1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhận thức của học sinh trường THPT Nguyễn Trường Tộ (TP.Vinh - Nghệ An) và vấn đề bạo lực học đường

133 1,7K 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 133
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

+ Một số đặc điểm tâm-sinh lý của học sinh lứa tuổi PTTH * Nghiên cứu thực tiễn: - Khảo sát thực trạng nhận thức của học sinh trường THPT Nguyễn Trường Tộ TP.Vinh-Nghệ An về bạo lực học

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-*** -

NGUYỄN THỊ THÙY DUNG

NHẬN THỨC CỦA HỌC SINH TRƯỜNG THPT NGUYỄN TRƯỜNG TỘ (TP VINH – NGHỆ AN)

VỀ VẤN ĐỀ BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC TÂM LÝ

HÀ NỘI – 2012

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-*** -

NGUYỄN THỊ THÙY DUNG

NHẬN THỨC CỦA HỌC SINH TRƯỜNG THPT NGUYỄN TRƯỜNG TỘ (TP VINH – NGHỆ AN)

VỀ VẤN ĐỀ BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Tâm lý học

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phan Thị Mai Hương

Hà Nội – 2012

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan những kết quả đạt được trong nghiên cứu này hoàn toàn mới, không có sự sao chép của các nghiên cứu khác Các kết quả nghiên cứu khoa học trên chưa từng được công bố hay sử dụng trong bất kể hình thức nào

Lời cam đoan trên là đúng sự thật và Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm với lời nói của mình

Học viên

NguyÔn ThÞ Thïy Dung

Trang 4

Lêi c¶m ¬n

Sau một thời gian làm việc tích cực và nghiêm túc, luận văn “Nhận thức

của học sinh trường THPT Nguyễn Trường Tộ (TP.Vinh- Nghệ An) về vấn đề bạo lực học đường” đã được hoàn thành Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc

đến PGS.TS Phan Thị Mai Hương- người đã nhiệt tình, tâm huyết truyền lại

cho tôi những mạch tri thức khoa học đồng thời hướng dẫn từng nội dung, phương pháp nghiên cứu để luận văn được hoàn thiện

Tôi cũng xin cảm ơn các thầy cô giáo khoa Tâm lý học Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội đã ân cần dạy dỗ và truyền đạt những tri thức quí báu trong suốt những năm qua, để tôi có thể hoàn thành tốt khoá học của mình

Mặc dù đã cố gắng hết sức nhưng vì thời gian có hạn, trình độ, năng lực của bản thân còn nhiều hạn chế nên đề tài không tránh khỏi còn nhiều thiếu sót Rất mong nhận được những lời góp ý của các thầy cô giáo khoa Tâm lý học để được rút kinh nghiệm cho những lần nghiên cứu sau đạt kết quả tốt hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 29 tháng 02 năm 2012

Học viên

NguyÔn ThÞ Thïy Dung

Trang 5

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLHĐ : Bạo lực học đường GD&ĐT : Giáo dục và đào tạo

HS THPT : Học sinh Trung học phổ thông THPT : Trung học phổ thông

THCS : Trung học cơ sở WHO : World Health Organization (Tổ

chức Y tể Thế giới)

Trang 6

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 4

5 Giả thuyết khoa học 5

6 Phương pháp nghiên cứu 5

PHẦN NỘI DUNG 6

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 6

1.1 Tổng quan một số vấn đề nghiên cứu về bạo lực học đường 6

1.1.1 Một số công trình nghiên cứu về bạo lực học đường trên thế giới 6

1.1.2 Một số công trình nghiên cứu về bạo lực học đường ở Việt Nam 11 1.2 Khái niệm bạo lực học đường 15

1.2.1 Khái niệm 15

1.2.2 Các hình thức bạo lực học đường 17

1.2.3 Nguyên nhân của BLHĐ 18

1.2.4 Hậu quả của BLHĐ 22

1.2.5 Cách phòng tránh BLHĐ 22

1.3 Nhận thức về BLHĐ của học sinh THPT 23

1.3.1 Khái niệm nhận thức 23

1.3.2 Đặc điểm tâm-sinh lý của học sinh lứa tuổi THPT 31

CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37

2.1 Khái quát về địa bàn nghiên cứu và khách thể nghiên cứu 37

2.2 Tổ chức nghiên cứu 38

2.3 Phương pháp nghiên cứu 39

2.3.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 39

Trang 7

2.3.2 Phương pháp điều tra bảng hỏi 39

2.3.3 Phương pháp thống kê toán học 40

2.3.4 Phương pháp phỏng vấn sâu 40

2.3.5 Phương pháp quan sát 40

2.4 Tiến trình nghiên cứu 41

2.5 Mô tả mẫu nghiên cứu 41

CHƯƠNG III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN 43

3.1 Nhận thức về khái niệm Bạo lực học học đường 43

3.2 Nhận thức về các hình thức Bạo lực học đường 47

3.2.1 Nhận thức về hình thức Bạo lực học đường về mặt thể chất 48

3.2.2 Nhận thức về hình thức Bạo lực học đường về tinh thần 51

3.2.3 Bạo lực về kinh tế (vật chất) 53

3.3 Nhận thức về các nguyên nhân của Bạo lực học đường 55

3.3.1 Nguyên nhân từ phía chủ thể (bản thân học sinh) 55

3.3.2 Nguyên nhân từ những tác động khách quan bên ngoài đến hành vi Bạo lực học đường của học sinh 62

3.4 Nhận thức về hậu quả của Bạo lực học đường đối với học sinh 80

3.5 Nhận thức về cách phòng tránh Bạo lực học đường 86

3.5.1 Nhận thức những cách phòng tránh từ phía học sinh 86

3.5.2 Nhận thức về vai trò của gia đình, nhà trường và xã hội để hạn chế bạo lực học đường 93

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 111 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Tình trạng bạo lực học đường đã và đang bộc phát ở mức độ báo động

và rất cần được xã hội nhìn nhận như là một tệ nạn cần phải “chống” Có thể xem vấn nạn bạo lực học đường như những “cơn sóng ngầm”, bởi đâu đó trong môi trường giáo dục lại dấy lên những vụ việc học sinh gây hấn, hành hung lẫn nhau… Những xô xát tưởng chừng như rất trẻ con ấy trong thời gian gần đây đã trở thành một hiện tượng có khả năng lây lan rộng với mức độ ngày càng nghiêm trọng

Việc hàng nghìn vụ học sinh đánh nhau mỗi năm và tính chất vụ việc ngày càng nặng tính “côn đồ” đã ảnh hưởng tới tâm lý và sức khoẻ, thậm chí

cả tính mạng của học sinh Tại Hội thảo về giải pháp nâng cao hiệu quả công tác giáo dục đạo đức, lối sống, phòng chống tội phạm, bạo lực học đường do

Bộ GD&ĐT tổ chức cuối năm 2009, Ông Phùng Khắc Bình- Vụ trưởng Vụ Công tác học sinh, sinh viên (Bộ GD&ĐT) cho biết: “Tình trạng học sinh phổ thông bỏ học (có trường hợp vẫn đang đi học) sống lang thang, thông qua Internet để kết thành băng nhóm sử dụng ma tuý, gây ra nhiều vụ gây rối trật

tự xã hội, cướp tài sản có xu hướng tăng”

Bạo lực học đường không chỉ là những hiện tượng cá biệt mà giờ đây

đã trở thành vấn nạn của toàn xã hội Trên tất cả các trường học đều xuất hiện bạo lực học đường Tuy mức độ có khác nhau nhưng cả thành thị và nông thông, cả đồng bằng và miền núi các vụ liên quan đến bạo lực học đường đều gia tăng đáng kể

Học sinh lứa tuổi Phổ thông trung học (16-18), luôn được gia đình, nhà trường và xã hội dành cho một sự quan tâm lớn, bởi các em chính là tương lai của đất nước Trong bối cảnh văn hóa-xã hội có nhiều thay đổi hiện nay, các

Trang 9

em có điều kiện thuận lợi để học tập, vui chơi nhưng đồng thời cũng chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố dễ gây nên những hành vi sai lệch, phá vỡ những giá trị đạo đức và chuẩn mực xã hội

Đây là lứa tuổi bước đầu tiếp xúc đa dạng với thế giới xung quanh Các

em có nhu cầu cao trong khẳng định bản thân và có xu hướng thiên về bạn bè hơn là cha mẹ Do vậy việc thiếu vắng sự quan tâm từ cha mẹ, hoàn cảnh gia đình không thuận lợi; sự lôi kéo, rủ rê từ nhóm bạn bè xấu; biện pháp giáo dục chưa hiệu quả của nhà trường và những ảnh hưởng tiêu cực khác từ môi trường xã hội… Là những nguyên nhân chủ yếu làm cho các em có những biểu hiện tiêu cực trong bạo lực học đường như: xô xát, gây hấn, lăng nhục bạn bè…, nghiêm trọng hơn có thể dẫn tới hành vi gây chết người Hậu quả là nhiều em bị truy tố trước pháp luật và phải chịu trách nhiệm hình sự

Trong những năm trở lạ đây, các phương tiện thông tin đại chúng liên tục có những bài viết phóng sự về thực trạng học sinh Phổ thông trung học có những biểu hiện sa sút tinh thần, mờ nhạt về lý tưởng, yếu kém về đạo đức… Thực trạng bạo lực học đường tăng cả về số lượng lẫn tính chất nguy hiểm Ông Phùng Khắc Bình cho biết: “Thống kê từ 38 Sở GD&ĐT gửi về Bộ từ năm 2003 đến nay có tới hơn 8.000 vụ học sinh tham gia đánh nhau và bị xử

lý kỷ luật”

Mỗi thời kỳ trong đời sống con người, sự phát triển về thể chất, tâm lý

và nhân cách có những quy luật riêng Lứa tuổi vị thành niên là giai đoạn phát triển rất cao về thể chất và có những biến chuyển tâm lý hết sức phức tạp Chính yếu tố chưa hoàn thiện đó khiến cho các em trong lứa tuổi này thường

bị khủng hoảng về tâm lý, dẫn đến những suy nghĩ và hành động sai lệch

Đi sâu vào nghiên cứu hành vi bạo lực học đường của học sinh là một vấn đề cấp bách và ngày càng trở nên cấp thiết trong thời đại ngày nay, khi con người được coi là động lực, là mục tiêu hàng đầu trong chiến lược phát

Trang 10

triển của mỗi quốc gia Qua đó có thể thấy, giáo dục đạo đức cho thanh thiếu niên phải được đặt lên hàng đầu, nhằm giúp các em có được hiểu biết và cách nhìn nhận sâu sắc hơn về cuộc sống, nâng cao ý thức của các em trong học tập và rèn luyện vì mục tiêu xây dựng, phát triển đất nước tiến lên theo con đường chủ nghĩa xã hội

Các cơ quan ngôn luận đã tốn không ít giấy mực nhắc tới vấn đề bạo lực học đường Một trong những nguyên nhân dẫn đến bạo lực học đường là yếu tố nhận thức Việc phân tích nhận thức dẫn đến hành vi bạo lực học đường có ý nghĩa quan trọng giúp chúng ta có thể định hướng và đưa những giải pháp cụ thể để góp phần ngăn chặn triệt để hành vi bạo lực học đường

Với ý nghĩa đó, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nhận thức của học sinh trường THPT Nguyễn Trường Tộ (TP.Vinh-Nghệ An) về vấn đề bạo lực học đường” Nhằm góp thêm tiếng nói vào quá trình xây dựng một môi trường học đường lành mạnh

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

* Nghiên cứu về mặt lý luận:

- Tìm hiểu lịch sử nghiên cứu vấn đề bạo lực học đường của học sinh lứa tuổi PTTH

- Làm rõ các khái niệm cơ bản của đề tài:

+ Khái niệm nhận thức

+ Khái niệm Bạo lực học đường

Trang 11

+ Một số đặc điểm tâm-sinh lý của học sinh lứa tuổi PTTH

* Nghiên cứu thực tiễn:

- Khảo sát thực trạng nhận thức của học sinh trường THPT Nguyễn Trường Tộ (TP.Vinh-Nghệ An) về bạo lực học đường với các nội dung:

+ Nhận thức về khái niệm bạo lực học đường

+ Nhận thức về hình thức bạo lực học đường

+ Nhận thức về nguyên nhân bạo lực học đường

+ Nhận thức về hậu quả của bạo lực học đường

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Nhận thức của học sinh trường THPT Nguyễn Trường Tộ (TP Nghệ An) về bạo lực học đường

- 3 Giáo viên: • 2 Giáo viên Chủ nhiệm

• 1 Giáo viên phụ trách giáo dục đạo đức học sinh

Trang 12

5 Giả thuyết khoa học

Nhận thức của học sinh trường THPT Nguyễn Trường Tộ (TP.Vinh – Nghệ An) về bạo lực học đường còn đơn giản và thiếu hiểu biết Mức độ nhận thức về các nội dung của vấn đề bạo lực học đường chưa sâu sắc, chưa nắm được bản chất của: khái niệm, các hình thức, các nguyên nhân, hậu quả và cách phòng tránh bạo lực học đường

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu

6.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (Anket)

6.3 Phương pháp phỏng vấn

6.4 Phương pháp quan sát

6.5 Phương pháp thống kê toán học

Trang 13

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 Tổng quan một số vấn đề nghiên cứu về bạo lực học đường

1.1.1 Một số công trình nghiên cứu về bạo lực học đường trên thế giới

Trong những năm gần đây, thanh thiếu niên là mối quan tâm lớn của các nhà nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau, bởi đây là lứa tuổi đặc biệt trong sự phát triển nhân cách con người và có hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội có xu hướng ngày càng tăng Từ năm 1950 trở lại đây, cứ 5 năm Liên hợp quốc lại thảo luận về các biện pháp phòng ngừa tội phạm do trẻ vị thành niên gây ra [2; 3]

Qua khảo sát các công trình nghiên cứu có thể chia theo các hướng nghiên cứu chính như sau:

* Nghiên cứu về các nguyên nhân dẫn tới bạo lực học đường:

Nhà tâm lý học tội phạm Đonvonga (Liên Xô cũ) cho biết: ảnh hưởng của nhóm bạn không chính thức tiêu cực đến hành vi phạm pháp của trẻ em được thể hiện qua bốn điểm sau: một là, các nhóm tiêu cực là cơ sở hình thành quan điểm và định hướng dẫn đến hành vi phạm pháp; hai là, trẻ vị thành niên tuân theo những quyết định của nhóm dù bản thân có quan điểm riêng Sự phục tùng này lúc đầu có thể là hình thức, nhưng dần dần có thể làm thay đổi định hướng bên trong; ba là, việc tham gia vào nhóm bạn tiêu cực có tác dụng làm tăng động cơ thực hiện tội phạm và làm cho cá nhân cảm thấy tinh thần trách nhiệm đối với hành vi của mình giảm đi; bốn là, nhóm bạn tiêu cực có vai trò quan trọng trong việc loại trừ nỗi sợ hãi của các thành viên trước sự phạt của pháp luật [6; 45]

Ngoài ra, còn có thể kể đến những công trình tiêu biểu khác về hành vi

bắt nạt học đường như “Liên hệ giữa thừa cân và béo phì với các hành vi bắt

Trang 14

nạt ở trẻ em tuổi đi học” ở Canada do Janssen và cộng sự tiến hành năm 2004

Nghiên cứu đã cho thấy mối liên quan giữa những trẻ em bị béo phì và nguy

cơ trở thành nạn nhân của hành vi bắt nạt học đường Những trẻ em này bị bắt nạt nhiều hơn so với trẻ em có cân nặng bình thường Hành vi bắt nạt có thể là việc gọi hay trêu chọc hoặc đánh, đá, hoặc đẩy nạn nhân Hoặc thời gian xa hơn là công trình nghiên cứu do Nansel TR và công sự tiến hành năm 2001

với chủ đề “Hành vi bắt nạt trong giới trẻ Mỹ: Sự phổ biến và mối liên hệ với

điều chỉnh tâm lý xã hội” đã đưa ra kết luận: Tại Hoa Kì, sự phổ biến trong

hành vi bắt nạt giữa thanh thiếu niên là đáng kể Những vấn đề về bắt nạt là những vấn đề đáng được lưu tâm, cho cả các nghiên cứu trong tương lai và can thiệp dự phòng…

* Nghiên cứu về thực trạng bạo lực học đường:

Năm 2008 có một cuộc khảo sát trên quy mô lớn của Trung tâm kiểm

soát và phòng ngừa bệnh tật (CDC) tại Mỹ có tên “Hiểu biết về bạo lực học

đường” (Underdtanding school vilolence) Đây là một trung tâm lớn về lĩnh

vực Y tế của Hoa Kỳ Để thực hiện nghiên cứu này, trung tâm đã sử dụng phương pháp khảo sát, trưng cầu ý kiến và phân tích tài liệu Trên cơ sở những thông tin thu thập được, nghiên cứu này đã chỉ ra được thực trạng quy

mô bạo lực học đường diễn ra tại các trường phổ thông trung học trong những giai đoạn khác nhau ở Mỹ, trong đó đặc biệt là từ năm 2005-2007 Nghiên cứu đã đưa ra những con số thống kê về tình trạng về môi trường học đường, những hành vi đe dọa, những trường hợp bạo lực không gây tử vong và những trường hợp bạo lực gây tử vong

Qua những con số này, Trung tâm đã đưa ra kết luận rằng tình trạng bạo lực học đường tại Mỹ đang ngày càng gia tăng và mức độ nguy hiểm, tính trầm trọng của nó ngày càng cao Bên cạnh đó, nghiên cứu còn chỉ ra những nhân tố nguy hại tới tội phạm bạo lực ở giới trẻ Đó chính là những nhân tố có

Trang 15

tác động mạnh mẽ góp phần gây nên và làm tăng tình trạng bạo lực học đường như nhân tố cá nhân, các mối quan hệ thân cận và nhân tố xã hội, cộng đồng Đồng thời, nghiên cứu cũng phân tích những tác động trước mắt và lâu dài của bạo lực học đường đến học sinh phổ thông trung học nói riêng và toàn

xã hội nói chung

Từ đó, nghiên cứu đề xuất những biện pháp nhằm phòng ngừa bạo lực học đường cho toàn xã hội Có thể nói đây là một nghiên cứu hây và thiết thực, không chỉ đối với Mỹ mà còn đối với các nước khác

Năm 2010, báo cáo có tên “Understanding school violence” (Hiểu biết

về bạo lực học đường) của tổ chức Center for disease control and prevention

(Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa bệnh tật) đã chỉ ra một thực trạng đáng báo động về bạo lực học đường ở Mỹ: Năm 2007, một cuộc khảo sát về các hành vi có tính chất đe dọa được tiến hành trên phạm vi toàn quốc về học sinh

từ lớp 9 đến lớp 12 cho thấy có 5,9% học sinh mang theo vũ khí (như súng, dao, gậy, dùi cui…) tới trường trong vòng 30 ngày trước cuộc khảo sát; Có 7,8% học sinh bị đe dọa hoặc bị thương do những vũ khí mang đến trường trong vòng 12 tháng trước cuộc khảo sát; Có 12,4% học sinh là nạn nhân của trận gây hấn về thể chất ở trường học trong vòng 12 tháng trước cuộc khảo sát

và có 22,3% học sinh được người khác mời, bán hoặc cho thuốc gây nghiện ở trường học trong vòng 12 tháng trước cuộc khảo sát; Năm 2006, có 29 trên

1000 học sinh là tội phạm học đường về hành vi bạo lực trong đó có cả hiếp dâm, ăn cướp, đánh nhau Đến năm 2007, khoảng 32% học sinh cho biết rằng

họ đã bị bắt nạt trong năm học [23]

* Nghiên cứu về các hành vi lệch chuẩn dẫn tới bạo lực học đường:

Ở các nước phương Tây có một số công trình nghiên cứu về hành vi lệch chuẩn của học sinh, về tình trạng bắt nạt học đường tiêu biểu có thể kể

đến những nghiên cứu sau:

Ở Canada, hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội đang trở thành một vấn

đề đáng lo ngại của cả quốc gia và nỗi quan tâm hàng đầu của các nhà giáo

Trang 16

dục Qua kết quả khảo sát với 3700 học sinh ở độ tuổi từ 9-16 cho thấy: 2/3

số trẻ em gái 9 tuổi là nạn nhân của bạo lực học đường và 8% muốn tự sát.[2; 4]

Một công trình nghiên cứu của Glew GM và các cộng sự tiến hành năm

2005 trên 3530 học sinh lớp ba, lớp bốn, lớp năm tại Mỹ với đề tài “Bắt nạt,

tâm lý xã hội điều chỉnh và kết quả học tập ở trường tiểu học” với mục tiêu

xác định tỷ lệ bắt nạt trong trường tiểu học và mối liên quan của nó với nhà trường, thành tích học tập, hành động kỷ luật, và cảm giác của bản thân: cảm giác buồn, an toàn, và phụ thuộc

Kết quả của nghiên cứu cho thấy 23% trẻ em được khảo sát đã từng tham gia bắt nạt, hoặc đã từng là kẻ bắt nạt, nạn nhân, hoặc cả hai Nạn nhân

và kẻ bắt nạt là nạn nhân có thành tích học tập thấp hơn so với những người ngoài cuộc Tất cả 3 nhóm nêu trên đều có cảm giác không an toàn khi ở trường học hơn so với những đứa trẻ ngoài cuộc Nạn nhân và kẻ bắt nạt nạn nhân cho biết, họ cảm thấy rằng họ không thuộc về trường học Họ thường cảm thấy buồn bã nhiều hơn với so với những đứa trẻ bình thường Những kẻ bắt nạt và nạn nhân của hành vi bắt nạt chủ yếu là nam giới

Tác giả đã đưa ra kết luận: Tỷ lệ bắt nạt thường xuyên của các học sinh tiểu học là đáng kể Đồng thời, mối liên hệ giữa hành vi bắt nạt đã chỉ ra rằng đây là một vấn đề nghiêm trọng trường tiểu học Các nghiên cứu được trình bày trong tài liệu này cho thấy sự cần thiết phải có các chương trình giảng dạy chống bạo lực dựa trên bằng chứng ở bậc tiểu học [22]

“Bắt nạt, bạo lực và hành vi nguy hiểm ở học sinh trung học Nam Phi”

là tên một đề tài nghiên cứu về bạo lực học đường được Liang H và cộng sự được tiến hành tại Anh năm 2007 Nghiên cứu nhằm kiểm tra tỉ lệ của hành vi bắt nạt của 5074 học sinh vị thành niên đang học lớp 8 (tuổi trung bình 14.2 năm) và lớp 11 (tuổi trung bình 17.4 tuổi) ở 72 trường học ở Cape và Durban,

Trang 17

Nam Phi Làm rõ mối liên quan giữa những hành vi này với mức độ bạo lực

và các hành vi nguy hiểm ở thanh thiếu niên

Kết quả cho thấy: Hơn 1/3 (36.3%) sinh viên đã tham gia vào hành vi bắt nạt 8.2% là kẻ bắt nạt, 19.3% là nạn nhân và 8.7% kẻ bắt nạt là nạn nhân (những người đi bắt nạt người khác và bị những người khác bắt nạt) Nam sinh viên dễ trở thành thủ phạm và nạn nhân của hành vi bắt nạt, bên cạnh đó, các bạn trai trẻ tuổi dễ trở thành là nạn nhân của hành vi bắt nạt học đường Bạo lực và hành vi chống lại xã hội đã được tăng lên trong hành vi bắt nạt Nghiên cứu cũng cho thấy kẻ bắt nạt là nạn nhân thường thể hiện hành vi bạo lực, chống đối xã hội và có những hành vi nguy hiểm hơn so với kẻ bắt nạt

Kẻ bắt nạt là nạn nhân có ý định tử tự và hút thuốc nhiều hơn so với nạn nhân Nghiên cứu cho rằng hành vi bắt nạt là một vấn đề khá phổ biến của trẻ Nam Phi Hành vi bắt nạt cũng được xem như là một chỉ báo của các hành vi bạo lực, chống đối xã hội và hành vi nguy hiểm [5]

* Nghiên cứu về các hình thức của biểu hiện bạo lực học đường:

Công trình nghiên cứu của Wang.J và cộng sự năm 2009 được tiến

hành tại Mỹ với đề tài: “Bắt nạt trường học trong thanh thiếu niên tại Hoa

Kỳ: thể chất, bằng lời nói, quan hệ, và trên Internet” đã nghiên cứu 4 hình

thức của hành vi bắt nạt trong trường học ở nhóm thanh thiếu niên Mỹ và mối liên quan với các đặc điểm về mặt nhân học xã hội, hỗ trợ của cha mẹ, và bạn

bè đã được khảo sát

Kết quả của nghiên cứu cho thấy rằng tỷ lệ về hành vi bắt nạt người khác hoặc đã từng bị bắt nạt ở trường học ít nhất một lần trong 2 tháng gần đây là 20.8% về mặt thể chất, 53.6% bằng lời nói, 51.4% về mặt xã hội, hoặc 13.6% về các trò chơi trên Internet Các bạn trai dính líu nhiều hơn vào bắt nạt thể chất hoặc bằng lời nói, trong khi các bạn gái thì bị dính líu nhiều hơn đến các kiểu bắt nạt khác Các bạn nam có xu hướng là người đi bắt nạt qua

Trang 18

mạng, trong khi các bạn gái có xu hướng là nạn nhân của hiên tượng bắt nạt

đó Thanh thiếu niên người Mỹ gốc Phi đã tham gia bắt nạt nhiều hơn (về mặt thân thể, lời nói, hay qua mạng), nhưng lại ít trở thành nạn nhân của những hình thức bắt nạt (bằng lời nói hoặc quan hệ) Nghiên cứu cho thấy, sự hỗ trợ của cha mẹ có liên quan đến việc thanh thiếu niên ít dính líu đến tất cả các hành vi bắt nạt nêu trên Ngoài ra, việc thanh thiếu niên có nhiều bạn bè sẽ có liên quan đến các hành vi bắt nạt nhiều hơn và họ cũng ít bị bắt nạt hơn về những hình thức như thể chất, bằng lời nói, và quan hệ trừ hình thức bắt nạt qua mạng

Từ kết quả nghiên cứu như trên, tác giả cũng đưa ra những kết luận quan trọng Đó là sự hỗ trợ của cha mẹ có thể bảo vệ thanh thiếu niên khỏi tất

cả bốn hình thức bắt nạt Liên kết bạn bè theo kiểu khác với bắt nạt truyền thống và bắt nạt mạng [22]

Nhìn chung, các nghiên cứu đã phần nào phản ánh được thực trạng bạo lực, bắt nạt học đường ở một số quốc gia trên thế giới, chỉ ra một số hình thức bạo lực, bắt nạt học đường điển hình, ảnh hưởng của hành vi bạo lực, bắt nạt học đường đến tâm lý, thể chất của thanh thiếu niên, chỉ ra một số yếu tố góp phần gia tăng hay giảm thiểu tình trạng bạo lực, bắt nạt học đường (mối quan

hệ bạn bè, sự hỗ trợ của bố mẹ…)

1.1.2 Một số công trình nghiên cứu về bạo lực học đường ở Việt Nam

Hiện nay, mặc dù tại Việt Nam, tình trạng bạo lực học đường được báo chí phản ánh khá nhiều nhưng chưa có nghiên cứu sâu về hành vi gây hấn của thanh niên nói chung và môi trường học đường nói riêng

Trong vòng 10 năm trở lại đây, có thể kể đến một số nghiên cứu nhỏ lẻ, các bài báo khoa học có liên quan đến vấn đề gây hấn trong phạm vi trường

học của học sinh đã được nhắc đến như: Một vài hiện tượng tiêu cực trong

thanh niên Việt Nam hiện nay và công tác giáo dục vận động thanh niên (Lê

Trang 19

Ngọc Dung, Hồ Bá Thông, 2004), Bạo lực với trẻ em gái trong môi trường

trường học (Nguyễn Phương Thảo, Đặc Bích Thủy, Trần Thị Vân Anh,

2005), Tìm hiểu những hành vi sai lệch chuẩn mực của học sinh PTTH Dân

Lập Đinh Tiên Hoàng (Nguyễn Thị Phượng, 2006), Cách thức cha mẹ quan tâm đến con và hành vi lệch chuẩn của trẻ (Lưu Song Hà, 2008)…[29]

* Nghiên cứu về các nguyên nhân dẫn tới bạo lực học đường:

Đề tài “Nguyên nhân dẫn đến bạo lực học đường tại trường trung học

cơ sở Lê Lai- Quận 8- Thành phố Hồ Chí Minh năm 2009” do Lê Thị Hồng

Thắm, Tô Gia Kiên thực hiện Hai tác giả nghiên cứu về lĩnh vực Y tế công cộng Nghiên cứu này được thực hiện bằng phương pháp nghiên cứu định lượng (điều tra bằng bảng hỏi, áp dụng phương pháp chọn mẫu đa dạng và đồng nhất với mục đích kiểm tra chéo các thông tin của các đối tượng cung cấp; nghiên cứu định tính bao gồm phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm

Kết quả nghiên cứu thu được như sau: Các đối tượng nghiên cứu đều cho rằng hành vi bạo lực học đường là những hành vi như kết băng nhóm hăm

he bạn bè, ăn hiếp người nhỏ hoặc yếu thế, có thể là hành vi trấn lột đồ - tiền của bạn khác hoặc thậm chí có thể do ghét nhau lâu ngày nên dẫn đến xô xát đánh nhau hoặc đánh nhau có sử dụng hung khí Đa số các đối tượng cho rằng hành vi chửi nhau và hành vi hiếp dâm không phải là bạo lực học đường Đa

số các đối tượng nghiên cứu đều cho rằng bạo lực học đường ảnh hưởng đến thể chất, tinh thần và xã hội của nạn nhân Đồng thời, nghiên cứu cũng đã chỉ

ra được mối quan hệ giữa các đặc tính cá nhân, xã hội, các mối quan hệ xã hội

và hoàn cảnh gia đình với thái độ của học sinh khi thấy hành vi bạo lực [4]

Mã Ngọc Thể với công trình nghiên cứu “Ảnh hưởng của nhóm bạn

không chính thức đến hành vi phạm pháp của trẻ” (1998), đã nói lên sự nhức

nhối của các nhà nghiên cứu và toàn xã hội trước tình trạng gia tăng hành vi phạm pháp của các em tuổi vị thành niên Qua nghiên cứu 100 học sinh ở

Trang 20

trường giáo dưỡng sô 2- V26- Bộ công an, tác giả đã chỉ ra một số hành vi vi phạm pháp luật mà các em đã thực hiện dưới sự tác động của bạn bè đó là: sử dụng ma túy (7,8%), đánh nhau (19,8%), gây rối trật tự công cộng (12,5%)… Tác còn khẳng định, nhóm bạn không chính thức đóng vai trò quan trọng trong việc tác động tới nhận thức, hành vi của trẻ làm cho trẻ phạm tội một cách từ thụ động tới tự giác (55%) Đối với lứa tuổi 17-18 tình hính phạm pháp giảm xuống còn 17,5% do sự nhận thức về bản thân mình ở lứa tuổi này tốt hơn so với lứa tuổi thiếu niên [7]

TS.Nghiêm Thị Phiến tiến hành nghiên cứu đề tài “Ảnh hưởng của

nhóm bạn bè tới hành vi lệch chuẩn của học sinh” trên 31 học sinh thiếu niên

cá biệt tại trường THCS Thịnh Quang (Hà Nội), đã liệt kê những hành vi lệch chuẩn của nhóm học sinh này và chỉ ra những nguyên nhân dẫn đến các hành

vi đó Tác giả kết luận, hiện tượng bạn bè xấu rủ rê, lôi kéo là một trong những nguyên nhân khá chủ yếu dẫn trẻ tới những hành vi lệch chuẩn [12]

Nguyễn Thị Hoa với công trình nghiên cứu “Hành vi có vấn đề của trẻ

vị thành niên: những ảnh hưởng của bố mẹ” cho thấy: nhân cách và mối quan

hệ của bố mẹ có ảnh hưởng sâu sắc đến hành vi có vấn đề của trẻ vị thành niên Bên cạnh đó, tác giả đã chỉ ra rằng các ứng xử của bố mẹ với con cái trong xã hội hiện nay chủ yếu theo hai xu hướng: bố mẹ thiếu quan tâm, chăm sóc con cái hoặc quá nuông chiều con cái Tác giả kết luận rằng, trong những nguyên nhân dẫn đến hành vi có vấn đề của trẻ ở lứa tuổi này, bố mẹ phải chịu một phần trách nhiệm Vấn đề đặt ra là cần có sự quan tâm và giáo dục đúng mực từ phía cha mẹ của các em [10]

* Nghiên cứu khảo sát về thực trạng bạo lực học đường hiện nay:

Bài viết về “Thực trạng bạo lực học đường hiện nay” của TS Phan Mai

Hương trong kỷ yếu hội thảo khoa học Quốc tế tháng 08/2009 về chủ đề: Nhu cầu, định hướng và đạo tạo tâm lý học đường tại Việt Nam đã trình bày khảo

Trang 21

sát của tác giả về thực trạng bạo lực học đường bằng phương pháp phân tích tài liệu và các số liệu thứ cấp được công bố trên diễn đàn Nghiên cứu đưa ra những vấn đề trọng điểm như: Bạo lực học đường ngày một gia tăng về số lượng và mở rộng địa bàn; Bạo lực học đường ngày một nguy hiểm về mức

độ và tính chất bạo lực; Đối tượng gây bạo lực học đường ngày một đa dạng; Bạo lực học đường ngày một đa dạng về kiểu loại và phong phú về biểu hiện; Bạo lực học đường có thể bắt đầu từ những nguyên cớ vô cùng đơn giản [15]

Từ khảo sát này, tác giả đã đưa ra kết luận rằng tình trạng bạo lực học đường cần được nghiên cứu, tìm hiểu sâu và cần sự góp tay của các chuyên gia tâm lý học đường Tuy nhiên, bài viết của tác giả chưa đề cập đến nguyên nhân tâm lý của tình trạng bạo lực học đường

* Nghiên cứu về nhận thức của học sinh THPT dẫn tới bạo lực học đường:

Tiêu biểu là đề tài nghiên cứu của Ông Thị Mai Thương (2008) về

“Hành vi bạo lực trong nữ sinh THPT” khảo sát trên 200 khách thể tại 2

trường THPT thuộc quận Đống Đa (Hà Nội) đã đưa ra một số vấn đề quan trọng về thực trạng hành vi bạo lực trong nhóm nữ sinh THPT như mức độ xảy ra hiện tượng bạo lực trong nhà trường, phương thức, công cụ, phương tiện tiến hành hành vi bạo lực Đề tài nghiên cứu cũng tìm hiểu nhận thức của học sinh về hành vi bạo lực và nguyên nhân xuất hiện bạo lực Đồng thời, nghiên cứu cũng chỉ ra một số yếu tố tác động đến hành vi bạo lực của học sinh như sự thiếu quan tâm của cha mẹ, bạo hành gia đình; Ảnh hưởng của phương tiện truyền thông đại chúng; Sức ép tâm lý và bất mãn xã hội… Từ

đó, đưa ra một số kết luận, kiến nghị nhằm giúp giảm thiểu, ngăn chặn hành

vi bạo lực trong nhóm nữ sinh THPT [13]

Bài nghiên cứu: “Gây hấn học đường ở học sinh trung học phổ thông”

của Trần Thị Minh Đức, tác giả nghiên cứu về bạo lực học đường hay gây hấn

Trang 22

học đường dưới góc độ Tâm lý học Nghiên cứu này cũng áp dụng các phương pháp nghiên cứu định tính như phân tích tài liệu, phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm; phương pháp nghiên cứu định lượng là trưng cầu ý kiến trên 771 học sinh phổ thông trung học ở 3 tỉnh, thành phố là Hà Nội, Bắc Ninh, Thái Bình

Trong đề tài nghiên cứu này, tác giả Trần Thị Minh Đức đi vào phân tích hai nội dung chính: Nội dung thứ nhất là tình trạng gây hấn ở học sinh (trong đó có cả mức độ gây hấn và bị gây hấn) Nội dung này còn được tác giả phân tích dựa trên cơ sở về giới Nội dung thứ hai là nhận thức của học sinh về hành vi gây hấn Từ đó, tác giả đã rút ra được những kết luận như sau: Gây hấn học đường là hiện tượng phổ biến và ngày càng trở nên nguy hiểm, tình trạng này có nguyên nhân tác động từ nhiều phía như bản thân học sinh, gia đình, nhà trường, xã hội Học sinh nhận thức còn yếu về bản chất của gây hấn, nhiều học sinh đã không nhận biết được đâu là hành vi gây hấn, do đó đã khiến cho tình trạng bạo lực học đường diễn ra ngày càng trầm trọng hơn Nhà trường, gia đình và xã hội hiện vẫn chưa có biện pháp mang tính hệ thống và tích cực nhằm hạn chế vấn đề này [18; 42-52]

Nhìn chung, các nghiên cứu trên đây chủ yếu vạch ra thực trạng của vấn đề bạo lực học đường ngày nay, nghiên cứu hành vi lệch chuẩn của thanh thiếu niên Tại Việt Nam những sự việc rất nhỏ như chuyện bạn bè bắt nạt nhau, nói xấu , tung tin đồn, tẩy chay hay cô lập bạn học còn chưa được quan tâm phân tích từ góc độ tâm lý, xã hội và giới ở người bị bắt nạt và kẻ bắt nạt

1.2 Khái niệm bạo lực học đường

1.2.1 Khái niệm

1.2.1.1 Khái niệm bạo lực

Theo WHO: “Bạo lực là việc đe dọa, dùng sức mạnh thể chất hay

quyền lực đối với bản thân, người khác hoặc đối với một nhóm người hay một

Trang 23

cộng đồng người mà gây ra hay làm tăng khả năng gây ra tổn thương, tử vong, tổn hại về tâm lý, ảnh hưởng đến sự phát triển”

Trong từ điển Tiếng Việt (2003) đưa ra khái niệm: “Bạo lực là sức

mạnh dùng để trấn áp lật đổ” Tuy nhiên không phải mọi hình thức bạo lực

trong xã hội đều mang tính chính trị hướng vào việc lật đổ các đảng phái chính trị Người ta có thể dùng bạo lực để hành xử với nhau trong cuộc sống

hàng ngày vì rất nhiều lý do [19]

1.2.1.2 Khái niệm bạo lực học đường

Bạo lực học đường là hình thức khá phổ biến ở lứa tuổi vị thành niên trong môi trường giáo dục Bạo lực học đường là bạo lực về tinh thần, ngôn ngữ, thân thể có ý đồ giữa các học sinh trong và ngoài trường Cho dù là những hành động thiếu tôn trọng hay giễu cợt đã làm cho người bị hại cảm thấy bất tiện cũng được xem là bạo lực học đường

Khái niệm về “bạo lực học đường” được Sở GD-ĐT Quảng Nam và

CA tỉnh phân tích dưới góc độ khoa học giáo dục: đó là những hành vi xâm

phạm có chủ ý, có ý đồ, thường gây hậu quả nghiêm trọng và xảy ra trong phạm vi nhà trường Nếu nhìn từ góc độ lấy học sinh làm trung tâm thì bạo lực học đường là sự xâm hại của học sinh đối với học sinh, sự xâm hại của học sinh đối với người bên ngoài nhà trường và ngược lại Bạo lực xâm phạm đến sức khoẻ hoặc danh dự của người bị hại, hoặc xâm phạm đến tính mạng

và nhân phẩm của người bị hại Bạo lực không chỉ xảy ra trong phạm vi nhà trường mà nhiều khi xảy ra bên ngoài nhà trường [32]

Theo TS Trần Viết Lưu, bạo lực học đường là hệ thống xâu chuỗi lời nói, hành vi mang tính miệt thị, đe doạ, khủng bố người khác (thường xảy ra giữa trò với trò, giữa thầy với trò hoặc ngược lại), để lại thương tích trên cơ thể, thậm chí dẫn đến tử vong, đặc biệt là gây tổn thương đến tư tưởng, tình cảm, tạo cú sốc về tâm sinh lý cho những đối tượng trực tiếp tham gia vào quá

Trang 24

trình giáo dục trong nhà trường, cũng như đối với những ai quan tâm tới sự nghiệp giáo dục.[33]

Hiện nay, các nhà nghiên cứu vấn đề Bạo lực học đường đang còn nhiều vướng mắc và chưa có sự thống nhất trong việc đưa ra một định nghĩa, khái niệm cụ thể mang tính khoa học lý luận Trong giới hạn nghiên cứu của

đề tài này chúng tôi xin đưa ra một khái niệm về Bạo lực học đường như sau:

“Bạo lực học đường là hành vi cố ý của học sinh hay/và giáo viên

diễn ra trong hay ngoài phạm vi nhà trường mà gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với học sinh hay/và giáo viên khác”

+ Mắng chửi, lămh mạ, miệt thị

+ Bỏ rơi không quan tâm; cô lập, tránh giao tiếp với nạn nhân

+ Để nạn nhân luôn lo lắng, trạng thái tinh thần bất an, sống trong bầu không khí bị đe dọa hoặc bị lăng mạ với những lời lẽ mạt sát

+ Bị xúc phạm khiến nạn nhân ngộ nhận, bị mất đi niềm tin vào chính bản thân mình, buộc họ phải tin rằng họ bị hành hạ như thế là đúng

+ Chụp ảnh, quay phim cảnh lăng nhục nạn nhân phát tán trên Internet, trên điện thoại…

Trong loại bạo lực này đáng chú ý là loại bạo hành ngôn ngữ

- Bạo lực về mặt thể chất:

Trang 25

Là loại hình bạo lực có sử dụng vũ lực, tác động trực tiếp lên thân thể nạn nhân, bao gồm:

+ Những hành vi dùng sức mạnh bản thân để tấn công nạn nhân (đấm

đá, bạt tai, làm gãy xương, bầm dập…)

+ Những hành vi dùng các loại vật dụng công cụ để đánh đập gây tổn thương về mặt cơ thể (roi, gậy, ghế gộc, lưỡi lam…)

- Bạo lực về mặt kinh tế:

Là loại hình bạo lực có sử dụng vũ lực hoặc không sử dụng vũ lực, sử dụng ngôn ngữ tác động trực tiếp lên nạn nhân để cướp đoạt về vật chất, bao gồm:

+ Uy hiếp, cướp giật các đồ vật có giá trị (tiền, điện thoại, đồng hồ…) + Bắt buộc “nộp phí” (tiền) hằng ngày (hay hằng tuần, hàng tháng…)

1.2.3 Nguyên nhân của BLHĐ

1.2.3.1 Nguyên nhân từ phía cá nhân

Một điều không thể phủ nhận là hành vi con người phù thuộc ở chỗ: cá nhân đó là người như thế nào, động cơ, tình cảm, nhân cách của họ ra sao? Khi nghiên cứu nguyên nhân của vấn đề bào lực học đường, việc tìm hiểu các đặc điểm nhân cách của con người có ý nghĩa quan trọng bởi chính con người đóng vai trò quyết định việc thực hiện hay không thực hiện hành vi này hay hành vi khác Nguyên nhân từ phía chủ thể biểu hiện ở một số đặc điểm sau:

Thứ nhất: Nhận thức của cá nhân và hệ thống kiến thức, thái độ của học sinh:

- Cá nhân có thể nhận thức sai hoặc không đầy đủ về bạo lực học đường do đó dẫn đến các hành vi vi phạm Trường hợp này cá nhân không biết mình đã vi phạm

- Cá nhân không chấp nhận các qui chuẩn đạo đức của xã hội, quan điểm riêng khác với chuẩn mực chung “bạo lực học đường là vi phạm chuẩn

Trang 26

mực đạo đức xã hội” Ở trường hợp này cá nhân hành động theo quan điểm

của mình và cho rằng mình đúng, không chịu thừa nhận cái sai Ví dụ: hành

hung bạn bè được coi là biểu hiện củ bạo lực học đường, nhưng nhiều em vẫn

cố tình vi phạm Các em cho rằng ở lứa tuổi mình điều đó là tất nhiên, nó thể hiện sự “trưởng thành”

- Cá nhân biết mình sai nhưng vẫn cố tình vi phạm Trường hợp này do

cá nhân không kiềm chế được bản thân, đồng thời do cơ chế kiểm tra, xử phạt của xã hội lỏng lẻo, cá nhân có điều kiện vi phạm

Thứ hai: Do tính cách và các đặc điểm tâm-sinh lý của các em

Đó là những kiểu phản ứng nhất định của mỗi cá nhân trước một sự vật hiện tượng: ra quyết định nhanh hay chậm, thụ động hay chủ động, phụ thuộc hay độc lập Các đặc điểm tâm –sinh lý của học sinh là một trong những nhân

tố ảnh hưởng tới hành vi lệch chuẩn (bạo lực học đường) ở các em Bên cạnh

đó, các công trình nghiên cứu cũng cho thấy, đặc điểm nhân cách của chủ thể làm cho hành động đi chệch chuẩn mực xã hội có thể là những nét đặc thù của kinh nghiệm cá nhân đó; tính công kích và tính kích động cao; lòng ham muốn thô lỗ và sự không kiềm chế trong việc thỏa mãn chúng Cùng thái độ phủ nhận những giá trị chuẩn mực xã hội và quan niệm phủ định về các quan

hệ xã hội và giá trị xã hội thì những đặc điểm trên đây của nhân cách cũng góp phần làm cho chủ thể của nó có lựa chọn sai những con đường phi pháp

để đạt mục tiêu ngay cả khi có những con đường hợp pháp.[6; 38]

1.2.3.2 Nguyên nhân từ phía gia đình:

Gia đình là một trong những yếu tố quan trọng trong việc hình thành nhân cách của mỗi cá nhân, là cái nôi nuôi dưỡng và cũng là nơi ảnh hưởng sâu sắc tới hành vi của con người Khi nghiên cứu các bạo lực học đường, đa

số các em có vấn đề về gia đình

Trang 27

Các em bị tiêm nhiễm từ lối cư xử của những người lớn trong gia đình Nhiều học sinh có cha mẹ hoặc người thân là những người hành nghề tự do trong xã hội và có cách cư xử không đúng chuẩn mực đạo đức Chính những thói quen ứng xử hằng ngày của họ đã “vô tình” gieo vào đầu các em những suy nghĩ không tốt, dẫn đến việc các em có lối cư xử, hành vi không đúng với bạn bè Nhiều em sống trong gia đình thường xuyên có các hành vi bạo lực (cha mẹ suốt ngày mắng chửi, đánh nhau, cha hoặc mẹ nghiện ngập ) nên ngay từ nhỏ đã tiêm nhiễm vào đời sống tinh thần các em tính bạo lực, sẵn sàng chống đối

Nhiều em có gia đình ly tán, gia đình không có sự chăm sóc hoặc thiếu hụt sự chăm sóc của cha mẹ cũng là nguyên nhân tạo cho các em sự hụt hẫng, khó khăn trong việc định hướng nhân cách và thường có xu hướng bất cần, muốn khẳng định, chỉ cần có cơ hội xấu là bộc phát và có hành vi hung tính, đánh nhau

Gia đình còn nhận thức lệch lạc hoặc thiếu kiến thức về giáo dục con cái dẫn đến việc quan tâm chiều chuộng thái quá trong nuôi dạy con, định

hướng giáo dục con cái về đạo đức còn hạn chế

1.2.3.3 Nguyên nhân từ phía nhà trường:

Trong nhà trường, mâu thuẫn hàng ngày của các em không lớn, chỉ là những xích mích nhỏ nhặt Nhưng các em đã quá đề cao “cái tôi” của mình nên chỉ cần một vài lời nói qua lại là cả hai bên “nộ khí xung thiên” Do những giá trị vật chất trong cuộc sống đang được đề cao và có phần được tôn vinh nên giới trẻ đang dần bị lãng quên những giá trị văn hóa và tinh thần, trong đó có đạo đức học đường

Trong khi những giờ học giáo dục đạo đức, giáo dục giá trị sống cho trẻ

em ở nhà trường hiện nay còn quá ít Nhưng xét cho cùng thì chương trình giáo dục bây giờ đã quá lỗi thời Vẫn chỉ là những lời rao giảng đạo đức lý

Trang 28

thuyết, thiếu tính cập nhật nên không còn phù hợp với tình hình xã hội, đời sống và tâm sinh lý học sinh Các bài học về giáo dục công dân cũng đang xa rời cuộc sống thực tế, ít đem lại những giá trị cụ thể để học sinh soi rọi từ trong đó, cho nên, các em đang thiếu dần kỹ năng sống Giữa học sinh- giáo viên vẫn có một khoảng cách và các em chưa đủ niềm tin để tâm tình, trò chuyện cũng như bộc lộ những cảm xúc của mình Còn ngoài xã hội lại có rất nhiều vấn đề đang từng ngày tác động xấu đến giới trẻ (trong đó có nền tảng đạo đức và những giá trị về văn hóa), trong lúc tuổi đời các em còn quá non nớt chưa định hướng đúng để có thể “miễn dịch” được với tất cả Sự thiếu quan tâm hoặc quan tâm chưa đúng mức của người lớn đã làm cho các em đi sai đường, lạc lối và chắc chắn sẽ dẫn đến những hậu quả khôn lường

1.2.3.4 Nguyên nhân từ phía xã hội:

Mặt trái của cơ chế thị trường cũng ảnh hưởng không nhỏ tới hành vi các em Không thể không nói đến vai trò của phim ảnh và truyền thông đến tình trạng bạo lực Các cảnh bạo lực trên phim với những pha hành động, những pha đấm đá, tranh giành những hoàn cảnh trên phim dần trở thành định hướng không tốt ở các em Các trò chơi game online hiện nay cũng ảnh hưởng lớn tới việc hình thành tính cách bạo lực ở các em.Những khuôn mặt hân hoan, thỏa mãn của các em khi đối diện với những cảnh rùng rợn trong trò chơi Các game bạo lực này đang dần phá hủy tâm hồn và nhân cách các

em, biến các em thành những con người hung dữ và mất đi những giá trị đạo đức tốt đẹp của con người

Bên cạnh đó, còn có một số nguyên nhân khác như: môi trường sống, bối cảnh kinh tế chính trị-văn hóa xã hội… Đều ảnh hưởng nhất định tới những hành vi bạo lực học đường

Trang 29

1.2.4 Hậu quả của BLHĐ

Bạo lực học đường để lại hậu quả rất nặng nề cả thể xác và đời sống tinh thần của các em Nhiều trường hợp có những di chấn và vấn đề sức khoẻ tâm thần mãi về sau khi đã trưởng thành

* Ảnh hưởng tới Tinh thần, tình cảm- xúc cảm:

Bạo lực học đường tổn hại sức khoẻ của nạn nhân là quá rõ, sự căng thẳng, lo lắng, suy nghĩ dẫn đến mất ngủ, thần kinh bị suy nhược và đau đớn

do chấn thương gây ra thì sự suy sụp về sức khoẻ là lẽ đương nhiên Người gây ra bạo lực học đường tính cách cũng như tâm lý trở nên hung hãn, cáu bản, các hình phạt đối với hành vi bạo lực học đường cũng là một trong những nguyên nhân đẩy các em đến việc thôi học, theo bạn bè xấu – là một trong những nguy cơ trở thành tội phạm

* Ảnh hưởng tới cơ thể (những tổn thương về mặt thực thể):

Bạo lực học đường gây chấn thương, giảm sức khỏe đối với nạn nhân, gây suy nhược thần kinh, trầm trọng hơn bạo lực còn có thể gây tử vong cho nạn nhân cũng có thể là chính người gây hành vi bạo lực học đường

1.2.5 Cách phòng tránh BLHĐ

* Từ phía gia đình

Gia đình là tế bào của xã hội, là trường học đầu tiên của mỗi con người, việc giáo dục phòng tránh BLHĐ ngay từ trong gia đình rất quan trọng đối với mỗi đứa trẻ

- Cha mẹ phải xây dựng hình ảnh tốt đẹp, là tâm gương cho con cái noi theo Đồng thời, quan tâm đúng mực, nghiêm khắc giáo dục khi con mắc lỗi, tạo điều kiện cho con cái có môi trường giải trí, giao lưu, tham gia các hoạt động xã hội tích cực, lành mạnh

- Cha mẹ có những hiểu biết về tâm sinh lý lứa tuổi HS THPT để có thể giúp đỡ các em, không nên hà khắc và áp đặt những suy nghĩ bảo thủ của bản thân với các em

Trang 30

- Theo dõi sát sao học sinh và kịp thời can thiệp khi phát hiện những biểu hiện BLHĐ Sự can thiệp có mức độ và phù hợp với đặc điểm từng học sinh để có tác dụng chấn chỉnh thái độ các em ngay từ đầu

- Kịp thời tuyên dương, nêu gương học sinh tốt trong học tập và rèn luyện đạo đức Khen thưởng những HS có hành vi phòng tránh BLHĐ PHát động các phong trào Phòng tránh BLHĐ trong HS THPT

* Từ phía xã hội

- Có sự nhìn nhận đúng mức của các cơ quan chức năng về nguyên nhân BLHĐ ở HS THPT về sự suy thoái đạo đức do các các hình thức phim ảnh, các trò chơi bạo lực trên Internet… đem lại cho các em Đồng thời phải

có những chế tài xử phạt nghiêm minh đối với các hành vi BLHĐ

- Có sự quản lý đối với các hình thức giải trí thông qua truyền hình: phim ảnh, game online…

- Tuyên truyền giáo dục nếp sống lành mạnh, an toàn cho HS THPT với các hình thức cụ thể tích cực như: phong trào bảo vệ môi trường, giúp đỡ người nghèo…

Trang 31

người phải nhận thức, hiểu biết, phản ánh hiện thực xung quanh và cả hiện thực bản thân mình, trên cơ sở đó, con người tỏ thái độ, tình cảm và hành động

Trong quá trình nhận thức thế giới, con người có thể đạt tới những mức

độ khác nhau từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp Mức độ thấp là nhận thức cảm tính, đó là cảm giác, tri giác, trong đó con người nhận biết được những cái bên ngoài của sự vật hiện tượng đang trực tiếp tác động tới giác quan của con người; mức độ cao hơn là nhận thức lý tính, còn gọi là quá trình

tư duy, con người nắm được cái bản chất bên trong, những mối quan hệ có tính qui luật, bản chất của sự vật hiện tượng Các quá trình này bổ sung cho nhau, chi phối lẫn nhau trong cùng một hoạt động nhận thức thống nhất của con người [14; 117]

Từ điển Tâm lý học của Nguyễn Khắc Viện (chủ biên) định nghĩa:

“Nhận thức là quá trình hoặc kết quả phản ánh và tái hiện hiện thực vào

trong tư duy, nhận biết và hiểu biết thế giới khách quan” [8; 256]

Dưới góc độ Tâm lý học, nhận thức là sự phản ánh những thuộc tính của sự vật hiện tượng trong mối quan hệ của chúng trong hiện thực khách quan thông qua hoạt động thực tiễn của con người Sống trong điều kiện tự nhiên và môi trường xã hội đòi hỏi con người phải nhận thức được những qui luật của tự nhiên và các qui luật của xã hội để hoạt động nhằm cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội và cải tạo chính bản thân con người.[8; 256]

Tâm lý học xem nhận thức là một trong ba mặt cơ bản của đời sống tâm lý con người Nhận thức có mối quan hệ với thái độ và thành vi Trong đó nhận thức vừa là cơ sở của thái độ đúng và cũng có những thái độ, hành vi sai.bao gồm nhiều quá trình khác nhau, biểu hiện ở những mức độ

Nhận thức là một hoạt động gồm nhiều quá trình khác nhau, biểu hiện

ở những mức dộ khác nhau và mang lại những sản phẩm khác nhau về hiện

Trang 32

thực khách quan Nhận thức bao gồm các quá trình cảm giác, tri giác, trí nhớ,

tư duy, tưởng tượng Quá trình này phản ánh và tái tạo lại hiện thực ở trong tư duy của con người Như vậy, quá trình nhận thức được hiểu là quá trình tiếp cận, tiến gần đến chân lý nhưng không bao giờ ngừng ở một trình độ nào vì không bao giờ nắm hết được toàn bộ hiện thực Quá trình này diễn ra liên tục

và không bao giờ ngừng bởi hiện thực khách quan là vô cùng và luôn luôn phát triển

Các quan niệm của các nhà Tâm lý học cho thấy rằng: nhận thức là sự phản ánh chủ quan về thế giới khách quan trong đầu óc con người, bao gồm các quá trình từ biết (nhận biết, ghi nhớ, nhắc lại), đến hiểu (có thể áp dụng kiến thức vào giải quyết tình huống mới) Quá trình nhận thức vận động, phát triển liên tục không ngừng, mang bản chất xã hội - lịch sử Kết quả cuối cùng của quá trình nhận thức cho ta hiểu biết và kiếm thức giúp con người ngày càng tiếp cận hiện thực, tiếp cận chân lý Kiến thức là những hiểu biết của con người về thế giới tự nhiên và xã hội, nhờ học tập trong nhà trường và từng trải trong thực tế cuộc sống mà có Kiến thức của loài người là kết quả của quá trình nhận thức Kiến thức phong phú, đa dạng vì nó phản ánh đúng sự vật hiện tượng và các quan hệ có tính qui luật của hiện thực khách quan nhưng cũng chứa đựng những hiểu biết nông cạn không thật chính xác

Nhận thức của con người luôn có tính đối tượng Đối tượng phản ánh nhận thức ở con người không chỉ là những thuộc tính của sự vật hiện tượng vốn có trong thế giới mà còn phản ánh những thuộc tính của sự vật hiện tượng

do con người sáng tạo ra trong quá tình hoạt động nhận thức của mình vào đối tượng bên trong và bên ngoài của con người, vào những vật cụ thể và những vật trừu tượng

Từ đó, chúng tôi xây dựng khái niệm nhận thức về bạo lực học đường dưới góc độ Tâm lý học:

Trang 33

Nhận thức về bạo lực học đường là sự hiểu biết của chủ thể về nội dung khái niệm bạo lực học đường và có thể vận dụng những tri thức đó vào giải quyết các mối quan hệ xung quanh và bày tỏ thái độ, điều chỉnh hành vi ứng xử của mình

1.3.1.2 Các mức độ nhận thức

Căn cứ vào tính chất phản ánh, nhà Tâm lý học chia toàn bộ hoạt động nhận thức thành nhiều mức độ nhận thức khác nhau, từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ nông đến sâu, từ hiểu biết chưa đầy đủ đến đầy đủ, từ nhận thức cảm tính đến nhận thức lý tính

- Mức độ nhận thức cảm tính:

Là quá trình nhận thức đầu tiên, ở mức độ thấp nhất, sơ đẳng nhất trong toàn bộ hoạt động nhận thức của con người Đặc điểm chủ yếu của nhận thức cảm tính là chỉ phản ánh những thuộc tính bề ngoài, cụ thể của sự vật hiện tượng đang trực tiếp tác động vào giác quan của con người

Sản phẩm hoạt động nhận thức cảm tính là những hình ảnh cụ thể, trực quan về thế giới, chứ chưa phải là những khái niệm và qui chế về thế giới Mặc dù vậy nhận thức cảm tính có vai trò quan trọng trong đời sống tâm lý con người, nó cung cấp nguyên liệu cho các hoạt động tâm lý cấp cao

- Mức độ nhận thức lý tính:

Nhận thức lý tính phản ánh những thuộc tính bên trong, những mối liên

hệ bản chất của sự vật hiện tượng trong hiện thực khách quan mà con người chưa biết Nhận thức lý tính bao gồm 2 mức độ: tư duy, tưởng tượng

Khác với nhận thức cảm tính, nhận thức lý tính có khả năng đi sâu vào

sự vật hiện tượng nhằm vạch ra những thuộc tính chung, những mối quan hệ

có tính qui luật giữa chúng Chính nhờ phản ánh cái khái quát, cái qui luật mà nhận thức lý tính giúp con người không chỉ nhận thức thế giới mà còn có khả năng cải tạo thế giới Đến mức độ nhận thức lý tính, con người nhận thức thế

Trang 34

giới một cách gián tiếp – nhận thức bằng ngôn ngữ Nhờ phương tiện ngôn ngữ và khả năng phản ánh khái quát, phản ánh gián tiếp thế giới mà con người

có khả năng vạch ra được các thuộc tính bản chất, các mối quan hệ có tính qui luật, dự đoán được chiều hướng phát triển và diễn biến của chúng để nhận thức và cải tạo chúng

Nghiên cứu các mức độ nhận thức

B.S.Bloom – nhà sư phạm người Mỹ, năm 1956, ông và các đồng sự biên soạn tài liệu “Hệ phân loại các mục tiêu Sư phạm, lĩnh vực nhận thức” B.S.Bloom đưa ra 3 khía cạnh đánh giá: nhận thức, thái độ, hành vi Ông chia nhận thức thành nhiều mức khác nhau, phân loại mục tiêu nhận thức ra 6 mức

độ từ thấp đến cao Mỗi mức độ đặc trưng cho hoạt động trí tuệ:

Mức 1: Biết – đưa vào trí nhớ và phục hồi lại thông tin củ cùng một đối

tượng nhận thức, ghi nhớ, có thể nhắc lại các sự kiện, định nghĩa các khái niệm, nội dung các định luật…

Mức 2: Hiểu – có thể thuyết minh, giải thích, chững minh những kiến

thức đã lĩnh hội (phục hồi ngữ nghĩa thông tin trong những đối tượng khác nhau, thiết lập liên hệ ở những đối tượng khác nhau)

Mức 3: Vận dụng – có thể áp dụng kiến thức vào những tình huống

mới, khác với trong bài học (sử dụng các qui tắc, nguyên tắc, những phác đồ giải quyết một vấn đề nào đó)

Mức 4: Phân tích – biết phân chia một toàn thể thành các bộ phận, một

vấn đề lớn thành những vấn đề nhỏ hơn, làm sáng tỏ những mối quan hệ giữa các bộ phận (đồng nhất những bộ phận tạo nên cái tổng thể, từ đó phân biệt đối tượng trong ý tưởng đó)

Mức 5: Tổng hợp – biết sắp xếp các bộ phận thành toàn thể thống nhất,

ghép các vấn đề nhỏ thành các vấn đề lớn hơn, tạo thành một tổng thể mới liên kết tất cả các bộ phận tạo nên tổng thể

Trang 35

Mức 6: Đánh giá – có thể nhận định, phán đoán về giá trị, ý nghĩa của

mỗi kiến thức (tạo thành những phán đoán về số lượng cũng như chất lượng thao tác tạo nên chất lượng của trí tuệ)

Trong đề tài này, chúng tôi áp dụng kết hợp nội dung đánh giá của

B.S.Bloom và chia thành 3 mức độ nhận thức, đó là: Biết – Hiểu – Vận dụng,

để đánh giá kết quả tác động của các yếu tố xã hội (gia đình, nhà trường, mối quan hệ bạn bè và các phương tiện thông tin đại chúng) tới nhận thức của học sinh trường THPT Nguyễn Trường Tộ (TP.Vinh-Nghệ An) về bạo lực học đường hiện nay

Sở dĩ chúng tôi chỉ chọn 3 mức độ nhận thức trong thang đánh giá nhận

thức của B.S.Bloom, do:

- Ba mức độ đầu tiên trong thang đánh giá là 3 mức độ đơn giản và cần thiết trong quá tình nhận thức của mỗi cá nhân Trong khả năng có hạn chúng tôi chỉ có thể đánh giá ở 3 mức độ đó trong thang đánh giá Và đây cũng chỉ

là những bước đánh giá đầu tiên trong nhận thức của học sinh PTTH về bạo lực học đường

- Những kết quả nghiên cứu trong đề tài này chỉ mang tính cơ sở tiền đề cho những nghiên cứu sâu hơn, cụ thể hơn về sau

1.3.1.4 Nhận thức về bạo lực học đường

Nhận thức của HS THPT về bạo lực học đường được biểu hiện qua 3

độ từ thấp đến cao (cấu trúc nhận thức của B.S.Bloom), được cụ thể hóa như

sau:

Mức 1: Biết

HS THPT biết về bạo lực học đường trong cuộc sống hiện nay thể hiện

ở việc nhận dạng được, biết được một số dấu hiệu của khái niệm bạo lực học đường nhưng chưa thật đúng, chưa thật đầy đủ; chỉ phân biệt được đặc điểm bên ngoài của khái niệm bạo lực học đường Chẳng hạn, nhận biết và phân

Trang 36

biệt được khái niệm bạo lực học đường với các khái niệm khác, tuy nhiên chưa hiểu được bản chất của khái niệm

Mức 2: Hiểu

HS THPT hiểu về khái niệm bạo lực học đường (hiểu được nội dung của khái niệm): hiểu về khái niệm bạo lực học đường là biểu hiện của việc hiểu chưa đầy đủ đến đầy đủ, từ chưa sâu sắc đến sâu sắc, từ nông đến sâu khái niệm Hiểu được bản chất cũng như các đặc điểm, tính chất của khái niệm

Hiểu về khái niệm bạo lực học đường có nhiều mức độ:

- Hiểu được bản chất của khái niệm một cách chung chung (Ví dụ: bạo lực học đường là hành vi gây hấn đối với người khác)

- Nêu được bản chất, nhưng chưa chỉ đúng các thuộc tính bản chất của khái niệm Do đó, dẫn tới hiểu quá rộng hoặc quá hẹp khái niệm (bạo lực học đường chỉ xảy ra ở học sinh nữ/nam)

- Hiểu những dấu hiệu bản chất khái niệm bạo lực học đường, liên hệ với các khái niệm khác (như khái niệm hành vi gây hấn, khái niệm mâu thuẫn, xung đột…) để hiểu sâu sắc và chính xác hơn khái niệm Nắm được các biểu hiện đa dạng của khái niệm

Hiểu về khái niệm bạo lực học đường được thể hiện ở nhiều dạng khác nhau như: nhận ra được dấu hiệu bản chất đặc trưng nhất của khái niệm

Hiểu là quá trình phản ánh được bản chất những mối liên hệ có tính qui luật của bạo lực học đường và sự tác động của cuộc sống gia đình và ngoài xã hội (bạn bè, thầy cô giáo)

Hiểu đối tượng dựa trên tri thức và những tư tưởng kiên định đã có trong kinh nghiệm mỗi người, chính vì thế mức độ hiểu của mỗi người về bạo lực học đường là khác nhau

Mức 3: Vận dụng

Trang 37

HS THPT vận dụng bạo lực học đường ở những điểm sau:

- Vận dụng hiểu biết về bạo lực học đường vào giải quyết các mối quan

hệ xã hội (mối quan hệ trong gia đình, mối quan hệ bạn bè…)

- Vận dụng các nguồn tư liệu, các phương tiện thông tin đại chúng để

có thêm những hiểu biết mới về bạo lực học đường

- Phê phán, bình luận, đánh giá: biết vận dụng tri thức đã biết để làm sáng tỏ các vướng mắc xung quanh khái niệm bạo lực học đường Nhận biết được giá trị chuẩn mực cũng như hậu quả của bạo lực học đường trong nhà trường hiện nay…

- Biểu hiện cao nhất của vận dụng khái niệm bạo lực học đường là điều khiển hành vi con người Con người biết vận dụng hiểu biết về bạo lực học đường vào các mối quan hệ xã hội nhằm thay đổi hành vi của mình và của người khác

Trong quá trình vận dụng hiểu biết bạo lực học đường vào giải quyết các vấn đề trong cuộc sống, con người mới hiểu đầy đủ ý nghĩa của khái niệm bạo lực học đường, nhận biết được chính xác bản chất của khái niệm Việc vận dụng giúp cho con người phân biệt được khái niệm bạo lực học đường với các khái niệm khác Trên cơ sở vận dụng hiểu biết khái niệm vào giải quyết các mối quan hệ trong cuộc sống, từ đó con người mới nảy sinh hoài nghi, thắc mắc, có nhu cầu nhận thức sâu sắc hơn, bản chất hơn nội hàm khái niệm Chính nhu cầu hiểu và vận dụng khái niệm vào trong cuộc sống gia đình sẽ kích thích con người thường xuyên trau dồi hiểu biết của mình Vì vậy, nhu cầu tìm hiểu và vận dụng hiểu biết về bạo lực học đường không những là kết quả của nhận thức mà còn là yếu tố quan trọng của quá trình nhận thức

Nhìn chung 3 mức độ nhận thức có liên quan chặt chẽ với nhau, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau Nhận thức ở HS THPT không đơn thuần là quá trình

Trang 38

tiếp nhận đơn giản những hiểu biết về khái niệm bạo lực học đường đã có mà

là quá trình hiểu và tư duy tích cực để vận dụng hiểu biết về khái niệm đó vào giải quyết các vấn đề xã hội, làm thay đổi những hiểu biết sai lầm tồn tại lâu trong tư tưởng của mỗi con người, để hiểu đúng bản chất của khái niệm

1.3.2 Đặc điểm tâm-sinh lý của học sinh lứa tuổi THPT

1.3.2.1 Đặc điểm sinh lý của học sinh THPT

So với lứa tuổi thiếu niên, sự phát triển của học sinh THPT đã đạt được

sự trưởng thành và ổn định hơn nhiều Ở lứa tuổi thiếu niên (11-15 tuổi), sự phát triển về mặt cơ thể diễn ra rất mạnh do xuất hiện hiện tượng dậy thì, làm biến đổi sâu sắc về mặt tâm lý Đến giai đoạn này, ở các em bắt đầu thời kỳ tương đối “êm ả” về mặt sinh lý, đi dần tới sự hoàn chỉnh Điều này thể hiện

rõ ở những điểm sau:

Thứ nhất: Sự gia tăng chiều cao giảm dần (con gái khoảng 16, 17 tuổi;

con trai khoảng 17, 18 tuổi (±13 tháng) Sự phát triển hệ xương, cơ không còn mạnh mẽ như ở lứa tuổi thiếu niên mà chậm chạp hơn, song có sự cân đối, đồng đều giữa các bộ phận Điều này giúp hình thành một cơ thể cân đối, đẹp, khỏe của người thanh niên, thay cho sự lóng ngóng, vụng về, dễ gây đổ vỡ ở lứa tuổi thiếu niên

Thứ hai: Trọng lượng cơ thể phát triển nhanh, cân nặng của một thanh

niên 16, 17 tuổi có thể gấp đôi cậu thiếu niên 11, 12 tuổi Các tố chất thể lực như sức mạnh, sức bền, sức dẻo dai được tăng cường

Thứ ba: Cơ bắp, sức lực phát triển mạnh Ở tuổi thiếu niên, sự phát

triển của hệ thống tim mạch và các tuyến nội tiết trong cơ thể hoạt động rất mạnh song thiếu sự đồng bộ, thường gây nên sự rối loạn của hệ tuần hoàn và của hoạt động thần kinh Vì thế các em hay mệt mỏi, không có khả năng tập trung lâu vào công việc và dễ bị ức chế hoặc bị kích động mạnh Đến thời kỳ này, các hiện tượng đó về cơ bản đã chấm dứt

Trang 39

Thứ tư: Thời kỳ trưởng thành về giới tính là giai đoạn “nam thanh nữ

tú”, chấm dứt giai đoạn khủng hoảng của thời kỳ phát dục để chuyển sang thời kỳ ổn định hơn, cân bằng hơn xét cả trên các hoạt động hưng phấn, ức chế của hệ thần kinh cũng như các mặt phát triển khác của thể chất

Thứ năm: Sự phát triển của hệ thần kinh có những thay đổi quan trọng

do cấu trúc bên trong của não phức tạp và các chức năng của não phát triển Cấu trúc của tế bào bán cầu đại não có những đặc điểm như trong cấu trúc tế bào não của người lớn Số lượng dây thần kinh liên hợp tăng nhanh, liên kết các phần khác nhau của vỏ não lại Điều đó tạo tiền đề cần thiết cho sự phức tạp hóa hoạt động phân tích tổng hợp của vỏ bán cầu đại não trong quá trình học tập

Tuổi đầu thanh niên chiếm vị trí trung gian giữa trẻ em và người lớn Các em không còn là trẻ em nữa mà đang trở thành người lớn Đây là giai đoạn lứa tuổi mà con người có những điều kiện thể chất thuận lợi để hoàn thiện vẻ đẹp ngoại hình của mình, tạo điều kiện cho hoạt động học tập, lao động, thể thao, nghệ thuật… phát triển mạnh mẽ

1.3.2.2 Đặc điểm tâm lý của học sinh THPT

Ở lứa tuổi thiếu niên là lứa tuổi diễn ra nhiều chuyển biến mạnh mẽ về tâm lý, mà tính chất phức tạp của nó được phản ánh bằng những tên gọi như:

“tuổi khủng hoảng”, “tuổi nổi loạn”, “tuổi bất trị”… thì sang lứa tuổi PTTH, những mẫu thuẫn, những khó khăn về lứa tuổi, sự mất cân bằng về sinh lý, tâm lý dần dần qua đi, các em được phát triển bình thường và lành mạnh Nói

như Erick Ericson: “Đây là giai đoạn người thanh niên trẻ đang hình thành,

tìm kiếm cái bản sắc riêng có tính mục đích xã hội của mình” [21; 121]

Cũng giống như tuổi thiếu niên, đặc điểm nổi bật của học sinh lứa tuổi PTTH là muốn vươn lên làm người lớn, được độc lập, tự do quyết định mọi việc theo cách riêng của mình Tuy vậy, vị trí của các em có tính chất không

Trang 40

xác định Mặc dù các em có vóc dáng người lớn, bới người lớn quyết định nội dung và xu hướng hoạt động chính của họ Các em vẫn phụ thuộc vào cha mẹ

về vật chất và vẫn đến trường học tập theo sự chỉ đạo của người lớn Thế những các em thực sự mong muốn được công nhận là mình đã lớn, đã trưởng thành và được tự quyết định những vấn đề liên quan đến bản thân mình Chính vì lẽ đó, thanh niên sẽ phản ứng một cách trực tiếp hoặc ngầm ẩn đối với thái độ ứng xử của cha mẹ và những người xung quanh về “vị trí không xác định” của mình Một mặt, cha mẹ và thầy cô giáo nhắc nhở các em đã là người lớn, đòi hỏi các em phải có tính độc lập, ý thức trách nhiệm và thái độ hợp lý…; mặt khác lại đòi hỏi các em phải thích ứng với cha mẹ và giáo viên Xuất phát từ những lý do đó, thanh niên sẵn sàng phản ứng lại để đòi hỏi sự tôn trọng, sự bình đẳng của người lớn trong cách đổi sử, đôi khi là sự lầm lì, bất mãn hoặc cãi vã…

Ở lứa tuổi này, quá trình phát triển tự ý thức diễn ra sôi nổi, mạnh mẽ

và có tính đặc thù riêng: các em có nhu cầu tìm hiểu và đánh giá những đặc điểm tâm lý của mình theo quan điểm về mục đích sống và hoài bão của mình Chính điều này khiến các em quan tâm sâu sắc tới đời sống tâm lý, phẩm chất nhân cách và năng lực riêng Nếu ở lứa tuổi thiếu niên, các em có thể hiểu rõ mình ở những phẩm chất nhân cách bộc lộ rõ như: lòng yêu lao động, tính cần cù, dũng cảm… thì bước sang lứa tuổi này, từ những yêu cầu của cuộc sống và hoạt động, địa vị mới mẻ trong tập thể, những mối quan hệ mới mẻ xung quanh, buộc các em phải tự ý thức được đặc điểm nhân cách của mình và hiểu rõ được những phẩm chất phức tạp, biểu hiện những quan hệ nhiều mặt của nhân cách: tinh thần trách nhiệm, lương tâm, lòng tự trọng, tình cảm, nghĩa vụ… Tuy nhiên, thanh niên mới lớn có sai lầm khi tự đánh giá Các em thường có xu hướng cường điệu trong khi tự đánh giá bản thân mình hoặc đánh giá thấp cái tích cục, tập trung phê phán cái tiêu cực; hoặc là đnáh

Ngày đăng: 23/03/2015, 13:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Hoàng Gia Trang, “Thực trạng biểu hiện hành vi lệch chuẩn của học sinh THCS trên địa bàn Hà Nội”, Hà Nội, 2003-2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng biểu hiện hành vi lệch chuẩn của học sinh THCS trên địa bàn Hà Nội
Tác giả: Hoàng Gia Trang
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2003-2005
3. Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng “Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm”, NXB ĐHQG HN, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học sư phạm
Nhà XB: NXB ĐHQG HN
4. Lê Thị Hồng Thắm, Tô Gia Kiên, Nguyên nhân dẫn đến bạo lực học đường tại Trường THCS Lê Lai ( quận 8- TP. Hồ Chí Minh) năm 2009, Y Học TP.Hồ Chí Minh, Vol.14 - Supplement of No 1-2010: 196-203 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyên nhân dẫn đến bạo lực học đường tại Trường THCS Lê Lai ( quận 8- TP. Hồ Chí Minh) năm 2009
5. LiangH và cộng sự, “Bắt nạt, bạo lực và hành vi nguy hiểm ở học sinh trung học Nam Phi”, Nghiên cứu ở 72 trường học ở Cape và Durban, Nam Phi, 2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bắt nạt, bạo lực và hành vi nguy hiểm ở học sinh trung học Nam Phi
Tác giả: LiangH, cộng sự
Nhà XB: Nghiên cứu ở 72 trường học ở Cape và Durban, Nam Phi
Năm: 2007
6. Lưu Song Hà, Nguyễn Thị Phương Hoa, “Hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội”, Hà Nội, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội
7. Mã Ngọc Thể, “Ảnh hưởng của nhóm bạn không chính thức đến hành vi phạm pháp ở trẻ vị thành niên”, Tạp chí số 8, Viện nghiên cứu Tâm lý học, 8/1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của nhóm bạn không chính thức đến hành vi phạm pháp ở trẻ vị thành niên
8. Nguyễn Khắc Viện (2001), Từ điển Tâm lí học, NXB Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tâm lí học
Tác giả: Nguyễn Khắc Viện
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2001
9. Nguyễn Quang Uẩn - chủ biên (2003), Tâm lí học đại cương, NXB ĐH Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học đại cương
Tác giả: Nguyễn Quang Uẩn - chủ biên
Nhà XB: NXB ĐH Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
10. Nguyễn Thị Hoa, “Một số đặc điểm tâm lý có nguy cơ dẫn đến hành vi vi phạm pháp luật của trẻ vị thành niên”, Tạp chí Tâm lý học Số 8/2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm tâm lý có nguy cơ dẫn đến hành vi vi phạm pháp luật của trẻ vị thành niên
11. Nguyễn Văn Đồng (2004), Tâm lý học phát triển, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học phát triển
Tác giả: Nguyễn Văn Đồng
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2004
12. Nghiêm Thị Phiến, “Ảnh hưởng của nhóm bạn bè tới hành vi lệch chuẩn của học sinh” trên 31 học sinh thiếu niên cá biệt tại trường THCS Thịnh Quang (Hà Nội) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của nhóm bạn bè tới hành vi lệch chuẩn của học sinh”
13. Ông Thị Mai Thương, Hành vi bạo lực trong nữ sinh THPT, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành vi bạo lực trong nữ sinh THPT
14. Phạm Minh Hạc (1999), Tâm lí học - Tập 1, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học - Tập 1
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
15. Phan Mai Hương, Viện Tâm lý học, “Thực trạng bạo lực học đường hiện nay ”, kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế, Hà nội 08/2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng bạo lực học đường hiện nay
Tác giả: Phan Mai Hương
Nhà XB: kỷ yếu hội thảo khoa học quốc tế
Năm: 2009
16. Tạ Minh (2007), Xã hội học đại cương, NXB ĐH Quốc gia TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học đại cương
Tác giả: Tạ Minh
Nhà XB: NXB ĐH Quốc gia TPHCM
Năm: 2007
17. Trần Thị Minh Đức, “Hành vi gây hấn phân tích từ góc độ Tâm lý học xã hội”, NXB ĐH Quốc Gia Hà Nội, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành vi gây hấn phân tích từ góc độ Tâm lý học xã hội
Tác giả: Trần Thị Minh Đức
Nhà XB: NXB ĐH Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2010
18. Trần Thị Minh Đức, “Gây hấn học đường ở học sinh trung học phổ thông”, Tạp chí nghiên cứu con người- Số 3/2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gây hấn học đường ở học sinh trung học phổ thông
26. Bạo lực học đường có thể dẫn đến tội phạm sau này. http://dantri.com.vn 27. Bạo lực học đường- vấn nạn toàn cầu. http://phapluattp.vn Link
28. Báo điện tử của trung ương hội khuyến học Việt Nam. Trẻ vị thanh niên phạm tội do ảnh hưởng của cha mẹ. http://dantri.com.vn Link
29. Báo Giáo Dục Thành Phố Hồ Chí Minh. Tình hình bạo lực tại việt nam. http://www.giaoduc.edu.vn Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1: Mức độ nhận thức về khái niệm Bạo lực học đường - Nhận thức của học sinh trường THPT Nguyễn Trường Tộ (TP.Vinh - Nghệ An) và vấn đề bạo lực học đường
Bảng 3.1 Mức độ nhận thức về khái niệm Bạo lực học đường (Trang 51)
Bảng 3.2: Mức độ nhận thức về các hình thức Bạo lực học đường - Nhận thức của học sinh trường THPT Nguyễn Trường Tộ (TP.Vinh - Nghệ An) và vấn đề bạo lực học đường
Bảng 3.2 Mức độ nhận thức về các hình thức Bạo lực học đường (Trang 54)
Bảng 3.4: Mức độ nhận thức về các hình thức Bạo lực học đường về về - Nhận thức của học sinh trường THPT Nguyễn Trường Tộ (TP.Vinh - Nghệ An) và vấn đề bạo lực học đường
Bảng 3.4 Mức độ nhận thức về các hình thức Bạo lực học đường về về (Trang 58)
Bảng 3.5: Mức độ nhận thức về các hình thức Bạo lực học đường về về - Nhận thức của học sinh trường THPT Nguyễn Trường Tộ (TP.Vinh - Nghệ An) và vấn đề bạo lực học đường
Bảng 3.5 Mức độ nhận thức về các hình thức Bạo lực học đường về về (Trang 61)
Bảng 3.6: Mức độ nhận thức về các nguyên nhân dẫn tới Bạo lực học đường - Nhận thức của học sinh trường THPT Nguyễn Trường Tộ (TP.Vinh - Nghệ An) và vấn đề bạo lực học đường
Bảng 3.6 Mức độ nhận thức về các nguyên nhân dẫn tới Bạo lực học đường (Trang 63)
Bảng 3.7: Mức độ nhận thức về các nguyên nhân trực tiếp dẫn tới Bạo lực học - Nhận thức của học sinh trường THPT Nguyễn Trường Tộ (TP.Vinh - Nghệ An) và vấn đề bạo lực học đường
Bảng 3.7 Mức độ nhận thức về các nguyên nhân trực tiếp dẫn tới Bạo lực học (Trang 64)
Bảng 3.11: Mức độ nhận thức về các yếu tố đến từ gia đình làm tăng nguy cơ - Nhận thức của học sinh trường THPT Nguyễn Trường Tộ (TP.Vinh - Nghệ An) và vấn đề bạo lực học đường
Bảng 3.11 Mức độ nhận thức về các yếu tố đến từ gia đình làm tăng nguy cơ (Trang 71)
Bảng 3.15: Mức độ nhận thức về hậu quả của Bạo lực học đường (đơn vị: %) - Nhận thức của học sinh trường THPT Nguyễn Trường Tộ (TP.Vinh - Nghệ An) và vấn đề bạo lực học đường
Bảng 3.15 Mức độ nhận thức về hậu quả của Bạo lực học đường (đơn vị: %) (Trang 88)
Bảng 3.17: Mức độ nhận thức về các biện pháp phòng tránh bằng cách đối - Nhận thức của học sinh trường THPT Nguyễn Trường Tộ (TP.Vinh - Nghệ An) và vấn đề bạo lực học đường
Bảng 3.17 Mức độ nhận thức về các biện pháp phòng tránh bằng cách đối (Trang 95)
Bảng 3.18: Mức độ nhận thức về các biện pháp phòng tránh bằng tìm kiếm - Nhận thức của học sinh trường THPT Nguyễn Trường Tộ (TP.Vinh - Nghệ An) và vấn đề bạo lực học đường
Bảng 3.18 Mức độ nhận thức về các biện pháp phòng tránh bằng tìm kiếm (Trang 97)
Bảng 3.19: Mức độ nhận thức về các biện pháp phòng tránh bằng  cách lảng - Nhận thức của học sinh trường THPT Nguyễn Trường Tộ (TP.Vinh - Nghệ An) và vấn đề bạo lực học đường
Bảng 3.19 Mức độ nhận thức về các biện pháp phòng tránh bằng cách lảng (Trang 99)
Bảng 3.21: Mức độ nhận thức về vai trò của gia đình, để hạn chế bạo lực học - Nhận thức của học sinh trường THPT Nguyễn Trường Tộ (TP.Vinh - Nghệ An) và vấn đề bạo lực học đường
Bảng 3.21 Mức độ nhận thức về vai trò của gia đình, để hạn chế bạo lực học (Trang 102)
Bảng 3.22: Mức độ nhận thức về vai trò của nhà trường  để hạn chế bạo lực - Nhận thức của học sinh trường THPT Nguyễn Trường Tộ (TP.Vinh - Nghệ An) và vấn đề bạo lực học đường
Bảng 3.22 Mức độ nhận thức về vai trò của nhà trường để hạn chế bạo lực (Trang 104)
Bảng 3.23: Mức độ nhận thức về vai trò của xã hội để hạn chế bạo lực  học đường (đơn vị %) - Nhận thức của học sinh trường THPT Nguyễn Trường Tộ (TP.Vinh - Nghệ An) và vấn đề bạo lực học đường
Bảng 3.23 Mức độ nhận thức về vai trò của xã hội để hạn chế bạo lực học đường (đơn vị %) (Trang 108)
Bảng 3.24:  Thái độ và hành vi của học sinh khi xảy ra BLHĐ (%) - Nhận thức của học sinh trường THPT Nguyễn Trường Tộ (TP.Vinh - Nghệ An) và vấn đề bạo lực học đường
Bảng 3.24 Thái độ và hành vi của học sinh khi xảy ra BLHĐ (%) (Trang 110)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w