1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu sự đánh giá bản thân của sinh viên trường Đại học Công Nghiệp Quảng Ninh

135 2,2K 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 135
Dung lượng 1,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự đánh giá này không có sẵn khi con người sinh ra mà được hình thành trong mối quan hệ, giao lưu với người khác, trong sự phát triển và từ những trải nghiệm thành công hay thất bại của

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

Trang

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Đối tượng nghiên cứu 2

3 Mục đích nghiên cứu 2

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3

5 Khách thể và phạm vi nghiên cứu 3

6 Giả thuyết nghiên cứu 3

7 Phương pháp nghiên cứu 4

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 5

1.1.1 Những nghiên cứu về đánh giá bản thân trên thế giới 5

1.1.1.1 Nghiên cứu về đặc điểm của ĐGBT 6

1.1.1.2 Nghiên cứu về ảnh hưởng của ĐGBT tới sự phát triển nhân cách 7

1.1.1.3 Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng tới sự ĐGBT 8

1.1.2 Tổng quan nghiên cứu về ĐGBT ở Việt Nam 10

1.2 Các khái niệm cơ bản 14

1.2.1 Khái niệm bản thân 14

1.2.2 Khái niệm đánh giá bản thân 19

1.2.3 Cấu trúc tâm lý của ĐGBT 23

1.2.3.1 Nhận thức về bản thân 25

1.2.3.2 Xúc cảm, tình cảm về bản thân 26

1.2.3.3 Hành vi - khuynh hướng ứng xử của bản thân 26

1.2.4 Cái Tôi và mối quan hệ giữa cái Tôi và ĐGBT 25

1.2.5 Tự ý thức và mối quan hệ giữa ĐGBT với tự ý thức 26

1.2.6 Khái niệm Sinh viên 27

1.3 Các đặc điểm tâm lý cơ bản của sinh viên 27

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới ĐGBT 32

1.4.1 Yếu tố khách quan 32

1.4.2.1 Gia đình 32

1.4.2.2 Nhà trường 33

1.4.2.3 Nhóm bạn cùng lứa tuổi 34

1.4.2.4 Phương tiện truyền thông đại chúng 36

1.4.2 Yếu tố chủ quan 36

Trang 3

Chương 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Tổ chức nghiên cứu 38

2.2 Mẫu nghiên cứu 38

2.3 Địa bàn nghiên cứu 40

2.4 Phương pháp nghiên cứu 42

2.4.1 Phương pháp phân tích tài liệu 42

2.4.2 Phương pháp trắc nghiệm 42

2.4.3 Phương pháp quan sát 44

2.4.4 Phương pháp phỏng vấn sâu 44

2.4.5 Phương pháp xử lý kết quả bằng thống kê toán học 44

Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Thực trạng đánh giá bản thân của SV trường ĐHCNQN 45

3.1.1 Đánh giá tổng thể về bản thân 45

3.1.2 Đánh giá bản thân theo các khía cạnh cụ thể 47

3.1.2.1 “Cái Tôi gia đình” trong ĐGBT của SV 47

3.1.2.2 “Cái Tôi xã hội” trong ĐGBT của SV 54

3.1.2.3 “Cái Tôi thể chất” trong ĐGBT của SV 60

3.1.2.4 “Cái Tôi học đường” trong ĐGBT của SV 63

3.1.2.5 “Cái Tôi cảm xúc” trong ĐGBT của SV 70

3.1.2.6 “Cái Tôi tương lai” trong ĐGBT của SV 74

3.1.3 Mức độ ĐGBT qua hai thang đo Rosenberg và E.T.E.S 79

3.2 Tương quan giữa kết quả học tập và sự ĐGBT của SV trường ĐHCNQN 3.2.1 Kết quả học tập của SV trường ĐHCNQN 80

3.2.2 Tương quan giữa kết quả học tập và sự ĐGBT của SV trường ĐHCNQN 3.2.2.1 Tương quan giữa kết quả học tập và sự đánh giá tổng thể về bản thân 82

3.2.1.2 Tương quan giữa kết quả học tập và sự ĐGBT về “Cái Tôi gia đình” 84

3.2.1.3 Tương quan giữa kết quả học tập và sự ĐGBT về “Cái Tôi xã hội” 86

3.2.1.4 Tương quan giữa kết quả học tập và sự ĐGBT về “Cái Tôi tương lai” 89

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1 Kết luận 91

2 Kiến nghị 92

2.1 Về phía gia đình 92

2.2 Về phía nhà trường 93

2.3 Về phía bản thân sinh viên 94

Trang 4

3 Một số biện pháp tác động giúp SV trường ĐHCNQN nâng cao khả năng

đánh giá bản thân trong môi trường học đường 95

3.1 Điều chỉnh bản thân trong mối quan hệ với cha mẹ 95

3.2 Tích cực xây dựng các mối quan hệ xã hội 96

3.3 Cảm nhận tích cực về ngoại hình bản thân 97

3.4 Cải thiện khả năng tập trung của bản thân 98

3.5 Rèn luyện kỹ năng nhận thức cảm xúc bản thân 99

3.6 Định hướng ước mơ cho bản thân 100

TÀI LIỆU THAM KHẢO 101 PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU

Bảng 3.1 - Điểm TB các yếu tố đánh giá của SV theo thang đo Rosenberg

Bảng 3.2 - Những mệnh đề của “Cái Tôi gia đình” trong ĐGBT của SV

Bảng 3.3 - Những mệnh đề của “Cái Tôi xã hội” trong ĐGBT của SV

Bảng 3.4 - Những mệnh đề của “Cái Tôi thể chất” trong ĐGBT của SV

Bảng 3.5 - Những mệnh đề của “Cái Tôi học đường” trong ĐGBT của SV

Bảng 3.6 - Những mệnh đề của “Cái Tôi cảm xúc” trong ĐGBT của SV

Bảng 3.7 - Những mệnh đề của “Cái Tôi tương lai” trong ĐGBT của SV

Bảng 3.8 - Điểm trung bình các yếu tố ĐGBT theo thang đo E.T.E.S

Bảng 3.9 - Kết quả học tập của SV trường ĐHCNQN

Bảng 3.10 - Tương quan giữa kết quả học tập và sự đánh giá tổng thể về bản thân Bảng 3.11 - Tương quan giữa kết quả học tập và sự đánh giá về “Cái Tôi gia đình” Bảng 3.12 - Tương quan giữa kết quả học tập và sự đánh giá về “Cái Tôi xã hội” Bảng 3.13 - Tương quan giữa kết quả học tập và sự đánh giá về “Cái Tôi tương lai”

Trang 7

PDF Merger

Merger! To remove this page, please

register your program!

Go to Purchase Now>>

 Merge multiple PDF files into one

 Select page range of PDF to merge

 Select specific page(s) to merge

 Extract page(s) from different PDF files and merge into one

AnyBizSoft

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Con người nói chung, giới trẻ nói riêng thường có khát vọng tự khẳng định mình trong cuộc sống, trong sự phát triển và hoàn thiện nhân cách Sự tự khẳng định này một phần được thể hiện ở khả năng tự đánh giá về bản thân

Đánh giá bản thân chính là sự nhìn nhận tổng thể về giá trị bản thân với tư cách

là con người và chúng ta theo đó mà hành động Sự đánh giá này không có sẵn khi con người sinh ra mà được hình thành trong mối quan hệ, giao lưu với người khác, trong

sự phát triển và từ những trải nghiệm thành công hay thất bại của cá nhân trong cuộc sống… Nếu chúng ta có sự tự đánh giá phù hợp với năng lực thực tế của mình thì chúng ta thường hài lòng về bản thân và điều đó tạo nên sức mạnh tinh thần giúp chúng ta vượt qua những khó khăn, trở ngại của cuộc đời Chúng ta se là người thành công và hạnh phúc…

Tuy nhiên, trên thực tế, nhiều người trong chúng ta không có thói quen tự nhìn nhận, đánh giá về mình một cách công tâm, chính xác Có những người luôn cho rằng mình là “cái rốn của vũ trụ, trung tâm của trái đất và là ngôi sao của bầu trời” nên rất cảm tính khi tự đánh giá về mình mà thiếu tính tương tác với các đối tượng khác ở xung quanh Đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng giới trẻ thể hiện mình không phù hợp với những gì mình có Có những bạn trẻ vừa có một chút thành tích đã tự cho mình là giỏi giang hơn người, nổi bật hơn những người xung quanh và không ngại thể hiện điều đó ra bên ngoài bằng ngôn ngữ, hành động, cử chỉ, trang phục… Bên cạnh đó, cũng có rất nhiều bạn trẻ thiếu tự tin vào chính bản thân mình và

để che lấp điều đó, các bạn phải thể hiện mình quá lên để chứng tỏ mình không hề thua kém mọi người…

Có thể nói, tự đánh giá bản thân có vai trò rất quan trọng nhưng không phải bao giờ sự đánh giá bản thân ở giới trẻ cũng phù hợp và điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình phát triển nhân cách cũng như xu hướng hành động của họ trong cuộc sống Ngoài ra, sự đánh giá bản thân cũng được xem như là một trong những nhân tố

Trang 9

ảnh hưởng tới kết quả học tập của thanh niên - sinh viên trong nhà trường Nói cách khác, hoạt động học tập của sinh viên chỉ đạt kết quả tốt khi họ có những hiểu biết khách quan về mình, tự đánh giá được những phẩm chất, năng lực đang tồn tại ở bản thân, thấy được khoảng cách mức độ cần đạt được với “cái tôi lý tưởng” để từ đó cố gắng rèn luyện và phấn đấu

Để giải mã tốt vấn đề “Tôi là ai?”, “Tôi là người như thế nào?”, “Tôi có gì?” thì bản thân sinh viên phải đặt cái tôi của mình trong nhiều mối quan hệ khác nhau (với bạn bè, với cha mẹ, với thầy cô giáo, trong tập thể ) Việc giải mã những thông điệp này sẽ làm cho cái tôi được “hoạt hóa” một cách đích thực và chính xác trong từng hoàn cảnh cũng như trong từng mối quan hệ; từ đó chủ thể sẽ biết cách ứng xử sao cho thật sự phù hợp và hiệu quả Có thể nói, nếu “cái Tôi” được nhận thức đúng đắn sẽ giúp cho thanh niên - sinh viên nói chung và sinh viên trường Đại học Công nghiệp Quảng Ninh nói riêng đánh giá chính xác thực lực của mình để phấn đấu nhiều hơn nữa trong học tập cũng như trong cuộc sống…

Thực tế cho thấy, đến nay, những nghiên cứu về đánh giá bản thân vẫn còn chưa nhiều, đặc biệt là nghiên cứu về sự đánh giá bản thân của sinh viên Trong khi

đó, đây lại là vấn đề không chỉ có giá trị về mặt lý luận mà còn có giá trị quan trọng về mặt thực tiễn Chính bởi vậy, việc nghiên cứu về sự đánh giá bản thân của sinh viên là điều cần thiết Đó là những lý do thúc đẩy chúng tôi tiến hành đề tài nghiên cứu với

tên gọi “Nghiên cứu sự đánh giá bản thân của sinh viên trường Đại học Công

nghiệp Quảng Ninh”

2 Đối tượng nghiên cứu

Sự đánh giá bản thân (ĐGBT) của sinh viên trường Đại học Công nghiệp Quảng Ninh (ĐHCNQN)

Trang 10

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Xây dựng cơ sở lý luận của đề tài

- Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề

- Làm rõ các khái niệm cơ bản của đề tài

- Chỉ ra những đặc điểm của khách thể nghiên cứu

4.2 Khảo sát thực trạng đánh giá bản thân của sinh viên trường ĐHCNQN

- Mức độ đánh giá bản thân của sinh viên trường ĐHCNQN

- Tương quan giữa kết quả học tập và sự đánh giá bản thân của sinh viên trường ĐHCNQN

4.3 Một số biện pháp giúp sinh viên nâng cao khả năng đánh giá bản thân trong môi trường học đường

5 Khách thể và phạm vi nghiên cứu

5.1 Khách thể nghiên cứu

- 200 sinh viên trường ĐHCNQN

- 20 cán bộ Đoàn thanh niên và Hội sinh viên

- 20 giáo viên chủ nhiệm

5.2 Địa bàn nghiên cứu

Trường Đại học Công nghiệp Quảng Ninh, xã Yên Thọ, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh

6 Giả thuyết nghiên cứu

- Sinh viên trường ĐHCNQN có mức độ tự đánh giá ở mức trung bình;

- Có mối tương quan giữa tự đánh giá bản thân và kết quả học tập của sinh viên

Cụ thể là: những sinh viên có học lực Khá có sự đánh giá bản thân tích cực hơn những sinh viên có học lực Trung bình

Trang 11

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp phân tích tài liệu

7.2 Phương pháp trắc nghiệm

- Thang đo Rosenberg

- Thang đo E.T.E.S (Trường Đại học Toulouse II, Cộng hòa Pháp)

7.3 Phương pháp quan sát

7.4 Phương pháp phỏng vấn sâu

7.5 Phương pháp xử lý kết quả bằng thống kê toán học

Trang 12

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

1.1.1 Những nghiên cứu về đánh giá bản thân trên thế giới

Trong bài viết “Về khái niệm tự đánh giá bản thân” đăng trên Tạp chí Tâm lý

học, Tiến sĩ Đỗ Ngọc Khanh (2004a) đã có những tổng hợp và đánh giá về lý thuyết

Tự đánh giá của các hòn đá tảng trong lĩnh vực này

Nhìn chung, có một vài lý thuyết về nhân cách đưa sự ĐGBT như một biến số có

ý nghĩa nhưng chỉ có thuyết của Alder coi biến này đóng một vai trò chính Alder nhìn nhận một cách rõ ràng sự quan trọng của tự đánh giá nhưng ông quan tâm đến nó trong việc áp dụng vào trị liệu hơn là giải thích lý thuyết

Trường phái Phân tâm mới (với đại diện là Sullivan, Horney và Fromm) đã đánh giá tầm quan trọng của sự ĐGBT nhưng cũng chỉ coi nó như một chủ đề riêng lẻ chứ không đặt nó vào trung tâm học thuyết của mình

Một vài nhà tâm lý học khác như Hartmann, Erikson và Jacobson có liên hệ đến

sự tự đánh giá nhưng lại chỉ liên hệ gián tiếp Rogers cũng quan tâm tới sự ĐGBT nhưng chủ yếu là ở bản chất chung của các trải nghiệm của các khách thể và sự chấp nhận thể nghiệm của cá nhân

Có thể nói, James, Mead và Charles là những nhà tâm lý học đầu tiên cung cấp khả năng và hướng dẫn chính cho việc nghiên cứu về ĐGBT Họ quan tâm đến nguồn gốc và mức độ của sự ĐGBT Tuy nhiên, họ vẫn còn bị hạn chế do chưa chỉ ra được những nhân tố ảnh hưởng tới sự tự đánh giá

Trong những năm gần đây, đánh giá bản thân (ĐGBT) là một đề tài đã và đang được quan tâm nghiên cứu nhiều trên thế giới Thống kê cho thấy, trong vòng hơn 10 năm cuối của thế kỷ XX đã có hơn 20.000 công trình nghiên cứu về ĐGBT (Bolognini, 1998) Theo đánh giá của Hiệp hội Xã hội học và Tâm lý học Mỹ, trong hơn 30 năm qua, đã có hàng nghìn bài báo, đầu sách về ĐGBT và con số này vẫn không ngừng gia tăng (Owens, Stryker và Goodman, 2001)

Trang 13

Vậy ĐGBT đã và đang được nghiên cứu theo những phương diện nào? Chúng ta

sẽ tìm hiểu thông qua phần phân tích dưới đây

1.1.1.1 Nghiên cứu về đặc điểm của đánh giá bản thân

Các nhà nghiên cứu đã tìm hiểu, nghiên cứu và đưa ra một số đặc điểm của ĐGBT Đó là: Tính phù hợp của ĐGBT; tính phân biệt và tính khái quát của ĐGBT;

độ cao - thấp của ĐGBT và tính bền vững của ĐGBT

* Tính phù hợp của đánh giá bản thân

Tự đánh giá là hình ảnh về những đặc điểm, phẩm chất, năng lực, thái độ… của bản thân trong các tình huống của hiện thực khách quan Tính phù hợp của tự đánh giá diễn tả sự tự đánh giá đúng, khách quan, chính xác những hiện tượng được đánh giá

Cụ thể là cá nhân phải đánh giá đúng mức độ của các hiện tượng tâm lý có ở bản thân Theo Lepkina (1967), đánh giá bên ngoài là cơ sở để xem xét tự đánh giá của cá nhân; còn Franz (1982) lại cho rằng: sự thống nhất giữa tự đánh giá và đánh giá bên ngoài chỉ có ý nghĩa là các đánh giá này không khác nhau về nội dung chứ chưa đủ để khẳng định tự đánh giá phù hợp

Có thể nói, sự đánh giá bên ngoài và tự đánh giá phải dựa vào một hệ thống mức

độ đánh giá phù hợp với tiêu chuẩn xã hội và cả hai sự đánh giá đó, về mặt nội dung cùng phải dựa vào hoàn cảnh, tình huống của hiện tượng được đánh giá

* Tính phân biệt và tính khái quát của đánh giá bản thân

Một số tác giả nghiên cứu về tính phân biệt và tính khái quát của ĐGBT ở các lứa tuổi khác nhau cho thấy: Ở học sinh lớp 7, sự ĐGBT đã thể hiện cả hai xu hướng,

cả phân biệt lẫn khái quát (Safin, 1975) Và cùng với sự phát triển của nhân cách, trẻ

có khả năng ĐGBT về nhiều mặt hơn, mức độ độc lập tăng dần lên (Boivin, 1992)

Nhìn chung, giữa tính phân biệt và tính khái quát của tự đánh giá luôn có sự thống nhất chặt chẽ với nhau Đối với mỗi cá nhân, trong các lĩnh vực hoạt động khác nhau, mức độ biểu hiện của các phẩm chất, năng lực… của cá nhân có sự khác nhau

Trang 14

Nói cách khác, cá nhân có sự tự đánh giá bản thân trong các dạng hoạt động khác nhau Khi đó, tự đánh giá có tính phân biệt

Từ sự đánh giá, nhận xét từng mặt về bản thân trong các dạng hoạt động khác nhau, cá nhân có sự đánh giá chung về những phẩm chất, năng lực, những thuộc tính… nhân cách của bản thân Khi đó, tự đánh giá có tính khái quát…

* Độ cao, thấp của đánh giá bản thân

Khi nói tới độ cao, thấp của tự đánh giá có nghĩa là đề cập đến tiêu chuẩn đánh giá ở mỗi người Tiêu chuẩn ấy được xây dựng trên các chuẩn mực, quy tắc xã hội của tập thể Nói cách khác, một tiêu chuẩn đánh giá được xã hội thừa nhận thông qua lăng kính chủ quan của mỗi người; cá nhân tiếp nhận nó, đối chiếu mình với nó để nhận biết được những biểu hiện riêng của mình vào vị trí nào đó trong hệ thống các chuẩn mực định sẵn Thông qua đó, ta biết được độ cao, thấp của tự đánh giá…

Nếu như một số nhà nghiên cứu khác cho rằng, độ cao thấp của ĐGBT phụ thuộc vào lứa tuổi, sự định hướng của cá nhân và hình ảnh bản thân, hình ảnh bên ngoài hay hình ảnh lý tưởng thì Harter (1999) lại cho rằng, trẻ em không có sự ĐGBT tổng quát cao hay thấp mà một đứa trẻ chỉ có thể nhận thấy bản thân có năng lực ở lĩnh vực này nhưng không có năng lực ở lĩnh vực khác…

* Tính bền vững của đánh giá bản thân

Tính bền vững của tự đánh giá được xác định trong mối liên hệ với những yêu cầu khác nhau và những khoảng thời gian khác nhau, nó liên quan tới một số đặc điểm tâm lý cá nhân: Tính bền vững của tự đánh giá phụ thuộc vào tính bền vững của sự tự khẳng định trong nhân cách và tính bền vững về mặt xã hội của nhóm có liên quan (Dissler, 1976)

1.1.1.2 Nghiên cứu về ảnh hưởng của đánh giá bản thân tới sự phát triển nhân cách

Theo Iarosevski & Petroski (1990), ĐGBT đóng vai trò là tác nhân điều chỉnh hành vi và hoạt động của con người Ngoài ra, hai ông còn cho rằng mối liên hệ giữa

Trang 15

con người với thế giới xung quanh, sự phê phán, yêu cầu đối với bản thân và mối quan

hệ thành công cũng như thất bại đều phụ thuộc vào sự ĐGBT

Burns (1979) và Covington (1992) tuy nghiên cứu ĐGBT vào hai thời điểm khác nhau nhưng họ đều cho rằng: Người ĐGBT cao thường cư xử, hành động có tính cộng đồng hơn, có trách nhiệm hơn, đạt được những thành công cao hơn, có xúc cảm xã hội cao hơn và hạnh phúc hơn Ngược lại, những người đánh giá bản thân thấp phải đối mặt với một loạt những vấn đề xã hội và tâm lý bởi vì các nhà nghiên cứu cho rằng họ

là những người dễ bị ảnh hưởng, dễ chịu tác động, nhạy cảm với những ảnh hưởng tiêu cực từ môi trường xã hội cũng như tâm lý mà họ sống (Mecca, 1989; Owens và Stryker, 2001)

Cũng có những chứng cứ cho thấy mọi người muốn chứng tỏ cái tôi của mình (Swann, Stein-Seroussi và Gisler, 1992), nên khi một người nào đó cảm thấy “mọi thứ thật tồi tệ”, người ta sẽ có khuynh hướng làm những điều không tốt (Heise & Smith-Lovin, 1981)

1.1.1.3 Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng tới sự đánh giá bản thân

Qua những nghiên cứu của các nhà khoa học, chúng ta thấy nổi lên hai yếu tố ảnh hưởng tới sự ĐGBT, đó là: Những yếu tố xã hội bên ngoài và những yếu tố tự nhiên bên trong

* Ảnh hưởng của các yếu tố xã hội tới sự đánh giá bản thân

Các nhà Tâm lý học đã đưa ra một số yếu tố mà theo họ có ảnh hưởng tới việc cá nhân đánh giá về bản thân mình như sau:

Con người chỉ có thể nhận biết bản thân mình thông qua người khác Chính sự đánh giá của những người xung quanh sẽ giúp chúng ta hiểu về bản thân mình Theo Ananhiep (1980), chính trong quá trình giao tiếp mà con người hiểu được người khác

và nhận biết được thái độ của người khác về mình Sự đánh giá, chấp nhận của những người xung quanh cũng là yếu tố vô cùng quan trọng ảnh hưởng tới sự đánh giá của chúng ta về bản thân (Adler, 1927; Mead, 1934; Rogers, 1951; Hoge, Smith và Hanson, 1990)

Trang 16

Mối quan hệ liên nhân cách với bố mẹ và những người thân trong gia đình cũng không nằm ngoài mối liên hệ đó Sự quan tâm, chăm sóc và đánh giá của gia đình ít nhiều làm cho cá nhân thấy mình có giá trị hoặc ít giá trị hơn (Adler, 1927; Rubinstein, 1974; Rosenberg, 1979; Bowlby, 1982) Những trải nghiệm trong gia đình cũng là yếu

tố được Wallerstein và Kelly (1980), Felson và Zielinski (1989) đánh giá là yếu tố có ảnh hưởng tới sự ĐGBT

Đặc điểm của nhóm xã hội mà cá nhân tham gia, năng lực của những người trong nhóm cũng như vị trí của cá nhân trong nhóm là yếu tố cũng cần phải tính đến khi muốn làm tăng tính tích cực hay tiêu cực của quá trình tự đánh giá (Mendelson và White, 1985; Kail, 1998)

Sự chấp nhận, sự đánh giá, mối quan hệ liên nhân cách, vị trí của cá nhân trong nhóm xã hội, năng lực nhận thức của cá nhân, sự thống nhất giữa cái Tôi và các lĩnh vực mà cá nhân quan tâm đều có sự ảnh hưởng nhất định đến tự ĐGBT (James, 1890; Coopersmith,1967; Rosenberg, 1979; Harter, 1984-1990; Tessers, 1988; McKay và Fanning, 2000)

* Ảnh hưởng của yếu tố tự nhiên tới sự đánh giá bản thân

Nhìn chung, mọi hiện tượng tâm lý của cá nhân (xu hướng nhân cách, động cơ, nhu cầu, khả năng nhận thức của cá nhân ) đều có liên quan đến tự đánh giá Trình độ phát triển của nhân cách cũng ảnh hưởng tới sự ĐGBT Thời điểm dậy thì (dậy thì sớm hay muộn) được xem như một nhân tố ảnh hưởng tới sự ĐGBT (Steinberg, 1993) Tính thống nhất giữa “cái tôi thực tế” và “cái tôi lý tưởng” cao thì sẽ có sự ĐGBT cao (Higgins, 1991; Showers, 1992; Steinberg, 1993) Sự ĐGBT phụ thuộc vào mức độ kỳ vọng ở bản thân của mỗi cá nhân Tình trạng sức khỏe cũng được coi như nguồn gốc của ĐGBT (Adler, 1927; Mendelsson, 1985; Schultz, 1992) Thực tế là, nếu như chúng ta luôn cảm thấy lo hãi, bất an hoặc thấy ốm yếu thì khó có thể luôn có sự đánh giá tích cực về bản thân Ngược lại, nếu chúng ta có sức khỏe tốt, chúng ta thường cảm thấy lạc quan, tràn đầy sức sống, có sự đánh giá về bản thân một cách tích cực…

Trang 17

1.1.2 Tổng quan nghiên cứu về đánh giá bản thân ở Việt Nam

Nghiên cứu về ĐGBT ở Việt Nam còn khá mới mẻ và mới được quan tâm nghiên cứu vào những năm cuối thập kỷ 90 của thế kỷ XX Trong những năm gần đây, việc nghiên cứu vấn đề ĐGBT được quan tâm nhiều hơn Tuy nhiên, số lượng các công trình nghiên cứu vẫn còn hạn chế Hầu hết các tác giả mới chỉ tập trung xác định nội hàm khái niệm tự đánh giá, những yếu tố ảnh hưởng tới ĐGBT và vai trò của ĐGBT đối với sự phát triển nhân cách; cũng như mới chỉ tập trung nghiên cứu ở lứa tuổi học sinh và ở khía cạnh giáo dục như việc đánh giá mối quan hệ giữa khả năng tự đánh giá với thái độ, động cơ học tập…

Trong bài viết tìm hiểu khái niệm “Tự đánh giá”, tác giả Vũ Thị Nho (1998)

đã dẫn ra một số quan niệm của một số nhà Tâm lý học về vấn đề tự đánh giá Việc dẫn ra một số quan niệm điển hình cho thấy, mỗi tác giả, tuy xuất phát từ góc nhìn của mình và nhấn mạnh nội dung này hay nội dung khác trong khái niệm tự đánh giá, song đều thống nhất coi tự đánh giá có bản chất là sự tự nhận xét, đánh giá về chính mình

và tự đánh giá có tính toàn diện Điều này có nghĩa tự đánh giá bao hàm cả những yếu

tố về diện mạo, thể chất cũng như những đặc điểm, những phẩm chất tâm lý nhân cách Tự đánh giá là điều kiện bên trong của tự giáo dục, tự ý thức, tự hoàn thiện nhân cách

Qua bài viết “Con người thích tự đánh giá và được đánh giá hình ảnh cái tôi

của mình như thế nào?”, tác giả Nguyễn Thị Hoa (1999) đã khẳng định: Tất cả mọi

người đều có nhu cầu muốn tự đánh giá và được đánh giá hình ảnh cái tôi Bài viết xoay quanh câu hỏi “Các cá nhân muốn tự đánh giá đúng thực tế hay muốn tự đánh giá tốt đẹp hơn?” Thông qua việc tổng hợp từ một số kết quả nghiên cứu thực nghiệm, tác giả bài viết đã chỉ ra rằng: Nhìn chung, con người thích những nhận xét thống nhất với nhận xét của họ về bản thân hơn là những nhận xét trái ngược Những người ĐGBT tốt thường tìm cách để người khác cũng đánh giá tốt về họ

Tác giả Đỗ Long, Phan Thị Mai Hương và đồng nghiệp (2002) đã có những kết luận khá thú vị về tính cộng đồng - tính cá nhân và cái Tôi của người Việt Nam từ góc

Trang 18

độ tâm lý học qua nghiên cứu về “Tính cộng đồng - tính cá nhân và “cái Tôi” của

người Việt hiện nay”:

- Từ góc độ lý luận, các tác giả thấy rằng: tính cộng đồng - tính cá nhân trở thành một cặp phạm trù đi liền nhau, có thể chuyển hoá cho nhau trong một số điều kiện xã hội nhất định, chứ chúng hoàn toàn không đối nghịch, loại trừ nhau

- Từ góc độ nghiên cứu thực tiễn, các số liệu cho thấy, trong điều kiện được tự do liên tưởng và lựa chọn thì nhìn chung thanh niên trước hết nghiêng về việc mô

tả bản thân mình như một cá nhân độc lập, có những cá tính, sở thích và quan điểm rất riêng Đứng ở vị trí thứ hai là những nét mô tả mang tính cưỡng bức Thanh niên thấy nét riêng của cá nhân mình trong tập thể, trong cộng đồng Thanh niên có xu hướng thể hiện tính cộng đồng chỉ ở những nơi mà họ được biết đến, nơi mà họ có mối quan hệ gần gũi, thân thiết với những người khác trong cộng đồng Còn ở những nơi họ không có một vị trí cụ thể, rõ ràng trong nhóm, không có mối quan hệ quen biết hay người khác không biết đến họ thì họ

sẽ không biểu hiện những đặc điểm mang tính cộng đồng của mình Và sự thể hiện tính cá nhân hay tính cộng đồng rất phụ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể Đây cũng là một đặc điểm đáng chú ý của người Việt Nam nói chung: xu hướng ứng

xử phù hợp với hoàn cảnh

Trong một nghiên cứu về vấn đề ĐGBT đăng trên Tạp chí Tâm lý học với tựa

đề “Tự đánh giá của học sinh trung học cơ sở ở Hà Nội”, (số 7, 7/2005, tr 30-36),

tác giả Đỗ Ngọc Khanh đã đưa ra kết luận:

Học sinh trung học cơ sở ở Hà Nội có mức độ tự đánh giá tổng thể ở mức trung bình Nói chung, sự tự đánh giá về học tập, đạo đức, xã hội của học sinh trung học cơ sở ở Hà Nội đạt mức trung bình cao Sự tự đánh giá về mặt thể chất ở mức trung bình; trong đó các em học sinh đánh giá sức khoẻ tích cực hơn đánh giá về hình dáng của bản thân Sự tự đánh giá về mặt cảm xúc đạt mức trung bình thấp Các em có sự tự đánh giá về cảm xúc có liên quan đến khía cạnh học tập; trong khi đó cảm xúc tích cực thường liên quan đến quan hệ xã hội

Trang 19

Qua nghiên cứu về “Trình độ học lực và khả năng tự đánh giá phù hợp, ổn

định của học sinh cuối bậc tiểu học”, (Vũ Thị Nho, 1998), tác giả đã chứng minh:

- Học sinh cuối bậc tiểu học đã có khả năng tự đánh giá những phẩm chất nhân cách cơ bản của người học sinh, người đội viên Song việc đánh giá ổn định và phù hợp chiếm tỷ lệ chưa cao và phụ thuộc khá rõ vào nội dung, chuẩn đánh giá cũng như trình độ học lực

- Học sinh giỏi tự đánh giá phù hợp, ổn định trội hơn hẳn so với học sinh các loại khác

Tác giả cho rằng, với học sinh cuối bậc tiểu học, việc nâng cao chất lượng học tập, khả năng nhận thức là một trong những con đường nâng cao khả năng tự đánh giá của các em, giúp các em “hết mình” và chính xác trong sự định hướng, điều chỉnh và

tự giáo dục một cách hiệu quả

PGS.TS Văn Thị Kim Cúc và các đồng nghiệp trong nghiên cứu “Những tổn

thương tâm lý của thiếu niên do bố mẹ ly hôn” (Văn Thị Kim Cúc, 2003a) đã cho

thấy: Ở những đứa trẻ có bố mẹ ly hôn, tồn tại nhiều dạng và nhiều mức độ tổn thương tâm lý khác nhau Các tổn thương tâm lý ảnh hưởng tiêu cực tới sự ĐGBT của trẻ Điều này thể hiện ở chỗ, trẻ có bố mẹ ly hôn đánh giá cái tôi tích cực thấp hơn sự đánh giá cái tôi tích cực của trẻ sống trong gia đình bình thường Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng:

- Có sự khác biệt có ý nghĩa trong tự đánh giá chung về hình ảnh thể chất, các biểu tượng về sự nhìn nhận và đánh giá của người khác, các biểu tượng về năng lực thể thao cũng như các mong muốn có liên quan tới các biểu tượng và sức mạnh thể chất hơn các em sống trong gia đình bình thường

- Về mặt giới tính, trẻ nam hay nữ trong gia đình có bố mẹ ly hôn cùng cảm thấy phải chịu thiệt thòi như nhau Tuy nhiên, các em nữ trong gia đình có bố mẹ ly hôn đánh giá ứng xử và năng lực trong cuộc sống học đường cũng như năng lực xây dựng và duy trì các mối quan hệ với các thành viên trong gia đình, bạn bè hay cảm giác được thừa nhận về mặt xã hội thấp hơn một cách có ý nghĩa so

Trang 20

với các em nữ sống trong gia đình có đầy đủ cả bố mẹ Bên cạnh đó, với trẻ nam, việc ở với ai sau khi bố mẹ ly hôn ảnh hưởng một cách có ý nghĩa tới sự đánh giá năng lực và ứng xử trong cuộc sống học đường của trẻ Với trẻ nữ, khả năng thể hiện hay kiềm chế cảm xúc của các em bị ảnh hưởng sâu sắc bởi việc

em sẽ ở với ai sau khi bố mẹ chia tay

- Về phương diện lứa tuổi, trẻ dưới 13 tuổi bộc lộ cảm xúc tiêu cực và có xu hướng phô trương “sức mạnh cơ bắp” cao hơn trẻ cùng lứa tuổi ở gia đình bình thường

Qua nghiên cứu thực tiễn trên 60 trẻ trai và 60 trẻ gái ở một số trường phổ thông cơ sở tại Hà Nội, PGS.TS Văn Thị Kim Cúc (2004) đã có những kết luận ban

đầu về “Mối tương quan giữa biểu tượng về gia đình và sự đánh giá bản thân của

trẻ” Theo tác giả, những biểu tượng trẻ có được về gia đình mình, về người bố, người

mẹ có mối tương quan rất chặt chẽ tới hình ảnh mà trẻ có về bản thân mình Điều này hoàn toàn phù hợp với kết quả nghiên cứu của các tác giả nước ngoài như Perron (1971), Berger và Luckman (1986), Bouissou (1996) Sự hình thành biểu tượng về gia đình nói chung, về giá trị của người cha, người mẹ nói riêng không có con đường nào khác ngoài những gì trẻ nhìn thấy, nghe thấy, cảm thấy thông qua những hoạt động của gia đình, của người bố và người mẹ Chính qua tổng thể các hoạt động này mà trẻ xác định được vị trí của mình trong gia đình: mình được tôn trọng như thế nào? bố mẹ

có thật lòng yêu thương mình không? Những gì mà trẻ cảm nhận được sẽ là cơ sở để trẻ thiết lập nên những giá trị về bản thân mình

Tổng hợp kết quả nghiên cứu “Ảnh hưởng của sự tự đánh giá bản thân đến

sự phát triển nhân cách” (Đỗ Ngọc Khanh, 2004b) cho thấy: ĐGBT có một vai trò

quan trọng trong việc phát triển nhân cách Tự đánh giá giúp cho trẻ có được các mối quan hệ liên nhân cách tốt đẹp, làm giảm mức độ lo lắng, trầm cảm Những người tự đánh giá cao dễ dàng ứng phó với các khó khăn trong cuộc sống Tự đánh giá thấp có thể làm tổn hại đến các mối quan hệ liên nhân cách, gây trầm cảm, lo lắng, dễ dẫn đến

sử dụng chất gây nghiện…

Trang 21

Tóm lại, trong những năm gần đây, vấn đề tự đánh giá đã thu hút được sự quan tâm chú ý của những nhà tâm lý học, đặc biệt là nghiên cứu khả năng tự đánh giá của học sinh Tuy nhiên, hiện nay vấn đề tự đánh giá nghiên cứu ở khách thể là sinh viên ở nước ta vẫn còn tương đối ít…

1.2 Các khái niệm cơ bản

1.2.1 Khái niệm bản thân

Theo ThS Nguyễn Ngọc Lâm, khái niệm bản thân (hay hình ảnh bản thân) chính

là sự hình dung của mỗi cá nhân về bản thân mình nhờ quá trình cá nhân giao lưu, tương tác trong các mối quan hệ và từ những trải nghiệm về sự thành công hay thất bại của cá nhân trong cuộc sống

Có thể nói, hình ảnh bản thân không có sẵn khi con người được sinh ra mà được hình thành dần dần trong quá trình cá nhân tham gia vào các mối quan hệ (mối quan hệ liên nhân cách với bố mẹ và những người thân trong gia đình, các mối quan hệ xã hội) Chính trong quá trình cá nhân tham gia hoạt động, giao lưu trong các mối quan hệ đó

mà cá nhân tỏ thái độ đối với người khác, có sự đánh giá về người khác, nhận biết được sự đánh giá của người khác về mình và qua đó mình tự đánh giá mình Những trải nghiệm về sự thành công hay thất bại của cá nhân trong học tập, trong công việc, trong các mối quan hệ xã hội; cũng như những trải nghiệm của cá nhân trong gia đình đều có ý nghĩa nhất định trong việc cá nhân hình dung về bản thân mình như thế nào

Có thể nói, trong mối quan hệ giữa cá nhân và người khác thì người khác chính là

“gương soi” mà qua đó cá nhân nhận thức về mình, tỏ thái độ với chính mình và điều khiển hành vi của mình…

Khái niệm bản thân có thể thay đổi theo thời gian nếu có sự thay đổi trong cách ứng xử của những người xung quanh và trải nghiệm của bản thân trong cuộc sống

* Khái niệm bản thân mang nhiều hình thức khác nhau

- Cái Tôi thể chất: Là sự ý thức của cá nhân về cơ thể, vóc dáng của chính bản

thân mình (đẹp hay xấu, cao hay thấp, có cân đối, hài hòa hay không, có hãnh diện về

Trang 22

cơ thể của mình hay không ) Cá nhân hành động tích cực hay tiêu cực cũng do cách

cá nhân tự đánh giá hay sự đánh giá của người khác về vóc dáng của mình… Ví dụ: những người có khiếm khuyết về cơ thể thường hay bị trêu chọc và điều đó khiến họ luôn mặc cảm, tự ti, ít chịu giao tiếp với người khác

- Cái Tôi chủ quan: Là cách một cá nhân nghĩ về chính mình (tôi nghĩ tôi là…)

và những gì mà người khác đánh giá về mình (có khi đúng, có khi sai) Ví dụ: Tự đánh giá mình là người khó ưa đối với người khác

- Cái Tôi lý tưởng: Là cái “tôi” mà một cá nhân muốn trở thành (về các mặt như

ước vọng, giá trị, lý tưởng, đạo đức, nguyên tắc sống…), thường dựa theo một mẫu người được ngưỡng mộ hay ước muốn đi theo một lĩnh vực hoạt động có ích cho xã hội

- Và những cái Tôi khác: theo từng vai trò xã hội mà cá nhân đang đảm nhận

theo từng thời điểm của cuộc sống, theo nghề nghiệp, theo môi trường sống…

* Khuynh hướng hướng tới của bản thân: có 3 khuynh hướng chính:

- Khuynh hướng sàng lọc: con người thường tiếp nhận những gì mình thích theo

một khung giá trị, hệ thống giá trị sẵn có với xu hướng loại bỏ những cái không phù

hợp và giữ lại cái gì được coi là phù hợp với hình ảnh của mình Ví dụ: môn học nào

chúng ta không thích thì chúng ta cảm thấy khó khăn trong học tập; khi mở xem một tạp chí, chúng ta thường hay có khuynh hướng chọn xem trước những mục mà mình thích nhất…

- Khuynh hướng hành động theo sự mong đợi của người khác (hiệu quả

Pygmalion) Đó là những nỗ lực đáp trả lại sự quan tâm và mong đợi của người khác

đối với bản thân mình như cha mẹ ở gia đình, thầy cô giáo ở trường học, bạn bè ở trong nhóm, lãnh đạo trong cơ quan, Con người thường cảm thấy mất định hướng và buông xuôi nếu sống trong một môi trường không có ai quan tâm và mong đợi điều gì

ở nơi mình Ví dụ: Trong một lớp học, nếu thầy cô giáo không mong đợi gì ở SV thì

SV sẽ dễ dàng thờ ơ trong hoạt động học tập của mình, cảm thấy không có động lực để phấn đấu…

Trang 23

- Khuynh hướng tiên tri về sự tự thể hiện của một cá nhân (người có kế hoạch

cho cuộc sống của chính mình) Khi bản thân chúng ta mong đợi ở chính mình điều gì thì đó là động lực thúc đẩy chúng ta hành động để vươn tới đích Khuynh hướng tiên tri này có được khi cá nhân có khái niệm bản thân tích cực, có niềm tin vào khả năng của mình cũng như có niềm tin ở tương lai của chính mình

* Khái niệm bản thân chuyển biến theo hướng tích cực hoặc tiêu cực tùy theo các yếu tố sau:

- Sự suy nghĩ của một cá nhân về những mong đợi của người khác về bản thân mình (suy nghĩ tích cực hay suy nghĩ tự hủy hoại) có ảnh hưởng đến việc cá nhân đánh giá về bản thân Sự suy nghĩ này phụ thuộc rất lớn vào môi trường sống tác động lên

cá nhân

- Việc cá nhân đảm nhận các vai trò được giao và sự hoàn thành hay không hoàn thành vai trò xã hội ảnh hưởng rất nhiều đến khái niệm bản thân và ảnh hưởng đến hành vi của con người

- Những trải nghiệm của cá nhân trong việc khắc phục những khó khăn, cản trở trong cuộc sống, các mâu thuẫn trong các mối quan hệ, nguyên tắc, giá trị… mà cá nhân gặp phải trong cuộc sống cũng có những ảnh hưởng nhất định Mỗi lần cá nhân vượt qua được những thử thách của cuộc sống, cố gắng thích nghi được với môi trường mới, cá nhân tự cảm thấy mình trưởng thành hơn và vững tin hơn vào chính bản thân mình

- Việc nhận biết được các phản ứng khác nhau của những người khác trong những hoàn cảnh khác nhau: Chúng ta học giỏi, nhưng không nhận được lời khen ngợi nào từ thầy cô giáo, bố mẹ và những người xung quanh để rồi chúng ta không còn tin rằng mình là người học giỏi nữa Chúng ta thất vọng và buông xuôi Vấn đề quan trọng là chúng ta biết đánh giá đúng mức các phản ứng khác nhau của những người khác để có thể hiểu rõ hơn về mình và tự biết điều chỉnh Đó là một quá trình phát triển và hoàn thiện nhân cách

Trang 24

- Mức độ mong đợi nơi chính mình trong hành vi (biết quyết định, tránh cái sai, dám làm cái đúng…) Sự mong đợi cao nơi chính mình sẽ giúp chúng ta có kỹ năng sống tốt hơn, tạo sức đề kháng vững chắc hơn trước cái xấu, sự cám dỗ và những việc làm sai trái trong cuộc sống

Chúng ta tự nghĩ về chúng ta đúng hay không đúng, phù hợp hay không phù hợp tùy thuộc vào mối tương tác giao tiếp với những người xung quanh Vậy, chúng ta bộc

lộ con người mình như thế nào và chúng ta nhận được sự phản hồi của người khác ra sao? Sự tương tác này được giải thích qua cửa sổ Johari

Cửa sổ Johari được xây dựng bởi Joseph Luft và Harry Ingham, cho biết ở mỗi

cá nhân khi tương tác với người khác có bốn ô tâm lý như sau:

Ô 1: Phần công khai (ô mở): Phần công khai bao gồm các dữ kiện mà chính

bản thân mình và người khác đều dễ dàng nhận biết về nhau khi tiếp xúc lần đầu tiên

(như màu tóc, vóc dáng, trang phục, giới tính ) Đó là ô ta biết về ta và người khác

cũng biết về ta

Ô 2: Phần mù: Phần mù bao gồm các dữ kiện mà người khác biết về mình,

nhưng chính bản thân mình lại không nhận biết được Ví dụ như những thói quen (nói nhanh, nói nhiều…), cố tật (nhìn lên trên hoặc nhìn xuống dưới khi giao tiếp ), tính khí bất thường… Chúng ta chỉ có thể phát hiện được những dữ kiện này về mình khi được người khác phản hồi cho chúng ta biết và chúng ta chỉ nhận được những thông tin phản hồi này trong giao tiếp (nhất là khi có tương tác trong quá trình sinh hoạt

trong nhóm nhỏ) Đây là ô ta không biết về ta, nhưng người khác lại biết về ta

Ô 3: Phần che giấu: Đó là các dữ kiện mà bản thân biết rõ nhưng còn che giấu

chưa muốn bộc lộ cho ai biết và tất nhiên người khác không biết được (như kinh nghiệm cá nhân, quan điểm, niềm tin, giá trị, tâm sự riêng tư…) Những vấn đề này chỉ được bộc lộ dần dần cho người khác biết khi mối quan hệ giữa chúng ta và người

khác đã có những cơ sở của sự tin tưởng lẫn nhau Đây là ô ta biết về ta và người khác

không biết về ta

Trang 25

Ô 4: Phần không biết: Phần không biết bao gồm các dữ kiện mà cả chính bản

thân mình và người khác không biết đến Nó chỉ được khám phá khi bản thân có cơ hội giao tiếp nhiều (nhất là ở nhóm nhỏ) và có cơ hội bộc lộ khả năng của mình (như năng lực, tiềm năng, năng khiếu, sự sáng tạo…) khi chúng ta sống trong một môi

trường tạo cho ta nhiều cơ hội và điều kiện để phát huy Đây là ô ta không biết về ta

và người khác cũng không biết về ta Theo Sigmund Freud, phần này thuộc về tiềm

thức hay vô thức và được khám phá nhanh hay chậm tùy thuộc vào môi trường sinh hoạt (nhóm, nơi học tập, nơi làm việc…) tạo điều kiện nhiều hay ít cho chúng ta hội nhập

Thông tin phản hồi là xu hướng mà người khác sẵn sàng chia sẻ thông tin với chúng ta Đó là thiện ý cởi mở của họ đối với chúng ta Trong giao tiếp, nếu chúng ta thường cắt ngang và lấn át ý kiến phản hồi của người khác bằng cách tranh luận về tình cảm và khả năng lĩnh hội của họ thì chúng ta không nhận được thông tin phản hồi Nếu không có thông tin phản hồi từ người khác, phần MÙ trở nên lớn hơn và cuối cùng sẽ hủy hoại tính hiệu quả của chúng ta Do đó cần tôn trọng, khuyến khích người khác chia sẻ cảm tưởng và nhận thức với mình Sự phản hồi từ người khác và sự tự đánh giá sẽ giúp chúng ta phát triển tính cách thông qua nhận thức

Tự bộc lộ là xu hướng của chúng ta mong muốn chia sẻ với người khác Bộc lộ trước hết không phải là cái chúng ta nói về bản thân mình mà là về hành vi của chúng

ta Bộc lộ chỉ thích hợp khi nó có liên quan đến hoạt động của chúng ta vì nếu cái gì

Do tự bộc lộ

Do sự phản hồi của người khác

Phần công khai

Phần mù

Phần che giấu

Phần không biết

Trang 26

cũng bộc lộ thì không còn gì hứng thú trong giao tiếp Bộc lộ có thể thích hợp trong một môi trường này, nhưng lại không thích hợp trong một môi trường khác

Nói tóm lại, hành vi con người bắt nguồn từ việc mong muốn thỏa mãn các nhu

cầu cơ bản của mình, từ việc tự đánh giá mình như thế nào, từ những cơ chế phòng vệ khi gặp những cản trở, khó khăn trong đời sống hàng ngày và từ các vai trò mà chúng

ta muốn diễn khi tương tác với người khác Vì vậy, con người cư xử ra sao chính là kết quả của quan niệm của cá nhân về vai trò xã hội; cái nhìn tích cực hay tiêu cực của riêng cá nhân về chính mình và về người khác; cái mạnh hay yếu của hình ảnh bản thân và là kết quả của quá trình thích nghi của cá nhân đối với những vấn đề nảy sinh trong cuộc sống

1.2.2 Khái niệm đánh giá bản thân

Theo Từ điển Cambridge thì ĐGBT (self-esteem) có nghĩa là: “Lòng tin, sự tin

tưởng vào năng lực và giá trị của bản thân mình” (Cambridge Dicstionnary, 2006)

Trong cuốn từ điển Tâm lý học (Vũ Dũng chủ biên, 2000, tr.391-392), ĐGBT

được giải nghĩa là: “cá nhân đánh giá chính mình, đánh giá những năng lực, phẩm

chất và vị trí của mình so với người khác”, “là sự điều chỉnh quan trọng hành vi cá nhân, mối quan hệ qua lại của con người với những người xung quanh, tính phê phán, tính đòi hỏi của bản thân, mối quan hệ qua lại đối với những thành tích và thất bại của người đó đều phụ thuộc vào tự đánh giá”

Nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra khái niệm ĐGBT (đặc biệt ở phương Tây) nhưng nhìn chung, các quan niệm này vẫn chưa có sự thống nhất W James (1890), Cooley (1902) và Mead (1934) là những tác giả đầu tiên đề cập đến khái niệm đánh giá bản thân

Nhà Tâm lý học và Triết học người Mỹ William James cho rằng: ĐGBT là kết quả của mối liên hệ giữa những thành công đã đạt được và những tham vọng cá nhân muốn vươn tới trong những lĩnh vực mà cá nhân cho là quan trọng trong cuộc sống Ở một nghĩa khác, ĐGBT là mối liên hệ giữa cái mà chúng ta làm (cái tôi hiện thực) với cái mà chúng ta muốn làm, muốn trở thành (cái tôi lý tưởng) (James, 1890)

Trang 27

Theo Cooley (1902), người khác chính là gương soi mà trong đó chúng ta có thể nhận ra bản thân mình Những phán xét của người khác về bản thân chúng ta sẽ được nội tâm hóa và tạo ra những quan niệm của chúng ta về bản thân Mead (1934) thì cho rằng: Sự ĐGBT chính là những phán xét của người khác được nội tâm hóa

Rotter (1966) đã đưa ra định nghĩa về ĐGBT như là niềm tin của cá nhân, cụ thể là: cá nhân có thể cho rằng anh ta chính là người tạo ra những diễn biến, sự kiện trong đời sống của bản thân mình hoặc anh ta là nạn nhân của những dữ kiện đó

Theo thang nhu cầu của Maslow (1970): ĐGBT tạo cho cá nhân cảm thấy mình

có năng lực và được người khác biết tới

Nhà Tâm lý học Levcovic (1973) lại cho rằng: ĐGBT là giai đoạn phát triển cao của tự ý thức Nó bao gồm không chỉ sự nhận thức về bản thân mà cả sự đánh giá đúng sức lực và thái độ phê phán đối với bản thân

Theo Paloxova (1973) thì tự ĐGBT được hiểu theo 2 nghĩa Thứ nhất, đó là biểu tượng của con người về chính mình đã được hình thành một cách bền vững Thứ hai, đó là quá trình cá nhân đánh giá mình trên biểu tượng nhân cách về mình được nảy sinh, kiểm tra và cải biên

ĐGBT, theo tác giả Lepkina (1976), là thái độ của con người đối với những năng lực, những khả năng, những phẩm chất nhân cách cũng như đối với toàn bộ bộ mặt bên ngoài của mình

Franz (1979), nhà Tâm lý học người Đức - một người nghiên cứu rất nhiều về

tự đánh giá đã đưa ra kết luận: ĐGBT là một dạng đặc biệt của hoạt động tự nhận thức

Đó là nhận thức của cá nhân về mức độ biểu hiện, của các hiện tượng tâm lý, của phương thức, thái độ đang tồn tại ở bản thân

Theo Weiten và Lloyd (1997), ĐGBT là đánh giá tổng thể một cá nhân, xét giá trị của người đó như một cá nhân; là sự đánh giá phổ quát cá nhân với từng vai trò khác nhau mà họ đóng (như một viên chức, một người cha, một người chồng…)

Trong tác phẩm “Xây dựng cái Tôi - Một viễn cảnh của sự phát triển”, Susan Harter (1999), giáo sư Tâm lý học của Đại học Denver cho rằng: ĐGBT là sự đánh giá

Trang 28

tổng thể về giá trị bản thân với tư cách là con người Đó là sự đánh giá mà cá nhân có được về giá trị của mình

Albert Bandura (2002) cho rằng: “Cái tôi hiệu quả” có liên quan đến quan niệm cho phép chúng ta có thể thực hiện một hành động nhằm đạt tới mục đích được đặt ra

từ trước Sự ĐGBT theo Bandura có thể đến từ những sự tự đánh giá dựa trên cơ sở sự nắm bắt những đặc tính cá nhân chứa đựng các giá trị tích cực hoặc tiêu cực khi xem xét ở các nền văn hoá khác nhau Theo quan điểm của Bandura, sự tự đánh giá bản thân là đa dạng, đa chiều kích trong công việc, trong cuộc sống, trong xã hội, trong gia đình… Ông nhấn mạnh rằng, không có sự liên hệ mang tính hệ thống giữa “cái tôi hiệu quả” và sự đánh giá bản thân mà theo ông tuỳ thuộc từng lĩnh vực hoạt động mà

có sự đánh giá bản thân

Tóm lại, các quan điểm của các nhà nghiên cứu tuy khác nhau (người thì nhấn mạnh mặt thái độ, người thì nhấn mạnh mặt nhận thức, người thì nhấn mạnh mặt quan hệ… trong khái niệm ĐGBT) nhưng họ đều thống nhất ở một điểm: họ đều coi ĐGBT

có bản chất là sự tự nhận xét, đánh giá về chính bản thân mình; ĐGBT là một giai đoạn phát triển cao của tự ý thức Bên cạnh đó, các tác giả cũng có đề cập đến tính toàn diện trong ĐGBT (nghĩa là ĐBGT bao hàm cả yếu tố bên ngoài và những phẩm chất tâm lý nhân cách bên trong) Họ cùng đi đến thống nhất rằng, đối tượng của ĐGBT chính là bản thân chủ thể, là những biểu hiện của thế giới nội tâm ở mỗi con người

Từ sự phân tích các quan điểm nêu trên, chúng tôi cho rằng: ĐGBT là một hoạt

động nhận thức đặc biệt của con người, là trình độ phát triển cao của tự ý thức, trong đó đối tượng nhận thức chính là bản thân chủ thể ĐGBT là quá trình chủ thể tự đánh giá tổng thể về giá trị bản thân mình

Định nghĩa ĐGBT nêu trên đã chỉ ra rằng: ĐGBT là hoạt động nhận thức đặc biệt của con người, nó hướng vào nhận thức bản thân chủ thể Điều này có nghĩa, đối tượng của ĐGBT chính là đánh giá cái Tôi, cái “bản ngã” của chủ thể Cái Tôi được thể hiện phong phú, đa dạng trong đời sống của chủ thể Tùy theo lứa tuổi mà chúng ta

có thể tìm hiểu sự đánh giá bản thân theo những nội dung khác nhau

Trang 29

Có thể nói, khái niệm bản thân (cảm nghĩ về mình) và tự đánh giá về mình có

sự gắn bó mật thiết với nhau Cá nhân đánh giá về mình như thế nào phụ thuộc vào các mối tương tác giao tiếp với những người xung quanh mình cũng như những trải nghiệm của bản thân về những thành công hay thất bại trong cuộc sống

Ở lứa tuổi thanh niên - sinh viên, chúng ta có thể tìm hiểu sự ĐGBT qua tìm hiểu các yếu tố cái Tôi:

Cái Tôi gia đình (các mối quan hệ liên nhân cách giữa cá nhân và người khác

như bố mẹ, những người thân trong gia đình cũng như về cảm giác được thừa nhận, được quan tâm hay không được thừa nhận, không được quan tâm trong gia đình, vị trí

của cá nhân trong gia đình…) ;

Cái Tôi xã hội (nhận thức của cá nhân về vị trí, vai trò của mình trong nhóm/

xã hội, cảm giác được thừa nhận hay không được thừa nhận trên phương diện xã hội…);

Cái Tôi thể chất (sự ý thức của cá nhân về cơ thể của mình cũng như những

mong muốn liên quan tới các năng lực thuộc cơ thể…);

Cái Tôi học đường (nhận thức về khả năng học tập của bản thân, về năng lực

làm việc nhóm; thái độ đối với học tập, mục đích học tập; cảm giác được thừa nhận hay không được thừa nhận trong hoạt động học tập; sự hài lòng hay không hài lòng về kết quả học tập của bản thân…);

Cái Tôi cảm xúc (nhận thức về những trạng thái xúc cảm của bản thân và cách thức biểu hiện những cảm xúc như cảm giác lo hãi, tức giận, căng thẳng, khả năng kìm nén cảm xúc, khả năng hài hước );

Cái Tôi tương lai (xây dựng hình ảnh bản thân trong tương lai về công việc, về

sức khoẻ, cuộc sống gia đình, sự thành công hay thất bại trong cuộc sống )

1.2.3 Cấu trúc tâm lý của đánh giá bản thân

1.2.3.1 Nhận thức về bản thân

Nhận thức là một trong ba mặt cơ bản của đời sống tâm lý con người, là cơ sở của hành động, hoạt động của mỗi cá nhân Nhận thức của cá nhân về bản thân mình

Trang 30

thể hiện ở chỗ cá nhân ý thức được về các đặc điểm cơ thể của mình, nhận biết được những phẩm chất, năng lực, khí chất, xu hướng nhân cách của mình… Nếu cá nhân nhận thức đúng đắn về bản thân mình thì đó là điều quan trọng giúp cá nhân có được

sự thành công trong cuộc sống

Sự nhận thức về bản thân đi từ mức độ nhận thức đơn giản tới sự nhận thức ngày càng sâu sắc hơn về bản thân Trong mức độ nhận thức sâu sắc đó đã gắn với một

sự đánh giá về bản thân Sự xuất hiện khả năng tự đánh giá của cá nhân về đặc điểm

cơ thể bản thân, về những phẩm chất nhân cách cá nhân, về các mối quan hệ xã hội của bản thân… gắn liền với trình độ phát triển ngày càng cao, gắn liền với việc lĩnh hội ngôn ngữ, những quy tắc, chuẩn mực, giá trị xã hội… Do đó, hình thành cho cá nhân quan niệm đúng đắn về những thành công hay thất bại của bản thân mình

Để nhận thức về bản thân mình, cá nhân phải có sự thu thập thông tin về chính mình (từ sự nhận xét, đánh giá của người khác về mình; từ sự tự quan sát của bản thân…); từ đó phân tích, so sánh, tổng hợp, khái quát… Sau đó, cá nhân phải tiến hành

xử lý những thông tin đó để đưa ra kết luận về mình, chỉ ra được mức độ nhân cách có

ở bản thân, chỉ ra giá trị nhân cách tồn tại ở bản thân Có thể nói, nhận thức về bản thân là ý thức của cá nhân hướng vào bản thân mình, từ đó nhận biết được vị trí, giá trị của bản thân trong mối quan hệ với người khác và trong xã hội

Khi cá nhân hiểu về bản thân mình, chấp nhận chính mình thì đó có thể được coi là nhân tố thúc đẩy trong việc tư duy tích cực, đặt ra mực tiêu để hoàn thiện bản thân… Cá nhân nghiêm khắc khi đánh giá bản thân, biết đâu là điểm mạnh và điểm yếu của mình để từ đó phát huy hoặc khắc phục, nhờ vậy cá nhân có thể làm việc hiệu quả hơn, có cuộc sống hạnh phúc hơn

1.2.3.2 Xúc cảm, tình cảm về bản thân

Trên cơ sở xác định những phẩm chất tâm lý nhân cách đang tồn tại ở bản thân; thông qua việc phân tích, so sánh, đối chiếu với những giá trị, chuẩn mực, đạo đức của

xã hội mà cá nhân xác định được các hiện tượng tâm lý của mình đang tồn tại ở mức

độ nào Những phẩm chất nhân cách tồn tại ở bản thân mình là tốt hay xấu, tích cực

Trang 31

hay tiêu cực, năng lực của mình có phù hợp hay không phù hợp với yêu cầu của xã hội…

Khi cá nhân đã nhận thức được về bản thân mình, đã xác định được mức độ giái trị nhân cách của mình, cá nhân tỏ thái độ, tỏ cảm xúc với chính bản thân mình Cá nhân có thể cảm thấy hài lòng hay không hài lòng với chính bản thân mình; có thể cảm thấy phấn khởi, tự hào hay bi quan, chán nản về bản thân mình; thấy mình là người có năng lực, đáng được khen thưởng hay là người bất tài, vô dụng, hậu đậu; bản thân có thể cảm thấy tự tin hay tự ti… Cá nhân có thể tự phê bình, tự đánh giá về bản thân, tự nhận định và đưa ra những dự định về tương lai của mình, chọn mẫu người để bắt chước, có lý tưởng, chí hướng phấn đấu… Đó là những trạng thái xúc cảm nội tâm của

cá nhân với chính bản thân mình

1.2.3.3 Hành vi - khuynh hướng ứng xử của bản thân

Khi cá nhân hiểu rõ về bản thân mình, cá nhân có thể kiểm soát và lựa chọn hành vi muốn biểu hiện Nếu hiểu cảm xúc và suy nghĩ của mình, cá nhân có thể lựa chọn cách hành động hoặc phản ứng trong một tình huống nào đó Sự lựa chọn trong hành động trên cơ sở nhận thức đúng đắn về bản thân được xem như sức mạnh nội tại trong hành động của mỗi con người mà không ai có thể lấy đi được

Hành vi - khuynh hướng ứng xử của cá nhân trong những điều kiện, hoàn cảnh khác nhau chính là sự phản ánh nhận thức và xúc cảm của cá nhân về bản thân mình Trên cơ sở cá nhân có sự nhận thức đúng đắn, đầy đủ về bản thân mình cá nhân tỏ thái

độ với chính bản thân mình, từ đó, cá nhân có thể tự thúc đẩy, tự kiểm tra, tự kiềm chế… bản thân mình để hoàn thiện bản thân Có thể nói, nhận thức đúng đắn về bản thân, suy nghĩ tích cực về bản thân sẽ tạo ra cảm nhận tích cực, cảm nhận tích cực sẽ tạo ra hành động tích cực và hành động tích cực sẽ tạo ra kết quả tích cực Đó là quá trình tự điều chỉnh, tự điều khiển hành vi cá nhân một cách tự giác theo mục đích đã

đề ra…

1.2.4 Cái Tôi và mối quan hệ giữa cái Tôi và đánh giá bản thân

Trang 32

Theo Purkey (1988), cái Tôi là một hệ thống phức tạp (có tổ chức, có biến động) về các niềm tin, thái độ và ý kiến mà mỗi người cho là sự thật về sự tồn tại của

cá nhân của mình

Cái Tôi là sự nhận thức về thái độ, năng lực, mục đích, hành động của cá nhân Khái niệm này được thể hiện bởi ký hiệu “Tôi” như biểu tượng của cá nhân về bản thân mình và luôn tồn tại cùng kinh nghiệm trước đây của họ (Coopersmiths, 1967; Brehm và Cohen, 1962; Deihl, Vicary và Deike, 1998)

Cái Tôi là sự tự ý thức của cá nhân về sự khác biệt của bản thân mình trong mối quan hệ của mình với người khác (Lã Thu Thuỷ, 2001) Cái Tôi là khách thể của ý thức và được quan niệm như một cấu trúc nhận thức bao gồm những ý tưởng của con người về những khía cạnh khác nhau trong sự tồn tại của anh ta (Đỗ Long và Phan Thị Mai Hương, 2002)

Cái Tôi bao gồm: “Cái Tôi xã hội” và “Cái Tôi lăng kính” “Cái Tôi xã hội” là một hệ thống những ý nghĩa hình thành từ đời sống giao tiếp mà chủ thể đã tích lũy cho mình “Cái Tôi lăng kính” là cái Tôi hình thành và phát triển thông qua những phản ứng của chủ thể khi tiếp nhận những đánh giá từ người khác Các ý tưởng này được cài dần vào tri giác về bản thân, cái mà chúng ta nghĩ rằng người khác suy nghĩ

về chúng ta, về tính cách của chúng ta, về các động cơ của chúng ta, về sự thuộc về đâu đó của chúng ta (Cooley, H.C., 1902; Lã Thu Thuỷ, 1999; Văn Thị Kim Cúc, 2002)

Cái Tôi hình thành trong từng gia đình, từng lứa tuổi, từng tầng lớp, từng giới tính và đang có xu hướng khác đi rất nhiều so với các thế hệ trước (Vũ Khiêu, 2002)

Cái tôi có liên quan chặt chẽ tới sự ĐGBT Những người ĐGBT tốt có khái niệm về cái Tôi rất rõ ràng vì khi con người biết mình, họ biết những gì họ có thể và không thể làm Do đó họ có thể đạt được kết quả tối đa (Franken, 1994)

Cái Tôi và ĐGBT được gắn vào hệ thống các quá trình bên trong gồm ba phần: Phần thứ nhất là tự ý thức, phần thứ hai là tự đánh giá và phần thứ ba là tự điều chỉnh (Harter, 1983)

Trang 33

Có thể nói, ĐGBT chính là đánh giá cái Tôi Đó là sự nhận biết của cá nhân về

sự khác biệt của bản thân mình, về giá trị của mình trong mối quan hệ với người khác

1.2.5 Tự ý thức và mối quan hệ giữa đánh giá bản thân với tự ý thức

Theo Từ điển Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô (1984), tự ý thức được hiểu theo một số khía cạnh như: sự hiểu biết đầy đủ về bản thân mình, về vị trí và vai trò của bản thân mình trong cuộc sống, trong xã hội

Tự ý thức, đó là ý thức về sự tồn tại những suy nghĩ và hành vi của mình (Hormby, 2000); là sự nhận thức về cảm giác và dáng vẻ bề ngoài của bản thân khi hiện diện trước những người khác (Mrriam-Webster, 1980); là hệ thống các biểu tượng của con người về bản thân tương đối ổn định, được trải nghiệm như là một hệ thống độc nhất vô nhị mà trên cơ sở của nó, cá nhân xây dựng sự tác động qua lại của mình với những người khác, với thế giới bên ngoài (Petrovski và Iarosevski, 1990); là ý thức xuất hiện như năng lực hiểu được chính mình (Phạm Minh Hạc, Lê Khanh và Trần Trọng Thuỷ, 1998)

Tự đánh giá là một vấn đề thuộc phạm trù tự ý thức Tự đánh giá là một bộ phận cấu thành của tự ý thức (Franz, 1979); là một khái niệm hẹp hơn, xuất hiện muộn hơn trong sự phát triển của cá nhân (Đào Lan Hương, 1999) và ở mức độ phát triển cao của tự ý thức (Levcovic, 1973; Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Văn Lũy và Đinh Văn Vang, 2003) Tự đánh giá bao gồm không chỉ nhận thức về bản thân mà cả sự đánh giá đúng sức lực, khả năng và thái độ phê phán đối với bản thân (Levcovic, 1973)

Như vậy, có thể hiểu tự đánh giá là trình độ phát triển cao của tự ý thức Tự đánh giá là quá trình cá nhân tự nhận thức về mình, tự tỏ thái độ về mình, tự điều khiển hành vi của chính mình; là sự đánh giá tổng thể của cá nhân về chính bản thân mình

1.2.6 Khái niệm Sinh viên

Trang 34

Thuật ngữ “Sinh viên” có nguồn gốc từ tiếng Latinh “studens” có nghĩa là người làm việc, học tập nhiệt tình, người tìm kiếm, khai thác tri thức Sinh viên là những người thuộc một lứa tuổi nhất định

Các nhà tâm lý học trên thế giới đều có chung một quan niệm khi cho rằng, tuổi thanh niên là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ em đến người lớn và bao hàm một khoảng đời từ 11, 12 tuổi đến 23, 24 hoặc 25 tuổi Giai đoạn này có thể chia làm hai thời kỳ:

thời kỳ chuyển tiếp trước (bắt đầu từ 11, 12 tuổi và kết thúc vào 16, 17 tuổi) và thời

kỳ chuyển tiếp sau (bắt đầu từ 17, 18 tuổi và kết thúc là lúc thành người lớn thực sự -

24, 25 tuổi) Như vậy, SV là những thanh niên ở vào thời kỳ chuyển tiếp sau, là những người đang theo học tại trường Đại học, Cao đẳng

SV là đại biểu của một nhóm xã hội đặc biệt đang chuẩn bị cho hoạt động sản xuất vật chất hay tinh thần của xã hội, là nguồn bổ sung cho đội ngũ trí thức, hoạt động học tập được đào tạo cho lao động trí óc với nghiệp vụ cao và tham gia tích cực vào hoạt động đa dạng có ích cho xã hội

Tóm lại, chúng ta có thể hiểu, SV là những thanh niên ở vào thời kỳ chuyển

tiếp sau (bắt đầu từ 17, 18 tuổi và kết thúc là lúc thành người lớn thực sự - 24, 25 tuổi) Họ là đại biểu của một nhóm xã hội đặc biệt đang chuẩn bị cho hoạt động sản xuất vật chất hay tinh thần của xã hội Ở họ gần như có sự trưởng thành về mặt sinh lý cũng như tâm lý, đã phát triển khả năng tự ĐGBT và có những định hướng giá trị nhất định trong cuộc sống

1.3 Các đặc điểm tâm lý cơ bản của sinh viên

* Về mặt sinh lý: Hình thể đạt được sự hoàn chỉnh về cấu trúc và phối hợp

giữa các chức năng Đầu thời kỳ này, con người đã đạt được 9/10 chiều cao và 2/3 trọng lượng của cơ thể trưởng thành Não bộ đã đạt trọng lượng tối đa (trung bình

1400 gram) và số tế bào thần kinh đã phát triển đầy đủ tới trên 100 tỷ nơron

Quan trọng hơn, chính ở lứa tuổi này hoạt động thần kinh cấp cao đã đạt đến mức trưởng thành Một tế bào thần kinh có thể nhận tin từ 1200 nơron trước và gửi đi

1200 nơron sau bảo đảm một sự liên lạc vô cùng rộng, chi tiết và tinh tế giữa vô số

Trang 35

kênh vào và vô số kênh ra, làm cho trí tuệ của SV vượt xa trí tuệ của học sinh Ước tính, có tới 2/3 số kiến thức học được trong đời người là do được tích lũy trong thời gian này

Đặc điểm quan trọng của thời kỳ này là “tuổi dậy thì”, các chức năng sinh sản bắt đầu quá trình phát triển đầy đủ Giới tính đã phân biệt rõ và phát triển đầy đủ ở mỗi giới, cả về biểu hiện ngoại hình lẫn biểu hiện nội tiết tố

* Về mặt tâm lý: Trong thời kỳ này, sự phát triển trí tuệ được đặc trưng bởi sự

nâng cao năng lực trí tuệ Điều này biểu hiện rõ nét nhất trong việc SV có sự tư duy sâu sắc và rộng mở, có năng lực giải quyết những nhiệm vụ trí tuệ ngày một khó khăn hơn; cũng như có tiến bộ rõ rệt trong lập luận logic, trong việc lĩnh hội tri thức Trí tưởng tượng, sự chú ý và ghi nhớ ở lứa tuổi này đã phát triển khả năng hình thành ý tưởng trừu tượng, khả năng phán đoán, nhu cầu hiểu biết và học tập…

Một trong những đặc trưng cơ bản của sự phát triển trí tuệ của thời kỳ chuyển tiếp là “tính nhạy bén cao độ”, khả năng giải thích và gán ý nghĩa cho những ấn tượng cảm tính nhờ vào những kinh nghiệm và tri thức đã có trước đây Những sự phát triển nói trên cùng với óc quan sát tích cực và nghiêm túc sẽ tạo khả năng cho lứa tuổi này biết cách lĩnh hội một cách tối ưu, mà đó chính là cơ sở của toàn bộ quá trình học tập

Sự phát triển tình cảm ở thời kỳ chuyển tiếp được đặc trưng bởi “thời kỳ bão

táp và căng thẳng” hoặc bởi thời kỳ vô tư không có gì phải bận tâm Đây cũng là thời

kỳ đầy xúc cảm với mỗi cá nhân Nó chất chứa những hạnh phúc và đam mê của mối tình chưa kịp chín hoặc mối tình đầu

Trong thời kỳ này, có nhiều tình huống mới nảy sinh đòi hỏi phải có những phán đoán và quyết định chín chắn của mỗi cá nhân Tuy nhiên, ở thời kỳ này SV thường thiếu kinh nghiệm và hiểu biết xã hội, cho nên dễ phát sinh những tình cảm không thích hợp khi phải ứng xử với những tình huống đó Vì thế, họ thường lúng túng, quá nhạy cảm trước một sự phê bình, sự nhận xét nặng lời hoặc sự thiếu tôn trọng… Khi lâm vào tình thế đó, họ dễ xuất hiện những phản ứng như: thiếu tự tin, miễn cưỡng thực hiện công việc, từ chối tham gia vào công việc chung hoặc ở một thái

Trang 36

cực khác, rơi vào tình trạng mơ mộng hão huyền khi nhận được những lời khen không xác thực Trong một số trường hợp, có thể xuất hiện những hành vi quá hung hăng, hay ngược lại, hoàn toàn thờ ơ…

Trong quá trình hình thành, phát triển tâm lý, nhân cách của SV thì tự đánh giá

(seft evaluation) là một trong những phẩm chất quan trọng, một trình độ phát triển cao của nhân cách Tự đánh giá phát triển từ khoảng 3 tuổi trở đi nhưng phát triển mạnh ở tuổi thanh niên - sinh viên Lúc này SV vừa thu nhận các tri thức, quan sát các hoạt động xã hội và tự đối chiếu vào bản thân để tự đánh giá (Ví dụ: vấn đề đi làm thêm của

SV, làm gì để phù hợp với bản thân, cần thay đổi như thế nào để phù hợp với công việc tìm được…)

Tự đánh giá phản ánh năng lực tự hiểu biết về những hoạt động, phẩm chất, năng lực của bản thân; phản ánh kỹ năng điều chỉnh bản thân, hình thành nên lòng tự trọng của cá nhân Tự đánh giá phản ánh mức độ thỏa mãn của nhân cách về bản thân,

là mức độ thỏa mãn của chủ thể về trình độ phát triển các thuộc tính của cá nhân Đó

là kết quả của quá trình SV tự quan sát, tự kiểm tra, tự phân tích… về hành động và kết quả tác động của bản thân, về tư tưởng, tình cảm, đạo đức, phong cách, hứng thú…; là sự đánh giá toàn diện về chính bản thân và vị trí của mình trong cuộc sống

Tự đánh giá là điều kiện để phát triển và hoàn thiện nhân cách, hướng nhân cách theo các yêu cầu của xã hội

Trong việc tự đánh giá, bản thân SV là đối tượng của chính mình SV sẽ có quá trình thu thập thông tin (có thể có cả sự hồi tưởng), xử lý thông tin về bản thân Sau

đó, SV sẽ rút ra các kết luận, từ đó hình thành những thái độ, hành vi, hành động, có tính điều chỉnh cho hoàn thiện… Tự đánh giá của nhân cách thể hiện ở thái độ đối với bản thân và kết quả sự biểu hiện các thuộc tính nhân cách và năng lực trong hoạt động, giao tiếp và tự giáo dục

Tự đánh giá ở SV mang tính chất toàn diện và sâu sắc SV không chỉ đánh giá hình ảnh bản thân mình có tính chất bên ngoài, hình thức mà còn đi sâu vào các phẩm chất, các giá trị của nhân cách SV không chỉ đánh giá xem: mình ăn mặc như thế

Trang 37

nào?, mình học hành như thế nào?, … SV còn đánh giá xem: Tôi là ai?, tôi có những phẩm chất tốt gì?, …và có khả năng giải thích : Tại sao tôi là người như thế này? Các câu hỏi đặt ra, các câu trả lời đều là những sự tự phản ánh, tự phê phán bản thân, tự thức tỉnh và thay đổi của SV

Hạt nhân của việc tự đánh giá nhân cách ở SV là lòng tự tin vào bản thân và tốc

độ phản ứng (mất bao lâu để SV có thể thay đổi) Việc tự đánh giá của SV vừa là tự ý thức vừa là tự giáo dục bản thân Trong quá trình đánh giá phải ý thức được bản thân,

từ đó thay đổi (hoặc có thể không thay đổi) là tự giáo dục chính mình

Tự đánh giá về mức độ trí tuệ là thành phần quan trọng trong tự ý thức, tự giáo dục ở SV Những SV đánh giá thấp về mặt này thường gây khó khăn cho họ về học tập Họ thường nảy sinh các vấn đề về học tập như: tôi học không tốt?, tôi không thể học môn này một cách tốt hơn,… Và SV đó cũng có những hành vi, cử chỉ, lời nói có chiều hướng không tích cực, việc tham gia vào các hoạt động cũng kém sôi nổi (việc gây khó khăn cho bản thân SV là khác nhau, có thể không ảnh hưởng nhiều tới hoạt động,…) Vì vậy, cần giúp những SV này thay đổi sự tự đánh giá ở mức lạc quan, tự tin hơn là điều cần thiết Ngược lại, những đặc điểm trí tuệ được đánh giá cao là cơ sở tốt cho hoạt động học tập Khi SV phát triển tinh thần trách nhiệm cao đối với học tập thì việc tự đánh giá các khả năng trí tuệ hình thành nên thái độ tốt đối với bản thân

Có những SV tự đánh giá mình quá cao, thường bị động trong học tập, nhu cầu giao tiếp thường mạnh hơn nhu cầu nhận thức Họ cho rằng những kiến thức họ có là

đã rất phong phú, không cần ai phải dạy bảo nữa Lúc này việc tiếp nhận tri thức đối với họ là thứ yếu, việc quan trọng hàng đầu là giao tiếp, tạo mối quan hệ, tăng cường các hoạt động xã hội,… Vì vậy SV cần phải lạc quan, tự tin vào bản thân để phấn đấu trong học tập và rèn luyện bản thân

Những SV tự đánh giá bản thân thấp, nhất là sự ổn định về xúc cảm, thường ở trong trạng thái không ổn định, không cân bằng, hay lo lắng, hồi hộp… Điều đó làm ảnh hưởng đến kết quả của SV trong các kỳ kiểm tra, thi cử (hạ thấp kết quả học tập)

Trang 38

Tự đánh giá về trí nhớ, tự đánh giá về tốc độ phản ứng, về kỹ năng định hướng vào người khác, về lòng tự tin, về năng lực tự nhận thức… có ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành lòng tự trọng của nhân cách

* Về mặt xã hội: Trong thời kỳ chuyển tiếp, con người ngày càng hiểu biết về

môi trường xã hội rộng lớn, đang hình thành những hứng thú và thái độ mới, cách ứng

xử mới, tác phong đĩnh đạc để đối diện với môi trường xã hội ngày càng rộng mở Cần lưu ý rằng, sự ảnh huởng của nhóm bạn bè trong thời kỳ này có ý nghĩa rất đáng kể, đôi khi dẫn đến nảy sinh những vấn đề với cha mẹ, hay các thành viên khác của gia đình với con cái

Khi xét đến mặt xã hội của thời kỳ chuyển tiếp, chúng ta phải quan tâm tới kế hoạch đường đời và việc tự xác định nghề nghiệp của thanh niên - sinh viên Kế hoạch đường đời cũng chính là kế hoạch hoạt động và nó được khởi đầu bằng sự lựa chọn nghề nghiệp

SV có độ tuổi từ 17-24, là giai đoạn chuyển từ sự chín muồi về thể lực sang trưởng thành về phương diện xã hội, là thời kỳ phát triển nhất về tình cảm đạo đức và thẩm mỹ; là giai đoạn hình thành và ổn định tính cách, đặc biệt là họ có vai trò xã hội của người lớn (quyền công dân, quyền xây dựng gia đình…) Người SV có kế hoạch hoạt động riêng của mình và độc lập trong phán đoán, hành vi Đây là thời kỳ có nhiều biến đổi mạnh mẽ về động cơ và thang giá trị xã hội Họ xác định con đường sống tương lai, tích cực nắm bắt nghề nghiệp và bắt đầu thể nghiệm mình trong mọi lĩnh vực của cuộc sống…

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng tới đánh giá bản thân

1.4.1 Yếu tố khách quan

1.4.2.1 Gia đình

Gia đình được xem là môi trường giáo dục đầu tiên mà mỗi cá nhân thường phải phụ thuộc vào, là môi trường quan trọng nhất đảm bảo cho đứa trẻ, cho cá nhân cảm giác an toàn Quá trình xã hội hóa của một người từ những năm tháng đầu tiên của cuộc đời có ảnh hưởng quyết định tới thái độ và hành vi của họ khi trưởng thành

Trang 39

Kinh nghiệm xã hội ngày càng tăng diễn ra bên trong gia đình hình thành nền tảng nhân cách của cá nhân, cho dù sau này cá nhân thay đổi nhiều đến đâu đi nữa

Gia đình phần lớn là nguyên nhân gây ra quá trình truyền dẫn văn hóa, qua đó các giá trị và tiêu chuẩn được dạy cho các thành viên mới của xã hội và kết hợp ý thức

cá nhân của chính mình Mặc dù bố mẹ không hoàn toàn quyết định sự phát triển của con cái nhưng những khuôn khổ, giới hạn của sự tự nhận thức, tự đánh giá, như thái

độ, mục đích, niềm tin, định kiến… đều có được trong gia đình

Phần lớn ảnh hưởng của gia đình trong giai đoạn sơ khai của quá trình xã hội hóa được thực hiện một cách không chính thức và không chủ đích Tương tác xã hội thể hiện mối quan hệ giữa những người thân gần gũi nhất về tinh thần và thể chất Trẻ luôn học hỏi từ loại môi trường do người lớn hình thành một cách vô tình trong gia đình Trẻ có thể cho rằng mình khỏe mạnh hay yếu ớt, nhanh nhẹn hay chậm chạp, thông minh hay tối dạ, được tin tưởng hay không được tin tưởng, được thương yêu hay không được thương yêu, được tha thứ hoàn toàn hay không được tha thứ hoàn toàn, được dạy dỗ hay không được dạy dỗ, thế giới này an toàn hay nguy hiểm… phần lớn đều là kết quả của môi trường giáo dục ban đầu này

Mối quan hệ liên nhân cách với bố mẹ và những người thân trong gia đình cũng

có ý nghĩa nhất định trong việc cá nhân tự nhìn nhận về mình như thế nào Sự yêu thương, quan tâm, chăm sóc, thừa nhận và đánh giá của gia đình ít nhiều cũng làm cho chúng ta thấy mình có giá trị hoặc ít giá trị hơn Những trải nghiệm của cá nhân trong gia đình cũng có ảnh hưởng tới sự ĐGBT của cá nhân…

Nguồn gốc giai cấp - xã hội của gia đình có ảnh hưởng không nhỏ tới khả năng

tự đánh giá bản thân của cá nhân Các bậc cha mẹ thuộc các giai cấp, tầng lớp, ngành nghề khác nhau thường có cách thức, phương pháp khác nhau trong việc giáo dục, rèn luyện con cái của họ Các bậc cha mẹ thuộc tầng lớp lao động, công nhân thường có

xu hướng dùng hình phạt thân thể; các bậc cha mẹ thuộc tầng lớp trung lưu lại thiên về các phương pháp tâm lý xã hội (sự tự ái, cảm giác tội lỗi, sự không hài lòng…) Hơn nữa, các cha mẹ thuộc tầng lớp hạ lưu thường coi sự vâng lời, kỷ luật, sạch sẽ, ngăn

Trang 40

nắp, sự kính trọng và thích ứng làm tiêu chuẩn hành vi mang tính truyền thống Còn các gia đình trung lưu chủ yếu nhấn mạnh động cơ hành động của trẻ hơn là hành vi của chúng… Vì thế, con trẻ thuộc giai cấp trung lưu được khuyến khích sự sáng tạo, đổi mới, độc lập, có xu hướng tự khẳng định bản thân hơn là thụ động theo sự chỉ bảo của người khác…

1.4.2.2 Nhà trường

Nhà trường đóng vai trò rất quan trọng trong việc hình thành phẩm chất, nhân cách của mỗi cá nhân Đời sống của một cá nhân trong các xã hội văn minh đều phải trải qua một thời gian dài ở trường Nhà trường là nơi giáo dục các kiến thức cơ bản cho cá nhân và đồng thời còn là môi trường xã hội mà qua đó cá nhân dần dần hoàn thiện bản thân mình, trở thành một nhân cách xã hội

Ở trường, trẻ học cách tương tác với người khác và khi trẻ đối mặt với tính đa dạng xã hội nhiều hơn, trẻ có thể nhận thức nhiều hơn về nhóm xã hội của riêng mình, thông qua đó trẻ tự nhận thức, tự đánh giá về bản thân mình

Việc học tập của cá nhân trong nhà trường đóng vai trò chủ yếu, ảnh hưởng đến hầu hết mọi khía cạnh của hành vi Tất cả những ảnh hưởng từ môi trường sống và xã hội hình thành nhân cách tác động tới hành vi thông qua việc học tập Ngay cả những khía cạnh nhân cách được thừa hưởng hay do giáo dục gia đình cũng có thể bị thay đổi, phá vỡ, ngăn chặn hoặc để cho phát triển bởi quá trình học tập

Xã hội càng văn minh bao nhiêu thì tính chuyên môn hóa cũng được thể hiện và

đề cao bấy nhiêu Nhà trường là môi trường giáo dục chính yếu trong giai đoạn khi đứa trẻ bắt đầu trưởng thành bên ngoài gia đình Ở đó, cá nhân được trang bị kiến thức

và kỹ năng cần thiết để thực hiện vai trò của người lớn thành công; đồng thời giúp cá nhân nâng cao nhận thức của mình, tự xác định về năng lực của bản thân, tự điều chỉnh cuộc sống của bản thân trong một thế giới khách quan rộng lớn hơn môi trường gia đình… Cá nhân học được cách tôn trọng những quy định của trường học; học được cách ứng xử với thầy cô giáo, với bạn bè; hình thành thái độ, động cơ với việc học…

1.4.2.3 Nhóm bạn cùng lứa tuổi

Ngày đăng: 23/03/2015, 13:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Văn Thị Kim Cúc (2002), Tổn thương tâm lý của trẻ 10 - 15 tuổi do ly hôn của bố mẹ, Báo cáo tổng kết đề tài cấp Bộ, Viện Tâm lý học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổn thương tâm lý của trẻ 10 - 15 tuổi do ly hôn của bố mẹ
Tác giả: Văn Thị Kim Cúc
Năm: 2002
2. Văn Thị Kim Cúc (Chủ nhiệm) (2003a), Những tổn thương tâm lý của thiếu niên do bố mẹ ly hôn, Nxb KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ nhiệm") (2003a), "Những tổn thương tâm lý của thiếu niên do bố mẹ ly hôn
Nhà XB: Nxb KHXH
3. Văn Thị Kim Cúc (2003b), Tìm hiểu sự đánh giá bản thân ở trẻ 10 - 15 tuổi, Tâm lý học, số 7, 7/2003, tr 19-23 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu sự đánh giá bản thân ở trẻ 10 - 15 tuổi, Tâm lý học
4. Văn Thị Kim Cúc (2004), Mối tương quan giữa biểu tượng về gia đình và sự đánh giá bản thân ở trẻ 10 -15 tuổi, Tâm lý học, số 2, 2/2004, tr 25-31 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối tương quan giữa biểu tượng về gia đình và sự đánh giá bản thân ở trẻ 10 -15 tuổi
Tác giả: Văn Thị Kim Cúc
Năm: 2004
5. Vũ Dũng (Chủ biên) (2000), Từ điển Tâm lý học, Nxb KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ biên") (2000), "Từ điển Tâm lý học
Tác giả: Vũ Dũng (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 2000
6. Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng (1999), Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học Sư phạm, Nxb ĐHQG Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học lứa tuổi và Tâm lý học Sư phạm
Tác giả: Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng
Nhà XB: Nxb ĐHQG
Năm: 1999
7. Phạm Minh Hạc, Lê Khanh, Trần Trọng Thuỷ (1998), Tâm lý học, Tập I, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học
Tác giả: Phạm Minh Hạc, Lê Khanh, Trần Trọng Thuỷ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
8. Đào Lan Hương (1999), Nghiên cứu sự tự đánh giá thái độ học tập môn toán của sinh viên Cao đẳng Sư phạm Hà Nội, Luận án Tiến sĩ tâm lý Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sự tự đánh giá thái độ học tập môn toán của sinh viên Cao đẳng Sư phạm Hà Nội
Tác giả: Đào Lan Hương
Năm: 1999
9. Khoa Sư phạm (Đại học Quốc gia Hà Nội) (2003), Giáo dục học Đại học (Tài liệu bồi dưỡng dùng cho các lớp Giáo dục học Đại học và Nghiệp vụ Sư phạm Đại học) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học Đại học (Tài liệu bồi dưỡng dùng cho các lớp Giáo dục học Đại học và Nghiệp vụ Sư phạm Đại học
Tác giả: Khoa Sư phạm (Đại học Quốc gia Hà Nội)
Năm: 2003
10. Vũ Khiêu (2002) “Cái Tôi” - Một số vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu, Tâm lý học, số 1, 1/2002, tr 2-5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Cái Tôi” - Một số vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu
11. Đỗ Ngọc Khanh (2004a), Về khái niệm “Tự đánh giá bản thân”, Tâm lý học, Số 6, 6/2004, tr.41-45 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về khái niệm “Tự đánh giá bản thân”
12. Đỗ Ngọc Khanh (2004b), Ảnh hưởng của sự tự đánh giá bản thân đến sự phát triển nhân cách, Tâm lý học, Số 9, 9/2004, tr.26-29 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ảnh hưởng của sự tự đánh giá bản thân đến sự phát triển nhân cách
13. Đỗ Ngọc Khanh (2004c), Cái Tôi, Tâm lý học, Số 10, 10/2004, tr.35-37 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cái Tôi
14. Đỗ Ngọc Khanh (2005), Tự đánh giá của học sinh THCS ở Hà Nội, Tâm lý học, Số 7, 7/2005, tr.30-36 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự đánh giá của học sinh THCS ở Hà Nội
Tác giả: Đỗ Ngọc Khanh
Năm: 2005
15. Vũ Thị Nho (1997), Một số đặc điểm tự đánh giá của của học sinh cuối bậc tiểu học, Đề tài cấp Bộ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm tự đánh giá của của học sinh cuối bậc tiểu học
Tác giả: Vũ Thị Nho
Năm: 1997
16. Vũ Thị Nho (1998), Tự đánh giá, Tâm lý học, số 3, 6/1998, tr 58-60 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự đánh giá
Tác giả: Vũ Thị Nho
Năm: 1998
17. Vũ Thị Nho (1998), Trình độ học lực và khả năng tự đánh giá phù hợp, ổn định của học sinh cuối bậc tiểu học, Nghiên cứu giáo dục, 8/1998, tr 27-28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trình độ học lực và khả năng tự đánh giá phù hợp, ổn định của học sinh cuối bậc tiểu học
Tác giả: Vũ Thị Nho
Năm: 1998
18. Vũ Thị Nho (1999), Tâm lý học phát triển, Nxb ĐHQG Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học phát triển
Tác giả: Vũ Thị Nho
Nhà XB: Nxb ĐHQG
Năm: 1999
19. Lê Ngọc Lan (1982), Nghiên cứu mối quan hệ giữa khả năng tự đánh giá phù hợp của học sinh đối với thái độ học tập và động cơ hoc tập, Luận án Phó tiến sĩ tâm lý Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu mối quan hệ giữa khả năng tự đánh giá phù hợp của học sinh đối với thái độ học tập và động cơ hoc tập
Tác giả: Lê Ngọc Lan
Năm: 1982
20. Nguyễn Thị Oanh (1998), Gia đình Việt Nam thời mở cửa, Nxb Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gia đình Việt Nam thời mở cửa
Tác giả: Nguyễn Thị Oanh
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 1998

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1 - Điểm TB các yếu tố đánh giá của SV theo thang đo Rosenberg - Nghiên cứu sự đánh giá bản thân của sinh viên trường Đại học Công Nghiệp Quảng Ninh
Bảng 3.1 Điểm TB các yếu tố đánh giá của SV theo thang đo Rosenberg (Trang 52)
Bảng 3.2 - Những mệnh đề của “Cái Tôi gia đình” trong ĐGBT của SV - Nghiên cứu sự đánh giá bản thân của sinh viên trường Đại học Công Nghiệp Quảng Ninh
Bảng 3.2 Những mệnh đề của “Cái Tôi gia đình” trong ĐGBT của SV (Trang 54)
Bảng 3.4- Những mệnh đề của “Cái Tôi thể chất” trong ĐGBT của SV - Nghiên cứu sự đánh giá bản thân của sinh viên trường Đại học Công Nghiệp Quảng Ninh
Bảng 3.4 Những mệnh đề của “Cái Tôi thể chất” trong ĐGBT của SV (Trang 67)
Bảng 3.5 - Những mệnh đề của “Cái Tôi học đường” trong ĐGBT của SV - Nghiên cứu sự đánh giá bản thân của sinh viên trường Đại học Công Nghiệp Quảng Ninh
Bảng 3.5 Những mệnh đề của “Cái Tôi học đường” trong ĐGBT của SV (Trang 71)
Bảng 3.7- Những mệnh đề của “Cái Tôi tương lai” trong ĐGBT của SV - Nghiên cứu sự đánh giá bản thân của sinh viên trường Đại học Công Nghiệp Quảng Ninh
Bảng 3.7 Những mệnh đề của “Cái Tôi tương lai” trong ĐGBT của SV (Trang 81)
Bảng 3.9 - Kết quả học tập của SV trường ĐHCNQN - Nghiên cứu sự đánh giá bản thân của sinh viên trường Đại học Công Nghiệp Quảng Ninh
Bảng 3.9 Kết quả học tập của SV trường ĐHCNQN (Trang 86)
Bảng 3.10 - Tương quan giữa kết quả học tập và sự đánh giá tổng thể   về bản thân - Nghiên cứu sự đánh giá bản thân của sinh viên trường Đại học Công Nghiệp Quảng Ninh
Bảng 3.10 Tương quan giữa kết quả học tập và sự đánh giá tổng thể về bản thân (Trang 89)
Bảng 3.11 -  Tương quan giữa kết quả học tập và sự đánh giá   về “Cái Tôi gia đình” - Nghiên cứu sự đánh giá bản thân của sinh viên trường Đại học Công Nghiệp Quảng Ninh
Bảng 3.11 Tương quan giữa kết quả học tập và sự đánh giá về “Cái Tôi gia đình” (Trang 91)
Bảng 3.12 -  Tương quan giữa kết quả học tập và sự đánh giá   về “Cái Tôi xã hội” - Nghiên cứu sự đánh giá bản thân của sinh viên trường Đại học Công Nghiệp Quảng Ninh
Bảng 3.12 Tương quan giữa kết quả học tập và sự đánh giá về “Cái Tôi xã hội” (Trang 93)
Bảng 3.13 -  Tương quan giữa kết quả học tập và sự đánh giá   về “Cái Tôi tương lai” - Nghiên cứu sự đánh giá bản thân của sinh viên trường Đại học Công Nghiệp Quảng Ninh
Bảng 3.13 Tương quan giữa kết quả học tập và sự đánh giá về “Cái Tôi tương lai” (Trang 95)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w