viên nội trú và ngoại trú, chú trọng tổ chức các hoạt động ngoại khoá, ngoài giờ, các câu lạc bộ văn hoá nghệ thuật phòng chống ma tuý… Quan trọng nhất, với các em học sinh, sinh viên cầ
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng và khách thế nghiên cứu 2
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
5 Giả thiết nghiên cứu 3
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 3
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5
1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
1.1.1 Trên thế giới 5
1.1.2 Ở Việt Nam 6
1.2.1 Khái niệm ma tuý, nghiện ma tuý 8
1.2.3 Khái niệm thái độ 23
1.2.4 Khái niệm phòng ngừa 31
1.2.5 Khái niệm sinh viên 32
1.2.6 Khái niệm thái độ của sinh viên với việc phòng ngừa nghiện ma túy 33
Chương 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 39
2.1 Tổ chức nghiên cứu 39
2.1.1 Nghiên cứu lý luận 39
2.1.2 Tổ chức nghiên cứu thực trạng 39
2.1.3 Một vài nét về trường Đại học Quốc gia Hà Nội 39
2.2 Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng 41
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 45
3.1 Thái độ của sinh viên đối với việc phòng ngừa nghiện ma túy biểu hiện
ở nhận thức 45
3.1.1 Nhận thức của sinh viên về ma tuý 45
3.1.2 Nhận thức của sinh viên về nghiện ma tuý 50
Trang 23.1.3 Nhận thức của sinh viên về các biểu hiện tâm, sinh lý của người nghiện
ma túy 54
3.1.4 Nhận thức của sinh viên về tác hại của nghiện ma túy 60
3.1.5 Nhận thức của sinh viên về nguyên nhân thanh thiếu niên nghiện ma túy 64
3.1.6 Nhận thức của sinh viên về nội dung công tác phòng ngừa nghiện ma túy 68
3.2.Thái độ của sinh viên đối với việc phòng ngừa nghiện ma túy biểu hiện ở
cảm xúc 69
3.2.1 Cảm xúc của sinh viên khi đối với người nghiện ma túy 69
3.2.2 Cảm xúc của sinh viên đối với những hậu quả nghiện ma túy 71
3.2.3 Hưởng ứng của sinh viên về một số nội dung phòng ngừa nghiện ma túy 75
3.2.4 Cảm xúc của sinh viên về các hoạt động phòng ngừa nghiện ma túy 77
3.3 Thái độ của sinh viên với việc phòng ngừa nghiện ma tuý biểu hiện ở
hành động 80
3.3.1 Hành động của sinh viên đối với người nghiện ma túy 80
3.3.2 Hành động của sinh viên tham gia phòng ngừa nghiện ma túy 85
3.3.3 Hành động sử dụng một số chất ma túy thông dụng của sinh viên 95
3.3.4 Phân tích thái độ phòng ngừa nghiện ma túy của sinh viên trong một số bài tập tình huống 97
3.4 Mối tương quan giữa các mặt biểu hiện của thái độ đối với việc phòng ngừa nghiện ma túy của sinh viên 105
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 108
TÀI LIỆU THAM KHẢO 114
PHỤ LỤC
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là Chu Thị Thu Trang hiện đang công tác tại Công Ty Cổ Phần
& Nghiên Cứu Quản Lý Kinh Tế Tôi xin cam đoan bài Luận văn tốt nghiệp này là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân, được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Hoàng Mộc Lan Luận văn này chưa từng được công bố dưới bất kỳ hình thức nào trước khi trình bày, bảo vệ và công nhận bởi “Hội đồng đánh giá Luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ Tâm lý học”
Một lần nữa, tôi xin khẳng định về sự trung thực của lời cam đoan trên
Tác giả Chu Thị Thu Trang
Trang 4LỜI CẢM ƠN Lời đầu, cho phép em được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới bố mẹ, gia đình đã luôn kịp thời động viên, giúp đỡ em cả về mặt vật chất và tinh thần
Em xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc đến các Thầy cô giáo Khoa Tâm lý học, đặc biệt là cô giáo PGS.TS Hoàng Mộc Lan là người đã hướng dẫn, chỉ bảo tận tình cho em từ khi bắt đầu đến khi hoàn thành luận văn này
Vì điều kiện hoàn cảnh, thời gian nghiên cứu, trình độ kiến thức còn nhiều hạn chế nên luận văn của em không thể tránh khỏi những thiếu sót, em kính mong được sự quan tâm, đánh giá, nhận xét, góp ý của các Thầy cô giáo, bạn bè và những người quan tâm đến vấn đề này để em có thể rút kinh nghiệm và hoàn thiện tốt hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 30.12.101
Học viên Chu Thị Thu Trang
Trang 5CÁC TỪ VIẾT TẮT
2.ĐHQG- HN : Đại học Quốc gia Hà Nội
3 SV : Sinh viên
4 ĐHKHXH&NV : Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
5 ĐH KHTN : Đại học Khoa học Tự nhiên
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tệ nạn nghiện ma tuý là hiểm hoạ lớn cho toàn xã hội, gây tác hại cho sức khoẻ, làm suy thoái nòi giống, phẩm giá con người, phá hoại hạnh phúc gia đình,
gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và an ninh quốc gia
Theo thống kê của Bộ lao động thương binh xã hội năm 2001 có 101.036 người nghiện ma túy, năm 2009, cả nước còn trên 146.000 người nghiện ma túy, đến
cuối tháng 6/2011 có 149.900 người nghiện ma túy Đặc biệt độ tuổi của người nghiện ma túy cũng có xu hướng trẻ hóa, 70% người nghiện ma túy ở độ tuổi dưới
30 Trong đó, học sinh - sinh viên là 2.837 em
Từ năm 2008 - 2010 số tiền chi cho việc phòng chống nghiện ma túy là 125
tỉ 703 triệu Số tiền này có thể xây 125 trường trung học cho cả nước (1 tỉ/trường), hoặc 4 -5 trường đại học (25 - 30 tỉ/trường) Nếu số tiền này chi cho việc xoá đói giảm nghèo (cả nước 2.800 hộ) thì mỗi hộ được hơn 4,5 tỉ đồng
Hiện nay các loại ma tuý được sử dụng không chỉ đơn thuần là Heroin hay thuốc phiện mà còn nhiều dạng ma túy tổng hợp, thuốc lắc đang nhanh chóng lan rộng trong giới trẻ, xâm nhập vào môi trường học đường với nhiều hình thức thủ đoạn ngày càng tinh vi
Để chủ động phòng ngừa, ngăn chặn ma tuý thâm nhập vào trường học, góp phần triển khai thực hiện có hiệu quả kế hoạch tổng thể phòng chống ma tuý của Chính phủ giai đoạn 2006 - 2011, trong đó mục tiêu quan trọng hàng đầu, có ý nghĩa chiến lược là xây dựng môi trường học đường không có ma tuý; Bộ Công an
đã phối hợp chặt chẽ với Bộ Giáo dục & Đào tạo triển khai thực hiện Kế hoạch liên ngành số 1413/KH-LN và được cụ thể hoá bằng các Kế hoạch liên tịch số 01, 02, 03
và 07 không để ma tuý thâm nhập học đường Để thực hiện được mục tiêu đó, trước hết, chúng ta cần chú ý tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục phòng ngừa ma tuý cho sinh viên, nêu cao tinh thần trách nhiệm, ý thức cảnh giác không để ma tuý xâm nhập, lây lan trong trường học, bổ sung các nội dung, hình thức giáo dục phòng chống ma tuý trong chương trình chính khoá ở các cấp học, bậc học, đảm bảo thiết thực, dễ hiểu, dễ thực hiện, tăng cường công tác quản lý học sinh, sinh viên, chấn chỉnh kỷ cương, nền nếp sinh hoạt của nhà trường, của học sinh, sinh
Trang 7viên nội trú và ngoại trú, chú trọng tổ chức các hoạt động ngoại khoá, ngoài giờ, các câu lạc bộ văn hoá nghệ thuật phòng chống ma tuý…
Quan trọng nhất, với các em học sinh, sinh viên cần có thái độ tích cực trong việc phòng ngừa nghiện ma túy vì thái độ phòng ngừa nghiện ma túy tích cực là cơ
sở của việc phòng ngừa đạt kết quả tốt nhất Để làm tốt hoạt động phòng chống ma túy trong trường học đòi hỏi phải có hiểu biết, nắm vững tâm lý của học sinh, sinh viên về môi trường sống và hoàn cảnh học tập Trong quá trình thực hiện hoạt động phòng chống ma túy, vấn đề cơ bản là học sinh, sinh viên phải nhận thức, thừa nhận các yêu cầu, nội dung giáo dục phòng ngừa nghiện ma túy và có hành động không
vi phạm các nội dung giáo dục đó, nghĩa là có thái độ tích cực phòng ngừa nghiện
ma túy
Tuy nhiên, cho đến nay ở các trường vẫn chưa có nhiều nghiên cứu một cách
có hệ thống về tâm lý của học sinh, sinh viên về phòng ngừa nghiện ma túy
Với những lý do khách quan trên đây, việc nghiên cứu đề tài về thái độ của sinh viên với việc phòng ngừa nghiện ma túy là việc rất cần thiết Nó không những
có ý nghĩa về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa rất thiết thực trong công tác phòng chống tệ nạn ma túy ở nước ta.Vì vậy, chúng tôi đã lựa chọn và nghiên cứu vấn đề:
“Thái độ của sinh viên với việc phòng ngừa nghiện ma túy ở Đại học Quốc gia Hà Nội”
Qua việc tìm hiểu “Thái độ của sinh viên đối với việc phòng ngừa nghiện ma túy ở Đại học Quốc gia Hà Nội” Chúng tôi mong muốn góp phần làm phong phú thêm cơ sở lý luận về thái độ, góp sức nhỏ bé của mình vào công tác xây dựng thái
độ tích cực trong sinh viên đối với việc phòng chống ma túy
2 Mục đích nghiên cứu
Phát hiện thực trạng thái độ với việc phòng ngừa nghiện ma túy của sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội từ đó đưa ra những kiến nghị cần thiết nhằm giúp đỡ sinh viên có thái độ cự tuyệt với ma túy để điều chỉnh hành vi sống lành mạnh trong nhà trường và cộng đồng
3 Đối tƣợng và khách thế nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Thái độ của sinh viên đối với việc phòng ngừa
nghiện ma túy
3.2 Khách thể nghiên cứu:
Trang 8Tổng số là 400 khách thể: 100 sinh viên trường Đại học khoa học Xã hội và Nhân văn, 100 Sinh viên trường Đại học khoa học Tự nhiên, 100 Sinh viên trường Đại học Kinh tế- ĐHQGH, 100 sinh viên trường Đại học Ngoại ngữ 10 cán bộ lớp Đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh là sinh viên của các trường trong diện điều tra
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về thái độ phòng ngừa nghiện ma túy
- Làm rõ thực trạng thái độ của sinh viên với việc phòng ngừa nghiện ma túy
ở trường ĐH QG- HN
- Đề xuất kiến nghị nhằm giúp sinh viên có thái độ cự tuyệt với ma tuý góp phần thực hiện hoạt động phòng ngừa nghiện ma tuý ở trường học và cộng đồng
5 Giả thiết nghiên cứu
Đa số sinh viên nhận thức chưa đầy đủ về các chất ma túy, đồng tình với việc phòng ngừa nghiện ma túy và chủ động phòng tránh sử dụng các chất ma túy bất hợp pháp
Sinh viên có thái độ tích cực phòng ngừa nghiện ma túy bất hợp pháp và có thái độ không rõ ràng với một số chất ma túy nhẹ thông dụng biểu hiện ở cấp độ cá nhân
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Về đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu tập trung làm rõ thực trạng thái độ của
sinh viên biểu hiện ở mặt nhận thức, cảm xúc, hành vi phòng ngừa nghiện không chỉ các chất ma túy bất hợp pháp mà còn cả các chất ma túy nhẹ thông dụng như rượu, cà phê, thuốc lá…
- Về khách thể nghiên cứu: Sinh viên đang học tập tại Đại học Quốc gia Hà Nội
-Về địa bàn nghiên cứu: 4 trường trong Đại học Quốc gia Hà Nội là trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Kinh
tế, Đại học Ngoại ngữ
7 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục đích và nhiệm vụ của đề tài, một số phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây đã được sử dụng:
Trang 9- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu phân tích các văn bản, tài liệu, sách báo trong và ngoài nước có liên quan đến đề tài nghiên cứu nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài, xác định phương hướng và phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phỏng vấn sâu: thu thập thông tin từ khách thể đại diện nhằm tìm hiểu sâu hơn, cụ thể hơn về thái độ của sinh viên với việc phòng ngừa nghiện
ma túy
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi:
Điều tra trên nhóm khách thể nhằm tìm hiểu thực trạng thái độ của sinh viên với việc phòng ngừa nghiện ma túy ở ĐHQG - HN
- Phương pháp xử lý và phân tích thông tin bằng thống kê toán học:
Sử dụng phần mềm spss 16.0 để xử lý và phân tích kết quả nghiên cứu thu được
Trang 10Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong hai thập kỷ qua, đặc biệt là những năm 90 trở lại đây, ma tuý là một trong những hiểm hoạ mang tính toàn cầu Đặc biệt là từ khi căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS phát triển một cách nhanh chóng, đe doạ đến sự tồn vong của loài người
Từ đó đến nay, những nghiên cứu về các chất ma tuý và các chất gây nghiện gắn liền với các căn bệnh nguy hiểm này càng được tiến hành một cách công phu nhằm tìm ra những biện pháp thích hợp để giải quyết vấn đề
1.1.1 Trên thế giới
Với những phương châm phòng chống tệ nạn ma tuý từ xa, ở một số nước đã
có nhiều công trình tâm lý học nghiên cứu được tiến hành ở trẻ vị thanh niên, trong
đó tập trung vào hành vi và thái độ của chúng đối với các chất gây nghiện như: cà phê, thuốc lá và các loại rượu Viện nghiên cứu Y học Mỹ (1994) đã nghiên cứu những yếu tố bảo vệ trẻ vị thanh niên để chúng không sử dụng Alcohol Những yếu
tố đó bao gồm khả năng kiểm soát bản thân, trong đó các nghiên cứu về lòng tự trọng của Rutter (1990); Demo (1995)…cho thấy lòng tự trọng có liên quan đến việc sử dụng chất gây nghiện ở trẻ vị thanh niên Những đứa trẻ có lòng tự trọng cao rất ít sử dụng các chất gây nghiện và ngược lại những đứa trẻ có lòng tự trọng thấp thường xuyên sử dụng chất gây nghiện
Nghiên cứu của Brook (1990); Hawkins (1992) ở Mỹ chỉ ra các yếu tố quan
hệ với bạn bè trong xã hội có ảnh hưởng rất lớn với việc sử dụng ma tuý và Alcohol
ở trẻ Nghiên cứu của Dons (1985); Kovach và Glichman (1986); Shilts (1991)… cho thấy việc sử dụng các chất gây nghiện của trẻ vị thanh niên gắn với tri giác của việc sử dụng ma tuý ở bạn bè
Nghiên cứu của Jonhson (1986); Kuperminc; Onestak; Forman; Linney (1989) cho thấy sự gắn bó về mặt tình cảm giữa cha mẹ và con cái hoặc mâu thuẫn xảy ra trong gia đình thường xuyên dẫn đến tình trạng stress, có ảnh hưởng đến việc
sử dụng alcohol và các chất gây nghiện ở trẻ vị thanh niên; ngược lại sự gắn bó tình cảm giữa cha mẹ và con cái có thể làm giảm khả năng tiến tới sử dụng ma tuý ở trẻ
vị thanh niên
Đồng thời một loạt nghiên cứu khác của Brook, Gordon, Whiteman, Cohen (1990 ở Mỹ), Farrington, Gallagher, Morley, Ledger, West (1985), Hawskins,
Trang 11Catalano và Miller (1992), Kandle và Andrew (1987); Patterson, Disonhon (1985) cũng cho thấy sự thiếu hụt giữa cha mẹ và con cái, cha mẹ không dự đoán và xác định được hành vi của đứa con, việc theo dõi và kiểm soát con cái một cách sai lầm hoặc chiều chuộng thái quá là những yếu tố có nguy cơ cao dẫn đến việc lợi dụng chất gây nghiện và phạm tội ở con cái họ
Nghiên cứu của tác giả Coie (1993); Yoshikawa (1994) ở viện Y học Mỹ chỉ
ra rằng việc giao tiếp thường xuyên giữa cha mẹ và con cái, tình cảm gia đình ấm
áp, ủng hộ sự độc lập của trẻ một cách hợp lý, kiểm soát con cái với nguyên tắc nhất quán có thể làm giảm đi những hành vi có vấn đề ở trẻ Nghiên cứu của Pillow, Parrena và Chassin (1998) cho thấy việc cha mẹ nghiện rượu có tác động rất xấu đến con cái họ và từ đó dẫn đến chứng sử dụng các chất gây nghiện Nghiên cứa của Richardson, Myers, Bing (1997) ở Mỹ chỉ ra rằng sự rối loạn tâm trạng, cảm giác lo
âu biểu hiện khả năng có thể dẫn tới nghiện ma tuý nặng Một lý thuyết khác của Callahal mang tên “trị liệu trường tư duy” (1996) cho rằng có mối liên quan mật thiết giữa lo hãi và nghiện ngập Từ đó ông đã dùng phương pháp trị liệu tâm lý để giải toả sự lo hãi và thấy rằng mức độ nghiện ngập cũng giảm theo một cách đáng
kể
Tóm lại các chương trình nghiên cứu ở nước ngoài như đã để cập ở trên quan tâm nhiều hơn đến hoàn cảnh xã hội như là một dự báo cho vấn đề nghiện ngập và
từ đó đề ra cách giải quyết tương ứng như chương trình tập luyện kỹ năng cho cha
mẹ, tương tác với bạn bè của con cái Các nghiên cứu quan tâm đến các yếu tố cá nhân như rối loạn cảm xúc, lo hãi, trầm cảm, thái độ phòng ngừa nghiện ma tuý còn chưa nhiều Việc áp dụng những thành quả công tác phòng chống ma tuý là cần thiết song cũng cần phải rất thận trọng, bởi xã hội ta mang những bản sắc đặc thù của riêng mình
1.1.2 Ở Việt Nam
Ở nước ta những nghiên cứu chuyên biệt dưới góc độ tâm lý học về ma tuý chưa được nhiều bằng các nước khác, song cũng có một số công trình nghiên cứu được công bố trong các cuộc hội thảo về vấn đề này Hầu hết trên các phương tiện truyền thông đại chúng ở nước ta đều có một mục bàn về việc phòng chống tệ nạn
ma tuý như một trong những vấn đề cấp bách cần được giải quyết càng sớm càng tốt
Trang 12Hàng loạt các bài báo và tạp chí đề cập đến vấn đề ma tuý, nghiện ma tuý, tái nghiện ma tuý và phòng chống tệ nạn này ở thanh niên, trước hết phải kể đến bài của Mạc Văn Trang trong bài “ Nạn nghiện ma tuý xem xét dưới góc độ cá nhân”(Tạp chí khoa học thanh niên 1998) Tác giả đã đề cập những động cơ (lý do) khiến thanh niên sử dụng ma tuý, quá trình dẫn đến nghiện ma tuý và các biện pháp giúp cá nhân phòng chống, cai nghiện từ phía gia đình, nhà trường và xã hội Bài “ Kết hợp nhiều biện pháp nhằm ngăn chặn tệ nạn ma tuý trong học sinh- sinh viên” của tác giả Văn Phong (tạp chí đại học giáo dục chuyên nghiệp tháng 11 năm 1997) Tác giả chú trọng đến công tác tuyên truyền giáo dục mọi người để nâng cao nhận thức về tác hại của ma tuý Bài “Ngăn chặn đẩy lùi, tiến tới xóa bỏ tệ nạn ma tuý trong học sinh, sinh vỉên” của tác giả Vũ Hùng (tạp chí khoa học số 4 năm 1999) nêu ra những vấn đề sau cai nghiện vẫn cần sự quản lý của chính quyền, sự thương yêu của gia đình, sự quan tâm của xã hội, tránh cho người nghiện có mặc cảm lầm lỗi, bị xã hội bỏ rơi, xa lánh Bài “Một số giải pháp phòng ngừa ma tuý trong giới trẻ” của Đăng Giao (tạp chí thanh niên) đề cập giải pháp về kinh tế xã hội, về văn hoá giáo dục (công tác tuyên truyền đạo đức lối sống cho thanh niên, chú trọng giáo dục định hướng giá trị) Bài “Chống tái nghiện nhìn từ góc độ tâm lý”, tác giả Đỗ Ngọc Yên đề cập đến nguyên nhân tái nghiện là do chính từ bản thân tâm lý của người nghiện và môi trường sống của người nghiện khi đã cai nghiện, ảnh hưởng đến việc họ quyết tâm hay không quyết tâm từ bỏ ma tuý
Luận án tiến sĩ của tác giả Phan Thị Mai Hương với đề tài “Tìm hiểu nhân cách, hoàn cảnh xã hội của thanh niên nghiện ma tuý và mối quan hệ giữa chúng” Tác giả đã chỉ ra nguyên nhân nghiện ma tuý là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố, đặc điểm mối quan hệ giữ đặc điểm nhân cách và hoàn cảnh xã hội Về đặc điểm nhân cách, thứ nhất do cảm xúc mất cân bằng, thứ hai sự thụ động và phụ thuộc, thứ
ba là lối tư duy thử nghiệm và tầm nhìn hạn chế Còn về hoàn cảnh xã hội thì phần lớn những thanh niên nghiện ma tuý sống trong môi trường xung quanh họ có nhiều người nghiện ma tuý, cha mẹ không hiểu con cái, quản lý lỏng lẻo và sự bất lực trong quản lý con cái Sự phân ly với gia đình được bù đắp bởi sự gần gũi với bạn
bè, do chịu nhiều ảnh hưởng của bạn bè, coi đó là chỗ dựa chủ yếu trong cuộc sống
Các công trình nghiên cứu trong nước nghiên cứu về nghiện ma túy tập trung nghiên cứu những vấn đề như động cơ nghiện, hoàn cảnh xã hội, nhân cách
Trang 13người nghiện, các biện pháp quản lý sau cai nghiện và phòng chống nghiện ma túy Rất ít công trình nghiên cứu về phòng chống nghiện ma túy bằng các biện pháp tâm
lý
1.2 Một số vấn đề lý luận về thái độ của sinh viên đối với việc phòng ngừa nghiện ma túy
1.2.1 Khái niệm ma tuý, nghiện ma tuý
Khái niệm ma túy
- Theo nghĩa gốc Hán Việt ma túy được hiểu là mê mẩn nhằm để chỉ các chất gây ngủ, gây mê và có khả năng gây nghiện Theo cách hiểu này thì các chất ma túy được hiểu là: Các chất độc có tính chất gây nghiện, có khả năng bị lạm dụng Sự nghiện ngập chính là biểu hiện của trạng thái bị ngộ độc mãn tính do các chất ma túy gây nên cho người sử dụng chúng [15, tr17]
- Từ quan điểm về tính chất gây nghiện ma túy, tác giả Nguyễn Phong Hòa
và Đặng Ngọc Hùng cho rằng : « Các chất ma túy là những chất độc, có tính chất gây nghiện, có khả năng bị lạm dụng » [14, tr 29]
- Theo tác giả Nguyễn Quốc Nhật định nghĩa: Ma túy có thể được hiểu là những chất độc nguy hiểm, có khả năng gây nghiện cao, có ảnh hưởng xấu đến sức khỏe của con người và làm cho người sử dụng lệ thuộc vào chúng, gây tác hại xấu cho sức khỏe người sử dụng và ảnh hưởng xấu đến đời sống cộng đồng
- Theo tổ chức WHO (1982) ma túy được hiểu theo nghĩa rộng: là một thực thể hóa học hoặc những thực thể hỗn hợp, khác với tất cả những cái được đòi hỏi để duy trì một sức khỏe bình thường, việc sử dụng những cái đó làm biến đổi những chức năng sinh học và có thể cả cấu trúc vật chất [15,tr17]
- Qua việc xem xét các khái niệm, chúng tôi đồng tình với khái niệm: « Ma túy là những chất độc, có tính chất gây nghiện, có nguồn gốc tự nhiên hoặc nhân tạo Khi xâm nhập bào cơ thể con người có tác dụng làm cho tâm trạng, ý thức và trí tuệ con người bị lệ thuộc vào chúng, gây nên những tổn thương cho cá nhân người
sử dụng và cả cộng đồng » (Theo chương trình khảo sát quốc tế của liên hợp quốc (UNDCP),1991)
Qua các định nghĩa trên chúng ta có thể hiểu rằng:
Theo nghĩa rộng ma tuý là một chất hoá học hoặc những chất tổng hợp mà khi con người sử dụng sẽ làm biến đổi chức năng sinh học và tinh thần (gồm cả
Trang 14những chất bị cấm dùng như: thuốc phiện, hêrôin, côcain, ma túy tổng hợp, thuốc lắc…đến những chất dùng hạn chế theo chỉ dẫn của thầy thuốc để chữa bệnh như thuốc an thần, thuốc ngủ, thuốc ho hay cả những loại thông dụng như rượu, thuốc
lá, cà phê…)
Theo nghĩa hẹp thì ma tuý bao gồm: thuốc phiện, cần sa, các chế phẩm khác như moocphin, hêrôin, côcain…và các chất kích thích thần kinh, tâm thần ghi trong công ước của Liên hợp quốc về ma tuý
Chia theo mối quan hệ xã hội thì có 3 loại ma tuý
Ma tuý hợp pháp (ma tuý y học) gồm : thuốc ngủ, thuốc an thần, thuốc giảm đau, các loại thuốc ho…
Ma tuý thông dụng như: cà phê, thuốc lá, rượu…
Ma tuý bất hợp pháp: hêrôin, thuốc phiện, cần sa, côcain, ma túy tổng hợp, thuốc lắc
Hiện nay trên thế giới người ta đã biết được trên 400 loại ma tuý có nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc tổng hợp, được phân chia theo các cách khác nhau
Khái niệm nghiện ma tuý
Trong từ điển tiếng Việt, thuật ngữ nghiện được hiểu là ham thích đến mức thành thói quen, khó bỏ [15,tr13].Theo định nghĩa này nghiện có thể được gắn với việc ham thích dùng một chất nào đó như rượu, thuốc lá, cà phê, ma tuý thậm chí một loại thức ăn nào đó như sôcôla, bánh… Nghiện có thể được gán cho việc ham thích một loại hoạt động nào đó Cách hiểu này về nghiện đã đồng nhất nghiện với thói quen, thậm chí trong một chừng mực nhất định thói quen còn được hiểu là mức độ cao hơn của nghiện Thực tế thì nghiện và thói quen là hai phạm trù rất khác nhau về bản chất Thói quen là khuôn mẫu hành vi được thực hiện một cách thường xuyên và được hình thành trong hệ thống hành vi của con người đến mức
nó được thực hiện mà không cần một sự cố gắng có ý thức Để thay đổi thói quen thì con người cần cố gắng một cách có ý thức là đủ Trong khi đó nghiện ngập là
sự phụ thuộc hoàn toàn vào chất gây nghiện, cơn nghiện có khả năng lấn át ý thức của con người
Khái niệm về nghiện cũng được Calanhan R.J định nghĩa là “sự phụ thuộc vào một vài chất hoặc hoạt động tạo ra sự có hại ở một số mức độ hoặc sự can thiệp vào đời sống của con người”[21, tr10]
Trang 15Trước khi đề cập đến khái niệm nghiện cần phân biệt các mức độ liên quan đến việc dùng ma tuý Đó là sử dụng ma tuý, lạm dụng ma tuý, nghiện ma tuý
Sử dụng ma tuý là việc dùng ma tuý với mục đích chữa bệnh, đúng liều lượng, đúng lúc theo sự chỉ định chặt chẽ của bác sĩ Việc sử dụng như vậy là có lợi cho sức khoẻ người dùng
Lạm dụng ma tuý là sử dụng ma tuý một cách quá liều vào mục đích tiêu khiển Cách sử dụng này là có hại cho cơ thể
Khái niệm nghiện ma tuý cũng được đề cập ở các góc độ khác nhau Nghiện
ma tuý từ góc độ y học được tổ chức y tế thế giới định nghĩa là trạng thái nhiễm độc chu kỳ hay mãn tính do sử dụng lặp lại nhiều lần một chất độc tự nhiên hay tổng hợp nào đó Sự nhiễm độc này được thể hiện ở sự tăng dần liều dùng và sự lệ thuộc
vể tâm sinh lý của người dùng vào tác dụng của chất độc đó Bởi từ góc độ quan tâm của ngành y nên khái niệm nghiện chỉ chú trọng đến vấn đề thể chất, sức khoẻ con người
Từ quan điểm xã hội thì nghiện ma tuý là: “tệ nạn xã hội làm tổn hại đến sức khỏe, nhân cách, ảnh hưởng xấu đến đời sống sinh hoạt và trật tự an toàn xã hội” [21, tr 11]
Từ phương diện tâm lý học thì khái niệm nghiện ma tuý phải bao quát được
cả về mặt thể chất và mặt tâm lý của người nghiện, đồng thời cũng nêu lên tác hại của nghiện trên cả bình diện cá nhân và xã hội
Trong từ điển tâm lý học, nghiện ma tuý được định nghĩa là “ trạng thái nhiễm độc chu kỳ hay mãn tính của cơ thể, có hại cho cá nhân và cho xã hội do dùng nhiều lần một lượng chất độc tự nhiên và tổng hợp” [2,tr 89] Nghiện ma tuý
có những đặc điểm như: bức xúc về mặt tâm lý muốn sử dụng lại ma tuý, sự lệ thuộc của cơ thể vào chất gây nghiện
Như vậy có thể định nghĩa nghiện ma tuý như sau:
Nghiện ma tuý là hiện tượng bị phụ thuộc cả thực thể và tinh thần vào ma tuý do sử dụng thường xuyên với liều lượng ngày càng tăng dẫn đến mất khả năng kiểm soát bản thân ở người nghiện ma tuý, có hại cho cá nhân và xã hội Thiếu ma
tuý, ở người nghiện sẽ xuất hiện hội chứng cai, tức là những đau đớn, vật vã và một
số những phản ứng sinh lý khác ở cơ thể người nghiện Khi dùng ma tuý những
Trang 16người nghiện được kích thích về cảm giác nên có những khoái cảm, tạo cho họ những cảm giác dễ chịu hơn là những cảm giác họ phải chịu đựng trước đó
Do ma tuý ảnh hưởng đến cả thể chất và tâm lý người nghiện nên có thể phân biệt hai vấn đề của hiện tượng này Đó là nghiện sinh lý và nghiện tâm lý
Nghiện sinh lý là sự phụ thuộc của cơ thể vào chất gây nghiện Khi ngừng dùng chất gây nghiện trong khoảng thời gian nào đó sẽ gây ra hội chứng cai bao gồm cả những đau đớn về mặt thể chất và tâm lý cho người nghiện Sau khi đi cai nghiện, bác sĩ cho dùng thuốc giải độc và một số loại thuốc khác thì người nghiện
có thể không còn bị phụ thuộc vào ma tuý nữa Thời gian cắt cơn chỉ mất khoảng 7 đến 15 ngày, tuỳ thuộc vào thể chất của từng người nghiện
Nghiện tâm lý là thèm khát cảm giác do tác dụng của chất gây nghiện tạo ra cho người dùng nó Cảm giác này là sự sảng khoái, sự đê mê, an thần, lâng lâng… sau khi dùng chất gây nghiện Như vậy khi ngừng sử dụng ma tuý thì cơ thể bị hội chứng dữ dội và tâm lý thèm nhớ cảm giác của ma tuý triền miên Nhưng, khi cắt được cơn đau về mặt thực thể, tức là không còn lạm dụng thuốc nữa nhưng vẫn chưa cắt được cơn thèm khát ma tuý về mặt tâm lý thì người nghiện ma tuý lại tái nghiện Như vậy, nghiện ma tuý chủ yếu là nghiện tâm lý và việc tìm kiếm nguyên nhân nghiện ngập chủ yếu phải tập trung vào vấn đề tâm lý của người nghiện
Như vậy có thể hiểu người nghiện ma tuý là người sử dụng lặp đi lặp lại một hay nhiều chất ma tuý dẫn đến tình trạng nhiễm độc chu kỳ hay mãn tính, bị lệ thuộc thể chất và tinh thần vào ma tuý Người nghiện ma tuý nếu ngừng sử dụng thuốc sẽ bị hội chứng cai nghiện (mất ngủ, đau xương, chóng mặt…) ảnh hưởng đến sức khoẻ và tinh thần (giảm trí nhớ, suy thoái nhân cách ) trong một thời gian nhất định tuỳ thuộc vào mức độ của từng người nghiện
Quá trình nghiện ma túy diễn ra nhƣ sau:
Quá trình diễn ma túy diễn ra một cách khá ngọt ngào, đến khi biết mình nghiện thì đã muộn, người nghiện khó tự mình vùng vẫy thoát khỏi ma lực của nó
Giai đoạn 1: Người dùng ma túy thấy thú vị, dễ chịu, lâng lâng, khoái cảm… không thì thấy nhạt nhẽo, them muốn…
Giai đoạn 2: Ma túy trở thành một nhu cầu và thiếu nó thì thèm muốn không chịu nổi, họ tìm kiếm ma túy bằng mọi cách
Giai đoạn 3: Dùng liều lượng ma túy ngày càng tăng thêm
Trang 17Giai đoạn 4: Đấu tranh cai nghiện ma túy- không cai được- nghiện- lại cai diễn ra với sự khốn khổ về tinh thần, đau đớn về thể xác, kiệt quệ về tài chính
Giai đoạn 5: Nếu giai đoạn 4 không thắng nổi, sẽ dẫn đến giai đoạn hoàn toàn nguy hiểm: Khủng hoảng tinh thần trầm trọng, và tự hủy hoại mình, vừa làm hại gia đình, xã hội bởi những hành vi thiếu lý trí, nguy hiểm không lường hết được
Khi một người mới bắt đầu dùng ma túy thường khó phát hiện
Những người có quan hệ thân thiết tin cậy, quan tâm lẫn nhau thì có thể được phát hiện sớm Người mới thử dùng thường hay khoe, hay mô tả các tác dụng của
ma túy Họ thường tiết lộ những bí mật riêng thầm kín, với những người thân Những trường hợp may mắn này thường dễ phát hiện sớm và nếu kịp thời có biện pháp dứt khoát, thì chấm dứt tương đối dễ Nhưng đa số trường hợp người nghiện dấu diếm đến khi giai đoạn thứ 2, thứ 3 thì người thân mới phát hiện được
Một số nguyên nhân tâm lý - xã hội dẫn đến nghiện ma túy
Tình trạng nghiện ma túy như hiện nay ở nước ta do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan, song qua nhiều nghiên cứu thực trạng công tác phòng ngừa ma túy trong giai đoạn vừa qua cho thấy tình trạng nghiện ma túy hiện nay là do một số nguyên nhân chính sau:
- Do bạn bè rủ rê lôi kéo, bắt chước, do bị dụ dỗ, (có thể do bị ép buộc)…
- Lúc đầu họ dùng ma tuý để điều trị bệnh, sau đấy quen thuốc
- Trong gia đình họ có điều kiện tiếp xúc dễ dàng với ma tuý (buôn bán, vận chuyển, có người nghiện ma tuý…)
- Do đua đòi theo mốt, muốn thử tìm cảm giác khác lạ, khoái lạc thú vị
- Do đồng hóa theo hành vi của nhóm
- Do buôn lậu ma tuý
- Tìm đến ma tuý để thoát ly khỏi môi trường sống do không thích ứng, họ chịu sự tác động tiêu cực của các yếu tố tâm lý xã hội, mâu thuẫn trong gia đình, trong tình yêu…
- Bản thân đam mê, muốn chứng tỏ mình chịu chơi, anh hùng
- Thiếu sự quan tâm của gia đình người thân
- Bản thân người nghiện ma túy thường ma túy thường là những người không có nghị lực, không có bản lĩnh, sống buông thả, kém rèn luyện, thích tìm
Trang 18những cảm giác khoái lạ, thiếu hiểu biết về tác hại của ma túy mà tìm đến sử dụng chúng
Khi nói về nguyên nhân dẫn đến nghiện ma túy họ thường đổ lỗi cho các nguyên nhân khách quan (như bị bạn bè rủ rê, do bắt chước, mâu thuẫn, bế tắc trong cuộc sống tình cảm… )nên tìm đến ma túy mà không thấy được các nguyên nhân chủ quan do bản thân đam mê, tò mò, muốn tìm khoái lạc thú vị, ý chí và nghị lực kém
Người nghiện thường bi quan về cuộc sống của mình, coi cuộc đời mình là
bế tắc là đáng bỏ đi, nhưng về trí tuệ họ thường đánh giá mình trên mức trung bình,
họ thường cho mình là thông minh, hoạt bát
Tác hại của nghiện ma tuý
Tác hại của ma tuý đối với sức khoẻ người nghiện
Ma tuý khi xâm nhập vào cơ thể sẽ gây ra những phản ứng làm thay đổi chất, gây tổn hại lên hệ thần kinh, gây nên những ấn tượng trong trung khu thần kinh của bán cầu đại não và tạo ra trong tâm lý con người một thói quen, nỗi khát khao, đam
mê, khó có thể bỏ được
Ma tuý vào cơ thể tác dụng đặc hiệu lên hệ thần kinh, gây nên những trạng thái tâm lý không bình thường, làm mất đi một số chức năng cơ bản vốn có của cơ thể, tạo thành những ảo giác, những cảm giác mới lạ
Ma tuý hít gây hư hại niêm mạc vùng mũi
Ma tuý dạng hút làm tổn thương đường hô hấp, làm phổi suy yếu dễ mắc các bệnh nhiễm trùng phổi
Ma tuý dạng chích dễ dàng làm lây các bệnh qua đường truyền máu, qua tiêm chích như sốt rét, viêm gan B, bệnh SIDA Ma tuý chích tại các tổ chích, tụ điểm chích còn bị pha thêm một số chất bẩn dễ gây nên áp xe nơi chích phải cưa cụt chân tay, hoặc gây nhiễm trùm máu có thể đưa đến chết người
Dùng ma tuý quá liều có thể ngừng tim ngưng thở, chết người Nghiện lâu ngày cơ thể gầy ốm, da xám xịt, môi thâm, tóc tai xơ xác Người nghiện lâu ngày còn bị tổn thương về mặt tinh thần: như kém tập trung suy nghĩ, giảm nghị lực, mất
ý chí vươn lên khiến bỏ ma tuý cũng khó hơn Người mới nghiện heroin, khi “ phê” (ngay sau khi được sử dụng ma tuý) thường gia tăng kích thích tình dục dẫn đến hành vi tình dục không an toàn, có thể bị lây nhiễm HIV/AIDS Nhưng sử dụng
Trang 19heroin một thời gian dài làm suy yếu khả năng quan hệ tình dục Giới nữ nghiện ma tuý có khi phải bán thân để có tiền sử dụng ma tuý
Trong những năm gần đây nhiều công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của ma tuý đối với sức khoẻ con người đã khẳng định: ma tuý là nguyên nhân phát sinh nhiều loại bệnh tật, huỷ hoại sức khoẻ con người Nghiện ma tuý là một căn bệnh làm cho các con nghiện gầy còm, kém ăn, mất ngủ, thần kinh rối loạn, trí nhớ kém, lười biếng, ngại vận động, ngại làm việc, sợ nước, sợ ánh sáng… Thể chất và tinh thần bị huỷ hoại hoặc dần dần, trí thông minh bị suy giảm và cạn kiệt, sợ sệt hoặc chán chường, mệt mỏi, thất vọng và luôn có cảm giác lầm lỗi, khổ tâm, quan sát cũng thấy điều đó khi họ ở trong các trại cai nghiện Còn ở trong cuộc sống đời thường, đôi khi họ như con thú dữ, sẵn sàng chém giết, đập phá hoặc làm bất cứ việc gì miễn là được thoả mãn cơn nghiện
Khi cơn nghiện ập đến thì họ quằn quoại đau đớn, rên rỉ, thậm chí co giật, chảy nước miếng…
Các nhà khoa học Hoa Kỳ khẳng định rằng, những người nghiện ma tuý thường bị bệnh tim mạch với tỷ lệ cao so với người không nghiện
Các nhà khoa học Châu Âu đã thông báo: những người thường xuyên sử dụng ma tuý dễ mắc các bệnh gan và thận
Các bệnh thần kinh thường thấy xuất hiện ở những người nghiện ma tuý Các chất ma tuý tác động trực tiếp lên hệ thần kinh trung ương, tạo nên những dấu ấn, những phản xạ mới, gây nên những xung động kích thích hoặc ức chế lên các trung khu của bán cầu đại não Các trung khu thần kinh điều khiển các cơ quan trong cơ thể, gây nên những hành vi đôi khi không thể kiềm chế được, thậm chí rối loạn trong nhận thức và hành động Người nghiện ma tuý nặng luôn ở trong trạng thái rối loạn các phản xạ thần kinh, tâm lý luôn bị kích động mạnh, nói cười, đi lại cư xử khác thường
Đặc điểm nổi bật khác của các bệnh thần kinh là do hậu quả của việc nghiện
ma tuý là bệnh mất trí nhớ hay lãng quên và dẫn tới đần độn, kém thông minh trong suy tính và nhận định, phân tích các tình huống Nhiều người nghiện sau khi cai nghiện xong trạng thái thần kinh vẫn chưa được phục hồi bình thường, thụ động trong giao tiếp, lầm lì ít nói
Trang 20Bệnh AIDS, một căn bệnh thế kỷ, là mối hiểm hoạ của toàn nhân loại Nền y học hiện đại chưa tìm được phương thức chữa trị, phần lớn những người bị bệnh AIDS (khoảng 70%) là những người nghiện hút
Gần đây là thuốc lắc đang là tai họa của toàn nhân loại “Thuốc lắc” là tên đường phố của Ecstasy, là chất ma túy tổng hợp MDMA (methylene dioxy methamphetamine) có tác dụng gây kích thích tâm thần Nó làm tăng nồng độ các chất dẫn truyền thần kinh như Serotonin, Dopamin, Noradrenalin… dẫn đến tế bào thần kinh bị kích thích không ngừng, gây quen, nghiện và suy kiệt thứ phát Do vậy, được xếp vào các chất ma tuý và bị cấm sử dụng
“ Thuốc lắc” gây kích thích tâm thần, làm cho người sử dụng muốn lắc mình, nhún nhảy nên thường được sử dụng ở các vũ trường, động lắc Qua các điều tra cho thấy sử dụng “thuốc lắc” thường là thanh thiếu niên, học sinh, sinh viên
Tác hại của thuốc an thần (dùng quá liều)
Thuốc an thần nếu sử dụng quá nhiều sẽ làm xuất hiện các tác dụng phụ: lú lẫn, ảnh hưởng đến trí nhớ, nhận thức, làm thay đổi thái độ, hành vi
Trong số các thuốc an thần mới được đưa vào sử dụng, quetiapine là tác nhân
có liên quan rõ rệt nhất với nguy cơ gây đục thủy tinh thể
Đặc tính của nhóm thuốc này dùng nhiều sẽ có hiện tượng quen thuốc và gây nghiện, dùng liều cao có thể bị ngộ độc, tùy theo từng loại thuốc mà liều gây độc khác nhau
Ngộ độc nhẹ: ngủ say vẫn thở đều, mạch vẫn đều và rõ, còn phản ứng khi véo da, châm kim…các phản xạ gân và đồng tử giảm
Ngộ độc nặng: Gây hôn mê sâu, thở chậm và nông, khò khè, mạch nhanh, huyết áp hoặc không đo được
Tác hại của thuốc ngủ (dùng quá liều)
Đặc tính thuốc ngủ là dùng lâu gây hiện tượng quen thuốc và có thể gây nghiện; dùng liều cao có thể bị ngộ độc, tùy theo từng loại thuốc mà liều gây độc khác nhau Ngộ độc thuốc ngủ cần phải được cấp cứu ngay vì nó có thể gây rối loạn
về hô hấp (như sặc, tụt lưỡi, ngừng thở), rối loạn về tuần hoàn, suy thận cấp, hạ thân nhiệt nguy hại đến tính mạng
Trang 21Tác hại của rượu:
Chất cồn có trong rượu nếu con người lạm dụng sử dụng quá nhiều đều có tác động không tốt đến hệ thống thần kinh và đặc biệt là lên não, làm cho góc nhìn của con người bị thu hẹp và thời gian phản ứng chậm đi
Các nhà nghiên cứu của Đại học Stockholm đã tìm thấy rằng uống 50g cồn hằng ngày sẽ để lại tác hại vĩnh viễn Ước lượng vào khoảng 100.000 tế bào não sẽ
bị giết chết khi uống một ly rượu Trong một cơn say rượu con số tế bào não chết đi
có thể lên đến 10.000.000
Cồn cũng ảnh hưởng đến tình dục và khả năng có con Cồn làm giảm tính tự kiềm chế vì thế tăng hưng phấn tình dục Cồn thuộc vào các chất có tác dụng độc hại đến tinh hoàn và tinh trùng Theo các nghiên cứu mới đây của giáo sư E Abel (Mỹ), nam giới uống rượu trước khi sinh hoạt tình dục chẳng những làm tăng khả năng sẩy thai mà còn có thể ảnh hưởng đến việc phát triển của đứa con sinh ra Người mẹ uống rượu trong thời gian mang thai dễ sinh ra các đứa trẻ có khuyết tật
về trí tuệ Khi chúng ta uống quá nhiều rượu cơ thể hoàn toàn mất điều khiển vì tất
cả các tuyến thần kinh ngoại biên, mất cảm giác không gian và thời gian, mất ý thức; thậm chí rơi vào hôn mê [26]
Tác hại của thuốc lá: khi chúng ta hút thuốc lá thì trong khói thuốc có
khoảng 4.000 chất hóa học, trong đó có 40 chất được xếp vào loại gây ung thư gồm những chất như nicotin, mônôxít cacbon, hắc ín và benzen, amoniac… ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thần kinh, mạch máu và nội tiết gây ra những bệnh tim mạch, giảm trí nhớ và các bệnh ung thư.Tuổi thọ trung bình của người hút thuốc ngắn hơn so với người không hút thuốc từ 05 đến 08 năm Hút thuốc làm tăng tỷ lệ tử vong cao
từ 30 đến 80% vì các bệnh nên trên gây ra [27]
Cà phê từ lâu đã được biết đến với công dụng kích thích sự hưng phấn của thần kinh dưới ảnh hưởng của caffein Tuy vậy loại đồ uống thơm ngon này cũng có thể có một vài tác dụng xấu đối với sức khỏe con người nếu chúng ta lạm dụng sử dụng nó như: caphê làm tăng đột ngột lượng insulin trong máu, làm mất thăng bằng
cơ thể cũng như ảnh hưởng không tốt tới tuyến tuỵ Đặc biệt đối với những người bị viêm tuỵ thì việc sử dụng cà phê là điều cấm tuyệt đối Những bệnh nhân bị bệnh
Trang 22tiểu đường cũng không nên dùng cà phê, hoặc nếu có thì chỉ được dùng rất ít Cà phê nếu dùng quá nhiều cũng có thể làm sưng màng nhầy ở dạ dày.[28]
Tác hại của ma tuý đối với gia đình người nghiện
Gia đình là tế bào của xã hội, mái ấm gia đình là điều thiêng liêng nhất đối với mỗi con người Nhưng nhiều gia đình đang đầm ấm yên vui thì phút chốc trở thành bất hạnh vì có một người nghiện ma tuý, không khí êm đềm, ấm cúng yên vui của gia đình đã tan biến, thay vào đó là nỗi thống khổ, buồn tẻ và căm ghét Rất nhiều vụ ly hôn vì nguyên nhân chồng hoặc vợ nghiện ma tuý dẫn đến sự xung đột cãi cọ và cảm thấy không thể chung sống với nhau thêm nữa
Nỗi bất hạnh lớn nhất trong gia đình là trong nhà có người thân bị nghiện, làm cho mọi người phải lo âu buồn phiền Những cuộc cãi cọ, đánh lộn nhau thường xuyên xảy ra tạo nên trong gia đình một bầu không khí ảm đạm, buồn bực và cuối cùng dẫn đến những đổ vỡ, những hậu quả không thể lường hết được
Gia đình có người nghiện ma tuý phải gánh chịu nhiều bất hạnh: kinh tế suy sụp khánh kiệt, bất hoà thường xuyên giữa người nghiện và gia đình do mâu thẫn về lối sống, thái độ cư xử, về kinh tế Thực tế có nhiều chuyện rất thương tâm, đau lòng do người nghiện ma tuý gây ra như con giết cha, chồng giết vợ, cháu giết bà…
để lấy tiền đi mua ma tuý thỏa mãn cơn nghiện
Tác hại của ma tuý đối với trật tự an toàn xã hội
Nếu trật tự an toàn xã hội là tổng thể các mối quan hệ xã hội được điều chỉnh bởi các quy phạm phát luật, các phong tục tập quán và các chuẩn mực đạo đức Mỗi
cá nhân, mỗi gia đình, mỗi tập thể sản xuất, cơ quan, trường học trong hoạt động thường ngày đều bị chi phối, ràng buộc lẫn nhau trong sự hài hoà và hết sức năng động của toàn xã hội
Nghiện ma tuý là một tệ nạn xã hội và là nguyên nhân gây nên những hậu quả nghiêm trọng cho trật tự an toàn xã hội Nghiện hút và mại dâm luôn đi song song với nhau.Với những đặc điểm tâm lý, tính cách, nhận thức của những người nghiện ma túy, lối sống gấp gáp, hung hãn, cuồng nhiệt, vô tổ chức, vô kỷ luật, bất cần đời, chán chường và bệnh hoạn, số người nghiện này đang là nguồn bổ sung
Trang 23vào thế giới tội phạm Để cú tiền mua ma tuý đỏp ứng nhu cầu thỏa món cơn nghiện, họ lao vào trộm cắp tài sản, trấn lột, tống tiền, thậm chớ cả những vụ giết người cướp của Kết quả nghiờn cứu thống kờ tội phạm học chỉ ra rằng, trờn 60% số đối tượng phạm tội vừa nờu là những người nghiện ma tuý
Nghiện ma tuý là một trong những nguyờn nhõn, điều kiện phỏt sinh tội phạm Do tỏc hại ảo giỏc của một số loại ma tuý, người nghiện cú thể cú một số hành vi hung hón, gõy hưng phấn, quậy phỏ mất trật tự an toàn xó hội, hoặc cú khi nổi mỏu anh hựng dẫn đến đua xe, lạng lỏch gõy tai nạn giao thụng Nếu mỗi người nghiện sử dụng từ 10.000 đến 30.000 đồng mỗi ngày để mua ma tuý thỡ mỗi ngày nước ta tiờu tốn từ 2 tỷ đến 6 tỷ đồng (với khoảng 200 người nghiện ma tuý hiện nay) Khụng chỉ dừng lại ở đú, những chi phớ tốn kộm do phải xõy dựng lực lượng quốc phũng, khắc phục giải quyết cỏc hậu quả do ma tuý đem lại cũng khụng nhỏ Ngoài ra, xó hội phải mất tiền để giỏo dục, điều trị tốn hàng chục tỷ đồng Ma tuý làm tha hoỏ thế hệ trẻ - những người sa chõn vào nghiện ngập Ma tuý gõy ảnh hưởng đến sự phỏt triển kinh tế, chớnh trị, văn hoỏ, quốc phũng của đất nước
Mặt khác nghiện ma tuý cũng làm suy giảm lực l-ợng lao động và chất l-ợng lao động cũng giảm sỳt Mỗi năm ngoài việc các đối t-ợng nghiện đ-a vào cơ thể một l-ợng chất độc trị giá hàng nghìn tỉ đồng thì nhà n-ớc cũng phải chi phí rất nhiều tỉ đồng cho việc chữa trị, cai nghiện, chăm sóc thuốc men cho những ng-ời nghiện, đó là ch-a kể đến những khoản tài chính khổng lồ cho công tác đấu tranh, phòng chống buôn bán các chất ma tuý, tổ chức sử dụng trái phép các chất ma tuý
Tệ nạn ma tuý gây nên nhiều tác hại cả về sức khỏe, kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, an ninh trật tự và trở thành thảm hoạ chung của cả nhân loại
Trang 24Một số đặc điểm của người nghiện ma túy
Bảng 1: Biểu hiện của người nghiện ma túy:
bị rối loạn hệ thần kinh, hệ tiêu hóa, ảnh hưởng đến tâm lý, hành vi xã hội
Tác động của ma túy đến hệ thần kinh và hoạt động sống của cá nhân
Khi sử dụng ma túy lúc đầu chỉ gây cảm giác khác lạ về thần kinh, nhưng sử dụng nhiều thành một phản xạ có điều kiện (hiện tượng quen thuốc)
Với người bình thường khi không sử dụng các chất ma túy thì dưới võ não tự tạo ra chất mocphine chất này như một dạng đề kháng làm giảm mệt mỏi, làm phục hồi sức khỏe, đảm bảo cơ chế tự điều chỉnh cơ thể Sau khi sử dụng ma túy thì nó làm rối loạn hoạt động sản xuất mocphine trong cơ thể và sẽ làm ngừng hoạt động
Trang 25và bị phụ thuộc vào mocphine nhân tạo (qua tiêm chích, hút hít…) được đưa vào cơ
thể, rối loạn mọi hoạt động tâm, sinh lý của người sử dụng
1.2.2 Một số đặc điểm tâm lý của người nghiện ma tuý
Người nghiện ma tuý thường có một số biểu hiện tâm lý chung sau:
- Có khuynh hướng thèm muốn ma tuý không kiềm chế được và phải sử dụng ma tuý bằng bất cứ giá nào
- Có khuynh hướng tăng dần liều dùng, liều dùng sau phải tăng hơn liều dùng trước thì mới có tác dụng
- Nếu thiếu thuốc sẽ kèm theo những triệu chứng mệt mỏi, uể oải, giảm trí nhớ, mất ý chí…và có thể làm bất cứ điều gì miễn là có thuốc để dùng
- Tâm tư mất ổn định, mất khả năng tư duy mạch lạc, tâm trạng thường lo lắng, bồn chồn
- Thói quen sinh hoạt thay đổi, thích và hay ngủ ngày, đêm thức
- Có thói quen hay tụ tập, đi lại đàn đúm, có nhu cầu chơi bời với những người không có việc làm, lười lao động nếu còn đi học thì hay bỏ học
- Hàng ngày cứ đến một giờ nhất định nào đó dù có làm việc gì cũng bỏ dở
để tụ tập với nhóm bạn nghiện khác
- Tâm lý thích ở một mình, ít và ngại tiếp xúc với mọi người Thường chỉ tiếp xúc với nhóm bạn nghiện nào đó
- Tâm lý khát khao, thèm muốn ma tuý theo chu kỳ
- Khi lên cơn nghiện, có cảm tưởng bị khốn quẩn mất hết phương hướng
- Khi có ma tuý sử dụng sẽ xuất hiện trạng thái về mặt tâm lý như: tinh thần sảng khoái, cảm thấy lâng lâng với “ảo giác” rất hạnh phúc, có cảm giác minh mẫn hơn Có cảm giác bồng bềnh, quên đi nỗi nhọc nhằn phiền muộn, bực bội, chán nản trong cuộc sống, vui vẻ và nhạy cảm hơn
- Nhu cầu: Nhu cầu dùng ma túy không nằm trong những nhu cầu tự nhiên của con người, bản thân ma túy lúc đầu không có ý nghĩa đối với cơ thể con người Nhưng khi ma túy được đưa vào cơ thể, kích thích thần kinh mạnh, gây ra cảm giác thoải mái, đặc biệt khó có thể quên được Khi đã nghiện cảm giác đó rồi thì phải thường xuyên đưa ma túy vào cơ thể vì:
Cần ma túy để thỏa mãn cơn nghiện của cơ thể, nếu cơ thể “đói” ma túy sẽ gây ra đau đớn khủng khiếp
Trang 26Cần ma túy để có cảm giác thoải mái, đặc biệt thỏa mãn cái nghiện của tâm lý Như vậy ma túy đã trở thành nhu cầu của người nghiện, vì đây là nhu cầu nổi trội nhất, bức bách nhất lấn át các nhu cầu khác của họ, kể cả các nhu cầu tự nhiên tối thiểu Người nghiện ma túy thậm chí còn không thiết ăn, lãnh cảm với tình dục, thờ ơ ngay cả với người thân thiết nhất của mình Các nhu cầu, hứng thú về văn hóa
xã hội bị triệt tiêu dần khi đã mắc nghiện, người nghiện hầu như chỉ có một nhu cầu lớn nhất và duy nhất là nhu cầu sử dụng ma túy
- Hứng thú: Khi người nghiện có đủ chất quen dùng sẽ cảm thấy thoải mái sảng khoái Họ thích nói về cảm giác sảng khoái sung sướng khi dùng ma túy, tìm mọi cách lây lan về tâm lý, khiến người khác có ý nghĩ muốn dùng Khi không có thuốc họ vật
vã, cau có, bực bội, u sầu, nói năng không bình tĩnh
Do các chất kích thích tạo nên khoái cảm, nên ở người nghiện ma túy, mọi hứng thú khác đều lu mờ (công việc yêu thích, trò chơi yêu thích… đều dần dần bị loại bỏ) trừ hứng thú với ma túy Người nghiện nặng thường thích nằm yên trong bóng tối mờ ảo để họ tận hưởng khoái cảm, ảo giác, ảo thanh do ma túy tạo nên
- Lối sống: Người nghiện ít chú ý đến người thân, thờ ơ với công việc, với những vui buồn trong cuộc sống, cư xử thô lỗ với mọi người, họ thường xuyên xung đột với các thành viên khác trong gia đình do mâu thuẫn về quan điểm, lối sống và thiệt hại về kinh tế, tổn thất về tình cảm dẫn đến li thân, li hôn, lang thang bụi đời, thất nghiệp Đặc biệt do tính lệ thuộc hoàn toàn vào ma túy họ luôn tìm cách có tiền
để mua thuốc, nghĩ ra vô vàn cách nói dối, lừa gạt, trộm cắp, cướp giật, thậm chí cả giết người để có ma túy Làm cho bản thân và gia đình suy sụp về vật chất, tinh thần, đạo đức, làm cho xã hội mất trật tự an toàn, thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế
Bị phụ thuộc vào ma túy nên người nghiện ma túy không thể đi xa nơi có ma túy, hàng ngày họ nhớ giờ đi hút, đi chích và sức khỏe ngày càng hao mòn, họ sống ăn bám vào gia đình, trở thành những kẻ bệnh hoạn Hoạt động chủ yếu ở người nghiện ma túy là hoạt động thỏa mãn nhu cầu nghiện ma túy Và để thỏa mãn nhu cầu đó, họ sử dụng bất cứ phương tiện gì, làm bất cứ hành động nào miễn là đạt được mục đích có tiền mua ma túy
Do ảnh hưởng của dư luận xã hội về những tổn hại vật chất và tinh thần do người nghiện gây nên, họ luôn mặc cảm, hằn học với mọi người, tìm lối thoát duy nhất trong các khoái cảm do ma túy gây ra
Trang 27Một số đặc điểm tâm lý của học sinh, sinh viên nghiện ma túy
Theo một số nghiên cứu học sinh, sinh viên nghiện ma túy, có thể khái quát một số đặc điểm tâm lý của họ như sau:
Về mặt nhận thức của họ do bị tác động của nhiều yếu tố tiêu cực và nhận thức chưa đầy đủ về bản thân, về các chất độc hại nên họ thường có nhiều mâu thuẫn, xung đột với hành động giữa nói và làm Họ thường không đạt kết quả học tập và bị đình chỉ thi, bị đuổi học, bỏ học Họ đánh giá nhận xét hành vi còn chủ quan, non nớt dễ ngộ nhận và nhầm lẫn
Ý chí của họ thường biểu hiện yếu, thiếu tính tự chủ, dễ bị kích động, dễ bị lôi kéo, buông xuôi thả lỏng ước muốn của bản thân, thoát khỏi sự kiểm soát của nhận thức, của những người thân Họ có biểu hiện nhu nhược, thụ động, nhu cầu tinh thần lệch lạc Hầu hết thanh niên nghiện đều sử dụng rượu, bia, thuốc lá, cà phê, đặc biệt ma túy với mức độ ngày càng gia tăng
Tính cách họ có những thói quen sinh hoạt sai trái như ăn ở mất vệ sinh, nói tục, sinh hoạt bừa bãi, thờ ơ với mọi người, với tập thể Họ lười lao động Họ thường kết bạn với những người cùng sở thích, với sự lấn át của số đông, bạo lực Họ không biết tự trọng đúng đắn, không yên cầu bản thân cao, sĩ diện cá nhân, coi thường dư luận, đạo đức và pháp luật
Họ dễ ngộ nhận Chính vì vậy, một nhóm bạn bè hư cũng ảnh hưởng rất mạnh đến những người có quan hệ với nhóm đó.Ví dụ: trả lời câu hỏi vì sao em lại
có hành vi nghiện hút, rất nhiều em nêu ra một lý do đơn giản là do bạn bè lôi kéo
rủ rê Nhiều em do chưa hiểu rõ khái niệm nhầm lẫn giữa biểu hiện bề ngoài và bản chất nên rất cố chấp Những biểu hiện như liều lĩnh, táo tợn họ lại cho rằng đó là dũng cảm và ngang ngược, hỗn xược các em cho đó là bãn lĩnh, nhất là theo bạn một cách mù quáng không phân biệt đúng sai các em cho đó là trung thành
Những sản phẩm văn hóa độc hại đã và đang tác động đến họ rất nhanh, những hành động bạo lực của các anh hùng trên màn ảnh sẽ là hình mẫu lý tưởng của họ Có thể nói: “ chưa nắm được khái niệm, không cư xử theo khái niệm, chạy theo chủ nghĩa hình thức là lối tư duy nguy hiểm dễ dẫn các em đến các tệ nạn xã hội”
Trang 28Trong học tập, lao động, họ ngại tham gia, lười biếng hay sợ khó, sợ vất vả
Họ thường tụ tập với nhóm bạn cùng cảnh ngộ nên thường có các hành động vi phạm kỷ luật, pháp luật và sử dụng ma túy
1.2.3 Khái niệm thái độ
Thái độ là một khái niệm tương đối phức tạp và có nhiều quan niệm khác nhau trong tâm lý học
Ở phương Tây, vào những năm 1918-1920, những người đầu tiên sử dụng khái niệm thái độ như một đặc tính quan trọng của các vấn đề xã hội, đó là W.I.Thomas và F.Znaniecki, hai ông cho rằng “ Thái độ là trạng thái tinh thần của
cá nhân đối với một giá trị” [19, tr16] Định nghĩa này chú trọng đến yếu tố chủ quan của cá nhân đối với một giá trị này hay giá trị khác, làm cho cá nhân có hành động này hay hành động khác mà được xã hội chấp nhận
Năm 1935, nhà tâm lý học người Mỹ là G.Allport đã định nghĩa “ Thái độ là trạng thái sẵn sàng về mặt tinh thần và thần kinh được tổ chức thông qua kinh nghiệm, có khả năng điều chỉnh hoặc ảnh hưởng năng động đối với các phản ứng của các cá nhân đến các khách thể và tình huống mà nó quan hệ” [19,tr 17]
Trong từ điển thuật ngữ tâm lý học và phân tâm học xuất bản ở NewYork năm 1966 thì thái độ lại định nghĩa là: “ Một trạng thái ổn định, bền vững, do tiếp thu được từ bên ngoài, hướng vào sự ứng xử một cách nhất quán đối với một nhóm đối tượng nhất định, không phải bản thân chúng ra sao mà như chúng được nhận thức ra sao Một thái độ được nhận biết ở sự nhất quán của những phản ứng đối với một nhóm đối tượng Trạng thái sẵn sàng có ảnh hưởng trực tiếp lên cảm xúc và hành động liên quan tới đối tượng”[18,tr 17] Đây là một định nghĩa được thừa nhận rộng rãi trong tâm lý học phương Tây – xem “ thái độ” như là một khái niệm chủ yếu thuộc về tâm lý học cá nhân
Gần đây, James W Kalat đưa ra định nghĩa :“ Thái độ là sự thích ứng hướng tới hành vi của anh ta khi ứng xử với sự vật hoặc con người đó” [19,tr 18] Nhà tâm lý học John Traver cũng định nghĩa: “Thái độ là cách cảm xúc, tư duy và hành động tương đối lâu dài đối với sự việc hay con người nào đó” [20,tr 18]
Từ những định nghĩa trên đây về thái độ của các nhà tâm lý học phương Tây, chúng tôi thấy rằng có sự không đồng nhất Tuy nhiên, ở một vài tác giả cũng
có một số nhận định chung về nội hàm của khái niệm này, đó là tính “ sẵn sàng
Trang 29phản ứng”, tính gây tác động đến hành vi Riêng định nghĩa về thái độ của G.Allport, một lần nữa lại thấy, thái độ chỉ bó gọn “trong đầu” của một cái tôi chủ quan, mà không thấy rõ vai trò của các yếu tố môi trường và những người khác trong xã hội với việc hình thành thái độ chủ quan của mỗi người
Khi phân tích về khái niệm thái độ, các nhà tâm lý học mác xít đều cho rằng, phải chú ý tới “những cấp độ trừu tượng hóa tương ứng với những định nghĩa riêng biệt”, “phải tìm ra điểm xuất phát chung” của những định nghĩa chung ấy Đó là, phải chọn tiêu chuẩn chức năng để làm điểm tựa, điểm mấu chốt này được thể hiện trong những định nghĩa sau đây:
D.N.Uznatze cho rằng: “Thái độ không phải là một nội dung cục bộ của ý thức, không phải là nội dung tâm lý bị tách rời, đối lập với các trạng thái tâm lý khác của ý thức và ở trong mối quan hệ qua lại với nó, mà là một trạng thái toàn vẹn, xác định của chủ thể…yếu tố tính khuynh hướng năng động của nó là một yếu
tố toàn vẹn theo một hướng trong đó chủ thể đặt ra và giải quyết nhiệm vụ”[20,tr 19] Định nghĩa này đã vạch ra được bản chất của thái độ, một mặt đã nhìn nhận thái độ như một bộ phận cấu thành có tính toàn vẹn của ý thức cá nhân, một mặt thừa nhận thái độ mang trong mình tính tự giác, tính năng động của một hiện tượng tâm lý thuộc cấp độ ý thức- điều khiển, điều chỉnh hành vi con người
V.N.Miaxisev cho rằng “ thái độ là khía cạnh chủ quan bên trong, có tính chọn lọc của các mối liên hệ đa dạng ở con người với các khía cạnh khác nhau của hiện thực
Hệ thống này diễn ra trong toàn bộ lịch sử phát triển của con người, biểu thị kinh nghiệm của cá nhân và quy định nội hàm hành động cũng như các trải nghiệm của họ” Khái niệm “thái độ” là khía cạnh tiềm năng của các quá trình tâm lý, liên quan đến tính tích cực chủ quan, có chọn lọc của nhân cách
Tác giả K.K.Platonov cho rằng thái độ là “một cấu thành tích cực của ý thức
cá nhân và là các mối liên hệ ngược của chủ thể với thế giới, được phản ánh và được khách thể hóa trong tâm vận động” [19, 19] Theo tư tưởng nêu trên, phản ánh được hiểu không chỉ là kết quả tác động của môi trường lên con người mà là biểu hiện của sự tác động qua lại được thực hiện bằng thái độ có ý thức
Khái niệm thái độ của Hípsơ và M.Forvec nhấn mạnh chức năng của thái độ đối với hoạt động chung, hoạt động hợp tác của con người trong xã hội: “ Thái độ là một sự sẵn sàng phản ứng bị quy định và có tính chất bắt buộc nào đó, nảy sinh
Trang 30trong những nhóm nhất định và trong những tình huống cụ thể Về mặt lượng cũng như về mặt nội dung sự sẵn sàng này phụ thuộc không những vào chủ thể hữu quan
mà trước hết là một hiện tượng tâm lý xã hội, phụ thuộc vào khuynh hướng xã hội của cá nhân, là cái gắn liền với những chuẩn mực của nhóm” [19,tr 20]
Như vậy có thể nói, mặc dù có nhiều cách nhìn nhận, cách hiểu khác nhau về thái độ “ như một thuộc tính cơ bản của ý thức cá nhân” hay “như một hiện tượng của tâm lý xã hội” nhưng các nhà tâm lý học Xô Viết và cộng hòa Dân chủ Đức đều
có chung khẳng định thái độ là sự phản ánh ý thức, là thuộc tính cốt lõi của nhân cách và là một yếu tố định hướng hành vi xã hội của con người
Ở Việt Nam, thì khái niệm “thái độ” thường được các nhà tâm lý học quan niệm là sự biểu hiện thuộc tính cơ bản của nhân cách, thái độ là một bộ phận cấu thành, đồng thời là một thuộc tính cơ bản của ý thức Chẳng hạn như tác giả Nguyễn Khắc Viện: “ Trước một đối tượng nhất định, nhiều người thường có phản ứng tức thì, tiếp nhận dễ dàng hay khó khăn, đồng tình hay chống đối như đã có sẵn, có những cơ cấu tâm lý tạo ra định hướng cho việc ứng phó Từ những thái độ sẵn có, tri giác về đối tượng, cũng như tri thức bị chi phối về vấn đề thì thái độ gắn liền với tư thế” [10,tr102]
Theo từ điển Tiếng Việt: “ Thái độ là những tổng thể nói chung những biểu hiện ra bên ngoài (bằng nét mặt, cử chỉ, lời nói, hành động) của ý nghĩ tình cảm đối với ai hoặc đối với sự việc nào đó hay thái độ là cách nghĩ, cách nhìn nhận và cách hành động theo một thiên hướng nào đó trước một vấn đề, một tình hình” [14]
Qua việc xem xét, phân tích các định nghĩa về thái độ của các nhà tâm lý học, chúng tôi rất nhất trí với quan điểm của các nhà tâm lý học Đức H.Hípsơ và M.Forvec trong việc giải thích khái niệm Đó là phải chọn tiêu chuẩn chức năng của thái độ đối với hoạt động làm điểm tựa, đồng thời không thể tách rời “thái độ bên trong” và “thái độ bên ngoài”
Do đó, có thể định nghĩa: Thái độ là trạng thái tâm lý chủ quan của cá nhân sẵn sàng phản ứng theo một khuynh hướng nhất định đối với một đối tượng nào đó, được thể hiện thông qua nhận thức, xúc cảm, tình cảm và hành vi của chủ thể trong những tình huống, những điều kiện nhất định
Trang 31Cấu trúc của thái độ
Mặc dù có nhiều cách hiểu, các định nghĩa khác nhau về thái độ, nhưng khi bàn đến cấu trúc của thái độ thì hầu hết các nhà tâm lý học lại nhất trí với nhau ở ba cấu trúc thành phần của thái độ là: Nhận thức, xúc cảm, tình cảm và hành vi
Thành phần nhận thức thể hiện ở sự nhìn nhận, quan điểm, đánh giá của cá nhân về một đối tượng nào đó của thái độ
Thành phần xúc cảm, tình cảm thể hiện ở sự rung động của cá nhân đến đối tượng của thái độ
Thành phần hành vi là những hành động hay ý định hành động của cá nhân đối với đối tượng của thái độ
Khi xem xét mối quan hệ giữa các thành phần trong cấu trúc của thái độ thì xuất hiện hai quan điểm khác nhau, quan điểm cho rằng giữa các thành phần trong cấu trúc của thái độ không có mối liên hệ với nhau, tách biệt nhau Đại diện cho quan điểm này là hai nhà tâm lý học Fishbein và Ajzen, những nhà tâm lý học này cho rằng khái niệm thái độ liên quan nhiều đến khía cạnh tình cảm đối việc tán thành hay không tán thành đối tượng, cũng không nhất thiết phải có sự phù hợp giữa niềm tin, thái độ và xu hướng hành vi Ngược lại, một số nhà tâm lý học khác
mà đại diện là M.J.Rosenberg lại cho rằng ba thành phần trong cấu trúc của thái độ
có mối quan hệ chặt chẽ, thống nhất với nhau Các thành tố này tùy theo từng đối tượng và tình huống sẻ có một vai trò chỉ đạo và chi phối thái độ của cá nhân một cách khác nhau
Xuất phát từ nguyên tắc quyết định luận quan trọng của tâm lý học macxit là
sự thống nhất giữa ý thức và hành vi, cho nên theo chúng tôi quan điểm ba thành phần có mối liên hệ, thống nhất chặt chẽ với nhau là hợp lý hơn cả, bởi lẽ, nếu chỉ nói đến mặt nhận thức thì chỉ là sự hiểu biết của con người với đối tượng Hoặc chỉ nói đến mặt hành vi thì chỉ là đề cập đến hình thức bên ngoài mà chưa nói đến nội dung tâm lý của hành vi Thái độ phải là sự kết hợp giữa nhận thức, xúc cảm, tình cảm với hành vi, nghĩa là có sự kết hợp giữa sự hiểu biết về đối tượng với sự thích thú với đối tượng và tính tích cực hoạt động với đối tượng Trên thực tế, chúng ta có thể gặp những tình huống mà ở đó có sự không cân bằng giữa các thành tố trong cấu trúc thái độ, nhưng ngay sau đó, trạng thái cân bằng được lặp lại và tạo ra mức
độ và các dấu hiệu khác nhau của thái độ Các trạng thái bất đồng trong cấu trúc của
Trang 32thái độ dẫn tới sự thay đổi thái độ Sự thay đổi thái độ có thể tồn tại ba dạng: thái độ lặp lại trạng thái ban đầu; Thái độ suy yếu dần và thái độ chuyển sang chiều hướng đối nghịch Qua phân tích, chúng tôi cho rằng đây là cấu trúc rất thuận tiện cho việc nghiên cứu thái độ, nhất là thái độ của sinh viên với việc phòng ngừa nghiện ma tuý Vì vậy chúng tôi lựa chọn cấu trúc ba thành phần này làm cơ sở cho việc xây dựng các chỉ số nghiên cứu đề tài Có thể mô hình hóa cấu trúc của thái độ theo sơ
đồ sau đây:
Sơ đồ 1: Cấu trúc thái độ
Chức năng của thái độ
Các nhà nghiên cứu tâm lý học của thái độ đã chỉ ra rằng, sở dĩ con người có khả năng ứng xử trong các tình huống tâm lý khác nhau theo một cách thức nhất định phần lớn là nhờ khuôn mẫu các thái độ xã hội đã được hình thành ở mỗi người Điều này đóng vai trò tổ chức rất lớn trong đời sống tâm lý của chúng ta Tổng kết các ý kiến của các nhà nghiên cứu có thể thấy thái độ có một số chức năng sau đây:
Chức năng thích nghi: Thái độ hướng con người tới các đối tượng có thể giúp họ đạt được mục đích đề ra Nếu cá nhân có thái độ được mọi người chấp nhận, ủng hộ thì cá nhân đó dễ dàng đạt được mục đích của mình hơn, dễ được thưởng và tránh bị phạt hơn
Chức năng kiến thức: Thái độ giúp chúng ta hiểu được thế giới chúng ta đang sống và tạo ra những cảm nhận về những gì đang xảy ra xung quanh Thái độ làm rõ và giải thích cho chúng ta về ý nghĩa các sự kiện Nhờ có các khuôn mẫu thái
độ xã hội có sẵn cá nhân chỉ việc rập khuôn theo một cách hết sức đơn giản, đồng thời tiết kiệm được thời gian, sức lực
Chức năng biểu hiện giá trị: Thông qua sự đánh giá một cách có chọn lọc về đối tượng, qua biểu lộ xúc cảm, hành động cũng như sẵn sàng hành động, cá nhân thể hiện giá trị nhân cách của mình
Nhận thức
Hành vi Xúc cảm,
tình cảm
Trang 33Chức năng tự bảo vệ: Trong những tình huống xung đột (giữa các suy nghĩ, niềm tin, có khi là giữa thái độ và hành vi…) chúng ta thường tìm cách tự bào chữa, tìm lý do giải thích thậm chí tìm một người nào đó chịu trách nhiệm thay mình hoặc hợp thức hóa hành vi của mình Quá trình này dẫn đến sự thay đổi thái độ tương ứng
Chức năng điều chỉnh hành vi: Đây là chức năng quan trọng được các nhà nghiên cứu quan tâm hơn cả nhằm tìm hiểu ảnh hưởng của thái độ tới hành vi cá nhân như thế nào
Các đặc điểm của thái độ
G.W.Allport đã tổng kết 17 định nghĩa về thái độ và ông đã rút ra 5 đặc điểm của thái độ, đó là:
Thái độ là trạng thái nhất định của tinh thần và hệ thần kinh
Thái độ thể hiện sự sẵn sàng phản ứng
Thái độ là trạng thái có tổ chức
Thái độ dựa trên kinh nghiệm được tiếp thu từ trước
Thái độ có ảnh hưởng, tác động và điều khiển hành vi
X.L.Rubinstein- Nhà tâm lý học Liên xô – cho rằng thái độ có 3 đặc điểm: Thái độ là hệ thống các điều kiện bên trong đáp lại những tác động bên ngoài
và quy định hành vi cụ thể trong sự tác động qua lại với các điều kiện bên ngoài
Thái độ luôn luôn phát triển trong sự phụ thuộc và tồn tại xã hội nơi con người sống và hoạt động
Thái độ cần được coi như các hệ thống chức năng, xem xét về mặt sinh lý học thần kinh
Các nhà tâm lý học Đức như: G.Clauss, H.Hipso và M.Forvec… cho rằng thái độ có những đặc điểm sau:
Thái độ được biểu hiện như các mặt biểu hiện của cá nhân
Thái độ là những mặt biểu hiện hành vi xã hội được tiếp thu trong sự tương tác với môi trường xã hội
Trang 34Thái độ là một xu hướng nhân cách phụ thuộc vào chuẩn mực xã hội
Thang đo thái độ
Thông qua những nghiên cứu về thái độ các nhà tâm lý học đã đề xuất những thang đo để ứng dụng vào cuộc sống, nhà tâm lý học người Đức là: H.Benesch đã
đề xuất một bảng đo thái độ gồm 4 yếu tố Ông gọi đây là sơ đồ đo thái độ:
Hướng: Mục tiêu để cá nhân có thái độ hướng tới
Mức độ: Cao hay thấp, nhiều hay ít, thường xuyên hay không thường xuyên Cường độ: Mạnh hay yếu, tích cực hay không tích cực, chủ động hay không chủ động
Ý nghĩa: Thái độ bộc lộ ra bên ngoài có giá trị như thế nào đối với đối tượng hay sự việc mà cá nhân đó thể hiện
Theo V.N.Miaxisev thái độ còn có những thông số (hay còn gọi là chiều đo) của nó Cụ thể là:
- Các chỉ báo cấp I của thái độ bao gồm:
+Tính chất (tính tình thái) của thái độ Biểu thị xu hướng của thái độ: tích cực, tiêu cực hay trung tính Tính tình thái được thể hiện thông qua hoặc các phản ứng xúc cảm “ thích – không thích ”, hoặc sự ủng hộ đối với một người nào đó, hoặc quan điểm như đồng ý hay phản đối, hoặc cũng có thể thông qua các hành động tích cực của cá nhân liên quan đến việc khắc phục khó khăn bên ngoài hay bên trong của họ
+ Cường độ của thái độ: Mỗi thái độ đều được biểu thị bởi một cường độ nào đó; ở trong một nhân cách, cường độ thái độ là một yếu tố mang tính ổn định tương đối Sự thay đổi cường độ của thái độ diễn ra cùng với sự phát triển của bản thân mỗi cá nhân, song không thể coi đây là một yếu tố tuyến tính với thời gian, bởi lẽ cường độ của thái độ có thể có sự gia tăng đột ngột (hoặc suy giảm mạnh)
Hướng
Ý nghĩa
Mức độ
Cường độ
Trang 35vào một thời điểm nào đó trong quá trình phát triển của cá nhân Sự tăng hay giảm cường độ thái độ phụ thuộc vào các mối quan hệ xã hội, tự nhiên và tư duy của cá nhân đó thông qua hoạt động và giao lưu của họ
+ Mức độ rộng (hay hạn hẹp) của thái độ: Chỉ báo này cho biết sự phong phú (hay nghèo nàn) của thái độ chủ quan ở mỗi cá nhân, biểu hiện ở số lượng các đối tượng hay các khía cạnh của hoạt động mà cá nhân có thái độ chủ quan với chúng
+ Tính bền vững của thái độ: Được hình thành và thay đổi trong quá trình sống của mỗi cá nhân Tùy thuộc vào sự tham gia (nhiều, ít, tích cực hay không tích cực) của cá nhân vào các mối quan hệ xã hội mà thái độ chủ quan ngày càng ổn định và bền vững Tính bền vững của thái độ được biểu hiện ra bên ngoài dưới nhiều hình thức khác nhau, đó có thể là lập trường của mỗi cá nhân, và cũng có thể
đó là sự biểu hiện tính cứng nhắc của họ
Các chỉ báo cấp II của thái độ, bao gồm:
+ Tính chi phối (chỉ đạo): Trong hệ thống thái độ của cá nhân, những thái độ liên quan đến mục đích sống và động cơ chủ đạo của cá nhân được tách ra Thái độ nào trong hệ thống đó sẽ được xác định là chủ đạo phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện phát triển (điều kiện sống và giáo dục) của cá nhân đó Thái độ chủ đạo luôn thể hiện sự mạnh mẽ và ổn định của cá nhân
+ Tính hài hòa (sự liên kết bên trong) của thái độ: thể hiện sự liên kết bên trong của hệ thống thái độ chủ quan, tạo nên tính trọn vẹn của cá nhân Cấu trúc hệ thống thái độ phụ thuộc rất nhiều vào thái độ chủ đạo đã hình thành của cá nhân
+ Tính cảm xúc của thái độ: Trong giai đoạn đầu của sự hình thành và phát triển tâm lý người, thái độ đang hình thành được thể hiện ở các cảm xúc Tùy theo mức độ phát triển, chúng được ý thức hơn và ngày càng mang đậm nét lý tính hơn, nhưng không bị mất đi sắc thái cảm xúc của mình Tuy nhiên, sự biểu hiện xúc cảm của thái độ trong các tình huống cụ thể bị giảm sút, chẳng hạn như khi lý trí lấn át tình cảm, hoặc tăng quá mức, như khi tình cảm lấn át lý trí
+ Mức độ khái quát hóa của trí tuệ trong thái độ: Cùng với sự phát triển về tâm lý và mức độ làm chủ các tri thức mang tính khái quát, thái độ chủ quan xuất hiện ban đầu do ảnh hưởng của các sự kiện ngẫu nhiên và mang tính tình huống được thay thế dần bởi thái độ chủ quan mang tính chất khái quát ngày càng nhiều hơn
Trang 36+ Tính nguyên tắc: Là một chỉ báo liên quan chặt chẽ với tính khái quát Tính nguyên tắc chỉ ra cho thấy thái độ được hình thành và phát triển như thế nào theo nguyên tắc đạo đức, thẩm mỹ… Mà cá nhân đã chấp nhận hay do xuất phát từ các cảm xúc bột phát, các sự kiện ngẫu nhiên
+ Mức độ tích cực của thái độ: (mức độ ảnh hưởng của thái độ đối với tính tích cực của cá nhân và biểu hiện của nó trong tính tích cực này) chiếm một vị trí quan trọng trong các chỉ báo về thái độ Mức độ tính tích cực của thái độ được xem xét thông qua các phản ứng cảm xúc đơn giản hoặc trong các hành vi tích cực cụ thể hướng vào sự thay đổi môi trường xung quanh
+ Mức độ ý thức của thái độ, đề cập một khía cạnh quan trọng của thái độ: thái độ cá nhân (dưới hình thức phát triển nhất) là thái độ có ý thức Tính có ý thức
là đặc điểm có tính tích hợp của nhân cách; mức độ ý thức không chỉ bao hàm sự nhận thức các thái độ, mà còn đặc trưng cho sự trưởng thành về mặt công dân, đạo đức, tư tưởng cá nhân, liên quan chặt chẽ đến ý thức trách nhiệm trước xã hội của
họ với tư cách là chủ thể xã hội
Sự kết hợp đặc thù các chỉ báo trên quy định đặc điểm tâm lý của cá nhân cụ thể và mức độ tích cực xã hội của họ B.Ph.Lomov đã đưa ra nhận xét rằng những chỉ báo về thái độ nêu t/rên cho phép “ nêu ra hàng loạt đặc điểm về thái độ chủ quan của cá nhân, có thể dùng làm cơ sở đề ra các phương pháp mô tả và phân tích nhân cách”
1.2.4 Khái niệm phòng ngừa
Theo từ điển tiếng Việt (2003), trung tâm trường Đại học - Viện Ngôn ngữ:
“phòng ngừa có nghĩa là không để cho cái xấu, cái không hay nào đó xảy ra”
Phòng ngừa: là hoạt động phòng bị, ngăn chặn trước các hiện tượng, sự việc
để hiện tượng, sự việc đó không xẩy ra hoặc nếu xảy ra thì cũng hạn chế được tính chất nguy hiểm và mức độ thiệt hại [15,tr 26]
“Phòng ngừa nói chung là hoạt động ngăn chặn, ngăn ngừa phòng bị trước các hiện tượng, các sự kiện không mong muốn, hoặc để hạn chế mức độ, phạm vi tính chất nguy hiểm, thiệt hại do các sự kiện, hiện tượng đó gây ra”[17, tr48]
Qua tham khảo các tài liệu chúng tôi chúng tôi đồng ý với khái niệm: phòng ngừa là hoạt động ngăn chặn, ngăn ngừa, phòng bị trước các hiện tượng, các sự
Trang 37kiện không mong muốn, hoặc để hạn chế mức độ, phạm vi tính chất nguy hiểm, thiệt hại do các sự kiện, hiện tượng đó gây ra
Phòng ngừa nghhiện ma tuý là hoạt động ngăn chặn, ngăn ngừa, phòng bị trước hiện tượng bị phụ thuộc cả thực thể và tinh thần vào ma tuý do sử dụng thường xuyên với liều lượng ngày càng tăng dẫn đến mất khả năng kiểm soát bản thân ở người nghiện ma tuý, có hại cho cá nhân và xã hội
1.2.5 Khái niệm sinh viên
Theo cuốn tâm lý học sư phạm đại học của Nguyễn Thạc và Phạm Thành Nghị (Nhà xuất bản giáo dục- 1992), thuật ngữ sinh viên có nguồn gốc từ tiếng la tinh là “studens”có nghĩa là người làm việc, học tập nhiệt tình, người tìm kiếm, khai thác tri thức Từ: “student” trong tiếng Anh và từ: “etudiant” trong tiếng Pháp dùng
để chỉ sinh viên
Sinh viên là đại biểu tiêu biểu của một nhóm xã hội đặc biệt đang chuẩn bị cho hoạt động sản xuất vật chất hay tinh thần ở trình độ cao của xã hội Đây là nguồn bổ sung cho đội ngũ trí thức
Khi xem xét khái niệm sinh viên, chúng tôi đồng ý với khái niệm của dự án
VAT và trung tâm tư liệu, tài liệu khóa đào tạo giảng viên 2000, HN: “Sinh viên là người đã trưởng thành về thể chất, xã hội, tâm lý, vượt qua một kỳ thi với yêu cầu cao mang tính chất quốc gia, ngành nghề rõ ràng.” [23,tr 20]
Các đặc điểm của sinh viên
Theo tài liệu tâm lý học thì tuổi thanh niên, là thời kì từ 15 tuổi đến 25 tuổi Trong đó chia làm hai giai đoạn: Giai đoạn đầu tuổi thanh niên (15 đến 18 tuổi) và giai đoạn của tuổi cuối thanh niên (18 đến 25 tuổi) Sinh viên thuộc vào giai đoạn hai của lứa tuổi thanh niên
Đây là giai đoạn phát triển ổn định về thể chất, sức bền bỉ, dẻo dai, linh hoạt tạo ra nét đẹp hoàn mỹ ở người thanh niên Tất cả những cái đó tạo ra sự thành công rực rỡ của thể thao và những hoạt động nghệ thuật
Mặc dù lứa tuổi thanh niên đã trưởng thành về mặt thể chất song lứa tuổi này chiếm vị trí trung gian giữa trẻ em và người lớn Họ không phải là những trẻ em nữa mà đang trở thành người lớn Tuy vậy tình dục của họ chưa rõ đối tượng đến tình yêu một con người nhất định, tiến tới lập hay không lập gia đình với đối tượng
đã lựa chọn Tính chất hoạt động của thanh niên khác với lứa tuổi thiếu niên Trong
Trang 38học tập thanh niên đòi hỏi cao về tính năng động, tính độc lập, gắn liền với xu hướng học lên cao, hay chọn nghề vào đời, xác định phương hướng học tập cho bản thân Chính vì lẽ đó khi họ đặt ra những mục tiêu của mình mà không được sự ủng
hộ của gia đình, bạn bè, những người xung quanh, kết quả họ không đạt được như mong muốn dẫn đến sự thù ghét người lớn, thù ghét bản thân Tuy vậy họ đã biết lựa chọn cho mình một lối sống một lý tưởng, ít nhất là tự xác định cho bản thân những gì là tốt hay xấu, thiện hay ác, đẹp hay không đẹp
Tâm lý thanh niên thường không ổn định Sức khỏe dồi dào, hiểu biết của nhiều người bắt đầu khá sâu rộng nhưng dù sao kinh nghiệm còn ít, cho nên dễ có thái độ và hành động cực đoan, dễ nhiệt tình nhưng cũng dễ bi quan chán nản và thường là xen lẫn cả hai Đây là tuổi có thể tiếp nhận một đạo lý cao cả, một lý tưởng sống đẹp, mà cũng có thể bị lôi cuốn vào những hành động phưu lưu,phạm pháp
Những đặc điểm tâm lý của tuổi thanh niên- sinh viên bị chi phối bởi những đặc điểm thể chất và các quan hệ xã hội mà họ sống và hoạt động Môi trường sống của họ có những đặc trưng và đòi hỏi khác về chất so với lứa tuổi trước đó
1.2.6 Khái niệm thái độ của sinh viên với việc phòng ngừa nghiện ma túy
Qua quá trình nghiên cứu các tài liệu, chúng tôi cho rằng có thể hiểu khái
niệm thái độ của sinh viên đối với việc phòng ngừa nghiện ma túy là: Trạng thái tâm lý chủ quan của cá nhân sẵn sàng phản ứng theo một khuynh hướng nhất định đối với việc ngăn ngừa, ngăn chặn việc sử dụng các chất ma túy, để không dẫn đến tình trạng bị nhiễm độc chu kỳ mãn tính hay lệ thuộc thể chất và tinh thần vào
ma túy, hạn chế mức độ phạm vi tính chất nguy hiểm, thiệt hại do việc sử dụng ma túy gây ra cho người sử dụng thông qua nhận thức, xúc cảm, tình cảm và hành vi của sinh viên trong những tính huống, những điều kiện nhất định
Phân tích các quan điểm về thái độ đã trình bày ở trên, chúng tôi cho rằng: Thái độ phòng ngừa nghiện ma tuý tích cực có những biểu hiện
Về nhận thức:
- Hiểu rõ và nhận diện về ma tuý chất ma tuý, các chất gây nghiện
- Biết về tác hại của ma tuý, nghiện ma tuý cũng như các nguyên nhân gây nghiện ma tuý
Trang 39- Nắm vững kiến thức cơ bản tối thiểu và thiết thực về ma tuý và cách phòng ngừa nghiện ma tuý cho bản thân, bạn bè, gia đình và cộng đồng
Về mặt cảm xúc:
- Lo ngại tiếp xúc với ma túy và người sử dụng ma túy
- Cảnh giác đề phòng sự cám dỗ của ma túy và nghiện ma túy cho bản thân, gia đình, bạn bè, cộng đồng
- Coi sự nghiện hút, tiêm chích ma túy là sự hủy hoại bản thân
- Khi chứng kiến những hậu quả mà nghiện ma tuý gây ra có biểu lộ những xúc cảm không tán thành tệ nạn này
Về mặt hành vi
Sinh viên tuyệt đối không có các hành vi vi phạm pháp luật như:
- Sử dụng, tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý; xúi giục, cưỡng bức, lôi kéo, chứa chấp, hỗ trợ việc sử dụng trái phép chất ma tuý;
- Sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất, sử dụng trái phép chất ma tuý;
- Chống lại hoặc cản trở việc cai nghiện ma tuý;
- Trả thù hoặc cản trở người có trách nhiệm hoặc người tham gia phòng ngừa nghiện ma tuý;
- Sinh viên tích cực đấu tranh với các hành vi sử dụng trái phép về ma tuý của thân nhân, bạn bè và những người khác
- Họ tích cực thực hiện công tác giáo dục và tuyên truyền phòng ngừa nghiện
ma tuý ở cộng đồng xã hội nói chung và trường học nói riêng về các nội dung như:
Các khái niệm cơ bản về ma tuý, tình hình phát triển, lây lan và tác hại của tệ nạn ma tuý
Các biện pháp phòng ngừa lạm dụng ma tuý đối với bản thân, gia đình và
xã hội, biện pháp giảm tác hại, điều trị nghiện ma tuý bằng thuốc thay thế
Lối sống lành mạnh, kỹ năng ứng xử và hành động kiên quyết không tham gia tệ nạn ma tuý
Ý thức tự giác khai báo về tình trạng sử dụng và nghiện ma tuý
Ý thức, trách nhiệm của người học và cán bộ, nhà giáo trong việc phát hiện, đấu tranh chống tệ nạn ma tuý, ngăn chặn tệ nạn ma tuý xâm nhập vào nhà trường, gia đình và xã hội
Trang 40Hành động của sinh viên phòng ngừa nghiện ma túy biểu hiện ở việc tham gia các chương trình chính khóa ở các trường Đại học như sau:
Giáo dục, tuyên truyền về phòng ngừa nghiện ma tuý trong một số môn học chính khoá theo chương trình quy định
Giáo dục, tuyên truyền phòng ngừa nghiện ma tuý trong một số môn học theo từng chương trình đào tạo và thực hiện thông qua “Tuần sinh hoạt công dân – học sinh, sinh viên” đầu khoá, cuối khoá, đầu năm học theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo
Hành động của sinh viên tham gia giáo dục, tuyên truyền phòng ngừa nghiện
ma túy thông qua hoạt động ngoại khoá ở trường Đại học như:
Chương trình giáo dục tuyên truyền phòng ngừa nghiện ma tuý ngoài giờ lên lớp
Các hoạt động văn nghệ, chiếu phim, giao lưu; các cuộc thi tìm hiểu dưới dạng bài viết hoặc sân khấu hoá, vẽ tranh, áp phích, sáng tác, biểu diễn tiểu phẩm với
đề tài về phòng ngừa nghiện ma tuý
Quán triệt trực tiếp, tuyên truyền trực quan hoặc thông qua các ấn phẩm, phương tiện thông tin
Sinh hoạt câu lạc bộ về phòng ngừa nghiện ma tuý của nhà trường;
Giáo dục, tuyên truyền thông qua hoạt động của Công đoàn, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, Hội Sinh viên Việt Nam, Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam…
Tuyên truyền về tác hại của nghiện ma túy và biện pháp phòng chống nghiện ma túy trong trường học:
Các buổi học tập ngoại khóa, nói chuyện chuyên đề về ma tuý, tác hại của ma tuý và phòng ngừa nghiện ma tuý
Các cuộc thi sáng tác thơ văn về đề tài phòng ngừa nghiện ma túy
Cam kết không sử dụng ma túy và tham gia các hoạt động về phòng chống nghiện ma túy
Sinh viên tự giác khai báo về hành vi, mức độ, hình thức sử dụng ma túy của các học sinh, sinh viên và người khác (nếu có, nếu biết)
Giáo dục giúp đỡ những người nghiện ma túy từ bỏ hoàn toàn chất ma túy trở lại công việc học tập bình thường