, năm 2006); “Bước đường hội nhập văn hoá dân tộc của Công giáo
Việt Nam”, của Nguyễn Hồng Dương (Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 7,
năm 1999)
Nhìn một cách tổng thể, những nghiên cứu trên đều thống nhất quan điểm thừa nhận văn hóa tôn giáo có ảnh hưởng tích cực đến văn hóa Việt
Trang 9Nam, góp phần làm phong phú thêm nền văn hóa dân tộc Song, cũng có những yếu tố tiêu cực cần phải khắc phục bằng những giải pháp cụ thể trên những bình diện nhận thức cũng như thực tiễn Tuy nhiên, do yêu cầu của xã hội hiện nay, việc tiếp tục nghiên cứu về văn hóa tôn giáo ở dạng chuyên biệt vẫn rất thiết thực và cần thiết Theo hướng nghiên cứu này, tác giả luận văn kế thừa những giá trị của các công trình đi trước trong việc thực hiện đề tài của mình
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở phân tích khái quát về tôn giáo ở
Việt Nam hiện nay và đời sống văn hóa tinh thần của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ trước khi có tôn giáo ngoại nhập, luận văn tập trung phân tích những ảnh hưởng của tôn giáo đến đời sống văn hoá tinh thần người Việt hiện nay và đưa ra một số giải pháp để phát huy những giá trị văn hoá tôn giáo tốt đẹp, khắc phục những mặt hạn chế của tôn giáo
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu: Luận văn có hai nhiệm vụ
Thứ nhất, Phân tích khái quát về tôn giáo ở Việt Nam và đời sống văn
hóa tinh thần của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ trước khi có tôn giáo ngoại nhập
Thứ hai, Phân tích và làm sáng tỏ một số ảnh hưởng của tôn giáo cụ thể
như Phật giáo, Công giáo đối với đời sống văn hoá tinh thần người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ hiện nay Đồng thời đưa ra một số một số giải pháp nhằm phát huy những giá trị tốt đẹp, khắc phục những hạn chế trong tôn giáo ở Việt Nam hiện nay
4 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
4.1 Đối tƣợng nghiên cứu: Ảnh hưởng của tôn giáo (Phật giáo, Công giáo)
đối với đời sống văn hoá tinh thần người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ hiện nay
4.2 Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu một số ảnh hưởng của
tôn giáo (mà cụ thể là Phật giáo và Công giáo) đến đời sống văn hóa tinh
Trang 10thần của người Việt ở Đồng bằng Bắc Bộ trên một số lĩnh vực cụ thể: tư tưởng, tín ngưỡng truyền thống, văn học nghệ thuật Những lĩnh vực này rất gần gũi và gắn bó với sinh hoạt đời sống văn hoá tinh thần của người Việt
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận: Dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo; những quan điểm, đường lối chính sách của Đảng về tôn giáo; các công trình nghiên cứu về tôn giáo của các nhà Khoa học trong và ngoài nước
5.2 Phương pháp nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu tôn giáo trong
mối quan hệ với đời sống văn hoá tinh thần từ góc độ tôn giáo học, sử dụng tổng hợp các phương pháp trong quá trình nghiên cứu như kết hợp logic với cơ sở, lý luận gắn với thực tiễn, phương pháp phân tích và tổng hợp tư liệu
6 Đóng góp của luận văn:
Trên cơ sở phân tích khái quát về tôn giáo ở Việt Nam và đời sống văn hóa tinh thần người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ trước khi có tôn giáo ngoại nhập, luận văn phân tích một số ảnh hưởng của tôn giáo cụ thể như Phật giáo, Công giáo đối với đời sống văn hoá tinh thần người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ hiện nay Đồng thời đưa ra một số một số giải pháp nhằm phát huy những giá trị văn hóa tôn giáo tốt đẹp, khắc phục những hạn chế trong tôn giáo ở Việt
Nam hiện nay
7 Ý nghĩa của luận văn:
7.1 Về mặt lý luận: Luận văn phân tích và làm sáng tỏ một số ảnh
hưởng của tôn giáo (mà cụ thể là Phật giáo và Công giáo) đến đời sống văn hóa tinh thần của người Việt ở Đồng bằng Bắc Bộ trên một số lĩnh vực cụ thể:
tư tưởng, tín ngưỡng truyền thống, văn học nghệ thuật
Trang 117.2 Về mặt thực tiễn: Luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho công
tác giảng dạy, nghiên cứu, học tập về tôn giáo; cho việc hoạch định chính sách đối với tôn giáo của Đảng và Nhà nước
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và mục lục, nội dung luận văn gồm 2 chương 5 tiết
Trang 12Chương 1:
KHÁI QUÁT VỀ TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM VÀ ĐỜI SỐNG VĂN HÓA TINH THẦN CỦA NGƯỜI VIỆT Ở ĐỒNG BẰNG BẮC BỘ TRƯỚC KHI CÓ TÔN GIÁO NGOẠI NHẬP
1.1 Khái quát về tôn giáo ở Việt Nam
1.1.1 Tôn giáo và những biểu hiện của tôn giáo
Trong Báo cáo chính trị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Đảng ta
đã nêu rõ vai trò của tôn giáo và tầm quan trọng của công tác tôn giáo: “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân Đảng và Nhà nước ta tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng và không tín ngưỡng của nhân dân, thực hiện bình đẳng, đoàn kết lương giáo và giữa các tôn giáo Khắc phục mọi thái độ hẹp hòi, thành kiến, phân biệt đối xử với đồng bào có đạo, chống những hành động vi phạm tự do tín ngưỡng, đồng thời nghiêm cấm và ngăn chặn mọi hành vi lợi dụng tôn giáo phá hoại độc lập và đoàn kết dân tộc, chống phá chủ nghĩa xã hội, ngăn cản tín đồ làm nghĩa vụ công dân”[20;78] Vậy, tôn giáo là gì? Bản chất của tôn giáo ra sao? Tôn giáo đã ảnh hưởng đến đời sống xã hội như thế nào? mà Đảng ta lại khẳng định như vậy?
Tôn giáo là gì? Đây là một vấn đề xưa cũ nhưng cũng là một vấn đề thường xuyên mới Người ta xem xét, nhận thức tôn giáo từ những không gian văn hóa và truyền thống tư tưởng khác nhau, do sự đa dạng của xuất phát điểm
và góc nhìn khác nhau mà dẫn đến kết luận và giải đáp cũng rất khác nhau Điều này làm nảy sinh ra vấn đề là nên lý giải tôn giáo như thế nào?
Theo những định nghĩa phổ thông thì tôn giáo là một dạng sinh hoạt tâm linh, trong đó con người tin vào sự hiện hữu của các thế lực siêu nhiên, có quyền lực siêu phàm, có thể tác động đến đời sống của con người khi con người sống cũng như khi đã chết Tin vào sự bất tử của linh hồn và một thế
Trang 13giới sau khi chết, trong đó linh hồn của những người đã chết vẫn tồn tại trong một cuộc sống khác Từ đó con người đi đến chỗ tôn vinh, thờ phụng các thế lực siêu nhiên, linh hồn của những người đã chết với hy vọng được sống an lành nơi trần thế và được hưởng phúc vĩnh hằng nơi thế giới bên kia sau khi
ra tôn giáo, như C Mác và nhiều nhà khoa học trước và sau ông chấp nhận thì rõ ràng tôn giáo phải thích nghi với xã hội con người Xã hội thay đổi, tư duy con người thay đổi, tôn giáo của họ cũng thay đổi theo “Con người làm
ra tôn giáo chứ tôn giáo không làm nên con người Nói cách khác, tôn giáo
là sự tự ý thức và tự cảm giác của con người vốn tự chưa tìm thấy bản thân mình hoặc đã tự đánh mất mình một lần nữa Nhưng con người không phải
là một sinh vật đứng ngoài thế giới Con người là thế giới con người, là Nhà nước, là xã hội Nhà nước ấy, xã hội ấy sản sinh ra tôn giáo, đó là cái nhận thức thế giới đảo ngược Tôn giáo là cái lý thuyết chung về thế giới đó, là
bộ bách khoa toàn thư tóm tắt, là cái lôgic bình dân, là niềm danh dự tinh thần, là sự hân hoan, là sự thưởng phạt về luân lý, là sự bổ khuyết thiêng liêng, là nơi tìm thấy sự an ủi và biện minh, phổ cập của cái thế giới ấy Bởi
vì, trong thực tế không hề tồn tại cái tính chất nhân loại ấy Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim cũng giống như nó là tinh thần của những trật tự không có tinh thần”[52;570]
Trang 14Như vậy, tôn giáo không chỉ là sản phẩm của con người nói chung, hơn thế nó là sản phẩm của riêng con người, của mọi thời đại, mọi màu da, mọi vùng đất để tự thăng hoa trong khi đôi chân vẫn gắn chặt với đất mẹ, với số phận không đều nhau, với niềm hạnh phúc và đau khổ xen kẽ, với vinh quang
và cay đắng Tôn giáo đòi hỏi người ta không chỉ tin và ngưỡng mộ, nó đòi hỏi lòng tin vào sự tưởng tượng phong phú, dồi dào, nhằm nâng đỡ tự thân các thân phận người
Phật giáo ra đời ở Ấn Độ, một trong những cái nôi của văn minh nhân loại, một mảnh đất màu mỡ của tôn giáo và triết học Sau khi Phật Thích Ca tịch diệt Phật giáo dần dần tách ra nhiều tông phái, trong đó nổi bật là hai tông phái Tiểu thừa (Hinayana) và Đại thừa (Mahayana) Tông phái Tiểu thừa phát triển ở Nam Ấn và truyền qua các nước như Xrilanca, Miến Điện, Thái Lan, Campuchia, Lào và Nam Việt Nam Tông phái Đại thừa phát triển ở Bắc Ấn rồi truyền qua Tây Tạng, Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên và Bắc Việt Nam
Xét về đặc tính tông truyền thì đạo Ki tô có phần tiêu biểu hơn, như Ph.Ăngghen đã từng nhận xét: Sau Cơ Đốc giáo con người không thể sáng tạo
ra một tôn giáo nào hoàn hảo hơn Và chỉ trong vài năm, Ki tô giáo bành trướng từ Palextin tiến sâu vào nội địa ba châu Á, Âu, Phi Và sau này Công giáo lan sang miền Lưỡng Hà (Mesopotamie), Ba Tư rồi Ấn Độ, đồng thời tràn qua Alexandri và Bắc Phi
Tôn giáo còn là một sự kiện của lịch sử xã hội, bởi tôn giáo không chỉ quan tâm đến những vấn đề của thế giới bên kia mà còn dành phần quan trọng cho sự quan tâm đến những vấn đề đời thường của xã hội con người và được thể hiện rõ trong luân lý, đạo đức của tư tưởng tôn giáo Ở bất cứ điều kiện kinh tế nào, những thiên tai, những bất hạnh trong xã hội như núi lửa, động đất, hỏa hoạn, lụt lội, bệnh tật mà con người đang gánh chịu thì tôn giáo đã góp phần nhất định trong việc gánh vác bớt những nỗi khổ đau đó của con người Nó góp phần hạn chế những hành vi tiêu cực của con người, hàn gắn,
Trang 15bù đắp một cách thiết thực, dù ở mức độ nào đó, những rủi ro bất hạnh của con người phần nào cũng giải quyết được
Hơn thế nữa tôn giáo còn là văn hóa, như chúng ta đã biết văn hóa đã sản sinh ra văn hóa tôn giáo, văn hóa tôn giáo ấy mang tính đặc trưng của tôn giáo sản sinh ra nó, nhưng đồng thời cũng in đậm màu sắc của nó lên văn hóa đời thường của cộng đồng đi theo tôn giáo đó Bởi vì, những nơi nào đó coi tôn giáo là Quốc giáo hoặc nơi có số tín đồ đông nhất sẽ đem lại cho nền văn hóa ấy một bản sắc riêng Các công trình văn hóa kiệt xuất của Hy Lạp, Ai Cập, Ấn Độ, Trung Quốc không chỉ là sản phẩm của tôn giáo đơn nhất, mà là
sự hội nhập nhuần nhuyễn giữa văn hóa tôn giáo và văn hóa đời thường tới mức khó mà tách bạch Do vậy, tôn giáo phải được coi như là một thành tố văn hóa của cộng đồng Cho nên, trong thực tế khi muốn tìm hiểu kỹ văn hóa của một cộng đồng nào thì nhất thiết không thể bỏ qua tôn giáo của dân tộc
ấy Và như vậy, một tôn giáo nào đó du nhập vào một quốc gia bình thường sẽ diễn ra một sự giao lưu hòa nhập hoặc tiếp biến văn hóa, làm phong phú thêm đời sống văn hóa của quốc gia ấy
Như vậy, tôn giáo của các dân tộc đều là một dạng thức văn hóa, thậm chí là một dạng thức văn hóa đặc biệt Vì vậy, nếu ai phủ nhận sạch trơn các giá trị của tôn giáo được xem như là một người cực đoan Bởi tôn giáo là sản phẩm của chính con người, nó là vật cộng sinh với con người, tương lai của
nó thuộc về con người
Tôn giáo hiểu theo quan niệm mác xít là một hình thái ý thức xã hội, là
sự phản ánh hư ảo vào đầu óc con người những sức mạnh bên ngoài, kể cả sức mạnh trần gian mang tính siêu thế gian và chi phối cuộc sống con người Tôn giáo cũng là hạnh phúc hư ảo của nhân dân Bất cứ trong hoàn cảnh xã hội nào, thì cơ sở của mọi tôn giáo cũng là niềm tin của con người vào cái
“thiêng” thông qua các hệ thống và biểu tượng Ví như đạo Phật, biểu tượng của cái thiêng đó là cái “Thiện” Phật là người tu luyện rũ bỏ dục vọng để đạt
Trang 16tới cái “Thiện” – “Phật tính” Điều này quy định mọi hành vi ứng xử của con người trong xã hội Mọi hệ thống biểu tượng của tôn giáo đều là hệ thống biểu tượng của văn hóa, nó vừa chứa đựng hệ giá trị dân tộc, đồng thời là sự thể hiện bản sắc và sắc thái văn hóa của dân tộc trong những thời đại nhất định
Và nhà sử học mác xít Pháp, Charles Haichelin cũng đã nhận định: “Tôn giáo
là một sự phản ánh đặc biệt, hoang đường và sai lệch vào trong ý thức xã hội những mối liên hệ giữa con người với nhau và với tự nhiên, bởi con người cả trong xã hội nguyên thủy cũng như trong xã hội được phân chia giai cấp cổ đại, phong kiến, tư bản cũng đều đặt dưới sự thống trị của những sức mạnh ở bên ngoài họ, mà họ không nhận biết được, cũng như không chi phối và kiểm soát được, vì thế mà đối với chúng, họ cảm thấy có sợ hãi bí ẩn, sự sợ hãi này sẽ sản sinh ra các vị thần linh”[31;46]
Nhưng khi nghiên cứu về tác động, ảnh hưởng của các yếu tố ý thức hệ, đặc biệt là ý thức hệ tôn giáo tới đời sống văn hóa xã hội ta phải thận trọng với những giá trị về cuộc sống mà tôn giáo mang lại có khả năng thỏa mãn nhu cầu tinh thần của con người như: giá trị đạo đức dân tộc, ý nghĩa cho cuộc đời mỗi người, sự bảo đảm theo cách này hay cách khác cho thắng lợi của lẽ công bằng, sự thỏa mãn nhu cầu tuyệt đối của cuộc sống ấm no nơi Thiên Đàng, Niết Bàn Rất dễ đưa ta đến chỗ biến tôn giáo và ảnh hưởng của nó, vốn chỉ mang tính độc lập tương đối, trở thành tính độc lập tuyệt đối, nghĩa là
nó tác động đến đời sống con người với vị thế như là một yếu tố ở bên ngoài thế giới vật chất – một luận điểm cơ bản của chủ nghĩa duy tâm
Bởi xét cho cùng trên thực tế những lý tưởng cao quý mà tôn giáo đem lại cho con người không bao giờ thực hiện được, nó chỉ là sự thỏa mãn nhu cầu một cách ảo tưởng C.Mác nói: “Tôn giáo là trái tim của thế giới không trái tim”, “Tôn giáo là tinh thần của những trật tự không có tinh thần”, “Tôn giáo chỉ là cái mặt trời ảo tưởng xoay quanh con người chừng nào con người chưa biết đầu xoay quanh bản thân mình”[52;569-570]
Trang 17Từ lâu các nhà nghiên cứu tôn giáo ở nước ta (chỉ nói riêng các nhà nghiên cứu mác xít) đã có những cuộc tranh luận khoa học với nhiều ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngược nhau về những ảnh hưởng của tôn giáo Không
ít người chỉ nhìn thấy tôn giáo như một thứ “thuốc phiện” của nhân dân, một hiện tượng tinh thần xã hội, hoàn toàn tiêu cực (như đạo Ki tô khi du nhập vào nước ta) Nhiều người khác lại tuyệt đối mặt tích cực của tôn giáo trong đời sống xã hội, đồng nhất lý tưởng và đạo đức tôn giáo (nhất là Phật giáo) với lý tưởng và đạo đức của con người Chủ nghĩa xã hội
Điều đó cho thấy, vấn đề ảnh hưởng của tôn giáo đến đời sống xã hội nhất là đời sống văn hóa tinh thần là một vấn đề khá phức tạp
Ảnh hưởng của tôn giáo trong đời sống văn hóa xã hội thường được biểu hiện thông qua những chức năng của tôn giáo Tôn giáo có nhiều chức năng như chức năng: đền bù hư ảo, chức năng thế giới quan, chức năng giao tiếp, chức năng liên kết, chức năng văn hóa, chức năng giáo dục, chức năng chính trị
Ở đây chúng tôi không bàn tới vai trò và chức năng cụ thể của tôn giáo
mà chỉ đề cập một vấn đề có ý nghĩa phương pháp luận là vấn đề tiếp cận vai trò của tôn giáo từ góc độ Tôn giáo học và Triết học
Với tính chất là một hình thái ý thức xã hội, tôn giáo thường được xem xét từ góc độ nhận thức luận (góc độ triết học) Sự xem xét về mặt triết học cho phép làm rõ ảnh hưởng của tôn giáo đến đời sống văn hóa xã hội như thế nào? Trên ý nghĩa đó mà C.Mác đã nói: “Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”
Theo C.Mác, trong một xã hội mà chúng sinh bị áp bức, trong một thế giới “không có trái tim”, “không có tinh thần” là “tiếng thở dài”, là “trái tim”,
là “tinh thần” của xã hội đó Tôn giáo vừa là biểu hiện, vừa là sự phản kháng chống lại sự khốn cùng của xã hội Hiểu theo ý đó, tôn giáo vừa là sản phẩm tinh thần, vừa là giải pháp tình thế cứu khổ, là niềm an ủi nào đó trong thế
Trang 18giới đau khổ chưa tìm được lối thoát Niềm tin tôn giáo có tác dụng như một loại thuốc an thần đối với một cơ thể đang bị bệnh hiểm nghèo chưa tìm được phương thức cứu chữa “Thuốc phiện”, hiểu theo ý ẩn dụ, chủ yếu là khía cạnh tạo một sự cân bằng nào đó về tinh thần để không rơi vào bế tắc
Mỗi tôn giáo lành mạnh đều có giá trị nhân văn, khía cạnh đạo đức, tình cảm riêng và tính cộng đồng gắn bó
Có thể nói tôn giáo là một dạng văn hóa đặc biệt của nhân loại Ngoài tính thiện, tính nhân văn, nó còn có yếu tố thiêng liêng, yếu tố thăng hoa là những địa hạt mà chỉ bằng trực giác, xuất thần, linh thiêng, mặc khải thì mới với tới được Chính nhờ vào những yếu tố này con người mới tiến được vào cõi xa xăm, mà từ trước chỉ coi như là sự huyền bí Vì vậy, nhu cầu tâm linh tín ngưỡng của quần chúng nhân dân cũng bức thiết như nhu cầu về đời sống vật chất như ăn, ở, mặc Nói cách khác, tôn giáo là phần không thể thiếu được của mỗi con người
Vì vậy mà đạo Phật ra đời ở Ấn Độ khoảng thế kỷ thứ V trước Công nguyên Đức Phật là con vua Tịnh Phạn (Suddhadama) ở phía Bắc xứ Ấn Độ
Mẹ thân sinh ra Ngài mang họ Thích Ca (Cakya), nên sau gọi Thích Ca Mâu
Ni Phật Thái tử Tất Đạt Đa sinh vào khoảng 563-438 TCN Thời đó, xã hội
Ấn Độ theo đạo Bà La Môn, được phân chia thành năm đẳng cấp Ba lớp người thuộc đẳng cấp trên (vua chúa, quý tộc, thương gia) tha hồ đàn áp bóc lột hai đẳng cấp dưới (giới lao động và lớp người cùng khổ gọi là Parisas)
Thái tử Tất Đạt Đa buồn phiền vì nỗi thống khổ cùng cực của người lao động và với cảnh sinh, lão, bệnh, tử của họ, Ngài đã từ bỏ đạo Bà La Môn(1)
, đến năm 29 tuổi, đã quyết chí bỏ nhà đi tu hành tìm con đường giải thoát cho loài người khỏi mọi đau khổ trên đời Sau khi đã thành Phật – Bụt (Bậc giác
ngộ) (hình 1) Ngài đã đi khắp lưu vực sông Hằng và những nơi khác để giáo
1
Đạo Bà La Môn lúc đó là hệ tư tưởng chính thống trị xã hội Ấn Độ cổ đại
Trang 19hóa chúng sinh Ngài không phân biệt sang hèn, chủng tộc, mong giải thoát bể khổ cho loài người
Xuất phát từ góc độ như vậy, cho nên Ki tô giáo thời kỳ đầu hình thành
là từ Đế chế La Mã được thiết lập bằng chiến tranh và dựa chủ yếu vào sức lao động của Nô Lệ Do đó, từ cuối thế kỷ II, đầu thế kỷ I TCN, Đế quốc La
Mã đã chứa chất đầy mâu thuẫn Mâu thuẫn cơ bản nhất là mâu thuẫn giữa Nô
Lệ và Chủ Nô Lúc đó hàng loạt cuộc khởi nghĩa vũ trang của Nô Lệ nổi dậy chống giai cấp Chủ Nô và quân xâm lược Nhưng tất cả cuộc khởi nghĩa đó đều bị dập tắt trong biển máu một cách dã man Trong tâm trạng tuyệt vọng, quần chúng lao khổ trông chờ vào sự giúp đỡ của lực lượng siêu nhiên, một vị thần hay một đường cứu thế để có thể đánh đổ Đế quôc La Mã, giải phóng dân tộc và Ki tô giáo đã ra đời trong hoàn cảnh đó
Bởi thế có thể nói, đạo Ki tô vừa là sản phẩm tinh thần của quần chúng trước tình trạng bi đát và thất vọng trong cuộc sống, vừa là phản ứng của họ trước cuộc sống áp bức bóc lột của giai cấp Chủ Nô thống trị Do vậy, Đạo Ki
tô như một thứ tôn giáo của những người Nô Lệ, những người nghèo, những người áp bức đến cùng cực mà “Kinh Phúc Âm” đã để lại một câu nói nổi tiếng: “Lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào nước Thiên đàng”[Mc:10;25], Ph.Ăngghen cũng đã viết: "những tín đồ Cơ Đốc giáo đầu tiên được tuyển trong số những người nào? Chủ yếu là trong số "những người đau khổ và bất hạnh thuộc những tầng lớp người dân thấp nhất, như yêu cầu
Trang 20hội có giai cấp thì không có Nhà nước nào không sử dụng thứ công cụ tôn giáo này phục vụ cho lợi ích của giai cấp và của tập đoàn thống trị của mình
Vì như vậy, từ đời sống trần tục, tôn giáo bị “người đời” làm biến đổi, tha hóa, có khi ngược lại mục tiêu tốt đẹp cao cả ban đầu của nó Lịch sử nhân loại cũng đã chứng kiến nhiều trường hợp các giai cấp, các tập đoàn xã hội
đã lợi dụng tôn giáo gây ra chiến tranh, tàn phá, gây tai họa cho loài người Thậm chí họ còn dùng nó như là một công cụ cho chính sách xâm lược tàn bạo của chủ nghĩa bành trướng xâm lược
Phật giáo vốn là một tôn giáo từ bi, hỉ xả - một triết thuyết giải thích một cách sâu xa về cuộc sống con người, về căn nguyên nỗi khổ đau của họ
và chỉ ra cho con người một con đường cực kỳ vi diệu để tự giải phóng mình khỏi nỗi khổ đau đó Vì vậy, nguyên tắc chính được nêu ra là Tứ Thánh Đế, còn gọi là Tứ Diệu Đế
Khổ đế: Cõi đời là cảnh khổ, không những chỉ con người khổ mà vạn vật đều khổ cả Phật đã chỉ ra nỗi cực khổ vô hạn của đời: “Sinh là khổ, già là khổ, không ưa mà hợp là khổ, ưa mà phải dời là khổ, muốn mà không được là khổ, lưu luyến trong ngũ trọc là khổ”[1;254] Nỗi khổ con người gồm “Bát khổ”, đó là: Sinh, Lão, Bệnh, Tử, Oán tăng hội khổ, Ái biệt ly khổ, Cầu bất đắc khổ, Ngũ uẩn xí hành khổ
Tập đế: Cho rằng những nỗi khổ của con người đều do nhiều nguyên nhân, tuy nhiên tựu chung lại gồm các nguyên nhân chính: Theo Phật giáo, nguyên nhân thứ nhất là do “vô minh”, tức là sự mông muội, không thấu hiểu
lẽ sinh tử ở đời; còn chín nguyên nhân khác cùng với lão, bệnh, tử và các nỗi khổ do sinh mà ra, gồm lại thành mười hai nguyên nhân, liên hệ mật thiết với nhau, tức là Thập nhị nhân duyên Thập nhị nhân duyên gồm:
1 Vô minh là sự u mê, mờ tối
2 Hành là tưởng – nghĩ và hành động, tức là tự buộc mình vào luân hồi
3 Thức là biết ta là ta, biết ta có thể hành động, tạo tác được
Trang 214 Danh – sắc là ta có danh xưng và có hình thể
5 Lục nhập là sáu giác quan, tức là tai, mắt, mũi, lưỡi, thân và ý (trí tuệ)
6 Xúc là nhờ có giác quan mà ta tiếp xúc với ngoại vật
7 Thụ là chịu ảnh hưởng của ngoại cảnh
8 Ái là yêu thích, mong muốn, có lòng tư dục
9 Thủ là lấy, là quyến luyến với cuộc sống động
10 Hữu là có ta sống trong thế gian
11 Sinh là sinh ra trong nhân thế
Trang 22Diệt đế: Cho rằng mọi nỗi khổ của con người hoàn toàn có thể tiêu diệt được bằng cách diệt trừ những nguyên nhân, tức là diệt trừ “vô minh” và
“ái dục”
Đạo đế: Con đường thoát khổ của con người Phật giáo chỉ ra “Bát chính đạo” – tám con đường thoát khổ: Chính kiến, Chính tư duy, Chính ngữ, Chính nghiệp, Chính mệnh, Chính tinh tiến, Chính niệm, Chính định
Tóm lại, về phương diện thực hành thì đạo Phật cũng trình bày nhiều nguyên tắc Nhưng xét ra, quan niệm đáng cho ta thấy lưu ý hơn cả có lẽ là điều răn và sáu phép tu, mà nhà Phật gọi là Ngũ giới và Lục độ Thực hành theo đạo đế để diệt trừ những nguyên nhân gây đau khổ cho con người thì con người được giải thoát và đạt đến Niết bàn Niết bàn được hiểu là trạng thái vẳng lặng, tịch diệt, con người sống an nhiên, tự tại, vô ngã, vị tha
Với đạo Ki tô là một tôn giáo bình đẳng, bác ái, xuất hiện như là một tôn giáo của những người nô lệ, họ cho rằng cuộc sống thế gian đầy rẫy tội ác,
họ luôn coi trọng lao động, chống ách áp bức, bóc lột và chống xâm lược, chống bọn giàu có, nhưng họ tin và hy vọng sẽ được cứu vớt Họ chờ đợi ở sự phán quyết của Chúa và cho rằng đế quốc La Mã “mụ đàn bà khổng lồ đầy tội lỗi” sẽ bị diệt vong, những tín đồ Ki tô sẽ được sung sướng trong vương quốc của Chúa Điều đó đã an ủi người nghèo khổ, điều mà những tôn giáo trước
đó mang tính chất quí tộc và là công cụ thống trị của Nhà nước, nô lệ không thể làm được, bởi vậy mà tôn giáo này không phân biệt chủng tộc, và ai cũng
có thể phạm tội và cũng có thể sám hối Cho nên Giáo lý Ki tô luôn khuyên con người, làm điều lương thiện, tránh xa điều ác, tích đức hành thiện, thương yêu con người, nhân ái, vị tha Phạm vi của giáo lý Ki tô rất rộng, nhưng tựu chung gồm một số vấn đề cơ bản sau:
Thiên Chúa luận: Nói về quan niệm độc thần, nguồn gốc vũ trụ và nhân loại, bản chất và thuộc tính của Thiên Chúa, mối quan hệ giữa Thiên Chúa với thế giới và con người
Trang 23Tam vị nhất thể: Nói về Thiên chúa ba ngôi, Chúa Cha- Chúa Con – Chúa Thánh Thần
Ki tô luận: Nói về Giê su Ki tô (hình 2) chính là “đạo thành nhục thân”,
tức là con một của Thiên Chúa giáng sinh để cứu đời, cứu người, luân lý
“Kính Chúa yêu người” của Ki tô
Cứu chuộc luận: Nói về sự an bài, cứu độ của Thiên Chúa đối với con người trần thế, sứ mệnh và vai trò cứu thế của Ki tô
Thánh thần luận: Nói về vai trò của Thánh Thần khiến cho con người
“biết tội”, “hối tội”, “trở nên Thánh”, nhắc nhở tín đồ sống phải giữ mình trong sạch
Sáng thế luận: Nói về sự sinh thành của vũ trụ, nguồn gốc thế giới, vạn vật
Nhân tính luận: cũng gọi là “Nguyên tội luận”, nói về bản tính và vận mệnh của con người, sự thất lạc của “hình tượng Thiên Chúa” và sự ra đời của
“nguyên tội”, ý chí, trách nhiệm, thăng hoa và trầm luân, sa đọa và cứu chuộc của con người
Mạt thế luận: Nói về ngày phán xét cuối cùng, ngày tận thế của thế giới, ý nghĩa và sự khu biệt giữa Thiên đàng và Địa ngục, Luyện ngục, sự trở lại của Ki tô và nghìn năm vui vẻ, hạnh phúc, kết cục của lịch sử và nơi quay trở về cuối cùng của con người trần thế
Giáo hội luận: Nói về tính chất và đặc trưng của Giáo hội, ý nghĩa tượng trưng của Giáo hội với tư cách là nơi “trú ngụ của Thượng đế ở trần gian”
Thờ phượng luận: Nói về tính chất và ý nghĩa của thờ phượng lễ nghi như lễ Thánh Tẩy, lễ Thánh thể, địa vị và tính tất yếu của nó trong hoạt động tín ngưỡng
Ân sủng luận: Nói về ân sủng và nhân từ của Thiên Chúa, tình yêu Thiên Chúa
Thánh Mẫu luận: Nói về ý nghĩa của Maria, thân mẫu của Giê su
Trang 24Giáo lý Công giáo còn đề cập đến những chuẩn mực luân lý của con người trong cuộc sống, điều này được thể hiện rõ trong mười điều răn của chúa: 1 – Ngoài Thiên Chúa ra không được tin thờ bất cứ vị thần nào khác; 2 – Không được chế tạo và sùng bái ngẫu tượng; 3- Không được dùng danh Thiên Chúa một cách bất xứng; 4- Hãy nhớ ngày sa – bát, và coi đó là ngày thánh; 5- Hãy hiếu kính cha mẹ; 6- Không được giết người; 7- Không được gian dâm; 8- Không được trộm cắp; 9- Không được làm chứng hại người; 10- Không được ham muốn tài sản của người khác
Có thể nói, những triết thuyết nói trên của tôn giáo đều là sản phẩm trí tuệ của những con người xuất chúng, đạt tới một cấp độ chân lý, có sức thuyết phục và hấp dẫn lớn đối với quảng đại quần chúng trên con đường tìm đến cõi hạnh phúc trọn vẹn mà họ hằng ấp ủ, nên được ngưỡng mộ, tôn quý, coi đó là những điều giáo huấn cao quý, là chỗ nương tựa cho đời sống tâm linh và tinh thần Do đó, có tên gọi là “tôn giáo” (theo ngữ Hán - Việt là những điều giáo huấn tôn quý) Và như vậy, đặc trưng nổi bật của “tôn giáo” là cung cấp cho con người một con đường (Đạo) để tự mình vận dụng đặng đạt tới đích mong muốn Cũng từ nhận thức đó mà trong Báo Cứu quốc, số 14 và 15 tháng 1 năm 1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Đức Chúa hy sinh vì nhân loại Người đã vì loài người mà hy sinh phấn đấu, còn chúng ta thì chúng ta
hy sinh vì độc lập tự do của dân tộc Trong Công giáo có câu “Vạn chúng nhất tâm”, nên chúng ta phải hy sinh cho nhân loại và chúng sinh”
Hay: “Chúa Giê su dạy: Đạo đức là bác ái Phật Thích ca dạy: Đạo đức là từ bi”[57;225]
Tôn giáo là một thành tố của văn hóa tinh thần nên đối với người Việt Nam, đạo nào cũng được coi trọng, miễn là giáo lý không đi ngược lại đạo đức căn bản của dân tộc, trái với thuần phong mỹ tục của nhân dân, không phản lại lợi ích của cộng đồng, của đất nước
Trang 25Tính bao dung trong tôn giáo, tư tưởng tự do tôn giáo thuộc nếp nghĩ, nếp sống bình thường của người Việt Nam, là cơ sở của sự đoàn kết tôn giáo trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc
Đúng như vậy, lịch sử đã chứng minh xu hướng chủ yếu của các tôn giáo ở nước ta là hướng về dân tộc, gắn bó với đất nước Xét cho cùng thì giữa các giáo lý và truyền thống yêu nước, thương nòi của Việt Nam không có mâu thuẫn mà hỗ trợ nhau Đối với Phật tử Việt Nam không có sự khiêm cưỡng giữa đạo Phật và dân tộc, cũng giống như đối với Công giáo thì kính Chúa yêu nước là thuận lý
Chính vì sự tương đồng trong tư tưởng như vậy, nên khi tôn giáo (Phật giáo, Công giáo) du nhập vào Việt Nam đã được người Việt chấp nhận Bởi vậy, hai tôn giáo này đã ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống văn hóa tinh thần của người Việt trên nhiều bình diện như: tâm linh, tín ngưỡng; phong tục truyền thống và văn học nghệ thuật mà trong phần hai luận văn chúng tôi sẽ trình bày
1.1.2 Vài nét về tôn giáo ở Việt Nam
Việt Nam là một quốc gia nằm giữa ngã ba của Đông Nam châu Á Do đặc điểm địa lý tự nhiên, lịch sử và văn hóa nên các tôn giáo ở Việt Nam rất
đa dạng và phong phú Ở Việt Nam tồn tại hầu hết các tôn giáo mang tính toàn cầu hay khu vực Các tôn giáo được Nhà nước thừa nhận đó là: đạo Phật, đạo Công giáo, đạo Hồi, đạo Tin Lành, đạo Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo, đạo B’hai Ngoài ra, còn một số tôn giáo khác hiện cũng đang tồn tại như: Tịnh độ
Cư sĩ Phật hội, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Bửu Sơn Kỳ Hương…và một số hệ phái Tin Lành đang hoạt động bình thường Có thể khái quát về tình hình tôn giáo
ở nước ta như sau:
Về số lượng tín đồ: tính đến năm 2007, nước ta có tổng số tín đồ các tôn giáo là 23 triệu Trong đó, Phật giáo gần 10 triệu, Công giáo 5,9 triệu, Tin Lành gần 1 triệu và Hồi giáo 67 nghìn tín đồ, Cao Đài 3,2 triệu, Phật giáo Hòa
Trang 26Hảo khoảng 1,4 triệu, Tịnh độ cư sĩ Phật hội 1,4 triệu, Tứ Ân hiếu nghĩa 78 nghìn, Ngũ Chi minh chân đạo 10 nghìn Nếu tính từ năm 2005 đến năm
2007, chỉ sau 2 năm số lượng tín đồ các tôn giáo ở nước ta tăng lên 2 triệu[47;104] Hàng chục triệu tín đồ các tôn giáo khác nhau đã và đang tiếp tục cùng nhau và cùng những người không có tôn giáo tìm thấy sự tương đồng
ở mục tiêu phấn đấu cho dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ và văn minh
Về thực trạng cơ sở thờ tự: Tính đến năm 2007, cả nước có 24.000 cơ
sở thờ tự của các tôn giáo Trong đó, Phật giáo có 14.321 ngôi chùa, tịnh xá, tịnh thất, niệm Phật đường; Công giáo có 6.000 nhà thờ và Tin Lành có 500 nhà thờ; Cao Đài có 1000 thánh thất; Hòa Hảo có 200 chùa quán; Hồi giáo có
89 thánh đường Ngoài ra còn hàng vạn ngôi đình, đền, miếu, phủ và những
cơ sở thờ tự khác của tín ngưỡng dân gian trải dài khắp trong cả nước[47;105]
Về thực trạng cơ sở đào tạo của các tôn giáo: Giáo hội Phật giáo Việt Nam hiện có 4 Học viện với trên 1.000 Tăng Ni sinh, 35 lớp Cao đẳng và Trung cấp Phật học với trên 5.000 Tăng Ni sinh; 1.076 cơ sở từ thiện nhân đạo, trong đó có 950 lớp học tình thương Phật giáo Nam tông Khơ me có 2.500 các vị sư theo các lớp học Cao cấp và Trung cấp Phật học Pali
Công giáo có 6 Đại chủng viện và 2 Phân viện là Xuân Lộc (Đồng Nai)
và Đại chủng viện Liên địa phận Hà Nội lập cơ sở 2 tại Tòa Giám mục Bùi Chu (Nam Định)
Tin Lành thành lập Viện thánh kinh Thần học tại Thành phố Hồ Chí Minh Trong thời gian qua, đạo Tin Lành đã đào tạo và bồi dưỡng cho 267 Mục sư truyền đạo, mở được khóa với trên 150 học viên theo học, 3 lớp bồi dưỡng Thần học cho 113 truyền đạo, chấp sự là người dân tộc ở Tây Nguyên, 22 tín hữu trong đồng bào dân tộc được cử đi học tại Viện Thánh kinh Thần học
Trang 27Về đội ngũ chức sắc các tôn giáo: Năm 2007, nước ta có khoảng 80.000 chức sắc, nhà tu hành của các tôn giáo[47;105]
Nhìn chung, tình hình tôn giáo ở nước ta khá đa dạng và phức tạp, chủ yếu tập chung vào một số đặc điểm cơ bản sau:
Một là, tôn giáo Việt Nam mang tính quần chúng phổ biến nhưng chủ
yếu ở cấp độ tâm lý tôn giáo Tâm lý tôn giáo không chỉ sâu đậm trong lòng những tín đồ tôn giáo mà còn có cả trong số đông những người không theo một tôn giáo cụ thể nào Nhiều tín đồ tôn giáo tuy khá sùng đạo nhưng hiểu giáo lý rất ít, thậm chí chưa ra nhập vào hàng ngũ tín đồ, chỉ là do sự xác tín,
do lan truyền tâm lý, hoặc do sự vận động lôi kéo nào đó Trong một bộ phận rất lớn quần chúng nhân dân thì tôn giáo chủ yếu thuộc về lĩnh vực tình cảm,
đó là tín ngưỡng truyền thống Nó như một cái gì đó tự nhiên (“ác giả ác báo”,
“ở hiền gặp lành” ), nó như một bộ phận tiềm ẩn của tâm linh, một sự nương tựa, một niềm hy vọng giải thoát Nó bao phủ lên đời sống tinh thần của nhiều thế hệ người Việt Nam như Phạm Văn Đồng nhận xét: “Từ xa xưa dân tộc Việt Nam ta không có tôn giáo theo nghĩa thông thường của nhiều nước khác” [23;75] Đây là nguyên nhân khiến người Việt Nam không khắt khe lắm trong việc tiếp nhận các tôn giáo
Hai là, Các tôn giáo chính có ảnh hưởng lớn trong xã hội Việt Nam
đều du nhập từ ngoài vào và ít nhiều bị Việt Nam hóa Ngoài tín ngưỡng truyền thống và tàn dư của tôn giáo nguyên thủy như một nền tảng vững chắc đi suốt đời sống tâm linh của người Việt Nam theo chiều dài lịch sử Phật giáo rồi đến Công giáo là hai tôn giáo du nhập từ ngoài vào đã có ảnh hưởng rộng lớn trên phạm vi cả nước Các tôn giáo bản địa đều ra đời muộn (nửa đầu thế kỷ XX) và chỉ có ảnh hưởng trong một số vùng nhất định Có tôn giáo bản địa do quá giản đơn về giáo lý và nghi lễ, phạm vi mức độ ảnh hưởng quá hạn hẹp nên chỉ xuất hiện một thời gian ngắn đã lụi tàn (như đạo Dừa, đạo Núi, đạo Ngồi )
Trang 28Các “dòng” tôn giáo thế giới đã đến Việt Nam, hòa quyện vào các dòng văn hóa khác và với văn hóa gốc của dân tộc Việt Nam tạo nên một nền văn hóa thống nhất nhưng đa dạng và phong phú Tôn giáo bên ngoài du nhập vào Việt Nam là do tự nhiên như Phật giáo, Công giáo Quá trình giao lưu, gặp gỡ của các dòng văn hóa thường gây ra những phản ứng “hóa hợp”, nghĩa là giữa chúng có sự thâm nhập vào nhau, bổ sung cho nhau, cải biến lẫn nhau khiến cho nó vẫn là nó nhưng lại không hoàn toàn là nó Quy luật chung này của văn hóa đã được thể hiện rõ rệt ở quá trình hình thành và phát triển của tôn giáo Các tôn giáo thế giới khi vào Việt Nam, cùng đi chung một con đường lịch sử với dân tộc Việt Nam, vì thế nó đồng thời cũng đã ảnh hưởng đến văn hóa Việt Nam và bị khúc xạ bởi văn hóa Việt Nam
Bởi vậy, trong tín ngưỡng dân gian truyền thống của người Việt có những nét, những thành tố của tôn giáo du nhập Do đặc điểm tâm lý, tính cách nên người Việt tiếp nhận tôn giáo một cách dễ dàng Đó là sự thực lịch
sử và là điều dễ nhận thấy đối với bất cứ người Việt Nam nào Cho nên, tính dân tộc và tính quốc tế bao giờ cũng là hai mặt thống nhất của một nền văn hóa cũng như trong từng sản phẩm của nó Và tôn giáo đã trở thành một bộ phận hữu cơ của nền văn hóa Việt Nam nó đã ảnh hưởng không nhỏ đến các lĩnh vực tư tưởng, triết học, đạo đức, nghệ thuật Nhiều di tích lịch sử được xếp hạng là những công trình kiến trúc, điêu khắc của tôn giáo (hoặc liên quan đến tôn giáo)
Ba là, về cơ bản Việt Nam có sự “chung sống hòa bình” giữa các tôn giáo
Hàng nghìn năm qua, Việt Nam có nhiều tôn giáo từ nước ngoài du nhập vào (Phật giáo từ Ấn Độ, Nho giáo, Lão giáo từ Trung Quốc, Ki tô giáo, Tin Lành, Hồi giáo từ phương Tây ) Bên cạnh đó, có những tôn giáo nảy sinh từ một bộ phận nhân dân trong cộng đồng người Việt Nam (như đạo Cao Đài, đạo Hòa Hảo ) Với nhiều tôn giáo trong một quốc gia như vậy nhưng Việt Nam không có chiến tranh tôn giáo Tuy ở một số thời điểm lịch sử, giữa các tôn giáo cũng có sự “bất hòa”, nhưng chủ yếu là do bàn tay của các thế lực phản động âm mưu chia rẽ tôn giáo để thực hiện ý đồ chính trị, nhưng nó chỉ
Trang 29diễn ra trong phạm vi hẹp, không dẫn tới xung đột lớn Nhìn toàn cục thì tôn giáo Việt Nam có sự hòa hợp, cùng tồn tại, cùng phát triển Qua nhiều thế kỷ, Việt Nam đã có “Tam giáo đồng nguyên” (Nho – Phật – Lão) Khi có thêm Công giáo, Tin lành, Hồi giáo thì các tôn giáo Việt Nam có sự chung sống hòa bình Các tín đồ dù thuộc những tôn giáo khác nhau nhưng đều chung một mục đích “tốt đời, đẹp đạo”; cùng phấn đấu cho một đất nước Việt Nam phồn vinh và hạnh phúc Tín ngưỡng truyền thống (mà nổi bật nhất, sâu sắc nhất là phong tục thờ cúng tổ tiên) đã dung hợp với các tôn giáo ngoại nhập và làm đậm nét hơn cốt cách, tâm hồn, tình cảm của con người Việt Nam Có được như vậy, điều chủ yếu là do lòng nhân ái, bao dung của dân tộc Việt Nam Người Việt Nam khi tiếp xúc với tư tưởng từ bi, bác ái của nhà Phật cũng như những điều răn làm việc thiện của Chúa trời, những nội dung nhân đạo của tôn giáo dễ đồng cảm và chấp nhận
Bốn là, cùng với sự xuất hiện và phát triển của các tôn giáo, những hiện
tượng mê tín, những tập tục có tính chất tôn giáo tồn tại khá rộng rãi, mang nhiều sắc thái địa phương khác nhau Có những kẻ núp dưới chiêu bài thần thánh để lừa bịp, đánh vào lòng nhẹ dạ cả tin của một số người, gây nên một số những tác hại không nhỏ Điều đó chứng tỏ trong đời sống của nhiều tầng lớp nhân dân hiện có sự pha trộn khá phức tạp giữa tín ngưỡng truyền thống với ý thức tôn giáo và tình cảm, phong tục tập quán đã ăn sâu, bám rễ từ lâu đời
Trên đây là những điểm chung về tôn giáo ở Việt Nam, là điều cần thiết
để đánh giá ảnh hưởng của tôn giáo với xã hội nói chung và đời sống văn hóa tinh thần của người Việt hiện nay nói riêng
1.2 Đời sống văn hóa tinh thần của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ trước khi có tôn giáo ngoại nhập
1.2.1 Một số khái niệm chung
Văn hóa là sản phẩm sáng tạo của con người trong hoạt động thực tiễn của lịch sử xã hội Văn hóa là một khái niệm phức tạp và có rất nhiều cách hiểu khác nhau, tùy theo hướng tiếp cận nghiên cứu của mỗi ngành khoa học,
mà khái niệm văn hóa được sử dụng có những nội dung khác nhau Tuy nhiên,
Trang 30nhìn chung cho tiếp cận nghiên cứu văn hóa từ bất cứ hướng nào đi chăng nữa, từ góc độ sử học, triết học, xã hội học hay thậm chí là tôn giáo học, thì các học giả đều có chung một quan điểm về sự tồn tại của văn hóa là văn hóa vật thể và văn hóa phi vật thể
Văn hóa được hiểu là “toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do
con người sáng tạo ra trong thực tiễn xã hội – lịch sử và tiêu biểu cho trình độ đạt được trong lịch sử phát triển xã hội Theo nghĩa hẹp hơn, người ta vẫn quen nói về văn hóa vật chất (kỹ thuật, kinh nghiệm sản xuất, giá trị vật chất)
và văn hóa tinh thần (khoa học, nghệ thuật, văn học, triết học, đạo đức, giáo dục ) Văn hóa là một hiện tượng lịch sử, phát triển phụ thuộc vào sự thay thế các hình thái kinh tế - xã hội”[81;656]
Hay: “Văn hóa là hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần được sáng tạo, tích lũy trong lịch sử nhờ quá trình hoạt động thực tiễn của con người Các giá trị này được cộng đồng chấp nhận, vận hành trong đời sống xã hội và liên tiếp truyền lại cho thế hệ sau Văn hóa thể hiện trình độ phát triển và những đặc tính riêng của mỗi dân tộc”[39;26]
Qua quá trình tìm hiểu về văn hoá, có thể định vị một số dạng tiêu biểu của các khái niệm về văn hoá và quy các dạng khái niệm về văn hoá như sau:
Văn hoá theo nghĩa rộng nhất là khái niệm văn hoá bao gồm tất cả những sản phẩm vật thể và phi vật thể do con người sáng tạo ra và mang tính giá trị Theo khái niệm này, có thể thấy văn hoá bao gồm tất cả những gì con người làm ra và sử dụng nó Có lẽ đây là những khái niệm theo nghĩa rộng nhất về văn hoá
Một số khái niệm dù không theo nghĩa rộng như trên nhưng vẫn theo nghĩa rộng kiểu như: Văn hoá là nền tảng tinh thần xã hội, văn hoá là tất cả đời sống tinh thần của con người v.v…
“Văn hóa, hiểu theo nghĩa rộng nhất của nó, là toàn bộ phức thể bao gồm hiểu biết, tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, phong tục và những
Trang 31khả năng và tập quán khác mà con người đạt được với tư cách là thành viên của xã hội” [82;52]
Đây là một khái niệm văn hoá theo nghĩa rộng, mang tính triết học, có phần nghiêng về hoạt động sáng tạo trong lịch sử xã hội loài người, thiên về tính giá trị, được hình thành trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lê nin Trong cuốn
“Cơ sở văn hoá Việt Nam”, Trần Ngọc Thêm đưa ra khái niệm: “Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội ”[71;10]
Có thể thấy hai khái niệm nêu trên có sự tương đồng Theo đó, văn hoá được hình thành từ khi con người biết sáng tạo (có nghĩa là văn hoá hình thành cùng với sự hình thành loài người) Văn hoá là tất thảy những sản phẩm vật chất (văn hoá vật thể) và tinh thần (văn hoá phi vật thể) do con người sáng tạo ra trong quá khứ, hiện tại, cả hai khái niệm nêu trên đều gắn với chữ “giá trị” Có nghĩa rằng, không phải tất cả những sản phẩm con người sáng tạo ra đều là văn hoá mà chỉ những sản phẩm có chứa đựng giá trị (là cái có ích cho con người) Cũng có nghĩa, những sản phẩm do con người làm ra (sáng tạo ra) nhưng không mang tính giá trị thì không phải là văn hoá (ví dụ: bom hạt nhân, heroin, chất độc hoá học, vũ khí giết người v.v…) Những danh lam thắng cảnh như vịnh Hạ Long, động Phong Nha - Kẻ Bảng v.v… tuy không phải do con người làm ra nhưng con người tìm ra và thưởng thức vẻ đẹp của nó (thưởng thức là một sáng tạo) cũng là văn hoá
Năm 1940, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: "Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công
cụ cho sinh hoạt hằng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng Toàn
bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản
Trang 32sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn"[55;431]
Ở khái niệm trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên một số những sản phẩm do con người sáng tạo ra, trong đó có văn hoá vật thể (những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở…), có văn hoá phi vật thể (ngôn ngữ, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật) Chữ “giá trị” được ẩn dưới câu “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống… nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn” Những sản phẩm do con người phát minh ra mà Chủ tịch Hồ Chí Minh liệt kê nêu trên phải là những sản phẩm nhằm phục vụ cho con người, có nghĩa là chứa đựng những giá trị Như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra một khái niệm văn hoá theo nghĩa rộng
Năm 1988, tại lễ phát động Thập kỷ thế giới phát triển văn hóa, Tổng giám đốc UNESSCO Federico Mayor, đưa ra định nghĩa:"Văn hóa phản ánh
và thể hiện một cách tổng quát sống động mọi mặt của cuộc sống (của mỗi cá nhân và cả cộng đồng) đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại, qua hàng bao thế kỷ, nó đã cấu thành nên một hệ thống các giá trị, truyền thống, thẩm mỹ và lối sống và dựa trên đó từng dân tộc khẳng định bản sắc riêng của mình"[58;15]
Đây là khái niệm được đưa ra trong bối cảnh thế giới còn có sự phân biệt văn hoá dân tộc lớn, dân tộc nhỏ, văn hoá dân tộc này cao, dân tộc kia thấp, văn hoá dân tộc này văn minh, văn hoá dân tộc kia lạc hậu Khái niệm nêu trên có ý nghĩa chính trị rất lớn về việc khẳng định mỗi dân tộc có bản sắc riêng Quan điểm này càng được khẳng định tại Hội nghị quốc tế về văn hóa ở Mêhicô để bắt đầu thập kỷ văn hoá UNESCO Hội nghị này có hơn một nghìn đại biểu đại diện cho hơn một trăm quốc gia tham gia từ ngày 26/7 đến 6/8 năm 1982, người ta đã đưa ra trên 200 định nghĩa Cuối cùng Hội nghị chấp nhận một định nghĩa như sau:
"Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần
và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của
Trang 33một nhóm người trong xã hội Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng: Văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân Chính văn hóa làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lí tính, có óc phê phán và dấn thân một cách có đạo lí Chính nhờ văn hóa mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân,
tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những công trình vượt trội lên bản thân"[87;24]
Khái niệm trên vừa nói đến văn hoá vật chất và văn hoá tinh thần, vừa nói đến hệ giá trị và đặc biệt là nêu lên “những nét riêng biệt về văn hoá của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội” Như vậy, khái niệm trên cũng
là khái niệm văn hoá theo nghĩa rộng, kèm theo đó là quan điểm công nhận mỗi dân tộc dù lớn hay nhỏ đều có bản sắc văn hoá riêng biệt
Văn hoá theo nghĩa hẹp gồm những khái niệm gắn từ “văn hoá” với một chuyên ngành nào đó Ví dụ: văn hoá dân gian, văn hoá bác học, văn hoá tôn giáo, văn hoá (ứng xử, giao tiếp), văn hoá xã hội, văn hoá chính trị, văn hoá nghệ thuật, văn hoá giáo dục (học vấn), văn hoá kinh doanh, dân tộc học văn hoá, nhân học văn hoá, địa văn hoá, sử văn hoá, triết học văn hoá, xã hội học văn hoá hay "văn hoá nghệ thuật”, “văn học nghệ thuật” là khái niệm văn hoá gắn với việc sáng tạo, hưởng thụ và phê bình các chuyên ngành văn hoá nghệ thuật như âm nhạc, mỹ thuật, sân khấu, điện ảnh v.v…; Khái niệm “văn hoá tư tưởng” là khái niệm gắn với thể chế chính trị và công tác lý luận; Khái niệm “văn hoá giao tiếp” nói đến mối quan hệ ứng xử giữa người với người; Khái niệm “sử văn hoá” nói đến quá trình hình thành và phát triển của một nền văn hoá theo trục thời gian và trong không gian; Khái niệm “địa văn hoá” nói đến điều kiện địa lý khí hậu trong một không gian nhất định ảnh hưởng đến một nền văn hoá nào đó v.v…
Văn hóa xuất hiện đáp ứng những nhu cầu của con người trong quá trình sinh hoạt, lao động Là một thực thể xã hội, trong đời sống của mình,
Trang 34con người bị chi phối và ràng buộc bởi nhiều mối quan hệ khác nhau, đồng thời, con người cũng có vô vàn những nhu cầu không giống nhau Nhu cầu của con người rất đa dạng, phong phú, trong đó có thể chia làm hai loại đó là: nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần Trong đời sống của mỗi con người, nhu cầu vật chất của con người là cốt yếu, song cùng với sự phát triển của xã hội thì nhu cầu tinh thần của con người cũng ngày càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết Chưa có bao giờ đời sống tinh thần xã hội của con người lại được
đề cao như trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay
Đời sống tinh thần của xã hội là một trong hai hoạt động sống cơ bản của con người, trong đó, nếu đời sống vật chất chứa đựng trong nó các nhân
tố tinh thần thì đời sống tinh thần lại tồn tại thông qua đời sống vật chất Đó chính là quan hệ qua lại giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần
Đời sống tinh thần xã hội có mối quan hệ mật thiết với ý thức xã hội Trong đời sống tinh thần cũng có ý thức xã hội, song ý thức ở đây không chỉ
là sự phản ánh hiện thực mà nó còn là nguồn kích thích hành động, hình thành nên niềm tin và thái độ đúng đắn với hiện thực Khái niệm đời sống tinh thần
xã hội bao trùm toàn bộ hiện thực tinh thần của xã hội, gồm cả ý thức cá nhân,
ý thức của các tập đoàn người mà ý thức xã hội không thể biểu đạt hết được
Ý thức xã hội là phạm trù nhận thức luận, phản ánh tồn tại xã hội Ý thức xã hội chỉ là kết quả, sản phẩm của hoạt động thực tiễn của con người Nhưng đời sống tinh thần bao hàm toàn bộ quá trình sản xuất, phân phối, tiêu dùng các giá trị tinh thần Đời sống tinh thần của xã hội là tổng hòa tất cả các hiện tượng tinh thần đang trong quá trình hình thành, trong đó có những hiện tượng đã trở thành phổ biến, có hiện tượng mới phôi thai, đồng thời có cả những hiện tượng cũ tồn tại với tư cách là tàn dư của xã hội
Như vậy, “đời sống tinh thần không thể là sự đồng nhất với ý thức xã hội bởi vì lĩnh vực tác động của đời sống tinh thần rộng và đa dạng hơn nhiều”[29;11]
Trang 35Cũng như các hiện tượng vật chất, các hiện tượng tinh thần – tư tưởng, khoa học, nghệ thuật, có mức độ hoàn thiện nhất định, có trình độ phát triển nhất định Chỉ những hiện tượng tinh thần tiến bộ mới biểu hiện ra là văn hóa tinh thần Như vậy, văn hóa tinh thần là chất lượng của hoạt động tinh thần Từng lĩnh vực của đời sống tinh thần đều có trình độ phát triển nhất định, tức
là có nấc thang văn hóa nhất định Do đó, giữa đời sống tinh thần và văn hóa tinh thần cũng có sự phân biệt khá rõ ràng
Văn hóa tinh thần của xã hội là sự dung nạp, thâu tóm, phán ánh sự phát triển của tất cả các lĩnh vực tinh thần, là sự thể hiện đặc trưng chất lượng của đời sống tinh thần của xã hội nói chung Sự hoàn thiện, mức phong phú, bước chuyển từ trình độ này sang trình độ khác, từ trạng thái này sang trạng thái khác của đời sống tinh thần được thể hiện trong văn hóa tinh thần
Cho nên, khi nói khái niệm đời sống tinh thần, là đề cập tới tất cả các
bộ phận, các lĩnh vực hoạt động tinh thần, còn khái niệm văn hóa tinh thần là nói về chất lượng của đời sống tinh thần, của các hoạt động tinh thần với tính cách là một hệ thống đang trong quá trình biến đổi, phát triển và hoàn thiện
Là một hệ thống, đời sống văn hóa tinh thần của xã hội bao gồm nhiều lĩnh vực như đời sống tư tưởng, hoạt động khoa học, hoạt động nghệ thuật, hoạt động giáo dục và đào tạo, các sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo, trong đó đời sống tư tưởng là quan trọng nhất Ngoài ra, các yếu tố tôn giáo nói chung (trong đó có yếu tố văn hóa Phật giáo, văn hóa Công giáo nói riêng), cũng có mối quan hệ rất mật thiết với đời sống văn hóa tinh thần, nó góp phần làm phong phú thêm cho đời sống văn hóa tinh thần của xã hội
Vì thế, theo chúng tôi khái niệm đời sống văn hóa tinh thần là: “tổng hòa sống động các hoạt động sản xuất, trao đổi, tiêu dùng các giá trị tinh thần, làm cho các giá trị tinh thần đó thấm sâu vào từng con người, từng cộng đồng, trở thành yếu tố khăng khít của toàn bộ cuộc sống, hoạt động và quan hệ con người, đáp ứng nhu cầu giá trị tinh thần ngày càng tăng của mọi thành viên trong xã hội”
Trang 36Như vậy, nếu xét theo ý nghĩa trên chúng ta thấy, tôn giáo vừa là đời sống tâm linh, vừa là nhu cầu tinh thần của con người trong cuộc sống Ngày nay, trong đời sống xã hội sức mạnh tinh thần của tôn giáo có phần tăng hơn Bởi trước những cơ hội và thách thức mới, quá trình toàn cầu hóa, quốc tế hóa, trước những luồng văn hóa ngoại lai đang thâm nhập và làm mai một đi các giá trị văn hóa tinh thần truyền thống Để biết được sự ảnh hưởng của tôn giáo tới đời sống văn hóa tinh thần nước ta hiện nay theo chiều hướng tích cực hay tiêu cực, trước hết chúng ta phải hiểu đời sống văn hóa tinh thần người Việt trước khi có tôn giáo ngoại nhập vào Việt Nam một cách sâu sắc, toàn diện, thì ta mới có một cách nhìn tổng thể khách quan được
1.2.2 Đôi nét về đời sống văn hóa tinh thần của người Việt
Việt Nam là một dân tộc phương Đông, mang điểm đặc trưng của nền văn hóa nông nghiệp điển hình Với đời sống văn hóa vật chất, đặc biệt là văn hóa tinh thần của người Việt rất đa dạng và phong phú, nó thể hiện rõ bản sắc đặc thù của cư dân vùng Đông Nam Á nói chung và tính dân tộc của người Việt nói riêng
Do điều kiện sinh sống, sản xuất nên người Việt phải định cư để gieo trồng, chờ cây cối lớn, ra hoa kết trái và thu hoạch Do sống bằng nghề trồng trọt như vậy nên con người phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, họ luôn ước ao sống hòa thuận cùng tự nhiên, có lúc họ còn thần thánh hóa cả tự nhiên Vì vậy, trong tư tưởng của người Việt mọi thứ đều biến đổi: núi sông, cây cỏ cũng như con người đều có linh hồn; thế giới thực tại của loài người được ghi thành huyền thoại, người chết trở thành tổ tiên ở thế giới bên kia; sự giao hợp đực - cái được biểu trưng cho sự sinh sôi nảy nở, cho sự hòa hợp kỳ diệu của trời đất, từ đó đẻ ra lễ nghi phồn thực thờ sinh thực khí đàn ông, đàn bà (Linga – Yoni)
Trước khi có tôn giáo ngoại nhập, người Việt vốn là cư dân nông nghiệp lúa nước gắn với cỏ cây, sông nước, núi rừng và biển cả thuộc khu vực
Trang 37nhiệt đới gió mùa ẩm nên trong tư duy luôn thiên về tổng hợp hơn là phân tích, tư duy lưỡng hợp từ đó nảy sinh ra triết lý âm dương
Triết lý âm dương được coi là một phương pháp khái quát trong hoạt động tư duy của cư dân nông nghiệp Việt Nam thời tiền sử Cái chi phối nhận thức của họ là sự đổi đắp lặp đi lặp lại giữa ngày và đêm, mặt trăng và mặt trời, giữa nắng và mưa Sinh hoạt của con người ở đây cũng gắn với mặt trời
và mặt đất Và từ đó những cặp lưỡng hợp được xâu chuỗi và khái quát hóa thành phương pháp tư duy tổng hợp âm dương (ngày – đêm, trời – đất, nóng – lạnh, nắng – mưa, cây – con, đực – cái, nam – nữ, trắng – đen ) Âm và dương là hai mặt trong một tổng thể thống nhất “biện chứng”, vừa dựa vào nhau, vừa khu biệt lẫn nhau và chuyển dịch đối xứng, biến đổi liên tục Người Việt cổ đã dùng phương pháp triết lý âm dương để phân cắt thế giới theo cảm thức của họ và cũng bắt đầu trải nghiệm từ chính bản thân họ mà suy luận ra
Tư duy biện chứng thô sơ này ngày càng phát triển cùng với nền văn minh nông nghiệp lúa nước chi phối mọi hoạt động sáng tạo văn hóa tinh thần của người Việt cổ, hình thành nên các biểu tượng trong lễ hội, các phong tục tập quán, và các sản phẩm văn hóa nghệ thuật
Như vậy, đời sống văn hóa tinh thần của người Việt trước khi tôn giáo ngoại nhập được truyền vào là cả một hệ giá trị văn hóa dù mới trong giai đoạn sơ khai và đang trong quá trình hình thành, hoàn thiện dần được thể hiện
ra khá đa dạng và phức tạp
Đời sống văn hóa tư tưởng, tín ngưỡng của người Việt là tổng hợp những tập tục, tín ngưỡng dân dã đáp ứng nhu cầu của đời sống tinh thần, người Việt đã sáng tạo ra nhiều loại hình tín ngưỡng, phong tục mang đặc trưng cho lối tư duy nông nghiệp Ví như một số loại hình tín ngưỡng nguyên thủy; các tập tục thờ trời và lửa; tục thờ thần núi, thờ đá; tục thờ thần sông biển, thần nước; tục thờ thần cây, thần lúa và đặc biệt là các nghĩ lễ (lễ phồn thực), tục thờ sinh thực khí; Thờ cúng tổ tiên
Trang 38Trong đời sống văn hóa tinh thần của người Việt, với phương pháp tư duy âm dương, họ đã phân chia con người thành thể xác và linh hồn, (giữa linh hồn và thể xác con người còn có vía và phách), thực và ảo, vật chất và tinh thần trong đó cái mà họ quan tâm chính là đời sống tinh thần
Theo quan niệm phổ biến của người Việt thì từ cõi sống sang cõi chết, hồn sang thế giới ma và sau đó lại được đầu thai vào thai nhi, do bà mụ nặn ra trong bụng mẹ Giữa người sống và người chết có mối quan hệ khăng khít, mặc dù người sống không thấy được thế giới bên kia Vì vậy, con người thiết lập mối dây liên hệ đặc biệt với thế giới tâm linh Người chết liên lạc với người sống qua báo mộng, linh tính, những hoạt động thần giao cách cảm Còn người sống giao tiếp với người chết thông qua những nhân vật môi giới
Đó là những “ông đồng bà cốt”, những người tì thiếp, cầu cơ
Để xâu chuỗi giữa cái thực và cái ảo, người Việt về đại thể, phân cắt không gian, thời gian làm ba tầng: Trời – Đất – Con người (Thiên – Địa – Nhân) Theo trụ dọc Trời được hiểu là thế giới của thần linh, ở giữa là thế giới trần gian của con người và dưới đất, dưới nước là thế giới của sinh linh chưa thành người
Từ quan niệm về không gian và thời gian như vậy, người Việt lại sáng tạo ra các tập tục làm phong phú thêm cho đời sống văn hóa tinh thần của mình
Tục thờ mặt trời và lửa trở nên phổ biến Vì đối với người Việt, mặt trời tượng trưng cho sinh khí của vũ trụ tạo nên sự sống cho muôn loài, lửa được xem là ánh sáng và sức nóng của mặt trời Ví như tục thờ mặt trời được ghi trên trống đồng Đông Sơn Trên mặt trống, giữa trung tâm là hình mặt trời với
14 tia và cuộc sống trên trái đất xoay quanh mặt trời theo chiều ngược kim đồng hồ Để cầu mong sự sống sinh sôi nảy nở (lễ nghi nông nghiệp) người Việt có nhiều lễ hội liên quan đến mặt trời và lửa: thả cầu lửa lên không trung, giăng đèn lồng kết hoa, đèn kéo quân, rước đèn, hội hoa đăng thả trên mặt nước, đốt pháo thăng thiên, hội pháo, trò chơi cướp cầu, thả diều gọi nắng
Trang 39Khi các tôn giáo ngoại nhập vào Việt Nam, những lễ nghi này đã nhanh chóng được hội nhập và trở thành một trong những lễ nghi quan trong của một số tôn giáo Ví như Phật giáo trong một số buổi lễ có thả đèn hoa đăng, rước đèn, giăng đèn lồng kết hoa
Cuộc sống nông nghiệp không chỉ gắn với sự sùng bái mặt trời mà núi,
đá cũng là những “linh vật” được sùng bái Theo người Việt, núi là nơi con người sinh ra Núi nối với trời cao và biểu thị sự linh thiêng, nơi có nhiều kỳ quan, nhất là các hang động với những hình thù kỳ lạ của thạch nhũ thường là nơi trú ngụ của thần linh, có đường lên trời, đường hầm xuống sâu lòng đất Núi cũng là biểu tượng cho sự vững chắc, trường tồn Người ta thờ thần núi khắp nơi, để hội nhập với tư tưởng này của người Việt, hầu như các công trình thờ phụng của các tôn giáo ngoại nhập sau này đều được đặt ở trên núi Nổi bật nhất là hiện tượng thờ cột đá, điều này có thể ví dụ về sự ảnh hưởng của tín ngưỡng này được thể hiện trong Phật giáo thời Ngô - Đinh – Tiền Lê với việc dựng nhiều cột kinh bằng đá ở Hoa Lư để thờ
Mặt khác, đời sống sinh hoạt, sản xuất của người Việt còn gắn bó chặt chẽ với sông nước, biển cả Nền văn hóa sông nước in đậm dấu ấn trong đời sống tinh thần người Việt Người Việt cho rằng, sông biển luôn hùng vĩ đối với con người và có quyền năng vô hạn Khi hiền hòa thì cho con người mọi thứ, nhất là nước để sinh sống, nhưng khi giận dữ thì thật kinh hãi: lũ lụt, bão
tố, sóng thần nhấn chìm tất cả Chính vì vậy người ta thờ thần sông, thần biển, thần nước để cầu mong mưa thuận gió hòa Ví như hiện tượng thờ Tứ pháp: Pháp vân, pháp vũ, pháp lôi, pháp điện
Bên cạnh đó, người Việt còn thờ thần cây và thần lúa Có hai loại cây
mà họ thờ là: cây tự nhiên và cây trồng lấy lương thực Những cây tự nhiên thường là cây cổ thụ tượng trưng cho sự trường tồn Đó là cây si, cây đa, cây đề Những cây này được trồng ở nơi thờ tự của cộng đồng Người Việt cũng thường để bát hương, bình vôi ở những gốc cây này Người Việt còn sáng tạo
ra cây Nêu ngày tết để thờ tượng trưng cho cây vũ trụ
Trang 40Tục thờ thần lúa ở người Việt cũng rất phổ biến và nổi trội hơn cả Nó
là biểu tượng chính của các ngày lễ hội Hồn lúa được người Việt thờ cúng cẩn trọng vì họ rất sợ hồn lúa bỏ đi làm cho mùa màng thất bát, người ta gọi là
mẹ lúa và đảm nhận phần lễ này do các phụ nữ Có thể vì hai lý do: một là, người mẹ là người có thiên chức sinh nở; hai là, người phụ nữ Việt đóng vai trò quan trọng trong nông nghiệp và chế độ mẫu hệ
Tất cả những hiện tượng tự nhiên được suy tôn là thần thánh rất đa dạng và được thờ cúng làm phong phú đời sống văn hóa tinh thần của người Việt trước khi có tôn giáo ngoại nhập Trên đây là những tập tục, tín ngưỡng tiêu biểu và phổ biến nhất thể hiện truyền thống văn hóa tinh thần đặc trưng của cư dân nông nghiệp lúa nước
Không chỉ tôn thờ những hiện tượng tự nhiên, trong đời sống văn hóa tinh thần của người Việt trước khi tôn giáo ngoại nhập vào, người Việt còn có tục thờ nhân thần (tiêu biểu là thờ cúng tổ tiên)
Thờ cúng tổ tiên trong gia đình, sau được mở rộng thành tục thờ cúng những người có công với cộng đồng, những ông tổ nghề, tổ làng, thậm chí của
cả nước Tổ tiên là những người đã khuất Việc thờ cúng bắt nguồn từ một quan niệm: một là chết không phải là hết, người thân chết vẫn có mối quan hệ gần gũi, mật thiết với người sống trong gia đình, phải thờ cúng để được tổ tiên phù hộ, độ trì và không quấy phá; hai là “uống nước nhớ nguồn”, thờ cúng những người đã khuất để tỏ lòng tưởng nhớ đến công ơn sinh thành Thờ cúng
tổ tiên được tiến hành ở ba cấp độ: thờ cúng tổ tiên trong gia đình, thờ tổ nghề
và thần làng, thờ tổ cả nước
Cùng với những tập tục, tín ngưỡng thì một phần không thể thiếu trong đời sống văn hóa tinh thần người Việt trước khi tôn giáo ngoại nhập vào Việt Nam đó là các nghi lễ và lễ hội
Lễ hội là hình thức biểu hiện sức sáng tạo và trí tưởng tượng làm giàu thêm bản sắc và bề dày văn hóa tinh thần của người dân Việt Cuộc sống hàng