1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng tam giáo trong tư tưởng đạo đức Lê Thánh Tông

119 1,1K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 119
Dung lượng 1,25 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ yêu cầu xây dựng và củng cố đất nước Việt Nam mà các yếu tố của Nho, Phật, Đạo đã được Lê Thánh Tông rất coi trọng và sử dụng trong đường lối trị nước của mình, vì thế đây l

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI NHÂN VĂN

-

TRẦN THỊ CHÂM

(Thích Đàm Luyện)

ẢNH HƯỞNG TAM GIÁO TRONG TƯ TƯỞNG

ĐẠO ĐỨC LÊ THÁNH TÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

HÀ NỘI - 2010

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI NHÂN VĂN

-

TRẦN THỊ CHÂM

(Thích Đàm Luyện)

ẢNH HƯỞNG TAM GIÁO TRONG TƯ TƯỞNG

ĐẠO ĐỨC LÊ THÁNH TÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ TRIẾT HỌC

Chuyên ngành : Tôn giáo học

Mã số : 60.22.90

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đỗ Thị Hòa Hới

HÀ NỘI – 2010

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

* Lý do chọn đề tài 1

1 Tình hình nghiên cứu đề tài 3

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài 5

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

4 Cơ sở lý uận và phương pháp nghiên cứu 6

Chương I SỰ DU NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN TAM GIÁO TẠI VIỆT

NAM ĐẾN TRƯỚC THỜI LÊ THÁNH TÔNG

Chương II MỘT SỐ NỘI DUNG ẢNH HƯỞNG TAM GIÁO TRONG TƯ

TƯỞNG ĐẠO ĐỨC CỦA LÊ THÁNH TÔNG.

Trang 4

MỞ ĐẦU

* LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Tam giáo Nho, Phật, Đạo là các học thuyết chính trị- xã hội, đạo đức Tôn giáo từ bên ngoài đã có mặt ở Việt Nam hàng ngàn năm Trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc Việt Nam, Tam giáo đã dần dần thâm nhập gắn

bó mật thiết với đời sống- văn hóa tinh thần và đặc biệt là trong quan niệm tư tưởng đạo đức của người Việt Nam Qua quá trình tiếp biến lâu dài, nhiều yếu

tố tư tưởng đạo đức Tam giáo đã dần được giai cấp Phong kiến Việt Nam tiếp nhận, đề cao và có sự tái cấu trúc hòa nhập với văn hóa Việt Nam, ăn sâu vào thói quen, tâm lý, phong tục tập quán người Việt, nên đây đã là hướng nghiên cứu quan trọng thu hút sự chú ý của nhiều học giả với nhiều công trình có giá trị

Trong thời kỳ phong kiến Ngô - Đinh tiền Lê - Lý - Trần trước thời Lê, với việc qui định tiếp biến các yếu tố kế thừa tư tưởng Tam giáo thông qua bộ lọc là tư tưởng yêu nước và tinh thần dân tộc mà giai cấp phong kiến Việt Nam đã dần dần xây dựng được một hệ tư tưởng cho nhà nước phong kiến trung ương tập quyền, củng cố độc lập, xây dựng nền văn hóa dân tộc và đào tạo nhân tài cho đất nước Xuất phát từ yêu cầu xây dựng và củng cố đất nước Việt Nam mà các yếu tố của Nho, Phật, Đạo đã được Lê Thánh Tông rất coi trọng và sử dụng trong đường lối trị nước của mình, vì thế đây là những chủ

đề quan trọng đã được tiếp cận từ nhiều góc độ riêng rẽ cụ thể của giới nghiên cứu … Tuy nhiên, đến nay trong điều kiện mới của khoa học xã hội và nhân văn đã đến lúc tiếp tục làm sáng tỏ vấn đề tư tưởng của ông dưới góc độ liên ngành Triết học, Tôn giáo học vẫn là cần thiết Và vấn đề ảnh hưởng Tam giáo đến tư tưởng đạo đức của Lê Thánh Tông có ý nghĩa mới mẻ, cần được

đi sâu tìm hiểu một cách hệ thống

Lê Thánh Tông tên tự là Tư Thành, được sinh ra ở bên ngoài cung cấm, tại chùa Huy Văn ( hiện nay ở phía trong ngõ Văn Chương, Tôn Đức Thắng,

Trang 5

quận Đống Đa, Hà Nội) Sống giữa chốn dân gian từ nhỏ, cho đến năm lên 4 tuổi, mẹ của Vua Nhân Tông buông rèm chính sự, mới đón Tư Thành về phong làm Bình Nguyên Vương cho ở nhà Thái Phiên để hàng ngày cùng Nhân Tông và các Phiên Vương khác học tập tại tòa Kinh Diên Chính từ đây,

Lê Thánh Tông được học tập, tiếp xúc với tư tưởng, tinh thần của Tam giáo Trong thời đại Lê sơ hào khí, kế thừa những tư tưởng yêu nước thương dân sâu sắc kết hợp với lòng nhân ái của Đạo Phật, đạo đức toàn thiện của Đạo Nho tư tưởng phóng khoáng của Đạo Lão Trang đã thấm nhuần vào ông từ tấm bé, hình thành nên nhân cách một ông Vua anh minh, nhân đức làm nên triều đại Lê Thánh Tông trị vì với tinh thần thượng quốc, thương dân, có trật

tự gia phong và kỷ cương xã hội Những yếu tố tư tưởng đạo đức Tam giáo về : Trung, Hiếu, Nhân, Nghĩa, Trí, Tín, Dũng, Từ, Bi, Hỉ, Xả, “Vô Vi” các giá trị đó… đã được Lê Thánh Tông tiếp biến, phát triển và trở thành đường lối trị nước bằng đạo đức của mình Với cốt lõi là tinh thần dân tộc Lê Thánh Tông đã kế thừa các góc độ Tam giáo có thể nói Tam giáo được tiếp nhận chủ động đã có vai trò quan trọng trong sự hình thành và phát triển tư tưởng đạo đức Lê Thánh Tông Tuy nhiên vấn đề là ảnh hưởng của Tam giáo trong tư tưởng đạo đức của Lê Thánh Tông rất đậm nét nhưng chúng đã được khúc xạ, tiếp nhận như thế nào, để Tam giáo chính là một cơ sở quan trọng góp phần làm nên khía cạnh nhân văn của đường lối đức trị ở Lê Thánh Tông Ảnh h-ưởng đó không phải là tất cả mà đã có sự tái cấu trúc, kết hợp tổng hợp theo cách như thế nào Những vấn đề này rất cần được tiếp tục làm sáng tỏ từ góc

độ Triết học, Tôn giáo học

Trong bối cảnh hiện nay, văn kiện Đảng ta nhận định: Trong bộ máy chính trị, sự suy thoái đạo đức ở một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên biểu hiện tập trung ở tình trạng tham nhũng là một trong những nguy cơ đe dọa sự tồn vong của xã hội, bên cạnh đó những thang bậc đạo đức xã hội đang

có chiều hướng suy thoái, lối sống gấp thực dụng, hưởng thụ tiêu dùng theo chủ nghĩa cá nhân chưa bị ngăn chặn … do đó trở lại tìm hiểu cách thức tiếp

Trang 6

nhận ảnh hưởng từ bên ngoài của tư tưởng đạo đức Lê Thánh Tông để kế thừa

có phê phán, chọn lọc những giá trị tư tưởng đạo đức nhân văn của Lê Thánh Tông lại càng có ý nghĩa lý luận và thực tiễn vô cùng sâu sắc đối với việc xây dựng đạo đức con người Việt Nam hiện nay

Những lý do trên cho thấy rõ việc nghiên cứu “ ảnh hưởng của Tam

giáo đối với tư tưởng đạo đức của Lê Thánh Tông ”là vấn đề cần thiết nhằm

chỉ ra được những giá trị tích cực cần kế thừa tiếp thu có chọn lọc để vận dụng góp phần vào xây dựng nền đạo đức, chính trị con người Việt Nam trong thời đại mới Hơn nữa với tâm nguyện riêng là một người tu sĩ tu hành tại chùa Huy Văn, với lòng thành kính Vua Lê Thánh Tông, chúng tôi chọn vấn đề nghiên cứu này với mong muốn có những am hiểu sâu sắc hơn tư tưởng của vị Vua được thờ phụng tại đây

1 Tình hình nghiên cứu đề tài

Như chúng ta đã biết, vấn đề tìm hiểu nội dung tư tưởng của Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo và ảnh hưởng riêng của Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo đến tư tưởng của Lê Thánh Tông từ trước đến nay đã và đang thu hút được một số nhà nghiên cứu quan tâm, mặc dù không nhiều, song vấn đề này đã có những công trình, bài viết được đánh giá cao Trong đó phần lớn các tác giả chú ý đề cập đến vấn đề nội dung của các phẩm chất đạo đức Nho giáo như Trung, Hiếu, Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng … được Lê Thánh Tông tiếp biến và thể hiện nhiều qua thơ, văn của ông Tuy nhiên, khi đánh giá về các nội dung đó thường tiếp cận từ góc độ khoa học riêng rẽ cụ thể: sử học, văn học, nghệ thuật học, chính trị học, văn hóa học Các nội dung khác của tư tưởng đạo đức Phật giáo, Đạo giáo biểu hiện ở Lê Thánh Tông còn chưa được khai thác nhiều, chẳng hạn: Ảnh hưởng của Phật giáo, Đạo giáo đến quan niệm về vai trò, vị trí của đạo đức, con đường hình thành lối sống có đạo đức lý tưởng, con đường xây dựng con người có đạo đức toàn thiện (siêu việt) … là những vấn đề trọng yếu phổ quát chung của tư tưởng đạo đức Tam giáo được ông tiếp biến khá thành công, nhưng trong các công trình đó chưa được chú ý đi

Trang 7

sâu, sự nhìn nhận đánh giá về các vấn đề đạo đức Tam giáo còn trên nhiều quan điểm nhìn nhận khác nhau, thậm trí trái ngược nhau Cho nên, chúng tôi hiểu rằng tiếp tục việc xem xét lại những ảnh hưởng tư tưởng đạo đức trong học thuyết của Tam giáo ở Lê Thánh Tông và vị trí, ý nghĩa của mỗi giáo trong từng giai đoạn lịch sử của cuộc đời Lê Thánh Tông và vận dụng bài học, giá trị tư tưởng tích cực chủ động của ông vào hoàn cảnh thực tiễn hiện nay cần được quan tâm nghiên cứu từ chuyên ngành Triết học, Tôn giáo học

là việc làm cần thiết

Từ trước và đặc biệt sau đổi mới, tìm hiểu về Tam giáo, nhất là ảnh hưởng của Nho giáo ở Việt Nam trong đời sống chính trị, đạo đức đã được giới nghiên cứu không chỉ ở Việt Nam mà cả nước ngoài đề xuất một cách sôi nổi, nhiều công trình biên soạn và khảo cứu xoay quanh vấn đề điều kiện du nhập, phát triển, giá trị, vai trò, đặc điểm tư tưởng chính trị đạo đức Nho giáo trong lịch sử

Riêng về nghiên cứu sâu ảnh hưởng của Nho giáo đến tư tưởng Lê

Thánh Tông cũng có một số công trình, bài viết như : “Lịch sử tư tưởng Việt

Nam” do Nguyễn Tài Thư (chủ biên - chương Tư tưởng thời Lê), sách “Lê Thánh Tông - vị vua anh minh, nhà cách tân vĩ đại ” do Lê Đức Tiết tái bản,

có bổ sung Nxb Tư pháp, 2007, sách tuyển “Lê Thánh Tông - về tác giả và

tác phẩm” Tuyển chọn, giới thiệu: Bùi Duy Tân Lại Văn Hùng Nxb Giáo

dục, 2007; Góp phần tìm hiểu cách chia phiên trong chính sách “Ngụ binh ư

nông” thời Lê Thánh Tông (1460 - 1497)” của Hà Duy Biển; “Vua Lê Thánh Tông và cải cách tổ chức bộ máy thời hậu Lê” của Minh Đạt; thơ “Lê Thánh Tông” của Lâm Giang dịch, Nxb Kim Đồng, 2001; “Tìm hiểu tư tưởng chính trị Nho giáo Việt Nam từ Lê Thánh Tông đến Minh Mệnh” sách của Nguyễn

Hoài Văn, Nxb Chính trị Quốc gia, 2002 …

Qua đây có thể thấy, nhìn chung, các tác giả mới tập trung chú ý nghiên cứu nhìn ảnh hưởng riêng Nho giáo đến Lê Thánh Tông dưới những góc độ tiếp cận khác nhau, song nghiên cứu một cách tổng hợp vấn đề “ảnh hưởng

Trang 8

của Tam giáo ở tư tưởng đạo đức Lê Thánh Tông” (Để khẳng định điều này thì chưa có đủ điều kiện, nhưng trong góc độ tư tưởng Lê Thánh Tông vẫn khẳng định có những ảnh hưởng Tam giáo theo mức độ đậm nhạt khác nhau)

và chỉ ra những ảnh hưởng của tư tưởng đạo đức đạo đức Tam giáo đối với tư tưởng đạo đức chính trị Lê Thánh Tông từ đó rút ra bài học nhằm vận dụng và đánh giá vai trò của chúng đối với việc xây dựng nền đạo đức con người mới

ở nước ta hiện nay từ góc độ Triết học, Tôn giáo học thì chưa được quan tâm nhiều đề nghiên cứu một cách tổng hợp hệ thống đầy đủ Bởi những lý do đó

mà chúng tôi lựa chọn vấn đề này làm đề tài nghiên cứu trong luận văn Thạc sỹ

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài

2.1 Mục đích nghiên cứu:

Nghiên cứu từ góc độ Triết học, Tôn giáo học để làm rõ vị trí, nội dung của những tư tưởng đạo đức Tam giáo, hay của từng giáo phân tích vai trò và ảnh hưởng của một số nội dung cơ bản đối với sự hình thành và phát triển tư tưởng đạo đức của Lê Thánh Tông và chỉ ra ý nghĩa của việc tiếp biến những

tư tưởng ấy đối với việc xây dựng nền đạo đức xã hội con người Việt nam hiện nay

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện mục đích trên, luận văn có ba nhiệm vụ :

- Làm rõ nội dung cơ bản của tư tưởng đạo đức Tam giáo, đặc điểm sự

du nhập và ảnh hưởng của chúng vào Việt Nam đến trước thời Lê Thánh Tông

- Phân tích làm rõ những ảnh hưởng quan niệm Tam giáo đối với tư tưởng đạo đức của Lê Thánh Tông ở một số nội dung cơ bản

- Chỉ ra ý nghĩa sự vận chúng vào việc xây dựng nền đạo đức con ười Việt nam thời kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước từ góc độ chuyên ngành Triết học, Tôn giáo học

ng-3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Trang 9

Từ góc độ Triết học, Tôn giáo học tìm hiểu ảnh hưởng của quan niệm Tam giáo đến tư tưởng đạo đức của Lê Thánh Tông và ý nghĩa của nó đối với việc xây dựng đạo đức xã hội con người Việt Nam hiện nay

3.2 Phạm vi nghiên cứu :

Từ góc độ Triết học, Tôn giáo học

Nghiên cứu một số nội dung cơ bản của quan niệm đạo đức Tam giáo

và những ảnh hưởng của nó đối với tư tưởng đạo đức chính trị của Lê Thánh Tông chủ yếu qua thơ văn của ông và ý nghĩa của nó đối với việc xây dựng đạo đức xã hội con người Việt Nam hiện nay

4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

4.1 Cơ sở lý luận

Luận văn được xây dựng trên cơ sở vận dụng các nguyên lý, quan điểm chủ nghĩa Mác như: Quan điểm duy vật biện chứng, duy vật lịch sử Cơ sở lý luận của luận văn còn dựa trên tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng

và Nhà nước ta về Tôn giáo, kế thừa biện chứng các giá trị truyền thống của dân tộc

4.2 Phương pháp nghiên cứu:

Luận văn kết hợp giữa việc sử dụng phương pháp chung của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, chủ yếu sử dụng phương pháp lôgic và lịch sử, phân tích, tổng hợp, đối chiếu và so sánh với việc sử dụng một số phương pháp liên ngành Triết học, Tôn giáo học, Triết học văn hoá

5 Đóng góp của luận văn

- Từ góc độ Triết học, Tôn giáo học luận văn làm sáng tỏ thêm về cơ sở hình thành giá trị, nội dung tư tưởng đạo đức của Tam giáo và ảnh hưởng của chúng tại Việt Nam

- Phân tích làm sáng tỏ một số nội dung cơ bản ảnh hưởng Tam giáo đến tư tưởng đạo đức Lê Thánh Tông, giá trị sự tiếp nhận ảnh hưởng của tư

Trang 10

tưởng đạo đức Tam giáo ở Lê Thánh Tông và sự vận dụng những tư tưởng đó trong việc xây dựng đạo đức xã hội con người Việt Nam hiện nay

6 Ý nghĩa của luận văn

Ý nghĩa lý luận: Góp phần tìm hiểu về những ảnh hưởng của tư tưởng đạo đức của Tam giáo ở Lê Thánh Tông và ý nghĩa của nó trong việc xây dựng đạo đức xã hội con người Việt Nam hiện nay

Ý nghĩa thực tiễn: Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu và giảng dạy Triết học, Tôn giáo học

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và mục lục, nội dung chính của luận văn gồm 2 chương 5 tiết

Trang 11

Chương I

SỰ DU NHẬP VÀ PHÁT TRIỂN TAM GIÁO TẠI VIỆT NAM ĐẾN TRƯỚC

THỜI LÊ THÁNH TÔNG 1.1 Sự du nhập Tam giáo từ Trung Quốc vào Việt Nam đến trước thời Lê Thánh Tông

Lịch sử tư tưởng Việt Nam có hai giai đoạn Từ khi nước ta tiếp xúc với Phương Tây, du nhập tư tưởng phương Tây tức là giữa thế kỷ XIX cho đến nay, đó là thời đại mới, tư tưởng Việt Nam tiếp cận và hòa vào dòng tư tưởng đồng đại của thế giới

Đối với giai đoạn mới nghiên cứu vấn đề nội dung tư tưởng tương đối thuận lợi Đó là nội dung đối tượng và phương pháp chung tương tự như khi nghiên cứu tư tưởng triết học cận hiện đại của các nước Nhưng với giai đoạn trước đây thì công việc phức tạp hơn Nghiên cứu tư tưởng Lê Thánh Tông ở thời kỳ này cũng đặt ra rất nhiều vấn đề nhưng không giống cách ở Phương tây, nơi đã cung cấp cơ sở để hình thành phương pháp nghiên cứu hiện đại mà chúng ta đã sử dụng phổ biến

Cần chú ý, trong Bắc Thuộc và thời gian Phong kiến độc lập đến trước

Lê Thánh Tông dài ước tính từ thế kỷ II sau công nguyên cho đến thế kỷ XV, nước ta có sự tiếp biến hỗn dung của Tam giáo, du nhập từ Trung Quốc vào Tam giáo Nho, Phật, Đạo có thay thế nhau giữ vai trò quan trọng nhưng thực

tế đời sống là cả ba có kết hợp với nhau, thẩm thấu vào nhau, chia phạm vi với nhau, chi phối đời sống tinh thần của nhân dân ta Bên cạnh Tam giáo còn

là sự song song tồn tại của cách suy nghĩ dân gian để dấu vết lại trong các truyện kể và kết tinh trong tục ngữ, ca dao… Cũng cần nói đến ảnh hưởng khác nữa của các học thuyết âm dương, Ngũ hành, cách phân tích thời, thế

…Chúng cũng là những tư tưởng du nhập chủ yếu từ Trung quốc và cũng tồn tại không hoàn toàn độc lập với Tam giáo, các dòng đan xen tư tưởng đó ảnh hưởng lớn đến các tư tưởng tri thức chính trị và đạo đức, cách suy nghĩ, tính toán trong cuộc sống, sự kết hợp uyển chuyển giữa Nho, Phật, Đạo, giữa Tam

Trang 12

giáo với cách suy nghĩ tính dân gian, giữa những thứ đó với Âm dương, Ngũ hành, để tổng hợp chung nhất thành quan niệm người Việt Nam về thế giới, quan niệm về con người, cuộc sống, quan niệm sự vận động, sự đổi thay lịch

sử … Sự hỗn dung đó mới đúng là cách tư duy Việt Nam mà rõ ràng Lê Thánh Tông cũng không ngoại lệ này

Bởi vậy tư tưởng Lê Thánh Tông Việt Nam không chỉ là cái “thổ sản”

“thuần Việt”, mà còn tiếp biến nhiều cái từ ngoài đến, có khi được cải tạo, có khi để nguyên dạng, nhưng đều được sắp xếp theo một cách nào đó hay sử dụng theo một cách nào đó, cái này mới là mấu chốt của bản lĩnh Việt Nam

và ưu nhược điểm của cái này mới là cái chi phối sâu xa tư duy Việt Nam nói chung, tư duy Lê Thánh Tông nói riêng

Nho giáo từ thế kỷ II về sau dần dần ảnh hưởng chủ đạo đều từ Trung Quốc truyền vào nước ta, Nho giáo được truyền bá với sự xâm lược quân sự

từ đời Hán, với chính quyền Phương Bắc đô hộ hàng ngàn năm và với những lớp người Hán tỵ lạn sang Giao Châu, mảnh đất lúc ấy yên ổn hơn nội địa Song những người Hán quan lại hay không phải quan lại đã mang đến đây cả Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo Riêng đối với Phật giáo thì tình hình du nhập có khác một chút Nằm trên con đường biển từ Ấn Độ sang phương Đông Nam và Trung Quốc, vùng ven biển nước ta đã Cuối đời Hán, Luy lâu (Thuận Thành - Hà Bắc) đã là một trung tâm Phật giáo thịnh vượng Các nhà nghiên cứu đã chứng minh trung tâm Luy Lâu còn ra đời trước cả trung tâm Bành Thành và Lạc Dương ở Trung Quốc, và về đường biển có phần thì Phật giáo từ Việt Nam mà vào Trung quốc, thế nhưng đối với chính quyền và lớp trí thức thượng lưu thuộc người Hán vào mấy thế kỷ sau thì Phật giáo ở đây cũng đã phát triển theo ảnh hưởng Phật giáo từ Trung Quốc Ở Trung Quốc từ Hán Võ Đế đã tìm ra phương thức Nho Pháp tĩnh dụng cho việc trị nước, bảo

vệ chế độ chuyên chế Tư tưởng, học thuật Tôn giáo ở Trung Quốc trong tình hình đó về sau cũng phát triển theo xu hướng dung hợp Phật, Đạo, Hoàng Lão- âm dương - ngũ hành với Nho giáo Tuy về sau ở Trung Quốc Nho giáo

Trang 13

được tôn làm quốc giáo, cũng đến đấy từ Hán, mới có điều kiện để tiến hành việc tổng hợp hệ thống hóa: xác định thành phần kinh điển, xác định văn bản

và giải thích chính thức các luận điểm Gói hành lý tinh thần mà các nhà trí thức Trung Quốc mang vào vùng đất mới Giao Châu cũng là hỗn tạp như vậy Nhưng liệu những thứ đó truyền bá được đến mức nào trong xứ sở Phương Nam còn cư dân vốn giữ nguyên tổ chức công xã làng quê với những phong tục, tín ngưỡng của mình ? Và nền học thuật Hán hoá đó quan hệ như thế nào với Phật giáo từ Ấn Độ đã có thời gian du nhập trước để bám rễ vào nhân dân? Nên điều đáng chú ý là Nho giáo tuy vào sớm và chắc chắn được bộ máy thống trị ưu tiên truyền bá - chứng cớ là những điều sử sách ghi chép về

sự nghiên cứu của Nhâm Diến, Tích quang, Sỹ Nhiếp thế nhưng trong thực tế thì nó phát triển chậm, chậm so với Phật giáo và Đạo giáo Qua Ngô, Đinh, Tiền Lê, mãi đến thế kỷ XI, nhà Lý mới xây dựng Văn Miếu, tổ chức thi cử Tam giáo Tuy vậy, các Vua nhà Lý và cả nhà Trần nữa, vẫn tìm chỗ dựa chính ở Phật giáo Từ thế kỷ XV với nhà Lê sơ Nho giáo trở thành độc tôn, chi phối mọi mặt hoạt động, độc tôn là nói Nho giáo trong khoa cử thay Phật giáo, nhà Nho thay nhà sư trong đời sống chính trị nhà nước, còn thực tế trong xã hội thì Phật giáo, Đạo giáo vẫn còn ảnh hưởng rộng rãi trong nhân dân và cả trong tư tưởng Vua quan, nhất là tư tưởng đạo đức

Tại Trung Quốc Nho giáo vốn không phải thuần nhất, có hệ thống chặt chẽ, do yêu cầu thực tiễn càng về sau, khi đồng chức năng ý thức hệ và Tôn giáo chính thống, để giải đáp nhiều vấn đề thực tế và ứng phó với các học thuyết khác (nhất là Phật giáo) Nho giáo lại càng phải vay mượn, dung hợp nhiều thứ hơn Nhà Nho, nhất là nhà Nho từ Đường Tống về sau, càng ít thuần nhất; trong tư tưởng của họ hội cả thành phần âm dương, Lão Trang, Phật thường là không nhỏ, thứ Nho giáo thời lê được truyền bá vào và có ảnh hưởng nhiều ở Việt Nam sau Minh là thứ Nho giáo hậu kỳ- Sau Tiên Tần, Hán-Tống Nho- Minh Nho Trong lịch sử Nho giáo ở Trung quốc từ thời Xuân thu, Chiến quốc cho đến trước Tần- Hán việc học tập kinh điển tiến

Trang 14

hành theo lối sư truyền trực tiếp, ảnh hưởng khá rộng rãi Sau nạn đốt sách của nhà Tần, triều đình nhà Hán mới sưu tập kinh điển, đặt các chức Bác sỹ ngũ kinh để giảng dạy và tiến hành với quy mô lớn và lâu dài việc xác định thành phần kinh điển, văn bản và nội dung kinh điển Đến đời Hán Linh đế (Hy bình năm thứ 4) mới chọn định bản khắc vào bia, đá dựng trước nhà Thái học Qua một thời gian loạn ly dài, nhất là do tình hình phân tranh Nam Bắc

từ thế kỷ II đến thế kỷ VII, các luận giải kinh điển Nho học ý kiến đã trở thành rất phân tán Đường Thái Tông lại sai Khổng Dĩnh Đạt cùng một số ng-ười khác soạn Ngũ kinh chính nghĩa để thống nhất kinh điển một lần nữa Từ Hàn Dũ (768 - 824) đời Đường đến đời Tống có một xu hướng khôi phục lại, tổng hợp mới Nho, Phật, Đạo để Nho giáo đủ sức đối lập với Phật giáo và Đạo giáo phát huy vai trò ý thức hệ và phát triển cùng với ý nghĩa là Tôn giáo kết tinh lại thành học thuyết Tống Nho với các tên tuổi nổi bật là Chu Hy (1130 - 1200) và Trình Hạo, Trình Di Về mặt lịch sử tư tưởng, ở đời Tống, Trình- Chu không phải là phái duy nhất, cũng không phải là phái tiến bộ nhất, nhưng đáng nói là ảnh hưởng của phái đó ngay từ đời Nguyên, ở Phương Nam đã rất lớn Đến đời Minh mà dòng họ trị vì là con cháu Chu Hy, thì các giải thích kinh điển của Chu Hy được coi là chính thống Năm 1414 Minh Thành Tổ giao cho Hồ Quảng biên soạn Tính Lý đại toàn, trình bày học thuyết Lý học một cách hệ thống Tống Nho

Trong lịch sử tư tưởng nước ta thời Bắc Thuộc thứ Nho giáo thời Hán, đời Đường chắc cũng vào nước ta nhưng ảnh hưởng chỉ hạn chế trong đám người Hán di cư Còn Tống nho thì do sự tiếp xúc khá mật thiết của nước ta dưới thời Lý-Trần với phương Nam Trung Quốc, do sự đô hộ của nhà Minh, nên ảnh hưởng từ đấy nhanh chóng và rộng rãi hơn “Đại Việt sử ký toàn thư

” chép: “ Năm Kỷ hợi (1419) Mùa xuân, tháng hai Nhà Minh sai giám sinh Đường Nghĩa sang ban các sách Ngũ kinh, Tứ thư, Tính lý đại toàn, Vi thiện

âm chất, hiếu thuận sự thực cho Nho học các phủ, châu, huyện Đến năm

1435 nhân có phái đoàn sang chúc mừng vua Minh lên ngôi, vua Nhà Minh

Trang 15

lại ban sách Tứ thư đại toàn mới in xong Cũng cần nhắc đến quy định khoa

cử trong chiếu định khoa thi của Lê Thái Tông năm 1434 có quy định môn thi

“kỳ thi thứ nhất một bài kinh nghĩa, Tứ thư mỗi sách một bài” Việc tách hai thiên Trung dung, Đại học trong Lễ ký thành sách, phân chương mục, chú thích và đưa hai quyển đó vào Kinh điển như Ngũ kinh là việc làm của Trình

Di và Chu Hy Đến đời Nguyên Nhân Tông (1312 - 1320) thì sách Tứ thư thành kinh điển dùng cho việc thi cử Ở nước ta từ năm 1396 cũng bắt đầu

“theo phép thi của nhà Nguyên”cũng cần nhắc là trước đó đời Trần Chu văn

An đã soạn Tứ thư thuyết ước Từ đó cho đến thế kỷ XV uy tín của Trình Chu trong việc giải thích kinh điển là tuyệt đối trong quy định khoa cử của nhà Lê

sơ và được cố gắng duy trì về sau

Cần chú ý tuy rằng Nho giáo được độc tôn không có nghĩa là Phật giáo,

tư tưởng lão Trang và Đạo giáo bị phủ định hoàn toàn, chính ngay về mặt nội dung từ Hán nho đến Tống Nho, Minh Nho là một quá trình hỗn dung Tống nho là một hệ thống hỗn hợp Nho Phật Đạo Tại Việt Nam tuy có sự khác biệt

về mặt vai trò trong đời sống tinh thần xã hội hầu như đã thành sự thỏa thuận ngầm với nhau giữa Tam giáo về một sự “phân công” phân lĩnh vực vùng ảnh hưởng Từ thời Lê sơ, Nho giáo được nhà nước đề cao ở Triều đình có vai trò cốt yếu dành toàn quyền trong việc học hành thi cử - với ý nghĩa đào tạo nhân tài cho bộ máy hành chính nhà nước quan liêu phong kiến Nhưng trong các địa hạt khác như tâm linh đạo đức xã hội, văn học, nghệ thuật, tín ngưỡng tâm linh … Tam giáo song song tồn tại Vẫn còn có những địa hạt, có những địa phương Nho giáo không phải là có thế lực nhất Trong một con người - kể

cả nhà Vua như Lê Thánh Tông - về mặt chính trị, ông chịu sự chi phối chủ đạo của tư tưởng Nho giáo, nhưng về mặt tâm linh, đạo đức, tín ngưỡng, lối sống … nhiều khi ông chịu ảnh hưởng tổng hợp Nho- Phật - Đạo và tín ngưỡng bản địa

Điều cần đặc biệt lưu ý là từ khi các triều đại giành được độc lập, chấm dứt sự đô hộ của phong kiến Trung Quốc, thì cũng không thể “tự do” xóa bỏ

Trang 16

những tổ chức, thể chế đã hình thành mẫu số chung của khu vực qua hàng ngàn năm Bắc Thuộc Các triều đại Lý- Trần -Lê đều đã kế thừa và bắt chước cách tổ chức chính quyền Nhà nước đáp ứng yêu cầu giữ vững chủ quyền độc lập, xây dựng và bảo vệ đất nước cùng với chế độ chọn người bằng khoa cử Nho học theo kiểu Trung Quốc Ở Triều đình Nho giáo tỏ ra thích dụng với

mô hình tổ chức nhà nước trung ương tập quyền cao độ Song Xã hội Việt Nam vẫn tiếp tục bảo lưu các tế bào cơ sở là cộng đồng làng xã tự trị, tôn tộc thì tuy trong hệ tư tưởng chính trị thì càng ngày Nho giáo tỏ ra có ưu thế nhất, thích hợp nhất Nho giáo giúp các triều đại đó nhất là ở thời Lê Thánh Tông củng cố sự thống trị mà cũng giúp nó củng cố sự thống nhất Đất nước Các vị Minh quân và cả những nhà yêu nước lớn như Chu Văn An, Nguyễn Trãi đều rất chăm lo, phát triển Nho giáo học, xây dựng Tư văn, tổ chức học hành thi cử, lo biên soạn quốc sử, khuyến khích đạo lý Nho học … đều theo lời khuyên của thánh hiền, đều theo trị đạo của Nho giáo Việc phát triển Nho học ngày một rõ nét thời Lê Thánh Tông, đưa nhà Nho vào chính trường cầm quyền thay thế nhà sư và quý tộc, kéo dài từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XV, cho

ta thấy xu hướng ảnh hưởng chung ngày một đậm Nho Hán nho, Tống nho

Từ khi độc lập về tư tưởng thực tế học hỏi tiếp biến Tam giáo không chỉ là xu thế ở việc Phật giáo Thiền tông Trung Quốc thay cho Phật giáo chịu ảnh hưởng Ấn Độ, mà còn ở việc Hán Tống Nho có ảnh hưởng càng ngày càng sâu rộng trong thời độc lập mà còn cả ở việc sau này xu thế tông phái Lâm tế của Phật giáo Trung Quốc được truyền bá phổ biến cả ở Bắc Hà và Nam Hà vào quãng thế kỷ XVII thay vào thiền phái Trúc Lâm, từ thế kỷ XV Ở đây Việt Nam trong lịch sử đã có một sự chuyển vùng về ảnh hưởng văn hoá và Đông Nam Á sang Đông Á, Lúc đầu bị cưỡng bức do xâm lược Trung Quốc chiếm được vùng đất Châu Thổ Sông Hồng miền Bắc nước ta, biến nó thành quận, huyện, nội thuộc là tách nó ra khỏi thế phát triển của vùng Đông Nam

Á Người Việt chống lại để giữ gìn bản sắc độc lập của văn hoá dân tộc trong hàng ngàn năm chính quyền đô hộ xúc tiến quá trình Hán hoá Nhưng khi đã

Trang 17

dành được độc lập, các triều đại, kể cả chính quyền thịnh trị nhất là thời Lê Thánh Tông để đủ sức mạnh giữ vững nền độc lập đó đã chủ động tiếp biến Tam giáo, cũng tiếp tục con đường tiếp biến Tam giáo Hán hoá đó Đó là vì quyền lợi của giai cấp thống trị nhưng cũng là để xây dựng bảo vệ độc lập và phát triển dân tộc Tuy nhiên xét đến sâu xa hệ quả tất nhiên không chỉ có một mặt ảnh hưởng tích cực, tuy chính quyền ra sức xúc tiến sự thống nhất toàn diện nhưng trong một đất nước tuy đã thống nhất về lãnh thổ, về ngôn ngữ, về lịch sử - tức là đã có sự hình thành dân tộc về cơ bản - mà sự giao lưu giữa các vùng rất bị hạn chế và chưa có nhiều ý nghĩa kinh tế, trong điều kiện cơ cấu bảo tồn tổ chức xã hội làng, xã khép kín, sống bằng nền kinh tế nhỏ nông nghiệp và thủ công nghiệp tự túc, thoả mãn nhu cầu trao đổi hàng hoá ở các chợ nhỏ địa phương; trong điều kiện sự gia nhập của các vùng mới vào đời sống dân tộc trên quá trình Nam Tiến xảy ra vào những thời điểm xa nhau thì cần thấy có những khác biệt vùng, có thể nói thực tế Hán hoá, ảnh hưởng Tam giáo dù là Nho giáo hay Phật giáo hay Đạo giáo đậm nhạt rất khác nhau qua các thời kỳ các vùng, ngay thời Lê Thánh Tông cũng vậy Cần chú ý thêm có thể nói trong đời sống chung của cả đất nước thì vẫn bảo tồn đựợc sắc thái văn hoá Đông Nam Á vẫn là nền tảng, nhiều khi các yếu tố Hán tuy có vào, thậm chí là vào lâu, vẫn không phá vỡ được mà phủ một lớp cơ cấu bên ngoài Thời Lê Thánh Tông điều đó còn thấy rất rõ ở các vùng trước đây không được coi là "Đất văn vật" Nhìn nhận rõ sự phá vỡ không nổi sắc thái bản địa đó là cơ sở cho một số người nói quá trình phát triển lịch sử ở Việt Nam còn là quá trình giải Hán hoá hay nói trong tư tưởng Việt Nam ảnh hưởng Nho giáo chỉ là cái vỏ, cái áo khoác ngoài Chúng tôi thấy rằng không chỉ thừa nhận một trong hai ý kiến trái ngược đó và không thể không bàn vấn

đề này trên bình diện văn hoá một cách rộng và tổng quát hơn ở một điều kiện khác.Vấn đề mà luận văn tập trung bàn ở đây hay đối tượng xem xét ở đây là ảnh hưởng Tam giáo đến tư tưởng đạo đức Lê Thánh Tông - và tư tưởng của ông, không phải hiểu theo nghĩa là tổng số các thành tựu về tư duy, tổng cộng

Trang 18

các tư tưởng về kinh tế, chính trị, văn hoá, quân sự, khoa học … Mà tư tưởng luận văn chú ý nghiên cứu khái quát đi đến là tư tưởng đạo đức chính trị ở đời Lê mà cụ thể là Lê Thánh Tông Ở đây Lê Thánh Tông là một ông Vua sáng đại diện cho quyền lực tối cao thời thịnh trị là đại diện giai cấp cầm quyền, những lớp người trí thức, những vùng văn vật có vị trí chi phối là đại diện của thời Lê qua quá trình tiếp biến chủ động Tam giáo Hán hoá Hán hoá

về tư tưởng thực ra không đơn giản chỉ là khoác áo Nho giáo hay Tam giáo ra ngoài cái nội dung tư tưởng bản địa hay nhét cái nội dung tư tưởng bản địa vào cái vỏ Tam giáo dùng vỏ khái niệm các học thuyết Tam giáo phủ ra ngoài cái nội dung tư tưởng bản địa hay lồng với cách nhìn nhận xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của sự nghiệp xây dựng chế độ phong kiến trong thời đại đó, ở đây Chúng ta một mặt không nên coi thường “khả năng đồng hoá”, khả năng thích ứng, khả năng liên kết - nhiều khi là bằng cách lồng nội dung của nó hay

kể cả khoác cái áo của người khác - của chính học thuyết Nho giáo, thứ học thuyết có cách hấp thu các loại hình tư tưởng kiểu đồng hoá hoà hợp điển hình của văn hoá Trung Quốc, Thế nhưng vào Việt Nam vấn đề tồn tại một hệ

tư tưởng cũng đã phải phát triển đạt đến một mức cao nhất định cái bản địa đó mới có đủ sức hấp thu chọn lọc quy tụ Tam giáo và chi phối mọi mặt hoạt động, mà trước khi tiếp nhận nguồn vật liệu mới thì nó chưa phát triển theo hướng như vậy Có những nội dung Phật, Đạo Giáo Lê Thánh Tông chưa chú trọng, có những địa hạt ông ít quan tâm Vì vậy về sau Phật giáo, Đạo giáo còn có cơ hội vẫn từ Trung Quốc tiếp tục được tiếp biến

Nhìn chung ảnh hưởng Tam giáo Nho, Phật, Đạo tại Việt Nam thời Lê Thánh Tông đã thành một xu thế Tam giáo chung một thực tế lâu dài trong lịch sử Xu thế, thực tế mặt tích cực đó làm cho nước ta cũng được phát triển

và cũng như Trung Quốc nhưng chắc chắn mặt tiêu cực ở những thế kỷ sau sẽ vào bế tắc tình trạng trì trệ Phi Hán hoá không phải đã là một xu thế luôn mạnh mẽ trong quá khứ đang trở thành là một yêu cầu cần thiết của ngày nay

Trang 19

đòi hỏi tự ý thức, tự phê phán để giải phóng tư tưởng, để hiện đại hoá đất nước tiến nhanh hội nhập để phát triển vững chắc

Trong lịch sử các nước, hiện tượng du nhập các hệ tư tưởng từ ngoài vào phổ biến hơn nhiều cùng với hiện tượng biệt lập phát sinh ở bản địa Ngay cả ở các nước có thể tự hào là có nền triết học phát triển cao cũng thường bắt đầu bằng việc mở cửa du nhập tư tưởng từ ngoài vào rồi sau đó mới phát triển nền triết học của mình qua một cuộc cách mạng tư tưởng để có thể phát triển thành hệ tư tưởng triết học phải tiếp biến tư tưởng mới trải qua

sự phủ định biện chứng các lý luận hệ tư tưởng cũ Khi ấy đã có một bước nhảy vọt mới trong tư duy Bước phát triển mới về chất như thế nhất định cần

có những yêu cầu và điều kiện thực tế mới, những điều kiện cho phép nhìn ra

sự phi lý của cách nhìn thế giới cũ, những nhu cầu vươn lên trở lực lớn trên con đường phát triển nhận thức Ở đây Việt Nam trong quá trình tiếp xúc văn hoá đã tiếp nhận được những phát kiến vang đội về khoa học có vai trò cực

kỳ quan trọng Và tất nhiên là phải có người, có lớp trí thức đủ năng lực làm chủ được trí thức “ mới” của thời đại, có người đủ điều kiện vật chất và tinh thần đảm đương nhiệm vụ khái quát tổng kết lịch sử đó Trong lịch sử nước ta không phải không có những lúc có biến động lớn, gặp trở lực lớn, nhưng vươn lên có những thời đại rực rỡ, mở ra viễn cảnh huy hoàng, chắp cánh cho

tư duy con người, những thời đại đó thường là thừa kế phát huy hào khí thắng lợi chống ngoại xâm, như sau các chiến thắng oanh liệt của Ngô Quyền, Lê Hoàn xoá bỏ tình trạng Bắc thuộc, chiến thắng oanh liệt đời Lý- Trần- đời Lê cũng vậy, … Đó là những thời đại tinh hoa dân tộc phát triển đến cao độ không những dốc hết vào đấu tranh quân sự mà còn phải xây dựng phát triển văn hoá để giữ vững độc lập, thắng lợi huy hoàng đã chắp cánh cho thơ ca, cho nghệ thuật nhưng mặt khác nếu không lại tạo được những điều kiện thực

tế cho việc “ vựợt bậc” thì sự trì trệ là khó tránh khỏi mà quan trọng hàng đầu

là giữ gìn sự ổn định, sự nhất định đề phòng giặc ngoại xâm lược, với một thể chế mà làng xã là thành luỹ, với một nền sản xuất mà năng suất dựa vào kinh

Trang 20

nghiệm, sự cần cù, bàn tay khéo léo thì kỹ thuật không đòi hỏi nhiều phát minh khoa học, nhưng không có nghĩa thực tiễn không cần nhiều lý luận, không có lý luận thì khó có sự nhảy vọt về chất mới

Đến thế kỷ XV trong lịch sử tư tưởng Việt Nam đã có thời kỳ tiếp biến Phật giáo từ Ấn Độ và sau đó Nho, Phật, Đạo từ Trung Quốc, nhưng không trải qua cuộc tranh chấp tư tưởng kịch liệt nào Tâm thức Việt Nam không cuồng tín để dẫn đến đổ máu tranh chấp tư tưởng Tôn giáo Nếu đội ngũ trí thức trước thế kỷ XIV là những nhà Sư và sang thế kỷ XV là nhà Nho không

để lại cho chúng ta một di sản triết học to lớn thì ta cũng không nên trách cứ

họ, chưa thoát ràng buộc xã hội nguyên thủy thì người Việt đã gặp ngay nạn xâm lăng từ phương Bắc và nạn ngoại xâm đe doạ thường trực suốt trang lịch

sử Hoàn cảnh khắc nghiệt buộc người Việt lựa chọn thích ứng tiếp nhận chọn lựa, lọc bỏ cha ông chúng ta quan tâm đến nhiều vấn đề đạo đức trong Tam giáo chúng dạy chúng ta cách ứng dụng nhanh chóng cái học được để cố kết tăng cường nội lực ứng phó, nhằm vận dụng linh hoạt vào mục đích thực tế, chúng ta đã tiếp biến lựa chọn những cái đã có sẵn, chấp nhận tổ chức, sắp xếp lại nó cho gọn nhẹ , nhưng lại biết cách sử dụng chúng cho hữu ích không gây ra chống đối Đối với thực tế mà “nhu cầu lý luận” đặt ra chỉ như vậy kho Kinh, Tạng của Tam giáo là quá phong phú, thậm chí là quá mênh mông, ít ai

có điều kiện học đủ Những trường hợp như Nguyễn Trãi thừa hưởng gia tài sách vở của ông ngoại, một học giả quý tộc làm Tể tướng từ đời Trần, tiếp xúc rộng rãi, hay như Vua Lê Thánh Tông là rất hiếm Đại đa số người học chỉ học đủ kinh, sử để đi thi Đối với họ sách Tính Lý Đại toàn do Chu Hy soạn còn là quá rườm rà nên phải làm Thuyết ước, phải làm Toản yếu - những bản tóm tắt - cho dễ học Trong lịch sử học thuật của ta ít có những nhà kinh học chuyên để cả cuộc đời tra cứu, biện bác làm sáng tỏ nghĩa kinh điển, mà cũng ít có những nhà tư tưởng nhìn tổng quát cả học thuật quá khứ để phê phán, đề xuất kiến giải riêng Những người lỗi lạc như Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông có tinh thần tự hào dân tộc đều muốn phát triển tư văn ở Việt

Trang 21

Nam bằng cách chọn lọc các yếu tố phù hợp với điều kiện Việt Nam để đi theo và tiến kịp không thua Trung Quốc chứ không phải chú trọng nhiều vào phê phán thế giới quan, phê phán nó Trên tinh thần dân tộc Việt Nam đó những nhà sử học viết quốc sử Lê Văn Hưu, như Ngô Sĩ Liên sao cho giống Thông giám Cương mục, những nhà thơ nhà văn viết cho hay được như Lý,

Đỗ, Âu, Tô Những cái gọi là phương kỹ như nghề làm thuốc, bói toán, địa lý, thiên văn … cũng là học kết hợp theo sách Tàu và kết hợp làm theo kinh nghiệm bản địa nhưng giải thích theo Âm dương, ngũ hành và thực tiễn Việt Nam, đặc điểm này cũng thể hiện ở tư tưởng Lê Thánh Tông rất rõ nhất là ở quan niệm đạo đức

Như vậy có một hệ tư tưởng tồn tại trong lịch sử Việt Nam nhưng không nhất thiết tách biệt lập với cách nghĩ Trung Quốc Nhà Vua Lê Thánh Tông có ý thức rõ ràng về dân tộc và thực tế dân tộc của mình, cởi mở, tiếp nhận cái khác từ Ấn Độ, Trung Quốc bắt chước và biết ứng dụng linh hoạt cho dân tộc mình Cho nên ông đã chuyển hướng từ ảnh hưởng văn hoá Đông Nam Á sang văn hoá Đông Á, đã vay mượn rất nhiều ở tư tưởng Nho, Phật, Đạo Trung Quốc nhưng ở đâu cũng có sự lược bỏ, lược bỏ những chỗ khắt khe, tế toái Lê Thánh Tông lược bỏ cũng có nghĩa là đơn giản hoá, sơ lược hoá, thế nhưng làm như thế mà giảm bớt đi được những cái tế toái, cứng nhắc, những cái trái tự nhiên, trái nhân đạo, vốn có nhiều trong cách giải thích kinh điển Nho, Phật, Đạo Trung Quốc thì không phải là dở Đặc điểm tư duy chú trọng sự linh hoạt các tương quan, không biết nên giải thích là do ảnh hưởng

từ tinh thần trung dung của Nho giáo, tinh thần nhu đạo, bất tranh của Lão Trang, tinh thần phá chấp khế lý khế cơ hỉ xả, từ bi của Phật hay chỉ là tập quán chín bỏ làm mười của lối sống tiểu nông bản địa Tất nhiên đó còn là điểm hạn chế lớn cho cách tư duy chính xác, hệ thống, nhất quán cần thiết để tìm chân lý, để có tư duy khoa học, triết học Nhưng trong điều kiện thế kỷ

XV, hoàn cảnh căng thẳng thì tư tưởng Lê Thánh Tông đặc biệt với điểm linh

Trang 22

hoạt, coi trọng khía cạnh tương quan, đạo đức như vậy thường lại có hiệu quả

và rất phù hợp với Việt Nam Đó là điểm chúng tôi nhấn mạnh

Ngay cả ở Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông đều là những đại diện tiêu biểu cũng lộ ra cách tư duy Việt Nam, có cả ưu điểm và nhược điểm

Tìm hiểu các nội dung tư tưởng ảnh hưởng Nho, Phật, Đạo ở Lê Thánh Tông sẽ gặp rất nhiều khó khăn, khó khăn vì chúng ta thiếu tư liệu, khó khăn

vì Di thảo không thuần nhất còn rất là phức tạp Trong tình hình như vậy chúng ta rất dễ phạm sai lầm trong xử lý Di thảo Lê Thánh Tông, hoặc là chúng ta đưa vào nhiều tư liệu cái không phải của Lê Thánh Tông mà là của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm… thậm chí của đời sau nữa, của truyền thuyết dân gian, hoặc là chúng ta đưa vào những cái của tư tưởng Trung Quốc làm lẫn lộn tư tưởng Lê Thánh Tông, làm sai lạc diện mạo, thực chất tư tưởng của ông …

Trong lịch sử của Việt Nam có hiện tượng sự phát triển các phương thức sản xuất qua các giai đoạn không đầy đủ, không thay thế nhau bằng cách cái sau phủ định triệt để cái trước Trong thực tế vẫn còn những tàn dư của xã hội nguyên thuỷ (như ruộng công làng xã), của một chế độ nô lệ không điển hình (như nô tì công và tư), của một chế độ phong kiến phân tán chưa thành hình (như các hào trưởng, hào cường), một chế độ phong kiến tập trung tập quyền chính trị quá sớm nhưng không trọn vẹn vì thiếu kinh tế đô thị, tồn tại song song, đan chéo vào nhau một dạng trầm tích phức hợp phức thể Cho đến thế kỷ XV điều này còn rõ nét, cho nên trong tư tưởng Lê Thánh Tông cũng có dạng kế thừa hỗn dung trầm tích như vậy Nhưng nước ta lại sớm thống nhất, thống nhất dưới hình thức quận, huyện của chính quyền đô hộ rồi đến thế kỷ X thống nhất thành quốc gia độc lập tạo ra điều kiện để thế kỷ XV dân tộc hình thành sớm Cho nên tất yếu xuất hiện nhu cầu xây dựng dân tộc

ý thức hệ cũng có dạng hợp nhất Từ thời Lê sơ đã đến lúc thực hiện thống nhất ý thức hệ, Lê Thánh Tông đã làm sự thống nhất ở đây được thực hiện bằng cách kết hợp tư tưởng yêu nước với tư tưởng Tam giáo và các yếu tố

Trang 23

khác Đó là một mô hình phức hợp, có thể nhìn nó như một khối mà không phải hoàn toàn là một chỉnh thể, liên hệ hữu cơ với nhau Theo sự khảo sát thực tế thơ văn và tư liệu Lê Thánh Tông, chúng ta có thể hình dung trong mô hình phức hợp các thành tố kể trên không chồng chất lộn xộn mà liên kết nhiều cấp, quanh cốt lõi là Nho giáo Sự liên kết các yếu tố đó có mức độ chặt chẽ khác nhau qua các giai đoạn cuộc đời Lê Thánh Tông Có cái chỉ là vỏ bọc, có cái được liên kết chặt chẽ, có những cái được liên kết thành khối riêng nằm trong cái toàn bộ Qua nghiên cứu thơ văn Lê Thánh Tông cho ta thấy rằng Nho giáo là bộ phận xương sống của khối liên kết đó Rõ ràng là trong cái toàn thể hệ tư tưởng ở Lê Thánh Tông mà ta hình dung thì Nho giáo là một phần trong nhiều phần, thế nhưng nó là bộ phận then chốt, quy định sự chọn lọc, sự sắp xếp vì nó là học thuyết thống trị, và hơn thế, nó thích hợp với

cơ chế chính trị - kinh tế - xã hội đã phát triển ở thời Lê sơ

Phân tích ảnh hưởng Tam giáo Nho, Phật, Đạo đến tư tưởng Lê Thánh Tông một đại diện tiêu biểu thế kỷ XV thời kỳ rực rỡ của dân tộc, trong tình hình tư liệu chủ yếu là qua tác phẩm văn học, sử học luật học, chúng ta lại càng cần lưu ý tới tình trạng liên kết, thẩm thấu hỗn dung trên Những mặt ảnh hưởng như thiên đạo, trị đạo, cách tu thân, quan niệm sống, quan niệm lịch sử của Lê Thánh Tông là Nho Hán Tống không hoàn toàn tách rời với vũ trụ quan, nhận thức luận của Phật- Đạo bản địa rất khó tách bạch

Tóm lại : Chú trọng đến những đặc điểm tiếp biến Tam giáo tại Việt Nam như vậy, chúng ta mới có thể tìm những phương pháp tiếp cận và giải quyết những vấn đề cụ thể của việc phân tích nghiên cứu ảnh hưởng của đạo Tam giáo trong quan niệm đạo đức của Lê Thánh Tông

* Nho giáo vào Việt Nam trong thời Bắc thuộc, căn bản qua ba thời

kỳ như sau:

- 111 trước công nguyên - 39: các đời Tây Hán và Đông Hán

- 43 -544: Các đời Đông Hán, Tam Quốc,Tấn, Nam Bắc Triều

- 603 - 939: Các đời Tuỳ, Đường, Ngô Quyền

Trang 24

Mười thế kỷ đầu Bắc Thuộc, Nho học Việt Nam chưa thịnh, chưa hình thành tầng lớp Nho sĩ nắm vai trò quan trọng trong xã hội Thành phần tri thức Việt ưu tú bấy giờ là những nhà Tu sỹ, đặc biệt là các Cao Tăng, thông qua việc học chữ Nho để đọc kinh Phật, các Sư Tăng phần nào đó tiếp thu luôn Nho học Thế nên, khi đất nước vừa độc lập, kể từ Ngô (939 - 965), Đinh (968 -979), Lê (980 -1009), trí thức tài đức ra giúp triều đình chủ yếu là các đạo sĩ và thiền sư Nên từ thời Lý Phật giáo phát triển mạnh Một số Thiền Sư

có công dạy các tục gia đệ tử trở thành nhân tài giúp nước, như sư Khánh Vân

và sư Vạn Hạnh lần lượt là thầy dạy Lý Công Uẩn; Sư Trí ở núi Cao Dã là thầy của Thái uý Tô Hiến Thành, Thái Bảo Ngô Hoà Nghĩa …Các Vua Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông đều tiếp thu cả Nho giáo và Phật giáo…

Nho học Việt Nam cũng chủ động phát triển từ đời Lý thế kỷ XI, sang cuối thế kỷ XIV đời Trần thì bắt đầu tham chính, Nho học mở đường xuất thân cho kẻ sĩ thông qua khoa cử, nhờ đó thúc đẩy đội ngũ Nho sĩ, văn học phát triển, văn hoá được nâng cao Không ít tiên Nho Việt Nam là tác gia, đi sâu vào Nho học như Chu Văn An soạn Tứ thư Thuyết Ước Nhưng chiến tranh liên miên thời Minh, sách vở bị cướp, đốt mất quá nhiều thời Lý -Trần -

Hồ, tư tưởng học thuật của tiên Nho Việt Nam hầu như không còn lưu lại nhiều cho đời sau nghiên cứu Đầu Lê sơ Nho học được Lê Lợi, Nguyễn Trãi chú trọng coi làm hệ tư tưởng cho chế độ phong kiến tập quyền, nên nói đến Nho giáo thời Lê sơ, cái nổi bật hình như không phải là tư tưởng triết học, mà lại là văn chương, khoa cử, và vai trò đạo đức nhất là lĩnh vực đạo đức của người cầm quyền, đạo đức chính trị của sĩ phu trong lịch sử

Đầu đời Lê, từ Vua Lê Lợi Lê Thái Tông, Lê Nhân Tông đều đề cao, đặc biệt từ Vua Lê Thánh Tông Nho học rất được chú trọng, được tôn là quốc học, khoa cử thúc đẩy, hình thành tầng lớp nho sĩ trí thức đông đảo Kinh đô

có Quốc tử giám, Thái học viện, Vua Lê Thánh Tông chia nước làm mười ba đạo, hầu hết các đạo ở đồng bằng đều lập trường công, ấn định quy chế thi cử Năm 1463 có chừng 1400 người thi Hội ở Thăng Long; năm 1475 tăng lên

Trang 25

khoảng 3000 thí sinh Từ triều Lê, người thi đậu rất vẻ vang: Có lễ xướng danh, lễ vinh quy, lễ khắc tên tiến sĩ vào bia đá ở Văn Miếu Khoa cử Nho học đề cao Tứ Thư, Ngũ Kinh ảnh hưởng nhiều Tống nho, Minh nho

Nhiều danh nho đời Lê sơ Nguyễn Trãi, Lê Văn Linh, Bùi Cẩm Hồ, Nguyễn Thiên Tích, Nguyễn Trực, Nguyễn Như Đỗ, Lương Thế Vinh, Đỗ Nhuận, Thân Nhân Trung Ảnh hưởng của Nho giáo đến nhiều lĩnh vực do yêu cầu và điều kiện thực tiễn Việt Nam mà lĩnh vực đạo đức, nhất là đạo đức

ở phương diện làm quan, làm vua, làm chính trị, là xu thế nổi bật chịu ảnh hưởng rõ rệt Nho giáo hơn tất cả Trong tư tưởng Lê Thánh Tông cũng thể hiện nổi bật chịu ảnh hưởng của Nho giáo trong quan niệm về đạo đức người làm Vua, người cầm quyền

* Sự du nhập và phát triển Phật giáo tại Việt Nam đến trước thời

Lê Thánh Tông

* Trước thế kỷ III Phật giáo du nhập Việt Nam:

Khi bị nhà Hán xâm lăng, miền đất phía bắc nước Việt Nam nay bị đổi tên là Giao Chỉ Bộ Vào năm 203 (triều Hán Hiến đế), Giao chỉ Bộ Lại bị đổi thành Giao Châu

Phật giáo vào Việt Nam trước tiên bằng đường biển, từ phương Nam lên, do các nhà Sư Ấn Độ theo thuyền buôn Luy Lâu (vùng Dâu, Hà Bắc) có thể là cửa ngõ để từ Việt Nam, các nhà sư, nhà buôn viễn xứ mượn đường đi vào đất Hán

Theo “Thiền uyển truyền đăng tập lục”, Pháp sư Đàm Thiên trong khi đàm đạo với vua Nhà Tuỳ (thế kỷ VI - VII) đã cho biết Giao Châu có đường thông thương với Ấn Độ, nên khi ở Giang Đông (Trung Quốc) đạo Phật hãy còn xa lạ thì tại thủ đô Luy Lâu của Giao Châu đã có trên hai mươi Chùa Phật, hơn năm trăm Nhà Sư, đã biết đến mười lăm bộ kinh

Có bằng chứng cho thấy Phật giáo đã từ Việt Nam vào Trung Quốc trước khi Phật giáo từ Trung Quốc truyền sang Việt Nam Thế kỷ III, Ngô

Trang 26

Tôn Quyền ở Giang Đông đã được sư Khương Tăng Hội từ Giao Châu sang truyền đạo, Tôn Quyền đã cho cất chùa Kiến Sơ vào dịp này

Đại Việt sử ký Toàn thư và Ngô Chí (viết vào thế kỷ IV) chép lại lá thư của một người Hán là Viên Huy, gửi cho Thượng thư Lịch Tuân Úc, năm

207 Thư kể rằng Thái thú Sĩ Tiếp (Sĩ Nhiếp) ở Giao Châu mỗi khi ra đường đều

có các nhà Sư Ấn Độ theo xe, xông trầm đốt hương, đánh chuông khánh, thổi kèn sáo

Do miền Bắc sớm trực tiếp gặp Phật giáo Ấn Độ nên người miền Bắc

có từ Bụt (tục ngữ: Gần chùa gọi Bụt bằng anh; Đi với Bụt mặc cà sa, đi với

ma mặc áo giấy …) Bụt do gốc tiếng Ấn Buđha Sau này tiếp xúc Phật giáo Trung Quốc nên có thêm từ Phật, mượn ở cách người Hoa phiên âm từ Buđha (tiếng Hán - Việt là Phật đà)

Về sau, việc truyền đạo trực tiếp từ Ấn sang Ta giảm bớt dần, trong lúc theo đường bộ và đường biển đạo Phật từ phương Bắc du nhập chiếm ưu thế hơn Do ảnh hưởng từ phương Bắc xuống, hay Bắc tông, Phật giáo Việt Nam chủ yếu thuộc ngành đại thừa Trái lại, do ảnh hưởng từ phương Nam lên, hay Nam tông, các nước lân bang như Lào, Cam-pu-chia, Thái thuộc ngành tiểu thừa

Từ thế kỷ III đến nửa đầu thế kỷ XIII : Phật giáo phát triển

Trong các hệ phái Phật giáo ở nước Nam, Thiền tông phát triển mạnh nhất và có nhiều đặc sắc

Khởi đầu với sư Khương Tăng Hội (đầu thế kỷ III), Sư có công khai sáng Thiền học Việt Nam và là người đầu tiên đem đạo Phật từ Việt Nam sang truyền cho người Hán Phật giáo Việt Nam lúc này đã là Đại Thừa vì Sư

đã cùng các Cao Tăng khác dịch kinh Bát nhã, rồi sư Chi Cương Lương tiếp (kalasivi) dịch kinh Pháp hoa Tam Muội

Thế kỷ V, theo tục Cao Tăng truyện, có Thiền sư Huệ Thắng, là môn

đồ của Sư Đạt-ma Đề- Bà Sư Huệ Thắng nhiều lần sang Trung Quốc hoằng giáo

Trang 27

Từ thế kỷ VI đến hết triều Lý, Việt Nam có ba dòng Thiền lớn

a Phái Tỳ ni Đa Lưu Chi (Vinitaruci)

Năm 580 sư Tỳ Ni Đa Lưu Chi đến Việt Nam, trụ trì mười bốn năm ở chùa Pháp Vân (Bắc Ninh), liễu đạo năm 594 Phái này truyền được mười chín đời Đời chót có Thiền sư Y Sơn (liễu năm 1213)

b Phái Vô Ngôn Thông

Năm 820 sư Vô Ngôn Thông từ Trung Quốc sang Việt Nam, trụ trì chùa Kiến Sơ (Bắc Ninh), liễu năm 826 Phái này truyền được mười bảy đời Vua Lý Thái Tông (1028 - 1054) là môn đệ đời thứ tám

c Phái Thảo Đường

Sư Thảo Đường từ Trung Quốc sang Chiêm Thành Năm 1069, vua Lý Thánh Tông thắng quân Chiêm, đưa Sư về Thăng Long, phong Quốc Sư Sư trụ trì chùa Khai Quốc

Phái này truyền được sáu đời Trong hàng đệ tử có chín nhân vật như: vua Lý Thánh Tông (1054 - 1072), đời thứ hai: quan Tham chính Ngô Ích, đời thứ ba: vua Lý Anh Tông (1138 - 11785) và quan Thái phó Đỗ Vũ, đời thứ tư; quan Thái phó Đỗ Thường, đời thứ năm; Vua Lý Cao Tông (1176 - 1210) và quan Quản giáp Nguyễn Thức, đời thứ sáu

Phật giáo Việt Nam đời Trần

Đầu thế kỷ XIII, ba phái Tỳ Ni da Lưu Chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường dần dần sát nhập, đưa tới sự lớn mạnh của phái thiền Yên Tử để thành một phái duy nhất đời Trần là Phái Trúc Lâm

Phái Yên Tử xuất hiện từ núi Yên Tử Tổ khai sơn là Thiền sư Hiện Quang (liễu năm 1220) Tổ thứ hai là thầy của vua Trần Thái Tông, được tôn

là Trúc Lâm Quốc sư, pháp hiệu Đạo Viên

Trong hai mươi ba vị tổ của phái Trúc Lâm, tổ đời thứ sau là vua Trần Nhân Tông, pháp hiệu Trúc Lâm Đầu đà đã sáng lập ra dòng thiền Việt đặc sắc

Trang 28

Trong hoàng tộc có một Thiền sư lẫy lừng là Tuệ Trung Thượng Sĩ, Ngài tên thật là Trần Quốc Trung, tước Hưng Ninh Vương, con cả của An sinh vương Trần Liễu, và là anh ruột của Hưng đạo vương Trần Quốc Tuấn Khoá Hư lục của vua Trần Thái Tông và Ngữ lục của Tuệ Trung Thượng Sĩ là hai kiệt tác trong thiền học đời Trần

Đời Trần cũng noi theo Lý, mở khoa thi Tam giáo để chọn nhân tài ra giúp nước

Phật giáo từ thế kỷ XIV đến cuối thế kỷ XV:

Nhà Hồ (1400 - 1407) rồi nhà Hậu Trần (1407 - 1413) mất, quân Minh xâm chiếm Việt Nam (1413-1427), loạn lạc liên miên, đạo Phật suy yếu, đuổi xong giặc, vua Lê Thái Tổ (1428-1433) và đời Vua Lê Thái Tông, Nhân Tông đều có tổ chức khảo sát trình độ các Sư tăng, Đạo sĩ, ai kém phải hoàn tục

Cuối từ thế kỷ XIV trở đi, tuy không còn rực rỡ như hai triều Lý- Trần, nhưng đời nào cũng có cao tăng, chân tu xuất hiện, một số dòng thiền vẫn được ghi nhận Phật giáo vẫn có ảnh hưởng nhất định đến tư tưởng các danh nho như Nguyễn Trãi, Lương Thế Vinh và coi trọng tư tưởng đạo đức của Vua sùng Nho Lê Thánh Tông

* Đặc điểm Đạo giáo tại Việt Nam đến trước thời Lê Thánh Tông

Học thuyết Lão Trang trong sáu, bảy thế kỷ trước công nguyên ở Trung Quốc (thời Xuân thu Chiến quốc), là một trong các học thuật tư tưởng nổi tiếng Các đạo gia khởi thuỷ Lão Tử Trang không chủ trương những điều Tôn giáo huyền bí, trước cảnh thiên hạ đại loạn họ chọn cuộc sống thuận với tự nhiên, bỏ lễ nghĩa ẩn dật, di dưỡng thiên chân, đời sau Đạo gia chuyển biến

Từ thế kỷ I, thời Đông Hán (Hậu Hán), với Trương Đạo Lăng, cái học Lão Trang biến thành một Tôn giáo, gọi là Đạo giáo, Lão giáo và tiếp tục phân phái, có phái thiên về luyện khí, luyện đan để cầu trường sinh, bất lão thường

tự nhận là Đạo giáo thần tiên

Đạo giáo phát triển muôn vẻ Các đạo sĩ (phương sĩ) chuyên tâm vào bùa chú (phù chú hay phù lục), luyện đan Họ được gọi là phái thần tiên đan

Trang 29

đỉnh và phù lục Toàn bộ kinh điển Đạo giáo rất phức tạp, gồm 5.485 quyển, gọi chung là Đạo tạng, gồm Chính Đạo tạng, Tục Đạo tạng Càng về sau Đạo giáo có nhiều môn phái, rất phức tạp, một số phái chủ yếu là:

- Phái Chính nhất (Thiên sư đạo), phát triển mạnh ở phương Nam, tôn Trương Đạo Lăng làm Thiền sư; con cháu họ Trương đời đời làm thủ lãnh Các đạo sĩ không xuất gia, gọi là hoá cư đạo sĩ

- Có phái kết hợp với đủ loại ma thuật để trừ tà, chữa bệnh gọi là Đạo giáo phù thuỷ Phái Đạo giáo này vào Việt Nam được biết đến nhiều

- Phái Toàn Chân, xuất hiện thời Liêu Kim, phát triển rộng ở phương Bắc, có cả Đạo sĩ và đạo cổ, đều xuất gia, gọi là Mao Sơn đạo sĩ

Có thể Đạo giáo du nhập Việt Nam khoảng thế kỷ II, bấy giờ đã mang màu sắc Đạo giáo, nguyên vì ở Trung Quốc, sau khi Hán Linh Đế mất (năm 189), xã hội đại loạn, người Hán có học chạy sang Giao Châu lánh nạn rất đông, trong đó có nhiều đạo sĩ tịch cốc (nhịn ăn), luyện pháp trường sinh Quan lại Trung Quốc sang đô hộ nước Nam hầu như đều sính phương thuật Theo Đại Việt sử ký toàn thư, quyển 3, Thái thú Sĩ Tiếp (Sĩ Nhiếp) lâm bịnh, chết đã ba ngày, lại được một đạo nhân là Đồng Phụng đến cho thuốc cải tử hoàn sinh Lại chép việc Thứ sử Trương Tân (sang Giao Châu từ năm 201) hay đội khăn đỏ, đọc kinh sách Đạo giáo có nhiều phương thuật Đời Đường, năm 865, Cao Biền sang nước Nam đàn áp các cuộc khởi nghĩa của dân Việt

Họ Cao là một thuật sĩ có hạng, chuyên về phong thủy, ráo riết tìm phá long mạch, trấn yểm các nơi anh linh tú khí của nước Nam, cố ý cho nước Nam không còn sinh nhân tài, anh hùng hào kiệt, sẽ phải lệ thuộc dưới ách đô hộ của phương Bắc đời đời, song không trấn áp nổi linh khí mạnh mẽ của đất phương Nam Ngũ lĩnh này

Mấy khuynh hướng tiêu biểu của Đạo giáo Việt Nam trước thời Lê Thánh Tông

a Khuynh hướng phù chú trừ tà ma :

Trang 30

Tiêu biểu là hình thức trừ ma tà bằng bùa chú trong một thời gian dài

có ảnh hưởng đến sinh hoạt dân gian xã hội Chẳng hạn, cọp được coi là loài thú có thể khu trừ tà ma, do đó nhiều nhà dân, chùa miếu có dán bùa vẽ hình cọp trước cửa để trấn trạch che chở gia đình, và lá bùa ấy có tên "Trừ tà trị bệnh, trấn trạch bình an"

Có thời kỳ bùa chú Đạo giáo có sức lôi cuốn nông dân vào các hội bí mật, hoặc để tương trợ nhau chống lại cường hào ác bá, hoặc để mưu đồ quốc gia đại sự

Đời Trần Phế đế, ở lộ Bắc Giang có Nguyễn Bố, năm 1379 xưng Vương, hiệu Đường lang Tử Y

Đời Hồ có Trần Huy cũng dùng phương thuật thu hút đông người theo

bị Hồ Quý Ly dẹp năm 1403

Đời Lê có Trần Cảo dùng Đạo giáo chiêu tập dân chúng nổi loạn

b Khuynh hướng phong thủy và sấm ký

Khoa phong thuỷ (địa lý) ở nước Nam và việc tiên tri loan truyền sấm

ký rất được quần chúng tin theo

Từ đời Lý đã sử dụng phương thức Sấm ký để tạo thanh thế

Đời Trần - Hồ ở lộ Tân Hưng có Trần Quốc Kiệt làm quan chức An Phủ sứ, soạn hình thế địa mạch cạ

Đời Lê có Nguyễn Trãi đã mượn hình thức sấm ký để tạo thanh thế, tập hợp quần chúng ủng hộ Lê Lợi

Đời vua Lê chúa Trịnh ở làng Tả Ao, tỉnh Nghệ An, có Nguyễn Đức Huyên vang danh nhờ khoa địa lý

Sấm ký cũng được nhiều Cao Tăng sử dụng Làng Cổ Pháp, tỉnh Bắc Ninh, trong Phái Tỳ -niđda - lưu - Chi (Vinitaruci) có nhiều nhân vật lừng lẫy:

sư Định Không (thế kỷ VIII, đời thứ tám); sư La Quý An (852 - 939, đời thứ mười), sư Vạn Hạnh (thế kỷ XI, đời thứ mười hai) …

c Khuynh hướng trường sinh, bí thuật tu tiên :

Trang 31

Vua Trần Dụ Tông (1341 - 1369) cầu đạo trường sinh với đạo sĩ Huyền Vân tu ở núi Niết (núi Phụng Hoàng), huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương Đời Trần Thuận Tông (1388 - 1398) có quan tri huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh,` tên Từ Thức, người Hoả Châu cầu trường sinh Đời Trần- Hồ ở xã Cố Định, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá, có Trần Tu vào ẩn tu ở núi Nưa (Na Sơn) cầu trường sinh

Đời vua Lê Chúa Trịnh ở huyện Đông Thành có Phạm Viên … sau đến Triều Lê Cảnh Hưng có Nguyễn Hoãn, làng Lan Khê, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá, làm quan Lại bộ thượng thư, Viện Quốc công, Quốc sư Quốc lão, Gia phả họ Nguyễn, mục Tiên khảo đạo tu lục cho biết ông tu tiên từ năm ba mươi tuổi (Ất Sửu 1745), đọc Đạo đức kinh Năm bốn mươi bốn tuổi lập tĩnh thất để tu luyện ngay trong nhà, năm bốn mươi tám tuổi thờ thần Ngũ Nhạc Sau lại xây thêm tháp mười hai tầng để luyện khí âm dương … Vì cuồng vọng, ông về sau đi lại sang tà đạo, mất năm 1792, thọ tám mươi tuổi

d Phương hướng cầu thanh tĩnh, nhàn lạc theo tinh thần thuận tự nhiên phóng khoáng

Triết lý vô vi thanh tĩnh của Lão Trang ảnh hưởng giới Nho sĩ rất nhiều, tạo cho con người xu hướng nhàn dật, ưa thích gần thiên nhiên, tìm cái thú nhàn lạc bên chén rượu cuộc cờ, tiêu dao với mây núi gió trăng ngón đàn, vần thơ, hay nét thư hoạ … Xu hướng này thích hợp khi con người không gặp thời, hoặc khi đã mỏi mệt vì đời phồn tạp Vì thế, Nho sĩ Việt Nam thời xưa luôn luôn dự bị hành trang cho bản thân tư tưởng Lão Trang an nhàn xuất xứ Gặp thời hay sung mãn khí huyết, được thi thố tài năng thì xuất, tham gia Triều Chính Lúc mất ngủ, muốn thanh nhàn bất đắc chí, khi tuổi già hay chán quan trường thì tự rút lui chốn bụi trần xin về thiên nhiên, điền dã

Đời Trần, Nguyễn Phi Khanh viết:

Bách niên phủ thế nhân giai mộng,

Bán nhật thâu nhàn ngã diệc Tiên

(Cuộc đời nổi trôi trăm năm kiếp người như giấc mộng,

Trang 32

Ăn trộm được cái nhàn nửa ngày thì ta cũng là Tiên)

Đời Lê - Mạc, có Nguyễn Hãng, quê xã Xuân Lũng, phú Lâm Thao, trấn Sơn Tây, thi đậu Hương Cống nhưng không làm quan, về ẩn tu ở xã Đại Đồng, Phủ Yên Bình, tỉnh Tuyên Quang Ông lấy hiệu Nại Hiên Triều Lê (khi Trung Hưng) phong tặng là Thảo Mao Dật sĩ Ông sáng tác những bài phú như Đại Đồng phong cảnh phú, Tam Ngung động phú, Tịch cư ninh thể phú … Những bài này ca ngợi thú ở ẩn non cao thanh tĩnh

Thường thường khi bất đắc các Nho sĩ mới tìm về với Đạo giáo, điểm khác là Lê Thánh Tông chịu ảnh hưởng khía cạnh đã thoả mãn nhu cầu vượt lên câu thúc của Nho giáo để tự tại, phóng dật

Khuynh hướng ảnh hưởng quan niệm sống hoà hợp với thiên nhiên, ca ngợi thanh tĩnh, nhàn lạc còn thấy được qua thú chơi cây kiểng và hòn non bộ

đã phổ biến từ xưa Người ta chơi một gốc cây sù sì, nho nhỏ, uốn cành sửa lá

theo ý riêng, hoặc bày vài hòn đá con con, chông chênh trên một bể nước cạn

Thêm vào vài nhánh lá, chiếu cầu, con thuyền, lác đác một hai tượng sành tí xíu hình lão tiều, ông câu, hay đôi bạn đang đánh cờ… Đó là cả một thế giới

tự nhiên riêng của con người đem thu nhỏ lại từ hình ảnh thật của thiên nhiên bao la Chơi cây kiểng và hòn non bộ từ lâu đời vẫn được coi như thú tiêu khiển thanh tao, giúp con người di dưỡng tính tình, nó được xếp hạng không kém bốn thứ tài tử cầm, kỳ, thi, họa Người hiểu đạo tự nhiên, khi đứng trước một cảnh thiên nhiên dù là nhân tạo chậu kiểng đẹp, một hòn non bộ khéo đắp, có thể dễ mê mẩn tâm hồn, đắm mình trong sức tưởng tượng phong phú,

và quên cả thực tại phồn tạp bên ngoài, hoà vào thiên nhiên

Đạo giáo kết hợp với thần đạo Việt Nam làm thành nét tín ngưỡng đặc sắc

Từ lâu đời, người Việt có một đức tin sâu sắc vào sự trường cửu của anh linh những công thần, hào kiệt Lúc sống, họ làm rường cột chống đỡ sơn

hà xã tắc, cứu dân giúp nước, khi thác, trở thành Thần Thánh hiển tích, âm phù mặc trợ cho đồng bào Thần đạo Việt Nam giản dị như vậy, và đó cũng là

Trang 33

một khía cạnh truyền thống yêu nước và lòng kính trọng nghìn đời của dân tộc đối với các vị tiên liệt anh hùng, những bậc kỳ tài của đất nước Cái đình làng, tục thờ Thành Hoàng, Đền thờ hay Lăng, Miếu các danh tướng lương thần đều là nét tín ngưỡng Thần đạo của người Việt

Đạo giáo cũng như đạo Phật đã khéo dung hợp, hòa nhập với những tín ngưỡng cổ truyền trong lòng xã hội Việt Nam Trong lúc đất nước mất chủ quyền, chính tín ngưỡng thần đạo đã nuôi dưỡng ý thức quốc gia, khơi lòng yêu nước, để khi thời cơ đến thì gây phong trào khởi nghĩa, đánh đuổi ngoại xâm Vua quan Trung Quốc đã nhiều phen thất bại khi tìm cách dập tắt tín ngưỡng bản địa này của người Việt để hòng duy trì ách xâm lược của phương Bắc suy đồi thất bại

Trong toàn bộ lịch sử lâu dài vừa đấu tranh giữ nước vừa ra sức dựng nước, dân tộc Việt Nam đã chiến đấu bất khuất, không phải chỉ đối đầu với phương tiện vật chất hữu hình, mà còn có cả sức mạnh Thần thiêng vô hình nên dần dần bồi đắp đức tin mãnh liệt vào hồn thiêng sông núi, tin rằng có biết bao thế hệ anh linh tiền nhân dân tộc đang hậu thuẫn cùng đứng chung chiến tuyến với chính nghĩa của dân tộc để bảo vệ sự độc lập, thống nhất, trường tồn của Việt Nam

Chính quan niệm đó của thần đạo Việt Nam cũng là lối thể hiện tư tưởng yêu nước Việt Nam Người Việt Nam theo Đạo giáo nhưng vẫn không

hề bị đồng hoá đánh mất bản sắc của mình Do đó, trên điện thờ Thần bên cạnh các vị Thần Tiên của Đạo giáo theo kinh điển Trung Quốc truyền sang, dân Việt vẫn thờ chung các vị Thần bản địa của người Việt Thí dụ, tại Thông Thánh quán ở vùng Bạch Hạc (Việt Trì) đã thờ Thần sông Tam Giang là vị phúc thần của địa phương Thái Thanh cung Cung được dựng ở kinh thành Thăng Long bên trái, bên phải là chùa Vạn Tuế Vua Lý Thái Tổ (1010-1028) cho cất Cung và Chùa này khi mới dời đô về Thăng Long Trấn Vũ quán cũng được xây dựng lúc vua Lý Thái Tổ vừa dời đô về Thăng Long (1010), hiện nay nằm ở góc đường Quan Thánh và đường Thanh Niên, khu phố Ba Đình,

Trang 34

Hà Nội Quán thờ đức Huyền Thiên Trấn Vũ để hộ trì mặt phía bắc của Thành Thăng Long Quán này còn được gọi là đền Trấn Vũ hay Chân Vũ Đời vua

Lê Hy Tông (1676-1704), tượng Trấn Vũ được đúc bằng đồng đen cao 3,96 mét, nặng 4 tấn Năm 1983, lại xây thêm một bệ đá cho tượng Bệ này cao 1,20 mét Ngọc Thanh quán Quán nằm trên núi Đại Lai (Thanh Hóa) Năm

1398, Hồ Quý Ly mưu việc dứt ngôi nhà Trần, ép vua Trần Thuận Tông (1388-1398) thoái vị, và cưỡng bách Vua về tu Tiên ở Quán này; Nghinh tiên quán (Hay Vọng tiên quán) Vua Lê Thánh Tông chơi Hồ Tây, gặp một thiếu

nữ xinh đẹp, xướng họa thơ rất ưng ý nên Vua Lê rước lên xe đưa về Cung, khi đến cửa Đại Hưng thành Thăng Long (nay là Cửa Nam Hà Nội), thiếu nữ bay lên trời biến mất Vua cho cất tại cửa Đại Hưng lầu Vọng Tiên để kỷ niệm, sau chốn này thành quán Vọng Tiên hay Nghinh Tiên nằm ở phố Hàng Bông, Hà Nội; Tiên tích tự Vua Lê Hiển Tông chơi hồ Kim Âu phía nam thành Thăng Long gặp hai cô Tiên nói theo Lê Thánh Tông, nên cho cất Tiên tích tự ở đấy làm kỷ niệm Hồ Kim Âu xưa ở vị trí nhà ga đường sắt Hà Nội; Đền Ngọc Sơn, Đền nằm trên một gò đất nổi lên ở phía bắc hồ Hoàn Kiếm, thoạt đầu nơi đây thờ đức Quan Thánh Đế quân, sau trùng tu lại, thờ Phật, gọi

là chùa Ngọc Sơn Năm 1841, biến thành đền thờ đức Văn Xương Đế quân

Về sau lại thờ thêm Đức Lữ tổ và đức Trần Hưng Đạo Các Đạo quán khác thờ Thần núi Tản Viên (núi này ở tỉnh Sơn Tây), gồm ba ngọn cao ngất, nên cũng gọi là núi Ba Vì), thờ thần sông Tô Lịch, Lý Ông Trọng… Từ đời Trần, Đức Hưng đạo đại vương Trần Quốc Tuấn được tôn thành Thánh thờ ở Vạn Kiếp, Chí Linh, rồi lan truyền có Đền thờ nhiều nơi Đời Lê, có Đền thờ bà chúa Liễu Hạnh Các Nữ thần bản địa khác cũng được Đạo giáo dân gian thờ phụng khắp trong nước

1.2 Một số quan niệm về vai trò - vị trí đạo đức của Tam giáo đồng nguyên

Như phần trên đã phân tích do điều kiện địa lý, chính trị, kinh tế, văn hoá ngay từ thế kỷ II, xu hướng Tam giáo đồng nguyên đã xuất hiện ở Việt Nam,

Trang 35

mà bấy giờ tên gọi là Giao Chỉ Bộ (từ năm 111 trước công nguyên) rồi là Giao Châu (từ năm 203), là nơi giao lưu văn hóa Việt- Ấn- Hán, là nơi hội tụ

và dung hòa các luồng tư tưởng Ấn- Hán (Phật, Nho, Đạo) với văn hóa bản địa từ rất sớm và là đặc điểm chung của cả khu vực Đông Nam Á, rồi Đông

Á

Một bằng chứng là Mâu Bác, cũng gọi Mâu Tử (sinh khoảng năm 165 hay 170, mất khoảng 230) Ông tên là Dung, tên tự Tử Bác, người gốc Thương Ngô (Thương Ngô), Giao Chỉ, từ Trung Quốc sang Việt Nam tỵ loạn vào thế kỷ II, tài kiêm văn, võ Về văn, ông viết Lý Hoặc Luận nổi tiếng Lúc đầu nhan đề tác phẩm này là Trị Hoặc Luận, nhưng từ đời Đường Cao Tông (tức Lý Trị, tại vị 650-633) vì kiêng húy của Lý Trị mà tác phẩm đổi nhan đề thành Lý Hoặc Luận Lê Mạnh Thát khẳng định sách này được viết khoảng năm 198 Trong Lý Hoặc Luận, Mâu Tử cho biết: sau khi mẹ mất, không muốn làm quan, ông đắm mình học Tam giáo "Từ đó, dốc chí vào đạo Phật, gồm ngẫm Lão tử năm ngàn chữ, ngậm huyền diệu làm rượu ngon, xem Ngũ kinh làm đàn sáo" [21] Điều này cho thấy rằng Tam giáo đã hiện diện đề huề trong thời Sĩ Tiếp làm thái thú Giao Chỉ Tinh thần hòa đồng từ khi du nhập buổi ban sơ đó đã là yếu tố để tư tưởng Tam giáo đồng nguyên đến Việt Nam gặp được các nhân tố hiện thực phù hợp trở thành một nét bản sắc văn hóa truyền thống khoan dung của dân tộc Việt Nam trong những thế kỷ sau, được nhiều danh gia phát biểu qua các triều đại Sau đây là một số trường hợp tiêu biểu:

Ngay trong thời Lê - Lý - Trần tuy Phật giáo hưng thịnh song các danh tăng đã tiếp nhận tinh thần nhập thế của Nho rồi Đạo giáo

Tư tưởng của Viên Chiếu (999-1091)

Viên Chiếu sống dưới đời Lý, thế danh là Mai Trực, quê làng Phúc Đường, huyện Long Đàm, là thiền sư đời thứ bảy dòng thiền Quan Bích (Việt Nam) Tác phẩm của ông có: Dược Sư thập nhị nguyện văn, Tán Viên giác kinh, Thập nhị bồ tát hành tu chứng đạo tràng, Tham đồ hiển quyết [56]

Trang 36

Khi được hỏi về ý nghĩa của Phật và Thánh (Nho), Thiền sư Viên Chiếu đáp:

Trú tắc kim ô chiếu,

Dạ lai ngọc thố minh

(Ngày thì mặt nhật sáng soi, Đêm về vằng vặc khung trời ánh trăng)

Sư ngụ ý bảo tuy ứng dụng của Phật và Thánh (Nho) trong đời khác nhau, nhưng đều nhằm đem lại cho đời ánh sáng (giác ngộ), ví như ngày cần ánh sáng mặt trời (kim ô: quạ vàng), đêm cần ánh sáng vầng trăng (ngọc thố: thỏ ngọc)

Tư tưởng Tam giáo ở Trần Thái Tông (1218-1277)

Vua tên thật là Trần Cảnh, quê làng Tức Mặc, phủ Thiên Trường (huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định sau này) Tác phẩm có: Kiến Trung Thường

Lễ, Quốc Triều Thông Chế, Khóa Hư lục … Khi viết bài Tựa cho Thiền Tông chỉ nam, Vua ám chỉ rằng trách nhiệm độ đời của Phật hay Nho vẫn là một và cùng một mục tiêu là hướng dẫn đạo đức con người

"Lục Tổ có nói " Bậc Đại thánh và Đại Sư đời trước không khác gì nhau Như thế đủ biết đại giáo lý của đức Phật ta lại phải nhờ Tiên thánh mà truyền lại cho đời"

Trong bài Phổ khuyến phát bồ đề tâm, vua Trần Thái Tông viết:

Vị minh nhân vọng phân Tam giáo,

Liễu đắc để đồng ngộ nhất tâm

(Chưa tỏ ngộ, người đời lầm lẫn phân biệt Tam giáo,

Khi đạt chỗ gốc cội rồi thì cùng ngộ một tâm)

Trong bài Tọa thiền luận, Vua so sánh Tam giáo về pháp môn tu luyện

và nêu lên sự tương đồng như sau:

"Thích ca Văn Phật vào núi Tuyết Sơn, ngồi ngay ngắn trong sáu năm chim Bồ Các làm tổ trên đầu, cỏ mọc xuyên qua bắp vế mà thân tâm vẫn bình

Trang 37

thản Từ Cơ (Đạo gia) ngồi tựa ghế, thân như cây khô, lòng như tro nguội Nhan Hồi (Nho gia) ngồi quên, chân tay rời rã, thông minh dẹp bỏ, lìa xa cả Trí và Ngu để hòa chung với Đạo lớn Ba bậc Thánh Hiền của Tam giáo đời xưa đó đều nhờ ngồi định mà có thành tựu

Tuyết Sơn tức là Hy mã Lạp sơn (Himalayas) Chim Bồ Các có sách dịch là chim Thước, hoặc dịch là chim Khách Tử cơ tức là Nam Quách Tử

Cơ, được chép trong Nam hoa kinh của Trang Tử Trong bài Giới sát sinh văn, vua nêu lên chỗ tương đồng của Tam giáo về mặt hành thiện:

"Sách Nho dạy là điều nhân đức, kinh Lão dạy thương yêu người và vật, Phật chủ trương hãy giữ gìn giới cấm sát sinh …

Đây chính là cơ sở tư tưởng cơ bản sau này là ThánhTông tiếp nhận, tuy tôn sùng Nho học mà vẫn rộng mở tiếp nhận ảnh hưởng của quan niệm Phật giáo và Đạo giáo trong quan niệm đạo đức của mình

* Đánh giá Một số nội dung cơ bản của tư tưởng, đạo đức Tam giáo ảnh hưởng đến Việt Nam

* Tam giáo quan niệm về vai trò, vị trí nội dung của đạo đức

Tam giáo ví như ba cỗ xe cùng đi đến một đích Đối chiếu ba cặp phạm trù tam cương, ngũ thường (của Nho) với tam nguyên, ngũ khí (của Đạo), và với tam quy, ngũ giới (của Phật) Sư Trịnh Tuệ diễn giải bằng bài thơ

về quan niệm vai trò đối với giáo hoá đạo đức của Tam giáo rất hay như sau:

Trong nơi danh giáo có ba,

Nho hay giúp nước, sửa nhà, trị dân

Đạo thời dưỡng khí an thần

Thuốc trừ tà bệnh, chuyên cần luyện đan

Thích độ nhân miễn tam đồ khổ,

Thoát cửu huyền thất tổ siêu phương

Nho dùng tam cương, ngũ thường,

Đạo gìn ngũ khí, giữ giềng ba nguyên

Trang 38

Thích giáo nhân tam quy, ngũ giới,

Thể một đường xe phải dụng ba [48, tr 145 ]

"Nhà Nho có tam tài, nhà Phật có tam thế, nhà Đạo có tam thanh, cũng chẳng khác gì trời có mặt trời, trăng, sao, như vạc ba chân, quan hệ mật thiết với nhau và không tách rời nhau được Nói cho rõ là lễ nhạc, hình, chính của nhà Nho dùng để ngăn ngừa lòng người khiến cho người ta xu hướng về điều thiện và cấm chỉ các điều ác, xa rời cái xấu và tăng thêm cái đẹp, hiển nhiên

là như vậy Thanh tĩnh, từ bi của nhà Phật, trừ bỏ nghiệp chướng cứu người

độ vật, cùng đi đến chỗ giác ngộ, thì đó lại là uyên vi trong uyên vi Nhà Nho chủ trương chỉnh đốn luân thường, duy trì giáo hóa, làm cho người ta đổi thói bạc làm thói hậu, bỏ điều bạo chăm điều nhân Đó là công việc rõ ràng Nhà Đạo chủ trương rửa sạch lụy trần, từ bỏ tham dục, vượt cõi phàm vào cõi thánh, cùng chung duyên lành thì đó lại là huyền diệu trong huyền diệu Sách Đại học nói Sáng tỏ đức mình, làm mới đức dân, dừng ở chỗ chí thiện Kinh Phật nói Bát nhã ba la mật, nói "bồ đề tát đóa", nói Ma ha tát Về ý nghĩa, hai đằng có trái ngược nhau đâu… Cho nên Tam giáo vẫn là một môn, ba dòng vẫn là một lý, vốn không phải nước lửa, đen trắng, ngọt đắng có tính chất chống lại nhau… Thế mới biết Nho tức là Thích mà Thích tức là Nho Đạo cũng là Nho mà Nho cũng là Đạo"

Cuối bài, Trịnh Tuệ kết luận:

Ai hay Tam giáo bất đồng,

Thích Ca, Lão Tử cùng dòng Nho Gia [48, tr 145 ]

Tam giáo tuy phân làm ba song suy đến rốt ráo về phương diện đạo đức dạy đời cũng chỉ một nhà, tuy công dụng ở đời có khác nhưng lại hỗ trợ cho nhau trong việc giáo hóa, cứu độ, trị an dân chúng Tam giáo như ba ngả đường mà cùng dẫn về một đích điểm Quan niệm Tam giáo không thể thiếu một, vì thiếu một thì sẽ nguy hiểm, cũng như chiếc vạc phải đủ ba chân, bầu trời phải đủ mặt trời, mặt trăng và các vì sao (tam quang, nhật, nguyệt, tinh) Trong Xã hội phong kiến cũ phải vững vàng ba mối giềng trung chánh bậc

Trang 39

giữa đó là ba cương : quan hệ của bậc Vua trị nước với dân, giữa cha với con, giữa vợ với chồng (tam cương: quân thần cương, phụ tử cương, phu thê cương)

Chúng tôi thấy nhận thức về đạo đức hỗ trợ lẫn nhau giữa chúng được viết rõ trong tác phẩm Hứa Sứ truyện văn, Thiền sư Toàn Nhật mượn lời Diêm vương nói với thầy tăng Hứa Sử để gián tiếp bày tỏ quan điểm của Sư đối với Tam giáo như sau, chúng tôi cũng chia sẻ cách nhìn nhận này,

Phép xưa gầy dựng roi truyền,

Nho gia sửa trị đời nên thanh bình

Thích gia độ tử cứu sinh,

Đạo gia tấn diệt mị tinh yêu tà

Thánh hiền phân chế làm ba,

Tam giáo so lại nhất gia khác gì

Cùng nhau tá trợ phù trì,

Ra đời giáo hóa ích thì lợi dân

Cũng như vạc có ba chân,

Trên trời thì có tam quang tỏ tường

Trong đời thì có tam cương,

Nếu mà khuyết một ghê đường gian nguy

Nói cho Thầy rõ kẻo nghi,

Đường tuy ba ngả cùng về một nơi

Còn trong tác phẩm Tam giáo nguyên lưu ký, Thiền sư viết rằng:

Cho nên Tam giáo Thánh nhân,

Tùy cơ thuyết pháp, ứng thân cứu nàn

Hễ trời thì có tam quang,

Đời có Tam giáo ba giềng tương thân

Ví như cái vạc ba chân,

Nếu mà khuyết một ngả nghiêng đâu còn

Vật trong vạc ấy chẳng toàn,

Trang 40

Ắt là trút đổ chín liền hư hao

Nho gia tỏ rõ như sao,

Chói lòa tinh đẩu ai nào chẳng hay,

Đạo gia dường nguyệt tròn thay,

Bắc Nam ánh giải, Đông Tây sáng ngời

Thích gia ví tợ mặt trời,

Đâu đâu soi thấu đời đời quang minh [48, tr 145 ]

Tóm lại : Trải qua các triều đại đến thời Lê Thánh Tông, trong mười thế kỷ, tuy sử sách không còn lưu giữ được nhiều, nhưng bằng những tư liệu văn hóa còn sưu tập được, với các tác giả tiêu biểu, đã thấy rõ rằng ở Việt Nam đã được xác lập sớm và rất lâu dài các quan điểm trong sáng về sự hỗn dung tất yếu và vai trò quan trọng cần thiết của đạo đức trong cả Tam giáo Tuy các diễn đạt tên gọi có khác nhau về bên ngoài mà thống nhất ở nội dung giáo hoá về đạo đức, đề cao đạo đức

- Tam giáo đồng nguyên hay Tam giáo nhất nguyên (cùng một nguồn phát sinh)

- Tam giáo đồng tông (cùng một ông tổ sinh ra),

- Tam giáo nhất gia (cùng một nhà),

- Tam giáo đồng quy (cùng đi về một đích)

Các dẫn chứng phân tích trên đây cũng cho thấy sự hỗn dung Tam giáo

từ xưa cho đến trước thời Lê Thánh Tông dân tộc Việt Nam đã biết đối chiếu rồi tổng hợp Tam giáo để tìm đến chỗ đồng nhất lý việc tìm lành lánh dữ, nói cách khác, ở Việt Nam ngay từ xa xưa đã sẵn có con đường Tam giáo đồng nguyên để rồi sẽ dẫn đến hệ luận rất khoan dung là “Vạn giáo nhất lý” Nghiên cứu con đường Tam giáo Việt Nam trong tinh thần đồng nguyên và nhất lý cũng là để sau này góp phần cơ sở tìm hiểu diễn trình Dịch hóa, chu nhi phục thủy: Từ Đại đạo phát sinh Tam giáo đạo; từ Tam giáo đạo trở về nguồn gốc Đại đạo, Tất cả đều để nhằm giáo hoá vì con người, ở Lê Thánh Tông ảnh hưởng của cách quan niệm này là rất có căn cứ

Ngày đăng: 23/03/2015, 17:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (1938): Khổng giáo phê bình tiểu luận, Nxb Quan Hải Tùng thư, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khổng giáo phê bình tiểu luận
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Quan Hải Tùng thư
Năm: 1938
2. Hoàng thị Bình (2001): “Nhân, Nhân nghĩa, Nhân chính trong “ Luận ngữ ”và Mạnh Tử , Tạp chí Triết học, số 8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhân, Nhân nghĩa, Nhân chính trong “ Luận ngữ ”và Mạnh Tử , "Tạp chí Triết học
Tác giả: Hoàng thị Bình
Năm: 2001
3. Nguyễn Thanh Bình (2000): “Đạo đức Nho giáo với việc rèn luyện nâng cao phẩm chất đạo đức cộng sản”, tạp chí Khoa học, ĐHQG, HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đạo đức Nho giáo với việc rèn luyện nâng cao phẩm chất đạo đức cộng sản”, "tạp chí Khoa học
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Năm: 2000
4. Nguyễn Thanh Bình (2001): “Quan niệm của Nho giáo về xã hội lý tưởng”, Tạp chí Triết học. HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan niệm của Nho giáo về xã hội lý tưởng”," Tạp chí Triết học
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Năm: 2001
5. Nguyễn Thanh Bình (2002): Những điểm tương đồng và dị biệt trong học thuyết “ tính người ”của Nho giáo”, Tạp chí Triết học, số 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: tính người ”của Nho giáo”," Tạp chí Triết học
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Năm: 2002
8. Phạm Như Cương (1978): Về vấn đề xây dựng con người mới, Nxb, Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về vấn đề xây dựng con người mới
Tác giả: Phạm Như Cương
Năm: 1978
14. Phan Đại Doãn (1996): Một số vấn đề về Nho giáo Việt Nam, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về Nho giáo Việt Nam
Tác giả: Phan Đại Doãn
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
17. Trần Thị Tâm Đan (1993): Vua Lê Thánh Tông với Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội, Tạp chí nghiên cứu văn hoá nghệ thuật, số 2 .18 . Đại Việt sử ký toàn thư tập 1 ( Cao Huy Du dịch, 2006 ), Nxb.Văn hoá thông tin . Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử ký toàn thư tập 1
Tác giả: Trần Thị Tâm Đan
Nhà XB: Nxb.Văn hoá thông tin . Hà Nội
Năm: 1993
19. Đại Việt sử ký toàn thư tập 2 (Cao Huy Du dịch, 2006), Nxb.Văn hoá thông tin. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử ký toàn thư tập 2
Nhà XB: Nxb.Văn hoá thông tin. Hà Nội
21. Đại cương lịch sử triết học Trung Quốc (2004), Nxb. Văn hoá thông tin Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương lịch sử triết học Trung Quốc
Tác giả: Đại cương lịch sử triết học Trung Quốc
Nhà XB: Nxb. Văn hoá thông tin Hà Nội
Năm: 2004
27. Lâm Giang (dịch thơ) (2001): Lê Thánh Tông, Nxb. Kim Đồng. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lê Thánh Tông
Tác giả: Lâm Giang (dịch thơ)
Nhà XB: Nxb. Kim Đồng. Hà Nội
Năm: 2001
9. Hoàng Sơn Cường (1997): Tư duy văn hoá gia đình của Lê Thánh Tông trong Quốc Triều hình luật, Tạp chí văn hoá nghệ thuật , số 7. HN Khác
10. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Nxb Sự thật, Hà Nội 1991 Khác
11. Nguyễn Huệ Chi chủ biên (1998): Hoàng đế Lê Thánh Tông - Nhà chính trị tài năng, nhà văn hoá lỗi lạc, nhà thơ lớn, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.12 . Doãn Chính … ( chủ biên ) ( 2002) Đại cương triết học Trung Quốc, Nxb CTQG. HN Khác
13. Lê Bá Chức (2001): Hoàng Thái Hậu sinh vua Lê Thánh Tông, Nxb. Thanh Hoá Khác
15. Phan Đại Doãn (1998): Vài ý kiến về cải cách của Lê Thánh Tông, tạp chí nghiên cứu lịch sử , số 3 HN Khác
16. Minh Đạt : Vua Lê Thánh Tông và cải cách tổ chức bộ máy thời hậu Lê Khác
20. Đại Việt sử ký Toàn Thư (1972) tập 3.Nxb KHXH, HN Khác
22. Đảng cộng sản Việt Nam (1994). Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ VII, Nxb Chính trị quốc gia. Hà Nội Khác
23. Đảng cộng sản Việt Nam (1996). Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Chính trị quốc gia. Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w