1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

luận văn cao học kinh tế “Phân tích các yếu tố tác động đến khả năng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp của các danh nghiệp trên địa bàn huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang”

33 633 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 244 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ra đời và tồn tại cùng với Nhà nước, từ đó đến nay, thuế đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài. Thuế luôn là một công cụ thể hiện quyền lực và là nguồn tài chính chủ yếu để phục vụ nhu cầu chi tiêu của Nhà nước. Thuế góp phần tạo sự ổn định môi trường kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, tạo lập, phân phối và sử dụng các nguồn lực một cách có hiệu quả, khuyến khích tiết kiệm và đầu tư, ổn định tài chính tiền tệ, tạo ra sự đảm bảo an toàn về tài chính cho các hoạt động kinh tế xã hội.Hệ thống thuế Việt Nam từ năm 1999 đến nay đã có nhiều bước chuyển đổi theo hướng tích cực là thực hiện cơ chế người nộp thuế tự khai, tự nộp, tự chịu trách nhiệm về số liệu đã kê khai; cơ quan thuế chỉ kiểm tra, giám sát lại việc kê khai và nộp thuế của người nộp thuế. Tuy nhiên như đã nói ở trên, do nhiều nguyên nhân khác nhau nên người nộp thuế không phải lúc nào cũng xác định đúng số tiền thuế phải nộp và nộp đầy đủ, kịp thời vào NSNN. Vì vậy, cơ quan thuế cần xem xét và tìm hiểu mức độ chấp hành nghĩa vụ thuế của người nộp thuế để tìm giải pháp khắc phục.Thuế mang tính bắt buộc gắn liền với quyền lực chính trị của Nhà nước, được thể hiện bằng các sắc Luật thuế do Nhà nước qui định và một trong những sắc luật thuế đó là Luật thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp. Thuế giá trị gia tăng là loại thuế gián thu, người tiêu dùng là người cuối cùng chịu thuế và doanh nghiệp là người nộp thay. Khác với thuế giá trị gia tăng, thuế Thu nhập doanh nghiệp là loại thuế trực thu, đánh trực tiếp lên thu nhập của doanh nghiệp nên tác động trực tiếp đối với lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp, đây cũng là nguyên nhân làm cho doanh nghiệp chấp hành không tốt việc kê khai tính thuế và nộp thuế thu nhập doanh nghiệp. Doanh nghiệp tìm mọi cách để giảm số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp còn cơ quan thuế phải quản lý, kiểm tra để doanh nghiệp kê khai thuế đúng, đủ theo quy định.Tuy nhiên trên thực tế, trong nhận thức của một số người vẫn không xem việc chấp hành chính sách thuế là nghĩa vụ mà họ nghĩ rằng đã bị mất đi một lợi ích kinh tế và họ chỉ thực hiện nghĩa vụ khi không thể tránh né được. Còn ngược lại nếu có cơ hội để không phải nộp thuế hoặc số tiền nộp giảm xuống so với nghĩa vụ thực tế mà không bị xử lý gì thì họ sẽ tìm mọi cách để tránh thuế, né thuế và thậm chí là trốn thuế.Theo thống kê của Chi cục Thuế huyện Chợ Gạo (2014), toàn tỉnh hiện nay có hơn 3.600 doanh nghiệp và hơn 15.000 hộ kinh doanh, trong đó trên địa bàn huyện Chợ Gạo có hơn 300 doanh nghiệp và hơn 3.800 hộ kinh doanh, chủ yếu là hoạt động với quy mô vừa và nhỏ với nhiều ngành nghề khác nhau nên công tác quản lý thuế luôn gặp nhiều thách thức. Bên cạnh đó thực trạng hiện nay đặt ra là có nhiều doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp rất ít hoặc không có phát sinh thuế thu nhập doanh nghiệp, theo thống kê của Chi cục Thuế huyện Chợ Gạo các doanh nghiệp không phát sinh số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp năm 2013 là: 93 doanh nghiệp, chiếm 31% doanh nghiệp đang hoạt động, năm 2014 là: 112 doanh nghiệp, chiếm 37% doanh nghiệp đang hoạt động.Thực trạng đó đặt ra là làm thế nào để công tác quản lý thuế đạt hiệu quả, tăng thu ngân sách nhà nước. Vì vậy, nghiên cứu“Phân tích các yếu tố tác động đến khả năng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp của các danh nghiệp trên địa bàn huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang”. Kết quả nghiên cứu đề tài này là một trong những kênh thông tin cung cấp cho ban lãnh đạo thuộc các cơ quan quản lý thuế có cái nhìn mang tính khoa học, có cơ sở và có tính định lượng rõ ràng hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp, giúp cho việc điều hành, chỉ đạo tại Chi cục Thuế huyện Chợ Gạo nhằm nâng cao hơn nữa hiệu lực, hiệu quả trong việc thực thi chính sách thuế trên địa bàn, góp phần tăng thu NSNN chi địa phương.

Trang 1

1 Vấn đề nghiên cứu

Ra đời và tồn tại cùng với Nhà nước, từ đó đến nay, thuế đã trải qua một quátrình phát triển lâu dài Thuế luôn là một công cụ thể hiện quyền lực và là nguồn tàichính chủ yếu để phục vụ nhu cầu chi tiêu của Nhà nước Thuế góp phần tạo sự ổnđịnh môi trường kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, tạo lập, phân phối và sử dụng cácnguồn lực một cách có hiệu quả, khuyến khích tiết kiệm và đầu tư, ổn định tài chínhtiền tệ, tạo ra sự đảm bảo an toàn về tài chính cho các hoạt động kinh tế xã hội

Hệ thống thuế Việt Nam từ năm 1999 đến nay đã có nhiều bước chuyển đổi theohướng tích cực là thực hiện cơ chế người nộp thuế tự khai, tự nộp, tự chịu trách nhiệmvề số liệu đã kê khai; cơ quan thuế chỉ kiểm tra, giám sát lại việc kê khai và nộp thuếcủa người nộp thuế Tuy nhiên như đã nói ở trên, do nhiều nguyên nhân khác nhau nênngười nộp thuế không phải lúc nào cũng xác định đúng số tiền thuế phải nộp và nộpđầy đủ, kịp thời vào NSNN Vì vậy, cơ quan thuế cần xem xét và tìm hiểu mức độchấp hành nghĩa vụ thuế của người nộp thuế để tìm giải pháp khắc phục

Thuế mang tính bắt buộc gắn liền với quyền lực chính trị của Nhà nước, được thểhiện bằng các sắc Luật thuế do Nhà nước qui định và một trong những sắc luật thuế đó

là Luật thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập doanh nghiệp Thuế giá trị gia tăng là loạithuế gián thu, người tiêu dùng là người cuối cùng chịu thuế và doanh nghiệp là ngườinộp thay Khác với thuế giá trị gia tăng, thuế Thu nhập doanh nghiệp là loại thuế trựcthu, đánh trực tiếp lên thu nhập của doanh nghiệp nên tác động trực tiếp đối với lợinhuận sau thuế của doanh nghiệp, đây cũng là nguyên nhân làm cho doanh nghiệpchấp hành không tốt việc kê khai tính thuế và nộp thuế thu nhập doanh nghiệp Doanhnghiệp tìm mọi cách để giảm số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp còn cơ quanthuế phải quản lý, kiểm tra để doanh nghiệp kê khai thuế đúng, đủ theo quy định

Tuy nhiên trên thực tế, trong nhận thức của một số người vẫn không xem việcchấp hành chính sách thuế là nghĩa vụ mà họ nghĩ rằng đã bị mất đi một lợi ích kinh tế

và họ chỉ thực hiện nghĩa vụ khi không thể tránh né được Còn ngược lại nếu có cơ hội

để không phải nộp thuế hoặc số tiền nộp giảm xuống so với nghĩa vụ thực tế mà không

bị xử lý gì thì họ sẽ tìm mọi cách để tránh thuế, né thuế và thậm chí là trốn thuế

Trang 2

Theo thống kê của Chi cục Thuế huyện Chợ Gạo (2014), toàn tỉnh hiện nay cóhơn 3.600 doanh nghiệp và hơn 15.000 hộ kinh doanh, trong đó trên địa bàn huyệnChợ Gạo có hơn 300 doanh nghiệp và hơn 3.800 hộ kinh doanh, chủ yếu là hoạt độngvới quy mô vừa và nhỏ với nhiều ngành nghề khác nhau nên công tác quản lý thuếluôn gặp nhiều thách thức Bên cạnh đó thực trạng hiện nay đặt ra là có nhiều doanhnghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh nhưng thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp rất

ít hoặc không có phát sinh thuế thu nhập doanh nghiệp, theo thống kê của Chi cụcThuế huyện Chợ Gạo các doanh nghiệp không phát sinh số thuế thu nhập doanhnghiệp phải nộp năm 2013 là: 93 doanh nghiệp, chiếm 31% doanh nghiệp đang hoạtđộng, năm 2014 là: 112 doanh nghiệp, chiếm 37% doanh nghiệp đang hoạt động.Thực trạng đó đặt ra là làm thế nào để công tác quản lý thuế đạt hiệu quả, tăng

thu ngân sách nhà nước Vì vậy, nghiên cứu“Phân tích các yếu tố tác động đến khả

năng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp của các danh nghiệp trên địa bàn huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang” Kết quả nghiên cứu đề tài này là một trong những kênh thông

tin cung cấp cho ban lãnh đạo thuộc các cơ quan quản lý thuế có cái nhìn mang tínhkhoa học, có cơ sở và có tính định lượng rõ ràng hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến sốthuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp, giúp cho việc điều hành, chỉ đạo tại Chi cụcThuế huyện Chợ Gạo nhằm nâng cao hơn nữa hiệu lực, hiệu quả trong việc thực thichính sách thuế trên địa bàn, góp phần tăng thu NSNN chi địa phương

2 Câu hỏi nghiên cứu

Câu hỏi nghiên cứu hướng đến các câu hỏi trọng tâm sau :

- Các yếu tố nào tác động đến khả năng nộp thuế TNDN của các doanh nghiệptrên địa bàn huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang?

- Mức độ tác động của các yếu tố này đến khả năng nộp thuế TNDN của cácdoanh nghiệp trên địa bàn huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang?

3 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu hướng đến các nội dung sau :

- Xác định các yếu tố tác động đến khả năng nộp thuế TNDN của các doanhnghiệp trên địa bàn huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang

Trang 3

- Đo lường mức độ tác động của các yếu tố đến khả năng nộp thuế TNDN củacác doanh nghiệp trên địa bàn huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang

- Khuyến nghị các giải pháp để chống thất thu thuế và tăng số thuế TNDN phảinộp của doanh nghiệp

4 Đối tượng, phạm vi và mẫu nghiên cứu

- Đề tài chỉ nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng nộp thuế TNDN củacác doanh nghiệp trên địa bàn huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang

- Đối tượng nghiên cứu là các doanh nghiệp đang hoạt động kinh doanh trên địabàn huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang có thời gian kinh doanh tại địa phương từ 03 nămtrở lên; loại thuế được nghiên cứu là thuế TNDN

Do đó, phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung vào 18 xã, thị trấn đơn vị hànhchính thuộc huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang Theo thống kê của Chi cục thuế huyệnChợ Gạo (2014), trên địa bàn huyện hiện có hơn 300 doanh nghiệp

5 Phương pháp nghiên cứu

- Khảo sát hết các doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn huyện Chợ Gạo,tỉnh Tiền Giang

- Nghiên cứu này được thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu định lượng

Dữ liệu được thu thập từ năm 2012 đến năm 2014 trên báo cáo tài chính được lấytrong hệ thống máy tính và hồ sơ lưu trữ nội bộ tại chi cục Thuế huyện Chợ Gạo nơitrực tiếp quản lý các doanh nghiệp được khảo sát

- Phương pháp định lượng được tiến hành bằng cách hồi quy Thông tin thuthập được sẽ được xử lý bằng phần mềm SPSS 16

6 Cơ sở lý luận

6.1 Các khái niệm về thuế

6.1.1 Khái niệm thuế

Adam Smith nói về thuế là: “Các công dân của mỗi nước phải đóng góp choChính phủ theo tỷ lệ khả năng của mỗi người, nghĩa là tỷ lệ với lợi tức mà họ được thụhưởng do sự bảo vệ của Nhà nước”

Trang 4

David Ricardo cho rằng “Thuế được cấu thành từ phần của Chính phủ lấy trongsản phẩm đất đai và lao động trong nước và xét cho cùng thi thuế được lấy từ tư bảnhay thu nhập của người chịu thuế”.

Theo Karl Marx thuế là “khoản đóng góp nghĩa vụ cần thiết để nuôi dưỡng Nhànước pháp quyền Thuế là nguồn sống đối với Nhà nước hành pháp Chính phủmạnh và thuế cao là hai khái niệm đồng nhất”

V Lênin (1870 - 1924) cho rằng “ thuế là cái Nhà nước thu của dân mà không

bù lại”

Hai tác giả người Anh là Chrisopher Pass và Bryan Lowes cho rằng: “thuế làmột biện pháp của Chính phủ đánh trên của cải và vốn nhận được của các cá nhân haydoanh nghiệp (thuế trực thu), trên việc chi tiêu về hàng hóa và dịch vụ (thuế gián thu)

và trên tài sản”

Paul.A.Samuelson và Nordhaus cho rằng“Thuế là một dạng cưỡng bức quantrọng tất cả mọi người đều phải chịu theo Luật thuế Sự thật là toàn bộ công dân tựmình đặt gánh năng thuế lên mình và mỗi công dân cũng được hưởng phần hàng côngcộng do Chính phủ cung cấp”

6.1.2 Vai trò của thuế

Thứ nhất, thuế là công cụ chủ yếu huy động nguồn lực vật chất cho Nhà nước

- Thuế là nguồn thu quan trọng nhất để phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thunhập quốc dân theo đường lối xây dựng kinh tế định hướng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, nóđảm bảo cho sự tồn tại và hoạt động của bộ máy Nhà nước

- Với cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, hệ thống thuế phải được áp dụng thốngnhất giữa các thành phần kinh tế, thuế phải bao quát hết các hoạt động kinh doanh, cácnguồn thu nhập, mọi tài nguyên chịu thuế và tiêu dùng xã hội

Thứ hai, thuế là công cụ điều tiết vĩ mô trong nên kinh tế thị trường

Ngoài việc huy động nguồn thu cho ngân sách, thuế có vai trò quan trọng trongviệc điều chỉnh nền kinh tế Thuế có ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả và thu nhập Vìvậy căn cứ vào tình hình cụ thể, nhà nước sử dụng công cụ này để chủ động điều hành

Trang 5

nền kinh tế Lúc nền kinh tế quá thịnh thì việc gia tăng thuế có tác dụng ức chế sự tăngtrưởng của tổng nhu cầu làm giảm phát triển của kinh tế Những mặt hàng quan trọngnhư xăng dầu, sắt thép… khi có sự biến động giá cả trên thế giới, để ổn định giá cảtrong nước nhà nước thông qua công cụ thuế để ổn định giá cả Như vậy, qua việc xâydựng các luật thuế mà nhà nước có thể chủ động phát huy vai trò điều hoà nền kinh tế.Dựa vào công cụ thuế, nhà nước có thể thúc đẩy hoăc hạn chế việc tích luỹ đầu tư,khuyến khích xuất khẩu

Thứ ba, thuế là công cụ điều hòa thu nhập, thực hiện công bằng xã hội trongphân phối

- Hệ thống thuế được áp dụng thống nhất giữa các ngành nghề, các thành phần kinh

tế, các tầng lớp dân cư để đảm bảo sự bình đẳng và công bằng xã hội Sự bình đẳng vàcông bằng xã hội được thể hiện thông qua chính sách động viên giống nhau giữa các đơn

vị, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế có những điều kiện hoạt động giống nhau, đảmbảo sự bình đằng về nghĩa vụ đối với mọi công dân, không có đặc quyền, đặc lợi cho bất kìđối tượng nào

- Bình đẳng, công bằng xã hội không chỉ là đạo lý, lý thuyết mà phải được biểu hiệnbằng luật pháp, chế độ qui định của nhà nước Phải có những biện pháp chống thất thu vềthuế đối với đối tượng nộp thuế, về căn cứ tính thuế, về tổ chức quản lý thu thuế, về chế

độ miễn giảm thuế, về kiểm tra, xử lý nghiêm minh đối với các vụ vi phạm trốn thuế…

Thứ tư, ngoài những vai trò nêu trên thuế là công cụ thực hiện kiểm tra, kiểmsoát các hoạt động sản xuất kinh doanh

6.2 Thuế thu nhập doanh nghiệp

Theo Quốc Hội (2006, 2008, 2012, 2014) quy định về thuế thuế Thu nhậpdoanh nghiệp như sau:

6.2.1 Khái niệm

- Thuế TNDN là loại thuế trực thu đánh trên phần thu nhập sau khi trừ đi cáckhoản chi phí hợp lý, hợp pháp liên quan đến thu nhập của đối tượng nộp thuế trong

kỳ tính thuế

Trang 6

Số thuế thu nhập doanh nghiệp tính nộp ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trungương nơi có cơ sở sản xuất hạch toán phụ thuộc được xác định bằng số thuế thu nhậpdoanh nghiệp phải nộp trong kỳ nhân (x) tỷ lệ chi phí của cơ sở sản xuất hạch toán phụthuộc với tổng chi phí của doanh nghiệp.

Tỷ lệ chi phí được xác định bằng tỷ lệ chi phí giữa tổng chi phí của cơ sở sảnxuất hạch toán phụ thuộc với tổng chi phí của doanh nghiệp Tỷ lệ chi phí được xácđịnh như sau:

Tỷ lệ chi phí của cơ sở

sản xuất hạch toán phụ

thuộc

=

Tổng chi phí của cơ sở sản xuất hạch toán phụ thuộc

Tổng chi phí của doanh nghiệp

Số liệu để xác định tỷ lệ chi phí được căn cứ vào số liệu quyết toán thuế thunhập của doanh nghiệp năm trước liền kề năm tính thuế do doanh nghiệp tự xác định

để làm căn cứ xác định số thuế phải nộp và được sử dụng để kê khai, nộp thuế thunhập doanh nghiệp cho các năm sau

Trường hợp doanh nghiệp mới thành lập, doanh nghiệp đang hoạt động cóthành lập thêm hoặc thu hẹp các cơ sở sản xuất hạch toán phụ thuộc ở các địa phươngthì doanh nghiệp phải tự xác định tỷ lệ chi phí cho kỳ tính thuế đầu tiên đối với cáctrường hợp có sự thay đổi này Từ kỳ tính thuế tiếp theo tỷ lệ chi phí được sử dụng ổnđịnh theo nguyên tắc nêu trên

Đơn vị hạch toán phụ thuộc các doanh nghiệp hạch toán toàn ngành có thu nhậpngoài hoạt động kinh doanh chính thì nộp thuế tại tỉnh, thành phố trực thuộc Trungương nơi phát sinh hoạt động sản xuất kinh doanh đó

6.2.2 Đặc điểm của thuế TNDN

Thuế TNDN là thuế trực thu, đối tượng nộp thuế TNDN là các doanh nghiệp,đồng thời cũng là “ người” chịu thuế Thuế TNDN phụ thuộc vào kết quả hoạt độngkinh doanh của doanh nghiệp Thuế TNDN là thuế khấu trừ trước thuế TNCN, là phầnthu nhập được chia sau khi nộp thuế TNDN Do vậy, thuế TNDN cũng có thể được coi

là một biện pháp quản lý thuế thu nhập cá nhân

6.2.3 Vai trò của thuế thu nhập doanh nghiệp

Trang 7

Tạo ra cho Nhà nước một khoản thu gắn với hiệu quả kinh doanh của doanhnghiệp nói riêng và của toàn nền kinh tế nói chung Theo quy luật khi trình độ kinh tếcàng phát triển thì thuế TNDN càng chiếm vị trí quan trọng trong tổng thu NSNN.

Phân phối lại thu nhập giữa các tổ chức kinh tế và Chính phủ

Điều tiết, kích thích tiết kiệm và đầu tư theo hướng nâng cao năng lực, hiệu quả

xã hội

Tạo sự công bằng giữa các doanh nghiệp trong sản xuất, kinh doanh, phù hợpvới chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần và trong tiến trình hội nhập ở nước

ta hiện nay

6.2.4 Các quy định về thuế thu nhập doanh nghiệp

6.2.4.1 Đối tượng chịu thuế

Người nộp thuế thu nhập doanh nghiệp là tổ chức hoạt động sản xuất, kinhdoanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập chịu thuế (sau đây gọi là doanh nghiệp), baogồm:

- Doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo quy định của Luật Doanhnghiệp, Luật Đầu tư, Luật các tổ chức tín dụng, Luật Kinh doanh bảo hiểm, LuậtChứng khoán, Luật Dầu khí, Luật Thương mại và các văn bản quy phạm pháp luậtkhác dưới các hình thức: Công ty cổ phần; Công ty trách nhiệm hữu hạn; Công ty hợpdanh; Doanh nghiệp tư nhân; Văn phòng Luật sư, Văn phòng công chứng tư; Các bêntrong hợp đồng hợp tác kinh doanh; Các bên trong hợp đồng phân chia sản phẩm dầukhí, Xí nghiệp liên doanh dầu khí, Công ty điều hành chung

- Đơn vị sự nghiệp công lập, ngoài công lập có sản xuất kinh doanh hàng hóa,dịch vụ có thu nhập chịu thuế trong tất cả các lĩnh vực

- Tổ chức được thành lập và hoạt động theo Luật Hợp tác xã

- Doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật nước ngoài (sau đâygọi là doanh nghiệp nước ngoài) có cơ sở thường trú tại Việt Nam

6.2.4.2 Phương pháp tính thuế

Trang 8

- Số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong kỳ tính thuế bằng thu nhập tínhthuế nhân với thuế suất.

Thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp được xác định theo công thức sau:

Thuế

TNDN

phải nộp

= (Thu nhậptính thuế -

Phần trích lập quỹKH&CN (nếu có)) x Thuế suất thuế TNDN

Trường hợp doanh nghiệp đã nộp thuế thu nhập doanh nghiệp hoặc loại thuếtương tự thuế thu nhập doanh nghiệp ở ngoài Việt Nam thì doanh nghiệp được trừ sốthuế thu nhập doanh nghiệp đã nộp nhưng tối đa không quá số thuế thu nhập doanhnghiệp phải nộp trong kỳ theo quy định của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp

- Kỳ tính thuế được xác định theo năm dương lịch Trường hợp doanh nghiệp

áp dụng năm tài chính khác với năm dương lịch thì kỳ tính thuế xác định theo năm tàichính áp dụng Kỳ tính thuế đầu tiên đối với doanh nghiệp mới thành lập và kỳ tínhthuế cuối cùng đối với doanh nghiệp chuyển đổi loại hình doanh nghiệp, chuyển đổihình thức sở hữu, sáp nhập, chia, tách, giải thể, phá sản được xác định phù hợp với kỳ

kế toán theo quy định của pháp luật về kế toán

- Trường hợp doanh nghiệp thực hiện chuyển đổi kỳ tính thuế thu nhập doanhnghiệp (bao gồm cả chuyển đổi kỳ tính thuế từ năm dương lịch sang năm tài chínhhoặc ngược lại) thì kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp của năm chuyển đổi khôngvượt quá 12 tháng Doanh nghiệp đang trong thời gian được hưởng ưu đãi thuế thunhập doanh nghiệp mà có thực hiện chuyển đổi kỳ tính thuế thì doanh nghiệp được lựachọn: Ưu đãi trong năm chuyển đổi kỳ tính thuế hoặc nộp thuế theo mức thuế suấtkhông được hưởng ưu đãi của năm chuyển đổi kỳ tính thuế và hưởng ưu đãi thuế sangnăm tiếp theo

- Đơn vị sự nghiệp, tổ chức khác không phải là doanh nghiệp thành lập và hoạtđộng theo quy định của pháp luật Việt Nam, doanh nghiệp nộp thuế giá trị gia tăngtheo phương pháp trực tiếp có hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhậpchịu thuế thu nhập doanh nghiệp mà các đơn vị này xác định được doanh thu nhưngkhông xác định được chi phí, thu nhập của hoạt động kinh doanh thì kê khai nộp thuếthu nhập doanh nghiệp tính theo tỷ lệ % trên doanh thu bán hàng hóa, dịch vụ

Trang 9

- Doanh nghiệp có doanh thu, chi phí và thu nhập khác bằng ngoại tệ thì phảiquy đổi ngoại tệ ra đồng Việt Nam theo tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trườngngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm phátsinh doanh thu, chi phí, thu nhập khác bằng ngoại tệ, trừ trường hợp pháp luật có quyđịnh khác Đối với loại ngoại tệ không có tỷ giá hối đoái với đồng Việt Nam thì phảiquy đổi thông qua một loại ngoại tệ có tỷ giá hối đoái với đồng Việt Nam.

6.2.4.3 Doanh thu để tính thuế

a) Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế

Là toàn bộ tiền bán hàng hóa, tiền gia công, tiền cung cấp dịch vụ bao gồm cảkhoản trợ giá, phụ thu, phụ trội mà doanh nghiệp được hưởng không phân biệt đã thuđược tiền hay chưa thu được tiền

- Đối với doanh nghiệp nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừthuế là doanh thu chưa bao gồm thuế giá trị gia tăng

- Đối với doanh nghiệp nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trực tiếp trêngiá trị gia tăng là doanh thu bao gồm cả thuế giá trị gia tăng

- Trường hợp doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh dịch vụ mà khách hàng trảtiền trước cho nhiều năm thì doanh thu để tính thu nhập chịu thuế được phân bổ cho sốnăm trả tiền trước hoặc được xác định theo doanh thu trả tiền một lần Trường hợpdoanh nghiệp đang trong thời gian hưởng ưu đãi thuế việc xác định số thuế được ưuđãi phải căn cứ vào tổng số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của số năm thu tiềntrước chia (:) cho số năm thu tiền trước

b) Thời điểm xác định doanh thu để tính thu nhập chịu thuế

- Đối với hoạt động bán hàng hóa là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu,quyền sử dụng hàng hóa cho người mua

- Đối với hoạt động cung ứng dịch vụ là thời điểm hoàn thành việc cung ứngdịch vụ cho người mua hoặc thời điểm lập hóa đơn cung ứng dịch vụ

Trang 10

Trường hợp thời điểm lập hóa đơn cung ứng dịch vụ xảy ra trước thời điểmdịch vụ hoàn thành thì thời điểm xác định doanh thu tính thuế được tính theo thời điểmlập hóa đơn cung ứng dịch vụ.

- Đối với hoạt động vận tải hàng không là thời điểm hoàn thành việc cung ứngdịch vụ vận chuyển cho người mua

6.2.4.4 Thuế suất thuế Thu nhập doanh nghiệp

- Năm 2012 và sáu tháng đầu năm 2013 áp dụng thuế suất thuế TNDN là 25%

6.2.4.5 Thời điểm xác định số thuế TNDN phải nộp

Thuế TNDN là loại thuế doanh nghiệp tự tính và tạm nộp hàng quý, cuối nămdoanh nghiệp thực hiện quyết toán thuế xác đinh số thuế TNDN phải nộp trong nămthời hạn chậm nhất ngày ngày 31/3 hàng năm

6.3 Doanh nghiệp

6.3.1 Khái niệm

Quốc hội (2006), định nghĩa doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tàisản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luậtnhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh

Doanh nghiệp ngoài quốc doanh là những doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, cánhân không chịu sự chi phối của Nhà nước, được phép kinh doanh trong những ngành

và lĩnh vực mà pháp luật cho phép, tự chịu trách nhiệm với mọi kết quả kinh doanhcủa mình Đặc điểm nổi bật của loại hình doanh nghiệp này là tính chất tư hữu, cácdoanh nghiệp thuộc sở hữu của cá nhân hoặc tổ chức có vốn và tài sản đầu tư chodoanh nghiệp, có quyền quản lý và diều hành mọi hoạt động của doanh nghiệp(Nguyễn Việt Hùng, 2013)

Trang 11

6.3.2 Đặc điểm doanh nghiệp

Theo Quốc hội (2006) đề cập đến đặc điểm của doanh nghiệp như sau:

Đặc điểm chung của doanh nghiệp: Có tính tổ chức, có chức năng sản xuất kinhdoanh hoặc cung ứng dịch vụ, có mục tiêu hoạt động là lợi nhuận và có tính hợp pháp

Đặc điểm từng loại hình doanh nghiệp:

- Công ty trách nhiệm hữu hạn: Có đầy đủ tiêu chí của một tổ chức có tư cáchpháp nhân Các thành viên công ty phải góp đủ vốn từ khi thành lập và chịu tráchnhiệm đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty trong phạm vi góp vốn Chủ sở hữu

có thể là một cá nhân, một tổ chức hoặc có các thành viên là cá nhân và tổ chức cùng

sở hữu

- Công ty cổ phần:Vốn của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi

là cổ phần, những người sở hữu cổ phần được gọi là cổ đông có tư cách pháp nhân,chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty bằng tài sản của công ty Là loại hìnhduy nhất có quyền phát hành chứng khoán Phải có từ 3 thành viên trở lên và trên 12thành viên phải tổ chức ban kiểm soát

- Công ty hợp danh: Là doanh nghiệp có ít nhất 2 thành viên là sở hữu chungcủa công ty cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung Có thể có thành viên góp vốn.Các thành viên phải là các cá nhân chịu trách nhiệm vô hạn bằng tài sản của mình đốivới nghĩa vụ của công ty, thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm trong số vốn đãgóp

- Doanh nghiệp tư nhân: Là DN do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệmbằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của DN, không có quyền phát hànhmột loại chứng khoán nào, mỗi cá nhân chỉ đc lập một doanh nghiệp tư nhân và không

có tư cách pháp nhân

6.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng nộp thuế TNDN của doanh nghiệp 6.4.1 Các yếu tố liên quan doanh nghiệp

6.4.1.1 Doanh thu

Trang 12

Doanh thu thể hiện khả năng cung cấp hàng hóa, dịch vụ đối với thị trường,doanh thu tăng lên qua mỗi năm thể hiện khả năng thích ứng với thị trường của doanhnghiệp, có doanh thu doanh nghiệp sẽ có một khoản lợi nhuận nhất định trang trải tiềnlương cho công nhân, các khoản chi phí cố định, các khoản phải nộp vào ngân sáchnhà nước, do vậy doanh thu là một trong các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủthuế thông qua khả năng nộp thuế, nếu các yếu tố chi phí khác không thay đổi thìdoanh thu tăng đồng nghĩa với lợi nhuận của doanh nghiệp càng tăng Và khi hoạtđộng kinh doanh phát triển theo chiều hướng tốt, doanh thu tăng lên hàng năm DN sẽthuận lợi trong việc điều tiết đồng tiền trong lưu thông, lợi nhuận được tạo ra khidoanh thu tăng sẽ khuyến khích DN thực hiện tốt nghĩa vụ thuế với ngân sách nhànước khi đó số thuế TNDN phát sinh phải nộp của doanh nghiệp sẽ tăng khi lợi nhuậndoanh nghiệp tăng lên.

Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là toàn bộ tiền bán hàng hoá, tiền giacông, tiền cung cấp dịch vụ bao gồm cả khoản trợ giá, phụ thu, phụ trội mà doanhnghiệp được hưởng không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền (Quốchội, 2014)

Doanh thu được đề cập trong nghiên cứu này là doanh thu của toàn bộ số tiền

do tiêu thụ sản phẩm, hàng hóa, dịch vụ, hoạt động tài chính, hoạt động khác củadoanh nghiệp phát sinh trong một năm

6.4.1.2 Số lao động làm việc tại doanh nghiệp

Lao động là một trong ba yếu tố của quá trình sản xuất, trong đó yếu tố laođộng là yếu tố quan trọng nhất, vì không có lao động của con người thì tư liệu laođộng và đối tượng lao động chỉ là những vật vô dụng, vì con người là chủ thể của quátrình sản xuất kinh doanh Trong quá trình lao động con người luôn sáng tạo, cải tiếncông cụ, hợp tác cùng nhau để không ngừng nâng cao năng suất lao động, qua đó trình

độ kỹ thuật của người lao động, kinh nghiệm sản xuất, chuyên môn hóa lao động ngàycàng nâng cao

Số lượng lao động trong doanh nghiệp thể hiện quy mô của doanh nghiệp,doanh nghiệp có quy mô lớn có nhu cầu về nguồn nhân lực lớn để đáp ứng khối lượng

Trang 13

công việc nhằm cung cấp sản phẩm, dịch vụ kịp thời cho thị trường nói riêng và nềnkinh tế nói chung

Doanh nghiệp càng có số lao động lớn, có ý nghĩa về mặt an sinh xã hội đối vớinền kinh tế, người đứng đầu doanh nghiệp có trách nhiệm hơn đối với nhân viên củamình hơn, giải quyết được nhu cầu về việc làm cho người lao động, do đó để thể hiện

bộ mặt của doanh nghiệp trong xã hội, cần phải thực hiện tốt nghĩa vụ đối với nhànước qua việc tuân thủ các chính sách thuế, hạn chế tối thiểu những việc làm ảnhhưởng đến doanh nghiệp mà cụ thể là chấp hành tốt nghĩa vụ về thuế thông qua việckhai thuế đầy đủ, kịp thời

6.4.1.3 Yếu tố về Tổng tài sản, nợ phải trả và nguồn vốn chủ sở hữu

Một cách đơn giản để nhận định doanh nghiệp là xác định giá trị tài sản củadoanh nghiệp dựa trên việc xác định các nguồn lực trên bảng cân đối kế toán củadoanh nghiệp DN sử dụng nguồn lực tài chính bằng nguồn vốn tự có và nguồn vốnvay từ các cá nhân và các tổ chức tín dụng sử dụng để chi trả cho các hoạt động chínhcủa DN, trong đó tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu là chỉ số phản ánh quy mô tàichính của công ty Nó cho ta biết về tỉ lệ giữa 2 nguồn vốn cơ bản (nợ và vốn chủ sởhữu) mà doanh nghiệp sử dụng để chi trả cho hoạt động của mình Hai nguồn vốn này

có những đặc tính riêng biệt và mối quan hệ giữa chúng được sử dụng rộng rãi để đánhgiá tình hình tài chính của doanh nghiệp Tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu được tínhbằng cách chia tổng nợ cho vốn chủ sở hữu:

DER = Tổng nợ / Vốn chủ sở hữu

Trong đó nợ của doanh nghiệp bao gồm cả nợ ngắn hạn và nợ dài hạn Vốn chủ

sở hữu hay vốn cổ phần của cổ đông gồm cổ phần thông thường, cổ phần ưu đãi, cáckhoản lãi phải trả và nợ ròng

Tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu cũng phụ thuộc nhiều vào ngành, lĩnh vực

mà công ty hoạt động Ví dụ, các ngành sản xuất cần sử dụng nhiều vốn thì Tỷ lệ tổng

nợ trên vốn chủ sở hữu có xu hướng cao hơn, trong khi các công ty dịch vụ thì Tỷ lệtổng nợ trên vốn chủ sở hữu thường thấp hơn

Trang 14

Tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu giúp nhà quản trị có một cái nhìn khái quátvề sức mạnh tài chính, cấu trúc tài chính của doanh nghiệp và làm thế nào doanhnghiệp có thể chi trả cho các hoạt động Thông thường, nếu hệ số này lớn hơn 1, cónghĩa là tài sản của doanh nghiệp được tài trợ chủ yếu bởi các khoản nợ, còn ngược lạithì tài sản của doanh nghiệp được tài trợ chủ yếu bởi nguồn vốn chủ sở hữu Vềnguyên tắc, hệ số này càng nhỏ, có nghĩa là nợ phải trả chiếm tỷ lệ nhỏ so với tổng tàisản hay tổng nguồn vốn thì doanh nghiệp ít gặp khó khăn hơn trong tài chính Tỷ lệnày càng lớn thì khả năng gặp khó khăn trong việc trả nợ hoặc phá sản của doanhnghiệp càng lớn.

Trên thực tế, nếu nợ phải trả chiếm quá nhiều so với nguồn vốn chủ sở hữu cónghĩa là doanh nghiệp đi vay mượn nhiều hơn số vốn hiện có, nên doanh nghiệp có thểgặp rủi ro trong việc trả nợ, đặc biệt là doanh nghiệp càng gặp nhiều khó khăn hơn khilãi suất ngân hàng ngày một tăng cao Các chủ nợ hay ngân hàng cũng thường xemxét, đánh giá kỹ tỷ lệ nợ (và một số chỉ số tài chính khác) để quyết định có cho doanhnghiệp vay hay không

Tuy nhiên, việc sử dụng nợ cũng có một ưu điểm, đó là chi phí lãi vay sẽ đượctrừ vào thuế thu nhập doanh nghiệp Do đó, doanh nghiệp phải cân nhắc giữa rủi ro vềtài chính và ưu điểm của vay nợ để đảm bảo một tỷ lệ hợp lý nhất

Từ những lưu ý trên cần rất thận trọng trong việc nghiên cứu, theo dõi các chỉ

số tài chính cũng như phương pháp hạch toán, kế toán và các thông tin liên quan để cóthể kết luận chính xác tình hình tài chính của doanh nghiệp DN có giá trị về tổng tàisản lớn thể hiện sự nhiệt huyết trong kinh doanh, ngoài mục đích tìm kiếm lợi nhuận

đó cũng sự thể hiện vị thế của mình trong xã hội, tạo niềm tin cho đối tác, tuy nhiên đểviệc lựa chọn một tỷ lệ giữa nợ và vốn chủ sở hữu, đây là hai nguồn quan trọng hìnhthành nên tài sản là một vấn đề cực kỳ quan trọng quyết định kết quả kinh doanh củadoanh nghiệp Do đó, các yếu tố về Tổng tài sản, Nợ và Vốn chủ sở hữu cũng là nhữngyếu tố để đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật về thuế thông qua việc thực hiện nộpthuế đúng hạn vào ngân sách nhà nước, một doanh nghiệp có tỷ lệ nợ thấp, tình hìnhtài chính khả quan thì vấn đề về thuế và thời hạn nộp thuế được các chủ DN quan tâmhơn, có thể theo chiều hướng tích cực hoặc tiêu cực, mặt khác tỷ lệ nợ cao do DN sử

Trang 15

dụng đòn bẩy trong kinh doanh lớn, nhiều rủi ro do đó có sự cân nhắc trong thực hànhtuân thủ thuế qua việc nộp thuế đúng hạn bởi sự xuất hiện của yếu tố lãi vay, họ sẽ cânnhắc giữa việc chấp hành thuế và các cam kết với các tổ chức tín dụng Do vậy, cácchỉ tiêu trên ảnh hưởng đến tình tuân thủ thuế qua khả năng nộp thuế đúng hạn, tuynhiên mức độ ảnh hưởng ra sao sẽ được phân tích kỹ trong các chương sau.

6.4.1.4 Tỷ số lợi nhuận ròng trên doanh thu (ROS)

Tỷ số lợi nhuận trên doanh thu (Tỷ suất sinh lời trên doanh thu, Suất sinh lờicủa doanh thu, Hệ số lãi ròng) là một tỷ số tài chính dùng để theo dõi tình hình sinh lợicủa công ty Nó phản ánh quan hệ giữa lợi nhuận ròng và doanh thu của công ty

Tỷ số này cho biết lợi nhuận chiếm bao nhiêu phần trăm trong doanh thu Tỷ sốnày mang giá trị dương nghĩa là công ty kinh doanh có lãi; tỷ số càng lớn nghĩa là lãicàng lớn Tỷ số mang giá trị âm nghĩa là công ty kinh doanh thua lỗ

Tuy nhiên, tỷ số này phụ thuộc vào đặc điểm kinh doanh của từng ngành Vìthế, khi theo dõi tình hình sinh lợi của công ty, người ta so sánh tỷ số này của công tyvới tỷ số bình quân của toàn ngành mà công ty đó tham gia

Tỷ số lợi nhuận trên doanh thu trong một kỳ nhất định được tính bằng cách lấylợi nhuận ròng hoặc lợi nhuận sau thuế trong kỳ chia cho doanh thu trong kỳ Đơn vịtính là % Cả lợi nhuận ròng lẫn doanh thu đều có thể lấy từ báo cáo kết quả kinhdoanh của công ty

6.4.1.5 Tỷ số lợi nhuận ròng trên tài sản (ROA)

Tỷ số lợi nhuận trên tài sản (hay Chỉ tiêu hoàn vốn tổng tài sản, Hệ số quayvòng của tài sản, Tỷ suất sinh lời trên tổng tài sản) là một tỷ số tài chính dùng để đolường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng tài sản của doanh nghiệp

Nếu tỷ số này lớn hơn 0, thì có nghĩa doanh nghiệp làm ăn có lãi Tỷ số càngcao cho thấy doanh nghiệp làm ăn càng hiệu quả Còn nếu tỷ số nhỏ hơn 0, thì doanhnghiệp làm ăn thua lỗ Mức lãi hay lỗ được đo bằng phần trăm của giá trị bình quântổng tài sản của doanh nghiệp Tỷ số cho biết hiệu quả quản lý và sử dụng tài sản đểtạo ra thu nhập của doanh nghiệp

Trang 16

Tỷ số này được tính ra bằng cách lấy lợi nhuận ròng (hoặc lợi nhuận sau thuế)của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo (có thể là 1 tháng, 1 quý, nửa năm, hay một năm)chia cho bình quân tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp trong cùng kỳ Số liệu về lợinhuận ròng hoặc lợi nhuận trước thuế được lấy từ báo cáo kết quả kinh doanh Còn giátrị tài sản được lấy từ bảng cân đối kế toán.

6.4.1.6 Tỷ số lợi nhuận ròng trên vốn (ROE)

Tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu hay Tỷ suất thu nhập của vốn cổ đông haychỉ tiêu hoàn vốn cổ phần của cổ đông là tỷ số tài chính để đo khả năng sinh lợi trênmỗi đồng vốn ở một công ty Nếu tỷ số này mang giá trị dương, là công ty làm ăn cólãi; nếu mang giá trị âm là công ty làm ăn thua lỗ

Cũng như tỷ số lợi nhuận trên tài sản, tỷ số này phụ thuộc vào thời vụ kinhdoanh Ngoài ra, nó còn phụ thuộc vào quy mô và mức độ rủi ro của công ty Để sosánh chính xác, cần so sánh tỷ số này của một công ty cổ phần với tỷ số bình quân củatoàn ngành, hoặc với tỷ số của công ty tương đương trong cùng ngành

Tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu hay được đem so sánh với tỷ số lợi nhuậntrên tài sản (ROA) Nếu tỷ số lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu lớn hơn ROA thì có nghĩa

là đòn bẩy tài chính của công ty đã có tác dụng tích cực, nghĩa là công ty đã thànhcông trong việc huy động vốn của cổ đông để kiếm lợi nhuận với tỷ suất cao hơn tỷ lệtiền lãi mà công ty phải trả cho các cổ đông

6.4.1.7 Giới tính của chủ doanh nghiệp

Mức độ tuân thủ thuế của nam giới so với nữ giới và cho thấy rằng nữ giới cókhả năng tuân thủ thuế cao hơn nam giới (Tittle, 1980) Baldry (1987) bằng nghiêncứu thực nghiệm đã tìm ra rằng phụ nữ có xu hướng tuân thủ thuế cao hơn nam giới,Tuy nhiên ở một nghiên cứu khác cho thấy nữ giới có tỷ lệ không tuân thủ cao hơnnam giới thể hiện qua hành vi trốn thuế (Houston, 2001)

6.4.1.8 Độ tuổi của chủ doanh nghiệp

Một yếu tố phổ biến để xác định sự ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ của ngườinộp thuế là độ tuổi của người nộp thuế Tuổi tác và sự tuân thủ của người nộp thuế cómối liên hệ chặt chẽ với nhau (Jackson và Milliron, 1986) Ngoài ra, số liệu từ chương

Ngày đăng: 23/03/2015, 16:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w