Chính vì thế mà tôi chọn đề tài: “ Góp phần nghiên cứu về đặc điểm hình thái cấu tạo của các loài trong giống Drawida ở Việt nam có trong sưu tập giun đất của Trung tâm nghiên cứu động v
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN HÀ NỘI
-
NGUYỄN MINH NGỌC
NHẬN THỨC NGHỀ VÀ LỰA CHỌN NGHỀ CỦA HỌC SINH THPT DÂN TỘC NỘI TRÚ TỈNH BẮC
GIANGnh Bắc Giang
LUẬN VĂN THẠC SỸ TÂM LÝ HỌC
Hà Nội - 2008
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 3
2 Lí do chọn đề tài 3
PHẦN NỘI DUNG 6
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 6
1.Tình hình nghiên cứu Giun đất nói chung ở các nước phụ cận và Việt Nam 4
1.1 Tình hình nghiên cứu Giun đất nói chung ở các nước phụ cận………… 4
1.2 Tình hình nghiên cứu Giun đất ở Việt Nam……….… 5
2 Tình hình nghiên cứu về Drawida ở Việt Nam 6
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu .9
2 Phương pháp nghiên cứu 14
2.1 Phân tích mẫu 14
2.2 Chụp ảnh hiển vi lớp cơ dọc của loài 14
2.3 Các thuật ngữ dùng trong định loại và hình vẽ các đặc điểm định loại 14
CHƯƠNG 3: GIỚI THIỆU CÁC LOÀI DRAWIDA CÓ TRONG SƯU TẬP 1 Mô tả các loài Drawida có trong sưu tập……… 16
CHƯƠNG 4: KHOÁ ĐỊNH LOẠI CÁC LOÀI DRAWIDA CÓ TRONG SƯU TẬP 1 Phân tích các đặc điểm dùng trong khoá định loại ………72
1.1 Nhận xét về kích thước của các loài trong giống Drawida có trong sưu tập………72
1.2 Nhận xét về mức độ phát triển của tơ và khoảng cách tơ của các loài trong giống Drawida có trong sưu tập ……… 73
1.3 Nhận xét về đặc điểm nhú phụ của các loài trong giống Drawida có trong sưu tập……….74
1.4 Nhận xét về cấu trúc vùng nhận tinh của các loài trong giống Drawida có trong sưu tập……… ………… 76
1.5 Nhận xét về cấu trúc vùng đực của các loài trong giống Drawida có trong sưu tập……….78
Trang 31.6 Nhận xét về cấu trúc cơ dọc của các loài trong giống Drawida có
trong sưu tập………79
2 Khoá định loại của các loài trong giống Drawida có trong sưu tập……… …………83
CHƯƠNG 5: ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ CỦA CÁC LOÀI DAWIDA CÓ TRONG SƯU TẬP……… 85
1 Phân bố của giun đất theo vùng lãnh thổ Việt Nam 86
2 Phân bố theo vùng cảnh quan 86
3 Phân bố theo sinh cảnh 88
4 Đề xuất ý kiến về nhóm hình thái sinh thái trong loài Drawida 91
PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 93
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
Tài liệu Tiếng Việt
Tài liệu Tiếng Anh
PHỤ LỤC
Hình 1
Hình 2
Hình 3
Hình 4
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Trước khi các nhà phân loại học tìm ra Giun đất là một đại diện của lớp Giun ít tơ (Oligochaeta) sống trên cạn, thuộc bộ Lumbricimorpha, ngành Giun đốt (Annelida) thì từ lâu người ta đã biết những tác động tích cực của chúng
Ở phương Tây, nhà triết học cổ Hy Lạp Aristot (384 – 332 TCN) gọi giun đất là ruột của trái đất Ở phương Đông thì Tuân Tử viết:” Không có móng vuốt và răng chắc khoẻ, không có xương và bắp thịt chắc khoẻ, chúng
có thể ăn bụi đất phía trên và uống mạch nước vàng phía dưới” Thậm chí đến thời Ai Cập giun đất được quí trọng đến mức được phong thần và Cleoptra đã
ra lệnh cấm không được đem giun ra khỏi đất nước Ai Cập và đến thế kỉ thứ
17 thì mục sư người anh của Gilbert White đã nói :” không có những con giun, mặt đất sẽ trở thành trơ trọc, không lên men và không sự sống” [22]
Tự chứng minh qua hàng nghìn năm nay, bằng hoạt động sống đào bới
và ăn gặm của mình, giun đất tham gia tích cực và thường xuyên vào hình thành lớp đất trồng [6, 22]: khi sống trong đất chúng tạo hệ thống hang cho đất tơi xốp và thoáng khí, làm tăng khả năng giữ và thấm nước, các vi sinh vật trong đất phát triển mạnh tạo cho đất có hoạt động sinh học cao, chất khoáng cũng như phân vô cơ trong lòng đất sâu sẽ được chuyển đến rễ cây Khi giun
ăn trong đất, các chất hữu cơ và vô cơ được trộn đều trong bộ máy tiêu hoá,
do vậy mà phân giun có một hỗn hợp cân bằng giữa chất đất sét, chất mùn, nước, không khí và chất dinh dưỡng Do đó những viên phân của chúng không những tạo kết cấu hạt cho đất mà còn chứa nhiều dinh dưỡng cho cây
cỏ hơn các đất xung quanh [21]: đem phân tích thì phân thải chứa nhiều nitơ gấp 5 lần, nhiều phôtpho gấp 7 lần, nhiều postassum gấp 11 lần cũng như magnesium gấp 3 lần so với đất thường Ngay trong tiêu hoá chúng cũng ăn luôn cả nấm mốc, phân của chúng là môi trường thuận lợi cho các vi sinh hữu
Trang 5ích phát triển và các loại này tạo ra kháng sinh có thể ngăn chặn sự phát triển các loại vi sinh có hại cho cây.
Là một mắt xích quan trọng trong lưới thức ăn tự nhiên, do thịt giun đất giàu dinh dưỡng với hàm lượng đạm chiếm 70% trọng lượng khô, rất thích hợp làm thức ăn cho cá, gia cầm, gia súc là hướng giải quyết nguồn thức ăn giàu đạm, kinh tế và ổn định đối với các nước muốn phát triển một ngành nông nghiệp theo hướng hiện đại hoá [20]
Trong y học dân gian của nước ta và nhiều nước trên thế giới, giun đất được sử dụng để chữa các bệnh như: sốt rét, đậu mùa, hen suyễn, thấp khớp, động kinh,…[5,21] Ngày nay, giun đất được sử dụng để sản xuất một số loại thuốc có tác dụng tốt trong điều trị bệnh Ở Trung Quốc, Hàn Quốc và Nhật Bản đã chiết xuất enzym lumbrokinase từ một số loài giun đất để sản xuất thuốc Fibrenase III, có tác dụng làm tan các khối máu đông trong mạch máu với giá thành rất cao Và tại Việt Nam các nhà khoa học thuộc viện công nghệ sinh học cũng đã thành công trong chiết xuất chế phẩm này trên một loài giun đất được làm thức ăn cho dê thỏ ở Ba Vì [21]
Giun đất còn là nhóm chỉ thị cho mức độ thay đổi của vùng đất và các
tính chất đất Pontodrilus bermudensis chỉ thị cho vùng đất chưa được rửa mặn; Pheretima posthuma, Lampito mauritii, chỉ thị cho đất nhẹ; Pheretima elongata chỉ thị cho đất nặng [6,10]
Về mặt phân loại học, Giun đất còn là nhóm động vật giữ vị trí quan trọng trong quá trình tiến hóa của động vật từ nước lên cạn, góp phần hình dung quá trình hình thành đơn vị bậc loài, dưới loài, sự tiến hóa của các hệ cơ quan của động vật [2]
Bên cạnh những lợi ích trên, giun đất còn là vật chủ trung gian của một
số loài giun sán ký sinh như giun phổi (Metastrongylus), giun thận
(Stephanurus dentatus) [23; 31] Cơ thể giun đất còn là môi trường thích hợp
Trang 6của trực khuẩn gây bệnh ngộ độc thịt ôi (Clostridium botulium) phát triển và
lan truyền trong đất
Chính vì thế mà tôi chọn đề tài: “ Góp phần nghiên cứu về đặc điểm hình thái cấu tạo của các loài trong giống Drawida ở Việt nam có trong sưu tập giun đất của Trung tâm nghiên cứu động vật đất Đại học Sư Phạm Hà Nội, và nhận xét về phân bố của chúng”
Sưu tập của nghiên cứu là kết quả nghiên cứu của 6 luận án tiến sĩ Sinh học
[ 18, 19, 25, 26, 34, 37], nên số loài Drawida có trong sưu tập có thể coi là đại diện cho các loài Drawida ở các vùng địa lí điển hình trong cả nước Việt Nam
Trong các mô tả về phân loại học của Drawida thì không phải mô tả nào cũng có đầy đủ những đặc điểm để xác định loài, do đó nhiệm vụ của mô tả giải phẫu hình thái các loài có trong sưu tập sẽ góp phần cho các định loại sau này
Trong đề tài đề cập đến những nội dung sau:
- Giới thiệu đặc điểm hình thái và giải phẫu của từng loài Drawida ở Việt Nam có trong sưu tập
- Xây dựng khoá định loại các loài Drawida ở Việt Nam có trong sưu tập
- Các nhận xét về đặc điểm phân bố của các loài Drawida ở Việt Nam
có trong sưu tập
Trang 7PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1 Tình hình nghiên cứu Giun đất nói chung ở các nước phụ cận và
Việt Nam
1.1.Tình hình nghiên cứu giun đất ở các nước phụ cận
Việc nghiên cứu giun đất trên thế giới đã được tiến hành từ lâu như: Ấn
Độ, Pháp, Newzealand…Nhưng tại Việt Nam chỉ mới được đẩy mạnh trong khoảng 30 năm nay
Khu hệ giun đất ở Trung Quốc có các công trình nghiên cứu của Chen
Y, và của Chen Y, Hsii Chi – Fang, Yang Tung, Fong Hstaoyi đã tổng kết được 127 loài giun đất ở các vùng Tứ Xuyên và lưu vực sông Trường Giang, vùng Nga Mi và đảo Hải Nam [55 - 63] Tuy nhiên kết quả nghiên cứu mới dừng ở mức độ thống kê thành phần loài của một số vùng chứ chưa khái quát được các quy luật chung (H.1)
Khu hệ giun đất ở Lào có công trình nghiên cứu của Thái Trần Bái, Samphon Keugphachanh, đã thống kê được 68 loài giun đất thuộc 8 giống, 7 họ, trong đó Pheretima là giống có thành phần loài phong phú nhất [16, 17] ( H.1)
Về khu hệ giun đất ở Campuchia, Thái Trần Bái và Đỗ Văn Nhượng đã
có những dẫn liệu tại một số điểm xung quanh thành phố Phnompênh và một
số thị trấn ở đồng bằng Campuchia và đã thống kê được 14 loài giun đất trong
5 giống [14,15]( H.1)
Tại Thái Lan cũng mới chỉ phát hiện khoảng 27 loài và tập trung tại các điểm du lịch [49] (H.1)
Gates công bố khu hệ giun đất ở Miến Điện (Myanma) năm 1972, với
số lượng loài phong phú là 241 loài, thuộc 36 giống, 9 họ [50]( H.1) Đây là vị
Trang 8trí nằm giữa ngã ba của các khu phân bố gốc của nhiều loài giun đất là Ấn Độ, Trung Quốc và Đông Dương
Các khu hệ giun đất trên các đảo và bán đảo trong khu vực cũng được bắt đầu ở Đài Loan với công bố 13 loài Pheretima mới, do G.E.Gates mô tả Sau đó được tổng kết về số lượng loài là 35 loài thuộc 3 họ vào năm 2000 do các tác giả Chu-Fa.Tsai, Huei-Ping Shen, Su-Chen Tsai [40] Ở Philipin, tổng
kết được 18 loài trong đó chủ yếu là Amynthas năm 2004 [54] Singapo,
Huei-Ping Chen và Darren C.J.Yeo tổng kết và mô tả 19 loài [51]
Tại Nhật công bố danh sách 77 loài thuộc 8 họ [38] do Blakemore R.J.,
và cộng sự tổng kết ( H.1)
1.2 Tình hình nghiên cứu giun đất ở Việt Nam
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu giun đất được bắt đầu từ cuối thế kỷ XIX bởi Perrier E., 1872 và 1875 [54] Đến nửa đầu thế kỷ XX, có thêm một số công trình mang tính chất đơn lẻ của Stephenson J., 1931 công bố hai loài mới thu được ở cao nguyên Lâm Viên Michaelsen W., 1934 đã giới thiệu một danh sách 21 loài trong đó có 16 loài giun đất được thu từ Đà Lạt, Quy Nhơn, Đà Nẵng, đảo Phú Quốc, Phú Thọ ở Việt Nam [53] Nhìn chung, những công trình trên còn tản mạn và chưa có hệ thống, những nơi nghiên cứu thường là các điểm du lịch và chỉ lấy mẫu định tính
Năm 1965 đến 1975, do điều kiện chiến tranh, việc nghiên cứu giun đất
bị gián đoạn, chỉ được tiến hành giới hạn ở một số vùng hoặc nhằm mục đích giảng dạy
Từ năm 1975, việc nghiên cứu giun đất ở Việt Nam mới được thực hiện một cách rộng rãi và có hệ thống, có thể kể đến một số công trình luận án Tiến
sĩ, Phó Tiến sĩ Mở đầu là luận án Tiến sĩ khoa học của Thái Trần Bái, 1983: Giun đất Việt Nam (Hệ thống học, khu hệ, phân bố và địa lý động vật) [2]; kế đến là các luận án Phó Tiến sĩ của Trần Thúy Mùi, 1985 [25]: Khu hệ giun đất
Trang 9vùng đồng bằng sông Hồng; Đỗ Văn Nhượng, 1994: Khu hệ giun đất miền Tây Bắc Việt Nam [26]; Nguyễn Văn Thuận, 1994: Khu hệ giun đất Bình Trị Thiên [34]; Phạm Thị Hồng Hà, 1995: Khu hệ giun đất Quảng Nam – Đà Nẵng [18]; Lê Văn Triển, 1995: Khu hệ giun đất miền Đông Bắc Việt Nam [37]; Huỳnh Thị Kim Hối, 1996]: Khu hệ giun đất phía Nam miền Trung Việt Nam[19]; luận án Tiến sĩ của Trần Thị Thanh Bình, 2000: Biến đổi tiến hóa của hệ bài tiết và cơ quan sinh dục cái của giun đất trong giống Pheretima Kinberg, 1867 Kỹ thuật nuôi giun đất cũng được nghiên cứu và đưa vào thực nghiệm [5, 20]
Những năm gần đây, việc nghiên cứu khu hệ giun đất được tiến hành trên các phạm vi hẹp hơn trước Đặc điểm sinh thái học của giun đất cũng được bắt đầu nghiên cứu bởi các công trình của Huỳnh Thị Kim Hối và cộng tác viên, dẫn liệu ADN của giun đất được quan tâm bước đầu nghiên cứu Đặc biệt 5 năm gần đây các công trình nghiên cứu đi về hướng ứng dụng được chú trọng và đã đạt được những thành công lớn về mặt kinh tế [5, 20, 21, 22 ]
Trang 10Hình 1: Bản đồ đánh dấu các khu vực có công trình nghiên cứu giun đất ở Việt
Nam và các nước phụ cận
Việt Nam: : Thái Trần Bái,1983[2]; Trần Thúy Mùi,
1985 [25]; Đỗ Văn Nhượng, 1994[26]; Nguyễn Văn
Thuận, 1994[33]; Phạm Hồng Hà, 1995[18]; Lê Văn
Triển, 1995[37]; Huỳnh Thị Kim Hối, 1996[19];
Michaelsen W., 1934 [53]; : Perrier E., [4]
Trung Quốc: Chen Y [41-47]; Quiang-ping [56] : Huei-ping Shen [52]
Nhật Bản: : Blakemore R.J., và cộng sự, 2003[38] Lào: : Samphon,1989 [16]; Thái Trần Bái, [16,17]
Campuchia: : Thái Trần Bái,1994 ; Đỗ Văn Nhượng,
1994 [14,15]
Miến Điện: : Gates G F, 1972[50]
Philipin: : Perrier E., 1875 [54] Singapo: : Huei-ping Shen [51,52]
Thai lan: : Gates G F, 1939[49]; Indonesia: Michaelsen W., 1934 [53]
Trang 112 Tình hình nghiên cứu về Drawida ở Việt nam
Năm 1934, bằng việc tiến hành phân tích các mẫu lượm từ các vùng quanh Đà Lạt, Quy Nhơn , Đà Năng, đảo Phú Quốc và Phú Thọ, Michaelsen
đã giới thiệu danh sách của 16 loài giun đất trong đó có 1 loài Drawida là Drawida annamensis 1934 [53]
Năm 1983 trong luận án tiến sỹ của Thái Trần Bái đã đề cập đến 2 loài
Drawida delicata và Drawida beddardi cùng các dẫn liệu về khu vực phân bố
của 2 loài này Trong các công trình tiếp theo thì Drawida delicata được phát
hiện tiếp ở đồng bằng sông Hồng [25], Quảng Nam Đà Nẵng [18], và ở Hà Bắc [13] Ở các địa điểm khác như Vĩnh Phú , Tam Đảo và đồng bằng sông
Hồng cũng lần lượt gặp Drawida beddardi [13]
Trong khi nghiên cứu khu hệ giun đất phía Nam miền Trung Việt nam
ngoài Drawida beddardi, Huỳnh Thị Kim Hối còn thu được 4 loài: Drawida khác chưa biết tên với ký hiệu là Drawida sp1, Drawida sp2, Drawida sp3, Drawida sp4 [19]
Song song với bổ sung dẫn liệu các dẫn liệu mới về phân bố của hai
loài Drawida beddardi, Drawida delicata, một số loài mới được phát hiện cho khoa học như: Drawida langsonensis Do et Huynh, Drawida chapaensis Do
et Huynh [27]
Năm 1998 trong bản thảo tổng kết của Thái Trần Bái đã giới thiệu các
loài Drawida đã biết ở vùng Đông Dương là Drawida annamensis, Drawida beddardi, Drawida delicata, Drawida chapaensis, Drawida langsonensis, Drawida sp1, Drawida sp3, Drawida sp11, Drawida sp12, Drawida sp13, Drawida sp14, Drawida sp15, Drawida sp16, Drawida sp17, Drawida sp18
[8]
Trang 12CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Đối tượng nghiên cứu
Giun đất Drawida ở Việt Nam có trong sưu tập mẫu vật của Trung tâm nghiên cứu Động vật đất - Đại học Sư phạm Hà Nội được thu ở mọi sinh cảnh khác nhau: rừng nguyên sinh, vườn cây lâu năm, vườn chuối, ven ruộng cạn…ở các tỉnh khác nhau trong cả nước Các tỉnh có mẫu thu là: Lai Châu, Bắc Giang, Sơn La, Lào Cai, Thái Nguyên, Hà Nội, Hải Phòng, Nghệ An, Quảng Bình, Quảng Ngãi, Đà Nẵng, Huế, Đắc Lắc, Bình Thuận, Long An, Cà Mau ( B.1 và H.2)
Ngoài ra các bản cắt hiển vi qua cơ thể các loài Drawida có trong sưu tập cũng được quan sát để phát hiện các kiểu cấu trúc cơ của chúng
Hình 2: Bản đồ các địa điểm có mẫu phân tích
Dấu chấm màu đỏ đánh dấu các điểm thu của mẫu phân tích
Trang 13Bảng 1 Mẫu vật sử dụng cho công trình nghiên cứu
Thanh Tây, vườn cây lâu năm
Hà Bắc, Lục Ngạn, bờ suối
Hà Bắc, Lục Ngạn, vườn
5 – 1993 11-5-1992
1C+1A Đảo Cát Bà, thị trấnViệt Hải, trong
vườn cây lâu niên
12-9-1994;
2A
2A 2C + 3A
Trang 14Đà Nẵng:
- Sơn Trà, rừng cây bụi
- Sơn Trà, đồi trọc, cây bụi
15-2-1998 15-3-1998
8 Drawida sp3 2A Côn Lôn, sườn nhà Bàng, 100m 25-4-1989
Bình, vườn cây lâu năm
Nhơn, Thanh Trà, vườn cây lâu năm gần bể nước
(?)
đường khai thác gỗ cũ,
23-5-1988
14 Drawida sp15 1C + 1A thị xã Sơn La, đồi long não, lớp
Trang 152 Phương pháp nghiên cứu
2.1 Phân tích mẫu
Mẫu phân tích được bảo quản trong foormon 4%
Giun đất được định loại theo các tài liệu của Chen Y (1931-1946)[42], Gates (1972) [50] và Thái Trần Bái (1998) [8]
Phân tích và mô tả các đặc điểm hình thái, giải phẫu có kèm theo hình
vẽ có tính phân loại học của giống này kết hợp với so sánh mô tả của các loài trong giống Drawida ở trong nước và các nước phụ cận để quyết định vị trí phân loại học của các đối tượng nghiên cứu
2.2 Chụp ảnh hiển vi của cấu trúc lớp cơ dọc
Các loài Drawida có trong sưu tập của Trung tâm nghiên cứu Động vật
đất - Trường Đại học Sư Phạm Hà Nội Bản cắt ngang hiển vi qua các đốt
vùng nhận tinh (VII-IX) và vùng đực ( X-XIII )
2.3 Các thuật ngữ dùng trong định loại và hình vẽ các đặc điểm định loại
Buồng giao phối (copulatory chamber ): phần lõm vào trong ở trước lỗ sinh
dục đực (H.3C)
Buồng nhận tinh (spermathecal chamber): phần lõm vào ở thể xoang phía
trước lỗ nhận tinh (H 3B)
Cơ dọc ( longitudinal muscle ) : lớp cơ dọc, tế bào cơ có thể sắp xếp
theo kiểu chùm ( pinnate), kiểu lông chim(fascinated), kiểu trung gian (transitional) (H 4)
Cơ quan giao phối (penis) : phần lồi có lỗ sinh dục ở đỉnh cắm
với lỗ nhận tinh khi ghép đôi
(H.3A-13)
Dạ dày cơ ( gizzard): phần của ống tiêu hoá có thành cơ
khoẻ, hình củ hành để nghiền thức
ăn
Trang 16Nhú phụ sinh dục ( genital marking ): nhú có kích thước hình dạng thay
đổi, nổi trên da và gắn với tuyến phụ nằm bên trong, không gắn với tơ
(H.3A)
Tơ ( chaeta): cơ quan chuyển vận, là điểm tựa khi
giun đào đất và di chuyển trong hang Ở thường có 4 đôi tơ trên các đốt: aa, bb, cc, dd (H 3E)
Túi nhận tinh (spermatheca): cơ quan nhận tinh dịch của đối
phương khi ghép đôi Mỗi túi nhận tinh thường có: ampun, cuống ampun, diverticulum ( có thể có hoặc không )(H.3B)
Túi tinh hoàn (testis sac): túi bao quanh tinh hoàn (H.3C)
Tuyến tiền liệt ( prostate): dạng tuyến bao quanh atrium hoặc
dạng túi đổ vào atrium
Môi (prostomium): mấu lỗ miệng, có 3 kiểu môi: môi
trước ( propilobous ), môi giữa ( epilobous ), môi sau ( tanylobous)
Vách (septa): vách ngăn ngang giới hạn các đốt,
bám vào thành ruột và thành cơ thể
Diverticulum: nằm ở phần cuối cuống ampun, tuỳ
loài mà có hoặc không có Hình dạng có thể khác nhau giữa các loài: hình bầu, hình chuỳ, hình ngón tay, hình sợi(H.3B-15; phụ lục H.1)
* Các từ viết tắt trong phần mô tả
l: chiều dài (mm)
d: chiều rộng, đường kính thân (mm)
số La Mã : số đốt Ví dụ: XX: đốt thứ 20
p: trọng lượng (g) s: số đốt
số Ả Rập: chỉ gian đốt.Ví dụ: 10/11: ở rãnh
Trang 17tính từ phía trước ngăn cách giữa đốt X và XI
α: chiều dài của tế bào cơ dọc (μ)
β: chiều rộng của tế bào cơ dọc (μ)
H : viết tắt của từ Hình
B : viết tắt của từ Bảng
* Các hình vẽ dùng trong mô tả loài
Hình 3: Drawida - A Hình thái ngoài nhìn mặt bụng của phần phía trước cơ
thể; B Túi nhận tinh; C Cơ quan sinh dục đực; D Cấu tạo trong của phần phía
trước cơ thể; E Tên gọi tơ trên mỗi đốt; 1 Miệng; 2.Hầu; 3 Vách ngăn đốt; 4 Ampun;
5 Dạ dày cơ; 6 Ruột; 7 Mạch máu lưng; 8 Túi tinh hoàn; 9 Ống thận; 10 Cuống ampun;
11 Ống dẫn tinh; 12 Lỗ nhận tinh; 13 Penis; 14 Lỗ cái; 15 Diverticulum, 16 Tơ; 17
Tuyến tiền liệt; 18 Atrium; 19 Túi trứng; 20 Nhú phụ.
( Đoạn thẳng dưới mỗi hình tương ứng với 1mm)
1
2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2 2
Trang 18Hình 4: Cấu trúc hiển vi của lớp cơ dọc của loài Drawida
A Lớp cơ dọc kiểu chùm B Lớp cơ dọc kiểu chuyển tiếp C Lớp cơ dọc kiểu lông chim
A
B
C
Trang 19CHƯƠNG 3: ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI CẤU TẠO CỦA CÁC LOÀI DRAWIDA CÓ TRONG SƯU TẬP ĐÃ GẶP Ở VIỆT NAM
1 Mô tả đặc điểm hình thái cấu tạo của các loài Drawida trong sưu tập đã gặp ở Việt Nam
MONILIGASTRIDAE CLAUS, 1880
Drawida Michaelsen, 1900
* Drawida annamensis Michaelsen, 1934
1998, Drawida annamensis, Thái Trần Bái, Drawida ở Đông Dương: 1
Mẫu quan sát: -2 A, Việt Nam, Đà Nẵng, Sơn Trà, rừng cây bụi,
15-3-1998
- 2A, Việt Nam, Đà Nẵng, Sơn Trà, rừng rậm, cây to 400m, 15-3-1998
Mô tả mẫu vật quan sát: 1A, Việt Nam, Đà Nẵng, Sơn Trà, rừng rậm,
cây to 400m, 15-3-1998
● Hình thái ngoài
l: 130mm, d(đốt VII): 10mm, d (đốt XXX): 7mm, s: 304, p: 4,9g
Thân hình trụ, cỡ lớn Phía đầu có đường kính lớn hơn so với giữa và cuối
cơ thể Mầu xám vàng Môi trước hình tim bè ngang (H.5A-1) Không có lỗ lưng
Tơ không thấy trên mẫu quan sát (H.5A)
Đai không rõ, Mô bì ở các đốt X, XI, XII mỏng hơn so với mô bì ở các
đốt I – IX
Đốt phía trước đơn giản, Từ đốt VII mỗi đốt có 2 vành ngăn cách bằng
1 rãnh mảnh Bề rộng các đốt III - X gấp 3 lần các đốt X-XXV, gấp 2 lần so với các đốt phía sau đốt XXV
Lỗ đực có một đôi nằm sâu trong rãnh 10/11, hình mắt nhỏ cách nhau
khoảng 3/8 vòng thân (H 5A)
Lỗ cái có một đôi trong rãnh 11/12, rất khó nhìn thấy trên mẫu quan sát
Lỗ nhận tinh hình mắt nằm trên rãnh 7/8 cùng mức với lỗ đực
Nhú phụ sinh dục không có
●Cấu tạo trong
Trang 20Vách đốt: 3 vách 5/6 – 7/8 rất dày, vách 8/9 dày, vách 9/10 mỏng, các
vách còn lại rất mỏng Các vách trước 5/6 tiêu giảm
Ống tiêu hoá: tuyến hầu rất dày và xốp, nhiều tuyến ở phần trước, tiếp
nối hầu là thực quản từ đốt V – XI có thành dày hơn nhưng hẹp Dạ dày cơ có 3 chiếc nằm trong các đốt XII – XVI có thể tích khác hẳn nhau: dạ dày thứ nhất rất nhỏ, dẹt gần như tiêu biến (H 5D), dạ dày thứ hai có có kích thước trung bình, chiếc thứ 3 phình to có thể tích lớn nhất Ruột mỏng
Hình 5: Drawida annamensis
A Hình thái ngoài nhìn mặt bụng phần phía trước cơ thể; B Túi nhận tinh;
C Cơ quan sinh dục đực; D Cấu tạo trong của phần phía trước cơ thể; 1 Miệng;
2.Hầu; 3 Vách ngăn đốt; 4 Ampun; 5 Dạ dày cơ; 6 Ruột; 7 Mạch máu lưng; 8 Túi tinh hoàn; 9 Ống thận; 10 Cuống ampun; 11 Ống dẫn tinh; 12 Lỗ nhận tinh; 13 Lỗ đực; 14
Lỗ cái; 15 Tuyến tiền liệt; 16 Atrium
( Đoạn thẳng dưới mỗi hình tương ứng với 1mm)
A
6 C
Trang 21Tim: Mạch máu có 4 đôi tim bên trong đốt VI – IX, có hai đôi nối
ngang ở đốt IX, X, nhưng không bám vào vách 8/9, 9/10 Đôi trước nối về phía bụng có cầu nối với mạch thực quản, mạch máu tập trung nhiều ở ở dạ dày cuối và phần ruột
Hệ bài tiết: có túi thận lớn với ống cuộn xoắn nằm ở mặt sau các
vách,không có ở 3 đốt đầu, trong vùng đực và 4-5 đốt cuối Lỗ thận ở bên bụng cách nhau khoảng 2/5 vòng thân
Cơ quan sinh dục đực: có một đôi túi tinh hoàn hình trứng, màu vàng
đục, chiều dài 3mm, chiều rộng 2mm treo trên phần bụng của vách đốt 9/10
Từ mặt bụng của túi tinh hoàn xuất hiện phễu dẫn vào ống dẫn tinh dài 30mm khi căng thẳng, đường kính 0,06mm Ống dẫn tinh bám trên mặt sau của vách 9/10 cuộn xoắn thành búi lớn, nằm dưới túi tinh hoàn và đổ vào phía bên tuyến tiền liệt hình cầu dạng cơ trước khi đổ ra lỗ đực nằm trên đỉnh cơ quan giao phối nằm sâu trong rãnh 10/11 Phần cuối penis phình hình khuy (H.5C)
Túi nhận tinh ampun của túi nhận tinh có một đôi hình đĩa dẹp trước
sau có kích thước bằng khoảng 1/3 túi tinh hoàn, màu vàng sáng nằm sau vách 7/8 Cuống ampun cuộn xoắn đổ trực tiếp ra lỗ nhận tinh ở ngay sau vách 7/8 Không có diverticulum (H.5B)
Cơ quan sinh dục cái trên mẫu quan sát không thấy tuyến trứng, túi
trứng, và cả ống dẫn trứng
Đặc điểm lớp cơ dọc tế bào cơ dọc trên thiết diện cắt ngang hình các đa
giác: chữ nhật, tam giác : α = 20 – 40 μm, β = 10 – 15μm Tế bào cơ nghèo mionem và sắp xếp theo kiểu chùm thứ sinh (H 6)
Trang 22Hình 6: Cấu trúc lớp cơ dọc của Drawida annamensis Michaelsen
● Nhận xét:
- Bổ sung các hình vẽ giải phẫu các vùng sinh dục, và hình vẽ giải phẫu
của vùng nhận tinh, và hình thái giải phẫu loài Drawida annamensis chưa có trong mô tả gốc Drawida annamensis [53]
- Ngoài ra còn xác định được một số biến dị trong loài khi quan sát trên
cá thể: l: 78mm, d: 5mm, s: 250, p:1,7g Phần mặt bụng có các gờ nhô lên như các dấu vết của các đôi tơ bị tiêu giảm với khoảng cách tương ứng là 40/2/25/3 chạy suốt cơ thể tương ứng khoảng cách giữa giữa các đôi tơ aa/ab/bc/cd
Trong quá trình quan sát trên các cá thể, có kết luận giống nhận xét của Michaelsen về đặc điểm tơ của loài bị tiêu biến hoàn toàn [53] Độ dài của đốt và
độ dày mô bì của 10 đốt phía trước khác biệt hẳn với các đốt sau
● Phân bố
Thế giới: chưa gặp
Trong nước (H.7) cho đến này mới chỉ tìm thấy loài này ở:
- Tỉnh Lâm Đồng, Đà Lạt, cao nguyên Lang Biang, độ cao 1500m [53]
- Đà Nẵng, Sơn Trà, rừng cây bụi
100μm
Trang 23Hình 7 Bản đồ phân bố của các loài Drawida đã phân tích ở trong các vùng
trên lãnh thổ Việt Nam
Drawida annamensis Drawida beddardi Drawida chapaensis
Trang 24* Drawida beddardi ( Rosa, 1890 )
Moniligaster beddardi Rosa, 1890: Ann Mus Civ Stc Nat Genova 29: 379
1998, Drawida beddardi (Rosa, 1890), Thái Trần Bái, Drawida ở Đông Dương: 2
Mẫu quan sát: - 2C + 3A, Thái Nguyên, rừng cây bụi, 20-05-1984
- 2A, Việt Nam, Đà Nẵng, Khánh Sơn, Hoà Khánh, ruộng rau, 26-01-1997
- 1C, Bắc Giang, Lục Ngạn, bãi hoang: 2007
- 2C, Bắc Giang, Lục Ngạn, Nghĩa Hồ, ruộng 28 - 7 – 2007
Mô tả mẫu vật quan sát: 1C, Thái Nguyên, rừng cây bụi, 20-05-1984
● Hình thái ngoài
l: 45mm, d: 2,5mm, s: 130, p: 0,2g
Thân hình trụ, cỡ bé, màu trắng hơi xám Môi trước Không có lỗ lưng
Tơ rõ, aa < bc, ab ≤ bc, dd lớn hơn hoặc bằng nửa chu vi vành đốt Tỷ lệ
tương ứng của aa/ab/bc/cd ở đốt VII là 17/3/18/3, và 17/2,5/18/3 trên đốt XI
Đai không rõ, Mô bì ở các đốt X, XI, XII mỏng hơn so với mô bì ở các
đốt I – IX
Đốt phía trước đơn giản, trên đốt VII, VIII có 1 rãnh mảnh chia mỗi đốt
thành hai vành Các đốt IX, X, XI, XII, có hai rãnh mờ chia mỗi đốt thành 3 vành Từ đốt IX về cuối thân không có hiện tượng phân vành
Lỗ đực có một đôi nằm sâu trong rãnh 10/11 trong khoảng bc, nhú đực hình
lưỡi, bờ trước và bờ sau của rãnh đực có mô bì dày hơn vùng xung quanh
Lỗ cái có một đôi trong rãnh 11/12, trong khoảng bc, sát với tơ b, rất
khó nhìn thấy trên mẫu quan sát
Lỗ nhận tinh hình mắt có một đôi nằm sâu trong rãnh 7/8 trong khoảng
cd Bờ trước và sau lỗ nhận tinh mô bì dày và sáng màu
Nhú phụ sinh dục có nhú phụ trên đốt XII trong khoảng aa Nhú phụ
hình tròn, màu sẫm nâu ở giữa (H 8A.19)
Trang 25●Cấu tạo trong
Vách đốt vách 5/6 – 8/9 dày, vách 9/10 mỏng, bao quanh túi tinh hoàn
lớn, các vách còn lại rất mỏng Các vách trước 5/6 tiêu giảm
Ống tiêu hoá tuyến hầu rất dày và xốp, nhiều tuyến ở phần trước, tiếp
nối hầu là thực quản từ đốt V – XI có thành dày hơn nhưng hẹp Dạ dày cơ có
3 chiếc nằm trong các đốt XI – XV có thể tích tương đối đều nhau Ruột thành mỏng, biểu hiện bình thường (H.8D)
Hình 8 Drawida beddardi (Rosa, 1890)
A Hình thái ngoài nhìn mặt bụng phần phía trước cơ thể; B Túi nhận tinh; C
Cơ quan sinh dục đực; D Cấu tạo trong của phần phía trước cơ thể; 1 Miệng; 2.Hầu;
3 Vách ngăn đốt; 4 Ampun; 5 Dạ dày cơ; 6 Ruột; 7 Mạch máu lưng; 8 Túi tinh hoàn; 9 Ống thận; 10 Cuống ampun; 11 Ống dẫn tinh; 12 Lỗ nhận tinh; 13 Lỗ đực; 14 Lỗ cái;
15 Tơ; 16 Tuyến tiền liệt; 17 Atrium; 18 Túi trứng; 19 Nhú phụ.
( Đoạn thẳng dưới mỗi hình tương ứng với 1mm)
Tim mạch máu có 4 đôi, tim bên trong đốt VI – IX, có hai đôi nối ngang ở
đốt IX, X, nhưng không bám vào vách 8/9, 9/10 Đôi trước nối về phía bụng
Trang 26có cầu nối với mạch thực quản, mạch máu tập trung nhiều ở ở dạ dày cuối và phần ruột tiếp giáp
Hệ bài tiết có túi thận lớn với ống cuộn xoắn nằm ở mặt sau các vách,
không có ở 3 đốt đầu, trong vùng đực và 4-5 đốt cuối
Cơ quan sinh dục đực có một đôi túi tinh hoàn hình trứng, màu vàng
đục, chiều dài 1,2mm, chiều rộng 0,9 mm treo trên phần bụng của vách đốt 9/10 Từ mặt bụng của túi tinh hoàn xuất hiện phễu dẫn vào ống dẫn tinh dài 3mm khi căng thẳng, đường kính 0,06mm Ống dẫn tinh bám trên mặt sau của vách 9/10, nằm dưới túi tinh hoàn và đổ vào đỉnh tuyến tiền liệt hình ống dài 0,8mm, đường kính gấp 6 lần đường kính của ống dẫn tinh, tuyến tiền liệt dạng tuyến có màu trắng đục, trước khi đổ ra khoảng giữa cơ quan giao phối hình lưỡi có thể nằm sâu trong rãnh 10/11, hoặc thò ra ngoài (H.8C)
Hình 9: Cấu trúc lớp cơ dọc của Drawida beddardi (Rosa, 1890)
1 Cơ dọc kiểu lông chim, 2 phần lồi hình cầu ở phần cuối vùng nhận tinh
Túi nhận tinh ampun của túi nhận tinh có một đôi hình cầu, đường kính
0,7mm, màu vàng sẫm nằm sau vách 7/8 Cuống ampun cuộn xoắn đổ vào đỉnh phần phình hình quả bầu trước khi đổ ra lỗ nhận tinh ở ngay sau vách 7/8 Không có diverticulum (H 8B)
140μm
1
1
2
Trang 27Cơ quan sinh dục cái túi trứng trong vách XII, kích thước nhỏ, túi trứng
thuôn dài (H.8D)
Đặc điểm cấu trúc cơ dọc (Hình 9) có thiết diện ngang hình lá hẹp: α = 15 -
20μm, β = 2 - 5 μm Tế bào cơ giàu mionem và sắp xếp theo kiểu lông chim
● Nhận xét:
- Phần mô tả, bổ sung các dẫn liệu về các đặc điểm giải phẫu phần đầu, đặc điểm của đốt: đặc điểm phân vành Hình vẽ hình thái và cấu trúc phần cuối vùng nhận tinh và vùng đực (H 8)
- Nhận xét về biến dị trong loài:
Điều thấy rõ nhất về biến dị trong các mẫu thu được về loài ở các sinh cảnh ở Việt Nam là sự xuất hiện nhú phụ sinh dục ( H 8A) không thấy trong
mô tả gốc:
+ 1C, Thái Nguyên, rừng cây bụi, 20-05-1984: l: 45mm, d: 2,1mm, s:
130, p: 0,2g Có 4 dạ dày cơ Có nhú phụ trên đốt XIV trong khoảng aa
+ 1C, 11 - 10 – 1980, Hà Nội, Từ Liêm, bờ ruộng thành trại: cơ quan giao phối hình lưỡi thò ra ngoài Có 4 dạ dày cơ Không có nhú phụ sinh dục
+ 1C, Lục Ngạn, Bắc Giang, bãi hoang: l: 41, d: 2,5mm, s: 130 có một nhú phụ trên đốt X, trong khoảng aa Cá thể cùng nhãn: Có nhú phụ trên đốt
X, trong khoảng bc, lệch về phía bên trái Trên đốt XI có nhú phụ trong khoảng ab, ngay sát dưới lỗ đực Vùng nhận tinh có một nhú phụ trên đốt VIII trong khoảng bc bên trái Dạ dày cơ có 4 chiếc
+ 1C, Bắc Giang, Sơn Đông, Khu bảo tồn thiên nhiên: l: 52mm, d: 2mm, s: 170mm Có một nhú phụ sinh dục lớn trên mỗi đốt X và XI trong khoảng aa
+ 2C, Bắc Giang, Lục Ngạn, Nghĩa Hồ, ruộng 28 - 7 – 2007 Có một nhú phụ trên mỗi đốt X, XI trong khoảng aa
Trang 28- Đặc điểm biến dị nhú phụ sinh dục của Drawida beddardi cho thấy ở
các cá thể thu được ở miền Bắc thường có nhú phụ ở vùng đực và thường có trên đốt X, XI trong khoảng aa Các nhú phụ có kích thước lớn hình tròn, mầu nâu thẫm Các cá thể ở miền khác không thấy có nhú phụ ở các vùng sinh dục
Số lượng dạ dày dao động 3 - 4 chiếc có thể tích đều nhau
♦ Nhận xét phân loại học: các đặc điểm của túi nhận tinh, túi tinh
hoàn, số lượng và vị trí của dạ dày cơ của Drawida beddardi có các đặc điểm giống với Drawida delicata, Drawida rara, Drawida constricta[50]
● Phân bố:
Trên thế giới: Myanma [50], Thái Lan [49],
Trong nước: Vĩnh Phú [37], Hà Nội [13], Bình Trị Thiên [34], Quảng
Nam - Đà Nẵng [18], Long An [?] ( H.7)
Trang 29*Drawida chapaensis Do et Huynh, 1993
Mô tả mẫu quan sát
1C, Lào Cai, Sapa, vườn Quốc gia Hoàng Liên, 15-12-2005 Người lượm: Lê Xuân Tú
● Hình thái ngoài
l: 69mm, d: 7,6mm, s: 89, p: 3,1g
Thân hình trụ, mập, ngắn, màu xanh xám Môi trước
Đai chiếm 8 đốt từ IX- XVI, màu nâu đỏ Mô bì vùng đai rất dày Các đốt
trước đai dài hơn các đốt sau đai
Đốt không phân vành Không có lỗ lưng
Tơ tiêu giảm trên 4 đốt đầu, còn trên các đốt còn lại có 4 đôi tơ, aa > bc
Tỉ lệ khoảng cách aa/ab/bc/cd trên các đốt VII, VIII là 40/2/20/2 trên các đốt
X, XI là 40/2/24/2,5, dd > nửa chu vi đốt (H 10A)
Nhú đực có một đôi hình lưỡi nằm sâu trong gian đốt 10/11, lỗ đực
trong khoảng bc, cách tơ c một khoảng 1/3 khoảng bc (Phụ lục H.2)
Lỗ cái khó quan sát trên mẫu, có một đôi trong gian đốt 11/12, trong
khoảng bc, sát tơ b
Lỗ nhận tinh có một đôi nằm trên gian đốt 7/8, trên đường tơ c Lỗ nhận
tinh có hình bầu dục, mô bì vùng nhận tinh sáng màu Không thấy lỗ bài tiết trên mẫu quan sát
Nhú phụ sinh dục không có nhú phụ sinh dục
Trang 30● Cấu tạo trong
Vách đốt 3 vách 5/6 – 8/9 dày, vách 9/10 mỏng, các vách còn lại rất
mỏng Các vách trước 5/6 tiêu giảm Vách 9/10 nằm ở khoảng 1/3 vách X
Vách 9/10 bao quanh túi tinh hoàn có tác dụng nâng đỡ và bảo vệ
Ống tiêu hoá tuyến hầu dày và xốp, nhiều tuyến ở phần trước, tiếp nối
hầu là thực quản từ đốt V – XI có thành dày hơn nhưng hẹp Dạ dày cơ có 3
chiếc nằm trong các đốt XI – XIV: dạ dày thứ nhất nhỏ, 2 dạ dày sau có kích
thước đều nhau Ruột thành mỏng, biểu hiện bình thường (H.10D)
Tim mạch máu có 4 đôi, tim bên trong đốt VI – IX, có hai đôi nối ngang
ở đốt IX, X nhưng không bám vào vách 8/9, 9/10 Đôi trước nối về phía bụng
có cầu nối với mạch thực quản, mạch máu tập trung nhiều ở ở dạ dày cuối và
phần ruột tiếp giáp
Hệ bài tiết có túi thận lớn với ống cuộn xoắn nằm ở mặt sau các vách,
không có ở 3 đốt đầu, trong vùng đực và 4-5 đốt cuối
Hình 10: Drawida chapaensis Do et Huynh, 1993
A Hình thái ngoài nhìn mặt bụng phía trước cơ thể; B Túi nhận tinh; C Cơ
quan sinh dục đực; D Cấu tạo trong của phần phía trước cơ thể; 1 Miệng; 2.Hầu; 3
Vách ngăn đốt; 4 Ampun; 5 Dạ dày cơ; 6 Ruột; 7 Mạch máu lưng; 8 Túi tinh hoàn; 9
Ống thận; 10 Cuống ampun; 11 Ống dẫn tinh; 12 Lỗ nhận tinh; 13 Lỗ đực; 14 Lỗ cái;
15 Tơ; 16 Atrium; 17 Penis; 18 Túi trứng;
( Đoạn thẳng dưới mỗi hình tương ứng với 1mm)
Trang 31Cơ quan sinh dục đực: Túi tinh hoàn lớn hình trứng, có một đôi treo
trên vách 9/10 đổ ra ống dẫn tinh dài 20mm khi căng thẳng với đường kính khoảng 0,07mm, cuộn xoắn trước khi đổ vào đỉnh tuyến tiền liệt dạng tuyến
có hình chữ S dài 2,5mm, đường kính 0,5mm, tựa trên vách 10/11trước khi đổ
ra vị trí chính giữa của cơ quan giao phối có hình lưỡi (H.10C ; Phụ lục H.4)
Cơ quan sinh dục cái: có hai túi trứng lớn nằm trong đốt X-XIV, có
dạng hình bầu dục xếp đối xứng hai bên so với dạ dày cơ
Túi nhận tinh có ampun hình trứng màu vàng sáng có kích thước 1/2 so
với túi tinh hoàn, nằm sau vách 7/8 có cuống lớn vặn xoắn và đổ vào đỉnh phần phình hình quả bầu có thành cơ rất dày nằm nhô vào thể xoang, không
có diverticulum ở vùng nhận tinh (H.10B)
Hình 11: Cấu trúc lớp cơ dọc của Drawida chapaensis Do et Huynh, 1993
Cấu trúc lớp cơ dọc (H.11): tế bào cơ dọc cấu trúc cắt ngang có thiết
diện hình ovan d: 20-25μm Tế bào cơ dọc sắp xếp kiểu chùm nguyên sinh
● Nhận xét:
Các dẫn liệu về loài này đã được tác giả mô tả giới thiệu trong tạp chí chuyên nghành [27] và đã được Thái trần Bái bổ sung thêm một số dẫn liệu mới: vị trí đổ của cuống ampun vào đỉnh phần phình hình quả bầu (khác với
100μm
Trang 32mô tả gốc là hình chữ U); phần cuối ống dẫn tinh đổ vào tuyến tiền liệt có
hình chữ S (chưa có trong mô tả); tỉ lệ tơ trên các đốt có sai khác[8]
Dựa trên quan sát các mẫu đã được các tác giả mô tả và một số mẫu về
loài mới thu được ở các sinh cảnh khác trên Sapa, nhận thấy: các đặc điểm được
chỉnh lí lại là chính xác Ngoài ra bổ sung thêm các dẫn liệu chi tiết hơn về vùng
nhận tinh và vùng sinh dục đực như về kích thước, màu sắc và hình dạng của túi
tinh hoàn, ampun, tuyến tiền liệt dạng tuyến có hình vẽ kèm theo (H.10C)
Khi quan sát nhận thấy biến dị sai khác về một số các đặc điểm giữa loài ở
các sinh cảnh khác nhau thể hiện rõ như: tuy thân đều hình trụ, mập và ngắn,
nhưng ở các cá thể thu được ở lớp thảm mục trong rừng không thấy hiện
tượng hai đầu vuốt nhọn như các mẫu thu được ở sinh cảnh ven đường
♦ Nhận xét phân loại học
Đặc điểm của loài gần với Drawida japonica về kích thước cơ thể lớn,
màu sắc, vị trí lỗ đực trong khoảng bc và lỗ nhận tinh trên đường tơ c, vị trí và
số dạ dày trong các đốt XI – XIV [43]
Trang 33* Drawida delicata Michaelsen, 1934
Drawida delicata Gates, 1962: Bull Mus Comp Zool Harvard College 127: 319
1998, Drawida delicata Thái Trần Bái, Drawida ở Đông Dương: 4
Mẫu quan sát:
- Hà Bắc, Lục Ngạn, bờ suối, 1C, 5 – 1993, vườn, 1C, 11-5-1992
- Đảo Cát Bà, thị trấn, 1C+1A; Việt Hải, trong rừng, trong gỗ mục 8-1989
- Sơn La, thị xã, ven suối Nậm Na, 1C, 6-1-1990; Thuận Châu, ven suối: 2A+2C, 12-5-1991; Xuân Nha, Mộc Châu, vườn chuối, 1A, 13-11-1991
- Hoà Bình, Cao Phong, đất trồng trên nền rừng, 30-1-1991
- Quảng Nam, Đà Nẵng, Hoà Vang, Bà Nà, đất ruộng, 7-1-1990; Tiên Sơn, Tiên Phước, Vườn cây lâu niên, 12-9-1994; PTCS Quế Thọ, Hiệp Đức,
bờ giếng, 13-9-1994
- Quảnh Bình, Lý Hoà, cạnh giếng, bên bụi chuối, 18-8-1980; Tân Trạch, bờ khe, 19-5-1991; thị trấn Giàng, rìa đường, 28-9-1994
- Quảng Trị, Lao Bảo, sông Sêpôn, 22-3-1984
Mô tả mẫu quan sát:
1C, Quảng Nam, thị trấn Giàng, rìa đường, 28-9-1994
● Hình thái ngoài
l: 32mm, d: 1,7mm, s: 115, p: 0,1g
Thân hình trụ, cỡ bé, màu xám nhạt Môi trước.Không có lỗ lưng, da nhẵn Đai chiếm 1/2 IX – 1/3 XIV, màu nâu đỏ, biểu mô vùng đai dày
Tơ rõ, có ở tất cả các đốt, tơ vùng đai mờ hơn các đốt khác, aa<bc,
ab=cd, khoảng cách giữa các tơ aa/ab/bc/cd trên đốt VII có tỉ lệ 11/2/14/2, dd
< 1/2 chu vi
Lỗ đực có một đôi nằm sâu trong rãnh 10/11, trong khoảng bc cách tơ
b,c theo tỉ lệ 3/4 Penis hình lưỡi nằm sâu trong rãnh hoặc thò ra ngoài Bờ trước bờ sau lỗ đực có mô bì dày, màu sáng tạo thành một đệm tròn có khi chiếm cả chiều rộng của đốt (H.12A-13)
Lỗ cái có một đôi trong rãnh 11/12, rất khó nhìn thấy trên mẫu quan sát
Trang 34Lỗ nhận tinh có một đôi hình bầu dục rõ, nằm trên rãnh 7/8, trong
khoảng cd (H.12A-12)
Đốt từ đốt VII-XIII trên mỗi đốt có 1 rãnh mảnh chia đốt ra thành hai
vành, từ đốt XIV trở về sau trên mỗi đốt có hai rãnh mảnh chia mỗi đốt thành
3 vành đều nhau
Nhú phụ sinh dục không có
● Cấu tạo trong
Vách đốt: Các vách trước 5/6 tiêu giảm, 3 vách 5/6 - 8/9 dày, từ vách
9/10 về sau mỏng (H.12D)
Ống tiêu hoá tuyến hầu dày và xốp, nhiều tuyến ở phần trước, tiếp nối
hầu là thực quản từ đốt V – XI có thành dày hơn nhưng hẹp Dạ dày cơ có 3 chiếc nằm trong các đốt XII – XVI có thể tích tương đối đều nhau Ruột thành mỏng, biểu hiện bình thường
Hinh 12 : Drawida delicata Michaelsen, 1934
A: Hình thái ngoài nhìn mặt bụng của phần phía trước cơ thể; B: Túi nhận tinh; C: Cơ quan sinh dục đực; D: Cấu tạo trong của phần phía trước cơ thể; 1
Miệng; 2.Hầu; 3 Vách ngăn đốt; 4 Ampun; 5 Dạ dày; 6 Ruột; 7 Mạch máu lưng; 8 Túi tinh hoàn; 9 Ống thận; 10 Cuống ampun; 11 Ống dẫn tinh; 12 Lỗ nhận tinh; 13 Lỗ đực,
14 Lỗ cái; 15 Tơ; 16 Tuyến tiền liệt; 17 atrium; 18 tuyến trứng; (Thước dưới mỗi hình tương ứng 1mm)
Trang 35Tim mạch máu có 4 đôi, tim bên trong đốt VI – IX, có hai đôi nối ngang
ở đốt IX, X, nhưng không bám vào vách 8/9, 9/10 Đôi trước nối về phía bụng
có cầu nối với mạch thực quản, mạch máu tập trung nhiều ở ở dạ dày cuối và phần ruột tiếp giáp
Hệ bài tiết có túi thận lớn với ống cuộn xoắn nằm ở mặt sau các vách,
không có ở 3 đốt đầu, trong vùng đực và 4-5 đốt cuối
Cơ quan sinh dục đực: có một đôi túi tinh hoàn hình cầu, màu vàng
nhạt, treo trên phần bụng của vách đốt 9/10 Từ mặt bụng của túi tinh hoàn xuất hiện phễu dẫn vào ống dẫn tinh dài 2mm khi căng thẳng, đường kính 0,03mm Ống dẫn tinh bám trên mặt sau của vách 9/10 cuộn xoắn, nằm dưới túi tinh hoàn và đổ vào khoảng giữa tuyến tiền liệt dạng tuyến bao trên atrium hình qủa bầu dạng cơ trước khi đổ ra lỗ đực nằm trên đỉnh cơ quan giao phối nằm sâu trong rãnh 10/11 (H.12C)
Túi nhận tinh: Ampun của túi nhận tinh có một đôi hình dồi ngắn đĩa dẹp
trước sau có kích thước bằng khoảng 1/3 túi tinh hoàn, màu vàng sáng nằm sau vách 7/8 Cuống ampun cuộn xoắn đổ vào phần phình hình quả bầu trước khi đổ
ra ngoài lỗ nhận tinh ở ngay sau vách 7/8 Không có diverticulum (H.12B)
Cơ quan sinh dục cái: túi trứng lớn, hình bầu dục màu vàng sáng có thể
nhìn rất rõ từ mặt lưng ở phía ngoài cơ thể
Đặc điểm lớp cơ dọc: tế bào cơ dọc có thiết diện ngang hình que thẳng, lá hẹp:
α = 30-35μm; β = 3-5μm và nghèo mionem, sắp xếp theo kiểu lông chim (H.13)
Hình 13: Cấu trúc lớp cơ dọc của Drawida delicata Michaelsen, 1934
140μm
Trang 36● Nhận xét:
- Đặc điểm loài trong mô tả gốc của tác giả [50], đã mô tả các đặc điểm
có tính phân loại cao như tỉ lệ tơ, vị trí của các lỗ sinh dục so với các đôi tơ Thái Trần Bái [8] bổ sung thêm dẫn liệu về tỉ lệ các đôi tơ trên các đốt khác nhau, đặc điểm hình thái vùng đực và vùng nhận tinh như đặc điểm mô bì vùng đực và vùng nhận tinh có mô bì dày, vị trí và số lượng của dạ dày cơ trong các đốt XII-XVI
- Dựa trên mẫu quan sát so sánh kết quả nghiên cứu với các đặc điểm
mô tả gốc và mô tả lại, thì thấy không có sai khác biến dị Do đó dựa trên mẫu quan sát đưa ra các mô tả bổ sung về một số đặc điểm như: phân vành trên đốt, về hình dạng và cấu trúc và kích thước của ampun và túi tinh hoàn của vùng nhận tinh và vùng đực có kèm theo hình vẽ minh hoạ (H.12)
Mô tả thêm cấu trúc cơ dọc và có ảnh chụp kích thước hiển vi của cơ dọc (H.13)
♦ Nhận xét về phân loại học: loài có đặc điểm gần với Drawida beddardi Rosa
● Phân bố:
Gặp phổ biến trong mọi sinh cảnh từ đồng bằng đến miền núi
- Trong nước: đồng bằng Sông Hồng [13,25], Tây Bắc [27,28], Hà Bắc, Hải
Phòng (Cát Bà), Bình Trị Thiên [34], Qủang Nam – Đà Nẵng [18] Gia Lai Kon Tum [19], đảo Hòn Tre [11]
- Thế giới: Trung Quốc [56], Myanma [50], Ấn Độ [50], Java, Philipin [50], Lào [17]
Trang 37* Drawida langsonensis Do, 1993
Drawida langsonensis Do, 1993, Tạp chí sinh học, 12 – 1993: 15 (4): 36 - 37;
1998, Drawida langsonensis, Thai Trân Bai, Drawida ở Đông Dương: 5
Mẫu quan sát:
1C, Lạng Sơn, Hữu Lũng, rừng Hữu Liên, độ cao 450m, 15-4-1990 Người lượm: Lại Văn Tạc
Mô tả mẫu quan sát: 1C, Lạng Sơn, Hữu Lũng, rừng Hữu Liên, độ
cao 450m, 15-4-1990 Người lượm: Lại Văn Tạc
● Hình thái ngoài
l: 130mm, d: 9mm, s: 3005, p: 4,7g
Thân hình trụ, màu nâu nhạt đều toàn thân Môi trước Không có lỗ lưng Đai chiếm 6 đốt từ X-XV, nâu thẫm, mô bì vùng đai phẳng
Đốt các đốt trước đai dài hơn các đốt sau đai, các đốt VII, VIII có hai
rãnh mảnh phân các đốt thành 3 vành đều nhau, các đốt IX-XIX có một rãnh mờ chia mỗi đốt thành 2 vành Các đốt còn lại không phân vành
Tơ bé, trên các đốt trước đai tơ tiêu giảm, chỉ bắt đầu có từ đốt XV trở
về sau, aa>bc, ab=cd Tỷ lệ tương ứng của các tơ aa/ab/bc/cd 91/1,5/22/1,5 trên đốt XVII Khoảng cách dd chiếm 2/3 chu vi đốt.(H.14A)
Lỗ đực có một đôi ở gian đốt 10/11, Xung quanh có các phần dầy sáng màu
Lỗ cái ở gian đốt 10/11, gần phía bụng hơn so với lỗ đực
Lỗ nhận tinh có một đôi ở gian đốt 7/8 ở giữa giải mô bì hình lưỡi liềm dày Nhú phụ sinh dục: Không có
● Cấu tạo trong
Vách các vách trước 5/6 tiêu giảm, các vách 5/6-8/9 rất dày, từ vách
9/10 trở về sau mỏng Vách 9/10 ở giữa đốt X
Ống tiêu hoá tuyến hầu dày và xốp, nhiều tuyến ở phần trước, tiếp nối
hầu là thực quản từ đốt V – XI có thành dày hơn nhưng hẹp Có 4 dạ dày cơ trong đốt XIII-XVI, với thể tích tương đối đều nhau Ruột thành mỏng, biểu hiện bình thường (H.14)
Trang 38Tim mạch máu có 4 đôi, tim bên trong đốt VI – IX, có hai đôi nối ngang
ở đốt IX, X, nhưng không bám vào vách 8/9, 9/10 Đôi trước nối về phía bụng
có cầu nối với mạch thực quản, mạch máu tập trung nhiều ở ở dạ dày cuối và phần ruột tiếp giáp
Hệ bài tiết thận lớn nằm trong đốt VII, lỗ thận trên đường tơ b, có túi
thận lớn với ống cuộn xoắn nằm ở mặt sau các vách, không có ở 3 đốt đầu, trong vùng đực và 4-5 đốt cuối
Hình 14: Drawida langsonensis Do, 1993
A Hình thái ngoài nhìn mặt bụng phía trước cơ thể; B Túi nhận tinh; C Cơ quan sinh dục đực; D Cấu tạo trong của phần phía trước cơ thể; 1 Miệng; 2.Hầu; 3
Vách ngăn đốt; 4 Ampun; 5 Dạ dày cơ; 6 Ruột; 7 Mạch máu lưng; 8 Túi tinh hoàn; 9 Ống thận; 10 Cuống ampun; 11 Ống dẫn tinh; 12 Lỗ nhận tinh; 13 Lỗ đực; 14 Lỗ cái;
15 Tơ; 16 Tuyến tiền liệt; 17 Túi trứng.
( Đoạn thẳng dưới mỗi hình tương ứng với 1mm)
Cơ quan sinh dục đực túi tinh hoàn lớn hình bầu dục treo trên vách
9/10, ống dẫn tinh ngắn đổ ra đỉnh tuyến tiền liệt dạng tuyến tạo thành các gờ sần sùi, màu trắng trước khi đổ trực tiếp ra ngoài lỗ đực Không có buồng giao phối và cơ quan giao phối (H.14C; phụ lục2: H.3)
Trang 39Túi nhận tinh: ampun có một đôi hình trứng, cuống ampun lớn, dài,
cuộn xoắn trước khi đổ vào khoảng giữa atrium của vùng nhận tinh có dạng hình chuỳ ngắn với bề mặt hơi sần sùi (H.14B)
Túi trứng lớn nằm trong đốt X-XV, thuôn hình bầu dục nằm đối xứng
hai bên dạ dày (H.14D)
Đặc điểm lớp cơ dọc: Tế bào cơ dọc có thiết diện ngang như hình đa
giác α=10-15μ, β=5-10μ Tế bào cơ dọc nghèo mionem và sắp xếp theo kiểu chùm thứ sinh (H.15)
Hình 15: Cấu trúc lớp cơ dọc của Drawida langsonensis Do et Huynh
● Nhận xét:
- Trong mô tả gốc [27], đặc điểm tơ chưa được mô tả rõ về tỉ lệ các đôi
tơ trên các đốt Đặc điểm tơ tiêu giảm ở 14 đốt phía trước cơ thể là một đặc điểm quan trọng trong phân loại loài trong giống Drawida Các đặc điểm của cuối vùng đực và vùng nhận tinh: vị trí đổ ra của cuống ampun và ống dẫn tinh chưa được đề cập tới trong mô tả gốc và đã được Thái Trần Bái mô tả bổ sung trong mô tả của mình [8]
- Trên mẫu quan sát, nhận thấy các mô tả bổ sung chính xác và cần thiết và dựa trên mẫu quan sát và tiêu bản cắt của mẫu qua vùng đực của trung tâm bổ sung thêm vào phần mô tả các hình vẽ và ảnh chụp phần cuối của cơ quan sinh dục đực của loài (H.14; phụ lục H.3) Cũng đưa thêm dẫn liệu đặc điểm của lớp cơ dọc để góp phần tu chỉnh cho các đặc điểm sinh thái của loài sau này
100μm
Trang 40- Đặc điểm đặc biệt của loài này là tơ bị tiêu biến trên các đốt trước đai
và tại vùng đai Không những thế mà toàn bộ vùng sinh dục đều có sự tiêu giảm về buồng giao phối và buồng nhận tinh, và đặc biệt là không có cơ quan giao phối
♦ Nhận xét về phân loại học: loài gần với Drawida chapaensis Do et
Huynh, 1993, về kích thước cơ thể, kiểu môi, đặc điểm vách đốt, hình dạng túi nhận tinh và túi tinh hoàn nhưng khác với loài này về các đặc điểm sau:
- Hai đầu cơ thể hình trụ và không có dạng vuốt nhọn, lỗ nhận tinh và lỗ đực không quan sát được từ phía ngoài
- Khác về hình thái tuyến tiền liệt và không có atrium ở vùng đực, và phần cuối vùng nhận tinh