Trên thực tế, hiện nay có rất nhiều cá nhân và tổ chức xã hội quan tâm nghiên cứu đến vấn đề gia đình của trẻ phạm tội, tuy nhiên các nghiên cứu về sự nhìn nhận của trẻ về nhân cách ngườ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Tâm lý học
Mã số: 60.31.80
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Minh Hằng
Hà Nội - 2011
Trang 2MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 5
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu 5
2 Mục đích nghiên cứu 7
4 Đối tượng nghiên cứu 8
5 Khách thể nghiên cứu 8
6 Phạm vi nghiên cứu 8
7 Giả thuyết khoa học 8
8 Phương pháp nghiên cứu 9
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 10
1.1 Các hướng tiếp cận nghiên cứu về trẻ chưa thành niên phạm pháp 10
1.1.1 Hướng tiếp cận phân tâm học 10
1.1.2 Hướng tiếp cận tâm lý – xã hội 11
1.1.3 Hướng tiếp cận nhận thức 13
1.1.4 Hướng tiếp cận văn hóa-lịch sử 14
1.1.5 Hướng tiếp cận hành vi 15
Trang 31.1.6 Thuyết học tập xã hội – một xu hướng của tiếp cận hành vi 15
1.1.7 Hướng tiếp cận môi trường sinh thái 16
1.2 Các nghiên cứu về người chưa thành niên phạm tội 17
1.2.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài 17
1.2.2 Các nghiên cứu trong nước 22
1.3 Các khái niệm cơ bản của đề tài 26
1.3.1 Khái niệm nhận thức 26
1.3.2 Khái niệm nhân cách 29
1.3.3 Khái niệm người cha và vai trò của người cha trong gia đình 36
1.3.4 Khái niệm trẻ phạm tội và trẻ trong trường giáo dưỡng 40
1.3.5 Đặc điểm tâm lý trẻ chưa thành niên và trẻ chưa thành niên có hành vi phạm pháp 42
CHƯƠNG 2 TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU 53
2.1 Vài nét về địa bàn nghiên cứu 53
2.2 Đặc điểm về mẫu nghiên cứu 54
2.2.1 Độ tuổi 54
2.2.2 Giới tính 55
2.2.3 Trình độ học vấn 55
Trang 42.2.4 Hoàn cảnh gia đình 55
2.2.5 Các hình thức vi phạm pháp luật 56
2.3 Phương pháp nghiên cứu 56
2.3.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 56
2.3.2 Phương pháp điều tra bằng bằng hỏi 56
2.3.3 Phương pháp trắc nghiệm 57
2.3.4 Phương pháp phỏng vấn sâu 58
2.3.5 Phương pháp thống kê toán học 58
2.3.6 Phương pháp hoàn thiện câu 59
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 60
3.1 Nhận thức về nhân cách người cha nói chung của trẻ vị thành niên phạm pháp 60
3.2 Nhận thức của trẻ vị thành niên phạm pháp về nhân cách người cha thực của mình 75
3.3 Một vài yếu tố ảnh hưởng tới nhận thức của trẻ vị thành niên phạm pháp về nhân cách người cha của mình 90
3.4 Phân tích một số trường hợp được phỏng vấn sâu tại Trường Giáo dưỡng số 02 Ninh Bình 98
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 110
Trang 51 Kết luận 110
2 Kiến nghị 112
2.1 Đối với nhà trường giáo dưỡng 112
2.2 Đối với gia đình 114
2.3 Đối với các em học sinh trường giáo dưỡng 114
TÀI LIỆU THAM KHẢO 116
PHIẾU CÁ NHÂN 118
Trang 6ĐẶT VẤN ĐỀ
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Trong những năm gần đây tình hình phạm pháp hình sự nói chung
có nhiều diễn biến phức tạp Trước tình hình chung đó tội phạm của người chưa thành niên cũng không tách khỏi quy luật chung của tội phạm hình
sự Diễn biến về tội phạm của người chưa thành niên trong những năm qua cũng hết sức phức tạp, tăng cả số lượng, tính chất và mức độ nghiêm trọng
Những số liệu mà chúng tôi thu thập được sau đây đã phần nào chứng minh nhận định này
Bảng 1: Số lượng và tỷ lệ trẻ chưa thành niên phạm tội bị khởi tố trên tổng số người phạm tội bị khởi tố
Trang 7(Theo cuốn “Người chưa thành niên phạm tội và các giải pháp phòng ngừa của cảnh sát nhân dân trong tình hình hịên nay” – NXB công an nhân dân-2007).[20]
Một trong những nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tình trạng người chưa thành niên phạm tội (Theo điều tra của cục cảnh sát) đó là những yếu tố về gia đình Môi trường gia đình đó là môi trường có ý nghĩa trọng yếu ban đầu Trong mỗi gia đình, hình ảnh người cha, người mẹ có tác động mạnh mẽ đến tâm tư, tình cảm nguyện vọng, suy nghĩ của trẻ, đặc biệt là người cha với nhân cách và phẩm chất của mình có tác động rất lớn Quyền uy chỉ có ở người cha là một cơ chế giúp trẻ tự điều chỉnh hành động của mình Mặt khác, người cha là đối tượng để trẻ em nam tự đống nhất nhằm phát triển bản sắc nam tính của mình Cũng không phải ngẫu nhiên, đối với trẻ em gái hầu như tất cả đều muốn “lấy bố” hay lấy một người như bố khi chúng lớn lên Như vậy có thể thấy vai trò của người cha trong đời sống tình cảm và định hướng hành động của trẻ rất quan trọng Rất nhiều các vụ án trẻ phạm tội gây ra do chán cảnh gia đình, căm ghét người cha vì ông không phải là một tấm gương tốt
Trên thực tế, hiện nay có rất nhiều cá nhân và tổ chức xã hội quan tâm nghiên cứu đến vấn đề gia đình của trẻ phạm tội, tuy nhiên các nghiên cứu về sự nhìn nhận của trẻ về nhân cách người cha còn chưa được nghiên cứu nhiều Trong khi đó, nhận thức của trẻ về nhân cách người cha hết sức có ý nghĩa bởi đây là yếu tố quyết định mạnh mẽ đến sự hình thành và phát triển nhân cách toàn diện của trẻ, là cơ sở định hướng cho những hành động của trẻ
Trang 8Vì những lý do nêu trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
“Nhận thức về nhân cách người cha của người chưa thành niên phạm pháp trong Trường giáo dưỡng số 02 Ninh Bình” với mục đích tìm hiểu hình ảnh của người cha trong nhận thức của trẻ chưa thành niên phạm pháp như thế nào Đồng thời nhận thức đó có ảnh hưởng không và ảnh hưởng như thế nào nếu có đến hành vi phạm pháp nói riêng và nhân cách của các
em nói chung Và liệu môi trường trong trường giáo dưỡng có ảnh hưởng hay không đến sự nhìn nhận về người cha của trẻ?
Chúng tôi hy vọng rằng kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ làm rõ câu trả lời cho những câu hỏi trên và góp một phần nhỏ vào việc định hướng giáo dục trẻ chưa thành niên phạm pháp
2 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu nhận thức về nhân cách người cha và các yếu tố ảnh hưởng đến sự nhận thức về nhân cách người cha của trẻ trong trường giáo dưỡng số 2 Ninh Bình
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu các vấn đề lý luận và phương pháp luận về nhận thức, khái niệm nhận thức, trẻ vị thành niên phạm pháp (khái niệm, các đặc điểm tâm sinh lý…) làm công cụ cho quá trình nghiên cứu
- Nghiên cứu nhận thức của trẻ trong trường giáo dưỡng về nhân cách người cha và các yếu tố ảnh hưởng
- Trên cơ sở kết quả nghiên cứu đưa ra một số gợi ý về việc giáo dục trẻ chưa thành niên phạm pháp
Trang 94 Đối tượng nghiên cứu
Nhận thức về nhân cách người cha của trẻ trong trường giáo dưỡng
5 Khách thể nghiên cứu
- Trẻ em phạm pháp (độ tuổi 12 – 18 tuổi trong trường giáo dưỡng)
6 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Nghiên cứu nhận thức về nhân cách người cha của trẻ
em trong trường giáo dưỡng ở ba mặt:
7 Giả thuyết khoa học
- Nhận thức về nhân cách của người cha của trẻ có nhiều nét thiếu tích cực Nhận thức này có ảnh hưởng đến lòng yêu quí, kính trọng của trẻ dành cho cha và ảnh hưởng một phần đến hành động phạm tội của trẻ
- Nhận thức về nhân cách người cha của trẻ trong trường giáo dưỡng
số 02 Ninh Bình có chịu ảnh hưởng nhiều bởi các yếu tố: thái độ của các thành viên trong gia đình đối với người cha, thái độ của những người
Trang 10xung quanh đối với người cha, hoàn cảnh gia đình, mức độ tình cảm mà người cha thể hiện với trẻ
8 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu
- Phương pháp điều tra bằng bằng hỏi:
- Phương pháp trắc nghiệm
- Phương pháp phỏng vấn sâu:
- Phương pháp xử lý số liệu trên phần mềm SPSS 16.0
- Phương pháp hoàn thiện câu
Trang 11
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1 Các hướng tiếp cận nghiên cứu về trẻ chưa thành niên phạm pháp
Vấn đề người chưa thành niên có hành vi phạm tội là một trong những vấn đề bức xúc được cả xã hội quan tâm Hiện nay các nhà khoa học trên thế giới và cả Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu vấn
đề này từ nhiều góc độ khác nhau như xã hôi học, luật học, giáo dục học, tâm lý học… Trong đó các nhà khoa học đặc biệt chú ý tới việc nghiên cứu nguyn nhân dẫn người chưa thành niên đến việc thực hiện hành vi phạm tội, từ đó đưa ra các biện pháp nhằm đấu tranh phòng chống tình trạng này Các yếu tố như: đặc điểm tâm lý cá nhân, môi trường gia đình, môi trường bạn bè, môi trường văn hóa, xã hội… của người chưa thành niên được xem là những yếu tố chủ quan và khách quan tác động đến các
em, đưa đẩy các em đến việc thực hiện những hành vi phạm tội Về vấn
đề này, trong tâm lý học có nhiều cách tiếp cận khác nhau
1.1.1 Hướng tiếp cận phân tâm học
Theo các nhà phân tâm học, sự phát triển tâm lý của người chưa thành niên chủ yếu mang tính vô thức (nằm ngoài nhận thức) và thường bị chi phối rất lớn bởi cảm xúc Điều này được thể hiện rõ trong học thuyết phân tâm học của S.Freud (1856-1939) Ông cho rằng nhân cách có ba cấu trúc: Cái Nó, cái Tôi và cái Siêu Tôi Cái nó bao gồm những bản năng - cái bể chứa năng lượng tâm lý Cái Nó hoàn toàn không nhận biết được,
nó hoàn toàn không liên hệ với thực tế Khi trẻ cọ xát với những yêu cầu
và căng thẳng của thực tế thì lúc đó cái Tôi xuất hiện Cái Tôi là phần đương đầu với những yêu cầu của thực tế Cái Tôi giải quyết xung đột
Trang 12giữa yêu cầu của thực tế với ước muốn của cái Nó bằng cơ chế tự vệ Cơ chế tự vệ là những phương pháp cái Tôi sử dụng để bóp méo thực tế và bảo vệ mình khỏi những lo âu Cái Siêu tôi là “nhân tố đạo đức” trong nhân cách, bao gồm chuẩn mực và giá trị xã hội đã được cá nhân chấp nhận về cái đúng, cái sai, cái tốt, cái xấu S.Freud cho rằng “ngay từ 3 đến
6 tuổi trẻ dần tiếp thu được những chuẩn mực đạo đức từ cha mẹ, rồi chúng làm theo những chỉ dẫn của các chuẩn mực này và coi đó là chuẩn mực cho chính mình” Freud khẳng định nhiệm vụ của cha mẹ phải đối mặt khi nuôi dạy một đứa trẻ là đảm bảo rằng đứa trẻ đó hình thành được cái siêu tôi ổn định “Người kiểm duyệt bên trong này rất có thể là một cỗ máy ngăn chặn không cho con người bộc lộ những bản năng tính dục và hiếu chiến theo cách có thể gây ảnh hưởng xấu đến xã hội và trật tự xã hôi [6; tr253]
Trong nghiên cứu về phát triển nhân cách, Freud cho rằng, con người trải qua năm giai đoạn phát triển tâm lý tính dục Giai đoạn cuối cùng diễn ra từ thời kỳ chưa thành niên trở đi (giai đoạn phát dục từ dậy thì trở đi) được ông gọi là “giai đoạn sinh dục” Theo ông, người chưa thành niên có đặc điểm tâm lý là: Căng thẳng, xung đột, đặc biệt là xung đột với cha mẹ và có nhu cầu rất lớn giao tiếp với bạn bè rất lớn Và đó chính là những nguyên nhân tâm lý cơ bản nhất dẫn đến các hành vi vượt quá qui định pháp luật của trẻ vị thành niên
1.1.2 Hướng tiếp cận tâm lý – xã hội
Khác với Freud cho rằng nhân cách của chúng ta hình thành trong những năm đầu đời, thì Eric H.Ericson lại nhấn mạnh những thay đổi diễn ra trong suốt cả đời người Ông phân chia đời người ra làm tám
Trang 13giai đoạn Mỗi giai đoạn xuất hiện một loại khủng hoảng tâm lý- xã hội sẽ dẫn đến sự chuyển hóa trong các mối quan hệ xã hội quan trọng Nhân cách được phát triển qua mỗi lần giải quyết hiệu quả xung đột giữa những nhu cầu của cá nhân và những đòi hỏi của xã hội
Theo ông thì giai đoạn thứ năm – khẳng định chính mình hoặc mơ
hồ về vai trò của mình, về bản thân Giai đoạn này diễn ra trong thời kỳ chưa thành niên (12-18 tuổi) Đây là “ngã tư đường” giữa trẻ con và người lớn Lúc này các em bắt đầu lo lắng tìm hiểu mình là ai? Mình sẽ thành người như thế nào? Mình quan tâm đến điều gì và mình sẽ đi đâu trong cuộc đời Trẻ chưa thành niên bắt đầu đối diện với nhiều vai trò mới
và nhiều sự kiện của người lớn, chẳng hạn như chuyện yêu đương, chuyện học nghề… Ở giai đoạn này, quá trình xã hội hóa diễn ra mạnh mẽ Thiếu niên bắt đầu tìm cho mình bản sắc riêng Trẻ em ở lứa tuổi này cố gắng tách rời cha mẹ về tâm lý, có nghĩa là chúng sẵn sàng hành động như những người lớn có trách nhiệm, tự suy nghĩ và quyết định cho bản thân Tuổi dậy thì và sự phát triển của cơ thể gây ra nỗi sợ hãi và sự căng thẳng
ở các em Trong khi trẻ cần sự giúp đỡ của cha mẹ hơn bao giờ hết, chúng lại tỏ ra mình muốn tự do, độc lập với cha mẹ Do đó cha mẹ cần tôn trọng ước muốn không phụ thuộc của trẻ, đồng thời vẫn cho trẻ biết giới hạn của mọi hành vi nhằm giữ an toàn cho mình
Ericson cho rằng, việc chia sẻ tình cảm của cha mẹ với trẻ chưa thành niên là một cách tốt nhất để các em phát triển lòng tự trọng Nếu một đứa trẻ thất bại trong việc xây dựng lòng tự trọng do cách cư xử của cha mẹ trong giai đoạn phát triển trước đây của chúng, thì trẻ sẽ thiếu lòng tin vào khả năng của mình khi trưởng thành “sự hoang mang sẽ mãi ngự trị trong cuộc sống tương lai của trẻ” [6;307]
Trang 14Theo quan điểm của Ericson, nếu sự phát triển cản trở trẻ chưa thành niên đóng những vai trò được xã hội chấp nhận, hoặc khiến họ cảm thấy mình không thể đáp ứng được những yêu cầu của xã hội, thì họ sẽ chọn lấy một giá trị tiêu cực Trẻ chưa thành niên có giá trị tiêu cực sẽ tìm thấy
sự hậu thuẫn hình ảnh phạm pháp của mình trong số nhóm bạn bè cũng có giá trị tiêu cực như họ
1.1.3 Hướng tiếp cận nhận thức
Khi mà các học thuyết phân tâm học nhấn mạnh tầm quan trọng của những ý nghĩ vô thức của trẻ chưa thành niên, thì các học thuyết nhận thức lại đi sâu vào ý thức J.Piaget (1896-1980) là người đại diện của trường phái này Theo ông, trẻ chưa thành niên chủ động xây dựng thế giới nhận thức của riêng mình- những thông tin rót vào trí não họ không chỉ từ môi trường Khi gặp thông tin vượt qua tầm hiểu biết, trẻ chưa thành niên thường vận dụng suy nghĩ của mình để thâu tóm những ý tưởng mới Theo ông, ở lứa tuổi chưa thành niên (từ 12-15 tuổi), cá nhân
đã vượt qua những kinh nghiệm cụ thể để suy nghĩ một cách trừu tượng
và logic hơn Cá nhân mở rộng khả năng suy nghĩ tới những lĩnh vực xã hội và nhận thức, chứ không chỉ lấy những kinh nghiệm cụ thể, có thật làm mấu bám nữa Người chưa thành niên có thể hình dung ra những tình huống đáng tin, những sự kiện giả thuyết đơn thuần hoặc trừu tượng và cố
lý giải về chúng một cách logic Thay vì nghĩ theo cách cụ thể, hoặc về những điều có thật, giới hạn thì trẻ chưa thành niên bắt đầu mở rộng sự suy luận ở góc độ lý tưởng những điều họ mong ước ở mình và những người khác.[1] Chính điều này dẫn đến việc trẻ chưa thành niên hay so sánh mình với người khác dựa vào những tiêu chuẩn lý tưởng và họ Việc trẻ nôn nóng hướng tới những chuẩn mực lý tưởng mới tuy nhiên trẻ lại
Trang 15bối rối không biết nên theo chuẩn mực nào là tiền đề cho những hành vi không phù hợp với chuẩn mực xã hội và qui định của pháp luật của các
em
1.1.4 Hướng tiếp cận văn hóa-lịch sử
Nhà tâm lý học người Nga L.Vưgôtxki (1896-1934) cho rằng, trẻ chưa thành niên tự xây dựng kiến thức cho mình, Theo ông, kiến thức là theo hoàn cảnh và cộng hưởng, nó được hình thành từ con người và môi trường Điều này cho thấy sự hiểu biết tốt nhất là thông qua sự tương tác, phối hợp hoạt động với người khác Ngoài ra, Vưgôtxki còn nêu lên giả thuyết về sự không trùng lặp nhau của ba phương diện trưởng thành ở tuổi thành niên, đó là trưởng thành về giới tính, trưởng thành về cơ thể nói chung và trưởng thành về mặt xã hội Đây chính là mâu thuẫn cơ bản của tuổi chưa thành niên, cũng từ mâu thuẫn này nẩy sinh sự khủng hoảng Ông cho rằng khủng hoảng ở giai đoạn chưa thành niên là khủng hoảng lứa tuổi lớn nhất trong cuộc đời con người Trong giai đoạn này trẻ rất khó tiếp xúc, khó giáo dục Trong giai đoạn phổ thông, trẻ lâm vào giai đoạn khủng hoảng thường giảm thành tích học tập, ít lý thú với công việc, cuộc sống nội tâm thường có mâu thuẫn…[1;558] Sự mất cân đối trong trưởng thành giữa mặt xã hội và cơ thể, sự dằn vặt nội tâm dễ dẫn các em đến những suy nghĩ tiêu cực, hành động tiêu cực mà có thể các em chưa lường trước được hậu quả Chính vì vậy, sự can thiệp một cách kịp thời,
tế nhị của gia đình là rất quan trọng giúp các em lấy lại cân bằng trong giai đoạn khủng hoảng, tránh được những hành vi không phù hợp, hành vi phạm pháp
Trang 161.1.5 Hướng tiếp cận hành vi
Chủ nghĩa hành vi chú ý đến những phản ứng và tác nhân môi trường của hành vi để tìm hiểu sự phát triển tâm lý của trẻ chưa thành niên Theo B.F Skinner (1904-1990), thì trí não, dù vô thức hay ý thức không cần thiết để giải thích hành vi và sự phát triển mà sự phát triển và hành vi là một Chính vì sự phát triển là học hỏi và thường xuyên thay đổi theo môi trường cho nên nếu sắp xếp lại kinh nghiệm thì có thể thay đổi
sự phát triển Theo Skinner để thay đổi hành vi ta phải “sử dụng kích thích tích cực để kiểm soát và thay đổi hành vi cá nhân” [1;141] Mặc dù quan điểm của Skinner có nhiều điểm máy móc, tuy nhiên chúng ta cũng phải thừa nhận rằng, sự ảnh hưởng từ môi trường và các tác nhân kích thích từ môi trường có tác động rất lớn đến hành vi của trẻ Việc trẻ sống trong một môi trường xã hội phức tạp, tiếp xúc với các bạn bè hư hỏng hay tiếp xúc với các luồng thông tin không lành mạnh, hoặc là nạn nhân của bạo hành… dễ khiến các em bị ảnh hưởng và nảy sinh các hành vi phạm pháp
Thuyết học tập xã hội – một xu hướng của tiếp cận hành vi
Lý thuyết học tập xã hội nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc nghiên cứu những kinh nghiệm môi trường và hành vi để tìm hiểu sự phát triển tâm lý của trẻ chưa thành niên A Bandura và Walter Mischel cho rằng, hành vi, môi trường, những yếu tố nhận thức của cá nhân tương hỗ với nhau Bandura đồng ý với Skinner ở chỗ môi trường có thể quyết định hành vi của cá nhân, nhưng còn phải chú ý nhiều đến điều kiện khác nữa
Cá nhân có thể hành động để thay đổi môi trường Những yếu tố nhận thức có thể thay đổi hành vi của cá nhân và ngược lại Nó bao gồm niềm
Trang 17tin bản thân có thể kiểm soát một tình huống và tạo ra những kết quả tích cực, những kỹ năng suy nghĩ và lập kế hoạch Theo Bandura, bắt chước là một cơ chế hình thành hành vi Theo đó nếu những người xung quanh có những hành vi tiêu cực thì trẻ dễ bắt chước các hành vi đó Đặc điểm của lứa tuổi chưa thành niên là dễ bắt chước các hàng vi tiêu cực Học thông qua quan sát là quan trọng nhất, qua đó người chưa thành niên hình thành
ý kiến về hành vi của người khác và có thể bắt chước hay không bắt chước.[6;154]
1.1.6 Hướng tiếp cận môi trường sinh thái
Urie Bronfenbrenner là đại diện cho trường phái này Theo ông, có bốn hệ thống môi trường sinh thái ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý của trẻ chưa thành niên Môi trường này được trải dài từ mối quan hệ xã hội gần gũi với mối quan hệ văn hóa rộng lớn đó là:
+ Hệ thống thứ nhất, môi trường sống của cá nhân, gồm gia đình, bạn bè cùng lứa tuổi, trường học và hàng xóm láng giềng Ví dụ: trẻ giao tiếp với cha mẹ, thầy cô, bạn bè,…
+ Hệ thống thứ hai gồm: mối quan hệ giữa các môi trường với nhau Ví dụ: giữa gia đình và nhà trường, giữa trường học và công sở, giữa gia đình và bạn của trẻ chưa thành niên Trẻ chưa thành niên bị cha mẹ bỏ rơi
có thể phát triển mối quan hệ tiêu cực đối với giáo viên
+ Hệ thống thứ ba gồm: những kinh nghiệm của một môi trường xã hội
mà trẻ chưa thành niên không có vai trò chủ động ảnh hưởng tới môi trường khác của họ Ví dụ: kinh nghiệm nơi công sở có thể ảnh hưởng tới mối quan hệ của cha mẹ và đứa con tuổi chưa thành niên Mẹ được thăng
Trang 18tiến nên phải đi đây đi đó nhiều, khiến cho những xung đột trong hôn nhân có thể tăng cao và làm thay đổi khuôn mẫu quan hệ cha mẹ-trẻ chưa thành niên
+ Hệ thống thứ tư gồm: nền văn hóa trong đó trẻ chưa thành niên sống Nền văn hóa ám chỉ những khuôn mẫu hành vi, niềm tin, và tất cả những sản phẩm của một nhóm người truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác
Trong tâm lý học có nhiều cách tiếp cận về sự phát triển tâm lý của người chưa thành niên khác nhau Trên thực tế, không có học thuyết nào
có thể thâu tóm toàn bộ tính phức tạp và nhiều mặt của sự phát triển tâm
lý của trẻ chưa thành niên, nhưng mỗi học thuyết đều đóng góp một mảng quan trọng cho vấn đề
1.2 Các nghiên cứu về người chưa thành niên phạm tội
1.2.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Nghiên cứu về đặc điểm tâm lý cá nhân của người chưa thành niên
có hành vi phạm tội đã đưa ra nhiều nét đặc trưng tâm lý của người chưa thành niên có hành vi phạm tội
Tác giả John W.Santrock cho rằng người chưa thành niên có hành vi phạm tội có các giá trị tiêu cực, sự tự chủ ở mức độ thấp, ít chí thú vào việc học tập.[11]
Theo David P.Farrington (1996), tính hiếu động và tính hay bốc đồng là những nét tính cách quan trọng nhất của trẻ giúp cho việc phán đoán khả năng phạm tội sau này Những nét tính cách này thể hiện ở chỗ, trẻ không thể ngồi yên một chỗ, không thể tập trung chú ý, không thể
Trang 19kiềm chế những xúc cảm của mình cũng như thiếu khả năng phán đoán sự việc trong tương lai Ông đã tiến hành điều tra tại Thụy Điển cho thấy, các em học sinh bị giáo viên nhận xét là hiếu động ở độ tuổi 13 thì thường phạm các tội có sử dụng bạo lực cho đến độ tuổi 26 Các em trai hiếu động ở LosAngeles cũng được theo dõi trong độ tuổi từ 9-17 cho thấy tỷ
lệ các em này phạm tội nghiêm trọng lớn gấp 6 lần các em trai bình thường Ngoài ra ông còn tiến hành nghiên cứu trí tuệ của trẻ chưa thành niên phạm tội Cuộc điều tra ở Thụy Điển cho thấy, trẻ được kiểm tra nếu thiểu năng trí tuệ lúc 3 tuổi thì sẽ có nguy cơ phạm tội cao cho tới độ tuổi
30 Nghiên cứu ở Cambridge cho thấy trẻ có điểm IQ thấp hơn 90 trong
độ tuổi từ 8-10 tuổi có tỷ lệ phạm tội cao gấp đôi các em khác Từ kết quả nghiên cứu trên ông đi đến nhận định thiểu năng trí tuệ là một nhân tố quan trọng trong việc phán đoán khả năng phạm tội ở trẻ , điều này có thể xác định từ rất sớm , đồng thời thiểu năng trí tuệ cũng là đặc điểm đặc trưng của người chưa thành niên phạm pháp, tái phạm và phạm tội từ rất sớm(10-13 tuổi) Theo ông, những trẻ em thiểu năng trí tuệ phạm tội bởi
vì họ thiếu khả năng lường trước hậu quả các sự việc cũng như thiếu khả năng xác định cảm nghĩ của nạn nhân
Nhà tâm lý học xã hội Richard Jessor cùng các đồng nghiệp của ông cho rằng, những nguyên nhân chính dẫn đến sự xáo trộn tâm lý và hành động tiêu cực ở lứa tuổi thanh niên bắt nguồn từ bản chất và môi trường tác động lên đời sống của các em Nói đến bản chất tức là đề cập đến tâm
lý nóng giận, ích kỷ, mặc cảm, thiếu tự tin và những môi trường tác động bên ngoài do sự liên hệ với cha mẹ, bạn bè, báo chí, phim ảnh, môi trường học đường và tôn giáo
Trang 20Theo một số chuyên gia tâm lý học nước ngoài về tuổi chưa thành niên, thì những tác động tiêu cực phần lớn ở lứa tuổi chưa thành niên thường trải qua, nhìn chung được chia làm hai loại chính: 1) Những xáo trộn tâm lý như buồn rầu, hồi hộp, lo âu và chán nản 2) Những hành vi bất ổn thể hiện ra bên ngoài như bỏ học, uống rượu, cờ bạc, bạo hành, phạm pháp và những hoạt động tình dục bất chính Hai loại chính này liên
hệ và tác động lẫn nhau Ví dụ: em A buồn rầu vì thấy cha mẹ thường cãi
vã lẫn nhau, em liền tìm rượu để giải sầu
Dựa trên kết quả nghiên cứu của mình, nhà tâm lý học tội phạm người Nga A.I Đongova đã đưa ra nhận định rằng, những người chưa thành niên phạm tội thường có tính phô trương, khoe khoang, trưng bày phẩm chất tiêu cực thiếu lành mạnh của mình, làm ra vẻ anh hùng rơm… Chúng thường thỏa hiệp với những nét tính cách của mình như: Sống không có lý tưởng, hoài bão, dễ chịu ảnh hưởng tiêu cực từ những người khác, thiếu tính điềm đạm, bình tĩnh mà chỉ quen ăn chơi, đàng điếm, lười biếng , nghiện ngập
Nhiều công trình nghiên cứu đã thừa nhận rằng, người chưa thành niên phạm tội có nhiều lợi ích thực dụng và cá nhân Điều hấp dẫn các em trước hết là tất cả những gì có thể thỏa mãn trực tiếp Tác giả P.L Lơvôvich cũng đã cho rằng, ở những người chưa thành niên phạm tội tỏ
rõ hiệu quả của “tính bị động có định hướng”, biểu hiện mong muốn bắt chước những người có uy tín đối với các em và có quan điểm đồng nhất với quan điểm của các em (trong khi tiếp xúc với họ) Vấn đề này theo tác giả V.L Igơnachencô , so với những người chưa thành niên bình thường thì đa số người chưa thành niên “khó bảo” thường thể hiện các phẩm chất
Trang 21tiêu cực như không làm chủ được mình, sống không có mục đích, thô lỗ, hay gây gổ
Theo các nhà tâm lý tội phạm Nga, ở người chưa thành niên phạm tội cũng như những người chưa thành niên bình thường thì các quan điểm pháp luật , nhận thức pháp luật không được hình thành hoặc bị lệch lạc Điều này tạo khả năng phát sinh hành vi không phù hợp với các qui định của pháp luật Nhưng đối với người chưa thành niên phạm tội thì khả năng này cao hơn Những lỗ hổng và lệch lạc về ý thức pháp luật trong số những người chưa thành niên phạm tội có sự tác động qua lại giữa các khuyết tật cá nhân và các yếu tố tiêu cực từ môi trường xã hội
Môi trường xã hội có ảnh hưởng rất lớn đến quá trình hình thành và phát triển nhân cách của người chưa thành niên nói chung và người chưa thành niên có hành vi phạm tội nói riêng Qua các nghiên cứu cho thấy có nhiều nguyên nhân dẫn người chưa thành niên đến việc thực hiện những hành vi phạm tội Trong đó gia đình và nhóm bạn bè vẫn được xem là hai yếu tố có ảnh hưởng lớn đối với hành vi phạm tội của người chưa thành niên Nhiều nhà nghiên cứu có nhận xét rằng, nguyên nhân sâu xa nhất của hành vi phạm tội ở người chưa thành niên bắt nguồn từ môi trường gia đình không thuận lợi Các nhà nghiên cứu đã khẳng định một trong những nguyên nhân dẫn người chưa thành niên đến việc thực hiện những hành vi phạm tội là do bầu không khí tâm lý gia đình luôn căng thẳng, cha
mẹ mâu thuẫn, thiếu tôn trọng nhau, thường xuyên cãi vã, đánh chửi nhau Theo số liệu điều tra của tác giả V.M Koromosikov cho thấy, trong các gia đình của người chưa thành niên phạm tội thì số gia đình có cuộc cãi
cọ, va chạm chiếm tỉ lệ 39% và ¼ trong số đó là các trường hợp cãi nhau
đi đến đánh nhau Số gia đình có mối quan hệ thù ghét giữa cha mẹ chiếm
Trang 2212% và chỉ có 24% các trường hợp còn lại là giữ được mối quan hệ bình thường Mặt khác, những người chưa thành niên phạm tội cũng thường rơi vào những gia đình không hoàn thiện (trẻ mồ côi cả cha lẫn mẹ, hoặc mồ côi cha, hoặc mồ côi mẹ, cha mẹ ly dị, ly thân …)
Các nhà tâm lý học Margot Prior (2000), Rutter Giller (1983) và Sarnecki (1985) cho rằng sự không quản lý chặt chẽ con cái của cha mẹ là một trong những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến hành vi phạm tội của người chưa thành niên Một nghiên cứu ở Anh tiến hành với gần 400 em trai sống cùng với gia đình lớn cho thấy việc phạm tội của trẻ có mối quan
hệ mật thiết với sự quản lý lỏng lẻo của cha mẹ Tác giả Joan Maccord tiến hành điều tra 1000 người chưa thành niên phạm tội ở Boston cho thấy
tỷ lệ phạm tội tương đối cao trong số trẻ em trai không được cha mẹ quan tâm chu đáo (62%)
Nghiên cứu tình trạng phạm tội của người chưa thành niên, các nhà tâm lý cho rằng phương pháp giáo dục không đúng của cha mẹ đối với con cái có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ Các tác giả Rumani cho rằng sự bất đồng ý kiến giữa cha mẹ về phương pháp giáo dục của mỗi người góp phần làm phát sinh hành vi chống đối xã hội của trẻ Theo các tác giả Ba Lan, việc áp dụng các biện pháp giáo dục sai lầm thường dẫn đến sự xuất hiện ở trẻ những tình cảm bực dọc, tâm trạng căng thẳng, dần dần chuyển sang trạng thái thô bạo và chống lại uy quyền của cha mẹ Từ đó giữa trẻ và cha mẹ thường nảy sinh xung đột gay gắt, tình cảm cha mẹ và con cái ngày càng trở nên lạnh nhạt, kết quả là các em bỏ nhà đi lang thang và thậm chí bước vào con đường phạm tội
Trang 23Qua các nghiên cứu ở nước ngoài có thể thấy có nhiều cách nhìn nhận
và tiếp cận khác nhau về vấn đề trẻ vị thành niên phạm tội Nhưng nhìn chung có thể thấy các nhà nghiên cứu đều có cách nhìn nhận thống nhất
về các đặc điểm tâm lý cá nhân của người chưa thành niên có hành vi phạm tội, cụ thể là các nét đặc trưng tâm lý như: tính hiếu động, tính tò
mò, tính độc lập cao, tính hay bắt chước kết hợp với khả năng tự kiềm chế kém, hứng thú, nhu cầu nhận thức học tập phát triển ở mức độ thấp, kết quả học tập kém, nhận thức pháp luật hạn chế…Các nghiên cứu ở nước ngoài cũng đã chỉ ra được những nguyên nhân gây ra tình trạng phạm tội của người chưa thành niên, trong đó nguyên nhân gia đình là nguyên nhân quan trọng nhất, có ảnh hưởng lớn nhất
1.2.2 Các nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, nghiên cứu tìm hiểu về người chưa thành niên phạm tội cũng đã chỉ ra được những đặc điểm của người chưa thành niên phạm tội
và những yếu tố ảnh hưởng đến hành vi đó
Tác giả Phạm Minh Đức (1981) đã tiến hành nghiên cứu 265 học sinh
có hành vi lệch chuẩn ở độ tuổi từ 10-17, học tại hai trường phổ thông công - nông nghiệp Qua phân tích kết quả nghiên cứu tác giả cho rằng phần lớn những học sinh phạm pháp là nhưng học sinh vốn có sự phát triển bình thường về mặt trí tuệ nhưng do hứng thú, nhu cầu nhận thức, động cơ học tập của các em bị suy thoái nghiêm trọng nên hiệu quả học tập kém Sự suy thoái hứng thú, nhu cầu học tập của học sinh phạm pháp biểu hiện ở chỗ, nhìn chung hứng thú, nhu cầu nhận thức của họ phát triển
ở mức độ thấp và rất nghèo nàn Ngược lại những nhu cầu tầm thường lại phát triển rất mạnh mẽ
Trang 24Tác giả Nguyễn Xuân Thủy (1993) đã khẳng định rằng, người chưa thành niên phạm tội về cơ bản cũng có những đặc điểm tâm lý như những trẻ em bình thường khác cùng lứa tuổi Song, do tiếp xúc thường xuyên với những điều kiện tiêu cực và trong quá trình phạm tội mà nhân cách của các em bị giảm sút nghiêm trọng Nghiên cứu động cơ và mục đích phạm tội của người chưa thành niên cho thấy, trẻ em phạm tội thường có động cơ và mục đích đơn giản Hành vi của các em thuộc hành vi dễ bị ảnh hưởng của sự rung cảm, nhạy cảm về tinh thần và cộng vào đó là tính hay đua đòi, bắt chước, khả năng tự kiềm chế kém cùng thái độ coi thường các chuẩn mực đạo đức và pháp luật.[14]
Theo tác giả Trần Trọng Thủy, ở phần lớn các thiếu niên phạm pháp, phẩm chất tiêu cực chiếm ưu thế trong cấu trúc nhân cách, đó là: thiếu quyết tâm, vô trách nhiệm, hay bắt chước một cách mù quáng, thô lỗ, gây
gổ
Trong quá trình nghiên cứu của mình, tác giả Nguyễn Duy Xi là một nhà tâm lý học làm công tác quản lý trại giam của Bộ Công An đã đưa ra một số nhận xét cơ bản về đặc điểm tâm lý của trẻ em làm trái pháp luật như sau:
- Về trí tuệ, ở trẻ làm trái pháp luật có sự phát triển chậm, tư duy trừu tượng kém hơn trẻ bình thường, không biết phân tích đánh giá đúng một
số hiện tượng mà nặng về tư duy cụ thể thực dụng và rất khéo léo “mưu trí” trong thực hiện hành vi trái pháp luật như kỹ xảo ăn cắp, móc túi, che dấu, đối phó với sự theo dõi phát hiện của nhà chức trách”
- Về hứng thú, ham muốn của các em thường nặng về vật chất tầm thường, thấp hèn, thậm chí kỳ quặc Các em không còn hứng thú học tập,
Trang 25hiểu biết như trẻ bình thường, thích đua đòi, ăn chơi như người lớn (có 82% nghiện thuốc lá, 70% uống bia rượu, 72% nghiện cafe, chè) Ngoài
ra các em rất thích xem phim ảnh, băng hình có nội dung không lành mạnh, đặc biệt thích phim chưởng
- Về tình cảm, thiếu bền vững, thay đổi dễ dàng, nhanh chóng, nhưng lại mạnh mẽ Tình cảm có tính rung động cao, dễ bị kích động, bồng bột, sôi nổi là đặc trưng cơ bản của tình cảm ở trẻ em làm trái pháp luật
- Về tính cách, nét tính cách đặc trưng là các em muốn vươn lên làm người lớn, muốn hoạt động để thử sức và có xu hướng bắt chước cái xấu của người lớn Có tính độc lập và tự trọng cao, nên nếu bị chửi rủa, đánh mắng, xúc phạm thì các em thường có phản ứng quyết liệt, chống trả lại hoặc nảy sinh tiêu cực bỏ nhà đi lang thang, tỏ ra bất cần đời Các em thích tỏ ra dũng cảm, liều lĩnh, nhưng lại thiếu đắn đo, suy nghĩ, không biết phân biệt giữa bảo thủ và kiên trì, giữa ngang tàng và dũng cảm, giữa liều lĩnh và can đảm Nhiều lúc các em tỏ ra rất thô lỗ, tục tằn và xấc láo với người lớn, bạn bè
Nghiên cứu của tác giả Phạm Minh Hạc cùng các cộng sự Nguyễn Hải Khoát, Phạm Thị Đức, Nguyễn Hồi Loan và tổ công tác của trường phổ thông Công nông nghiệp đi sâu tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm pháp ở người chưa thành niên Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra “ giao tiếp nhóm (có quan hệ trong nhóm bạn bè) có thể là nguyên nhân khá cơ bản và rất trực tiếp đưa đứa trẻ tới hành vi phạm pháp, với những trẻ này, giao tiếp nhóm không hướng trẻ vào hoạt động học tập mà hướng trẻ vào hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất
Trang 26Trong công trình nghiên cứu của mình, tác giả Mạc Văn Trang đã tìm hiểu toàn bộ quá trình biến đổi tâm lý từ những đứa trẻ bình thường đến người chưa thành niên phạm tội dưới ảnh hưởng của nhóm bạn bè tiêu cực, đó là biến đổi về nhận thức, đời sống tình cảm, nhu cầu và sự hình thành hành vi phạm pháp ở người chưa thành niên Tác giả cho rằng những đứa trẻ bình thường nếu không được quan tâm, giáo dục và rơi vào hoàn cảnh không may bị những hoạt động tiêu cực lôi cuốn thì dần dần nảy sinh những yếu tố tâm lý tiêu cực và có thể biến thành những thiếu niên phạm pháp Quá trình biến đổi tâm lý của trẻ bình thường thành trẻ phạm pháp trải qua ba giai đoạn: 1) Đứa trẻ bắt đầu bị lôi cuốn vào những hoạt động tiêu cực; 2) Những hoạt động tiêu cực dần dần chiếm ưu thế; 3) Những hoạt động tiêu cực trở thành chủ yếu trong đời sống của những thiếu niên này, dẫn đến sự biến chất về nhân cách và thực hiện hành vi phạm pháp.[17]
Trong luận án tiến sĩ Tâm lý học của tác giả Nguyễn Thị Hoa (2004)
về ảnh hưởng của nhóm bạn không chính thức tiêu cực đối với hành vi phạm pháp của trẻ vị thành niên, đã đưa ra nhận định : Nhóm bạn không chính thức tiêu cực có ảnh hưởng trực tiếp tới hành vi phạm pháp của các
em Tuy nhiên nhiều hình thức ảnh hưởng không mang tính chủ định (ảnh hưởng được thực hiện bởi hiệu ứng “ ủng hộ xã hội” và hiệu ứng “ỉ lại xã hội”, ảnh hưởng do sự đua đòi , bắt chước lẫn nhau) chiếm tỉ lệ lớn hơn Chuẩn mực của nhóm chỉ có những qui định về cách thức thực hiện hành
vi vi phạm pháp luật nhằm đảm bảo an toàn cho cá nhân và cho sự tồn tại của nhóm, không có những qui định bắt ép các em phải thực hiện những hành vi vi phạm pháp luật và ràng buộc các em với nhóm Các em càng có
Trang 27quan hệ lâu, càng gắn bó với nhóm, thì mức độ ảnh hưởng của nhóm càng lớn, việc tách các em ra khỏi nhóm càng khó khăn.[5]
Nhìn chung các công trình nghiên cứu trong nước đều khẳng định môi trường gia đình không thuận lợi và nhóm bạn bè tiêu cực có ảnh hưởng rất lớn tới hành vi phạm tội của người chưa thành niên Tuy nhiên những nghiên cứu về ảnh hưởng của gia đình, của người cha tới hành vi phạm pháp của trẻ vị thành niên còn chưa nhiều Vì vậy việc tiếp tục nghiên cứu về vấn đề này là rất cần thiết và có ý nghĩa cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn
1.3 Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.3.1 Khái niệm nhận thức
a Định nghĩa
- Cùng với tình cảm và hành vi, nhận thức là một trong ba mặt cơ bản của đời sống tâm lý con người Hơn thế nữa, nhận thức còn là nền tảng của tình cảm và hành vi Nhận thức là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau Hoạt động nhận thức của con người có nhiều mức độ khác nhau: nhận thức cảm tính và nhận thức lý tính
V.I Lênin đã tổng kết quy luật của hoạt động nhận thức nói chung như sau: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức hiện thực khách quan” Như vậy, thực tiễn chính là cội nguồn của nhận thức Trong hoạt động thực tiễnn con người tiếp xúc với
sự vật trong thế giới hiện thực khách quan, hiện thực khách quan được phản ánh vào trong đầu của con người hình thành nên nhận thức Mọi
Trang 28nhận thức đều bắt nguồn từ thực tiễn Thực tiễn là động lực của nhận thức (thực tiễn không ngừng nêu ra vấn đề mới, không ngừng tích luỹ khái niệm mới, không ngừng cung cấp công cụ) Trong thực tiễn tư duy của con người cũng được rèn luyện và nâng cao, không ngừng phát triển và thực tiễn là cơ sở đánh giá nhận thức đúng hay sai, có phản ánh đúng thực
tế hay không.[18]
Còn trong Từ điển tâm lý học do Nguyễn Khắc Viện chủ biên lại định nghĩa “Nhận thức là quá trình hoặc kết quả phản ánh và tái hiện hiện thực vào trong tư duy, nhận biết và hiểu biết thế giới khách quan”.[19]
Dưới góc độ Tâm lý học, nhận thức cũng là một quá trình, quá trình này thường gắn với một mục đích nhất định nên nhận thức của con người
là một hoạt động Đặc trưng nổi bật nhất của hoạt động nhận thức là phản ánh hiện thực khách quan Hoạt động này này gồm nhiều quá trình khác nhau, thể hiện mức độ phản ánh hiện thực khách quan khác nhau (cảm giác, tri giác, tư duy tưởng tượng) và mang lại những sản phẩm khác nhau (hình ảnh, hình tượng, biểu tượng, khái niệm) quá trình này có thể hiểu là quá trình tiếp cận tiến đến gần chân lý nhưng không bao giờ ngừng ở một trình độ nào vì không bao giờ nắm bắt được hết tất cả hiện thực Quá trình này diễn ra liên tục và không bao giờ ngừng vì hiện thực khách quan luôn vận động và phát triển
Nhận thức là một quá trình tâm lý phản ánh bản thân sự vật hiện tượng với tất cả các thuộc tính bản chất và không bản chất và các quy luật chi phối chúng Nó còn xem xét hiện tại quá khứ, phán đoán tương lai Trong quá trình nhận thức con người không chỉ nắm vững kiến thức mà còn hoàn thiện suy nghĩ, phát triển nhân cách của bản thân
Trang 29Nhìn chung, có rất nhiều quan niệm khác nhau về nhận thức của con người Điểm chung của các quan điểm đó là khả năng phản ánh thuộc tính
và các mối quan hệ bản chất của hiện thực khách quan thông qua hiện thực của con người Qua những phân tích ở trên, chúng tôi có quan điểm
về nhận thức như sau:: “Nhận thực là một quá trình tâm lý phản ánh sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan Quá trình này bao gồm nhiều mức độ khác nhau, thể hiện sự hiểu biết của con người về sự vật, hiện tượng, làm cơ sở cho việc định hướng điều khiển và điểu chỉnh thái độ hành vi của họ”
b Các mức độ nhận thức
Căn cứ vào tính chất phản ánh, các nhà tâm lý học chia toàn bộ hoạt động nhận thức thành nhiều mức độ khác nhau, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ chưa đầy đủ đến đầy đủ, từ nhận thực cảm tính đến
lý tính
- Nhận thức cảm tính là mức độ thấp nhất, sơ đẳng nhất trong hoạt động nhận thức của con người Đặc điểm của nhận thức cảm tính là phản ánh những đặc điểm bề ngoài, không bản chất, cụ thể về sự vật hiện tượng đang trực tiếp tác động vào giác quan của chúng ta Nhận thức cảm tính bao gồm 2 giai đoạn: Cảm giác và tri giác, cảm giác chỉ phản ánh từ thuộc tính riêng lẻ của sự vật hiện tượng Đây là mức độ phản ánh tâm lý thấp,
là mức độ định hướng đầu tiên, sơ đẳng nhất Tri giác là mức độ cao hơn của nhận thức cảm tính nó phản ánh một cách trọn vẹn các thuộc tính bên ngoài của sự vật hiện tượng trong hiện thức khách quan khi nó đang trực tiếp tác động
Trang 30Cảm giác và tri giác có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Sản phẩm của hoạt động nhận thức cảm tính là những hình ảnh cụ thể trực quan về thế giới xung quanh, cung cấp nguyên liệu cho các hoạt động tâm lý cao hơn
- Nhận thức lý tính là quá trình phản ánh những thuộc tính bên trong, những mối liên hệ bản chất của sự vật hiện tượng Nhận thức lý tính bao gồm 2 quá trình tư duy và tưởng tượng Tư duy là một quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết Tưởng tượng là quá trình tâm lý phản ánh những cái chưa từng có trong kinh nghiệm của cá nhận bằng cách xây dựng những hình ảnh mới trên cơ sở những biểu tượng đã có Nhận thức
lý tính chỉ nảy sinh khi xuất hiện hoàn cảnh có vấn đề Nghĩa là khi gặp những tình huống mà con người chưa gặp bao giờ, những tình huống mà vốn với những hiểu biết cũ, những phương pháp hành động cũ con người không thể giải quyết được Để nhận thức con người cần phải vượt ra khỏi phạm vi hiểu biết cũ và đi tìm cái mới, đạt mục đích mới
1.3.2 Khái niệm nhân cách
Trang 31Trong tâm lý học có rất nhiều định nghĩa và quan niệm khác nhau về nhân cách Các nhà Tâm lý học người Nga khi nghiên cứu nhân cách con người mặc dù cùng dựa trên nền tảng phương pháp luận Mácxit, song, họ hiểu khái niệm nhân cách cũng không hoàn toàn giống nhau
Uznatdze cho rằng nhân cách là sự thể hiện tập trung cao nhất tính tích cực của chủ thể được biểu hiện ở hệ thống thái độ của con người với mọi thứ xung quanh và với chính mình [1;141]
X.L Rubinstein thì cho rằng: nhân cách là bộ máy điều khiển, điều chỉnh toàn bộ đời sống của con người gắn liền với khái niệm “đường đời” Nói một cách khác, đó là khả năng con người điều khiển các quá trình hay thuộc tính tâm lý của bản thân, hướng chúng vào giải quyết các nhiệm vụ đặt ra cho bản thân Ở một tác phẩm khác của mình (“Cơ sở tâm lý học đại cương” ), ông khẳng định: Nhân cách là chỉ thể cụ thể, lịch sử sống động Và theo ông ý thức và thái độ là hai thành tố tạo nên nhân cách.[4]
Miaxisev định nghĩa nhân cách là tổng hợp các thái độ đối với thế giới (trong đó thái độ đánh giá được ông coi là quan trọng nhất).[4]
Petorovxki thì lại hiểu nhân cách với tư cách là chủ thể của nhận thức, tích cực cải tạo hiện thực…[9]
Trên đây là quan niệm của các nhà tâm lý học Nga- những người theo chủ nghĩa Mác xit Còn các nhà tâm lý học khác,với quan niệm về bản chất con người khác nhau, mỗi nhà tâm lý học lại đưa ra các định nghĩa khác nhau về nhân cách
Trong lý thuyết hành vi của mình, Skinner quan niệm nhân cách là một tập hợp những hành vi tạo tác
Trang 32Watson coi nhân cách chỉ là sự tích lũy các phản ứng tập nhiễm đã trở thành hệ thống thói quen.[6]
S.Freud trong hệ thống lý luận phân tâm của mình lại hiểu nhân cách
là một cấu trúc bao gồm ba thành phần (‘cái nó”, “cái tôi”, “cái siêu tôi” [6]
G.Allport, một đại diện xuất sắc của tâm lý học nhân văn lại định nghĩa: “ nhân cách là sự cấu tạo năng động trong mỗi cá nhân về những
hệ thống tâm –sinh lý xác định hành vi và suy nghĩ tiêu biểu.”[14]
Cùng trường phái với G.Allport là C.Roger, R.May, A Maslow…Những người ở trường phái này đều quan tâm đến giá trị tiềm năng bẩm sinh của con người, đến những đặc tính riêng của mỗi người, kinh nghiệm của con người Nhân cách là nhu cầu (Murray), là tương tác
xã hội (G.H Mead) [6]
Lại có quan điểm xã hội hóa nhân cách một cách giản đơn như của Lucien, Seve, Zeigarnive) Họ hiểu nhân cách như là toàn bộ mối quan hệ
xã hội của cá nhân
Có một số quan niệm lại hiểu nhân cách con người với tư cách là chủ thể của mối quan hệ và hoạt động có ý thức (A.G Kovalev, I.X Kon)
Có quan điểm hiểu nhân cách như một cấu trúc hệ thống tâm lý cá nhân Leonchiev nói “Nhân cách là cấu tạo tâm lý mới được hình thành trong mối quan hệ sống của cá nhân do kết quả hoạt động cải tạo của con người đó?
Trang 33K.Obuchowxki định nghĩa nhân cách: “Nhân cách là sự tổ chức những thuộc tính tâm lý của con người có tính chất điều kiện lịch sử - xã hội, ý nghĩa của nó cho phép giải thích và dự đoán hành động cơ bản của con người”
Tóm lại từ những góc nhìn khác nhau, các nhà nghiên cứu đưa ra cách hiểu nội hàm của khái niệm nhân cách rất khác nhau Tuy nhiên trong sự dị biệt và đa dạng đó, ở họ vẫn có những điểm tương đồng, những điểm giống nhau xét về góc độ này hay góc độ khác Nhiều người trong số họ nhấn mạnh tính độc đáo trong nhân cách mỗi người, nhấn mạnh nhân cách là sự kết hợp độc đáo của các thuộc tính tâm lý bền vững, tương đối ổn định đã trở thành cái điển hình cho cá nhân, nói lên giá trị
xã hội và bộ mặt xã hội của người đó; nhấn mạnh nhân cách không chỉ đơn thuần là sinh học cũng không chỉ đơn thuần là xã hội mà nó ẩn chứa
cả hai mặt này Đáng chú ý hơn cả là rất nhiều nhà nghiên cứu cùng có ý tưởng cho rằng trong nhân cách không thể thiếu thành phần thái độ Nhân cách còn được xác định như là một hệ thống các quan hệ của con người đối với thế giới xung quanh và đối với bản thân mình Quan hệ của con người đối với thế giới xung quanh được biểu hiện trong nhưng quan điểm, niềm tin của họ, trong thế giới quan, trong thái độ của họ đối với người khác, nhưng chủ yếu nhất là trong hoạt động giao lưu của họ Nhân cách được hình thành và phát triển nhờ các quan hệ xã hội mà trong đó cá nhân lớn lên Chính trong quá trình đó, các đặc điểm của họ với tư cách là cá tính được thay đổi và trở thành những đặc điểm mang tính đích thực, tính
xã hội và đạo đức
Từ những phân tích trên, trên nền tảng của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử trong triết học Mác, chúng tôi đưa ra
Trang 34một định nghĩa về nhân cách chung nhất để sử dụng trong luận văn này như sau: “Nhân cách là tổ hợp độc đáo hệ thống thái độ và các thuộc tính tâm lý điển hình của cá nhân, được hình thành và phát triển thông qua hoạt động và giao lưu của người đó trong các mối quan hệ xã hội mà họ gia nhập, tạo nên bộ mặt xã hội và qui định giá trị xã hội của người đó” Như vậy nhân cách là sự tổng hoà không phải các đặc điểm cá thể cuả con người mà là những đặc điểm quy định con người như là một thành viên của xã hội, nói lên bộ mặt tâm lý – xã hội, giá trị cốt cách làm người của mỗi cá nhân
b Cấu trúc của nhân cách
Cũng như định nghĩa về nhân cách, có rất nhiều quan điểm khác nhau
về cấu trúc của nhân cách, về các thành tố cấu thành nên nó và mối quan
hệ giữa các thành tố này làm cho nhân cách trở thành một chỉnh thể trọn vẹn Không kể những quan điểm sai lầm như quan điểm sinh vật hóa, quan điểm duy tâm hay quan điểm xã hội hóa hay tâm lý hóa một cách giản đơn, thì có thể kể ra một số quan điểm về cấu trúc nhân cách như sau:
- Quan niệm coi nhân cách bao gồm ba lĩnh vực cơ bản là: nhận thức ( bao gồm cả tri thức và năng lực trí tuệ), rung cảm (linh cảm và thái độ) và ý chí ( phẩm chất ý chí, kỹ năng, kỹ xảo, thói quen)
- Quan niệm coi nhân cách gồm bốn tiểu cấu trúc : xu hướng ( thế giới quan, lý tưởng, hứng thú, tâm thế…), kinh nghiệm ( tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thói quen), đặc điểm của các quá trình tâm lý ( các phẩm chất trí tuệ, ý chí, đặc điểm của xúc cảm, tình cảm), các thuộc
Trang 35tính sinh học quan trọng ( khí chất, giới tính, lứa tuổi, các đặc điểm bệnh lý )
- Quan niệm nhân cách có nhiều tầng: tầng nổi sang tỏ bao gồm ý thức, tuệ ý thức và ý thức nhóm và tầng “sâu” tối tăm ( bao gồm tiềm thức và vô thức)
- Quan niệm về các mặt đào tạo của nhân cách: đức, trí, thể, mỹ…
Ở Việt Nam, quan niệm cấu trúc nhân cách bao gồm hai mặt đức và tài (hay phẩm chất và năng lực) có mối quan hệ thống nhất với nhau được nhiều nhà nghiên cứu chấp nhận
Dựa trên kết quả nghiên cứu của các nhà tâm lý học đã được chứng minh, trong khuôn khổ đề tài này,cấu trúc của nhân cách được xem xét theo các mặt cụ thể sau đây:
- Mặt đạo đức của nhân cách người cha:
+ Sự biểu thị thái độ đối với người khác
+ Sự biểu thị thái độ đối với lao động
+ Sự biểu thị đối với bản thân
- Mặt ý chí của nhân cách: ý chí thể hiện năng lực thực hiện những hành động có mục đích đòi hỏi phải có sự nỗ lực khắc phục khó khăn Nó được coi là mặt năng động của ý thức, mặt biểu hiện cụ thể của ý thức trong thực tiễn Ý chí bao gồm cả mặt năng động của trí tuệ, mặt năng động của tình cảm đạo đức, là hình thức điều khiển điều chỉnh hành vi tích cực nhất của con người ý chí được thể hiện qua các phẩm chất sau:
Trang 36+ Tính mục đích: Cho phép con người điều chỉnh hành vi hướng vào mục đích tự giác
+ Tính độc lập là phẩm chất ý chí cho phép con người quyết định hành động theo những quan điểm riêng của mình
+ Tính quyết đoán đó là khả năng đưa ra nhưng quyết định kịp thời, rất khoát trên cơ sở tính toán cân nhắc kỹ càng chắc chắn
+ Tính kiên cường nói lên cường độ của ý chí cho phép con người có những quyết định đúng đắn kịp thời trong những hoàn cảnh khó khăn
+ Tính dũng cảm khả năng sẵn sang nhanh chóng vươn tới mục đích bất chấp khó khăn nguy hiểm
+ Tính tự kiềm chế, tự chủ là khả năng và thói quen kiểm tra hành vi làm chủ bản thân, kìm hãm những hành động cho là không cần thiết hoặc
có hại trong trường hợp cụ thể
- Mặt uy quyền của nhân cách người cha:[7-12]
Uy quyền của người cha là một loại uy quyền đặc biệt, nó được hình thành chủ yếu bởi trách nhiệm và tình yêu thương của cha đối với con cái Uy quyền này được pháp luật thừa nhận và được dư luận đạo đức đồng tình Nó còn là một phương tiện cần thiết để người cha cùng với mẹ thực hiện chức năng chăm sóc, dạy dỗ con cái Uy quyền của người cha thể hiện ở các mặt sau đây:
+ Địa vị xã hội, khả năng làm trụ cột về kinh tế trong gia đình
+ Khả năng giải quyết các tình huống khó khăn trong gia đình
Trang 37+ Tình yêu thương con cái, trách nhiệm với gia đình
+ Cách thức nuôi dạy, chăm sóc và giáo dục con cái phù hợp
+ Kiến thức phong phú, hiểu biết xã hội sâu rộng
+ Ứng xử tốt với mọi người xung quanh
+ Uy tín đối với con cái
+ Uy tín đối với những thành viên trong gia đình
+ Uy tín đối với những người xung quanh
1.3.3 Khái niệm người cha và vai trò của người cha trong gia đình
Tác giả Porot trong tài liệu “Trẻ em và các mối quan hệ trong gia đình” đã đề cập nhiều đến vai trò người cha trong sự phát triển của trẻ em Ông cho rằng : “một gia đình đúng nghĩa phải có sự kết hợp gắn bó giữa tình yêu thương và uy quyền, sự ganh đua và sự đoàn kết Tình thương yêu gắn với vai trò của người mẹ và uy quyền gắn liền với vai trò của người cha Những mối quan hệ gia đình bình thường sẽ được sắp xếp xung quanh đứa trẻ” Một gia đình hạnh phúc đòi hỏi sự cân bằng thường xuyên giữa tình yêu của người mẹ , uy quyền của người cha, sự đoàn kết, ganh đua giữa con cái Đấy cũng là vai trò thể hiện mối quan hệ chặt chẽ trong gia đình xoay quanh đứa trẻ Chính vì mối quan hệ chặt chẽ này mà trẻ sẽ phát triển nhân cách lệch lạc nếu một trong những mắt xích này bị cắt đứt.[10]
Theo D.Durlingham và A.Freud “Bắt đầu từ năm 2 tuổi tình cảm của cha dành cho con sát nhập vào đời sống tình cảm của nó, trở thành một
Trang 38phần cần thiết của những lực phức tạp góp phần tạo nên tính tình và nhân cách đứa con”.[13,114]
Quan hệ cha con được Phân tâm học nghiên cứu từ lâu Người mẹ gắn bó với con trai, xung khắc với con gái và người cha thì ngược lại Đối với con trai, người cha là biểu hiện của sức mạnh, vừa là chỗ che chở, nâng đỡ, vừa là nơi phát sinh nỗi sợ hãi bị trừng phạt Mặt khác, cả hai cha con đều có cùng một đối tượng cảm xúc là người mẹ Vì vậy, đứa trẻ luôn muốn níu kéo cho mình phần lớn hơn, muốn mẹ yêu nhất nhà Quan
hệ cha-con vì thế có tính chất lưỡng phân, vừa sợ hãi, vừa kính phục, vừa ghen tức với cha S.Freud gọi đó là mặc cảm Ơđip
Trong lý thuyết về sự phát triển tính dục trẻ em ở giai đoạn Ơ đip
(3-5 tuổi), S.Freud cho rằng người cha có vai trò là bức rào chắn ngăn cản sự cuốn hút mạnh mẽ của con trai về phía người mẹ Những can thiệp trực tiếp hay gián tiếp của ngươi cha đều hướng cho con trai mình một hình tượng đồng nhất hóa đủ giá trị để nó vượt qua mối xung đột nhất thời thù địch- cảm xúc tiến tới từ bỏ tình yêu vào bà mẹ để đồng nhất với người bố của mình Khi đó trẻ hoàn toàn chấp nhận nam tính tượng trưng của người cha và sẽ phát triển nhân cách một cách lành mạnh, cụ thể hơn là phát triển “sức mạnh của tính cách” nam giới
Khi nghiên cứu sự ảnh hưởng của người cha đến đứa trẻ trong sự hình thành nhân cách, người ta nhận thấy chính sự “dễ hấp thụ” và sự “tự
ám thị” dẫn đến sự đồng nhất Qua sự dễ hấp thụ các em tiếp nhận thái độ, tình cảm, cũng như ý tưởng của những người xung quanh sau đó chính nhân cách của các em sẽ được định hình Các em không chỉ bắt chước về hành vi mà còn để ý đến thái độ, sự khéo léo cũng như tinh thần Qua đó
Trang 39các em cảm nhận, suy tư và thực hiện Vì thế có rất nhiều trường hợp người ta chỉ thấy nhân cách người khác thể hiện qua các em chứ không phải nhân cách của chính các em Nói một cách chính xác hơn thì chính nhân cách các em lồng trong nhân cách người khác Không phải là các em tìm cách làm giống người khác mà chính đó là nhân cách của các em
Các nhà Phân tâm học cho rằng quá trình của sự đồng nhất thường làm trỗi dậy những kỷ niệm xưa Vì thế những sự đồng nhất đầu tiên thường rất sâu sắc và cùng đi vào tuổi trưởng thành Nếu như các em bị nhiễm lối sống luộm thuộm của cha mẹ khi còn rất nhỏ, thì thói quen này
sẽ đi cùng các em vào tuổi trưởng thành và các em cũng luộm thuộm như cha mẹ các em Đó là sự đồng nhất xuất hiện từ thời thơ ấu.Vì thế những bậc làm cha làm mẹ với những thái độ, lời nói, cách sống, cách cư xử của mình đều có ảnh hưởng tới sự đồng nhất trong quá trình hình thành nhân cách của các em
Những đặc tính chuyển từ người cha sang con cái được xem như một
sự thừa kế Thông thường những đặc tính của người cha chuyển cho con gái, còn những cá tính của người mẹ lại chuyển sang con trai Các nhà chuyên môn cho đây là sự đồng nhất hơn là sự kế thừa Đôi khi các em không chỉ kế thừa những cá tính riêng biệt mà toàn bộ nhân cách với tất
cả những cá tính Sự đồng nhất thường diễn ra với những người mà các
em yêu quí, đặc biệt là người cha Tuy nhiên chúng ta thấy rằng mọi việc không phải lúc nào cũng diễn ra tốt đẹp Ví như khi các em tự đồng nhất mình với người cha không đáng ca ngợi hoặc các em muốn trở thành người cha mà các em ca ngợi nhưng những em này lại không đủ năng lực
để thực hiện mong muốn của mình Từ đó có thể dẫn đến sự thất vọng ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống của các em khi còn nhỏ cũng như về lâu
Trang 40dài Sự đồng nhất có thể được xây dựng trên nỗi sợ hãi Ví như người cha
ép buộc con mình phải vâng lời bằng sự đe dọa hay sự trừng phạt và bằng mọi cách ép các em phải đồng nhất với mình, trở thành như mình Cách đồng nhất này không những không có hiệu quả mà còn làm cho sự đồng nhất bị tê liệt Điều đó có nguy cơ dẫn đến những khủng hoảng về xung lực
Nhiều nhà nghiên cứu sau này cũng đề cập đến vai trò của người cha như một nhân vật có đủ sức mạnh để trẻ khuất phục, bắt chước, noi theo một cách vô thức
Đối với con gái, người cha là đối tượng của sự gắn bó, với đứa con trai, là đối tượng của sự đồng nhất hóa Người cha phải có đủ uy tín từ những gì thực sự mà ông ta có mới có thể hướng cho con trai mình vượt qua những khủng hoảng nhất thời (thù địch, ghen tức), tiến tới chấp nhận nam tính ở người cha Nếu người cha không mang những giá trị về nhân cách , sự thành đạt về nghề nghiệp, sức mạnh uy quyền… thì đứa trẻ buộc phải đi tìm nhân vật lý tưởng khác để đồng nhất với nhân vật đó
Trong tâm lý học hiện đại, người cha có ảnh hưởng tới nhiều lĩnh vực của đứa con như: cảm xúc, tình cảm, ngôn ngữ, nhận thức…Sự tương tác sớm giữa cha và đứa con có ảnh hưởng tốt đến sự phát triển của trẻ đặc biệt là trẻ em nam Nhân cách của người cha ngoài việc được công nhận bởi người mẹ , hay những người xung quanh còn phải do khả năng chiếm giữ vị trí đối với những đứa con của mình, thông qua hoạt động trực tiếp trong quan hệ hàng ngày với đứa trẻ
Như vậy người cha cùng với nhân cách của họ có ảnh hưởng rất lớn đối với quá trình hình thành và phát triển nhân cách của trẻ