37CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG TỰ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN THEO PHƯƠNG THỨC ĐÀO TẠO TÍN CHỈ .... 88 3.3.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới tự quản lý hoạt động
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 3
5 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 4
6 Giả thuyết khoa học 4
7 Phương pháp nghiên cứu 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ TỰ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP TRONG ĐÀO TẠO THEO TÍN CHỈ 5
1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu tự quản lý hoạt động học tập 5
1.1.1 Những nghiên cứu về tự quản lý hoạt động học tập ở nước ngoài 5 1.1.2 Những nghiên cứu về tự quản lý ở trong nước 7
1.2 Một số vấn đề lý luận cơ bản về tự quản lý hoạt động học tập của sinh viên theo tín chỉ 9
1.2.1 Hoạt động học tập theo phương thức đào tạo tín chỉ của sinh viên 9 1.2.2 Khái niệm quản lý và tự quản lý hoạt động học tập theo phương thức đào tạo tín chỉ của sinh viên 17
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tự quản lý hoạt động học tập của sinh viên theo phương thức đào tạo tín chỉ 30
1.3.1 Các yếu tố chủ quan 30
1.3.2 Các yếu tố khách quan 31
CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
2.1 Vài nét về trường Đại học Thái Nguyên 34
2.2 Vài nét về khách thể nghiên cứu 35
2.3 Tổ chức nghiên cứu 37
2.3.1 Thời gian nghiên cứu 37
Trang 42.3.2 Tổ chức nghiên cứu thực tiễn 37
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG TỰ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN THEO PHƯƠNG THỨC ĐÀO TẠO TÍN CHỈ 44
3.1 Nhận thức của sinh viên về đặc điểm hoạt động học tập và vai trò của tự quản lý hoạt động học tập theo phương thức đào tạo tín chỉ 44
3.2 Nhận thức của sinh viên về vai trò của tự quản lý hoạt động học tập theo phương thức đào tạo tín chỉ 46
3.2 dưới đây là điển trung bình của 3 mức độ của 8 tiêu chí đánh giá 46
3.3 Thực trạng tự quản lý hoạt động học tập theo phương thức đào tạo tín chỉ của sinh viên 50
3.3.1.Tự quản lý học tập biểu hiện ở tự lập kế hoạch học tập 50
3.3.2 Tự quản lý hoạt động học tập biểu hiện ở tự quản lý quá trình học tập 55
3.3.Tự quản lý nguồn lực phục vụ cho hoạt động học tập 83
3.3.4 Đánh giá của giảng viên về thực trạng tự quản lý hoạt động học tập của sinh viên trường Đại học Thái Nguyên 88
3.3.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới tự quản lý hoạt động học tập của sinh viên trường ĐH Thái Nguyên theo phương thức đào tạo tín chỉ 94
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 106
TÀI LIỆU THAM KHẢO 112
PHỤ LỤC 115
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Đánh giá của sinh viên về mức độ quan trọng của việc tự quản lý hoạt
động học tập 46
Bảng 3.2 Sinh viên lập kế hoạch học tập 51
Bảng 3.3 Đánh giá của sinh viên về tự quản lý hoạt động học tập trên lớp 56
Bảng 3.4 So sánh đánh giá của sinh viên về tự quản lýhoạt động học tập trên lớp 63
Bảng 3.5 So sánh đánh giá của sinh viên về tự quản lý hoạt động tự học 65
Bảng 3.6 Mức độ thực hiện các hành động học tập 67
Bảng 3.7 Sắp xếp không gian học tập của sinh viên 73
Bảng 3.8 Tìm hiểu cách sử dụng thời gian học tập ngoài giờ lên lớp của sinh viên 75
Bảng 3.9 Sinh viên tự đánh giá về hoạt động học tập của mình 78
Bảng 3.10 Đánh giá của giảng viên về hoạt động học tập trên lớp của sinh viên 89
Bảng 3.11 Những yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến tự quản lý hoạt động học tập của sinh viên 94
Bảng 3.12 Những yếu tố khách quan ảnh hưởng đến tự quản lý hoạt động học tập của sinh viên 100
Trang 6DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1 Nhận thức của sinh viên về đặc điểm hoạt động học tập theo
phương thức đào tạo tín chỉ 45
Biểu đồ 3.2: So sánh đánh giá của giảng viên và sinh viên về vai trò của tự quản lý hoạt động học tập của sinh viên 49
Biểu đồ 3.3 Cách thức sinh viên lập kế hoạch học tập 53
Biểu đồ 3.4 Sinh viên tự lập kế hoạch qua từng năm học 54
Biểu đồ 3.5 Thực trạng sinh viên thực hiện các hành động học tập trên lớp 59 Biểu đồ 3.6 Các hoạt động trên lớp được thực hiện thường xuyên nhất theo từng năm học 62
Biểu đồ 3.7 Các hành động tự quản lý hoạt động tự học 64
Biểu đồ 3.8 Mức độ thực hiện và kết quả của các hành động học tập 68
Biểu đồ 3.9 Cách thức tự quản lý quá trình học tập 70
Biểu đồ 3.10 Cách thức tự quản lý thời gian học tập của những sinh viên lập kế hoạch theo lịch học của khoa 72
Biểu đồ 3.11 Sinh viên lập kế hoạch học tập theo tuần 73
Biểu đồ 3.12 Hành động đăng ký môn học 76
Biểu đồ 3.13 Căn cứ để đăng ký môn học của sinh viên 77
Biểu đồ 3.14 Ttự kiểm tra, đánh giá hoạt động học tập của sinh viên 79
Biểu đồ 3.15 So sánh tự đánh giá của sinh viên với học lực 81
Biểu đồ 3.16 Thu thập thông tin học tập 83
Biểu đồ 3.17 Môi trường học tập thuận lợi cho sinh viên 85
Biểu đồ 3.18 Nguồn lực kinh tế phục vụ học tập của sinh viên 86
Biểu đồ 3.19 Đánh giá của giảng viên về thực trạng tự quản lýhoạt động học tập của sinh viên 90
Trang 7Biểu đồ 3.20 Các yếu tố chủ quan ảnh hưởng tới hoạt động học tậpcủa sinh viên 96Biểu đồ 3.21 Đánh giá của giảng viên về các yếu tố chủ quan tác động tới hoạt động học tập của sinh viên 99Biểu đồ 3.22 Các yếu tố khách quan ảnh hưởng tới hoạt động học tập của sinh viên 102Biểu đồ 3.23 Đánh giá của giảng viên về các yếu tố khách quan ảnh hưởng tớihoạt động học tập của sinh viên 104
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Để đáp ứng nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, chúng ta phải đầu tư cho giáo dục, xem “giáo dục là quốc sách hàng đầu” Ngành giáo dục đã và đang không ngừng nâng cao chất lượng để thực hiện mục tiêu chiến lược nâng cao dân trí, đào tạo bồi dưỡng nhân tài cho đất nước Trong quá trình đó, người học đóng vai trò trung tâm, mọi hoạt động đều hướng tới phát huy tính tích cực, sáng tạo của mình Người học cần tự giác, tích cực, chủ động, tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động học tập nhằm thực hiện các nhiệm vụ học tập Như vậy, tự học được xem như khâu quan trọng nhất của quá trình nhận thức, là con đường tốt nhất giúp người học có được tri thức phong phú và sâu sắc, kỹ năng, kỹ xảo được rèn luyện, giúp học trò sáng tạo ra nhiều giá trị
Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP ngày 2/11/2005 của chính phủ về đổi mới cơ bản, toàn diện giáo dục Đại học Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020 đã chỉ rõ: Triển khai đổi mới phương pháp đào tạo theo tín chi: trang bị cách học, phát huy tính tích cực chủ động của người học
Theo quyết định số 43/2007/QĐ-BGD&ĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo, nhiều trường đại học trong nước đã áp dụng thực hiện đào tạo theo hệ thống tín chỉ Trước thời điểm này, một số trường đại học (ví dụ năm 2005
có 6 trường đại học thực hiện là đại học Thái Nguyên, ĐH Dân lập Thăng Long, ĐH Thủy sản Nha Trang, ĐH Đà Lạt, ĐH Khoa học tự nhiên thuộc ĐHQG TPHCM và ĐH Bách khoa TPHCM) chủ động áp dụng phương thức đào tạo tiên tiến này Cho đến nay, mô hình đã và đang được thực hiện thành công ở nhiều trường trong cả nước
Trang 9Trường Đại học Thái Nguyên là một trong những trường đại học đầu tiên của cả nước đào tạo theo hệ thống tín chỉ Nhờ vậy, người học được thụ hưởng một phương thức đào tạo tiên tiến, có cơ hội học cùng lúc hai chương trình; được chủ động lựa chọn môn học, thời gian học, lớp học phù hợp; sinh viên có thể đăng ký thi vào một ngành dễ trúng tuyển, sau một học kỳ nếu kết quả học tập đạt từ trung bình trở lên thì được đăng ký học thêm một ngành khác mà mình mong muốn để khi tốt nghiệp được cấp hai bằng đại học chính qui (trong 4 khoá học gần đây, đã có hàng ngàn sinh viên được học thêm ngành 2); sinh viên học giỏi có thể hoàn thành khoá học trước thời hạn 1 năm; sinh viên được đăng ký học và học qua mạng internet Tuy nhiên, cũng như các trường đại học khác trong nước, đại học Thái Nguyên cũng gặp phải nhiều thách thức trong quá trình chuyển đổi Công tác quản lý và cách thức đào tạo theo học chế tín chỉ đối với nhiều giảng viên và sinh viên còn rất mới mẻ, mặc dù hình thức này đã tồn tại ở các nước khác từ rất sớm (Anh, Mỹ, Đức,…) Đặc biệt đối với sinh viên, việc chuyển đổi cách thức đào tạo sẽ kéo theo sự thay đổi phương thức học tập, phương pháp học tập Với đào tạo niên chế, sinh viên thụ động trong việc thực hiện các nhiệm vụ học tập, nhưng với cách thức đào tạo tín chỉ, sinh viên phải làm quen với việc tự mình đặt ra mục tiêu học tập, kế hoạch học tập, tự mình có sự đánh giá, kiểm tra kết quả học tập của mình Vì vậy, quản lý hoạt động học tập của sinh viên sẽ không còn là công việc của người dạy và của các nhà quản lý nhà trường mà còn là việc mà chính bản thân sinh viên phải tự ý thức thực hiện Điều này hoàn toàn không phải là một việc dễ đối với sinh viên hiện nay
Để góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và quản lý sinh viên của trường Đại học Thái Nguyên khi đang thực hiện đào tạo theo học chế tín chỉ, rất cần có nghiên cứu về tự quản lý hoạt động học tập của sinh viên,
Trang 10nhằm góp phần tìm ra được phương thức tác động phù hợp làm phát huy tính tích cực, chủ động học tập của sinh viên Chính vì vậy, tôi tiến hành
nghiên cứu “Tự quản lý hoạt động học tập theo phương thức đào tạo tín
chỉ của sinh viên trường Đại học Thái Nguyên” làm đề tài luận văn tốt
nghiệp Cao học chuyên ngành Tâm lý học xã hội
2 Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu thực trạng tự quản lý hoạt động học tập của sinh viên
ĐH Thái Nguyên và xác định một số yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng đó
- Trên cơ sở đó, luận văn đề xuất một số kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả tự quản lý hoạt động học tập của sinh viên theo phương thức đào tạo tín chỉ tại đại học Thái Nguyên
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan lịch sử nghiên cứu về tự quản lý hoạt động học tập dưới góc độ tâm lý học nhằm xây dựng cơ sở lý luận của đề tài
- Xây dựng khái niệm công cụ của đề tài: quản lý và tự quản lý, hoạt động học tập, tự quản lý hoạt động học tập của sinh viên trong đào tạo theo tín chỉ
- Nghiên cứu thực trạng biểu hiện tự quản lý hoạt động học tập của sinh viên thông qua việc điều tra, khảo sát sinh viên và một số giảng viên, cán bộ giảng dạy và cán bộ làm công tác quản lý; xác định một số yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng đó
- Đề xuất một số kiến nghị góp phần nâng cao hiệu quả tự quản lý hoạt động học tập theo tín chỉ của sinh viên tại trường Đại học Thái Nguyên
4 Đối tƣợng và khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
Mức độ biểu hiện tự quản lý hoạt động học tập theo phương thức đào tạo tín chỉ của sinh viên trường Đại học Thái Nguyên
- Khách thể nghiên cứu: 472 người, bao gồm:
Trang 11- 452 Sinh viên trường đại học Thái Nguyên (cụ thể là các trường thành viên: Đại học Sư phạm Thái Nguyên, Đại học Khoa học, Đại học Kỹ thuật công nghiệp, Đại học Y khoa)
- 18 giảng viên (đang giảng dạy ở các khoa)
- 2 cán bộ quản lý đào tạo
5 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu tập trung làm rõ thực trạng tự quản lý hoạt động học tập của sinh viên biểu hiện ở các hành động:
- Tự lập kế hoạch học tập
- Tự quản lý quá trình học tập (bao gồm tự quản lý thời gian, tự quản lý các hành động học tập và tự kiểm tra, đánh giá kết quả học tập)
- Tự quản lý nguồn lực phục vụ cho hoạt động học tập
6 Giả thuyết khoa học
Nghiên cứu về tự quản lý hoạt động học tập của sinh viên trường Đại học Thái Nguyên thể hiện ở ở mức độ khá qua các khâu tự lập kế hoạch, tự quản lý quá trình học tập và tự quản lý nguồn lực phục vụ cho học tập Những yếu tố khách quan ảnh hưởng đến tự quản lý hoạt động học tập là mối quan hệ giữa giảng viên – sinh viên, tổ chức quản lý, đào tạo của nhà trường theo tín chỉ, điều kiện cơ sở vật chất Những yếu tố chủ quan là nhận thức về học tập theo phương thức đào tạo tín chỉ, động cơ học tập, tính tích cực học tập của sinh viên cũng có ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả tự quản lý hoạt động học tập của sinh viên
7 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích tài liệu
Trang 12CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VẤN ĐỀ TỰ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG HỌC
TẬP TRONG ĐÀO TẠO THEO TÍN CHỈ
1.1 Tổng quan lịch sử nghiên cứu tự quản lý hoạt động học tập
1.1.1 Những nghiên cứu về tự quản lý hoạt động học tập ở nước ngoài
Tự quản lý học tập là một trong những con đường quan trọng nhất để phát triển tính độc lập, tư duy chiến lược, tư duy sáng tạo rèn luyện tư duy và tính cách trong mối quan hệ với lĩnh hội tri thức mới và hành động nghề
Andrea D Ellinger nhấn mạnh: quá trình tự quản lý học tập hiện ra như một trúc mới rất quan trọng trong tâm lý học, là một cơ chế thúc đẩy
sự cải cách trường học, làm cho nhà trường được tổ chức phù hợp với mục tiêu đem lại lợi ích quan trọng nhất cho người học là đảm bảo hoàn thanh nhiệm vụ học tập
Từ những quan điểm về vai trò của tự quản lý học tập, nhà nghiên cứu F.E Weinert (1982), S.R Paris, R.S Newman (1992) và những cộng
sự của mình đều nhất trí cho rằng: tự quản lý học tập phải được xem là một
bộ phận không thể thiếu của việc học trong nhà trường, là một trong những mục tiêu quan trọng nhất của nhà trường trong việc đào tạo thế hệ trẻ
Một số công trình nghiên cứu có đề cập đến một số nội dung tự quản
lý học tập của sinh viên như:
- “Học tập như thế nào” của nhà tâm lý tâm lý học N.R Rubakin cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 Tác giả đã tổng kết toàn bộ kinh nghiệm quý báu từ cuộc đời lao động sách vở cần mẫn của ông Trong tác phẩm này ông đã nêu lên cơ sở khoa học của việc học tập và đánh giá học tập của bản thân người học
- “Tổ chức công việc học tập của sinh viên đại học” của A.A Goroxepxki và M.T Lubixưna Các tác giả đã nghiên cứu về việc học tập
Trang 13của sinh viên, trên cơ sở kinh nghiệm hành động của cá nhân đã đưa ra một
số phương pháp học tập của sinh viên
- “Sinh viên học tập như thế nào” [16] của Entwstle, Noel, and
Hounsell, Dai, eds Các giả đã đề cập đến một số cơ sở tâm lý của hoạt động học tập của sinh viên và phương pháp giảng dạy của giáo viên nhằm tối ưu hóa các hành động của sinh viên trong trường đại học
- Trong cuốn “Hiệu quả dạy và học” [20] tác giả Lancaster, Otis Ewing đã khẳng định vai trò to lớn của công tác tự quản lý của người học góp phần nâng cao tính tích cực hành động trí tuệ, chủ động trong việc lập
kế hoạch ngay từ đầu cho cả chương trình học tập Tác giả cho rằng: “Quá trình nắm kiến thức mới không thể tiến hành bằng việc học thụ động, học thuộc các quy tắc, các kết luận và khái quát hóa Nó được xây dựng trên cơ
sở của việc cải tiến công tác học tập của người học, của việc phân tích logic sâu sắc các yêu cầu, điều kiện học tập tích cực xây dựng kế hoạch, thực hiện kế hoạch học tập của người học”
- Tác giả Menges, Robert J (1997) trong cuốn sách “Kinh nghiệm dạy-học cho sinh viên đại học và người lớn” [22] đã nghiên cứu và đưa ra chỉ dẫn về những nguồn lực dẫn đến thành công trong dạy-học và quản lý quá trình dạy- học, về lập kế hoạch, thực hiện và đánh giá kết quả dạy- học
- Trong cuốn sách “Lớp học ở trường đại học: mâu thuẫn, thay đổi
và học tập” [21], tác giả Mann, Richard D và một số giảng viên trường đại học Michigan (Mỹ) đã nghiên cứu về động thái trong lớp học Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự chuẩn bị kiến thức ở nhà, các kiểu học tập ở sinh viên có liên quan đến sự tích cực tư duy tiếp thu bài giảng của giảng viên Sinh viên trả lời câu hỏi với nhiều phương án khác nhau dựa trên phương pháp dạy thực hành của giảng viên Đây là một phần của tâm lý học trang bị cho sinh viên như hành động giao tiếp, tư duy, giải quyết vấn
đề, tự quản lý bản thân, sáng tạo trong học tập
Trang 14- “Sinh viên tự quản lý học tập” [26] của Zimmerma, Risemberg Các tác giả đã chỉ ra 6 thành phần chính của tự quản lý học tập và quy trình
tự quản lý học tập của sinh viên giúp họ có được thành tích cao trong học tập
Năm 1990, tác giả B.P.Allen tiến hành nghiên cứu ký năng học tập ở trường đại học Theo tác giả để sinh viên thích ứng với hoạt động học tập ở đại học cần hình thành ở họ các kỹ năng:
- Kỹ năng sử dụng quỹ thời gian cá nhân
- Kỹ năng hình thành các hành động học tập và các phẩm chất khác (như tâm thế, sự lựa chọn các hình thức, nội dung học tập)
mà ít xem xét đến vấn đề tự quản lý hoạt động học tập của sinh viên
1.1.2 Những nghiên cứu về tự quản lý ở trong nước
Ở Viêt Nam, những năm gần đây đã có một số công trình nghiên cứu của các nhà khoa học đã đề cập đến vấn đề hành động học tập của sinh viên theo phương thức đào tạo theo tín chỉ:
- “Một số vấn đề về hành động học tập của sinh viên theo hệ thống tín chỉ” của Lưu Thị Trí, Tạp chí Tâm lý học số 257, kỳ 1, tháng 3 năm 2011
- “Hành động học tập của sinh viên trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ” của Phạm Thị Thanh Hải, Tạp chí tâm lý học số 262, kỳ 2, tháng 5 năm 2011
Trang 15- “Hướng dẫn sinh viên học tập ngay từ giai đoạn khởi đầu trong đào tạo theo tín chỉ” của Đỗ Hồng Cường, Tạp chí tâm lý học, số 265, kỳ 1, tháng 7 năm 2011
- Một số yêu cầu đối với sinh viên khi tham gia hoạt động học tập theo tín chỉ của Nguyễn Thị Út Sáu 2012, tạp chí giáo dục học số 291
- “Kỹ năng học tập của sinh viên trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn theo phương thức đào tạo tín chỉ” của Đinh Quang Hùng, 2013
- “Sự thích ứng của sinh viên trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn với phương thức đào tạo theo tín chỉ” của Phạm Văn Huệ, 2013
Trong các công trình khoa học này, các tác giả đã đề cập đến các hoạt động học tập của sinh viên như hành động đọc sách, tài liệu tham khảo, hành động nghiên cứu khoa học, hành độngthực hành Qua đó đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hoạt động học tập cho sinh viên theo đào tạo tín chỉ
Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách
có hệ thống về tự quản lý hoạt động học tập của sinh viên theo phương thức đào tạo tín chỉ Đa số trường đại học chưa chú ý nhiều đến nghiên cứu và đào tạo các hành động tự quản lý học tập, kỹ năng tự quản lý học tập cần thiết cho sinh viên
Sau khi nghiên cứu các công trình và những tài liệu ở trong nước và nước ngoài tôi thấy rằng: Các công trình nghiên cứu đã khẳng định được vai trò, ý nghĩa, bản chất chủ động, tự giác trong hoạt động học tập sinh viên Tuy nhiên, những nghiên cứu đó lại tập trung chủ yếu vào mặt tâm lý học phương pháphọc tập Dưới góc độ tâm lý học, tự quản lý học tập trong đào tạo tín chỉ vẫn còn là lĩnh vực mới mẻ và hấp dẫn để thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà tâm lý học Việc nghiên cứu hình thành hành động này sẽ giúp sinh viên có thể hoà nhập với mô hình đào tạo theo tín chỉ
Trang 16hiện nay của các trường đại học trong nước và của các trường đại học tiên tiến trong khu vực và quốc tế
1.2 Một số vấn đề lý luận cơ bản về tự quản lý hoạt động học tập của sinh viên theo tín chỉ
1.2.1 Hoạt động học tập theo phương thức đào tạo tín chỉ của sinh viên
1.2.1.1 Đào tạo theo tín chỉ
Đến nay, phương thức đào tạo theo hệ thống tín chỉ đã được triển khai và áp dụng trong gần 50 trường trong cả nước Vào thời điểm nay, việc dạy và học theo phương thức đào tạo tín chỉ gần như bắt buộc đối với các trường đại học và cao đẳng theo nghị quyết sô 37/2004/QH11 khóa XI,
kỳ họp thứ sáu của Quốc hội về giáo dục và quy chế BGD&ĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo về đào tạo đại học và cao đẳng hệ chính quy theo hệ thống tín chỉ Mặc dù việc học theo phương thức đào tạo tín chỉ ở Việt Nam được thực hiện lần đầu tiên ở trường Đại học Bách Khoa Tp HCM vào năm học 1993 – 1994 và thực hiện rộng rãi ở các trường sau đó nhưng cho đến nay việc áp dụng phương thức học tập này vẫn còn nhiều lúng túng tại các trường và nhiều sinh viên vẫn chưa thật sự nắm bắt được ý nghĩa của nó so với phương thức đào tạo theo niên chế Do vậy, những ưu điểm của phương thức đào tạo này vẫn chưa thực sự được bộc lộ rõ nét
43/2007/QĐ-Trong buổi thuyết trình về hệ thống đào tạo theo tín chỉ tại Đại học Khoa học Công Nghệ Hoa Trung, Vũ Hán mùa hè năm 1995, học giả James Quann trình bày cách hiểu của ông về tín chỉ như sau: Tín chỉ học tập là một đại lượng đo toàn bộ thời gian bắt buộc của một người học bình thường để học một môn học cụ thể, bao gồm (1) thời gian lên lớp; (2) thời gian ở trong phòng thí nghiệm, thực tập hoặc các phần việc khác đã được quy định ở thời khóa biểu; và (3) thời gian dành cho đọc sách, nghiên cứu,
Trang 17giải quyết vấn đề, viết hoặc chuẩn bị bài ; đối với các môn học lí thuyết một tín chỉ là một giờ lên lớp (với hai giờ chuẩn bị bài) trong một tuần và kéo dài trong một học kì 15 tuần; đối với các môn học ở studio hay phòng thí nghiệm, ít nhất là 2 giờ trong một tuần (với 1 giờ chuẩn bị); đối với các
môn tự học, ít nhất là 3 giờ làm việc trong một tuần (Bản dịch của Bộ giáo dục và Đào tạo) Qua đó, chúng ta có thể thấy rõ sự khác biệt cơ bản giữa
hai phương thức học theo niên chế và học theo tín chỉ ở những nội dung sau: Tôn chỉ/ tiêu chí học tập; Chương trình học; Phương pháp đánh giá kết quả học tập; Phương pháp học
Nhờ vậy, mà ưu điểm của phương thức học tập này được chỉ rõ như sau:
- Trong phương thức đào tạo theo tín chỉ, tự học, tự nghiên cứu của sinh viên được coi trọng được tính vào nội dung và thời lượng của chương trình Đây là phương thức đưa giáo dục đại học về với đúng nghĩa của nó: người học tự học, tự nghiên cứu, giảm sự nhồi nhét kiến thức của người dạy, và do đó, phát huy được tính chủ động, sáng tạo của người học
- Sinh viên có thể tham khảo giáo viên hoặc cố vấn học tập để chọn những môn học phù hợp với mình, để hoàn thành những yêu cầu cho một văn bằng và để phục vụ cho nghề nghiệp tương lai của mình
- Sinh viên được cấp bằng khi đã tích lũy được đầy đủ số lượng tín chỉ do trường đại học quy định, do vậy họ có thể hoàn thành những điều kiện để được cấp bằng tùy theo khả năng và nguồn lực (thời lực, tài lực, sức khỏe, v.v.) của cá nhân
- Phương thức đào tạo theo tín chỉ phản ánh được những mối quan tâm và những yêu cầu của người học như là những người sử dụng kiến thức
và nhu cầu của các nhà sử dụng lao động trong các tổ chức kinh doanh và
tổ chức nhà nước
Trang 18- Tạo được sự liên thông giữa các cơ sở đào tạo đại học trong và ngoài nước Người học có thể dễ dàng di chuyển từ trường đại học này sang học ở trường đại học kia (kể cả trong và ngoài nước) mà không gặp khó khăn trong việc chuyển đổi tín chỉ
Tuy nhiên, đổi mới giáo dục theo phương pháp tín chỉ cũng gặp nhiều khó khăn như:
+ Đổi mới tư duy, thói quen về đào tạo không phải là việc dễ dàng + Lực lượng cán bộ thiếu, phần nhiều quen theo nếp cũ, không phải tất cả đều hăng hái thay đổi Đi cùng học chế mới là phương pháp giảng dạy phải thay đổi, kiểm tra đánh giá thay đổi, tỷ lệ lý thuyết thực hành điều chỉnh, chương trình đào tạo thay đổi, giảng viên chịu sự chọn lựa đánh giá của sinh viên
+ Cán bộ quản lý đào tạo thiếu, chưa quen tổ chức quản lý theo hình thức mới, khả năng vận dụng khoa học quản lý hiện đại và trang thiết bị phục vụ quản lý đào tạo còn hạn chế, thiếu chuyên nghiệp
+ Cơ sở vật chất, giảng đường, thiết bị chưa thể thoả mãn nhu cầu, đặc biệt là vấn đề giảng đường
+ Để tăng cường yếu tố tự học, thư viện, học liệu phải phong phú hơn nhiều + Phần mềm quản lý đào tạo chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu của quản
lý đào tạo theo tín chỉ
+ Mức sống của sinh viên, khả năng tài chính và các điều kiện khác của sinh viên ta còn nhiều khó khăn - dễ học cầm chừng Quản lý, tư vấn không tốt sinh viên có nguy cơ học kéo dài, không tốt nghiệp được
1.2.1.2 Hoạt động học tập của sinh viên ở bậc đại học theo phương thức đào tạo tín chỉ
a Khái niệm hoạt động học tập
Theo A.N Leonchiev, P Ia Ganperin và N Ph, Taludina xem quá trình học tập xuất phát từ mục đích trực tiếp và từ nhiệm vụ giảng dạy được biểu hiện ở phương thức tâm lý bên trong và bên ngoài của hoạt động đó
Trang 19Theo A.V Petroxki, tâm lý học hoạt động học tập là vấn đề phẩm chất tư duy và kết hợp các loại hoạt động trong việc thực hiện mục đích và nhiệm vụ giảng dạy
Theo N.V Cudomina, hoạt động học tập là hoạt động nhận thức cơ bản của sinh viên được thực hiện dưới sự hướng dẫn của cán bộ giảng dạy, Trong quá trình đó, nắm vững nội dung cơ bản của các thông tin mà thiếu
nó thì không thể tiến hành được hoạt động nghề nghiệp tương lai
Mặc dù chưa có sự thống nhất hoàn toàn trong việc quan niệm về hoạt động học tập nhưng các tác giả đều xem xét hoạt động học tập có liên quan tới nhận thức, tư duy và nghề nghiệp Các định nghĩa đều có điểm chung là quan niệm rằng hoạt động học tập có mục đích tự giác có ý thức
về động cơ và trong đó diễn ra các quá trình nhận thức, đặc biệt là tư duy
Trên cơ sở quan điểm của các nhà nghiên cứu, chúng tôi cho rằng hoạt động học tập là hoạt động đặc thù của con người,thông qua đó con người lĩnh hội, tiếp thu những tri thức, thái độ, kỹ năng để hoàn thiện nhân cách của mình và đáp ứng các yêu cầu mà xã hội đặt ra
Theo quan điểm của nhiều nhà tâm lý học, bản chất của hoạt động học tập được nêu như sau [2, tr 63]:
+ Đối tượng của hoạt động học tập là tri thức kỹ năng, kĩ xảo
+ Mục đích của hoạt động là hướng vào làm thay đổi chủ thể hoạt động + Hoạt động học là loại hoạt động lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kỹ xảo + Hoạt động học hướng vào việc tiếp thu chính những tri thức của bản thân hoạt động (những hành động học tập thích hợp nhằm đạt kết quả cao)
Hoạt động học tập của sinh viên cũng có bản chất như vậy và có thể
định nghĩa: Hoạt động học tập ở đại học là loại hoạt động tâm lý được tổ chức một cách độc đáo của sinh viên nhằm mục đích có ý thức là chuẩn bị trở thành những chuyên gia phát triển toàn diện, sáng tạo và có trình độ nghiệp vụ cao [10]
Trang 20Hoạt động học tập trong các trường Cao đẳng và Đại học, không mang tính phổ thông mà mang tính chất chuyên ngành, phạm vi hẹp hơn, sâu sắc hơn, nhằm đào tạo những chuyên gia, những trí thức cho đất nước Hoạt động của sinh viên diễn ra một cách có kế hoạch, có mục đích, nội dung, chương trình, phương thức và có phương pháp rõ ràng hướng tới sự phát huy tối đa năng lực nhận thức của mình trong nhiều lĩnh vực Điều đặc biệt trong hoạt động học tập của sinh viên là sinh viên luôn phải thực hiện những hoạt động nghiên cứu khoa học Đây là sự khác biệt cơ bản trong hoạt động học tập của sinh viên so với các lứa tuổi trước [5, tr 147]
b Đặc điểm chung của hoạt động học tập ở sinh viên [9, tr 91]: + Hoạt động học tập của sinh viên diễn ra với nhịp độ căng thẳng, mạnh mẽ về trí tuệ Bản chất của hoạt động nhận thức của người sinh viên trong các trường đại học, cao đẳng là đi sâu, tìm hiểu những môn học, những chuyên ngành khoa học cụ thể một cách chuyên sâu để nắm được đối tượng, nhiệm vụ, phương pháp, quy luật của các khoa học đó, cùng với mục đích trở thành những chuyên gia trong các lĩnh vực nhất định Do vậy,
họ một mặt phải kế thừa có tính chất hệ thống những thành tựu đã có, một mặt phải tiệm cận với những thành tựu khoa học đương đại, cập nhật tính thời sự để nhằm mục đích hoạt động học tập có kết quả cao nhất
+ Hoạt động học tập của sinh viên diễn ra một cách có kế hoạch, có mục đích, có nội dung, chương trình và phương thức, phương pháp đào tạo theo một thời gian, cách thức chặt chẽ nhưng không đồng thời quá khép kín, quá câu nệ mà lại có tính mở rộng theo khả năng, năng lực nhận thức,
sở trường của sinh viên
+ Phương tiện của hoạt động học tập của sinh viên là các thư viện, phòng đọc, phòng học, phòng thực nghiệm, sách, vở….Do đó, phạm vi
Trang 21hoạt động học tập của sinh viên vừa đa dạng, vừa giúp sinh viên rèn luyện đựơc những kĩ năng, kĩ xảo nghề nghiệp, vừa phát huy đựơc việc học nghề một cách rõ rệt
+ Hoạt động học tập của sinh viên mang tính tự lập, độc lập, sáng tạo cao Hoạt động tư duy của sinh viên trong quá trình học tập chủ yếu là theo hướng phân tích, diễn giải, chứng minh các định đề khoa học
+ Điều rất quan trọng trong hoạt động học tập của sinh viên là phương pháp học tập Phương pháp đó phải phù hợp với những chuyên ngành mà sinh viên theo học Không tìm được phương pháp học tập tốt, sinh viên không thể đạt được kết quả học tập như ý muốn bởi hàm lượng tri thức, kĩ năng, kĩ xảo mà sinh viên phải lĩnh hội được trong quá trình học tập là rất lớn, đa dang
Cấu trúc của hoạt động học tập bao gồm các thành tố:
Động cơ học tập - Nhiệm vụ học tập – Các hành động học tập
Động cơ học tập chính là nôi dung tâm lý của hoạt động học tập Động cơ này bị chi phối bởi nhiều nguyên nhân khác nhau Có thể là những yếu tố tâm lý của chính chủ thể như: hứng thú, tâm thế, niềm tin, thế giới quan, lý tưởng sống….cũng có thể là những yếu tố nằm ngoài chủ thể như: yêu cầu của gia đình, xã hội Động cơ học tập cũng có thể nảy sinh trong chính quá trình chủ thể tham gia vào hoạt động học nhờ tác động của hoàn cảnh như: nội dung, phương pháp dạy học, trình độ dạy học, nhân cách của người dạy…
Nhiệm vụ học tập chính là mục đích được đặt ra trước người học ở dạng “bài toán” có vấn đề Nhiệm vụ học tập khác với những nhiệm vụ khác mà con người cần giải quyết ở chỗ mục đích và kết quả của nhiệm vụ học tập thể hiện ở việc biến đổi chính chủ thể hành động, chứ không làm biến đổi khách thể mà chủ thể tác động vào Việc tổ chức cho người học
Trang 22chiếm lĩnh đối tượng của hành động học tập diễn ra dưới hình thức tổ chức cho người học thực hiện một hệ thống nhiệm vụ học tập Sự sắp xếp các nhiệm vụ học tập phải tạo thành một hệ thống phát triển
Hành động học tập đó là chủ thể tiến hành phân giải các vấn đề mà nhiệm vụ học tập đặt ra trên cơ sở người học có được những phương pháp học tập, tài liệu học tập, cách thức kiểm tra_đánh giá phù hợp
c Hoạt động học tập theo phương thức đào tạo tín chỉ
Như đã trình bày ở trên về những ưu điểm của phương thức đào tạo tín chỉ, chúng ta có thể nhận thức rõ phần nào cách thức học tập theo phương thức này Đây là phương thức đào tạo cho thấy rõ nhiều điểm tối
ưu để phát huy được năng lực của sinh viên đồng thời cũng góp phần rèn luyện những phẩm chất nhân cách, kỹ năng kỹ xảo nghề nghiệp
Trong phương thức đào tạo theo tín chỉ, người học phải được tạo điều kiện để thực sự trở thành người đàm phán tích cực và có hiệu quả: (a) với chính mình trong quá trình học tập, (b) với mục tiêu học tập, (c) với các thành viên trong nhóm và trong lớp học, và (d) với người dạy
Người học trong phương thức đào tạo theo tín chỉ phải đảm nhiệm thêm một vai trò quan trọng nữa; đó là, người tham gia vào môi trường cộng tác dạy - học Họ hoạt động vừa như là những cộng sự với người dạy trong việc xác định nội dung và phương pháp giảng dạy, vừa như là người cung cấp thông tin phản hồi về bản thân mình như là những người học (trình độ, khó khăn, thuận lợi, nhu cầu, chờ đợi, mong muốn về môn học, v.v.) cho người dạy để người dạy có thể điều chỉnh nội dung, phương pháp
và thủ thuật giảng dạy phù hợp, tăng hiệu quả day - học
Phân tích các quan điểm nêu trên, chúng tôi cho rằng hoạt động học
tập của người học theo phương thức đào tạo tín chỉ là loại hoạt động tâm lý được tổ chức độc đáo của sinh viên nhằm mục đích giúp người học không
Trang 23những trở thành chuyên gia có trình độ nghiệp vụ cao mà còn giúp người học tự thiết kế, điều khiển, điều chỉnh được các hoạt động học tập cần thiết nhằm đạt được mục tiêu lĩnh hội tri thức trong suốt quá trình học tập một cách hiệu quả nhất
Như vậy, người học là người tổ chức hoạt động tương tác một cách trực tiếp, chủ động với kiến thức mà cá nhân mong muốn được lĩnh hội trong suốt quá trình đào tạo Lúc này, vai trò của người dạy và bạn bè trong lớp là người hỗ trợ, giúp đỡ, thậm chí thúc đẩy quá trình lĩnh hội nhanh hơn, hiệu quả hơn
Với cách hiểu về hoạt động học tập theo phương thức tín chỉ như vậy, tham luận của Th.S Nguyễn Thị Hạt đã trình bày trong hội nghị “tổng kết quá trình đào tạo theo phương thức tín chỉ” cho rằng sinh viên cần có những kỹ năng cần thiết sau nhằm đáp ứng được yêu cầu của hình thức học tập mới này:
- Kỹ năng đọc sách
- Kỹ năng tự đặt và giải quyết vấn đề cuộc sống
- Kỹ năng tự chịu trách nhiệm thuộc lĩnh vực ngành mình hoạt động
- Kỹ năng khái quát hoá tài liệu
- Kỹ năng tư duy độc lập, sáng tạo
- Kỹ năng nghiên cứu khoa học
- Kỹ năng phân tích, phê phán, đánh giá tri thức và các vấn đề nảy sinh trong thực tiễn thuộc phạm vi ngành học
- Kỹ năng tự nhận thức, tự giám sát, tự điều chỉnh, tự quản lý bản thân
- Kỹ năng học tập, hành động sáng tạo với tinh thần trách nhiệm cao trong công việc
- Kỹ năng thương thuyết, từ chối, hợp tác, có hiệu quả
- Kỹ năng thích ứng cao đối với những yêu cầu của nghề nghiệp
Trang 24- Kỹ năng chia sẻ và thông cảm với mọi người
- Kỹ năng kiềm chế căng thẳng và cảm xúc bản thân
Điều này cho thấy phương thức đào tạo tín chỉ đòi hỏi ở sinh viên sự phát triển toàn diện Sinh viên phải tự tìm kiếm cơ hội tiếp thu tri thức từ nhiều nguồn lực khác nhau, cũng như phải liên tục tự mình điều chỉnh phương pháp học tập và các hoạt động học tập nhằm đạt được kết quả học tập mong muốn Bản thân sinh viên là người chủ động với các mối quan hệ
để khai thác thông tin cần thiết phục vụ cho việc học cũng như điều tiết các mối quan hệ xung quanh nhằm duy trì được môi trường học tập thuận lợi nhất cho mình
1.2.2 Khái niệm quản lý và tự quản lý hoạt động học tập theo phương thức đào tạo tín chỉ của sinh viên
1.2.2.1 Khái niệm quản lý và tự quản lý
a Khái niệm quản lý
F Taylor – nhà tâm lý học và tổ chức lao động người Mỹ, được coi
là cha đẻ của thuyết quản lý theo khoa học, đã công bố vấn đề quản lý hành động lao động trong cuốn “ Những nguyên lý quản lý khoa học” vào năm
1911 Tư tưởng cơ bản về quản lý bao gồm những vấn đề sau: 1) cải tạo mối quan hệ trong quản lý (chú trọng quan hệ giữa người công nhân và máy móc, tính hợp lý của hành vi, những thao tác của người lao động); 2) tiêu chuẩn hóa công việc; 3) chuyên môn hóa lao động; 4) Hình thành quan niệm con người kinh tế Nhà công nghiệp lớn đồng thời là nhà sáng lập trường phái quản lý người Pháp là Henri Fayol cho rằng, để đạt được mục tiêu của tổ chức cần phải thực hiện 5 chức năng cơ bản là dự tính ( dự toán
và lập kế hoạnh), tổ chức, điều khiển, phối hợp, kiểm tra Dưới góc độ tâm
lý học có thể hiểu các chức năng đó là tổ hợp các hành động hiện thực hóa
Trang 25từng phần mục tiêu nhằm duy trì sự tồn tại của tổ chức Ông cho rằng chức năng tổ chức nhằm tạo ra sự thống nhất bên trong nhóm Ngày nay khái niệm quản lý đã trở nên phổ biến được nhiều nhà quản lý quan tâm Tuy nhiên, tùy theo cách tiếp cận mà quản lý được hiểu theo nhiều cách khác nhau
Theo J Kotter “Quản lý là sự thích ứng với sự phức tạp, đáp ứng những đòi hỏi và tạo ra mức độ cao của sự thống nhất về những khía cạnh cốt lõi như chất lượng và khả năng lợi nhuận của sản phẩm đã đề ra của tổ chức”, “ Những hành động của quản lý là hoạch định, tổ chức, kiểm soát và
giải quyết vấn đề”(J Kotter, What leader really do, Havard bussiness review,1990) Harold Koontz trong cuốn sách Essentials of managerment
cho rằng “ quản lý là hành động thiết yếu đảm bảo phối hợp những nỗ lực
cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm Mục tiêu của mọi nhà quản lý là hình thành một môi trường trong đó con người có thể đạt được các mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá
nhân ít nhất”
Theo Mary Paker Follet thì quản lý là một quá trình hành độngvà xã hội nhằm sử dụng các nguồn tác động tới hành động con người, nhằm đạt được các mục tiêu của tổ chức
Nhà tâm lý học người Nga A.Ph.Sikun cho rằng, quản lý là hành động hướng đến đạt mục tiêu đã đề ra của nhóm xã hội Vũ Dũng trong cuốn sách Tâm lý học quản lý viết: “Quản lý là sự tác động có định hướng,
có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống thông tin của chủ thể đến khách thể của nó”
Điểm chung thể hiện trong các định nghĩa này là sự quan tâm của nhà quản lý đối với việc hoàn thành các mục đích hoặc mục tiêu tổ chức Quản lý là quá trình làm việc cùng nhau và thông qua các cá nhân, các nhóm cũng như những nguồn lực khác để hoàn thành các mục đích tổ
Trang 26chức Từ góc độ tâm lý học, quản lý được hiểu là hoạt động liên kết những
nỗ lực của các thành viên nhằm đạt được mục tiêu của nhóm đã đề ra để duy trì, phát triển nhóm
Xuất phát từ những cơ sở đã trình bày ở trên, có thể nhận thấy:
- Quản lý cần thiết cho sự tồn tại đối với một nhóm người
- Quản lý có chủ thể quản lý và đối tượng quản lý Chủ thể quản lý
là nhà quản lý Đối tượng quản lý là những cá nhân và nhóm xã hội
- Quản lý có sự phối hợp những nỗ lực cá nhân có tổ chức và thống nhất
- Quản lý là tạo ra môi trường làm việc thuận lợi cho các thành viên thực hiện đạt được mục tiêu của nhóm và phát triển nhóm
Các chức năng cơ bản của quản lý
Vấn đề các chức năng cơ bản của quản lý được nghiên cứu trong lý thuyết quản lý và trong tâm lý học quản lý Có nhiều cách phân chia chức năng quản lý song về cơ bản có sự thống nhất 4 chức năng: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra (Harold Koontz và Cyril O'Donnell)
- Lập kế hoạch là chức năng cơ bản nhất của các chức năng quản lý Trên cơ sở trạng thái xuất phát, tiềm năng đã có và khả năng trong tương lai xác định rõ mục tiêu xây dựng chương trình hành động cụ thể để đạt được mục tiêu trong một thời gian nhất định của nhóm Lập kế hoạch bao gồm: dự báo nhu cầu phát triển; Đánh giá thực trạng phát triển của nhóm; Xác định những mục tiêu, biện pháp và những phương tiện cần thiết để thực hiện mục tiêu đã đề ra
- Tổ chức thực hiện kế hoạch đã xác lập là sắp xếp, phân phối các nguồn lực để thực hiện mục tiêu đã đề ra, là sắp đặt một cách khoa học những công việc , con người một cách hợp lý, là sự phối hợp tạo lập các mối quan hệ giữa các bộ phận trong tổ chức Công tác tổ chức có các nhiệm
vụ chính sau: thiết lập bộ máy quản lý; Phân phối các nguồn lực theo cấu
Trang 27trúc của bộ máy; Phối hợp giữa các bộ phận để hình thành cơ chế vận hành
cơ cấu của tổ chức
- Chỉ đạo là sự tác động, ảnh hưởng qua lại của chủ thể đến hành vi, thái độ của những thành viên trong nhóm nhằm đạt mục tiêu đã đề ra Nội dung của chỉ đạo là chỉ huy, giám sát, động viên, khen thưởng, uốn nắn và điều chỉnh
- Kiểm tra là một chức năng có liên quan đến mọi cấp quản lý để đánh giá kết quả hành động của nhóm, đo lường các mức độ sai lệch trong hành động so với mục tiêu, kế hoạch đã đề ra Nó chỉ ra những tồn tại, tìm
ra những nguyên nhân, sai sót, những vấn đề mới nảy sinh để điiều chỉnh giúp đảm bảo kế hoạch Đó cũng là quá trình tự điều chỉnh diễn ra có tính chu kỳ, cụ thể là người quản lý đặt ra các tiêu chuẩn cần đạt được; Người quản lý đo lường, đối chiếu, những thành quả đạt được so với tiêu chuẩn đã
đề ra; Người quản lý tiến hành điều chỉnh những sai lệch; Người quản lý điều chỉnh lại các tiêu chuẩn nếu cần
Các chức năng quản lý tạo thành một hệ thống thống nhất Mỗi chức năng có tính độc lập tương đối, vừa có mối quan hệ phụ thuộc với các chức năng khác, tại mỗi thời điểm, một hoặc một số chức năng có thể trở nên quan trọng hơn Việc bỏ qua hoặc coi nhẹ bất thường một chức năng nào
có thể gây ảnh hưởng xấu đến kết quả quản lý Các chức năng tạo thành một quy trình quản lý, trong đó thông tin là một công cụ không thể thiếu để tạo ra mối quan hệ thông suốt từ trên xuống và từ dưới lên Đó là quá trình vận hành hai chiều của hành động quản lý
b Khái niệm tự quản lý
Theo Barry J, Zimmerman (1996) và cộng sự, tự quản lý là một thuật
ngữ tâm lý học sử dụng để mô tả quá trình tự chủ đạt mục tiêu của cá nhân, là qúa trình làm thay đổi sự kiểm tra, kiểm soát từ bên ngoài đến tự
Trang 28kiểm tra, tự kiểm soát để cá nhân sống và làm việc độc lập trong môi trường của họ [27] Nghiên cứu của Stephen M Edelson ( 2008) và
Overtoom C (2000) cho thấy tự quản lý gồm 3 thành phần chính: tự xác định mục đích, tự kiểm tra và đánh gía, tự tăng cường hành động có hiệu quả Tự quản lý mất nhiều thời gian và đòi hỏi cá nhân có tính kỷ luật, kiên trì, nỗ lực thực hiện mục tiêu tự đề ra Tự quản lý thành công giúp cho cá nhân giảm thiểu những hành vi không cần thiết để duy trì những hành vi thích hợp, giúp cho cá nhân thực hiện có hiệu quả công việc
Ann Behav Med (2003) nghiên cứu vấn đề và giải pháp cho việc tích hợp giáo dục tự quản lý vào trong hệ thống chăm sóc sức khỏe đã đưa ra 6 yếu tố tự quản lý: phát hiện vấn đề, ra quyết định, sử dụng nguồn lực, hình thành mối quan hệ đối tác giữa nhà cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe và
bệnh nhân, lập kế hoạch và tự điều chỉnh (self-tailoring)
Từ giữa những năm 1960, Thomas và đồng nghiệp của ông ở Bệnh viện và Viện nghiên cứu về bệnh hen suyễn ở trẻ em đã sử dụng thuật ngữ này trùng khớp với thuật ngữ trong các chương trình về hen suyễn của các bác sĩ nhi khoa Các tác giả này đã dựa trên một công trình vừa được công
bố của Bandura Họ khẳng định rằng bằng cách tự quản lý người bệnh đã tham gia tích cực trong quá trình trị liệu Tính từ thời điểm này, thuật ngữ
tự quản lý được sử dụng một cách rộng rãi nhưng nó vẫn chưa được khái niệm hóa hay là định nghĩa một cách rõ ràng Kết quả của tự quản lý là đặc biệt quan trọng cho những người đang phải sống với bệnh mãn tính, ở đó chỉ có duy nhất người bệnh là phải chịu trách nhiệm cho việc tốt hơn hay tồi tệ hơn về sức khỏe của họ Đối với đa số mọi người, tự quản lý là công việc của cuộc đời
Tự quản lý là nhằm giúp cho con người giữ được sự khỏe mạnh trong suy nghĩ của họ Điều này được thực hiện bởi sự tập trung trên ba
Trang 29công việc chủ yếu như là Corbin và Strauss đã đưa ra Việc đầu tiên liên quan đến quản lý về mặt học như là việc dùng thuốc, tham gia vào một chế
độ ăn kiêng đặc biệt hay là sử dụng máy xông Việc thứ hai liên quan đến việc gìn giữ, thay đổi và tạo ra ý nghĩa mới cho hành vi hay là vai trò của cuộc sống Ví dụ như người đau lưng có thể cần phải thay đổi cách mà họ luyện tập hay là tham gia vào một môn thể thao nào đó Đối với những người bị bệnh tim hay bệnh phổi thì có thể lại là làm việc ít hơn, ví dụ như
là chỉ làm một món ăn cho một bữa tối còn người khác sẽ chuẩn bị những món ăn khác Công việc cuối cùng là công việc đòi hỏi để đối phó với một chuỗi các cảm xúc của tình trạng bệnh mãn tính Các cảm xúc như giận dữ,
sợ hãi, hụt hẫng, trầm cảm là những trải nghiệm chung của tất cả những ai
có bệnh mãn tính Việc học cách quản lý các cảm xúc này trở thành một phần của công việc liên quan đến quản lý tình huống/hoàn cảnh Sử dụng cấu trúc trong công trình nghiên cứu của Corbin và Strauss thì chương trình
tự quản lý phải bao gồm cả ba mảng: quản lý về mặt y học hay quản lý hành vi, quản lý xúc cảm, tình cảm
Một số tài liệu nghiên cứu khác (Queensland Strategy for Chronic Disease 2005–2015, Framework self-management, Dr Linda Selvey - Senior Director) chỉ ra rằng, tự quản lý được xem như sự khuyến khích tới
cá nhân trong hoạt động, hành động giúp cho cá nhân duy trì và thúc đẩy sức khỏe và thể trạng bằng cách:
- Đưa ra hoặc tham gia vào việc quyết định
- Xây dựng và duy trì cộng tác với những người khác có tác động tới sức khỏe của mình
- Có năng lực (tri thức, nguồn lực, tự tin) để quản lý được những ảnh hướng tới sức khỏe về mặt vận hành (functioning), xúc cảm và mối quan hệ liên cá nhân (interpersonal relationships)
Trang 30- Điều khiển và quản lý các tín hiệu và triệu chứng bệnh và điều kiện ủ bệnh
Phân tích các quan điểm nêu trên, chúng tôi rút ra được một số nhận định sau về quản lý và tự quản lý:
Sự giống nhau:
Quản lý và tự quản lý đều hành động liên kết nỗ lực của con người
để đạt mục tiêu đề ra Các chức năng của quản lý và tự quản lý đều có bốn mặt cơ bản là lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, thúc đẩy và kiểm tra
Sự khác nhau:
- Quản lý có chủ thể là con người tác động vào đối tượng quản lý có thể là con người, đồ vật, con vật Đây là hành động điều khiển của chủ thể quản lý đối với đối tượng quản lý, là sự điều khiển từ bên ngoài đến đối tượng quản lý, là hành động liên kết nỗ lực của một nhóm người nhằm thực hiện mục đích của nhóm đề ra
- Tự quản lý là hành động quản lý bản thân, là sự điều khiển nỗ lực
từ bên trong bản thân nhằm thực hiện mục tiêu tự giác đề ra
Từ góc độ tâm lý học, tôi cho rằng tự quản lý là hoạt động tự liên
kết những nỗ lực của cá nhân nhằm đạt được mục tiêu tự đề ra để sống, làm việc và phát triển nhân cách
1.2.2.2 Tự quản lý hoạt động học tập theo phương thức đào tạo tín chỉ
a Khái niệm tự quản lý hoạt động học tập
Theo Stephen M Edelson (2008) tự quản lý hoạt động học tập là hoạt động có tính chất cá nhân, do bản thân sinh viên nỗ lực học tập ở trên lớp hay ở ngoài lớp và diễn ra khi sinh viên còn ngồi trên ghế nhà trường Bên cạnh đó, tự quản lý hoạt động học tập cũng đòi hỏi sinh viên phải nỗ lực trong suốt thời gian học, phải là chủ thể hành động tích cực, tự giác nhằm chiếm lĩnh các tri thức, hành động, kỹ xảo dưới sự hướng dẫn, giúp
đỡ của người thầy
Trang 31Vào một thời điểm nào đó, người ta đã từng nghĩ rằng trí thông minh chính là yếu tố chính quyết định sự thành công học đường Tuy nhiên, sau nhiều năm nghiên cứu về hoạt động học tập và động cơ, các nhà tâm lý học
đã khẳng định rằng mọi học sinh đều có thể học để trở thành một học sinh xuất sắc bằng cách sử dụng một số chiến lược quản lý động cơ, hành vi và hoạt động học tập của họ
Zimmerma, Risemberg (1997) nghiên cứu hoạt động học tập của học sinh có viết: trước kia, người ta đã từng nghĩ rằng trí thông minh chính là yếu tố chính quyết định sự thành công học đường Tuy nhiên, sau nhiều năm nghiên cứu về hoạt động học tập và động cơ, các nhà tâm lý học đã tìm ra rằng mọi học sinh đều có thể học để trở thành một học sinh xuất sắc bằng cách sử dụng một số chiến lược quản lý động cơ, hành vi và hoạt động học tập của họ.Từ “quản lý” ở đây được xem như là từ khóa của một người học thành công Đối với những cá nhân này, điểm khác biệt là họ có khả năng tự quản lý hoặc điều khiển các yếu tố liên quan có ảnh hưởng đến hoạt động học tập của mình Họ thiết lập những điều kiện tối ưu cho hoạt động học tập và loại bỏ những trở ngại có thể ảnh hưởng đến hành động đó Các nhà tâm lý học đã sử dụng rất nhiều các khái niệm để miêu tả những học sinh như vậy ( có kỷ luật, có định hướng, có chiến lược và chủ động) Chúng ta không thực sự cần quan tâm liệu khái niệm nào là đúng, điều quan trọng là những học sinh đó đã tìm được những cách học tập hiệu quả Điều này có nghĩa là cho dù giáo viên có không giỏi, giáo trình viết khó hiểu hay phòng học quá ồn và một đống bài kiểm tra đang chờ họ phía trước đi chăng nữa thì chắc chắn những học sinh này sẽ tìm được cách để giải quyết tất cả
Zimmerma, Risemberg, Menges, Robert J (1997) cho rằng có thể quan niệm biểu hiện khả năng tự quản lý dựa vào mức độ tham gia của sinh
Trang 32viên trong các giai đoạn chính của việc tổ chức một họat động: Đề xuất ý tưởng, thiết kế hành động, tổ chức thực hiện, rút kinh nghiệm
+ Đề xuất ý tưởng: sinh viên biết dựa vào chương trình, yêu cầu giáo dục của nhà trường trong từng tháng, từng năm từ đó đề xuất chủ đề, nội dung, hình thức hành động phù hợp với tình hình, đặc điểm của bản thân
+ Thiết kế hành động: sinh viên biết lập kế hoạch, chương trình hành động và chuẩn bị các điều kiện cho việc tổ chức thành công hành động (chuẩn bị về tổ chức nhân lực, cơ sở vật chất, phương tiện, môi trường hành động…)
+ Tổ chức thực hiện: sinh viên biết tổ chức, điều hành hành động theo kế hoạch đã chuẩn bị, biết tự động viên, phối hợp các nguồn lực trong hành động
+ Rút kinh nghiệm: sinh viên biết kiểm điểm, rút ra những bài học thành công, thất bại để tổ chức tốt các hành động tiếp theo
Theo Zimmer, Risemberg (1997) cho rằng tự quản lý hoạt động học tập của sinh viên được thiết kế để nâng cao không chỉ năng lực học của người học mà còn nâng cao cả nhận thức của họ về tự tăng cường (self-efficacy) hoặc kiểm soát toàn bộ quá trình học [21, tr 13] Nhóm nghiên cứu này cũng đưa ra 5 kỹ năng học tập được phát triển khi người học có năng lực tự quản lý hoạt động học của mình:
- Lập kế hoạch và sử dụng thời gian học một cách hiệu quả
- Nhận thức và tóm tắt các tài liệu học thuật tốt
- Phát triển các phương pháp ghi chú
- Phát triển năng lực dự báo và chuẩn bị tốt hơn cho các kỳ kiểm tra
- Làm bài hiệu quả hơn
Nhóm nghiên cứu cũng đưa ra mô hình 4 quá trình liên quan tới tự quản lý hoạt động học tập:
Trang 33- Thiết lập mục tiêu và kế hoạch chiến lược (goal setting and strategic planning): xuất hiện khi sinh viên phân tích những nhiệm vụ học tập, thiết lập những mục tiêu học tập, lập kế hoạch và đưa ra những chiến lược cụ thể đạt được mục tiêu đó
- Kiểm soát quá trình thực hiện kế hoạch (strategy-implementation monitoring): xuất hiện khi sinh viên cố gắng thực hiện chiến lược theo hoàn cảnh được sắp xếp và kiểm soát mức độ chính xác khi thực hiện
- Kiểm soát hiệu quả kế hoạch (strategic-outcome monitoring): xuất hiện khi sinh viên tập trung sự chú ý của họ vào mối liên hệ giữa kết quả học tập và quá trình thực hiện kế hoạch để đi đến hiệu quả
- Tự kiểm tra, đánh giá (self-evaluation and monitoring): xuất hiện khi sinh viên đánh giá khả năng của bản thân, thường là dựa trên quan sát
và ghi nhớ lại những biểu hiện cụ thể và kết quả đã đạt được
Quá trình này diễn ra theo hình vòng tròn (cycle model), lần lượt thực hiện theo từng bước Bắt đầu từ việc tự kiểm tra, đánh giá khả năng học tập của mình, sinh viên sẽ có được chiến lược, kế hoạch học tập hợp lý Trong điều kiện học tập phù hợp, sinh viên sẽ thực hiện kế hoạch học tập
đã đề ra và cố gắng kiểm soát việc thực hiện đó của mình Nhờ vậy, quá trình tự quản lý này sẽ giúp sinh viên đạt được kết quả như mong đợi Dựa
Trang 34vòng tròn này mà sinh viên không ngừng nâng cao được năng lực cũng như
có những phương pháp, kế hoạch học tập hợp lý nhằm đáp ứng yêu cầu của chương trình học Không những vậy, sinh viên sẽ tìm được mối liên hệ giữa kết quả và phương pháp học, kế hoạch học của mình một cách tốt nhất
c Biểu hiện tự quản lý học tập của sinh viên theo phương thức đào tạo tín chỉ
Nghiên cứu các quan điểm của các nhà khoa học nước ngoài như đã trình bày ở trên và hoạt động học tập của sinh viên theo phương thức đào tạo tín chỉ cho thấy tự quản lý học tập của sinh viên bao gồm nhiều thành
tố Các thành tố này không tồn tại độc lập mà chung có mối quan hệ tác động qua lại chặt chẽ với nhau tạo thành một chỉnh thể trọn vẹn
Nhiều tác giả đã đưa ra những biểu hiện khác nhau về tự quản lý hoạt động học tập của người học trong suốt quá trình học Tuy nhiên, nhìn chung các tác giả đều thống nhất những biểu hiện sau (theo Omaggio, 1978; Knowles, 1980; Benson & Voller, 1997) [15, tr 17]:
- Thiết lập kế hoạch và chiến lược học tập
- Đưa ra những cách thức hoàn thành nhiệm vụ học tập tích cực
- Sẵn sàng vượt qua khó khăn
- Năng lực dự báo tốt
- Tự thiết lập môi trường học tập hợp lý, đảm bảo hiệu quả học tập
- Phát triển năng lực tìm kiếm hệ thống thông tin tham khảo, sẵn sàng từ bỏ nhưng giả thuyết hoặc quy tắc không phù hợp
- Tự đánh giá năng lực bản thân
Những biểu hiện này được tổng hợp lại từ những nghiên cứu nước ngoài một cách rời rạc, chưa được hệ thống lại một cách hoàn chỉnh Dựa trên cấu trúc hoạt động học tập, mô hình tự quản lý hoạt động học tập và những đặc điểm của hoạt động học tập theo phương thức tín chỉ, chúng tôi
Trang 35cho rằng tự quản lý hoạt động học tập của sinh viên tập trung chủ yếu vào 3 biểu hiện chính sau:
- Hành động tự lập kế hoạch học tập
+ Tự thiết lập mục tiêu học tập và dự báo năng lực hoàn thành mục tiêu đó của mình Sinh viên phải tự xác định khả năng cũng như năng lực hoàn thành nhiệm vụ học tập của mình để có thể thiết kế được một mục tiêu học tập phù hợp
+ Lập kế hoạch học tập: sinh viên xác định được mục đích học tập và
kế hoạch học tập để đạt được mục đích đề ra cho từng học kỳ, từng năm học, cả khóa học, cho giờ học lý thuyết, từng giờ thảo luận, từng giờ làm bài tập theo tiến độ Trong quá trình thực hiện kế hoạch nếu bất hợp lý, sinh viên có thể linh hoạt điều chỉnh Việc thực hiện nghiêm túc kế hoạch học tập giúp cho SV hoàn thành nhiệm vụ học tập một cách tốt nhất
Tự quản lý hoạt động học tập
Tự lập kế hoạch học
tập
Tự quản lý quá trình học tập
Tự quản lý nguồn lực phục vụ hoạt động học tập
Tự kiểm tra, đánh giá
Hành động tạo động lực cho bản thân
Hành động tìm kiếm
và sử dụng tài liệu
Tự quản lý nguồn lực kinh tế
Trang 36+ Lựa chọn phương pháp học tập hiệu quả để đạt được mục tiêu học tập đã đề ra và kế hoạch học tập được thiết kế Sinh viên phải có phương pháp học tập phù hợp không chỉ trên lớp mà còn trong nhiều không gian và điều kiện khác nhau, do đó cách thức tiến hành việc học tập này cần được sinh viên lựa chọn cẩn thận Ví dụ như việc ghi ghép bài học trên lớp, việc chuẩn bị bài học trước khi thảo luận hoặc trao đổi với giảng viên, ôn lại bài học sau giờ học hay ứng dụng tri thức vào ngay những hoạt động thực tiễn,… đều là những phương pháp học tập giúp sinh viên đạt được mục tiêu
và hoàn thành kế hoạch học tập đã đề ra
- Hành động tự quản lý quá trình học tập (Hành động này diễn ra trên giảng đường và tại nơi cư trú) bao gồm những hành động sau:
+ Tự quản lý thời gian học tập bằng cách tự quản lý thời gian học của mình trong từng học kỳ, từng môn học, từng giai đoạn học, thậm chí là từng ngày
+ Tự quản lý các hành động học tập Trong quá trình học tập trên lớp, sinh viên cần tập trung chú ý, xác định các mục tiêu cần lĩnh hội, phân tích, nhận xét, biết nội dung nào đọc lướt qua các trọng điểm, nội dung nào cần đào sâu, nhớ kỹ, có khả năng thâu tóm vấn đề một cách lôgic, chặt chẽ Trong quá trình thực hiện hành động học tập tại nơi cư trú, sinh viên cần biết dừng đọc và đặt những câu hỏi và tự tìm câu trả lời, vừa đọc vừa ghi chép lại những kiến thức quan trọng hay những ý tưởng hay một cách ngắn gọn để khi cần giải quyết các nhiệm vụ học tập đem ra sử dụng để giúp khái quát được vấn đề nhanh và nhớ được lâu
+ Tự kiểm tra, đánh giá kết quả học tập: SV tiến hành thao tác tự kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của bản thân trong từng khoảng thời gian nhất định so với kế hoạch học tập đã đề ra Ví dụ, sau một ngày, sinh viên kiểm tra lại những việc đã thực hiện hay sau một học kỳ, sinh viên kiểm tra
Trang 37tổng thể kế hoạch đã thực hiện, từ đó đánh giá kết quả và từ đó rút kinh nghiệm cho bản thân và vạch ra chương trình học tiếp theo cho hiệu quả hơn
- Tự quản lý nguồn lực phục vụ việc học tập bao gồm các hành động sau: + Hành động tạo động lực cho bản thân: sinh viên phải xây dựng sự tin tưởng tích cực vào năng lực thành công học đường của mình và duy trì những sự tin tưởng đó khi phải đối mặt với những xáo trộn, những yếu tố gây sao nhãng, những trải nghiệm thất bại bất ngờ và những xung đột liên
cá nhân có thể nảy sinh trong cuộc sống của sinh viên, tự xây dựng môi trường học tập thuận lwoij để phát huy những mặt mạnh của bản thân trong học tập và phát triển các mối quan hệ tốt nhằm đạt được những mục tiêu học tập của bản thân
+ Hành động tìm kiếm và sử dụng tài liệu: Sinh viên biết sử dụng tài liệu học tập trên thư viện, bài giảng, giáo trình, thông tin từ internet để đọc
và nghiên cứu phục vụ cho học tập
+ Tự quản lý nguồn lực kinh tế phục vụ cho học tập và đời sống cá nhân Đó có thể là nguồn kinh phí sinh viên được cung cấp từ gia đình, học bổng , các nguồn kinh phí hỗ trợ khác phục vụ học tập Sử dụng kinh phí phù hợp với điều kiện học tập sẽ giúp sinh viên có sức khỏe và đảm bảo các điều kiện cho việc học tập đạt được kết quả học tốt hơn
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tự quản lý hoạt động học tập của sinh viên theo phương thức đào tạo tín chỉ
Trang 38đúng đắn sẽ phát huy tính tự giác học và nghiên cứu, qua đó góp phần giúp cho sinh viên rèn luyện khả năng tự quản lý hoạt động học tập của bản thân
cơ học tập của họ phát triển đến mức nào
Động cơ học tập của người học ảnh hưởng trực tiếp đến việc hình thành quá trình học tập Nó thúc đẩy người học tích cực, chủ động, sáng tạo trong việc chiếm lĩnh tri thức của nhân loại nhanh và hiệu quả nhất thông qua học tập của bản thân
- Thái độ học tập của sinh viên:
Thái độ học tập tích cực của sinh viên thể hiện ở sự tự giác, chủ động, độc lập trong học tập, có nhu cầu nhận thức để nâng cao trình độ chuyên môn, có niềm vui hứng thú trong học tập, luôn mong muốn thực hiện nhiệm vụ, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ học của mình, hăng hái đọc thêm các tài liệu, có hứng thú học tập… Khi sinh viên đã có thái độ học tập đúng đắn thì sẽ tự lập cho mình một kế hoạch học tập phù hợp và thực hiện kế hoạch đó một cách có hiệu quả
1.3.2 Các yếu tố khách quan
- Mối quan hệ giữa giảng viên – sinh viên trong quá trình học tập Như chúng ta đã biết, dạy học là một quá trình hành động thống nhất giữa giảng viên và sinh viên, trong quá trình đó giảng viên đóng vai trò chủ đạo tổ chức, điều khiển hành động nhận thức của sinh viên, sinh viên tự giác, tích cực tổ chức, tự điều khiển hành động nhận thức của mình để thực hiện tốt nhiệm vụ dạy học Quá trình đó luôn luôn vận động và phát triển
Trang 39tuân theo những quy luật nhất định, phản ánh những mối liên hệ tất yếu, chủ yếu vốn có Chỉ trong sự tác động qua lại tích cực giữa thầy và trò mới xuất hiện bản thân quá trình dạy học, nếu phá vỡ mối liên hệ này sẽ làm mất đi quá trình toàn vẹn đó
Trong hành động tự quản lý học tập theo phương thức đạo tạo tín chỉ hiện nay, sinh viên hoàn toàn chủ động cả về nội dung, phương pháp, kế hoạch và tiến độ thực hiện các hành động Giảng viên phần lớn thời gian thông qua các nhiệm vụ nhận thức giao cho người học thực hiện Tuy nhiên, người học chỉ thực sự phát huy tính tích cực và sáng tạo của bản thân trong hành động học tập trên cơ sở hướng dẫn, chỉ đạo, điều khiển của giảng viên thông qua các hình thức dạy học như diễn giảng, thảo luận…
- Tổ chức quản lý, đào tạo của nhà trường theo phương thức tín chỉ Nội dung chương trình đào tạo của trường cũng là một trong những yếu
tố khách quan ảnh hưởng không nhỏ đến học tập của sinh viên Nếu chương trình đào tạo còn quá nặng hay thiên về lý thuyết mà không có thực hành, dễ làm cho sinh viên mệt mỏi và áp lực, không có hứng thú học tập Việc tổ chức dạy học, tổ chức lớp học trong đào tạo tín chỉ nếu không đúng kế hoạch, chương trình sẽ ảnh hưởng lớn đến kế hoạch học tập của sinh viên
- Điều kiện cơ sở vật chất phục vụ học tập của sinh viên
Một yếu tố ảnh hưởng đến học tập của sinh viên là điều kiện cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy và học tập Cơ sở vật chất là phòng học, tài liệu tham khảo, các phương tiện phục vụ quá trình học của sinh viên… Sinh viên không thể học tập hiệu quả khi phòng học học tập không đáp ứng được, sách và tài liệu tham khảo không được cập nhật…
Trang 40Tiểu kết
Nhiều tác giả trong và ngoài nước đã quan tâm nghiên cứu về vấn đề
tự quản lý hoạt động học tập của sinh viên Tuy nhiên, hiện nay chưa có một khái niệm chính thống nào về tự quản lý hoạt động học tập Trong phạm vi đề tài, tôi cho rằng tự quản lý hoạt động học tập của sinh viên theo phương thức đào tạo tín chỉ là hoạt động sinh viên tự nỗ lực học tập ở trong
và ngoài lớp Bản thân người học là chủ thể hành động tích cực, tự giác nhằm chiếm lĩnh các tri thức, hành động kỹ xảo
Những biểu hiện của tự quản lý hoạt động học tập của sinh viên theo phương thức đào tạo tín chỉ trong giới hạn của đề tài tập trung vào các biểu hiện sau:
- Hành động tự lập kế hoạch học tập bao gồm: tự thiết lập mục tiêu học tập và dự báo năng lự, tự lập kế hoạch học tập, tự lựa chọn phương thức thực hiện hành động học tập
- Hành động tự quản lý quá trình học tập bao gồm: tự quản lý thời gian học tập trong và ngoài giờ lên lớp, tự quản lý các hành động học tập,
tự kiểm tra và đánh giá các hành động học tập đó
- Ttự quản lý nguồn lực phục vụ hoạt động học tập bao gồm các hành động: tự tạo động lực cho bản thân, tìm kiếm và sử dụng tài liệu, tự quản lý nguồn lực kinh tê
Những yếu tố tác động tới việc tự quản lý hoạt động học tập của sinh viên được xem xét ở hai mặt:
- Yếu tố chủ quan: Nhận thức của sinh viên về hành động học tập theo phương thức đào tạo tín chỉ, động cơ học tập, thái độ học tập của sinh viên
- Yếu tố khách quan: Mối quan hệ giữa giảng viên – sinh viên, tổ chức quản lý, đào tạo của nhà trường theo tín chỉ, điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường