Cho đến nay, các nghiên cứu về bắt nạt ở Việt Nam, chủ yếu là trên học sinh phổ thông và tập trung vào tìm hiểu phần trăm, tỉ lệ bị bắt nạt, mối liên hệ giữa bắt nạt và đặc điểm nhận thứ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ DUYÊN
NGHIÊN CỨU MỐI LIÊN HỆ GIỮA ĐẶC ĐIỂM NHÂN CÁCH
VÀ HIỆN TƯỢNG BẮT NẠT Ở HỌC SINH PHỔ THÔNG
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC CHUYÊN NGÀNH: TÂM LÝ HỌC LÂM SÀNG TRẺ EM VÀ VỊ THÀNH NỈÊN
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc
HÀ NỘI – 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ DUYÊN
NGHIÊN CỨU MỐI LIÊN HỆ GIỮA ĐẶC ĐIỂM NHÂN CÁCH
VÀ HIỆN TƯỢNG BẮT NẠT Ở HỌC SINH PHỔ THÔNG
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC CHUYÊN NGÀNH: TÂM LÝ HỌC LÂM SÀNG TRẺ EM VÀ VỊ THÀNH NIÊN
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Thị Mỹ Lộc
HÀ NỘI – 2012
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 4
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 4
4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 4
5 Giả thuyết nghiên cứu 4
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
7 Phương pháp nghiên cứu 5
8 Cấu trúc luận văn 6
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 7
1.1 Nhân cách 7
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu nhân cách 7
1.1.2 Các quan điểm về nhân cách 8
1.1.3 Khái niệm về nhân cách 17
1.1.4 Cấu trúc nhân cách 19
1.2 Bắt nạt 21
1.2.1 Lịch sử nghiên cứu về bắt nạt 21
1.2.2 Khái niệm bị bắt nạt và bắt nạt 24
1.2.3 Đặc điểm của nạn nhân và thủ phạm của bắt nạt 25
1.2.4 Các hình thức bắt nạt 28
1.2.5 Hậu quả của bắt nạt 29
1.2.6 Nguyên nhân của bắt nạt 31
1.3 Mối quan hệ giữa đặc điểm nhân cách và hiện tượng bắt nạt 31
1.3.1 Mối quan hệ giữa đặc điểm nhân cách và nạn nhân của bắt nạt 31
1.3.2 Mối quan hệ giữa đặc điểm nhân cách và thủ phạm của bắt nạt 32
1.4 Học sinh phổ thông 33
1.4.1 Khái niệm 33
1.4.2 Những đặc điểm của học sinh phổ thông 33
Trang 4Chương 2: NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 36
2.1 Các thang đo và bảng hỏi được sử dụng trong nghiên cứu 36
2.1.1 Các thang đo và bảng hỏi 36
2.2 Một số đặc điểm về khách thể và địa bàn nghiên cứu 40
2.2.1 Một số đặc điểm về khách thể nghiên cứu 40
2.2.2 Một số đặc điểm về địa bàn nghiên cứu 41
2.3 Quy trình thu thập và nhập dữ liệu 42
2.4 Quy trình nghiên cứu 43
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 44
3.1 Quan điểm của học sinh về đặc điểm nhân cách của nạn nhân và thủ phạm của bắt nạt khi so sánh với học sinh nói chung 44
3.2 Quan điểm của học sinh về đặc điểm nhân cách của người bắt nạt (thủ phạm) và người bị bắt nạt (nạn nhân) 50
3.2.1 Quan điểm của học sinh về đặc điểm và nhóm đặc điểm nhân cách nạn nhân của bắt nạt 50
3.2.2 Quan điểm của học sinh về đặc điểm và nhóm đặc điểm nhân cách thủ phạm của bắt nạt 55
3.3 Quan hệ giữa thang đo bị bắt nạt với các thang đo nhân cách và bảng hỏi nhân cách 60
3.3.1 Quan hệ giữa thang đo bị bắt nạt với thang đo nhân cách NEO FFI 60
3.3.2 Quan hệ giữa thang đo bị bắt nạt với thang đo nhân cách EPI 62
3.3.3 Quan hệ giữa thang đo bị bắt nạt với bảng hỏi tính cách tự thuật 65
3.4 Mối quan hệ giữa thang đo bắt nạt với các thang đo và bảng hỏi nhân cách 66
3.4.1 Quan hệ giữa thang đo bắt nạt với thang đo nhân cách NEO FFI 66
3.4.2 Mối quan hệ giữa thang đo bắt nạt với thang đo nhân cách EPI 69
3.4.3 Quan hệ giữa thang đo bắt nạt với các đặc điểm và nhóm đặc điểm nhân cách tự thuật 71
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
Trang 5DANH SÁCH BẢNG
Bảng 3.1: Điểm trung bình của 3 nhóm đặc điểm theo mỗi nhóm Đối chứng, Bị bắt nạt và bắt nạt 45 Bảng 3.2: So sánh cặp mỗi nhóm đặc điểm giữa các nhóm Đối chứng, Nạn nhân và Thủ phạm 46 Bảng 3.3: So sánh cặp giữa các nhóm đặc điểm theo từng nhóm Đối chứng, Nạn nhân và Thủ phạm 48 Bảng 3.4: Quan điểm của học sinh về đặc điểm nhân cách được lựa chọn nhiều nhất của nạn nhân 50 Bảng 3.5: Quan điểm của học sinh về đặc điểm nhân cách ít được lựa chọn nhất của nạn nhân 53 Bảng 3.6: Quan điểm của học sinh về những đặc điểm được lựa chọn nhiều nhất của thủ phạm 55 Bảng 3.7: Quan điểm của học sinh về đặc điểm nhân cách ít được lựa chọn nhất của thủ phạm 57 Bảng 3.8: So sánh đặc điểm nhân cách của thủ phạm và nạn nhân của bắt nạt 59 Bảng 3 9: Tương quan giữa mặt nhân cách nhiễu tâm với hình thức bị bắt nạt gián tiếp và trực tiếp 60 Bảng 3.10: Điểm trung bình của các kiểu nhân cách Eysenck với hình thức bị bắt nạt 63 Bảng 3 11: Tương quan giữa thang đo bị bắt nạt và những đặc điểm nhân cách tự thuật 65 Bảng 3.12: Tương quan giữa thang đo Bắt nạt và các đặc điểm nhân cách của NEO FFI 67 Bảng 3.13: Điểm trung bình của thang đo bắt nạt và các kiểu nhân cách của
Eysenck 69 Bảng 3.14: Tương quan giữa thang đo bắt nạt và những đặc điểm nhân cách tự thuật 71
Trang 6DANH SÁCH BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Biểu đồ số lượng học sinh theo cấp học 40
Biểu đồ 2.2: Biểu đồ số lượng học sinh theo giới tính 41
Biểu đồ 3.1: Điểm trung bình của 3 nhóm Đối chứng, Nạn nhân và Thủ phạm theo các nhóm đặc điểm tính cách……….…… 47
Biểu đồ 3.2: Điểm trung bình của 3 nhóm đặc điểm theo các nhóm Đối chứng, Nạn nhân và Thủ phạm 49
Biểu đồ 3.3: Biểu đồ đặc điểm tính cách được lựa chọn nhiều nhất của nạn nhân 52
Biểu đồ 3.4: Đặc điểm tính cách ít được lựa chọn nhất của nạn nhân 54
Biểu đồ 3.5: Biểu đồ đặc điểm tính cách được lựa chọn nhiều nhất 56
Biểu đồ 3.6: Đặc điểm nhân cách ít được chọn nhất của thủ phạm 58
Biểu đồ 3.7: So sánh điểm trung bình giữa 4 kiểu nhân cách với các
hình thức của thang đo bị bắt nạt 64
Biểu đồ 3.8: Điểm trung bình giữa 4 đặc điểm nhân cách của EPI với
thang do bắt nạt 70
Trang 7trị và cạnh tranh là một phần trong các đặc tính của con người Trong khoảng
ba thập kỷ qua, bắt nạt đã bắt đầu được xem như là một mối đe dọa nghiêm trọng cho sự an toàn của cuộc sống đặc biệt là trong môi trường học đường Trên khắp châu Âu, Bắc Mỹ, Châu Á, và Úc, bắt nạt được công nhận như là một vấn đề nghiêm trọng ảnh hưởng đến hàng triệu trẻ em trong các trường học trên khắp thế giới
Bắt nạt được công nhận là một vấn đề nghiêm trọng và có thể nhìn thấy trong độ tuổi thanh thiếu niên thì vấn đề này còn nghiêm trọng hơn nhiều lần Khoảng ba phần tư của các thanh thiếu niên trẻ ở Hoa Kỳ báo cáo trải qua một số hình thức bắt nạt về mối quan hệ (ví dụ như bị tin đồn xấu, bị chế nhạo) bởi bạn cùng lứa, trong khi một phần các em bị bắt nạt về cơ thể như bị đánh
Nghiên cứu về bắt nạt không chỉ nở rộ ở châu Âu, mà còn lan dần sang châu Á như các nghiên cứu ở Hàn Quốc, Nhật Bản, Hồng Kông, Đài Loan , Trung Quốc và một số nước khác trong hai thập kỷ vừa qua Ở Việt Nam, tuy các nghiên cứu về hiện tượng bắt nạt bắt đầu muộn hơn, bắt đầu với bài
báo Bị bắt nạt bởi bạn cùng lứa và mối liên hệ với nhận thức bản thân, trầm cảm ở học sinh phổ thông nghiên cứu về vấn đề bắt nạt của học sinh nhưng được tiến hành trên trẻ em ở Mỹ Bên cạnh đó, vấn đề nghiên cứu về bị bắt
nạt bởi bạn cùng lứa và nhận thức bản thâ đã được sinh viên của Đại học Giáo
Trang 8Xã hội học, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn, Đại học Quốc gia
Hà Nội thực hiện vào năm 2008 tại hai trường trung học phổ thông thuộc quận Đống Đa (Hà Nội) về tình trạng bạo lực nữ sinh
Bắt nạt và bạo lực học đường đang là vấn đề thời sự rất bức xúc ở Việt Nam hiện nay với hàng loạt các vụ học sinh bị bạn bè hành hung, làm tổn thương về mặt cơ thể và tâm lý, làm tổn hại về mặt danh dự, bị làm nhục rồi quay video đưa lên mạng Một ví dụ điển hình gần đây, P.M.N, học lớp 8, trường THCS An Thới, quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ, dẫn đầu chặn đánh một bạn Không ngờ, nạn nhân có thủ sẵn một con dao nhọn và đã rút ra
để tự vệ P.M.N bị đâm vào đầu, dù được người nhà đưa đến bệnh viện cấp cứu nhưng 3 ngày sau, N tử vong do hoại tử não sau chấn thương sọ não Hoặc vụ học sinh B.P.H sinh năm 1998 học sinh trường Tiên Động, Tứ Kỳ, Hải Dương bị bạn đánh cho đến dập lá lách và chết ngay sau đó
Nhân cách là tập hợp những đặc điểm riêng của mỗi cá nhân, được thể hiện một cách ổn định thông qua hành vi ứng xử của họ Nhân cách của con người không phải sinh ra đã có mà nó có các giai đoạn phát triển khác nhau ở mỗi thời điểm thì cũng hình thành nên một đặc điểm; ngoài giai đoạn hình
Trang 93
thành nhân cách mạnh mẽ lần thứ nhất khi đứa trẻ khoảng ba tuổi, nhân cách được đình hình rõ ràng xung quanh lứa tuổi dậy thì, cũng là lứa tuổi mà hiện tượng bắt nạt xảy ra khá phổ biến Một số nhà nghiên cứu nước ngoài, ví dụ Scholte, van Aken và van Lieshout (1997); Andreou (2000); Bollmera, Harris,
và Milicha (2005) đã bắt đầu tìm hiểu đặc điểm nhân cách của thủ phạm và nạn nhân của bắt nạt Các tác giả đã tìm thấy một số mối liên hệ giữa bắt nạt
và đặc điểm nhân cách như người bắt nạt thường có xu hướng hung hăng, thù địch, trong khi nạn nhân thường có xu hướng kém tự tin, thu mình, và hay lo lắng
Cho đến nay, các nghiên cứu về bắt nạt ở Việt Nam, chủ yếu là trên học sinh phổ thông và tập trung vào tìm hiểu phần trăm, tỉ lệ bị bắt nạt, mối liên
hệ giữa bắt nạt và đặc điểm nhận thức, tìm hiểu những yếu tố liên quan hoặc tìm hiểu nguyên nhân của bắt nạt Chúng tôi chưa thấy có nghiên cứu nào tìm hiểu mối liên hệ giữa bắt nạt và đặc điểm nhân cách của người bắt nạt (thủ phạm) và người bị bắt nạt (nạn nhân) Thông qua việc tìm hiểu nhân cách học sinh, liệu chúng ta có thể biết được sự liên quan tới khả năng học sinh đó bị bắt nạt hoặc đi bắt nạt hay không? Và cũng thông qua việc một học sinh có sự liên quan đến hiện tượng bắt nạt, thì liệu chúng ta có thể hiểu được được phần nào nhân cách của học sinh đó? Đó là lý do để chúng tôi thực hiện nghiên cứu này Ngoài ra, những kết quả thu được sẽ đóng góp về mặt lý thuyết và thực tiễn vào công tác tham vấn học đường, tư vấn tâm lý và giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường phổ thông
Với mong muốn đóng góp cho lĩnh vực này của nghiên cứu, cũng như cho sự phát triển tốt đẹp về mặt học tập, cá nhân và xã hội của học sinh nói chung và học sinh tỉnh Bắc Ninh nói riêng, chúng tôi quyết định thực hiện đề
tài “Nghiên cứu mối liên hệ giữa đặc điểm nhân cách và hiện tượng bắt nạt
ở học sinh phổ thông trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh”
Trang 104
2 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu mối liên hệ giữa đặc điểm nhân cách và hiện tượng bắt nạt, bị bắt nạt ở học sinh phổ thông từ đó có đề ra những biện pháp tác động phù hợp
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là mối liên hệ giữa đặc điểm nhân cách
và hiện tượng bắt nạt, bị bắt nạt ở học sinh phổ thông
- Khách thể nghiên cứu bao gồm 303 học sinh từ lớp 6 đến 12 từ trường Trung học cơ sở Tân Hồng và trường Trung học phổ thông Lý Thái Tổ, Thị Xã Từ Sơn, Tỉnh Bắc Ninh
4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Thời gian khảo sát của đề tài nghiên cứu: Từ 09/2011 đến 02/2012
- Chúng tôi chỉ nghiên cứu hiện tượng bắt nạt, bị bắt nạt của học sinh phổ thông diễn ra ở khung cảnh học đường
5 Giả thuyết nghiên cứu
- Việc bắt nạt và bị bắt nạt có liên quan tới các đặc điểm nhân cách của học sinh
- Những cá nhân bắt nạt và cá nhân bị bắt nạt có những đặc điểm nhân cách đặc trưng và khác nhau
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu và hệ thống hóa các lý thuyết cơ bản về nhân cách và hiện tượng bắt nạt, bị bắt nạt ở học sinh phổ thông
- Nghiên cứu khảo sát, phân tích đánh giá thực trạng hiện tượng bắt nạt của 303 học sinh phổ thông ở Bắc Ninh
Trang 115
- Chỉ ra mối liên hệ giữa hiện tượng bắt nạt, bị bắt nạt và đặc điểm nhân cách của học sinh phổ thông, qua đó chỉ ra được những đặc điểm nhân cách chủ chốt của thủ phạm và nạn nhân của bắt nạt
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
Qua việc tham khảo các công trình nghiên cứu, sách, báo, tạp chí chuyên ngành, các trang web,… về các vấn đề liên quan như đặc điểm nhân cách, hiện tượng bắt nạt, bắt nạt học đường, từ đó hệ thống và khái quát hóa các khái niệm công cụ làm cơ sở lý luận cho đề tài
7.2 Thang đo và bảng hỏi:
- Thang đo bắt nạt và bị bắt nạt: Chúng tôi dùng thang đo của Mynard
và Joseph, đã được dịch và điều chỉnh cho phù hợp với học sinh Việt Nam, để đo hiện tượng bị bắt nạt
- Chúng tôi dùng thang đo bắt nạt (BQ) của các tác giả Trần Văn Công, Bahr Weiss và David Cole để đo hiện tượng đi bắt nạt Hai thang đo này sẽ được trình bày cụ thể ở Chương 2
- Trắc nghiệm nhân cách Eysenck (EPI) và NEO FFI, chúng tôi sẽ
trình bày rõ hai trắc nghiệm này ở phần sau
- Bảng hỏi: Ngoài thang đo bắt nạt, bị bắt nạt, trắc nghiệm EPI, NEO
FFI, chúng tôi cũng thiết kế một bảng hỏi để tìm hiểu các vấn đề liên quan đến đặc điểm nhân cách của cá nhân và hiện tượng bắt nạt, sẽ được trình bày cụ thể ở Chương 2
7.3 Phương pháp xử lý số liệu bằng xác suất thống kê: Chúng tôi sử dụng
phần mềm SPSS để phân tích Ngoài các phân tích thống kê thông dụng như phần trăm, tỉ lệ, tính tổng, điểm trung bình chúng tôi dùng
Trang 126
ANOVA để phân tích và so sánh các nhóm Chúng tôi sử dụng tương quan (correlations) để tìm hiểu mối quan hệ giữa các thang đo và tiểu
thang đo, và một số mối quan hệ khác
8 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận
- Chương 2: Giới thiệu về vấn đề nghiên cứu
- Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Trang 137
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 Nhân cách
1.1.1 Lịch sử nghiên cứu nhân cách
Nhân cách là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học như tâm
lý học, xã hội học, triết học, giáo dục học, y học Ngay trong ngành tâm lý học cũng có rất nhiều lý thuyết khác nhau nghiên cứu về nhân cách như lý thuyết Phân tâm của S Preud, thuyết đặc điểm nhân cách của G Allport, H.J Eysenck, Cattell, thuyết hiện tượng của C Rogers, thuyết nhu cầu tâm lý của
H Murray, thuyết cá nhân của R Sears, thuyết nhân cách của các nhà tâm lý học xô viết như A N Leonchiev, và nhiều lý thuyết khác nữa Mỗi lý thuyết đều đưa ra những định nghĩa và quan điểm khác nhau về nhân cách trên những góc độ nghiên cứu của mình Định nghĩa về nhân cách là cái phản ánh những khía cạnh cần phải nghiên cứu trong lĩnh vực này cũng như những phương pháp được sử dụng để nghiên cứu nội dung của nó
Có những nghiên cứu đề cao quan điểm sinh học trong cách hiểu về nhân cách, coi yếu tố sinh học là cái quan trọng hơn cả cần nghiên cứu trong
hệ thống nghiên cứu về nhân cách như bản năng vô thức của Freud, đặc điểm hình thể của Krestchmev, hay về thể trạng của Sheldon Cũng có những lý thuyết khác lại đề cao quan điểm xã hội trong định nghĩa về nhân cách, cho rằng chỉ cần chú trọng đến những yếu tố xã hội là đủ để hiểu về nhân cách con người mà không tính đến vai trò của yếu tố sinh học như thuyết siêu đẳng
và bù trừ của A.Adler, thuyết tương tác xã hội của G H.Mead, thuyết liên nhân cách của R.Sears, thuyết hiện tượng của C Rogers Có những định nghĩa thực dụng hơn về nhân cách lại bắt nguồn từ thực tế cuộc sống là làm thế nào để hiểu con người nói chung quan điểm này đã đồng nhất khái niệm
Trang 148
nhân cách và con người Theo L.A.Pervin – nhà tâm lý học Mác-xít xuất phát
từ quan điểm cho rằng “nhân cách là một phạm trù xã hội, có bản chất xã hội – lịch sử, nghĩa là nội dung của nhân cách là nội dung của những điều kiện lịch sử cụ thể của xã hội cụ thể chuyển vào thành đặc điểm nhân cách của từng người”
1.1.2 Các quan điểm về nhân cách
1.1.2.1 Lý thuyết chất dịch
Trong suốt thời kỳ trung cổ, mô hình nhân cách con người phổ biến là
lý thuyết chất dịch Đây cũng là một trong những minh họa đầu tiên về thuyết quyết định sinh lý trong lý thuyết nhân cách, cho rằng nhân cách được định hình bởi yếu tố sinh lý Quan niệm vốn có trong lý thuyết này là cơ thể chứa đựng những chất dịch hay chất lỏng có nhiều nhất trong cơ thể như máu, đờm, dãi, mật đen, và mật vàng, và những chất này có ảnh hưởng nhiều tới nhân cách của con người Nhân cách vui vẻ, hoạt bát, sinh động được cho rằng phần lớn ở người có tỉ lệ máu cao, còn những người có tỉ lệ mật vàng hay nước mắt cao hơn sẽ tạo ra tính cách nóng nảy, hấp tấp
1.1.2.2 Thuyết phân tâm
Lý thuyết nhân cách theo phân tâm học bắt nguồn từ công trình của Sigmund Freud vào nửa sau thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, nhưng công trình của Freud được tiếp nối bằng nhiều công trình của nhiều nhà nghiên cứu
khác
Freud tóm lược và mở rộng các quan điểm về ý thức, tiền ý thức và vô thức với các ý niệm của ông về ba thành phần của cấu trúc nhân cách: Cái nó, cái tôi và cái siêu tôi Theo Freud, nhân cách của cá nhân có liên quan chặt chẽ với quá trình của ý thức và libido
Trang 159
Cái nó: Là cái chứa đựng tất cả những năng lượng tinh thần Hệ thống cái nó
là toàn bộ cái vô thức và chức năng dựa trên cơ sở của quá trình nguyên thủy Khi con người sinh ra, hệ thống cái nó cấu thành toàn bộ hệ thống năng lượng tâm lý của con người
Cái tôi: Cái tôi là cái làm cho các ước muốn của cái nó phù hợp ý thức
Cái siêu tôi: Trong sự phối hợp các nhu cầu của cái nó với các điều kiện có
giá trị trong môi trường bên ngoài, cái tôi cần phải đối phó với những đòi hỏi của thành tố thứ ba trong cấu trúc nhân cách của Freud là cái siêu tôi Cái siêu tôi chứ đựng các chuẩn mực văn hóa, các giá trị xã hội và các chỉ trích phê phán
Cái siêu tôi là sự tiếp thu của cá nhân từ xã hội Mặc dù vậy, nặng lượng của cái siêu tôi cũng giống như tất cả các năng lượng tinh thần khác được tiếp thu từ cái nó và trở thành một bộ phận của cái tôi Cái siêu tôi là phần trội hơn, chiếm ưu thế của hệ thống vô thức Như vậy, cái siêu tôi được tạo thành thông qua các quy tắc nội tâm hóa và đã vượt ra khỏi phạm vi nhận thức nội tâm Cái siêu tôi phát triển trên cơ sở thực hiện hành vi phù hợp với quy tắc xã hội Những quy tắc này được bố mẹ truyền đạt cho đứa trẻ thông qua những cơ chế hoạt động tinh vi của sự thưởng và phạt Hành vi nào đứa trẻ được phép và hành vi nào không được phép thực hiện
Thuyết nhân cách của Freud đã trình bày một tập hợp những định đề phức tạp và tinh vi, một số khác biệt với cách giải thích hành vi hàng ngày đến mức chúng khó có thể được chấp nhận Khái niệm nhân cách của Freud được xây dựng trên sự trừu tượng không thể quan sát Freud đã tuyệt đối hóa bản năng tình dục của con người, coi sự thỏa mãn tình dục là động lực của xã hội, giải thích mọi hiện tượng xã hội thông qua tình dục
Trang 1610
1.1.2.3 Lý thuyết của Karl Gustav Jung:
Jung là nhà tâm lý học người Thụy sỹ, học trò của Freud nhưng do bất đồng quan điểm với Freud về ý nghĩa quan trọng của hoạt động tinh dục, đề xuất lý thuyết của riêng mình về nhân cách
Jung gợi ý là có một vô thức tập thể hình thành từ những động cơ nguyên thủy của loài người Không giống như vô thức cá nhân của Freud, vô thức tập thể không phải là những cái đạt được bởi cá nhân Vô thức tập thể ghi giữ lại các kinh nghiệm chung mà loài thức tập thể bẩm sinh và truyền qua các thế hệ
từ hàng triệu năm qua Vô thức người đã có qua các thời đại Jung thu nhỏ vai trò của vô thức cá thể vì lợi ích của vô tập thể chứa đựng nhất là các mẫu hình
cổ sơ (những hình tượng ban sơ) thể hiện chủ yếu trong các giấc mộng đưa con người đến phản ứng đối với một số tình huống theo cung cách riêng cho tất cả mọi người thuộc các nền văn hóa
Jung đưa ra mô hình nhân cách như sau:
Thế giới bên ngoài Nhân cách
Ý thức Tôi
Cá nhân- cái bản thân- vô thức
Phần cá nhân
Nó Trong tập thể
Vô thức Nhân thức nguyên thủy- vô thức
Vô thức tập thể
Trang 1711
Trong cấu trúc này, cái tôi là trung tâm của ý thức Nhân cách là người mẹ của ý thức và vô thức là mẹ của tâm lý tập thể và tâm lý cá nhân Cái bản thân nằm giữa ý thức và vô thức Cái bản thân là sự tổng hợp cái bên trong và cái bên ngoài
Quan điểm của Jung về nhân cách còn gọi là lý luận nhân cách tầng sâu, xuất phát từ quan niệm vô thức được xác định bằng những sự kiện của hành
vi Đây là một khám phá mới về vô thức Song điều này chưa đủ để nói lên bộ mặt nhân cách con người Nhân cách con người còn thể hiện ở những phẩm chất khác như năng lực, khí chất cũng như bộ mặt đạo đức trong nhân cách con người mà Jung chưa đi sâu nghiên cứu
1.1.2.4 Thuyết hành vi và hành vi xã hội
Thuyết hành vi và hành vi xã hội bao gồm một nhóm các lý thuyết xem nhân cách phần lớn là kết quả của sự tập quen Những lý thuyết này thay đổi
từ thuyết kích thích - phản ứng theo thuyết hành vi, xem nhân cách đơn thuần
là kết quả của vô số các lần biến đổi do điều kiện ngoại cảnh mà trẻ tiếp nhận qua đời sống, cho đến lý thuyết ý thức xã hội và hành vi xã hội phức tạp hơn, xem kinh nghiệm xã hội là yếu tố quan trọng quyết định nhân cách
J.B Watson là người sáng lập ra chủ nghĩa hành vi cho rằng, đầu hóc của đứa trẻ mới sinh ra là một tờ giấy trắng chờ kinh nghiệm viết lên Watson khẳng định nhân cách là kết quả của những kinh nghiệm ấy Ông cho rằng mọi đứa trẻ đều có thể trưởng thành với một nghề nghiệp bất kỳ miễn là đứa trẻ ấy có được môi trường kích thích phù hợp Theo ông, nhân cách hình thành tổng số các liên tưởng kích thích - phản ứng được tập quen mà cá nhân phát triển qua sự tương tác với môi trường
B.F Skinner chấp nhận một cách tiếp cận nhân cách tương tự mặc dù cơ chế tập quen nền tảng mà ông nhận dạng có khác nhau chứ không phải là biến
Trang 1812
đổi do ngoại cảnh cổ điển xảy ra phần lớn thông qua sự liên tưởng kích thích- phản ứng lặp đi lặp lại Skinner xem việc tập quen phần lớn diễn ra thông qua luật kết quả nguyên lý cho rằng hành động có kết quả thú vị chắc chắn được
lập đi lặp lại nhiều lần hơn
1.1.2.5 Nhân cách theo thuyết hành vi xã hội
Albert Bandura cho rằng yếu tố xã hội trong việc hình thành nhân cách quan trọng hơn sự thừa nhận của Watson hay Skinner Bandura nhận dạng học tập xã hội là một quá trình quyết định liên quan đến nhân cách Theo ông, học tập xã hội bao gồm biến đổi ngoại cảnh cổ điển và thực nghiệm nhưng quan trọng hơn cũng bao gồm sự học tập của trẻ thông qua các quá trình đồng nhất và bắt chước Những quá trình này là hình thức học tập xã hội nhanh chóng giúp trẻ có được những đơn vị hành vi phức tạp, nhanh chóng và hiệu quả
1.1.2.6 Thuyết hiện tượng học và nhân văn
Từ thập niên 1950 trở đi, các nhà tâm lý phát triển một loạt các tiếp cận nhân cách mới, những tiếp cận này nhấn mạnh rằng để tìm hiểu hành vi một người, điều cần thiết là phải tìm hiểu chính con người hiểu biết tình huống của mình ra sao Tiếp cận này gọi là tiếp cận hiện tượng học Theo cách suy nghĩ này con người chủ động tìm hiểu và nhận thức thế giới của riêng mình, kết luận, họ rút ra ảnh hưởng đến cách mà họ hành động ra sao Vì thế một lý thuyết nhân cách không tính đến nhận thức của con người luôn tỏ ra là không
thích hợp trong việc giải thích hành vi
Carl Rogers
Lý thuyết thân chủ trọng tâm của Carl Rogers nhấn mạnh tầm quan trọng của khái niệm cái tôi và sự phát triển cá nhân cho rằng cả hai yếu tố này đều cần thiết trong việc phát triển nhân cách lành mạnh Rogers cho rằng
Trang 1913
con người ai cũng có hai nhu cầu cơ bản Nhu cầu thứ nhất là nhu cầu thể hiện đầy đủ tiềm năng của mình, mà Rogers xem là sự phấn đấu tích cực đối với sự phát triển cá nhân Thể hiện đầy đủ tiềm năng của mình là tạo ra những khía cạnh cái tôi có thực, hay thực tế, khác nhau, bao gồm việc tìm hiểu tài năng của một người tự đào tạo mình hay hoàn thiện kỹ năng cụ thể Ông mô tả nhu cầu cơ bản thứ hai là nhu cầu tôn trọng tích cực - tình cảm yêu thương hay tôn trọng từ người khác Rogers xem sự phát triển nhân cách khỏe mạnh xảy ra thông qua các mối quan hệ, thường ở thời thơ ấu, chứ không phải luôn cung cấp cho cá nhân sự tôn trọng tích cực không điều kiện Đây là sự tôn trọng tích cực không lệ thuộc vào việc cá nhân thể hiện hành vi tốt hay xấu chấp nhận bằng cách nào đó con người phải được yêu thương, cho dù một vài chuyện họ làm không được người khác chuộng
1.1.2.7 Lý thuyết về nhân cách của L.X.Vưgotxki (1896-1934)
Người đầu tiên ở Nga trong thế kỷ trước, từ cuối những năm 20 đầu những năm 30, đã đi tìm xem nhân cách là gì chính là Vưgotxki, và trong tâm
lý học của Vưgotxki đã có nói qua tới vấn đề tâm lý học nhân cách, qua chương thứ 15 trong tác phẩm Lịch sử phát triển các chức năng tâm lý cấp cao Đây là chương kết của tác phẩm có tiêu đề: “Những con đường tiếp tục nghiên cứu, sự phát triển nhân cách và thế giới quanh của em” Trong tác phẩm của mình, ông cho rằng hoạt động hàng ngày của con người có vai trò
vô cùng quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách
Ngoài những quan điểm trên về nhân cách thì còn rất nhiều những quan điểm khác nhau nữa về nhân cách như quan điểm của thuyết nhân cách dải hẹp, thuyến nhân cách độc đoán, chủ nghĩa giáo điều, v.v Chúng ta thấy rõ ràng rằng, cho đến nay vẫn chưa có một trường phái nào giải quyết một cách thỏa đáng nhất, toàn diện nhất vấn đề bản chất nhân cách Khi đề cập tới những lý thuyết nhân cách ở trên, chúng tôi chỉ xin hệ thống lại một cách rất
Trang 201.1.2.8 Lý thuyết nhân cách của James Mckeen Cattell và Hans Eysenck
Cattell và Eysenck đưa ra thuyết nhân cách dựa trên phân tích nhân tố trong khoa học thống kê Phân tích nhân tố là phương pháp tóm tắt các mối quan hệ giữa các biến số thành một vài mẫu ít hơn nhưng mang tính chung nhiều hơn Ví dụ, môt nhà nghiên cứu nhân cách đưa một bảng hỏi cho nhiều đối tượng, yêu cầu họ tự mô tả mình theo một bảng liệt kê các đặc điểm mở rộng Bằng việc phối hợp các câu trả lời theo phương pháp thống kê và ước tính đặc điểm nào đi kèm với nhau ở cùng một người, một nhà nghiên cứu sẽ nhận dạng được các mẫu cơ bản nhất hay sự phối hợp các đặc điểm, gọi là các thành tố, làm nền tảng cho các câu trả lời của đối tượng
Áp dụng phân tích nhân tố, nhà tâm lý học nhân cách Raymond Cattell
đã tìm ra 16 đặc điểm nguồn tượng trưng cho các khuôn khổ nhân cách cơ bản, sử dụng những đặc điểm nguồn này, ông phát triển bảng câu hỏi 16 nhân
tố nhân cách, là cách đánh giá cho biết mỗi đặc điểm nguồn dành cho ba nhóm đối tượng khác nhau: phi công, nghệ sĩ sáng tạo và nhà văn
Hans Eysenck cũng sử dụng phân tích nhân tố để nhận dạng các mẫu trong đặc điểm nhân cách, và nhận thấy nhân cách tốt nhất nên mô tả bằng thuật ngữ gồm hai khuôn khổ hướng nội - hướng ngoại và thần kinh ổn định – không ổn định Nếu phân tích theo hướng nội - hướng ngoại, một số người thường điềm tĩnh, cẩn thận trầm ngâm và ức chế (người hướng nội) còn một
số khác là những người luôn vượt lên trước, hòa đồng và hoạt động (người hướng ngoại) Con người cũng có thể chia thành kiểu người buồn rầu, hay tự
ái, nhạy cảm (không ổn định), hay điềm tĩnh, đáng tin (ổn định) Bằng cách
Trang 21và Nhân Văn Hà Nội Trong nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng thang đo nhân cách của Eysenck để tìm hiểu nhân cách của học sinh phổ thông
1.1.2.9 Lý thuyết nhân cách 5 yếu tố
Trong hơn một thập kỷ trở lại đây, lịch sử tâm lý học lại được đánh dấu bởi sự phát triển của dòng lý thuyết về đặc điểm nhân cách đó là sự ra đời của mẫu 5 yếu tố lớn của nhân cách
Năm 1961, Tupes và Christal phát hiện 5 yếu tố từ bộ biến số của Cattell, sau đó thì năm 1963, Norman đã tìm thấy 5 yếu tố nổi bật của nhân cách, và về sau thì nhiều nhà nghiên cứu cũng phát hiện ra 5 yếu tố lớn của nhân cách, điều đặc biệt nữa là trong 5 yếu tố lớn của nhân cách thì có 2 yếu
tố mà Eysenck đã phát hiện ra đó là “nhạy cảm” và “hướng ngoại” Người ta cũng tìm thấy độ tin cậy và độ giá trị của 5 yếu tố và các yếu tố này khá ổn định ở lứa tuổi trưởng thành (McCrae và Costa) Năm 1981, Golberg sau khi tổng hợp các nghiên cứu của những người khác nhau ông đã đề nghi lấy tên gọi 5 nhân tố đó là “Big Five”
Big - Five là tên gọi chung của 5 yếu tố lớn của nhân cách, nhưng nó gồm 5 yếu tố nào thì ý kiến của các nhà nghiên cứu lại rất đa dạng Tên của mỗi yếu tố lớn này được các nhà nghiên cứu đặt một cách khác nhau nhưng chúng cùng điểm là mô tả nhân cách chung, và tên 5 nhân tố mà được nhiều
Trang 2216
người tán thành nhất đó là Nhiễu tâm, Hướng ngoại, Cởi mở, Dễ đồng ý và Tận tâm
Ý nghĩa của của 5 yếu tố được diễn giải như sau:
Nhiễu tâm dùng để đánh giá sự bất ổn định về mặt cảm xúc, nhận ra
những cá nhân dễ rơi vào stress tâm lý, những ý tưởng phi thực tế, những khao khát thái quá
Hướng ngoại đánh giá số lượng và cường độ các tương tác liên cá
nhân, mức độ tích cực, nhu cầu khuyến khích và khả năng hưởng ứng
Cởi mở là yếu tố để mô tả việc lao vào thử nghiệm, đánh giá cao sự
nắm giữ kinh nghiệm, khả năng chịu đựng để khảo sát những cái mới lạ
Dễ đồng ý đánh giá chất lượng sự định hướng liên cá nhân của con
người với một chuỗi từ sự đồng tình đến đối nghịch trong suy nghĩ, cảm giác
và hành động
Tận tâm đánh giá mức độ tổ chức, uy tín, động cơ trong hành vi hướng
tới mục đích của cá nhân Nó tương phản giữa những cá nhân phụ thuộc, khó tính với những người độc lập và mềm mỏng
Bộ trắc nghiệm đánh giá nhân cách NEO PI-R (Personality lnventory - Revised) được xây dựng dựa trên mô hình nhân cách 5 nhân tố, gồm 240 câu,
là trắc nghiệm nhân cách được sử dụng trong nghiên cứu nhiều nhất trên thế giới Tại Việt Nam, NEO PI-R đã được dùng trong nghiên cứu cấp nhà nước
Nghiên cứu giá trị nhân cách theo phương pháp NEO PI-R cải biên của Phạm
Minh Hạc và cộng sự Phiên bản NEO đầy đủ này cũng đang được thích nghi bởi Trường Đại học Giáo dục Tuy nhiên, 240 câu là quá dài và không hợp phù hợp cho nghiên cứu này, nên chúng tôi sử dụng phiên bản ngắn gồm 65 câu, tên gọi là NEO FFI (NEO Five-Factor Inventory) cũng được thiết kế bởi
Trang 2317
Costa và McCrae và năm 2004 NEO FFI đã được sử dụng trong một nghiên cứu trên sinh viên Việt Nam
1.1.2.10 Các quan điểm về nhân cách ở Việt Nam
Vấn đề nhân cách là một trong những vấn đề lớn không chỉ các nhà nghiên cứu lớn trên thế giới quan tâm mà cũng được các nhà nghiên cứu trong nước tìm hiểu và khám phá Từ lâu các nhà tư tưởng, nhà văn hóa, nhà tâm lý… đã có rất nhiều những quan điểm khác nhau, nhưng nổi bật hơn cả là những quan điểm của Hồ Chí Minh hay các nghiên cứu của Phạm Minh Hạc,
Lê Đức Phúc, v.v trong cuốn sách Một số vấn đề về nhân cách do Phạm
Minh Hạc và Lê Đức Phúc đồng chủ biên năm 2004 Cuốn sách đã đề cập rất nhiều những quan điểm, những bài viết của nhiều nhà nghiên cứu khác nhau liên quan đến vấn đề nhân cách Đưa ra những nhận định sâu sắc từ các quan điểm của các nhà nghiên cứu lớn trên thế giới từ khái niệm về nhân cách đến đặc điểm, cấu trúc, và con đường hình thành và phát triển nhân cách Sau đó thì các nhà nghiên cứu đã đưa ra quan điểm riêng của mình về vấn đề nhân cách nói chung và vấn đề nhân cách riêng của con người Việt Nam cho phù hợp với văn hóa, với sự phát triển kinh tế và cả định hướng đi lên của cả một dân tộc trong thời đại xã hội chủ nghĩa
1.1.3 Khái niệm về nhân cách
Nhân cách được nhiều ngành khoa học xã hội và nhân văn cùng quan tâm nghiên cứu
Cuối thế kỷ XIV, ở phương Tây đã xuất hiện khuynh hướng nghiên cứu đời sống tâm lý con người một cách trọn vẹn W.Stern đã viết tác phẩm “Bàn
về tâm lý học khác biệt cá nhân”, trong đó ông đưa ra khái niệm “Person” để chỉ bất kỳ một thực thể nào có khả năng tự xác định và tự phát triển trong thế
Trang 24- Nhóm các khái niệm nhân cách có liên quan đến thuộc tính tâm lý bên trong của cá nhân Ví dụ khái niệm của H.A Murray về nhân cách như sau:
Nhân cách là cơ quan điều khiển thể xác, một thiết chế tác động đến những sự biến đổi không ngừng từ lúc được sinh ra đến khi chết
Hay theo quan điểm của Cattell thì nhân cách là hành vi của một người trong một tình huống nhất định
- Nhóm các khái niệm nhân cách liên quan đến tính độc nhất vô nhị của các cá nhân, dùng để phân biệt người này với người khác
Theo tác phẩm “Một số vấn đề nghiên cứu nhân cách” thì nhân cách là cấu tạo tâm lý phức hợp bao gồm những thuộc tính tâm lý cá nhân, được hình thành và phát triển trong cuộc sống và hoạt động, tạo nên nhân diện và quy định giá trị xã hội của mỗi người
- Nhóm khái niệm nhân cách nhấn mạnh đến tính lịch sử trong việc
hình thành nhân cách Ví dụ theo X.L.Rubinstein thì nhân cách là cá nhân cụ thể, lịch sử, sinh động gắn với những quan hệ thực tế đối với thế giới hiện thực
Ở Việt Nam, nhân cách cũng đã và đang là một khái niệm được quan tâm nhiều Tuy nhiên, chưa có một định nghĩa nhân cách nào một cách chính thống, song cách hiểu của người Việt Nam về nhân cách có thể hiểu theo các mặt sau đây:
Trang 25Nhân cách được hiểu như mặt đạo đức, giá trị làm người của con người
Như vậy rõ ràng là khái niệm nhân cách theo cách hiểu của người việt Nam thường gắn liền với khái niệm con người (ít nói đến cá nhân) những phẩm chất nhân cách đó là những phẩm chất đòi hỏi ở mỗi người phải có
Từ những luận điểm của Karl Max, Lênin, tư tưởng đạo đức cách mạng
tư cách con người của chủ tịch Hồ Chí Minh, quan điểm làm chủ của đảng ta
về con người mới và những quan niệm truyền thống của người Việt Nam, tác
giả Nguyễn Ngọc Bích đã xây dựng khái niệm nhân cách như sau: Nhân cách
là hệ thống những phẩm giá xã hội của cá nhân với cá nhân khác, với tập thể,
xã hội, với thế giới xung quanh và mối quan hệ của cá nhân với công việc trong quá khứ, hiện tại và tương lai Khái niệm này đã vạch ra được những
nét bản chất của nhân cách, mối quan hệ của cá nhân và xã hội, đồng thời nêu được tính chất của cấu trúc hệ thống của nhân cách và cơ chế của sự phát triển nhân cách với tư cách là tự chủ trong tự nhiên, tự chủ trong xã hội và tự chủ trong bản thân mình
1.1.4 Cấu trúc nhân cách
Khi nói về cấu trúc nhân cách, có rất nhiều những quan điểm khác nhau, song có thể nêu lên hai loại cấu trúc khác nhau như sau:
Cấu trúc chung
Trang 2620
Các nhà khoa học thường nói nhân cách là một cấu tạo tâm lý, việc xác định đúng và đủ các thành phần cấu trúc của nó là một yêu cầu về lý luận và
phương pháp
Nếu trước đây Aristoteles đã xem cấu trúc nhân cách với các cấp độ là
“linh hồn và tinh thần” hay “linh hồn thiên thể” thì cho đến nay có rất nhiều cấu trúc nhân cách, được xem xét trên các bình diện khác nhau (tài- đức, trí – đức- thể - mỹ, nhận thức – xúc cảm và tình cảm – động cơ - ý chí)
Ở nước ta, quan niệm của A.G Kovaliov được nhiều người tán thành hơn cả với bốn thành phần cấu trúc như sau:
- Xu hướng
- Tính cách
- Năng lực
- Khí chất Đối chiếu với cách hiểu nội hàm khái niệm “ Nhân cách” thì ở đây, không thể coi khí chất là một bộ phận hợp thành nhân cách, cho dù sự liên quan có ảnh hưởng đến nhân cách của nó là không thể phủ nhận được
Trong tác phẩm “hoạt động - ý thức - nhân cách”, A.N.Leonchiev đã từng bác bỏ quan niệm hiểu nhân cách như một chỉnh thể bao gồm mọi đặc điểm nhân cách như một chỉnh thể bao gồm mọi đặc điểm của con người, từ các quan niệm chính trị và tôn giáo tới cả sự tiêu hóa mà R.B.Cattell đã đề cập
Vì thế, J.Strelau cũng khẳng định qua nghiên cứu của mình rằng thực
ra, khí chất và nhân cách khác nhau về nguyên tắc, trong khi khí chất là kết quả của sự tiến hóa sinh học thì nhân cách được quy định bởi các quan hệ bởi
Trang 2721
các quan hệ xã hội tiêu biểu cho con người Ông cũng cho biết nhiều nhà tâm
lý học Mỹ hoặc phủ nhận khái niệm khí chất, hoặc không thích đề cập đến
1.2 Bắt nạt
1.2.1 Lịch sử nghiên cứu về bắt nạt
1.2.1.1 Những nghiên cứu về bắt nạt trên thế giới
Các nhà khoa học trên thế giới đã bắt đầu nghiên cứu đến hiện tượng bắt nạt từ những năm 70 của thế kỷ trước, với nghiên cứu đầu tiên của Dan Olweus, một nhà khoa học Na Uy, được xem như người mở đường và là “cha đẻ” của các nghiên cứu về vấn đề bắt nạt và ngược đãi Ông đã đưa ra một
định nghĩa theo một cách chung nhất, bắt nạt trong trường học như một hành
vi tiêu cực được lặp đi lặp lại, có ý định xấu của một hoặc nhiều học sinh nhằm trực tiếp chống lại một học sinh, người có khó khăn trong việc tự bảo
vệ bản thân Đa số bắt nạt xảy ra ở những học sinh có vẻ ngoài không hề bộc
lộ một sự khiêu khích hay xúi giục Trong cuốn sách Bắt nạt ở trường học, chúng ta biết gì và chúng ta có thể làm gì (1993), Olweus đã chỉ ra đặc điểm
của phần lớn những học sinh có thể là người đi bắt nạt và đặc điểm của những học sinh có nguy cơ là nạn nhân của bị bắt nạt
Trang 2822
Năm 2001 một nghiên cứu được thực hiện bởi Tonja Nansel và cộng sự
đã tìm ra rằng trong số hơn 15000 học sinh Mỹ từ lớp 6 đến lớp 10 có khoảng 17% học sinh cho biết các em thỉnh thoảng hoặc thường xuyên bị bắt nạt trong cả năm học Gần 19% cho rằng các em thỉnh thoảng hoặc thường xuyên bắt nạt các bạn khác và 6% nói rằng họ vừa đi bắt nạt người khác vừa là nạn nhân của bắt nạt
Năm 2002, Amie E Green và Thomas H Ollendickđã nghiên cứu Nạn nhân bắt nạt, tự đánh giá bản thân và lo âu ở học sinh tiểu học trên 279 học
sinh lớp 6, lớp 7, lớp 8, trong đó học sinh nam chiếm 47%, học sinh nữ chiếm 53% Nghiên cứu này đã chỉ ra rằng 75/279 chiếm 27.7% học sinh bị bắt nạt Trong đó, học sinh nam bị bắt nạt chiếm 55% (n=41) và nữ chiếm 45% (n=34) [23, tr 156- 163]
Một nghiên cứu khác có tên Mối quan hệ giữa hiện tượng bắt nạt và lo
âu xã hội với sự cô đơn ở thanh thiếu niên Kết quả nghiên cứu cho thấy 27
học sinh chiếm 34% học sinh bị bắt nạt, trong đó học sinh nam bị bắt nạt nhiều hơn học sinh nữ, hay theo một nghiên cứu khác cho thấy rằng hầu hết các học sinh đều có trải nghiệm bị hành hung, sách nhiễu hay bị bắt nạt và ăn hiếp trong thời gian còn học ở trung học Theo thống kê của Hội Các Nhà Tâm Lý Học Học Ðường ở Mỹ, 1/7 tổng số học sinh đã từng là kẻ hành hung sách nhiễu người khác hoặc là nạn nhân của vấn nạn này, và theo nhiều nghiên cứu khác cho thấy rằng có tới gần 75% giới trẻ ngày nay là thành viên của cuộc chạm
Trang 2923
trán trước khi chúng bước vào bậc trung học Vì vậy mọi đứa trẻ đều có thể trở thành nạn nhân của các vụ bắt nạt
1.2.1.2 Những nghiên cứu về bắt nạt ở Việt Nam
Khảo sát do khoa Xã hội học, trường ĐHKH XH&NV, ĐHQG HN thực hiện vào năm 2008 tại 2 trường THPT thuộc quận Đống Đa (Hà Nội)
về tình trạng bạo lực nữ sinh đã cho thấy nhiều kết quả đáng lo ngại Cụ thể,
có đến 96,7% số học sinh trong mẫu được hỏi cho rằng, ở trường các em có xảy ra hiện tượng nữ sinh đánh nhau Mức độ bạo lực trong nữ sinh là 44,7% rất thường xuyên; 38% thường xuyên; và 17,3% không thường xuyên
Một kết quả khảo sát khác của Nguyễn Văn Tường) [10, tr 63-73], nghiên cứu về bạo lực học đường cũng cho con số đáng lo khi có tới 64% các
em nữ được hỏi thừa nhận là đã từng có hành vi đánh nhau với các bạn khác Đáng chú ý, hầu hết những chuyện đánh nhau lần đầu tiên đều diễn ra trong khuôn viên trường học, và những lần đánh nhau tiếp theo thì đa số lại diễn ra ngoài trường học Việc nữ sinh đánh nhau có lẽ đã trở nên quen thuộc với nhiều học sinh Chính vì vậy, khi được hỏi “quan niệm về hiện tượng đánh nhau giữa các học sinh nữ” thì có đến 45,3% cho rằng, điều đó là “bình thường”; 30,7% trả lời có thể chấp nhận được; và chỉ có 24% học sinh “không chấp nhận” hành vi bạo lực trong nữ sinh Trong số các nữ sinh đã từng có hành vi hành hung người khác, hầu hết đều biết bạo lực gây nên tổn thương
về tinh thần và thể xác, làm mất đi thiện cảm của mọi người đối với con gái Nhưng vẫn còn gần 1/4 cho rằng, hành vi bạo lực không gây ra hậu quả gì [10, tr 13]
Ông Phùng Khắc Bình - Vụ trưởng Vụ Công tác học sinh, sinh viên (Bộ GD-ĐT) cho biết: Thống kê từ 38 Sở GD-ĐT gửi về Bộ từ năm 2003 đến năm 2010 có tới hơn 8.000 vụ học sinh tham gia bắt nạt, đánh nhau và bị xử
lý kỷ luật
Trang 3024
Một nghiên cứu khác về hiện tượng bị bắt nạt đã được thực hiện bởi hai
tác giả Phạm Thị Ánh, Nguyễn Thị Si với đề tài “Quan hệ giữa hiện tượng bị bắt nạt và nhận thức bản thân ở học sinh phổ thông”[1, tr 37-45] Nghiên cứu
này được thực hiện trên 161 học sinh từ 3 trường Tiểu học và 1 trường trung học cơ sở thuộc các tỉnh: Bắc Ninh, Bắc Giang và Hà Nội Nghiên cứu này đã
đưa ra kết luận: “Tỉ lệ trẻ bị bắt nạt là đáng báo động: trong số 100 trẻ thì có
38 trẻ (hơn 1/3) thường xuyên hoặc luôn luôn bị ít nhất một hình thức bắt nạt Phổ biến nhất là bắt nạt về các mối quan hệ như bêu xấu, làm bạn bè xa lánh”
Như vậy, chúng ta có thể thấy rằng không chỉ trên thế giới mà cả ở Việt Nam, vấn đề bắt nạt đã và đang được các nhà khoa học, các cấp, các ngành và toàn xã hội quan tâm và đang có những hoạt động thiết thực nhất trong việc tìm hiểu và nỗ lực đưa ra những giải pháp nhằm giảm thiếu vấn nạn bắt nạt ở trong nước, và góp phần nói lên tiếng nói chung về hiện tượng bắt nạt trên thế giới
1.2.2 Khái niệm bị bắt nạt và bắt nạt
Khái niệm bị bắt nạt
Bị bắt nạt là hiện tượng một người bị một hay một nhóm người khác đánh, cô lập, nói xấu, đe dọa, tống tiền, mắng chửi Những học sinh bị bắt nạt thường là những em yếu đuối về thể chất, hiền lành, không hòa đồng, có sự khác thường về hình dạng cơ thể, có hoàn cảnh gia đình đặc biệt…
Chúng ta có thể hiểu bị bắt nạt là việc một cá nhân hay một nhóm người nào đó bị tổn thương về mặt thể chất hoặc tâm lý do hành vi hoặc lời nói cố ý được lặp đi lặp lại của người khác gây ra
Trang 3125
Từ đó, có thể hiểu người bị bắt nạt chính là những cá nhân hoặc nhóm người bị tổn thương về thể chất hoặc tâm lý bởi những lời nói hoặc hành vi được lặp đi lặp lại và cố tình của người khác
Theo Batsche & Knoff và Olweus [23, tr 29-37]cho rằng thành tố then
chốt của bắt nạt là những hăm dọa về cơ thể và tâm lý xuất hiện lặp lại có thể tạo ra những mẫu hành vi quấy rầy và lạm dụng nạn nhân
Theo Nguyễn Thị Nga, học viên cao học K10 trường Đại học Khoa học
Xã hội và Nhân văn trong luận văn thạc sĩ của mình đã cho rằng bắt nạt là bất
cứ hành vi hay lời nói nào đó lặp đi lặp lại cố tình gây tổn thương đến cơ thể hoặc tâm lý của người khác [9, tr 35]
Từ những quan điểm trên, chúng tôi đưa ra khái niệm về bắt nạt được
dùng trong nghiên cứu này: Người bắt nạt là cá nhân hoặc nhóm người cố tình sử dụng lời nói hoặc hành vi nào đó lặp đi lặp lại nhằm gây tổn thương đến cơ thể hoặc tâm lý của người khác, dựa trên sự ưu thế về quyền lực và vị thế xã hội của mình
1.2.3 Đặc điểm của nạn nhân và thủ phạm của bắt nạt
1.2.3.1 Các đặc điểm nạn nhân của bắt nạt:
Thứ nhất là đặc điểm cá nhân: Những học sinh hay bị bắt nạt thường
yếu đuối về thể chất, rụt rè, nhút nhát, lầm lỳ ít nói, cau có, không có kỹ năng
Trang 3226
kết bạn nên ít bạn bè, thường tách biệt, luôn cảm thấy thiếu sự hỗ trợ chung quanh nên dễ sợ hãi, và thiếu tự tin vào khả năng và sức mạnh của chính mình, hoặc là những trẻ bị khuyết tật Tuy nhiên những trẻ này cũng thường
có nhiều nguy cơ sẽ đi bắt nạt những trẻ yếu thế hơn mình
Không chỉ những trẻ yếu đuối, rụt rè mới dễ bị bắt nạt Các nghiên cứu cho thấy, những đối tượng “lạc lõng” trong tập thể lớp cũng là đối tượng của bắt nạt Ví dụ thực tế cho thấy cả những học sinh thông minh, năng động khi lạc lõng trong một môi trường mới (thí dụ như vừa chuyển cấp, chuyển từ nông thôn lên thành phố, chuyển từ trường công sang trường quốc tế…) vẫn
có thể trở thành mục tiêu của những vụ bắt nạt
Thứ hai là về giới: Các nghiên cứu chỉ ra rằng hiện tượng bị bắt nạt, và
hình thức của bắt nạt cũng bị chi phối bởi giới tính Nữ giới thường bị bắt nạt
ít hơn nam giới, nữ thường bị bắt nạt về các mối quan hệ và bắt nạt về lời nói nhiều hơn nam Nam giới bị bắt nạt thể chất nhiều hơn nữ giới [22, tr 32-37]
đã quan sát những học sinh nữ đi bắt nạt người khác và nhận thấy các em sử dụng lời nói để nhạo báng và trêu chọc nhiều hơn là bắt nạt trực tiếp về mặt thể chất Vernberg và cộng sự (1999) đã chỉ ra rằng nữ giới thường ít bị bắt nạt về một số khía cạnh như nhạo báng, đe dọa, bị loại trừ ra khỏi nhóm hoặc các hoạt động nhiều hơn là nam giới
Thứ ba là về độ tuổi: Theo một nghiên cứu trên học sinh từ lớp 7 đến
lớp 12 ở Úc, Peterson và Rigby [24, tr 67- 68] đã chỉ ra rằng tỷ lệ trẻ bị bắt nạt giảm đi theo độ tuổi Ngoài ra, nhiều nghiên cứu của các tác giả khác như: Similary, Olwers cũng nhận thấy, trẻ càng lớn thì càng ít bị bắt nạt hơn Nghiên cứu của Olwers cũng cho biết học sinh bị bắt nạt trong quá trình học bởi những học sinh lớn tuổi hơn (Olwers, 1994)
Thứ tư là về gia đình: Baldry và Farrington (1998) đã chỉ ra rằng phần
lớn cha mẹ của những trẻ bị bắt nạt có phong cách giáo dục độc đoán Những
Trang 3327
đứa trẻ gái có mức độ giao tiếp ít với các thành viên trong gia đình có xu hướng bị bắt nạt nhiều hơn là đi bắt nạt Một mô tả khác lại mô tả những người bị bắt nạt là những người khép kín trong các mối quan hệ gia đình, đặc biệt là trong mối quan hệ với mẹ Bowers, Smith và Binney thực hiện lại nghiên cứu của mình và cho biết gia đình của trẻ bị bắt nạt thường có những rắc rối trong cấu trúc gia đình Kết quả nghiên cứu của này cho thấy những kiểu cha mẹ bảo vệ con quá mức thì ít có khả năng biết được con bị bắt nạt Quan điểm khác lại quan tâm đến vai trò của sự gắn bó trong quá trình đứa trẻ
bị bắt nạt bởi những bạn cùng trang lứa ở độ tuổi trước khi đi học Những đứa trẻ không có sự gắn bó hoặc gắn bó không an toàn thì có xu hướng bị bắt nạt nhiều hơn những đứa trẻ có gắn bó an toàn và không bị bắt nạt trước đây
Như vậy, nạn nhân của bắt nạt thường bị chi phối bởi đặc điểm bản thân, giới tính, đặc điểm gia đình
1.2.3.2 Đặc điểm thủ phạm của bắt nạt
Tương tự nạn nhân của bắt nạt, các nhà nghiên cứu cũng nhận thấy một
số đặc điểm đặc trưng ở thủ phạm của bắt nạt
Đặc điểm cá nhân: Những kẻ bắt nạt thường là những học sinh cá biệt,
có tính hung hăng, lì lợm, không biết sợ và to khoẻ, có tính bốc đồng, thiếu sự cảm thông, muốn trở thành trung tâm gây sự chú ý, thể hiện sự tự tin vào bản thân mình, có nhu cầu thống trị mạnh mẽ và khuất phục các học sinh khác, dễ dàng bị khiêu khích và tức giận, luôn luôn bướng bỉnh và gây hấn đối với người khác Những học sinh mới chuyển trường vì không muốn bị cô lập hoặc vì muốn chứng tỏ quyền lực, cũng có thể gia nhập nhóm của những kẻ bắt nạt và trở thành kẻ đi bắt nạt Học sinh cảm thấy tự hào khi những kẻ
“cứng rắn, bản lĩnh và uy quyền” chấp nhận chúng
Trang 3428
Về độ tuổi: Các nghiên cứu ở nước ngoài cho thấy độ tuổi càng nhỏ thì
càng có hiện tượng bắt nạt nhiều Trẻ bị bắt nạt nhiều từ học sinh tiểu học đến học sinh trung học phổ thông, càng lớn thì hiện tượng bắt nạt càng giảm đi Hình thức bắt nạt cũng có sự thay đổi theo lứa tuổi Ở học sinh nhỏ tuổi thì thường là bắt nạt về mặt thân thể, nhưng lớn lên thì ít bắt nạt về thân thể nhưng lại tăng lên về bắt nạt lời nói [21, tr 211-234]
Về giới tính: Các nghiên cứu đều khẳng định bắt nạt có ở cả nam và
nữ Tuy nhiên, ở nữ giới thì phổ biến về hình thức bắt nạt về lời nói, trong khi
đó, ở nam giới thì lại bắt nạt về thể chất nhiều hơn Điều đó có nghĩa là, học sinh nam có xu hướng sử dụng những hành vi bạo lực như đấm, đá, đẩy, v.v làm người khác bị thương về mặt thể chất Trong khi đó, nữ giới lại có xu hướng làm tổn thương người khác bằng lời nói
Về gia đình: Nghiên cứu của Bowers, Smith và Binney năm 1992 cũng
như nghiên cứu của Berdondini và Smith năm 1996 đã chỉ ra những đứa trẻ bắt nạt thường sống trong gia đình thường thiếu vắng sự có mặt của người bố Những đứa trẻ này, cả nam và nữ, chúng có khuynh hướng ít được khuyến khích, ủng hộ trong gia đình của mình Mức độ giao tiếp thấp có xu hướng tương quan với mức độ bắt nạt cao ở trẻ nam, nhưng không có xu hướng tương quan với mức độ bắt nạt cao ở trẻ nữ ở cùng một độ tuổi Hơn nữa, Rigby đã chỉ ra rằng những đứa trẻ bắt nạt có nhiều khả năng được sinh ra ở những gia đình mà ít có sự quan tâm chăm sóc về mặt tâm lý Baldry và Farrington (2000) cho biết những đứa trẻ bắt nạt có xu hướng thiếu sự động viên khuyến khích của bố mẹ, mặt khác, những bậc cha mẹ này thường là những người độc đoán và rất nghiêm khắc
1.2.4 Các hình thức bắt nạt
Crick và cộng sự [20, tr 76- 79] đã chỉ ra rằng có hai hình thức bắt nạt
là bắt nạt bên ngoài/cơ thể, thường nhấn mạnh hành vi của nam giới, và bắt
Trang 3529
nạt ẩn/quan hệ, xảy ra ở nữ nhiều hơn, tuy nhiên cả nam và nữ đều có hình
thức bắt nạt này Bắt nạt cũng có thể được chia theo 4 hình thức sau: (1) Bắt nạt thân thể như đánh đập, hành hung xảy ra khi một người bị người khác sử dụng công khai những hành động cơ thể để áp đặt ưu thế sức mạnh của họ lên người đó, và ở hình thức bắt nạt này xảy ra ở nam nhiều hơn nữ (2) Bắt nạt quan hệ như tẩy chay, cô lập, mắng chửi, sỉ nhục; (3) Bắt nạt thao túng như
đe dọa, tống tiền, vu oan, lấy cắp hoặc hủy hoại tài sản; (4) Bắt nạt dựa trên công nghệ (cyber bullying) như bắt nạt qua điện thoại, tin nhắn, email, hay bôi nhọ trên mạng internet
Trong nghiên cứu này chúng tôi chia bắt nạt theo hai hình thức là bắt nạt trực tiếp và bắt nạt gián tiếp Bắt nạt trực tiếp là thủ phạm tác động một
cách trực diện vào nạn nhân mà không qua trung gian nào, ví dụ hành vi đấm
đá trực tiếp vào người khác, còn bắt nạt gián tiếp là thủ phạm sử dụng trung gian để bắt nạt người khác ví dụ cô lập, bảo các bạn khác không chơi với ai
đó Cách phân loại bắt nạt này cũng đã được một số tác giả sử dụng trong
nghiên cứu của mình như Baldry (2004); Marini và cộng sự (2006); David Cole và cộng sự (2010)
1.2.5 Hậu quả của bắt nạt
Hậu quả đối với nạn nhân của bắt nạt
Những nghiên cứu gần đây càng cho thấy sự phức tạp và mối nguy hại của những hành vi bắt nạt ở tuổi học trò Những học sinh bị bắt nạt kéo dài, ngoài ảnh hưởng xấu việc học tập, còn có tác hại rất lớn đến sự phát triển của các em, cả về mặt xã hội lẫn cảm xúc Các em rất dễ bị trầm cảm và luôn có cảm giác thấp kém, những điều sẽ gây khó khăn cho cuộc sống của các em ngay cả lúc đã ở tuổi trưởng thành Một em học sinh bị bắt nạt thường xuyên
có thể đi đến tự tử hoặc nổi loạn để trả thù (như việc đâm hoặc bắn chết hàng loạt bạn đồng học) và đặc biệt, những người bị bắt nạt có khả năng trở thành
Trang 3630
người đi bắt nạt hơn những người chưa bị bắt nạt [24, 807-814] Bắt nạt
không chỉ gây hậu quả xấu cho nạn nhân trong thời điểm bị bắt nạt mà còn gây hậu quả về mặt phát triển cảm xúc sau này của trẻ [23, tr 7–27] Bắt nạt đã làm cho môi trường học tập trở nên không an toàn Nhiều em cảm thấy sợ hãi khi đi đến trường và ở trường tới mức các em nghỉ học ít nhất một lần trong tháng; 56% nam và 33% nữ cho biết là các em sợ hãi khi trở thành nạn nhân của bạo lực học đường Có 16% học sinh nữ và 21% học sinh nam đem vũ khi
đi để phòng vệ
Brockenbrough (2002) nghiên cứu về nạn nhân bị bạo hành, nghiên cứu cho thấy những sinh viên vừa bị bạo hành sẽ có thái độ hung dữ (hung tính)
có nhiều hành vi có nguy cơ cao nhất so với bạn cùng lứa như sở hữu vũ khí,
sử dụng rượu và thuốc phiện, tham gia vào băng nhóm và đánh nhau ở trường
Bắt nạt có ảnh hưởng đến sức khoẻ tâm thần Trong các mẫu chọn học sinh trung đã kiểm tra tại Istabul, Thổ Nhĩ Kỳ, tỷ lệ bị bắt nạt cao và liên quan đến biểu hiện của trầm cảm Sự tiếp tục trải nghiệm bạo lực và căng thẳng trong các mối quan hệ xã hội sẽ dẫn đến các biểu hiện tâm thần
Hậu quả đối với thủ phạm của bắt nạt
Có thể nhận thấy, bắt nạt ở trường học thường được coi là vấn đề nghiêm trọng về mặt cá nhân, xã hội và giáo dục, ảnh hưởng tới không ít học sinh Bắt nạt cũng gây ảnh hưởng xấu ngay cả đối với người đi bắt nạt Học sinh chuyên bắt nạt học sinh khác thường phát triển thành "thú vui" trong việc thể hiện sức mạnh và uy thế đối với nạn nhân và không thể phát triển sự đồng cảm với người khác Cứ như vậy, những trẻ đó có thể sẽ dần hình thành những suy nghĩ, thù hận, chống đối và cuối cùng là hành vi phạm pháp và tội
ác
Trang 3731
1.2.6 Nguyên nhân của bắt nạt
Tình trạng bắt nạt giữa học sinh với học sinh ngày càng là vấn đề bức xúc của xã hội, nên được nhiều nhà tâm lý học và giáo dục học quan tâm nghiên cứu Từ việc phát hiện ra những hậu quả nghiêm trọng của bắt nạt đã khiến cho các nhà tâm lý học và giáo dục học nhận thấy cần tìm ra những nguyên nhân gây ra hiện tượng bắt nạt, từ đó sẽ đề xuất những giải pháp giảm thiểu hiện tượng bắt nạt; điều kiện kinh tế gia đình có liên quan đến hành vi bạo lực học đường giữa học sinh với học sinh Trong số trẻ em bị bắt nạt, tỷ lệ trẻ có điều kiện kinh tế khó khăn cao hơn trẻ em có điều kiện kinh tế khá Bắt nạt cũng có mối liên hệ có ý nghĩa với mức sống, tuổi, nghề nghiệp của cha,
số anh chị em trong gia đình
Những nét đặc biệt ở hình dáng của một số học sinh cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến hiện tượng bắt nạt, hiện tượng thừa cân và béo phì là nạn nhân của bắt nạt hay trêu ghẹo Thanh thiếu niên béo phì có nguy
cơ là nạn nhân của bắt nạt cao bởi vì những bạn cùng lứa nhìn nhận họ như một sự khác biệt và người không ai ưa
1.3 Mối quan hệ giữa đặc điểm nhân cách và hiện tượng bắt nạt
1.3.1 Mối quan hệ giữa đặc điểm nhân cách và nạn nhân của bắt nạt
Những nạn nhân của bắt nạt thường thận trọng, nhạy cảm, ít nói, trốn tránh, xấu hổ, thường xuyên lo lắng, cảm giác không an toàn, không vui và tự đánh giá bản thân thấp, nhút nhát, thiếu tự tin, và thiếu các kỹ năng xã hội, hay chán nản, phiền não và có ý tưởng tự tử nhiều hơn bạn bè cùng trang lứa, thường sống thu mình, không có nhiều hơn một người bạn thân và người bạn thân đó thường là người lớn tuổi hơn, nếu là nam, họ có sức mạnh thể chất yếu hơn các bạn nam cùng tuổi Chính những đặc điểm này có thể một phần
là nguyên nhân và hệ quả của bắt nạt Nạn nhân thì thường sống nội tâm, và
Trang 381.3.2 Mối quan hệ giữa đặc điểm nhân cách và thủ phạm của bắt nạt
Trong cuốn sách Bắt nạt ở trường học, chúng ta biết gì và chúng ta có thể làm gì bởi Olweus (1993), tác giả đã chỉ ra đặc điểm của phần lớn những
học sinh có thể là người đi bắt nạt và đặc điểm của những học sinh có nguy cơ
là nạn nhân của bị bắt nạt
Những kẻ bắt nạt thường là những học sinh cá biệt, có tính hung hăng,
lì lợm, không biết sợ và to khoẻ, bốc đồng, thống trị, thiếu sự cảm thông, muốn trở thành trung tâm gây sự chú ý, thể hiện sự tự tin vào bản thân mình,
có nhu cầu thống trị mạnh mẽ và khuất phục các học sinh khác, dễ dàng bị khiêu khích và tức giận, luôn luôn bướng bỉnh và gây hấn đối với người lớn,
kể cả bố mẹ và giáo viên, rất ít có khả năng thấu cảm và bộc lộ sự thấu cảm đối với những học sinh là nạn nhân bị đối xử tàn nhẫn, nếu là nam, kẻ đi bắt nạt thường có sức mạnh thể chất khỏe hơn hẳn các cậu bé khác, sống ít tình cảm, nổi loạn, thù địch, chống đối xã hội, và đối đầu
Trang 39độ tuổi chủ yếu từ 12- 18 tuổi đó là những học sinh học từ lớp 6 đến lớp 12 Ở lứa tuổi này các em đã có sự trưởng thành đáng kể về thể chất, tâm lý là thời
kỳ xác định về mặt xã hội, tích cực tham gia vào cuộc sống lao động, học tập
để chuẩn bị cho tương lai Đây là thời kỳ nhân cách đang trưởng thành tiến tới
em hoàn toàn nhận thức được sức mạnh của mình Do những điều kiện khác nhau về gien, điều kiện sống có đầy đủ chất dinh dưỡng hay không dẫn tới có
em to lớn và sẽ có xu hướng bắt nạt bạn bé hơn mình
Đặc điểm nhân cách
Đây là độ tuổi phát triển mạnh mẽ về nhân cách, tự ý thức, tự khẳng định bản thân
Ở lứa tuổi này các em học sinh đã và đang có những cảm nhận sâu sắc
về người lớn Các em muốn mình là người lớn, và cũng muốn những người khác tôn trọng mình như người lớn Do vậy trong giai đoạn này các em dễ có
Trang 40Ảnh hưởng của đặc điểm lứa tuổi đến hiện tượng bắt nạt ở học sinh:
Như chúng tôi đã đề cập ở trên, ở độ tuổi học sinh phổ thông, các em
có nhiều thay đổi về mặt thể chất, theo nhiều nghiên cứu thì những học sinh
có đặc điểm về thể chất tốt như to, khỏe vạm vỡ, cao lớn có sức khỏe thì thường có xu hướng đi bắt nạt nhiều hơn đối với những học sinh ốm yếu; những học sinh có hình thức cơ thể không chuẩn thì thường hay là nạn nhân của bắt nạt, như những học sinh có hình thức thấp, bé, ốm yếu hoặc những học sinh lại quá mập (béo phì) thì cũng thường bị bắt nạt
Những đặc điểm về nhân cách ở lứa tuổi này cũng có liên quan đến hiện tượng bắt nạt là khi học sinh tự đánh giá về mình Các em có thể đánh giá bằng cách so sánh mức độ kỳ vọng của mình với kết quả đạt được, hoặc các em so sánh về mặt xã hội, đối chiếu ý kiến của mình với những người xung quanh về bản thân mình Tuy nhiên sự đánh giá của thanh niên có thể có sai lầm Đánh giá bản thân một cách khách quan không đơn giản và thường là đánh giá người khác bao giờ cũng dễ dàng hơn chính bản thân mình Ở giai đoạn này, các em luôn mong muốn tự khẳng định mình, tìm kiếm vị trí cho mình trong cuộc sống chung nên một số em muốn người khác phải nể sợ mình, muốn mình là người lãnh đạo Nhưng các em vẫn còn ngồi trên ghế nhà trường, chưa đi làm nên muốn người khác phải nể sợ mình các em chỉ có thể bắt nạt các bạn cùng học hoặc những em lớp dưới Các em cũng rất quan tâm