Với những lý do đã trình bày trên, người nghiên cứu chọn đề tài: “Đạo đức Phật giáo và ảnh hưởng của nó đối với một số lĩnh vực đời sống xã hội Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn Th
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU i
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài 6
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 7
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 7
6 Những đóng góp mới của đề tài nghiên cứu 7
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài 7
8 Kết cấu của luận văn 8
Chương 1: ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO VÀ TÌNH HÌNH PHẬT GIÁO Ở VIỆT NAM 9
1.1 Đạo đức Phật giáo trong hệ tư tưởng Phật giáo 9
1.1.1.Vị trí của đạo đức Phật giáo 13
1.1.2 Những cơ sở hình thành đạo đức Phật giáo 15
1.2 Những nội dung cơ bản của đạo đức Phật giáo 18
1.2.1 Các phạm trù cơ bản của đạo đức Phật giáo 18
1.2.2 Một số đặc điểm cơ bản của đạo đức Phật giáo 37
1.3 Khái quát tình hình xã hội và Phật giáo ở Việt Nam 40
1.3.1 Sơ lược về xã hội Việt Nam trước khi Phật giáo du nhập 40
1.3.2 Vài nét về tình hình Phật giáo ở Việt Nam hiện nay 44
Chương 2: ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO ĐỐI VỚI MỘT SỐ LĨNH VỰC ĐỜI SỐNG XÃ HỘI VIỆT NAM HIỆN NAY VÀ GIẢI PHÁP PHÁT HUY ẢNH HƯỞNG TÍCH CỰC, KHẮC PHỤC NHỮNG HẠN CHẾ CỦA ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO 48
Trang 22.1 Ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo đối với một số lĩnh vực đời sống xã hội Việt Nam hiện nay 48
2.1.1 Đạo đức Phật giáo với đạo đức truyền thống của người Việt 48 2.1.2 Đạo đức Phật giáo với kinh tế 58 2.1.3 Đạo đức Phật giáo với văn hóa 62 2.1.4 Đạo đức Phật giáo với xã hội Việt Nam hiện nay 68 2.1.5 Đạo đức Phật giáo với việc xây dựng đạo đức, lối sống của con người Việt Nam hiện Nay 71 2.1.6 Những hạn chế của đạo đức Phật giáo 77
2.2 Một số quan điểm và giải pháp phát huy ảnh hưởng tích cực, khắc phục những hạn chế của đạo đức Phật giáo 81
2.2.1 Một số quan điểm của Đảng cộng sản Việt Nam về tôn giáo 81 2.2.2 Một số giải pháp phát huy ảnh hưởng tích cực, khắc phục những hạn chế của đạo đức Phật giáo đối với đời sống xã hội Việt Nam hiện nay 84
KẾT LUẬN 92 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 96
Trang 3DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
XHCN: Xã hội chủ nghĩa
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Phật giáo ra đời ở Ấn Độ vào khoảng thế kỷ thứ VI trước Công Nguyên Người sáng lập là thái tử Tất Đạt Đa con vua Tịnh Phạn (một vương quốc Bắc Ấn Độ) Với giáo lý mầu nhiệm, Phật giáo đã sớm được truyền bá rộng rãi và có ảnh hưởng sâu rộng tới các nước Châu Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Lào, Myanmar, Campuchia, Srilanka, Triều Tiên, Việt Nam Cho tới ngày nay, Phật giáo vẫn tiếp tục được truyền bá và ảnh hưởng nhiều nước trên thế giới
Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ thế kỷ đầu của Công nguyên theo hai con đường thuỷ và bộ (Ấn Độ và Trung Quốc) Phật giáo đã tồn tại ở nước ta đến nay khoảng 20 thế kỷ Suốt chiều dài lịch sử, những triết lý nhân sinh, những giá trị nhân văn của Phật giáo đã và đang đi vào lòng người Việt Nam sống hướng thiện, nhân văn hơn, như phương châm của Đạo Phật “Từ bi hỉ xả, lợi lạc quần sinh”
Ngày nay, Phật giáo nói chung, hệ thống đạo đức cùng các chuẩn mực đạo đức Phật giáo nói riêng vẫn phát huy được mặt tích cực và có thể hòa nhập với nền đạo đức, văn hóa hiện đại của dân tộc Việt Nam Sinh hoạt Phật giáo đã trở thành hình thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng, mang tính tâm linh và có ý nghĩa nhân văn cao đẹp Nhìn chung, các sinh hoạt Phật giáo đều gắn với các di tích lịch sử văn hóa Ý nghĩa phần lễ trong các lễ hội Phật giáo không chỉ thuần túy mang yếu tố tín ngưỡng mà còn là hình thức sinh hoạt văn hóa tinh thần mang đậm nét đạo lý truyền thống Đến lễ hội sinh hoạt Phật giáo có đông đảo quần chúng nhân dân, không phân biệt lứa tuổi với tâm nguyện tốt lành và hướng thiện Các lễ hội sinh hoạt Phật
Trang 5khát vọng không thể thiếu trong đời sống tinh thần của một bộ phận nhân dân Việc nhận định về tôn giáo và vai trò của tôn giáo đã được Đảng và Nhà nước ta khẳng định: “Tôn giáo là một hiện tượng xã hội còn tồn tại lâu dài Tín ngưỡng tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân Đạo đức tôn giáo có nhiều điểm phù hợp với công cuộc xây dựng xã hội mới” [2, tr.78]
Tuy nhiên, điều đáng nói là hiện nay tình trạng mê tín dị đoan và nhiều biến tướng tiêu cực nảy sinh qua các sinh hoạt Phật giáo đang có
chiều hướng phức tạp hơn
Việt Nam đang xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó không thể không nhắc đến việc xây dựng đạo đức con người mới hiện đại - văn minh - văn hoá Nằm trong chiến lược phát huy, phát triển nguồn nhân lực, đào tạo nhân tài cho đất nước trong sự nghiệp đổi mới, đồng thời ngăn chặn những hiện tượng thoái hoá, biến chất, xa đoạ về đạo đức và lối sống của một bộ phận nhân dân
Từ thực tế trên, làm thế nào để phát huy những giá trị của đạo đức phật giáo góp phần xây dựng một đời sống văn hóa tinh thần hài hòa đáp ứng được với yêu cầu của sự nghiệp xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa hiện nay; đồng thời đấu tranh chống những hiện tượng thoái hóa biến chất về đạo đức, lối sống của một bộ phận nhân dân ?
Với những lý do đã trình bày trên, người nghiên cứu chọn đề tài: “Đạo
đức Phật giáo và ảnh hưởng của nó đối với một số lĩnh vực đời sống xã hội Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn Thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu của đề tài
Ngoài số lượng kinh, luật, luận của Phật giáo được tích lũy hơn 2500 năm , theo chúng tôi còn có cả những công trình nghiên cứu liên quan đến
đề tài vào những năm của thế kỷ XX và hiện nay Những năm gần đây đã
Trang 6có một số tác giả nghiên cứu các công trình khoa học và những bài báo có liên quan đến đề tài như:
“Đạo đức học Phật giáo”- Hoà thượng, Tiến sĩ Thích Minh Châu
(1995) - Nxb Viện nghiên cứu Phật học Việt Nam Đây là cuốn sách được tác giả nêu lên những cơ sở và nhiều phạm trù đạo đức Phật giáo trong đó
phân tích và cắt nghĩa nội dung của giới, hạnh, nguyện, thiện, ác “Có một
nền đạo lý Việt Nam” - Giáo sư Nguyễn Phan Quang (1996) - Nxb thành
phố Hồ Chí Minh Cuốn sách này tác giả đã cho người đọc thấy sự hoà
nhập của đạo đức Phật giáo trong đạo lý dân gian Việt Nam “Đạo đức và
dòng sử Việt”, Đức Nhuận (1996) - Nxb Viện Triết lý và Triết học thế giới
California - USA “Chính sách đối với tôn giáo và Nhà nước quản lý tôn
giáo hiện nay - Những bài học kinh nghiệm”- Phó Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn
Đức Lữ - Chủ nhiệm đề tài năm 2002 “Tư tưởng Hồ Chí Minh về tôn giáo
và công tác tôn giáo”- Giáo sư Tiến sỹ Lê Hữu Nghĩa và Phó Giáo sư, Tiến
sỹ Nguyễn Đức Lữ (đồng chủ biên) - Nxb Tôn giáo 2003 Đây là cuốn sách khái quát công tác về quản lý tôn giáo
Bên cạnh đó khi nghiên cứu về đạo đức còn có những công trình tiêu
biểu: “Đạo đức xã hội ở nước ta hiện nay vấn đề và giải pháp” của tác giả Nguyễn Duy Quý chủ biên; “Mấy vấn đề đạo đức trong điều kiện kinh tế
thị trường ở nước ta hiện nay” của tác giả Nguyễn Trọng Chuẩn và Nguyễn
Văn Phúc đồng chủ biên; “Một số vấn đề lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị
xã hội” của tác giả Huỳnh Khái Vinh chủ biên; “Lý tưởng đạo đức và việc giáo dục lý tưởng đạo đức cho thanh niên trong điều kiện hiện nay” của
Đoàn Văn Khiêm; “Giáo dục nhân cách cho tuổi trẻ” của tác giả Phan Hà Sơn; “Phát triển lý tưởng xã hội chủ nghĩa cho thanh niên Việt Nam hiện
nay” của Nguyễn Đức Tiến Các công trình trên đã khái quát được những
Trang 7đạo đức thanh niên nói riêng và đạo đức con người Việt Nam hiện nay nói chung Những giá trị đạo đức trong bối cảnh đổi mới của đất nước cũng như mặt hạn chế trong đạo đức của con người trước tác động của cơ chế thị trường, thông qua đó đề xuất các giải pháp khác nhau nhằm xây dựng và hoàn thiện đạo đức con người trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay
Nghiên cứu về đạo đức Phật giáo có các công trình sau: “Đạo đức
Phật giáo trong thời hiện đại” của tác giả Trần Văn Giàu, Nxb Thành Phố
Hồ Chí Minh, 1993; Đặng Thị Lan với “đạo đức Phật giáo với đạo đức con
người Việt Nam”, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nôi, 2006; Lê Hữu Tuấn với
“ảnh hưởng của những tư tưởng triết học Phật giáo trong đời sống văn hóa
tinh thần ở Việt Nam” - Luận án Tiến sĩ Triết học, 1998; Tạ Chí Hồng với
“ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo trong đời sống đạo đức của xã hội Việt
Nam hiện nay” - Luận án Tiến sĩ Triết học, 2004; Hoàng Thị Lan với “ảnh hưởng của đạo đức tôn giáo với đạo đức trong xã hội Việt Nam hiện nay”-
Luận án Tiến sĩ Triết học 2004; Nguyễn Phan Quang với “có một nền đạo
lý ở Việt Nam”, Nxb Thành Phố Hồ Chí Minh, 1996; Trong số đó tiêu
biểu có công trình “Đạo đức Phật giáo với đạo đức con người Việt Nam”
của tác giả Đặng Thị Lan, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội, 2006 Đây là công trình cơ bản đã hệ thống hóa được phần nào những tư tưởng cơ bản của đạo đức Phật giáo với đạo đức truyền thống Việt Nam, đạo đức Phật giáo với việc xây dựng và hoàn thiện đạo đức con người Việt Nam hiện nay, trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp nhằm phát huy những mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực của đạo đức Phật giáo Có thể đánh giá đây là một công rình nghiên cứu công phu và có chất lượng, tác giả đã đặt vấn đề và giải quyết vấn đề dưới góc độ tiếp cận của triết học và tôn giáo
Trang 8học đề chỉ ra những ảnh hưởng của Phật giáo trong đời sống đạo đức con người Việt Nam
Ngoài ra trên các tạp chí đã có các bài viết với những quan điểm khác
nhau về vấn đề tôn giáo, đạo đức Phật giáo được đăng tải như: “Tôn giáo
và hiện thực - một số vấn đề đặt ra hiện nay” - Nguyễn Chí Mỳ, Tạp chí
triết học tháng 6/1988; “Suy nghĩ về mấy gợn tạc đạo đức trong xã hội
nước ta” - Tác giả Ngân Hoa, Tạp chí triết học tháng 3/1989; “Tôn giáo và đạo đức - nhìn từ mặt triết học” - Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Hữu Vui, Tạp
chí triết học tháng 4/1993; “Thử so sánh vài nét cơ bản giữa đạo đức học
phương Tây và đạo đức học phương Đông, đặc biệt là đạo đức học Việt Nam” - Tác giả Thái Kim Lan, Tạp chí triết học tháng 6/1994; “Vấn đề bảo
vệ các giá trị đạo đức truyền thống trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam” - Thạc sỹ Triết học Lê Thị Tuyết Ba, Tạp chí triết học tháng 2/1999;
“Khoa học công nghệ và đạo đức trong điều kiện kinh tế thị trường”- Tiến
sỹ Nguyễn Đình Hoà, Tạp chí triết học tháng 6/2001; “Đạo đức gia đình
trong nền kinh tế thị trường” - Tiến sỹ Nguyễn Thị Khoa, Tạp chí triết học
tháng 4/2002; “Vấn đề xây dựng đạo đức trong bối cảnh phát triển kinh tế
thị trường” - Tiến sỹ Đỗ Lan Hiền, Tạp chí triết học tháng 4/2002; “Đạo đức Phật giáo với đạo đức truyền thống Việt Nam” - Tiến sĩ Đặng Thị Lan,
Tạp chí khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội, tháng 2/2002; “Ảnh hưởng
của đạo đức Phật giáo đến giáo dục đạo đức con người Việt Nam hiện nay” - Tiến sĩ Đặng Thị Lan, Tạp chí giáo dục lý luận Học viện Chính trị
quốc gia Hồ Chí Minh, tháng 11/2002; “Phật giáo Việt Nam trong bối cảnh
toàn cầu hoá” - Tiến sỹ Nguyễn Đức Lữ, Tạp chí triết học, tháng 11/2006;
“Tìm hiểu về tinh thần nhập thế của Phật giáo Việt Nam”, Tạp chí Khoa học, Đại học Quốc gia Hà Nội, số 1/2003; “Phật giáo với đạo đức, tâm lý,
Trang 9gia Hồ Chí Minh - Phân viện Hà Nôi, số 5/2003; “Đạo Phật với tuổi trẻ -
Để sống tốt hơn trong thế giới ngày nay” - Tiến sĩ Lê Hữu Tuấn, Tạp chí
Nghiên cứu Tôn giáo, số 2/2010 ; “Từ bi - giá trị nhân bản của đạo Phật”,
Kỷ yếu Hội nghị Khoa học nữ lần thứ 8, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Các bài báo và bài viết nghiên cứu về đạo đức Phật giáo đều đi sâu tiếp cận theo hệ thống khác nhau như minh chứng cho nhiệm vụ thiết thực của vấn
đề đạo đức hiện nay
Các công trình trên nói chung đã đi sâu nghiên cứu, tìm hiểu về vấn đề đạo đức, đạo đức Phật giáo Tuy nhiên người nghiên cứu luôn luôn tiếp thu các quan điểm ấy Đây chính là những đóng góp hết sức quý giá và thiết thực của các nhà nghiên cứu Khi triển khai thực hiện
đề tài nghiên cứu này, tác giả mong muốn sẽ tiếp cận và khai thác các quan điểm, tiếp thu các ý kiến nhằm xây dựng và hoàn thiện đề tài nghiên cứu của mình Đồng thời, tác giả hy vọng đề tài nghiên cứu của mình sẽ bổ sung và khẳng định những giá trị cao đẹp của Phật giáo, cũng như vai trò của đạo đức Phật giáo trong lịch sử Việt Nam nói chung và đời sống xã hội Việt Nam nói riêng
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
* Mục đích của đề tài: là nghiên cứu đạo đức của Phật giáo chỉ ra ảnh
hưởng của đạo đức Phật giáo đối với một số lĩnh vực đời sống xã hội Việt Nam hiện nay Từ đó đưa ra các giải pháp, kiến nghị nhằm phát huy vai trò tích cực, khắc phục những hạn chế của đạo đức Phật giáo
* Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài:
- Tìm hiểu, khảo cứu nội dung của đạo đức Phật giáo để rút ra những giá trị tích cực
- Phân tích, đánh giá những tác động của đạo đức Phật giáo đối với một số lĩnh vực đời sống xã hội Việt Nam
Trang 10- Nêu một số giải pháp nhằm phát huy những giá trị tích cực, khắc phục những hạn chế của đạo đức Phật giáo
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở lý luận chủ yếu của đề tài là: Những nguyên lý, quan điểm của
chủ nghĩa Mác -Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng cộng
sản Việt Nam về tôn giáo
- Về phương pháp nghiên cứu trước hết phải có thái độ khách quan toàn diện, lịch sử cụ thể vì nó là tiêu chí để có những nhận xét đánh giá nghiên cứu về đối tượng được rõ ràng, chính xác hơn
Bên cạnh đó cần có một số phương pháp cụ thể được áp dụng cho đề tài như: Lịch sử và logic, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp quan sát, phương pháp điều tra
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
- Đối tượng nghiên cứu là: Đạo đức Phật giáo và ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo trong đời sống xã hội
- Phạm vi của đề tài: Từ sự tiếp cận hệ thống, đặc điểm chung của Phật giáo và đạo đức Phật giáo, người nghiên cứu chú trọng vào việc phân tích những ảnh hưởng cơ bản của đạo đức Phật giáo trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay
6 Những đóng góp mới của đề tài nghiên cứu
- Tìm hiểu các giá trị tích cực và những hạn chế của đạo đức Phật giáo đối với đời sống xã hội Việt Nam hiện nay
- Đưa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm phát huy mặt tích cực, khắc phục những hạn chế của đạo đức Phật giáo
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
Trang 11- Luận văn làm rõ được những giá trị nhân văn của Phật giáo, nhằm
chống lại những âm mưu lợi dụng tôn giáo của các thế lực thù địch
- Luận văn góp phần vào việc hoạch định các chính sách về tôn giáo
- Kết quả của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy môn đạo đức học, tâm lý đạo đức Phật giáo
8 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn bao gồm 2 chương, 5 tiết
Trang 12Chương 1 ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO
VÀ TÌNH HÌNH PHẬT GIÁO Ở VIỆT NAM
1.1 Đạo đức Phật giáo trong hệ tư tưởng Phật giáo
Đạo Phật ra đời cách đây hơn 2500 năm, khởi nguyên từ Trung nguyên sông Hằng và dãy Hy Mã Lạp Sơn hùng vĩ Kể từ đó ánh đạo vàng của Phật tổ Gotama đã lan truyền khắp xứ Ấn Độ và vượt ra ngoài cương vực của văn minh sông Hằng thâm nhập vào các quốc gia Châu Á
Trải qua hơn 25 thế kỷ, tư tưởng của đạo Phật không những vẫn tồn tại và phát triển mà còn được nhiều người biết đến như là một phát hiện có nhiều mới mẻ Đạo Phật không chỉ là một tôn giáo của Phương Đông mà còn là một tôn giáo có sức thu hút mạnh mẽ đến cả những quốc gia có nền văn minh hiện đại trên thế giới Đi đến đâu đạo Phật cũng hoà nhập và phát triển cùng với văn hoá bản địa, làm giàu đẹp thêm cho văn minh nhân loại Mặc dù phát triển rộng trên bình diện thế giới và phát triển sâu trên bình diện nhiều dân tộc; đa dạng trên bình diện hình thức, nhiều tông phái,
tổ chức phong phú và sâu sắc trên bình diện học thuật nhân văn; nhưng đạo Phật luôn trung thành với chân lý mà Đức Phật đã tuyên thuyết sau khi Ngài thực chứng dưới cội Bồ Đề
Sau khi thành đạo, với lòng từ bi thương xót chúng sinh vô hạn, Đức Phật đã đem ánh sáng trí tuệ giác ngộ soi sáng, chỉ đường cho khắp cả chúng sinh tới bờ giải thoát giác ngộ Bước chân của Đức Phật đã du hành khắp mọi nơi, để giáo hoá mọi người từ bỏ những điều ác làm những điều lành Suốt 49 năm thuyết pháp độ sinh “Hằng Hà một giải Bắc Nam” qua những lời thuyết khác nhau, Đức Phật đã dùng rất nhiều phương tiện “khai
Trang 13thực chứng con đường thoát khổ “Cũng như nước trong biển đại dương đều mang một vị mặn, pháp của Như Lai chỉ có một hương vị giải thoát mà
thôi” [8, tr.563]
Vì lợi ích của chúng sinh Ngài đã làm tất cả mọi việc, miễn sao mang lại lợi ích cho mọi người và cải thiện chính bản thân họ thành những con người toàn thiện có nếp sống đạo đức tối thượng Để rồi chính họ lại tiếp bước theo gương Đức Phật đi du hành giáo hoá chúng sinh, vì hạnh phúc
an lạc của chúng sinh, và vì sự công bằng, tự do, hạnh phúc cho xã hội “Này các
Tỷ Kheo hãy du hành vì hạnh phúc cho quần chúng, vì lòng thương tưởng cho
đời, vì hạnh phúc, vì an lạc cho Chư Thiên và loài người” [23, tr.125]
Giáo pháp của Đức Phật cứ lan toả đến đâu là ở đó có sự an vui, giải thoát: ở đó có những con người biết cải tà quy chính, bỏ ác làm lành, hướng thiện, biết đặt lợi ích chung lên trên lợi ích riêng v v biết xây dựng cuộc sống bình đẳng, bác ái, hoà bình, hạnh phúc, với một phương pháp nhân hoà “tuỳ duyên bất biến”, một nếp sống đạo đức cao thượng
Từ những thập kỷ cuối của thế kỷ XX đến nay nhân loại đã và đang chứng kiến những thay đổi to lớn và vô cùng sâu sắc trong các lĩnh vực của đời sống xã hội loài người Sự vận động và phát triển của kinh tế - xã hội trên thế giới đang tiếp cận với một bước ngoặt vô cùng to lớn để chuyển sang một thời đại mới về chất - đó là thời đại trí tuệ mà nguyên nhân và động lực chính thúc đẩy sự phát triển của xã hội là cuộc cách mạng khoa học công nghệ mới Nhưng bên cạnh đó, cũng nảy sinh vấn đề khiến nhân loại phải quan tâm đó là vấn đề con người trong xã hội phát triển, vấn đề môi trường sinh thái toàn cầu chính những điều đó làm cho nhân loại không chỉ hướng về tương lai, mà còn phải nhìn lại quá khứ xa xôi với các nền văn hoá văn minh từng toả sáng một thời, từ đó làm cơ sở cho các giải pháp phát triển tương lai
Trang 14Một trong những giá trị văn hoá nhân loại được đông đảo người đương đại quan tâm đó là giá trị văn hóa Phật giáo Với một hệ thống khái niệm hoàn chỉnh về: Quy tắc đạo đức, không gian, vũ trụ, nhân sinh , trải qua hàng ngàn năm trước, văn hóa Phật giáo đã đồng nhập vào tôn giáo bản địa và đời sống tinh thần ở nhiều nơi đã tạo ra ở đó những nền văn hoá có bản sắc độc đáo
Phật giáo truyền đến Việt Nam khoảng đầu công nguyên, đến nay đã hơn 20 thế kỷ Trong suốt chiều dài lịch sử đó, Phật giáo đã tồn tại chan hoà với dân tộc và trở thành đạo Phật của Việt Nam, mang màu sắc tư tưởng của Việt Nam Đặc biệt xét trên phương diện đạo đức nhân bản, đạo Phật đã có sự ảnh hưởng không thể phủ nhận đến nếp sống đạo đức của người Việt Nam: một lối sống tích cực hữu ích, sống nhân hậu nhưng khí phách, biết đặt lợi ích chung (của dân tộc) lên trên lợi ích riêng, sống trong tình thương yêu hiếu thuận, tương thân tương ái “thương người như thể thương thân” hay “lấy đại nghĩa để thắng hung tàn, lấy trí nhân để thay cường bạo (Nguyễn Trãi, Bình Ngô Đại Cáo), một nền đạo đức dân tộc lấy chữ hiếu làm đầu, trong đó rất tôn trọng đạo đức hiếu sinh,một truyền thống cao đẹp của dân tộc Việt Nam
Đạo đức Phật giáo đã có sự ảnh hưởng sâu rộng trong mọi tầng lớp nhân dân, từ giai cấp lãnh đạo cho đến quần chúng nhân dân lao động, không có sự phân biệt đối xử sang hèn, già trẻ, gái trai, chế độ chính trị
và đạo đức Phật giáo luôn luôn phù hợp với mọi xu thế phát triển của lịch
sử dân tộc Ngay thời kỳ bị phong kiến phương Bắc đô hộ, chính “đạo Phật
đã góp phần giữ gìn bản sắc văn hoá đạo đức Việt Nam, không để người phương Bắc đồng hoá” [40, tr.60]
Đến thời kỳ đầu của kỷ nguyên độc lập tự chủ của dân tộc, các triều
Trang 15sâu đậm Phật giáo đã đóng góp rất lớn vào công việc củng cố nền hoà bình của dân tộc, giúp các triều đại xây dựng và ổn định cuộc sống xã hội Đặc biệt thời đại Lý - Trần với việc tham gia tích cực của Tăng chúng trong công cuộc kiến thiết xây dựng và bảo vệ đất nước, Phật giáo đã trở thành Quốc giáo Đây là thời kỳ hưng thịnh nhất của chế độ phong kiến Việt Nam Về sau, do thăng trầm lịch sử, đất nước bị chiến tranh liên miên bởi
sự tranh giành quyền lực giữa các thế lực phong kiến, nhân dân đã rơi vào cảnh lầm than khổ cực và Phật giáo cũng bị ảnh hưởng Nhưng bất kể hoàn cảnh nào đạo Phật Việt Nam không thể bị lu mờ, chỉ tạm ẩn mình trong cuộc sống người dân, để rồi lại chờ dịp trỗi dậy phát triển Cho đến những năm trước cách mạng Tháng 8 năm 1945, phong trào chấn hưng Phật giáo lại được khơi dậy Phật giáo lại góp sức mình vào đời sống xã hội Việt Nam Và trong quá trình xây dựng xã hội mới, xã hội chủ nghĩa, đạo đức Phật giáo đã góp phần tạo nên một nền tảng tư tưởng đạo đức mới có ảnh hưởng đến nền văn hoá đạo đức Việt Nam, đó chính là tư tưởng đạo đức
Hồ Chí Minh: “Giáo huấn của Phật là một trong các cơ sở hình thành tư
tưởng Hồ Chí Minh mà biểu trưng là chủ nghĩa nhân ái”.[29, tr.13]
Trong giai đoạn xã hội Việt Nam phát triển chuyển sang thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá, sự đối lập giữa văn minh vật chất và văn minh tinh thần ngày càng trở nên gay gắt hơn Khoa học công nghệ càng phát triển, đời sống vật chất càng được nâng cao thì đạo đức truyền thống của dân tộc càng bị chao đảo xuống cấp, các tệ nạn xã hội ngày càng bành trướng gia tăng Trước tình hình đó, đạo đức phải đóng vai trò điều phối, hoá giải của quá trình phát triển Và lẽ tất nhiên, đạo đức Phật giáo sẽ là đối tượng quan trọng trong việc làm cân bằng lại đạo đức truyền thống dân tộc cho phù hợp với các giai đoạn phát triển của đất nước
Trang 16Khác với các giáo chủ huyền thoại của nhiều tôn giáo, vị Giáo chủ sáng lập ra đạo Phật là một nhân vật lịch sử - đó là Đức Phật Thích Ca Xuất phát từ việc nhìn thấy nỗi khổ ở đời, Ngài tìm ra con đường diệt khổ cho mình, cho con người và cho chúng sinh nói chung (giáo lý Tứ đế, Bát chính đạo ) Từ con đường ấy, trong hệ thống tư tưởng của Phật giáo có
hệ thống đạo đức của nó
Nghiên cứu đặc điểm của đạo đức Phật giáo là nói đến một hệ tư tưởng mang tính nhân bản lớn, với tinh thần Từ Bi Hỷ Xả nhằm giải thoát con người Để con người sống càng ngày càng người hơn, loại bỏ được các bản năng thấp kém xuất phát từ tham, sân, si và ái dục Mặt khác, cũng từ tính nhân bản cao cả đó cho nên trong lịch sử truyền giáo, Phật giáo chưa bao giờ có thánh chiến và du nhập đến dân tộc nào cũng đem lại hoà bình cho dân tộc đó
1.1.1.Vị trí của đạo đức Phật giáo
Hơn 2500 năm ra đời và phát triển, Phật giáo đã để lại cho nền văn minh nhân loại một hệ thống giáo lý cao siêu, đồ sộ, bao gồm nhiều tư tưởng như: tư tưởng tôn giáo, triết học, kinh tế, chính trị, mỹ học, văn hoá, nghệ thuật và đặc biệt là tư tưởng đạo đức
Con người sống không thể thiếu đạo đức, phải chăng nếu thiếu đạo đức, xã hội loài người sẽ xảy ra chiến tranh liên miên; gây mất đoàn kết giữa các dân tộc; tệ nạn xã hội gia tăng Còn trong gia đình mà thiếu đạo đức sẽ gây nên hành vi bạo lực thiếu văn hoá giữa các thành viên trong gia đình Thậm chí nơi học đường cũng sẽ xảy ra tình trạng bạo lực khi thiếu
sự giáo dục của gia đình và nhà trường về vấn đề đạo đức
“Đạo đức của xã hội với tư cách một hình thái ý thức xã hội là sự
Trang 17là sự phản ánh đó trên bình diện của tư duy lý luận trong khi đạo đức là tổng hoà những thái độ và hành vi của con người thể hiện trong cuộc sống
hàng ngày” [4, tr 19]
Cũng như sự dụng tâm của các học thuyết khác, cái ý nghĩa cao cả của Phật giáo là chỉ ra mục đích sống Qua đó, Phật giáo xác định cho con người có một niềm tin, một thái độ sống, hay là đi tìm và xác định cái ý nghĩa đích thực của nhân sinh Vậy mục đích và ý nghĩa của cuộc sống là gì? Thực ra đây chỉ là một câu hỏi thông dụng nhưng người ta không dễ gì đưa ra một câu trả lời cho thoả đáng Cho nên cái điều đơn giản ấy đã và đang xuyên suốt cả lịch sử phát triển của xã hội loài người
Phật giáo quan niệm rằng mục đích của cuộc đời là giải thoát khỏi khổ đau Từ đó tư tưởng đạo đức cũng như triết thuyết của Phật giáo đều xoay quanh vấn đề làm sao cho chúng sinh nói chung thoát khỏi cái khổ Khi Phật giáo cho rằng cuộc đời là “vạn sự khổ” thì đó không phải là cái nhìn bi quan mà đơn thuần chỉ là một nhận định thôi Vì thế trong triết lý nhà Phật cái khổ còn được coi là chân lý - Khổ thánh đế trong Tứ chân đế hay Tứ thánh đế Cũng khác với một số tôn giáo khi bàn về cái khổ, Phật không coi
đó là tội lỗi mà cho rằng do chúng sinh từ mê lầm (vô minh) mà sinh ra Có thể hiểu đạo đức Phật giáo một cách ngắn gọn là sự nghiệp tu hành của chúng sinh theo đạo Phật để tự giải thoát
Từ đó khi hiểu theo nghĩa tổng quát thì đạo đức là môn học nhằm đánh giá thái độ, hành vi của con người Qua đó chỉ ra cho con người nhận thức rõ con đường phải theo để loại trừ những sai lầm, khổ đau và tiến tới hạnh phúc cao cả hơn
Khi xét qua một số những học thuyết lớn thì thấy rằng, những học thuyết ấy đều có chung mục đích là hướng con người đến hạnh phúc, đến cái chân, thiện, mỹ Cho nên cùng với việc xây dựng các hệ thống lý luận
Trang 18khác nhau, các học thuyết cũng xây dựng một hệ thống đạo đức và Phật giáo cũng có chung mục đích ấy Vì vậy ý nghĩa nhân bản “vị nhân sinh” của các học thuyết còn được thể hiện ở hệ thống đạo đức của chúng
Trong giáo lý của Phật giáo, vị trí của đạo đức là rất quan trọng bởi vì
nó là phương tiện cụ thể để hành giả thực sự thoát khỏi tất cả mọi thứ ràng buộc, nói chung là thoát khỏi cái khổ, đạt đến an vui Niết bàn - Hạnh phúc
Do vậy, dù có một hệ thống giáo lý đồ sộ, cao siêu phong phú, nhưng Phật giáo lại không dừng lại ở lý thuyết mà sự mong mỏi, thúc giục lớn nhất là hành giả cần thực hành nó để tự giải thoát Sở dĩ có sự thúc giục ấy là bởi
vì có luật Vô thường không chừa một ai, không chừa một cái gì và cũng không ai cứu được mình thoát khỏi nó Từ đặc tính của luật Vô thường như vậy nên trong phẩm “Song yếu” Phật chỉ rõ: “Người kia không hiểu rằng chúng ta sắp bị huỷ diệt nên mới phí sức tranh luận hơn thua Nếu họ hiểu
rõ điều đó thì chẳng còn tranh luận nữa”.[38, tr 464-465]
Ngay trong quan niệm của triết thuyết và tôn giáo Ấn Độ đều coi giáo lý là một đạo sống, là một con đường mà con người cụ thể tha thiết sống chết với lý tưởng ấy, lấy bản thân mình làm vật thí nghiệm để thực hiện trong cuộc đời
Phật giáo cho rằng đạo đức là phải được thực hành qua: thân, khẩu, ý Tức là thân không làm điều ác (sát, đạo, dâm ); khẩu không nói lời ác (vọng ngôn, ý ngữ, lưỡng, thiệt, ác khẩu) và ý không nghĩ điều ác (tham, sân, si) Mà giáo dục con người hướng tới cái thiện không những chỉ trong mối quan hệ bó hẹp giữa người với người mà còn là cả con người với thiên nhiên, môi trường và xã hội
1.1.2 Những cơ sở hình thành đạo đức Phật giáo
Xét ở góc độ nhận thức và thực hành giáo lý theo tinh thần Phật giáo thì đạo đức là cái nền để con người nói riêng và chúng sinh nói chung làm
Trang 19Hạnh phúc Đạo đức cũng là cái nền để giữ gìn, phát huy và phát triển Phật pháp Đó là vị trí và vai trò quan trọng không thể thiếu được của đạo đức Phật giáo và trong tư tưởng Phật giáo
Đạo đức Phật giáo có những cơ sở để hình thành như sau:
Một là, Phật giáo đặt trọng tâm vào con người Con người ở đây trọng
tâm là “con người” hoặc chúng sinh cụ thể chứ không phải con người hay chúng sinh nói chung như đức Phật dạy trong Kinh Thiện Sinh
Việc đặt trọng tâm vào con người trong những cách giảng giải của đức Phật có một cách là giảng trực tiếp và chỉ cho đối tượng tự xác định lấy kết quả do hành động của mình gây ra Điều này giống như Khổng
Tử tuỳ theo trình độ của người nghe mà Thầy giải nghĩa về chữ “Nhân” Phật giáo cho rằng: Chúng sinh vô lượng và tính tình lại khác nhau, trí căn cũng khác nhau cho nên khi thuyết pháp Ngài phải dùng các phương tiện khác nhau cho phù hợp
Đức Phật dạy rằng: “Làm dữ ở nơi ta mà nhiễm ô cũng bởi ta; làm lành bởi ta mà thanh tịnh cũng bởi ta chứ không ai có thể làm cho ta thanh
tịnh được” [35, tr 42]
Đức Phật còn dạy rằng: “Tự mình làm điều ác, tự mình làm nhiễm ô,
tự mình ác không làm, tự mình làm thanh tịnh, tịnh, không tịnh tự mình, không ai thanh tịnh ai”.[24, tr 48- 49]
Cùng nhất quán với quan điểm ấy, Đức Phật đã tuyên bố rằng:
“Ngài chỉ là bậc Đạo sư dẫn đường chỉ lối, không có thể cứu dổi hoặc làm thay cho ai, và con người phải tự chủ lấy mình, tự mình đi trên đường giải thoát và do vậy con người phải tự mình nương tựa mình, tự
mình thắp đuốc lên mà đi”.[21, tr 279]
Từ việc đặt trọng tâm vào chính con người hay chúng sinh cụ thể, giáo
lý Nhân quả và thuyết Nghiệp báo của Phật giáo xác định rõ con người là
Trang 20chủ nhân, là kẻ thừa tự của nghiệp Cho nên cái khổ phát sinh từ đó thì cũng
từ đó phát sinh việc dập tắt khổ đau hay cũng từ đó phát sinh hạnh phúc
Hai là, Phật giáo xây dựng đạo đức trên nền tảng của thuyết Nhân
quả, Nghiệp báo Khi xác định đặt trọng tâm vào con người trên con đường giải thoát cũng như hành trì đạo đức, Phật dùng thuyết Nhân quả Nghiệp báo để giải thích điều đó Thuyết Nghiệp báo và luật Nhân quả của đạo Phật được học thuyết này triển khai, áp dụng để nghiên cứu sâu vào lĩnh vực của đời sống con người Luật Nhân quả và thuyết Nghiệp báo cũng không phải là sản phẩm riêng của Phật giáo mà là sản phẩm chung của tôn giáo và triết học ấn Độ Xong, từ quan điểm Trung đạo của vô ngã, Phật đã khái quát để trình bày chúng có hệ thống và đặc biệt chú ý tới “ý nghiệp” Trong giáo lý nhà Phật chính ý nghiệp là khởi đầu cho tất cả các nghiệp khác Khác với các tôn giáo khác, Phật giáo không quan niệm cái “chủ nhân” đó là linh hồn cũng không quan niệm việc chở luôn cái tạng thức ấy sang một kiếp sống mới
Theo nghiên cứu thì người ta có thể hiểu nghiệp là một khái niệm thuộc
về đời sống của con người nói riêng, chúng sinh nói chung, nó dùng để chỉ cái vừa ở bên trong, vừa ở bên ngoài của hành động, là nhân chứng giống như hình với bóng của hành động đi theo hành động để trở thành kết quả của hành động
Ba là, Phật giáo xây dựng đạo đức trên nền tảng của triết lý Vô ngã
Phật đưa ra thuyết Vô ngã một phần cũng để lý giải cho câu hỏi vì sao con người hay chúng sinh có thể giải thoát Theo Phật giáo Vô ngã không chỉ bó hẹp ở cái “Ta” của con người mà là không có cái ngã tuyệt đối ở tất cả các
sự vật, hiện tượng của vũ trụ nói chung Vì vô ngã là bản chất của hết thảy mọi sự vật, là chân lý nên mọi hành động trái với vô ngã (tức hành động hữu ngã) là trái với bản chất của các sự vật, là trái với chân lý, tức là gây khổ
Trang 21phúc, tức thấy có giải thoát Vậy vô ngã có thể xem là đồng nghĩa với giải thoát Trong một nghĩa hẹp, hành động vô ngã là một hành động quên mình,
vị tha, là từ bi, hỷ xả, mang tinh thần tập thể, đạo đức xã hội mà mọi người đều xem là thiện hạnh
Bốn là, Phật giáo đề cao tinh thần của bi, trí, dũng Cái Bi theo tinh
thần Phật giáo nó rộng lớn và sáng suốt đến vô lượng, do đó nó có đặc điểm riêng mà càng không phải là bi lụy theo tinh thần của tham ái chấp ngã Cái Trí của Phật giáo được xuất phát từ Chính kiến Chính kiến là một pháp luôn dẫn đầu các pháp hành Nếu thiếu Chính kiến thì hành giả sẽ đi chệch con đường giải thoát Từ đó, Phật giáo luôn đứng vững trên hai chân:
Từ bi và Trí tuệ Và nếu trí tuệ mà không có từ bi là trí tuệ điêu xảo, còn từ
bi mà không có trí tuệ là từ bi mù quáng, cho nên với Phật giáo bi và trí phải gắn liền với dũng Cái “Dũng” của Phật giáo là cái sức mạnh, là sự vượt qua và chiến thắng trở ngại của vô minh- tham ái - cái phi đạo đức Tất cả những cơ sở ở trên đóng vai trò là nền tảng mở đường cho
hệ thống đạo đức Phật giáo Cũng như nhiều hệ thống đạo đức khác, Phật giáo xây dựng hệ thống đạo đức nhằm mục tiêu là đem lại hạnh phúc cho con người
1.2 Những nội dung cơ bản của đạo đức Phật giáo
Toàn bộ giáo lý của Phật giáo chủ yếu nhằm vào mục đích con người
và sự giải thoát trước tiên là giải thoát cho con người
1.2.1 Các phạm trù cơ bản của đạo đức Phật giáo
Cũng như các hệ thống khác, Phật giáo có các phạm trù đạo đức riêng
Một là thiện: Đây là cái chung nhất, mà bất cứ hệ thống đạo đức nào
cũng đều nói tới, mà quan trọng hơn là tiêu chuẩn của chúng Phật giáo quan niệm về cái thiện được thể hiện ở: cái thiện là cái có lợi cho mình, cho con người và cho xã hội, cái thiện nằm ở cái vô chấp; cái thiện đối nghịch
Trang 22với cái ác; cái thiện được thể hiện ở Tứ vô lượng tâm Và chính “Tứ vô lượng tâm” mới là diện mạo rõ ràng về cái thiện theo quan điểm của Phật giáo Trong lịch sử nhân loại, điều thiện và cái ác đã được đề cập đến rất sớm, trở thành những phạm trù có tính chất đại chúng Nhìn chung mọi người đều mơ ước sống thiện, khát khao làm điều thiện, muốn sống trong một xã hội thuận hoà “Vua sáng, tôi hiền, quan thanh liêm” Cuộc sống nhân nghĩa, nhân đức, chủ nghĩa nhân đạo, tình hữu ái giai cấp, tính hợp tác cộng đồng luôn luôn là ý tưởng của mọi thời đại Đó là một đặc trưng của khát vọng hạnh phúc chân chính Đồng thời cùng với quá trình xây dựng và phát triển cái thiện, nhân loại cũng phê phán và đấu tranh tích cực để loại trừ cái ác
Những câu ngạn ngữ vẫn còn lưu truyền đến hôm nay như “ác giả ác báo”, “gieo gió ắt phải gặp bão”, hoặc “ở hiền gặp lành”, “tu nhân tích đức” Đề cao việc thiện, phê phán cái ác, đó là một trong những nét đặc trưng trong sinh hoạt văn hoá tinh thần và trong quan hệ xã hội của những người lao động Nó còn thể hiện trong lối sống, trong hành vi ứng xử, trong các hoạt động lao động, đấu tranh bảo vệ chân lý, bảo vệ lợi ích của bản thân và cộng đồng xã hội
Cái thiện đó là tất cả những gì có vai trò tích cực, có tác động thuận lợi trong đời sống của con người và của toàn xã hội; tất cả những lợi ích cho con người và cho xã hội như là sự giúp đỡ, san sẻ, cảm thông, sự nhường nhịn Cái ác là tất cả những gì gây trở ngại và có hại cho con người
và cho xã hội
Cái ác thường gây những thảm hoạ khủng khiếp cho con người như là chiến tranh, sự cướp bóc, chém giết, thờ ơ trước số phận người khác của những kẻ đã mất hết nhân tính
Trang 23Nếu trong xã hội cái thiện được xác lập và chiếm ưu thế, thì cái ác sẽ
bị đẩy lùi; xã hội đó thực sự bảo đảm hạnh phúc cho con người Xã hội lành mạnh, quan hệ người với người trở nên tốt đẹp hơn, con người sẽ có điều kiện để sáng tạo ra những giá trị vật chất cho xã hội, đồng thời trí tuệ
và đời sống của cá nhân cũng có điều kiện để phát triển
Sống thiện đó là một nét đặc trưng của đời sống đạo đức của con người và xã hội loài người Bất kỳ một quốc gia, một dân tộc nào trên trái đất, bất kỳ tầng lớp xã hội nào, già trẻ, thanh niên hay phụ nữ đều có chung một quan niệm đạo đức: sống thiện, sống không chỉ vì mình mà còn
vì người khác, “thương người như thể thương thân” Sẵn sàng tương trợ và giúp đỡ người gặp hoạn nạn khó khăn
Sống thiện là điều phù hợp với sự tiến bộ của nền văn minh Trước hết
nó làm cho con người mang tính người hơn, đồng thời còn làm nảy nở ở mỗi con người những tình cảm đẹp đẽ: tính vị tha, lòng nhân ái, thái độ biết quý trọng nhau, loại bỏ sự khinh ghét, thói ích kỷ và những hành vi vô nhân đạo Tóm lại sống thiện càng làm cho xã hội ấm áp hơn lên và trái tim con người được sưởi ấm trong sự ấm áp đó Văn minh càng phát triển đòi hỏi con người, xã hội cần phải sống thiện, cái thiện luôn phù hợp với lẽ công bằng, nhân đạo Những bất công trong xã hội có áp bức giai cấp đồng nghĩa với cái ác đã gieo rắc biết bao nhiêu thảm hoạ cho con người
bị đói rách, ngu dốt, bị lăng nhục, nhân phẩm bị chà đạp Nếu hạn chế hoặc xoá đi được những tệ nạn đó, xã hội sẽ tốt đẹp thêm Xã hội nào đề cao tính thiện thì những bất công trong xã hội cũng sẽ giảm dần, con người được sống trong trạng thái tự do, sung sướng hơn
Chúng ta nhận thấy rằng muốn xây dựng một chuẩn mực đạo đức trong cuộc sống cá nhân, gia đình và xã hội thì cần có những chuẩn tắc về hành vi để con người có thể y cứ vào đó mà đánh giá các hành vi thiện hay
Trang 24bất thiện Một hành vi đem đến hạnh phúc cho mình, cho người, cho xã hội
là chuẩn tắc để đánh giá (ở đây đề cập đến giá trị giải thoát của hành vi) Đối với Phật giáo, chuẩn tắc hành vi đó phải dựa vào giới, hay nói chính xác hơn, chuẩn tắc ấy là giới
Hai là Giới: Giới của Phật giáo có nhiều nghĩa nhưng ở đây chúng ta
chỉ bàn tới giới ở góc độ giới luật Mà nội dung quan trọng và vai trò cũng như tính chất của Giới luật trong đạo đức Phật giáo là:
Thứ nhất các khái niệm cơ bản và sự hình thành của giới luật.Việc
giữ giới luật là tiêu chuẩn đầu tiên trong việc thực hành đạo đức của tất cả các tôn giáo: trong việc thực hiện tất cả các thể chế khác chứ không riêng
gì Phật giáo cho nên chỗ khác nhau chỉ là tính chất và tên gọi của nó mà thôi Giới luật của Phật giáo là giới cấm, là những điều răn mà Phật tử tại gia hoặc Phật tử xuất gia phải theo Giới có 2 nghĩa: giới là giới điều đạo đức và giới là phong cách ứng xử Vì 2 nghĩa ấy mà Phật giáo cho rằng phải lấy giới luật làm thầy, dù bản thân ngài có trụ ở đời này cũng vậy thôi
Thứ hai về vai trò và tính chất của giới: trong giáo lý Phật giáo giới
có nhiều loại, tuỳ theo cấp độ tu hành khác nhau giữa hàng ngũ xuất gia và tại gia mà giới được phân thành nhiều loại, như giới Tỷ kheo, giới Tỷ kheo
Ni, giới Sa Di, giới Sa Di Ni, giới Ưu Bà tắc, Ưu Bà di Bên cạnh đó, do môi trường, hoàn cảnh, phong tục, tập quán mà có những sự khác nhau trong giới luật Phật giáo Ở đây chỉ nói tới Ngũ giới và Thập thiện vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống xã hội của con người Năm giới này là 5 điều kiện đạo đức tối thiểu của một người Phật tử, và cũng là những chuẩn mực đạo đức tạo ra con người lý tưởng theo đúng chân nghĩa của nó Năm giới ấy bao gồm:
1 Không sát sinh
Trang 253 Không tà dâm
4 Không nói dối
5 Không uống rượu
Năm giới này là để áp dụng cho con người, cho đời sống con người nhằm để ngăn chặn các hành vi bất thiện do con người tạo ra (theo nghĩa tiêu cực), và để tạo ra an lạc, hạnh phúc thực sự cho chính con người và xã hội (theo nghĩa tích cực) Năm điều răn này thuộc về Nhân thừa Nếu thực hiện được sẽ là người thực sự có đầy đủ nhân cách tốt đẹp đích thực là người
Thập thiện là pháp môn tu mười điều thiện gọi là Thiên thừa Thập Thiện bao gồm:
1 Không sát sinh
2 Không trộm cướp
3 Không tà dâm
4 Không nói dối
5 Không nói lưỡi hai chiều
6 Không nói lời thêu dệt
7 Không nói lời độc ác
Trang 26này được thanh tịnh thì tâm người ấy được an ổn, tự tại vì biết mình đang trú trong đạo đức, nghĩa là đang ở xa vực thẳm phi đạo đức Từ sự an ổn đó người ta sẽ cảm nhận được hạnh phúc và an lạc ngay trong hiện tại và chính trong cuộc sống của mình ngay tại đây Khi năm giới được con người cảm nhận một cách chân thật thì tâm người ấy hoàn toàn được tự do và thoải mái
Vì vậy, chúng ta có thể nói rằng năm giới là năm điều kiện sống tất yếu của một con người, là năm điều kiện cần và đủ để làm người, ví như cá phải sống dưới nước, nếu tách rời khỏi nước tất nhiên cá tự huỷ hoại cuộc sống của chính nó
Giới luật Phật giáo có công năng tạo ra hạnh phúc và lợi ích thật sự cho cuộc sống con người, xã hội từ cấp độ thấp nhất (là con người đúng nghĩa), cho đến cấp độ cao nhất là giải thoát tối hậu (Niết bàn) tuỳ theo cấp
độ tu tập về giới
Chúng ta ai cũng thừa nhận rằng con người không bao giờ thích kẻ khác gây bất cứ sự tổn thương nào đến cho mình như tổn hại mạng sống, mất mát tài sản, rối loạn hạnh phúc gia đình thì chính những gì chúng ta không muốn ấy cũng đừng nên gây hại cho người khác Qua ý nghĩa này, chúng ta thấy rằng giữ gìn năm giới chính là giữ gìn hạnh phúc của mình Đây là một ý nghĩa tích cực của giới
Người ta sẽ dễ dàng nhận thấy rằng nếu những giới điều trên bị vi phạm và phá bỏ thì chính môi trường xung quanh (xã hội) sẽ rơi vào một hoàn cảnh rối ren, đau khổ Chính từ sự đánh mất hạnh phúc của từng con người đã tạo ra đau khổ cho gia đình, xã hội, thậm chí sự tổn hại to lớn như chiến tranh có thể bùng nổ, nhân loại có thể diệt vong, nếu người ấy là kẻ
có chức quyền Vậy thì năm giới là năm điều kiện tất yếu phải được tuân thủ, nếu như con người mong muốn hạnh phúc thực sự
Trang 27Giới ở góc độ hoàn chỉnh hơn, được thể hiện trong ba pháp (Catuparisudhi sila), gọi là Cụ túc (đầy đủ) bao gồm: Biệt giải thoát luật nghi (P-Patimokha samvarasila); Phòng hộ căn môn luật nghi (P-Ajva parisuddhisila) và chính niệm tỉnh giác thọ dụng luật nghi (P-Pâccya sannissila) Từ đó, trong giới của Phật giáo đã có đầy đủ các nghi thức tu hành,
mà Biệt giải thoát (không phải là giải thoát bình thường) là điểm đáng chú ý
Như vậy, Giới luật là cái nền quan trọng đầu tiên cho người tu hành trên con đường giải thoát, nó cũng đóng vai trò là cái “bè” để hành giả
vượt qua biển khổ Bên cạnh đó, Giới luật còn có vai trò để giữ cho đạo Phật tồn tại lâu dài và theo đúng tôn chỉ Điều này, nếu đi sâu thêm sẽ thấy rằng, giới (phạm vi, giới hạn) là những điều không nên làm, không được phép vượt qua, vì nếu làm, vượt qua sẽ phạm giới, còn luật (buộc) là những điều cần phải thực hiện, vì nếu không thực hiện thì không tuân thủ luật, thậm chí phạm luật Bàn về tầm quan trọng của Giới luật, Hoà thượng
Thánh Nghiêm viết: “Nguyên lai, giới luật của Phật giáo cũng như pháp
luật trong một quốc gia Nếu như trong một quốc gia bỏ diệu dụng của Pháp luật thì xã hội của quốc gia ấy sẽ phát sinh ra khủng bố và đen tối không thể tưởng tượng Phật giáo nếu không có sự câu thúc của giới luật, thì sự đoạ lạc của Phật tử và sự hư đốn của tăng đoàn cũng là việc có thể đoán ra được”.[30, tr 43]
Từ ý nghĩa đó của việc giữ giới, nên trong lời dạy cuối cùng, Phật đã căn dặn các đệ tử một cách thống thiết: “Tỷ kheo các ông! Sau khi Ta nhập
diêt, phải tôn trọng qúy kính Ba La Đề Mộc Xoa (Giới luật) như đêm tối
gặp ánh sáng, như người nghèo gặp của báu Phải biết pháp này là thầy của
các ông, dù ta có trụ ở đời này cũng không khác pháp này vậy.” [30, tr 48]
Trong đạo đức Phật giáo, giới luật có tầm quan trọng đặc biệt Có thể
nói coi nó vừa là cái vòng “kim cô” Để buộc hãm những hành vi thuộc về
Trang 28phóng dật, triền cái trói buộc, vừa là phẩm phương tiện giải thoát Nói về điều này, Giác hoàng Trần Thái Tông đã chỉ rõ: “Giới như đất màu, muôn vật lành từ đó mà sinh Giới như thuốc hay chữa lành các bệnh Giới như hòn ngọc sáng hay phá mờ tối Giới như chiếc thuyền, hay đưa người qua biển Giới như chuỗi anh lạc trang nghiêm pháp thân” [40, tr 30]
Từ mối quan hệ khăng khít như trên, nên có thể nói, Giới là cái nền của định và tuệ Quan điểm này ngay người tu định cũng cần phải giữ giới
để có chính định Từ chính định, hành giả phát triển trí tuệ cũng phải giữ giới có thiện tuệ, nếu không cái trí tuệ đó sẽ là trí tuệ vô dụng và đập phá Ngoài ra việc chưa thực hiện được giới luật của nhà Phật là tự giác, tự
mình làm ngọn đèn cho chính mình và noi gương cho người khác Từ đặc điểm ấy, nên với Phật giáo, tính chất của việc thực hiện Giới luật không
khắt khe như các tôn giáo khác, mà được thực hiện theo tinh thần của “Tứ
Chính cần” Tứ Chính Cần là: những điều ác (bất thiện) đã sinh ra phải
đoạn trừ; những điều ác chưa sinh không cho sinh khởi; Những điều thiện
đã sinh nay càng được tăng trưởng; những điều thiện chưa sinh làm cho sinh khởi
Từ việc phân tích về mối quan hệ giữa giới, định, tuệ và việc Giới luật
có thể rút ra kết luận là: Việc giữ giới trở thành nguyên tắc số một của đạo
đức Phật giáo, đồng thời Giới luật còn là nền tảng của Phật pháp
Thập thiện: Đây là pháp môn tu được gọi là Thiên thừa Nếu hành giả
tu đắc thì đời này hạnh phúc, đời sau vãng sinh lên các cõi chư Thiên,
tương đương với “Thiên đàng” của các tôn giáo khác Từ Thập Thiện trở
lên mới chính là phép tu hay là sản phẩm đích thực của Phật giáo
Nội dung của Thập thiện được mở rộng từ Ngũ giới, bao gồm 10 nghiệp thiện ở thân, khẩu, ý và chia làm ba nhóm:
Trang 29Về thân nghiệp có 3 điều: Không sát sinh, mà phóng sinh; không trộm cắp mà bố thí; không tà dâm, mà sống trong sạch
Về khẩu nghiệp có 4 điều: Không nói lời dối trá, mà nói lời trung thực; Không nói lời độc ác, xúc xiểm gây chia rẽ, mà nói lời dịu hiền; Không nói lời thêu dệt mà nói lời đúng đắn, có ích, không nói lời hai lưỡi,
mà nói lời đoàn kết
Về ý nghiệp có 3 điều: Không tham, mà biết từ bỏ, hoặc bố thí; Không sân, mà có lòng từ bi; Không si, mà sáng suốt, có trí tuệ, tỉnh giác
Tất cả những điều ấy nằm trong mặt đối lập, tức là vừa “chế ngự”
chúng, vừa gương mẫu và khuyến cáo người khác làm theo Chẳng hạn, không sát sinh, mà dưỡng sinh, phóng sinh; không tham, mà bố thí v v Như vậy, xét theo thứ bậc từ tự giác đến giác tha thì chế Ngũ giới chủ yếu
là tự giác và đến Thập thiện bắt đầu thể hiện sự giác tha Trong kinh “Thập thiện”, sau khi so sánh với sắc thân oai nghiêm sáng chói của hàng Bồ Tát, chư Thiên, Thiên Long Bát Bộ, Phật đã chỉ rõ cho Long vương về tác dụng thiết thực của phép tu này: “Ngươi nay nhân thế mà tu học, cũng khiến cho chúng sinh thấu rõ nhân quả, tu tập thiện nghiệp Ngươi nên y đây chính kiến bất động Đối với những bậc phúc điền hoan hỷ cúng dường, như thế các Ngươi cũng được Nhân, Thiên tôn trọng cung kính cúng dàng.” [45, tr.40-41]
Qua những điểm vừa trình bày trên chúng ta có thể thấy rằng giới là bước đi đầu tiên, là bước đi căn bản và vô cùng quan trọng trong lộ trình tu tập hướng đến xây dựng một con người tốt, một môi trường tốt và một xã hội tốt đẹp Nếu giới không được nghiêm giữ một cách thanh tịnh thì việc
tu tập thiền định khó mà đạt được kết quả tốt; và nếu có chăng cũng chỉ là những kết quả cỏn con Nếu không an lập được nền tảng các vấn đề đạo đức (giới) thì không thể nào tạo ra được an lạc, hạnh phúc cho mình, cho gia đình và cho xã hội Ngay cả mục đích tối hậu, tức sự giải thoát toàn vẹn
Trang 30cũng đến từ bước khởi đầu này mà chứng đắc Nếu cuộc sống giữa con người với con người, con người với gia đình, con người với xã hội mà đều tuân thủ và hành trì giới luật một cách chân chính thì không ai có thể chối cãi rằng cuộc đời này là một trú xứ đầy an lạc và hạnh phúc Nói chính xác hơn, Tịnh độ cũng chính tại đây, tất cả đều phụ thuộc vào hành vi đạo đức của con người mà được an lập
Trong “Bát chính đạo” - Giáo lý xương sống của đạo Phật thì chính ngữ, chính nghiệp, chính mạng thuộc về giới; chính tinh tấn, chính niệm, chính định thuộc về định: chính kiến, chính tư duy thuộc về tuệ Theo đúng
thứ tự của lộ trình tiến hoá tinh thần thì giới, định, tuệ là ba giai đoạn trên con đường dẫn tới Niết Bàn (Nirvâna), chúng đóng vai trò là những “Sự” tối thượng, chứ không phải là “Lý” Nếu hành giả tu đến chỗ viên dung,
cũng có nghĩa là đến chỗ cứu kính của chúng thì đắc quả Phật Điều này, đương thời Phật đã chỉ rõ: “Này các Tỷ kheo, có bốn sự tối thượng này Thế nào là bốn? Giới tối thượng, Định tối thượng, Giải thoát tối thượng
Này các Tỷ kheo, có bốn tối thượng này” [7, tr .703]
Từ lẽ của “Sự” tối thượng ấy, khi tóm tắt hơn, Phật đã chỉ ra sự kiểm
nghiệm kết quả của việc tu hành Ngài nói: “Không có trí tuệ thì không có Thiền định, không có Thiền định thì không có trí tuệ Người nào gộp đủ
Thiền định và Trí tuệ thì gần đến Niết Bàn” [35, tr 15]
Như vậy, để vạch ra những phương tiện cụ thể cho việc giải thoát thì toàn bộ 84.000 bài giảng của Đức Phật suốt 45 năm không ngừng nghỉ
được khái quát thành ba môn học: Giới học, Định học và Tuệ học Giới là
phương tiện của định, định là phương tiện của tuệ và tuệ là phương tiện của giải thoát Do đó, phép tu từ Nhân thừa đến Bồ Tát thừa thì bao giờ cũng
bắt đầu từ Giới luật và kết thúc ở tuệ hay còn gọi là trí tuệ Đó là vai trò và
tầm quan trọng của giới
Trang 31Giới luật Phật giáo nói chung và năm giới nói riêng không chỉ dành cho đệ tử của đức Phật, cũng không phải dành riêng cho một hạng người nào trong xã hội Nó dành cho tất cả mọi người, mọi lứa tuổi, mọi dân tộc, mọi thời đại: dành cho những ai muốn có cuộc sống an lạc, hạnh phúc cho mình, cho người ngay trong hiện tại và tại đây (nếu như không muốn nói là tương lai), và cho những ai muốn có một chuẩn mực để làm người theo đúng chân nghĩa
Thế giới con người đang còn nhiều đau khổ và lên án những người đang vi phạm những nguyên tắc đạo đức căn bản này Thế giới con người cũng đang khao khát một cuộc sống hoà bình, thịnh vượng và hạnh phúc Như vậy, có phải chăng năm giới điều trên của Phật giáo là năm chuẩn tắc luân lý để xây dựng một xã hội đạo đức lý tưởng (theo nghĩa tương đối) mà Socrate, triết gia nổi tiếng Hy Lạp, đã mong chờ khi phát biểu rằng: Một nền đạo đức không thể căn cứ vào một giáo lý mơ hồ, chúng ta phải tạo dựng một nền luân lý hoàn toàn không lệ thuộc thần học, hoàn toàn thích hợp với những người có tôn giáo cũng như không có tôn giáo thì xã hội mới ổn định
Ba là Tứ vô lượng tâm: Tứ vô lượng tâm bao gồm bốn tâm vô lượng
là: từ, bi, hỷ, xả Tứ vô lượng tâm cũng được dùng để đối trị với tham, sân,
si hay là 7 ô nhiễm như: tham dục, sân hận, mê muội, tả kiến, nghi ngờ, kiêu mạn, keo kiệt Đồng thời nó còn được dùng để cứu khổ cứu nạn cho mình và cho chúng sinh
Đạo lý về tình thương trong đạo Phật (the teaching of love in Buddhism) là một đề tài rất lớn cần được khai thị cho thế giới bây giờ Loài người đang ngụp lặn trong khổ đau vì trong đời sống hàng ngày tình thương của họ còn rất nhiều tính chất hệ lụy và vướng mắc Cho nên chúng
ta phải khơi mở một dòng tình thương từ sự thực tập của đạo Phật
Trang 32Hiểu khái quát thì tâm “từ” là lòng từ ái vô lượng vô biên Tâm từ mênh mông cũng là phép để đối trị với sân hận mênh mông, do đó Phật giáo dạy rằng: “không thể lấy thù oán để diệt sân hận, chỉ có tâm từ mới
dập tắt được lòng sân” [19, tr 595]
Giáo lý về tình thương được gọi là Tứ Phạm Trú, tức là Từ, Bi, Hỷ,
Xả mà chúng ta gọi là bốn tâm vô lượng Vô lượng tức là không thể đo được, có thể phát huy đến vô cùng Bốn tâm không có biên giới là tâm Từ, tâm Bi, tâm Hỷ, tâm Xả
Trước hết là tâm Từ Chữ Phạn là Maitri, chữ Pali là Metta Maitri có nghĩa là khả năng hiến tặng niềm vui, hiến tặng hạnh phúc (the capacity to offer joy and happiness) Đức Phật sắp ra đời để nối tiếp sự nghiệp của Phật Thích Ca tên là Maitreya, đức Phật của tình thương
Thứ hai là Bi, Karuna, có nghĩa là khả năng làm vơi đi nỗi khổ đang
có mặt Nó gồm ý chí muốn làm vơi đi nỗi khổ, muốn chuyển hoá nỗi khổ của người và gồm cả phương pháp và khả năng chuyển hoá nỗi khổ
Thứ ba là Hỷ tức là Mudita, là niềm vui Tình thương đích thực, có
Từ, có Bi, sẽ đem tới sự nhẹ nhõm và niềm tươi vui Tình thương mà chứa chất sầu đau thì không phải là tình thương trong đạo Phật Cho nên Mudita
là một yếu tố của tình thương đích thực Tình thương có thể đem lại cho người thương và người được thương hạnh phúc thì mới đúng là tình thương trong đạo Phật
Thứ tư là Xả, Xả (Upeksa) là sự nhẹ nhàng, thư thái, tự do và không
kỳ thị Thương như thế nào mà ta còn giữ được tự do cho ta và cho người mình thương thì mới đích thực là tình thương đạo Phật
Tình thương, Từ, Bi, Hỷ, Xả không phải là những ước muốn, những mục tiêu xa xôi, mà là sự thực tập Từ không phải chỉ là ước muốn đem lại
Trang 33người Và Xả tức là ước muốn và cũng là khả năng hiến tặng tự do và sự không kỳ thị cho người và cho chính mình
Từ là năng lượng cho người vui, Bi là năng lượng làm cho tiêu tan nỗi khổ Ta chỉ có thể thực hiện được Từ và Bi khi quán chiếu Từ sự hiểu biết
mà đi đến thương yêu rồi biến thành hành động Tình thương biến thành hành động chứ không phải chỉ là ức tưởng Nuôi dưỡng mình và nuôi dưỡng người xung quanh bằng tình thương, đó là sự thực tập của chúng ta
Và tình thương ở đây xuất phát từ tuệ Nếu không hiểu biết thì không thể thương yêu Bản chất Từ Bi là Trí tuệ Muốn hiến tặng niềm vui cho người,
ta phải hiểu người
Nguyên tắc thực tập Tứ Diệu Đế phải được áp dụng từ đây: Trước hết
ta nhìn vào để thấy những nỗi khổ Sau khi nhận diện được sự thật thứ nhất
về Khổ, ta mới tìm ra được những nguồn gốc xa gần của khổ, tức là ta quán chiếu Tập Và chỉ khi nắm được hai sự thật đầu ta mới biết con đường nào giúp người vượt qua những khổ đau, biết được Diệt và Đạo Thực tập Tứ Diệu Đế là thực tập tình thương
Trong kinh Bát Đại Nhân Giác, Phật nói rằng một vị Bồ Tát không đem tâm ghét những người đã làm điều ác Những điều kiện xã hội, kinh
tế, chính trị, những vô minh, căm thù đã được chứa chất từ lâu, đã đưa tới hành vi ác độc “Bất tăng ác nhân” là bốn chữ trong kinh Bát Đại Nhân Giác Làm sao ta hiểu được bốn chữ “Không ghét người ác”, nếu
ta quên tình thương, không giận mình, không ghét người Vì thấy những nguyên nhân do sâu xa của mọi hành động nên ta thấy thương mình và thương người
Phật dạy rằng: Tình thương được làm bằng hiểu biết Vì hiểu rõ tâm của chúng sinh nên Phật còn đi xa hơn nữa Ngài nói rằng trong tình thương chân thật phải có niềm vui Nếu không có vui thì ta biết đó chưa
Trang 34phải là Từ, chưa phải là Bi Phật còn dạy chúng ta phải nuôi dưỡng thân tâm bằng niềm vui và sự nhẹ nhàng Làm như vậy cũng là thực tập thương yêu
Đứng về phương diện đối trị cái giận, Từ Quán và Bi Quán là những phương pháp rất thực tế mà rất nhiệm màu Kinh có nói tới bẩy cái bất lợi của sự giận hờn, của người không chịu buông thả, không chịu chuyển hoá cơn giận của mình
Thứ nhất người đó trông xấu xí Điểm bất lợi thứ hai là ta nằm kẹt đau đớn trong cơn giận của ta Thứ ba là không có sự phát triển phong phú Thân thể và tâm hồn không thể phát triển và bừng nở được như một đoá hoa Thứ tư là nghèo đi về tiền tài cũng như về hạnh phúc Thứ năm là không được tiếng tốt Thứ sáu là không có nhiều bạn Và thứ bảy là người
đó sẽ tái sinh trong cõi A Tu La, không có hạnh phúc Đó là bảy điều bất lợi của những người ôm cái giận của mình mà không biết buông bỏ để chuyển hoá
Cũng trong kinh Tăng Chi Bộ, Phật nói tới mười một cái lợi của người thực tập Từ Quán và Bi Quán Ngài nói rằng cái lợi thứ nhất của người thực tập Từ Quán là ngủ ngon Thứ hai là khi thức dậy thấy người khoẻ khắn, nhẹ nhàng trong lòng Thứ ba là ngủ không có ác mộng Thứ tư là được gần gũi thân cận với mọi người Thứ năm là được thân cận với loài không phải loài người Những loài không phải loài người tức chim muông, cầm thú v v cũng không sợ hãi lánh xa Thứ sáu là được Chư thiên ủng
hộ, bảo vệ Thứ bảy là không bị lửa, chất độc, gươm súng ám hại Thứ tám
là dễ đi vào thiền định, ta định tâm rất dễ Thứ chín là nét mặt mình luôn luôn trầm tĩnh Thứ mười là lúc chết không có lú lẫn Mười một là sau khi chết, ít nhất là được sinh vào cõi trời Phạm thiên Những người ở trên đó
Trang 35Trong kinh Như Thị Ngữ, Phật cũng nói: tất cả những công đức mà ta thực hiện ở trên đời góp lại cũng không bằng công đức của sự thực tập Từ Quán và Bi Quán Làm chùa, đúc chuông, hay làm việc xã hội tất cả những công đức đó chỉ bằng một phần mười sáu của công đức thực tập lòng Từ Cũng như nhìn lên trời chúng ta thấy trăng và sao, và nếu ánh sáng của tất cả các ngôi sao hợp lại cũng không bằng ánh sáng của mặt trăng, thì tất cả các công đức khác gộp lại cũng không bằng công đức của
Từ Quán
Tứ Vô Lượng Tâm là một phương pháp tu tập thiền quán, được tạo thành chất liệu trí tuệ, Từ chứa Bi, chứa Hỷ, và chứa Xả tình thương mà còn kỳ thị, còn phân biệt, tình thương mà không có niềm vui thì chưa phải
là tình thương trong đạo Phật Tâm Bi cũng phải được làm bằng chất liệu của Từ, Hỷ và Xả Hỷ mà không có Từ, Bi và Xả thì cũng không phải là
Hỷ trong đạo Phật, có nghĩa là không vướng mắc, không phân biệt, kỳ thị, nhưng không có nghĩa là trốn tránh trách nhiệm Phải có thệ nguyện, một
sự cam kết Đây không phải là dửng dưng như người ta hiểu Xả đây có nghĩa là bất xả, tức là buông nhưng không bỏ Chúng ta khẩn nguyện: “Xin chư Phật Từ Bi bất xả” “Các vị Phật xin đừng có bỏ con tội nghiệp” Xả đây không có nghĩa là không thương mà lại là bí quyết của tình thương chân thật trong đạo Phật Tứ Vô Lượng Tâm là giáo lý của Phật về tình thương
Tứ Vô Lượng Tâm còn có một ý nghĩa nữa là để khắc phục cái tâm thiên kiến nó thể hiện như ích kỷ, hẹp hòi, cố chấp, máy móc, phiến diện tách rời Nói chung đó là tâm ngục tù Những cái tâm này Phật gọi là kiến trùng lâm (bị nhốt vào trong rừng kiến hoang vu, mê mờ), kiến kết phược (kết phược - trói buộc) và phía bên kia là cái tâm phóng đãng Tất cả chúng đều xuất phát từ hữu ngã cho nên không thể trở thành từ bi hỷ xả theo đúng nghĩa được Do mắc vào bệnh tha kiến đó cái tâm từ cực đoan
Trang 36này có thể nhảy sang cực đoan khác Vì việc nhảy đi nhảy lại như thế nó trở thành cái tâm khủng hoảng, tâm loạn động Do vậy tâm từ bi hỷ xả còn
là để vượt ngoài phạm vi của cái ta với người khác, chúng sinh để trở thành
họ là ta và ngược lại
Trong truyền thống Phật giáo, Từ bi thường được gắn với một vị Bồ Tát là Quán Thế Âm Bồ Tát Đây là một vị Bồ Tát có đủ tâm như trên và luôn nghe, quán “tiếng nói” khổ đau của chúng sinh, của cuộc đời để bố thí
vô uý, tức là bố thí, cứu độ không có trở ngại gì cả “Tiếng nói” ở đây
không chỉ là âm thanh kêu khổ mà nó còn được thể hiện ở cả sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp Vì Quán Thế Âm Bồ Tát là một vị Đại Bồ Tát chỉ
chuyên “Cho” (bố thí vô uý), nên đó là lý do tại sao trong phẩm “Phổ Môn
Pháp” của kinh “Diệu Pháp Liên Hoa” Bồ Tát Vô Tận ý đại diện cho
chúng sinh tặng Ngài chuỗi ngọc “anh lạc” (ngọc mani, xá lợi, ngọc Phật),
nhưng Ngài không nhận Một điều cần nói ở đây là, tư tưởng Bồ Tát đạo không phải được xuất phát từ Phật giáo Đại thừa, mà từ cuộc đời của đức Phật Thích Ca Sau này giáo lý Đại thừa chủ yếu chỉ làm cái việc phát triển
nó mà thôi
Khi xây dựng Tứ Vô Lượng Tâm, Phật giáo nhấn mạnh vào cái tâm của con người đó là cái đạo đức, lòng người, trí tuệ Cái Tâm theo nghĩa này cũng là nét đặc trưng không những với Phật giáo mà còn là nét đặc trưng cho cả tư tưởng của người Phương Đông nói chung
Bốn là Lục hoà: Đây là sáu sự hoà hợp bao gồm: Giới hoà, kiến hoà, lợi
hoà, thân hoà, khẩu hoà và ý hoà Lục hoà còn gọi đầy đủ là lục hoà kính pháp Đây là sáu pháp hoà hợp và kính trọng lẫn nhau do Phật dạy cho các hàng đệ tử thực hiện Trong giáo pháp nhà Phật san bằng tất cả giai cấp sang
Trang 37bình đẳng trong đời sống một cách hoà kính lẫn nhau để thể hiện của Từ Bi, Trí Tuệ
1 Giới hòa: Đồng giới hoà kính hay còn gọi là giới hoà đồng tu Hết
thảy chúng Tăng đều tu chung Giới luật của nhà Phật, cho nên phải hoà thuận kính ái lẫn nhau, hoà hợp với nhau, với mọi người
2 Kiến hoà: Đồng kiến hoà kính hay còn gọi là kiến hoà đồng giải
Hết thảy chúng Tăng đều tu hành theo pháp và Luật của Phật, nhân đó có kiến thức về Phật pháp nên phải hoà hợp và chia sẻ cùng nhau
3 Lợi hoà: Đồng lợi hoà kính hay còn gọi là lợi hoà đồng quân Trong
khi chúng Tăng ở chung và tu học, nếu bá tánh cúng dường mọi thứ như đồ mặc, thức ăn uống, phòng thất, giường nệm, thuốc thang thì cùng nhau chia
sẻ, cùng hưởng một cách ái kính
4 Thân hoà: Thân từ hoà kính hay còn gọi là thân hoà cùng ở, trong
khi đông người trụ một chỗ mà tu học, chỗ chật người đông, nên cần phải
từ hoà và kính nhường nhau trong mọi cử động như đi, đứng, nằm, ngồi
5 Khẩu hoà: Khẩu hoà đồng kính hay còn gọi là khẩu hoà vô tranh
Vì đông người sống chung, nương bóng một nơi, nên cần phải nhường nhịn nhau trong lời ăn tiếng nói, không cãi vã, chửi mắng nhau Nhờ vậy mà mọi người được niềm từ hoà, thân ái ở chốn sơn môn
6 Ý hoà: ý từ hoà kính hay còn gọi là ý hoà cùng vui “Chúng Tăng
phải vui vẻ hoà hợp với nhau, nói năng, hành động một cách hoà lạc, vui buồn
cùng chia sẻ với nhau, yêu mến nhau, không mất lòng nhau ”[9, tr.125 - 126]
Lục hoà còn có nghĩa là: Các sư sãi ở các chùa khác nhau phải hoà
hợp với nhau, mà mở rộng ra là sự hoà hợp của Phật tử nói riêng, mọi người nói chung
Trang 38Theo nghĩa hoàn chỉnh hơn và niềm hạnh phúc của Lục hoà, sáu phẩm
“ Phật đà”, Đức Phật cảm khái “Hạnh phúc thay đức Phật ra đời, hạnh
phúc thay diễn nói Chính pháp, hạnh phúc thay Tăng già hòa hợp, hạnh
phúc thay Tứ chúng đồng tu” [35, tr 47]
Mở rộng ra, nếp sống trên được áp dụng cho một tập thể rộng lớn như
xã hội, quốc gia, đồng thời nó cũng có tác dụng thiết thực trong việc giáo dục lối sống và đạo đức hiện nay
Năm là Tứ ân: Tứ ân là bốn ơn mà con người phải nhớ đến, phải đền
trả Tuy các kinh sách trong Phật giáo có giải thích về Tứ ân khác nhau đôi chỗ, nhưng chung quy thì ơn con người, ơn trời đất, ơn xã hội, ơn Tam Bảo chứ không phải ơn thần linh hay Thượng đế
Nội dung của Tứ ân là ơn cha mẹ; ơn chúng sinh; ơn Quốc gia; ơn Tam Bảo Tứ ân là phạm trù đạo đức xác định cái tình nghĩa của con người
Tư tưởng Tứ ân hiện nay cũng đang được thể hiện trong Lễ Vu Lan báo
hiếu của Phật giáo Ngoài ra còn có tư tưởng Thiện sinh, Thập vương
pháp và chúng dàn trải trong mối quan hệ giữa người và người, giữa
người và vật để chuyền tải cái thiện theo quan điểm Phật giáo
Sáu là Lục độ: Đây là pháp môn tu Bồ tát thừa, sáu pháp vượt qua để
đạt đến cái tâm của vị Bồ Tát Lục độ bao gồm: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định và trí tuệ Như vậy là tiêu chuẩn của con người và cho
cả sự nghiệp giải thoát được bắt đầu từ mình làm thiện, giúp người, rồi tới giúp người làm thiện và cuối cùng là vô ký Tức là những hành động vượt lên khỏi thiện ác tốt xấu để trở thành hồn nhiên như hoa nở Đây chính là nội dung cơ bản và ý nghĩa của Lục độ
Phép tu Bồ tát đạo rất phong phú và rộng lớn, chủ yếu nó được diễn
giải trong kinh “Phạm Võng” và kinh “Bồ Tát Anh Lạc” Tuy nhiên, thâu
Trang 39tát đến địa thứ 10 gọi là Đại Bồ tát (Bodhisattva Mahasattva) Nếu chúng sinh tu viên mãn địa thứ mười, đắc quả Đại Bồ tát thì quả này so với quả Phật không hơn không kém nhau bao nhiêu, thậm chí có những vị đủ tiêu chuẩn thành Phật nhưng nguyện làm hạnh Bồ tát Chẳng hạn như Địa Tạng
Vương Bồ Tát (Kshigarbha), Đại Thế Chí Bồ Tát (Mahâsthampâta) Quán
thế âm Bồ Tát (Avalokitesvars) v v Các vị Bồ Tát nhất là các Đại Bồ Tát
chỉ còn giác tha, bố thí, cứu độ vì các vị được coi như đã giác ngộ hoàn
toàn Các vị Bồ Tát theo hạnh nguyện của mình luôn luôn làm tròn Phật sự
và có mặt khắp nơi để cứu độ chúng sinh Điểm chú ý ở đây, theo tinh thần
Phật giáo thì từ hành giả mới nhập lưu phật pháp cho đến hàng Bồ tát, Phật
cũng phải vừa độ (chở đò) mình, vừa độ người, cứu mình là để cứu người
và ngược lại Quan điểm này được gọi chung là “cứu độ” (chỉ dẫn, chỉ bảo
- Paramita), nó khác hẳn với “cứu rỗi” (Fr - Soteriologie, Sauver;
E-Salvation) của các tôn giáo khác, mà chính chỗ này một số nhà nghiên cứu
có nhầm lẫn
Như vậy, vấn đề rất quan trọng ở đây là, khi xây dựng tư tưởng Bồ Tát
đạo, hệ thống triết lý của Phật giáo về giải thoát đã đạt đến mức hoàn
chỉnh, nhất là mô hình cứu cánh Hạnh Bồ Tát tựu chung cần thực hiện đầy
đủ tâm và hạnh Bồ đề (Bodhi) bao gồm cả bi, trí, dũng để có thể “sự sự vô
ngại” trong việc độ cho mình và độ cho chúng sinh Phật đã khuyên và khuyến khích hành giả nên xác định ở đó, bởi vì:
“Muốn diệt trừ vô lượng khổ đau trong ba cõi (cõi dục, cõi sắc và cõi
vô sắc) và trừ những nỗi bất an cho hữu tình, muốn hưởng được an lạc, giải thoát, hạnh phúc thì đừng bao giờ xả bỏ tâm Bồ đề (lòng mong cầu giác ngộ để lợi lạc cho mình, cho người) Mặc dù tâm nguyện bồ đề cũng đủ sinh quả báo vĩ đại, nhưng không thấm gì so với tâm hạnh bồ đề vì tâm này
liên tục phát sinh phúc đức” [15, tr 21-23]
Trang 40Từ hạnh nguyện như thế, nên tinh thần cứu độ của Bồ Tát là tinh thần của bi, trí, dũng, do đó lời nguyện của Bồ Tát Địa Tạng: “Thề độ cho vô lượng chúng sinh”; “Ta không vào địa ngục thì ai vào địa ngục” [11, tr 88]
là một minh chứng hùng hồn nhất Chung quy, “Hợp lại mà nói, trên cầu
Phật đạo để tự giác, dưới hoá độ chúng sinh để giác tha, đây là ý nghĩa của
Bồ Tát”.[14, tr 392]
Khi chúng sinh đắc quả Phật thì đó là sự viên dung, đồng thời sự nghiệp tu hành đã viên mãn cả đức hạnh, giác ngộ, trí tuệ và đáng được cúng dường, làm thầy của trời, người, hay chúng sinh nói chung
Như vậy, tiêu chuẩn đạo đức cho sự nghiệp giải thoát được bắt đầu là
từ mình làm thiện, giúp người, giúp mình làm thiện, rồi đến giúp người làm
thiện và cuối cùng là vô ký, tức là những hành động vượt lên khỏi thiện ác,
tốt xấu để trở thành hồn nhiên như hoa nở Đó là nội dung cơ bản và ý
nghĩa của Lục độ
1.2.2 Một số đặc điểm cơ bản của đạo đức Phật giáo
Thứ nhất, mục đích của đạo đức Phật giáo là vì con người và giải thoát
con người khỏi đau khổ, tức làm cho con người được an lạc và giải thoát Trong toàn bộ giáo lý của Phật giáo chủ yếu nhằm mục đích vì sự tốt đẹp của con người Trong kinh Pháp Hoa - bộ kinh tối thượng thừa trong tư tưởng Đại thừa Phật giáo, bộ kinh này là Vua trong các kinh được Đức Phật thuyết vào cuối đời trước khi Ngài nhập diệt- Đức Phật nói rằng: “Ta vì đại sự nhân duyên: Khai, Thị, Ngộ, Nhập Phật trí kiến cho chúng sinh mà thị hiện ra đời” Trong bộ kinh Nykaya Đức Phật tuyên bố “Này các Tỷ Kheo, trong suốt cuộc đời thuyết pháp của ta (từ xưa đến nay ta chỉ nói lên sự khổ và diệt khổ” [7,
tr 426 - 427]