1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Rối nhiễu tâm lý ở trẻ em sống trong gia đình có bạolực

196 469 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 196
Dung lượng 3,02 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi... Đây thực sự là một khoảng trống trong nghiên cứu về BLGĐ... Trong trường hợp này gen đóng vai

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-& -

NGUYỄN BÁ ĐA ̣T

RỐI NHIỄU TÂM LÝ Ở TRẺ EM SỐNG TRONG GIA ĐÌNH CÓ BẠO LỰC

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC

Hà Nội – 2014

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-& -

NGUYỄN BÁ ĐA ̣T

RỐI NHIỄU TÂM LÝ Ở TRẺ EM SỐNG TRONG GIA ĐÌNH CÓ BẠO LỰC

Chuyên ngành: Tâm lý ho ̣c xã hô ̣i

Mã số:Thí điểm

LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÂM LÝ HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1 GS TS Trần Thi ̣ Minh Đức

2 PGS.TS Võ Thị Minh Chí

Hà Nội - 2014

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các dữ liê ̣u và kết quả trình bày trong luâ ̣n án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Hà Nội, ngày 03 tháng 08 năm 2014

Tác giả luận án

NGUYỄN BÁ ĐA ̣T

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến GS TS Trần Thi ̣ Minh Đức, PGS TS Võ Thị Minh Chí đã tận tụy hươ ́ ng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiê ̣n luận án Tôi xin chân thành cảm ơn PGS TS Nguyễn Thi ̣ Minh Hằng đã đọc và góp ý cho luận án từ những bản thảo đầu tiên

Tôi xin gư ̉ i lời cảm ơn sâu sắc đến 52 trẻ em thuộc diện khảo sát thử ,

374 trẻ em thuộc diện khảo sát chính thức và 88 cha me ̣, 12 giáo viên đã nhiê ̣t tình tham gia vào nghiên cứu này Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu Trường THCS Tân An , xã Tân An , huyê ̣n Thanh Hà , tỉnh Hải Dương, Trường THCS Tân Phương, xã Tân Phương và Trường THCS Thạch Đồng, xã Thạch Đồng, huyê ̣n Thanh Thủy, tỉnh Phú Thọ đã giúp đỡ tôi thực hiê ̣n khảo sát, can thiê ̣p rối nhiễu tâm lý cho trẻ em

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn các thầy cô giáo trong Khoa Tâm lý học , Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN, bạn bè, đồng nghiê ̣p, gia đình luôn động viên tôi trong suốt qua ́ trình học tập và thực hiê ̣n luận án!

NCS NGUYỄN BÁ ĐẠT

Trang 5

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

TRONG LUẬN ÁN

STT Chƣ̃ viết tắt Nô ̣i dung viết tắt

2 GĐCBL Gia đình có ba ̣o lực

7 CBCL Phiếu kiểm kê hành vi do cha me ̣ báo cáo

(The Child Behavior Checklist)

8 YSR Phiểu kiểm kê hành vi do trẻ em tự đánh giá

(Youth Self – Report)

Trang 6

MỤC LỤC

Trang

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU VỀ RỐI NHIỄU TÂM

LÝ Ở TRẺ EM SỐNG TRONG GIA ĐÌNH CÓ BẠO LỰC

12

1.1.1 Nghiên cứ u về rối nhiễu tâm lý ở trẻ em 12 1.1.2 Nghiên cứ u về RNTL ở trẻ em sống trong gia đình có ba ̣o lực 15

1.2 Cơ sở lý luâ ̣n nghiên cứu về rối nhiễu tâm lý ở trẻ em 19

1.2.2 Các hình thức biểu hiện rối nhiễu tâm lý 26

1.3 Cơ sở lý luâ ̣n nghiên cứu về gia đình có ba ̣o lực 28

1.4 Rối nhiễu tâm lý ở trẻ em sống trong gia đi ̀nh có ba ̣o lực 32

1.4.2 Khái niệm RNTL ở trẻ em sống trong gia đình có bạo lực 34 1.4.3 Đặc điểm RNTL ở trẻ em sống trong gia đình có bạo lực 34 1.4.4 Các hình thức biểu hiện RNTL ở trẻ em sống trong GĐCBL 37 1.4.5 Hậu quả của RNTL gây ra cho trẻ em sống trong GĐCBL 39 1.4.6 Các yếu tố liên quan đến RNTL ở trẻ em sống trong GĐCBL 41

1.5 Can thiê ̣p RNTL ở trẻ em sống trong gia đình có ba ̣o lực 45

Trang 7

1.5.3 Can thiệp gia đình 48

CHƯƠNG 2 TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 51

2.2.5 Phương pháp can thiê ̣p RNTL ở trẻ em sống trong GĐCBL 74

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN VỀ RỐI NHIỄU

TÂM LÝ Ở TRẺ EM SỐNG TRONGGIA ĐÌNH CÓ BẠO LỰC

81

3.2 Thực tra ̣ng RNTL ở trẻ em sống trong gia đình có ba ̣o lực 83

3.2.2 Các hình thứ c biểu hiê ̣n rối nhiễu tâm lý 87 3.2.3 Sự biến đổi của các loa ̣i rối nhiễu tâm lý 101 3.2.4 Mối quan hệ giữa các loa ̣i rối nhiễu tâm lý 102 3.2.5 RNTL trẻ em sống trong GĐCBL xét theo giới tính, lứa tuổi 103 3.2.6 RNTL ở trẻ em xét theo mức đô ̣ ba ̣o lực gia đình 105

3.3 Hâ ̣u quả của viê ̣c trẻ em bi ̣ rối nhiễu tâm lý 108 3.3.1 Khó khăn trong việc thích ứng xã hội 108 3.3.2 Khó khăn trong việc giải quyết vấn đề 112

Trang 8

3.5 Mô ̣t số trường hơ ̣p điển hình 129 3.5.1 Trườ ng hơ ̣p thứ nhất: Nguyễn Viết M 130

3.6 Kết quả can thiê ̣p RNTL ở trẻ em sống trong GĐCBL 139 3.6.1 Một số kết quả đa ̣t được từ các buổi can thiê ̣p 139 3.6.2 Kết quả đánh giá RNTL ở trẻ sau khi can thiê ̣p 142 3.6.3 So sánh mức đô ̣ RNTL trước và sau khi can thiê ̣p 143 3.6.4 So sánh RNTL ở trẻ em đươ ̣c can thiê ̣p và nhóm đối chứng 144 3.6.5 So sánh những khó khăn tâm lý trẻ em trước và sau can thiê ̣p 145 3.6.6 So sánh khó khăn tâm lý của nhóm can thiê ̣p và nhóm đối chứng 145

Danh mu ̣c công trình khoa ho ̣c của tác giả liên quan đến luâ ̣n án 151

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

2.1 Đặc điểm chung của trẻ em thuộc diê ̣n khảo sát chính thức 56

3.1 Mức độ RNTL ở trẻ em sống trong GĐCBL 85

3.2 Các dấu hiệu biểu hiện trạng thái lo âu 92

3.3 Các dấu hiê ̣u biểu hiê ̣n trạng thái trầm cảm 93

3.4 Các dạng hành vi sai phạm của trẻ em sống trong GĐCBL 96

3.5 Các kiểu hành vi gây hấn của trẻ em sống trong GĐCBL 97

3.6 Những khó khăn trong giao tiếp xã hội 109

3.7 Khó khăn tâm ly ́ cản trở trẻ em tham gia hoạt động nhóm 110

3.8 Khó khăn tâm ly ́ cản trở trẻ em thích ứng với môi trường mới 112

3.9 Những cách phản ứng cản trở trẻ em phân tích vấn đề 113

3.10 Những khó khăn tâm lý của trẻ em trong giải quyết vấn đề 114

3.11 Những khó khăn tâm lý trong học tập của trẻ em bi ̣ RNTL 117

3.12 RNTL ở trẻ em trước và sau khi can thiê ̣p 143

3.13 RNTL ở trẻ em được can thiê ̣p và nhóm đối chứng 144

3.14 So sánh k hó khăn tâm lý của trẻ em trước và sau can

3.15 So sánh k hó khăn tâm lý của trẻ em được can thiê ̣p và

nhóm đối chứng

146

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ

1.1 Các yếu tố ảnh hưởng tiêu cực làm gia tăng RNTL 41

1.2 Các yếu tố ảnh hưởng tích cực làm giảm nhẹ RNTL 43

3.2 Mối tương quan giữa BLGĐ , RNTL và các yếu tổ ảnh

hưởng tiêu cực

123

Trang 10

DANH MU ̣C CÁC BIỂU ĐỒ

3.1 Xu hướng gia tăng HVBL trong gia đình 81

3.2 Tỷ lê ̣ trẻ em sốngtrong GĐCBL bi ̣ RNTL 84

3.3 Các dấu hiệu biểu hiện hình ảnh BLGĐ xâm nhập trở lại 88

3.4 Phản ứng tâm lý tiêu cực khi hình ảnh BLGĐ xâm nhập trở lại 90

3.5 Các kiểu nhận thức sai lầm của trẻ em sống trong GĐCBL 94

3.6 Các dấu hiệu biểu hiện rối nhiễu tâm thể 99

3.7 Các dấu hiệu biểu hiện sự mất tập trung chú ý 100

3.8 Sự biến đổi của các dấu hiê ̣u lâm sàng 102

3.9 Tỷ lệ trẻ em bị RNTL trong các nhóm gia đình 105

3.10 Những hành vi vi phạm kỷ luật học đường của trẻ em bi ̣ RNTL 116

3.11 RNTL ở trẻ em sau khi được can thiê ̣p tâm lý 142

DANH MỤC TRANH VẼ CỦA TRẺ EM

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Nhiều n gườ i cảm thấy ha ̣nh phúc và tự hàomỗi khi hồi tưởng, nhớ lạicuộc sống gia đình ở tuổi ấu thơ với tình yêu thương của người mẹ , sự che chở, dạy dỗ của người cha , sự ganh đua giữa anh chi ̣ em và sự chăm sóc của ông bà Những nhân tố này giúp họ bước vào cuộc sống ở lứa tuổi trưởng thành đầy tự tin , có trách nhiê ̣m với bản thân , gia đình và xã hô ̣i Tuy nhiên, cũng không ít người khi nói về gia đình ở tuổi ấu thơ mô ̣t cách khó khăn và bối rối bởi những ký ức về bạo lực gia đình (BLGĐ) giữa cha me ̣,những trâ ̣n đòn của cha , mẹ tái hiện trong tâm trí khiến họ cảm th ấy giận chính bản thân và người thân Trong số ho ̣, không ít người khi trưởng thành , có gia đình riêng đã vâ ̣n hành cuô ̣c hôn nhân của mình giống nhưcuô ̣c hôn nhân của cha me ̣ Họ trừng phạt con của mình như những gì ho ̣ trải qua ở tuổi ấu thơ Vớ i ho ̣, gia đình không phải là tổ ấm , gia đình là sự hô ̣i tu ̣ của những người ghét nhau nhưng buộc phải sống chung với nhau dưới mô ̣t mái nhà

Mô ̣t số nghiên cứu, khảo sát chỉ ra rằng, BLGĐ xảy ra khá phổ biến trong các gia đình Việt Nam Nghiên cứu cấp Quốc gia về gia đình của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch (2008) thực hiện cùng các đối tác cho thấy, 21,2% các cặp vợ chồng xảy ra các hiện tượng bạo lực như đánh, mắng chửi, chấp nhận quan hệ tình dục khi không có nhu cầu [1] Người gây ra BLGĐ gồm cả vợ và chồng, trong đó người chồng là người gây ra bạo lực chính với các hình thức bạo lực nghiêm trọng về thể chất và tinh thần Tỷ lệ chồng đánh vợ chiếm 3,4% trong khi đó tỷ lệ vợ đánh chồng là 0,6% Kết quả nghiên cứu còn chỉ ra,thực trạng đáng báo đô ̣ng về sự trừng pha ̣t của cha me ̣ mỗi khi con cái mắc lỗi Trong sự trừng pha ̣t của cha me ̣ đối với con cái , có một sự khác biệt về giới , cha me ̣ trừng pha ̣t trẻ vị thành niên nam nhiều hơn đối với trẻ vị thành niên nữ: 41,8% cha mẹ sử dụng hình thức “quát mắng” và 14 % sử dụng hình thức “đánh đòn” khi trẻ vị thành niên nam có hành vi sai pha ̣m, tỷ lệ cha me ̣ trừng pha ̣t trẻ vị thành niên nữ thấp hơn

Nghiên cứu Quốc gia về bạo lực đối với phụ nữ của Tổng cục Thống kê Việt Nam (2010) với sự hỗ trợ kỹ thuật của Tổ chức Y tế Thế giới chỉ ra rằng, 54% phụ nữ tham gia nghiên cứu đã phải chịu đựng bạo lực tinh thần do người chồng gây ra từ khi kết hôn và 25% phụ nữ đã bị bạo lực tinh thần trong vòng 12 tháng tính từ

Trang 12

ngày khảo sát[29];cũng với mốc thời gian như vâ ̣y , phụ nữchịu bạo lực thể xác do chồng gây ra lần lươ ̣t là 32% và và 6%;bạo lực tình dục lần lượt là 10% và 4%;kết

hơ ̣p ba ̣o lực thể xác và ba ̣o lực tình du ̣c do chồng gây ra là 34% và 9%

BLGĐkhông chỉ để lại hậu quả tức thì tại thời điểm xảy ra hành vi bạo lực (HVBL) mà còn để lại những tổn thương tâm lý lâu dài cho người chịu sự bạo lực hoặc chứng kiến cảnh bạo lực Đặc biệt, sự ảnh hưởng của BLGĐđối với trẻ em là rất nghiêm trọng.Nghiên cứu củaDauvergne và Johnson (2002) cho thấy, nhữngtrẻ emchứng kiến BLGĐ gặp vấn đề về mặt cảm xúc, giao tiếp xã hội, nhận thức bản thân và hành vi ứng xử Những trẻ em này có đ iểm tự đánh giá bản thân, kỹ năng xã hội, sự cảm thông, đồng cảm thấp, trầm cảm, lo âu và hẫng hụt cao hơn, so với những trẻem sống trong gia đình không có bạo lực[74].Hậu quả của việc chứng kiến BLGĐ đối với trẻ em là khác nhau, tuỳ thuộc vào giới tính, độ tuổi Trẻ em nam thường có hành vi chống đối và gây hấn với người khác, trẻ em nữ thường có dấu hiệu trầm cảm, sợ hãi và có những rối nhiễu tâm thể

Trong một thập kỷ qua, bạo lực giới, BLGĐlà những chủ đề thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, các cơ quan chính phủ và các tổ chức phi chính phủ ở Việt Nam Các nghiên cứu về chủ đề này đãđưa ra những bằng chứng cho thấy tác hại tiêu cực của BLGĐđối với phụ nữ; nguyên nhân và cơ chế duy trì bạo lực ; các biê ̣n pháp phòng chống bạo lực đối với phụ nữ Tuy nhiên, hậu quả của BLGĐđối với sự hình thành, phát triển tâm lý nhân cách của trẻ em hoặc rối nhiễu tâm lý (RNTL)do trẻ em phải chứng kiến cảnh bạo lực giữa cha mẹ và chịu đựng sự ngược đãi của cha mẹ chưa được các nhà nghiên cứu quan tâm đúng mức Không có nhiều nghiên cứu cấp Quốc gia, cũng như các nghiên cứu vi mô về chủ đề này Do vậy, chưa có nhiều thông tin và bằng chứng khoa học đươ ̣c đăng tải cho thấy tác hại của BLGĐđối với trẻ em Đây thực sự là một khoảng trống trong nghiên cứu về BLGĐ

Trước thực trạng nêutrên, việc nghiên cứu sâu và có hê ̣ thống về sự ảnh hưởng củaBLGĐđến đời sống tâm lý, hành vi ứng xử và sự hình thành, phát triển nhân cách, cũng như các RNTL ở trẻ emtrở thành vấn đề cấp bách hiện nay.Chính

vì vâ ̣y, vấn đề “Rối nhiễu tâm lý ở trẻ em sống trong gia đình có bạo lực” được

chúng tôi lựa chọn làm đề tài luận án tiến sĩ

Trang 13

2 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứulý luận và khảo sát thực trạng RNTL trẻ em sống trong gia đình có bạo lực (GĐCBL), từ đó đề xuất một sốbiê ̣n pháp phòng ngừa, can thiê ̣pRNTL ở trẻ em sống trong GĐCBL, góp phần nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ , chăm sóc, giáo dục trẻ em hiện nay

3 Đối tƣợng nghiên cứu

Đặc điểm, các hình thức biểu hiện của RNTL ,các yếu tố ảnh hưởng và các

biê ̣n pháp can thiê ̣pRNTL cho trẻ em sống trong GĐCBL

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

 Tổng quan nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nức về RNTL, RNTL trẻ

em, RNTL ở trẻ em sống trong GĐCBL

 Xây dựng cơ sở lý luâ ̣n nghiên cứu RNTL ở trẻ em sống trong GĐCBL: khái niê ̣m RNTL ở trẻ em sống trong GĐCBL, đă ̣c điểm và các hình thức biểu hiê ̣n

 Nghiên cứu thực trạng RNTL ở trẻ em sống trong GĐCBL và các yếu tố ảnh hưởng làm gia tăng hoă ̣c giảm nhe ̣ RNTL

 Thử nghiê ̣m biê ̣n pháp can thiê ̣p nhóm thông qua giáo dục kỹ năng sống cho trẻ

em bị RNTL sống trong GĐCBL thuộc diê ̣n khảo sát

5 Giả thuyết khoa học

RNTL ở trẻ em sống trong GĐCBL biểu hiện ra ở mă ̣t cảm xúc , hành vi mang tính kém thích nghi chẳng ha ̣n nhưlo âu – trầm cảm, hành vi gây hấn,sai phạm và mất tập trung chú ý trong hoa ̣t đô ̣ng

RNTL ở trẻ em sống trong GĐCBL có mối tương quan thuận với khó khănhọc đường, thích ứng xã hội và giải quyết t ình huống có vấn đề Cảm xúc tiêu cực, mă ̣c cảm tô ̣i lỗi mỗi khi chứng kiến cha me ̣ có HVBL và sự trừng phạt của cha mẹ là các yếu tố làm gia tăng RNTL ở trẻ em Mối quan hê ̣ thân thiê ̣n giữa trẻ em và cha mẹ, sự đô ̣ng viên của những người xung quanh giúp trẻ em giảm nhe ̣ RNTL

Can thiê ̣p nhóm thông qua giáo du ̣c kỹ năng sống là một biện pháp tác động có hiệu quả đối với những trẻ em sống trong GĐCBL ở trạng thái ranh giới hoặc bị RNTL nhe ̣

Trang 14

6 Khách thể nghiên cứu

Tổng số khách thể nghiên cứu là 506 người,trong đó: 52 trẻ em thuô ̣c nhóm khảo sát thử; 374 trẻ em thuô ̣c diê ̣n khảo sát chính thức , bao gồm: 141 trẻ em đang sống trong GĐ CBL; 233 trẻ em đang sống trong gia đình không có ba ̣o lực ; 88 người lớn là cha hoă ̣c me ̣ của trẻ em đang sống trong GĐCBL; 12 giáo viên đang giảng dạy tại các trườngTHCS nơi trẻ emthuô ̣c diê ̣n khảo sát học tập

7 Giới hạn nghiên cứu

7.1 Về đối tượng nghiên cứu

Luận án tập trung làm sáng tỏ đặc điểm và hình thức biểu hiện của RNTLở trẻ em chứng kiến BLGĐ giữa cha me ̣ và hoặc chịu sự trừng phạt của cha mẹ mỗi khi mắc lỗi

Luâ ̣n án tập trung phân tích những cảm nhận,suy nghĩ và phản ứng của trẻ emkhi chứng kiến cảnh cha mẹ có HVBL tinh thần thông qua ngôn ngữ nói, HVBL thể chất thông qua hành vi xô đẩy , đánh, đấm hoặc các hành vi đập phá tài sản, đồ đạc trong nhà

7.2 Về khách thể nghiên cứu

Luâ ̣n án chỉ tập trung nghiên cứu những RNTL ở trẻ em đang sinh sống trong GĐCBL, không nghiên cứu nhữngRNTL ở trẻem sống trong gia đình có cha mẹ, người thân gặp các vấn đề về sức khỏe tâm thần; những trẻ em khuyết tật bẩm sinh từ nhỏ đã có tiền sử về sức khỏe tâm thần hoặc trẻ em khuyết tật do tai nạnhoă ̣c mô ̣t nguyên nhân nào đó dẫn đến bi ̣ RNTL

7.3 Về độ tuổi của trẻ em thuô ̣c diê ̣n khảo sát

Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em (2004) quy định trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi.Luâ ̣n án chỉ tâ ̣p trung nghiên cứu trẻ em trong độ tuổi từ

12 đến 16 tuổi

7.4 Về địa bàn nghiên cứu

Luâ ̣n án được giới ha ̣n là mô ̣t nghiên cứu vi mô , khảo sát thực tế trên hai

cô ̣ng đồng dân Do vâ ̣y , luâ ̣n án chỉ tâ ̣p trung điều tra , khảo sát RNTL ở trẻ em sống trong những GĐCBL ở xã Tân An, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương; xã Tân

Trang 15

Phương và xã Tha ̣ch Đồng của huyê ̣n Thanh Thủy , tỉnh Phú Thọ Hai đi ̣a phương này đươ ̣c lựa cho ̣n là địa bàn khảo sát bởi trong những năm qua ,nơi đây có nhiều

biến đổi về kinh tế, văn hóa, xã hội ảnh hưởng đến cuộc sống của các gia đình (xem thêm chương II)

8 Phương pháp luâ ̣n và phương pháp nghiên cứu

8.1 Phương pha ́ p luận

Luâ ̣n án dựa trên phương pháp tiếp câ ̣n văn hóa – xã hô ̣i trong nghiên cứu tâm lý con người , đă ̣c biê ̣t là nguyên tắc quyết đi ̣nh luâ ̣n xã hô ̣i , nguyên tắc phát triển và nguyên tắc hê ̣ thống

8.2 Phương pháp nghiên cứu

Căn cứ vào mu ̣c đích , nhiê ̣m vu ̣ nghiên cứu , luận án sử du ̣ng các phương pháp nghiên cứu:

a) Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu

b) Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

c) Phương pháp phỏng vấn sâu

d) Phương pháp thảo luâ ̣n nhóm

e) Phương pháp nghiên cứu trường hợp

f) Phương pháp can thiệp RNTL ở trẻ em sống trong GĐCBL

g) Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học

9 Đo ́ng góp của luận án

9.1 Về mă ̣t lý luận

Luận án phát triển và mở rô ̣ng mô ̣t số khái niê ̣mcơ bản làm cơ sở cho nghiên cứu lý luâ ̣n và thực tiễn chẳng ha ̣n nhưkhái niệm RNTL nói chung , RNTL ở trẻ em nói riêng, gia đình có ba ̣o lực , RNTL ở trẻ em sống trong GĐCBL , các biện pháp can thiê ̣p làm giảm RNTL ở trẻ em sống trong GĐCBL

Kết quả nghiên cứu lý luâ ̣n và thực tiễn góp phần làm sáng tỏ sự ảnh hưởng tiêu cực của BLGĐ đến đời sống tâm lý , hoạt động học tâ ̣p, sự thích ứng xã hội , năng lực giải quyết vấn đề của trẻ em sống trong GĐCBL

Trang 16

9.2 Về mă ̣t thực tiễn

Luận án đã xây dựng được công cu ̣ đo lường RNTL ở trẻ em sống trong GĐCBL đáp ứng tiêu chuẩn thiết kế , đo lường và có độ tin cậy cao , có tính ứng dụng trong thực hành tham vấn, trị liệu tâm lý

Luâ ̣n án đã can thiê ̣p tâm lý thông qua hình thức giáo dục kỹ năng sống cho

mô ̣t số trẻ em thuô ̣c diê ̣n khảo sát bi ̣ RNTL sống trong GĐCBL Kết quả cho thấy , can thiê ̣p tâm lý thông qua giáo du ̣c kỹ năng sống phù hợp với những trẻ em sống trong GĐCBL bi ̣ RNTL nhe ̣

10 Cấu tru ́ c của luâ ̣n án

Ngoài phần mở đầu , kết luâ ̣n, kiến nghi ̣, danh mu ̣c các công trình liên quan đến luận án đã đươ ̣c công bố, danh mu ̣c tài liê ̣u tham khảo và phần phu ̣ lu ̣c , luâ ̣n án gồm 3 chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận nghiên cứu về RNTL ở trẻ em sống trong GĐCBL

Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Kết quả nghiên cứu thực tiễn RNTL ở trẻ em sống trong GĐCBL

Trang 17

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN NGHIÊN CỨU VỀ RỚI NHIỄU TÂM LÝ Ở

TRẺ EMSỚNG TRONG GIA ĐÌNH CÓ BẠO LỰC

1.1 Tởng quan nghiên cư ́ uvấn đề

1.1.1 Nghiên cư ́ u về rối nhiễu tâm lýtrẻ em

Rới nhiễu tâm lý (RNTL) trẻ em là vấn đề thu hút sự quan tâm , nghiên cứu của nhiều nhà Tâm lý học lâm sàng , Tâm bê ̣nh ho ̣c, Tâm thần ho ̣c, Cơng tác xã hơ ̣i trên thế gi ới và Việt Nam Các nghiên cứu nhằm lý giải nguờn gớc, các hình thức biểu hiê ̣n, các yếu tớ củng cớ, duy trìvà các liê ̣u pháp can thiê ̣p RNTL trẻ em được thực hiê ̣n theo các hướng tiếp câ ̣n chính sau đây

Hướng tiếp cận sinh học : Mơ ̣t sớ tác giả tiêu biểu theo hướng tiếp câ ̣n sinh

học: Crowe R (1974),Kagan J và Snidman N (1991), Raine A và cs (2000),

ZoëPrichard(2008) Các tác giả này cho rằng , RNTL trẻ em có nguồn gớc bẩm sinh, di truyền hoặc do sự tởn thương não bơ ̣ , rới loạn sinh lý thần kinh[44,56,65,71].Theo hướ ng tiếp câ ̣n sinh ho ̣c , trị liệu RNTL trẻem chủ yếu dựa vào can thiê ̣p y tế

Hướng tiếp cận văn hóa - xã hợi: Mơ ̣t sớ tác tác giả tiêu biểu theo hướng tiếp

câ ̣n này làCole, D.A., (1998), Henry, D.B (2001), Woo BSC (2007), Ferguson C J (2008), Farrell A D, (2011) Theo các tác giả này cơ ̣ng đờng, mới quan hệvới những người xung quanh , những sự kiện xảy ra trong cuợc sớng , phương tiện truyền thơng đa ̣i chúng, trị chơi điện tử, sự đánh giá và chấp nhận của những người xung quanh là các yếu tớ liên quan trực tiếp đến RNTL trẻ em[43,46,47,52,70].Cơng tác phịng ngừa, can thiê ̣p RNTL trẻ em gắn liền với viê ̣c hạn chế những yếu tớ bất lợi từ mơi trường sớng , thay đởi mới quan hê ̣ của trẻ em với những người xung quanh, nâng cao năng lực thích ứng xã hơ ̣i cho trẻ em

Hướng tiếp cận tâm lý : Khác với các tác giả the o hướng tiếp câ ̣n văn hóa –

xã hơ ̣i, nhấn ma ̣nh đến các yếu tớ khách quan , các tác giả theo hướng tiếp câ ̣n tâm lý nhấn mạnh đến các yếu tớ chủ quan gây ra RNTL trẻ em Tuy nhiên, theo hướng tiếp câ ̣n này, có nhiều trường phái tâm lýkhác nhau, mỡi trường phái có những cách

Trang 18

thức lý giải riêng về nguờn gớc gây ra RNTL và biê ̣n pháp can thiê ̣p, phịng ngừa Trường phái Phân tâm ho ̣c của S Freud coi những chấn thương tâm lý ở tuởi ấu thơ và sự xung đợt trong đời sớng nợi tâm giữa cái “Nó” , cái “Tơi” , cái “Siêu tơi” là nguyên nhân chính gây ra RNTL ở lứa tuởi thanh thiếu niên , tuởi trưở ng thành Trong cơng tác phòng ngừa và can thiê ̣p , Freud và các nhà Phân tâm học nhấn mạnh đến việc giải tỏa lo âu , nguyên nhân chính gây ra RNTL , củng cớ sức mạnh của cái “Tơi” Trường phái T âm lý ho ̣c nhâ ̣n thức – hành vi của Seligman(1975), Bandura (1977), Lewinsohn (1979), Beck (1977), Ellis (1977) cho rằng, RNTL trẻ

em xuất phát từ quá trình điều kiê ̣n hóanhững điều quan sát thấy và học hỏi được từ mơi trường xung quanh, từ sự nhâ ̣n thức khơng phù hợp của cá nhân Trong cơng tác phịng ngừa và can thiệp , các nhà Tâm lý học nhận thức – hành vi đề cao việc cấu trúc la ̣i nhâ ̣n thức , hình thành ở trẻ em nhữ ng kiểu hành vi mới và nâng cao năng lực ứng phó với các sự kiê ̣n gây stress trong cuơ ̣c sớng Lý thuyết gắn bó của Bowlby (1969), Ainsworth, Blehar, Waters, Wall (1978) Lý thuyết liên kết xã hợi của Benjamin (1974,1993,1995), Thompson (2000) v.v[dẫn theo 50] Hai lý thuyết này cho rằng, RNTL trẻ em bắt nguờn từ sự thiếu vắng tương tác về mă ̣t cảm xúc giữa trẻ và người me ̣ Viê ̣c phòng ngừa và can thiê ̣p RNTL ở trẻ em, cần tâ ̣p trung vào việc thay đởi mới quan hê ̣ liên nhân cách và sự tương tác cảm xúc trong quan

hê ̣ me ̣ con

Hươ ́ ng tiếp cậnsinh – tâm – xã hợi: Các tác giả đi theo hướng nghiên cứu

này cho rằng, khơng chỉ có các yếu tớ bên trong hoặc bên ngoài là nguyên nhân gây

ra RNTL ở trẻ em Nguồn gớc gây ra RNTL trẻ em là sự kết hợp giữa các yếu tớ sinh học, tâm lý và những tác đơ ̣ng từ mơi trường văn hóa , xã hợi Mợt trẻ em mang trong mình mợt gen tâm bệnh lý nào đó, sớng trong gia đình có nhiều xung đợt và stress có nguy cơ cao dẫn đến bị RNTL Trong trường hợp này gen đóng vai trị nguồn gớc, stress trong gia đình là yếu tớ khởi phát Ngược lại, mơ ̣t trẻ em có thể mang trong mình gen tâm bê ̣nh lý nhưng sớng trong mơi trường thuâ ̣n lợi , được chăm sóc, khơng phải trải qua nhữ ng sự kiê ̣n gây sang chấn nghiêm tro ̣ng sẽ khơng bị RNTL

Theo hướng nghiên cứu này, chúng ta có thể tham khảo mợt sớ tác giả:Anjali Subbarao Avà cs(2008), nghiên cứu mới tương quan giữa di truyền, mơi trường và rới nhiễu hành vi, rới nhiễu trầm cảm điển hình ở trẻ em[41];Zoë

Trang 19

Prichardvà cs (2008)nghiên cứu sự tương tác giữa gen MAOA và hành vi chống đối xã hội [71]; KevinM Beavervà cs (2009) nghiên cứu sự ảnh hưởng của di truyền, môi trường xã hội đến sự tự kiểm soát và hành vi sử dụng ma túy, phạm pháp, chống đối xã hội [58].Theo hướng tiếp câ ̣n sinh – tâm – xã hô ̣i, viê ̣c phòng ngừa, can thiê ̣p RNTL trẻ em cần có sự kết hợp giữa can thiê ̣p y tế , trị liệu tâm lý và tác động làm thay đổi môi trường sống xung quanh, hạn chế sự tác đô ̣ng tiêu cực từ môi trường sống đến trẻ em Tuy nhiên, ở mỗi thời điểm v à tùy thuộc vào mức

đô ̣ RNTL, mô ̣t trong ba hình thức can thiê ̣p trên sẽ được chú tro ̣ng và ưu tiên Ở Việt Nam, các nhà Tâm lý học luôn đă ̣t vấn đề nghiên cứu tâm lý trẻ em nói chung, RNTL trẻ emnói riêng theo hướ ng tiếp câ ̣n tâm lý – xã hội dựa trên quan điểmTâm lý ho ̣c hoa ̣t đô ̣ng [7,17].Theo hướng tiếp câ ̣n này có các tác giả tiêu biểu : Phạm Minh Hạc (1988), Lê Khanh (2003) v,v Bên ca ̣nh hướng tiếp câ ̣n truyền thống, mô ̣t số tác giả : Nguyễn Công Khanh (2000), Nguyễn Thi ̣ Hồng Thúy và cs (2007), Hoàng Cẩm Tú và cs (2007), Đỗ Ngọc Khanh (2010) v.v,nghiên cứ u RNTL trẻ emtheo phương pháp tiếp câ ̣n nhâ ̣n thức – hành vi [16,19,27,30] Mô ̣t số tác giả khác: Trần Thu Hương (2012), Nguyễn Minh Đức (2012) nghiên cứu RNTL ở trẻ emtheo luâ ̣n thuyết Phân tâm ho ̣c[12,81].Bác sĩ Nguyễn Khắc Viê ̣n, người đă ̣t nền móng cho Tâm lý ho ̣c lâm s àng trẻ em Việt Nam , cómột quan điểm chiết trung trong nghiên cứ u và thực hành: chẩn đoán và tri ̣ liê ̣u RNTL trẻ em [37]

Trong nghiên cứ u này ,hướng tiếp câ ̣n văn hóa – xã hô ̣i trong nghiên cứu tâm lý con người là hướng tiếp cận chính đươ ̣c sử dụng làm cơ sở lý luận nghiên cứu về RNTL ở trẻ em sống trong GĐCBL Theo hướng tiếp câ ̣n này , tâm lý người có nguồn gốc từ thế giới khách quan , trong đó nguồn gốc xã hô ̣i là yếu tố quyết đi ̣nh Vì vậy, RNTL ở trẻ em sống trong GĐCBL được xem là hâ ̣u quả của viê ̣c trẻ em chứng kiến và chi ̣u đựng sự trừng pha ̣t của cha me ̣ Do vâ ̣y, khi nghiên cứuRNTL ở trẻ em,phải xem xét hoàn cảnh gia đình và hình thức BLGĐ mà trẻ em chứng kiến và trải nghiệm.Cũng theo hướng tiếp câ ̣n này , tâm lý con người mang tính chủ thể , sự hình thành, phát triển và biến đổi của tâm lý con người diễn ra cùng với sự phát triển của cá nhân, gia đình và xã hội Vì thế, khi nghiên cứu RNTL ở trẻ em sống trong GĐCBL cần xem xétsự nhâ ̣n thức, cảm xúc và hành vi của trẻ em trong và sau khi trải nghiê ̣m BLGĐ , những ảnh hưởng trước mắt và lâu dài của BLGĐđối với sự phát triển tâm lý, nhân cách của trẻ em

Trang 20

1.1.2 Nghiên cư ́ uvề rối nhiễu tâm lý ở trẻ em sốngtrong gia đình có bạo lực

Sự ảnh hưởng của BLGĐ đối với sự hình thành và phát triển tâm lý trẻ em được bắt đầu nghiên cứu từ đầu thập kỷ 80 của thế kỷ trước [75] Tuy nhiên, đến nay đã có nhiều cách tiếp cận và quan điểm khác nhau về sự ảnh hưởng này Dưới đây là mô ̣t số kết quả nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước xung quanh vấn đề này

1.1.2.1 Nghiên cư ́ u ở nước ngoài

Trong ba thập kỷ qua, các nghiên cứu về việc trẻ em chứng kiến hoặc chịu đựng BLGĐ không ngừng gia tăng ở Bắc Mỹ và Châu Âu.Tổng quan mô ̣t số công trình nghiên cứu về chủ đề này ở hai khu vực trên cho thấy,các tác giả tâ ̣p trung lý giải và làm sáng tỏ một số vấn đề:

Hậu quả của BLGĐ đối với trẻ em.Các nghiên cứ uchỉ ra rằng,viê ̣c trẻ chứng kiến cảnh BLGĐ và hoặc bị cha mẹ ngược đãiở tuổi ấu thơ gây ra một số RNTLở lứa tuổi thiếu niên , muô ̣n hơn là ở tuổi trưởng thành , tuy nhiên sự ảnh hưởng tiêu cực của BLGĐ đối với trẻ em là khác nhau ở mỗi trẻ em

Nghiên cứu hội chứng stress sau sang chấn ở trẻ em của Kilpatrickvà Williams(1997) cho thấy,những trẻ em phải chứng kiến cảnh bạo lực giữa cha mẹ dễ bị stress sau sang chấn hơn so với những trẻ em không phải chứng kiến cảnh bạo lực này [59].Nghiên cứu về hậu quả lâu dài của BLGĐ đối với trẻem của Rossman (2001) chỉ ra rằng, việc chứng kiến cảnh bạo lực giữa cha mẹ là điều kiện thuận lợi để hình thành và phát triển hành vi gây hấn, phạm tộiở tuổi trưởng thành trong các mối quan hệ liên nhân cách hoă ̣c những triệu chứng tâm thần như buồn rầu, tự huỷ hoại bản thân và những vấn đề liên quan đến sức khoẻ thể chất: đau đầu, cơ thể dễ bị mệt mỏi và hành vi sử dụng các chất gây nghiện[66].Nghiên cứu so sánh, đối chứng của Fortin và cs (2002) giữa trẻ em sống trong GĐCBL và gia đình không có bạo lực cho thấy, nhóm trẻ em sống trong GĐC BL phải chứng kiến cảnh bạo lực giữa cha mẹ có biểu hiện rối nhiễu hành vi ứng xử như xâm kích, tăng động, phạm pháp nhiều hơn so với nhóm trẻ em sống trong gia đình không có ba ̣o lực giữa cha mẹ[76] Nhóm trẻ emchứng kiến BLGĐ cũng có xu hướng không vâng lời, nói dối, phá huỷ đồ đạc, gian lận, đánh nhau hoặc tỏ ra hung dữ hơn so với nhóm trẻ em đối chứng Nhóm trẻ em sống trong GĐCBLcòn bị rối nhiễu cảm xúc : lo âu, trầm cảm;

Trang 21

phụ thuộc vào người lớn, lo lắng, buồn rầu và cảm thấy không hạnh phúc, năng lực xã hội thấp, không cảm thấy tự tin vào bản thân và gặp khó khăn trong học tập và tập trung chú ý Những trẻ em này thường gặp các vấn đề về sức khỏe thể chất như chậm phát triển, dị ứng, bệnh ngoài da, đau đầu, rối nhiễu ăn uống hoặc các vấn đề liên quan đến thính giác và thị giác

Nghiên cứu mối quan hệ giữa việc bị ngược đãi trong gia đình ở tuổi ấu thơ và khả năng thích ứng ở tuổi trưởng thành của Higgins và cs (2003)chỉ ra rằng, chất lượng của những mối quan hệ liên nhân cách ở tuổi trưởng thành bị ảnh hưởng bởi sự gắn bó, gần gũi giữa cha me ̣ và trẻ em ở tuổi ấu thơ , sự gắn kết giữa các thàn h viên trong gia đình ở tuổiấu thơ Mục tiêu cuộc sống ở tuổi trưởng thành bị ảnh hưởng tiêu cực bởi sự ngược đãi tinh thần ở tuổi ấu thơ [53].Higgins cũng nhận thấy, khi trưởng thành nếu cá nhân có khả năng thích ứng tốt vớicuô ̣c sống gia đình sẽ nhìn nhận cuộc sống xã hội một cách tích cực hơn

Các yếu tố làm gia tăng hoặc giảm nhe ̣ RNTL ở trẻ em sống trong GĐCBL

Các nghiên cứu về chủ đềnày chỉ ra rằng,có các yếu tố nguy cơ làm gia tăng RNTL , cũng có các yếu tố bả o vệ trẻ em tránh bị RNTL nặng nề khi chứng kiến hoă ̣c chi ̣u đựng hành vi ngược đãi của cha me ̣

Các yếu tố nguy cơ làm gia tăng RNTL ở trẻ em sống trong GĐ CBL Nghiên cứu củaGrych.J.H và Fincham.F.D (1990) chỉ ra rằng , tần suất và mức độ nghiêm trọng của BLGĐ có mối quan hệ trực tiếp với cảm giác tuyệt vọng và những vấn đề liên quan đến hành vi, đặc biệt trong những trường hợp sự xung đột giữa cha mẹ kèm theo sự xâm hại thể chất đối với trẻ em [51].Nghiên cứu của Mackenzie – Keating và McDonald (1997) cho thấy ,việc áp dụng hình thức kỷ luật hà khắc, cứng nhắc đối với trẻ emchứng kiến BLGĐ ảnh hưởng tiêu cực đến sự phát triển tâm lý – nhân cách, đặc biệt, khi hình thức kỷ luật này được người mẹ thực thi[62]

Kỷ luật hà khắc của cha mẹ tạo ra và duy trì khoảng cách, trẻ em không có nhiều cơ hội nói về những mong muốn, nhu cầu của bản thân hoặc thương lượng với cha mẹ; các emkhông nhận được sự cảm thông, chia sẻ, hỗ trợ từ cha me ̣, ngược la ̣icha mẹ không lắng nghe và thấu hiểutâm tư, nguyê ̣n vo ̣ng của trẻ

Các yếu tố bảo vệ , giúp trẻ em sống trong GĐCBL tránh hoặc giảm RNTL Peled E (1998) nhận đi ̣nh rằng , phần lớn trẻ em chứng kiến BLGĐ sử du ̣ng chiến

Trang 22

lươ ̣c ứng phó tâ ̣p trung vào cảm xúc [64].Holzworth – Munroe (1997) nhâ ̣n đi ̣nh, những cảm xúc tiêu cực quan sát thấy ở trẻ em sống trong GĐCBL là mô ̣t hình thức báo hiệu cho cha mẹ thấy hâ ̣u quả tiêu cực của BLGĐ gây ra[54] Allen N.E (2003) quan sát thấy , trẻ em sống trong GĐCBL sử du ̣ng chi ến lược ứng phóchủ

đô ̣ng tập trung giải quyết v ấn đề, bị động tập trung vào cảm xúc [39] Fortin và cs (2002)chỉ ra rằng, sự tự ý thức về bản thân, chiến lược ứng phó chủ đô ̣ng, trạng thái tâm lý tích cực của người mẹ, chất lượng mối quan hê ̣ mẹ con, mạng lưới trợ giúp xã hội là những yếu tố bảo vệ trẻ em trong GĐCBL[76]

Mô hi ̀nh phòng ngừa và can thiê ̣p RNTL ở trẻ em sống trong GĐCBL.Các

tác giả quan tâm đến vấn đề này đã đề xuất hai mô hình can thiê ̣p , phòng ngừa RNTL ở trẻ em Mô hình thứ nhất tập trung vào trẻ em, giúp trẻ ứng phó tốt với BLGĐ và loại bỏ RNTL thông qua can thiệp cá nhân hoặc can thiệp nhóm;mô hình thứ hai can thiệp hướng vào gia đình của trẻem và cộng đồng.Đối với hình thức can thiệp cá nhân, Lessard và cs (2003), MacAlister Groves (1999) đã tâ ̣p trung đánh giá hiệu quả và ý nghĩa của can thiệp tâm lý cá nhân đối với những trẻ em bị tổn thương tâm lý nghiêm tro ̣ng sống trong GĐCBL [61,78] Hình thức can thiệp nhóm đối với những trẻ bi ̣ RNTL trong GĐ CBL được Wilson và cs (1989) tâ ̣p trung xem xét tiêu chí lựa chọn trẻ em tham gia vào n hóm can thiê ̣p[68] Crockford và c s (1993), Evans và Shaw (1993) quan tâm đến hình thức tổ chức và thời gian của mô ̣t đợt can thiệp nhóm Campeau và Berteau (2007) xem xét nô ̣i dung của mỗi buổi can thiê ̣p nhóm, các nhân tố tạo nên h iê ̣u quả của can thiê ̣p nhóm [73].Can thiê ̣p hướng vào gia đình và cô ̣ng đồng ,Wolfe và cs (2003) cho rằng, can thiệp RNTL không chỉ tập trung vào trẻ em, cần tác động đến cha mẹ và cộng đồng mới có hiệu quả bền vững Chiến lược phòng ngừa và can thiệp BLGĐcần đươ ̣c thực hiê ̣n từ cấp đô ̣ vĩ mô đến cấp đô ̣ vi mô Các chương trình can thiệp hướng đến nâng cao năng lực nhâ ̣n thức của người dân , của các cặp vợ chồng về sự ảnh hưởng của BLGĐ đến trẻ em Bên ca ̣nh đó , các ch ương trình can thiê ̣p hướng đến từng gia đình có HVBL , giúp họ kiểm soát HVBL và nhận ra những RNTL ở trẻ em do BLGĐ gây ra[69]

Nhìn chung, các tác giả nước ngoài nghiên cứ u về sự ảnh hưởng của BLGĐ đối với trẻ em đều khẳng định rằng, BLGĐ gây ra khó khăn tâm lý cho trẻ , đă ̣c biê ̣t

mô ̣t số trẻ em còn bị RNTL nă ̣ng cần được can thiê ̣p Tuy nhiên, sự tác động của

Trang 23

BLGĐ đến trẻ em là khác nhau bởi có các yếu tố nguy cơ , các yếu tố bảo vệ trẻ emtham gia vào quá trình tác đô ̣ng này Các tác giả nước ngoài đưa ra ba mô hình can thiê ̣p đối với trẻ em sống trong GĐCBL Câu hỏi đă ̣t ra là liê ̣u kết quả nghiên cứu được nêu trên có đúng với trẻ em Viê ̣t Nam sống trong GĐ CBL hay không? Các yếu tố nào làm gia tăng RNTL ở trẻ em? Đó là những câu hỏi chỉ nghiên cứu thực tế mới có câu trả lời xác đáng

1.1.2.2 Nghiên cư ́ u trong nước

Trong những năm qua, bạo lực đối với phụ nữ, bạo lực gia đình, các phương pháp can thiệp và phòng chống BLGĐlà những chủ đề được các nhà nghiên cứu, các cơ quan chính phủ, phi chính phủ quan tâm, nghiên cứu Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch cùng các đối tác (2008) công bố kết quả điều tra gia đình Viê ̣t Na m năm 2006 đã chỉ ra rằng 21% các cặp vợ chồng trải nghiệm ít nhất một loại hình BLGĐ.Cục Thống kêvà các đối tác (2010) đã công bố kết quả nghiên cứu về BLGĐ đối với phu ̣ nữ ở Viê ̣t Nam cho thấy 32% phụ nữ kết hôn đã bị bạo lực thể xác trong cuộc đời Kết quả nghiên cứu của hai cơ quan quản lý nhà nước đã đưa ra những bằng chứng cho thấy BLGĐ đối với phu ̣ nữ và trẻ em diễn ra rất phổ biến trong gia đình hiê ̣n nay

Một số nghiên cứu trên quy mô nhỏ, đã cung cấp những bằng chứng cho thấy,trẻ em phải chứng kiến hoặc chịu đựng BLGĐ rất là phổ biến, xảy ra ở mọi địa phương, từ đồng bằng đến thành phố, dưới nhiều hình thức khác nhau [23] Cha mẹ trừng phạt trẻ em xảy ra cả trong gia đình hòa thuận lẫn gia đình có mâu thuẫn, xung đột Bạo lực giữa cha mẹ tương quan thuận với sự ngược đãi của cha mẹ đối với trẻ em Những gia đình thường xuyên xảy ra bạo lực giữa cha mẹ, trẻ em cũng thường xuyên bị cha mẹ đánh, mắng, chửi Trẻ em không bị ông bà, anh chị em lớn tuổi hơn đánh đòn hay phạt, các em chủ yếu bị cha mẹ đánh, mắng hoặc bị trừng phạt bằng các hình thức khác nhau [4]

Trừng phạt thân thể như đánh vào mông, tát, cốc vào đầu, đánh bằng roi hoặc một vật khác, túm lấy tóc lắc; trừng phạt tinh thần như mắng, chửi, bắt trẻ quỳ, áp mặt vào tường, không cho ăn, đuổi ra khỏi nhà là những hình thức trừng phạt được sử dụng phổ biến và thường xuyên Trừng phạt thân thể đối với trẻ em gây ra những hậu quảnghiêm trọng, nhiều trẻ sau khi bị cha mẹ đánh đòn phải đi khám ở

Trang 24

bệnh viện [32] Có sự khác nhau nhất định trong hình thức trừng phạt của cha mẹ đối với trẻ em nam và trẻ em nữ Trẻ em nam thường bị cha mẹ sử dụng hình thức trừng phạt thân thể, trẻ em nữ bị cha mẹ trừng pha ̣t tinh thần [1]

Hình thức trừng phạt trẻ em mỗi khi các em mắc lỗi của cha mẹ được xem như là một hình thức giáo dục chứ không được nhìn nhận như là một HVBL đối với trẻ em Cha mẹ đánh con, trừng phạt con một cách bạo lực với mong muốn con ngoan hơn, biết nghe lời cha mẹ Phương pháp giáo dục này của cha mẹ xuất phát từ quan niệm cho rằng, “thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt, cho bùi”

Các nghiên cứu của các tác giả trong nước về BLGĐ đối với trẻ em khá phong phú, tập trung ở một số khía cạnh nhưtính phổ biến của sự trừng pha ̣t , các hình thức, quan niệm của cha mẹ về việc trừng phạt trẻem mỗi khi các em mắc lỗi Nghiên cứu của Enkhtor và cs (2007)về trừng phạt thân thể và tinh thần trẻ em ở Việt Nam đươ ̣c xem là mô ̣t nghiên cứu tốt, có sự kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau cũng dừng la ̣i ở viê ̣c mô tả những cảm xúc, hành vi, suy nghĩ tiêu cực của trẻ em khi bị cha mẹ, thầy cô giáo trừng phạt, chưa chỉ ra được hâ ̣u quả lâu dài của sự trừng pha ̣t đối với trẻ em

Có thể nhận định rằng, đến nay chưa có nhiều nghiên cứu cấp quốc gia, cũng như các nghiên cứu trên quy mô nhỏ, ở một cộng đồng dân cư cụ thể, mang tính định lượng hoặc định tính chỉ ra hậu quả lâu dài về mặt tâm lý – xã hội do BLGĐ gây ra cho trẻ em Hiê ̣n nay, cộng đồng nói chung, cha me ̣ nói riêng chưa ý thức rõ được hậu quả tiêu cựcđối với trẻ em do phải chứng kiến cảnh bạo lực giữa cha mẹ hoặc chịu đựng hành vi ngược đãi của cha mẹ Chính vì vậy, cần có những nghiên cứu về RNTL ở trẻ em sống trong GĐCBLnhằm mang la ̣i những thông tin khoa học, những chứng cứ cu ̣ thể về sự ảnh hưởng tiêu cực của BLGĐ đối với trẻ em, giúp cộng đồng , các bậc cha me ̣ ý thức rõ được vấn đề này , từ đó họ kiểm soát sự xung đô ̣t mâu thuẫn trong gia đình và thay đổi phương pháp giáo du ̣c con cái

1.2 Cơ sơ ̉ lý luâ ̣n nghiên cƣ́u về rối nhiễu tâm lý

1.2.1 Khái niệm rối nhiễu tâm lý

Những quan niê ̣m giải thích về RNTL hay rối nhiễu tâm trí , trầm tro ̣ng hơn gọi là rối loạn tâm thần (bê ̣nh tâm thần ) có từ rất lâu trong lịch sử nhân loại và có sự thay đổi qua từng thời kỳ

Trang 25

1.2.1.1 Đi ̣nh nghĩa rối nhiễu tâm lý

Thế kỷ thứ nhất trước Công nguyên , Hippocrates cho rằng, RNTL là sự mất cân bằng giữa bốn loại thể dịch trong cơ thể: mật vàng, mật đen, máu và chất nhầy Nếu dư thừa mật vàng sẽ gây ra hưng cảm, dư thừa mật đen gây ra trầm cảm Đến thời kỳ Trung cổ, tôn giáo chiếm vị trí thống trị, các Tăng lữ, Giáo sĩ cho rằng, RNTL là do ma quỷ gây ra, người bệnh muốn giải thoát khỏi ma quỷ , cần cầu nguyện, hát thánh ca vàuống nước thánh

Đếncuối thế kỷ XIX, các nghiên cứu lâm sàng về RNTL đã được t hực hiê ̣n bởi các nhà Tâm thần ho ̣c Kết quả nghiên cứu của ho ̣ đã phần nào làm sáng tỏ nguồn gốc xã hội và các hình thức biểu hiện của RNTL Oppenheim (1884) đã mô tả RNTL ở những bê ̣nh nhân bi ̣ tai na ̣n lao đô ̣ng : “Sự lo hãi luôn thường trực ở na ̣n nhân Họ sợ phải đối mặt với những kích thích gợi lại sự kiện g ắn với tai nạn, họ bị rối loa ̣n giấc ngủ và luôn gă ̣p ác mô ̣ng , họ dễ cáu gắt , quá cảnh giác và thu mình” Oppenheim cũng là người đầu tiên sử dụng thuật ngữ nhiễu tâm sau sang chấn (traumatischen neurosen) để chỉ những RNTL ở những bệnh nhân này.Trong những bài giảng về bệnh hystérie và chứng suy nhược thần kinh, Jean – Martin Charcot (1889) đã nhấn mạnh đến vai trò của sự kiện gây ra sự sợ hãi và phản ứng khiếp sợ của những bệnh nhân là nạn nhân của các vụ tai nạn đường sắt Charcot đã mô tả triệu chứng lâm sàng của một người là trưởng toa của một tàu chở hàng , bị tai nạn

do hàng hoá đổ vào người , mắc bệnh hystérie mô ̣t da ̣ng RNTL như sau: “Sau khi điều trị các vết thương trên cơ thể, bệnh nhân trở lại công việc nhưng anh ta cảm thấy mình không còn khả năng làm việc, dễ khóc và xúc động, thường xuyên giật mình trước những tiếng động, hay nhức đầu, luôn có cảm giác mệt mỏi và lo âu” Khác với các nhà tâm thần học trên , Emil Kraepelin (1899) cho rằng , RNTL là những rối loa ̣n sinh lý thần kinh xảy ra ở não Quan niê ̣m này nhấn ma ̣nh đến căn nguyên thực thể về RNTL Kraepelin cũng là người đặt nền móng ch o viê ̣c phân loại các RNTL như hiê ̣n nay

Nửa đầu thế kỷ XX, S Freud và các nhà Phân tâm học đã có những luận giải hết sức sâu sắc về RNTL Freud coi RNTL là hâ ̣u quả của những sang chấn tâm lý ở tuổi ấu thơ , nó cũng là kết quả của sự xung đột tâm lý bên trong giữa cái “Cái Nó”, “Cái Tôi” và “Cái Siêu Tôi” RNTL là kết quả từ sự lo hãi của “Cái Tôi” hoă ̣c

Trang 26

do cơ chế phòng vê ̣ mà “Cái Tôi” dựng lên” ngăn chă ̣n những lo lắng bi ̣ dồn nén trong vô thức đ ược ý thức Sự lo lắng của “Cái Tôi” thường liên quan đến những trải nghiệm không tốt hoặc sang chấn tâm lý ở tuổi ấu thơ [dẫn theo 21]

Adler A cũng là mô ̣t nhà Phân tâm ho ̣c nhưng có những luâ ̣n điểm khác với Freud về RNTL Adler (1907) cho rằng RNTL là những chức năng tâm lý bình thường bi ̣ kiềm chế la ̣i do cảm giác “yếu kém” của cá nhân gây ra Adler quan sát thấy, cảm giác yếu kém là động cơ thúc đẩy sự phát triển , đă ̣c biê ̣t đối với những cá nhân có mô ̣t khiếm khuyết nào đó ,họ có thể tự điều chỉnh bằng cách phát triển tối

ưu các mă ̣t khác bù trừ cho mă ̣t khiếm khuyết [dẫn theo 8] Tuy nhiên, cảm giác yếu kém cũng có thể làm suy yếu một số người , nhất là những người quá bức xúc với khiếm khuyết, khiến ho ̣ làm được rất ít hay không làm được gì , đó là những người luôn có mă ̣c cảm tự ti

Horney là một nhà Phân tâm học , có những quan điểm khác với Freud về RNTL Horney (1937) nhận thấy, những kinh nghiê ̣m xấu phần nào sẽ phát triể n thành thái độ thù địch , khi chúng không được giải phóng chúng sẽ trở thành lo âu

cơ bản Cá nhân cảm thấy cô độc và bất lực tr ong mô ̣t thế giới thù đi ̣ch Horney quan sát thấy, khách hàng của mình đến tham vấn , trị liệu liên quan đến vấn đề thất nghiê ̣p, lương thực, thực phẩm, sức khỏe gia đình, nhà ở, bà hiếm khi gặp các xung

đô ̣t tính du ̣c gây ra RNTL ở khách hàng [dẫn theo 8] Horney đi đến kết luâ ̣n , điều cá nhân cảm nhận về cuộc sống xã hội mới chính là yếu tố quyết định cá nhân có hay không có RNTL chứ không phải sự xung đô ̣t nô ̣i tâm như Freud đã mô tả

Giữa thế kỷ XX, các nhà Tâm lý học nhâ ̣n thức – hành vi đã mô tả và lý giải

mô ̣t cách khách quan và duy chứng về RNTL Họ cho rằng, RNTL xuất phát từ quá trình điều kiện hóa , học tập thông qua quan sát người khác[21] Chẳng ha ̣n như chứng ám sợ xuất phát từ mô ̣t trải nghiê ̣m được điều kiê ̣n hóa , trong đó cá nhân sợ hãi một cách quá thái một vật hoặc một tình huống nhất định Điều này liên quan đến trải nghiệm sợ hãi hoặc lo lắng ở một thời điểm nào đó trong quá khứ Tiếp theo kích thích có điều kiê ̣n sẽ gây ra đáp ứng sợ hãi có điều kiê ̣n Bandura (1977) cho rằng chúng ta có thể ho ̣c các phản ứng sợ hãi không cần trải nghiê ̣m tình huống hoă ̣c chứng kiến sự vâ ̣t gây sợ hãi , thay vào đó sự sợ hãi được học từ việc quan sát phản ứng của những người khác , thông qua quá trình ho ̣c gián tiếp Beck (1977) và

Trang 27

Ellis (1977) nhận đi ̣nh , nhâ ̣n thức sự kiê ̣n quyết đi ̣nh cảm xúc của chúng ta chứ không phải bản thân sự kiê ̣n RNTL, các vấn đề sức khỏe tâm thần là hậu quả của những ý nghĩ, niềm tin không đú ng và phi lý

Các nhà Tâm lý học nhân văn nhìn nhận RNTL là hậu quả của việc cá nhân

đi lê ̣ch khỏi con đường tự hiê ̣n thực hóa bản thân [21] Rogers (1961) cho rằng, mọi cá nhân đều có tiềm năng bẩm sinh để lớn lên , phát triển và nâng cao năng lực theo cách mà cá nhân lựa chọn , đó là quá trình “tự hiê ̣n thực hóa bản thân” Trong cuô ̣c sống, khi cá nhân hiê ̣n thực hó a bản thân, họ cảm thấy hạnh phúc và tích cực hành

đô ̣ng, ngược la ̣i ho ̣ cảm thấy đau khổ , lo âu, trầm cảm Maslow (1970) lại cho rằng, hoạt động của cá nhân được thúc đẩy bởi các nhu cầu khác nhau , những nhu c ầu này được cấu trúc theo thứ bâ ̣c RNTL là mô ̣t hình thức biểu hiê ̣n sự bất lực trong viê ̣c thỏa mãn nhu cầu và bộc lộ bản thân, nó là hâ ̣u quả của những mâu thu ẫn giữa các nhu cầu và những cản trở trong viê ̣c thỏa mãn các nhu cầu của cá nhân

Từ cuối thế kỷ XX đến nay , viê ̣c chẩn đoán RNTL, xác định mức đô ̣, các hình thức biểu hiện của mỗi loại RNTL chủ yếu dựa vào Bảng phân loại rối loạn tâm thần và hành vi của Tổ chức Y tế thế giới (ICD – 10,1992) hoă ̣cSổ tay chẩn đoán và thống kê về rối loa ̣n tâm thần của các nhà Tâm thần học Mỹ (DSM) Hai công cu ̣ này đã được quốc tế hóa Trong DSM – IV – TR (2000), rối loa ̣n tâm thần được định nghĩa là một hành vi hoă ̣c hô ̣i chứng hành vi có ý nghĩa lâm sàng, gây đau khổ, phiền muô ̣n cho bản thân cá nhân và hoă ̣c những người xung quanh , làm suy giảm các chức năng tâm lý và hoạt động của cá nhân , gia tăng hành vi tự hủy hoại bản thân, dẫn cá nhân đến mất khả năng kiểm soát hành vi, ứng xử [40]

Hiê ̣n nay, trong nghiên cứu, chẩn đoán, trị liệu những vấn đề liên quan đế n sức khỏe tâm thần , RNTL, các nhà Tâm thần học , Tâm lý ho ̣c lâm sàng , tham vấn, Công tác xã hô ̣i sử du ̣ng DSM n hư là mô ̣t công cu ̣ nhâ ̣n biết rối loạn tâm thần , RNTL bởi nó có các ưu điểm : (1) mô tả chi tiết các dấu hiê ̣u , triê ̣u chứng lâm sàng của từng dạng RNTL hoặc rối loạn tâm thần , (2) phân loa ̣i chính xác từng RNTL , rối loa ̣n tâm thầ n giúp cho các nhà nghiên cứu khá m phá nguyên nhân , cơ chế duy trì, củng cố RNTL, (3) DSM đươ ̣c duyê ̣t la ̣i, bổ sung và tái bản theo đi ̣nh kỳ [8] Khi đề cập đến vấn đề RNTL, chúng ta còn biết đến một số khái niệm liên

quan Nhiễu tâm (Neurosis): Rối loạn tâm lý chưa dẫn đến tan ra về nhân cách

Trang 28

nhưng gây khó khăn trong cuộc sống hàng ngày do những triệu chứng mà người ta thường hay gọi là “dở hơi”: lo hãi vô cớ, ám sợ, ám ảnh Ở trẻ em, những triệu chứng nhiễu tâm ở mức độ nào đó là bình thường, chỉ xuất hiện nhất thời; thái độ

bình tĩnh của cha mẹ giúp các em giải tỏa Loạn tâm(Pyschosis):Khác với nhiễu

tâm, người bị loạn tâm, nhân cách bi ̣ tan rã , chủ thể mất định hướng không gian, thời gian và đời sống xã hội Bệnh nhân bị hoang tưởng, hư giác, mối quan hệ với thế giới bên ngoài và người khác như bị cắt đứt Người bị loạn tâm thông thường gọi là người “điên”, hay loạn trí Nguyên nhân thực thể và di truyền rõ nét trong những bệnh nhân loạn tâm hơn, so với những bệnh nhân nhiễu tâm Ngày nay, nhờ các tân dược mới, việc chữa trị những người bị loạn tâm đã có những tiến bộ,

nhưng chưa phải là triệu để [35]

Nghiên cứ u về sức khỏe tâm thần , tác giả Trần Tuấn và cs (2005) đã đưa ra

mô hình dưới đây để giải thích các trạng thái sức khỏe tâm thần[31].Các thuật ngữ: sức khỏe tâm trí , rối nhiễu tâm trí và bệnh t âm thần được tác giả sử du ̣ng để mô tả các trạng thái tâm thần khác nhau của con người

Mô hình các trạng thái sức khỏe tâm thần (Trần Tuấn, 2005)

Trong mô hình phân loại các trạng thái sức khỏe tâm thần của mình , tác giả Trần Tuấn cho rằng rối nhiễu tâm trí (mental disorders) chỉ tình trạng lệch lạc của sức khỏe tâm trí ra khỏi ngưỡng bình thường , trạng thái bệnh, vẫn còn khả năng tự điều chỉnh trở về bình thường Bê ̣nh tâm thần (mental illness) là tình trạng rối nhiễu tâm trí ở bệnh nhân vượt quá khả năng tự điều chỉnh để trở la ̣i bình thường, cần đến sự can thiê ̣p của y tế Bàn về nội hàm khái niê ̣m tâm trí, tác giả Trần Tuấn cho rằng, tâm trí là khía ca ̣nh hoa ̣t đô ̣ng , diễn biến trí tuệ, não bộ Tâm trí nhấn ma ̣nh đến trạng thái, xu hướng tích cực, ngay cả khi nó không còn bình thường

Các quan điểm về RNTL nêu trên xuất phát từ những cách nhìn khác nhau về đời sốngtâm lý, sức khỏe tâm thần của con người Tuy nhiên, chúng ta có thể nhận

Bê ̣nh tâm

thần Rối nhiễu tâm trí

Khỏe mạnh Sức khỏe tâm trí

Trang 29

thấy điểm chun g là khi đề câ ̣p đến vấn đề sức khỏe tâm thần , các tác giả đều nhất trí cho rằng : (1) sức khỏe tâm thần của mỗi cá nhân có thể ở các trạng thái khác nhau: sứ c khỏe tâm thần bì nh thường hoă ̣c không bình thường ; (2) căn cứ vào số lươ ̣ng các các dấu hiê ̣u , triê ̣u chứng l âm sàng, mức đô ̣ nghiêm tro ̣ng , khả năng tự điều chỉnh để trở lại cuô ̣c sống bình thường của cá nhân, sức khỏe tâm thần kh ông bình thường được chia ra thành các mức độ khác nhau : mức đô ̣ nă ̣ng go ̣i là bê ̣nh tâm thần, mức đô ̣ nhẹ gọi là rối loạn tâm trí hay RNTL

Dựa trên phương pháp tiếp cận văn hóa – xã hội, đă ̣c biê ̣t nguyên tắc quyết

đi ̣nh luâ ̣n xã hô ̣i , nguyên tắc phát triển , nguyên tắc hê ̣ thống trong nghiên cứu tâm lý con người, tâm lý của c á nhân từ bình thường đến bất thường , hay bi ̣ RNTL đều đươ ̣c xem xét trong mối quan hê ̣, tương tác với môi trường sống xung quanh Trong đó gia đình , nhà trường, cô ̣ng đồng, nơi làm viê ̣c , nhóm bạn là những môi trường gần nhất ảnh hưởng đến cá nhân, cũng là nơi cá nhân bộc lộc tâm lý của mình trong những hoạt động hàng ngày mô ̣t cách bình thường hay bất thường, có khi là RNTL Trên cơ sở tiếp câ ̣n như vâ ̣y, RNTL được đi ̣nh nghĩa như sau:

RNTL là trạng thái sức khỏe tâm thần khô ng bình thường , gây xáo trộn, mất cân bằng trong đời sống tâm lý cá nhân , thể hiê ̣n qua cảm xúc, nhận thức và hành

vi kém thích nghi , gây phiền muộn cho chính cá nhân và người thân , cản trở hoạt động học tập, nghề nghiê ̣p, cuộc sống gia đình – xã hội

1.2.1.2 Đặc điểm của rối nhiễu tâm ly ́

Tính mất cân bằng trong đời sống tâm lý Ở trạng thái này ,các hiện tượng ,

quá trình, thuô ̣c tính tâm lý của cá nhân vượt qua ngưỡng trung bình , có nghĩa là lệch chuẩn (deviance) Sự mất cân bằng trong đời sống tâm lý lê ̣ch chuẩn theo hướng tích cực ta ̣o ra các năng lực , phẩm chất vượt trô ̣i ở cá nhân , ngược la ̣i lê ̣ch chuẩn theo chiều hướng tiêu cực thường dẫn đến những hạn chế hoặc khiếm khuyết, nhiều khi còn là bê ̣nh lý Victoria K Ngo (2012), đã xây dựng thang đo đánh giá tâm tra ̣ng hàng ngày của cá nhân trên thang điểm từ mô ̣t đến chín : một tương ứng với tâm tra ̣ng tồi nhất , năm tâm tra ̣ng bình thường, chín tâm tra ̣ng tốt nhất [24] Nếu cá nhân tự đánh giá mình có tâm t rạng bình thường(5điểm), cá nhân đươ ̣c xác đi ̣nh có tra ̣ng thái cảm xúc cân bằng ; cá nhân tự đánh giá mình có tâm trạng tốt nhất (9 điểm), cá nhân đươ ̣c xác đi ̣nh đang có tra ̣ng thái cảm xúc mất cân

Trang 30

bằng theo chiều hướng tích cực , cá nhân đang cảm thấy vui , phấn chấn, hạnh phúc; ngươ ̣c la ̣i, nếu cá nhân tự đánh giá tâm tra ̣ng tồi nhất (1 điểm), cá nhân được xác

đi ̣nh đang mất cân bằng về mă ̣t cảm xúc theo hướng tiêu cực , cá nhân đang cảm thấy buồn rầu, chán nản, bi quan

Tính ke ́ m thích nghi Các trạng thái cảm xúc , quá trình nhận thức và hành vi

ứng xử đươ ̣c coi là kém thích nghi k hi chúng : ( 1) làm rối loạn và suy giảm các chức năng tâm lý k hác Chẳng ha ̣n, mô ̣t trẻ vị thành niên luôn tỏ ra quá lo lắng khi

gă ̣ptình huống khó xử dẫn đến khó khăn trong viê ̣c nhâ ̣n thức và giải quyết tình huống đó; (2) gây ra sự khó chịu, đau khổ cho chính cá nhân vàhoặc những người xung quanh Ví dụ , mộtcá nhân nào đó luôn cảm thấy tay mình bị bẩn và phải đi rửa tay liên tục Hành vi này đươ ̣c xem là mô ̣t hành vi kém thích nghi , mang tính

bê ̣nh lý; (3) không thích hợp với những giá trị, chuẩn mực văn hóa của nhóm, cộng đồng, xã hội nơi cá nhân đang sống Cứ đến tháng năm , tháng sáu, thời tiết nóng bức, chúng ta nhìn thấy , một số thanh thiếu niên nhảy từ cầu Long Biên xuống dòng sông Hồng chảy xiết với sự tung hô, cổ vũ của bạn bè Nhưng cũng hành vi này, người lớn lại cho rằng, đó là một hành vi rồ dại, có thể gây chết người, cần phải cấm, nhắc nhở và giáo dục những thanh thiếu niên có hành vi như vậy Một hành vi không thích hợp với chuẩn mực đa ̣o đức, văn hóa xã hô ̣i nói chung không có ý nghĩa tuyệt đối , nó phụ thuộc vào giá trị văn hóa của nhóm mà cá nhân tham gia hoa ̣t đô ̣ng hoă ̣c sống trong đó Do vâ ̣y , khi đánh giá mô ̣t hành vi , mô ̣t hiê ̣n tươ ̣ng tâm lý bi ̣ RNTL do không phù hợp với chuẩn m ực đa ̣o đức, văn hóa xã hô ̣i cần lưu ý đến các đă ̣c điểm khác của RNTL

Tính cản trở hoạt động Các trạng thái cảm xúc, quá trình nhận thức và hành

vi ứng xử kém thích ghi biểu hiê ̣n sự RNTL cản trở và làm suy giảm các hoạt động thường ngày của cá nhân Chẳng hạn, “Một thanh niên 32 tuổi, có vợ và con gái 6 tuổi, tốt nghiệp đại học ngoại thương, có một việc làm tốt tại một doanh nghiệp của Nhật bản Sau một lần mua dâm, anh ta tự nhiên xuất hiện ý nghĩ là mình bị mắc bệnh AIDS Mặc dù xét nghiệm máu nhiều lần ở nhiều phòng xét nghiệm khác nhau đều cho kết quả chẩn đoán huyết thanh âm tính, nhưng ý nghĩ mắc bệnh AIDS cứ ám ảnh trong đầu anh ta, không làm sao giải thoát được Khi làm việc gì hoặc sắp tiếp xúc với vật gì, anh ta đều phải mất nhiều thì giờ kiểm tra đi kiểm tra lại xem đâu đó có cái gì có thể gây nhiễm AIDS hay không Rối loạn nặng đến mức

Trang 31

anh ta không làm được việc đã ba năm nay” [13].Niềm tin sai lầm của ngườ i thanh niên này về những khó khăn tâm lý , bê ̣nh tâ ̣t đã ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động nghề nghiê ̣p của anh ta

Từ những đă ̣c điểm nêu trên, tiêu chí chung để đánh giá hành vi của cá nhân là bị hay không bị rối nhiễu đã được mô ̣t số tác giả đưa ra Theo Bennett(2003) kinh nghiệm hay hành vi, ứng xử của cá nhân được xem là bị rối nhiễu phải đáp ứng các tiêu chí: lệch chuẩn (deviance), rối loạn chức năng (dysfunctional), rối loạn stress (distress), đặt cá nhân vào tình huống nguy hiểm (dangerous) [21].James E Madduxvà Winstead.B.A (2008) lưu ý khi đánh giá hành vi của mô ̣t ai đó bi ̣ rối nhiễu hay kém thích nghi cần chú ý đến các tiêu chí: lê ̣ch chuẩn về mă ̣t thống kê và hoă ̣c đa ̣o đức xã hô ̣i , làm suy giảm các chức năng tâm lý khác , cản trở hoạt động hàng ngày của cá nhân, đẩy cá nhân vào tình trạng nguy ki ̣ch [55]

1.2.2 Các hình thức biểu hiện rối nhiễu tâm ly ́

Từ đi ̣nh nghĩa về RNTL nêu trên, chúng tôi tập trung mô tả các hình thức biểu hiê ̣n RNTL về mă ̣t cảm xúc, nhâ ̣n thức, hành vi và sinh học làm cơ sở nghiên cứu thực tiễ RNTL ở trẻ em sống trong GĐCBL

Về mặt cảm xúc , khi mô ̣t c á nhân bị RNTL có khí sắc trầm , buồn rầu, mê ̣t

mỏi, mất hứng thú với những sự vâ ̣t , hiê ̣n tượng trước đó cá nhân quan tâm , giảm khả năng hoạt động, mất ngủ, chán ăn, muốn khóc, có hành vi tự làm đau bản thân , có ý tưởng tự sát , tự ti, cảm giác như mình có lỗi, có tô ̣i Với những cảm xúc như

vâ ̣y kéo dài trong mô ̣t khoảng thời gian từ 3 – 6 tuần, theo DSM – IV – TR (2000) cá nhân có thể được chẩn đoán trầm cảm điển hình Khi cá nhân tỏ ra quá lo lắng và không kiểm soát được sự lo lắng của bản thânvới những biểu hiê ̣n như bồn chồn, bối rối, sơ ̣ hãi, căng thẳng và nghi ngờ mo ̣i thứ xung quanh, cá nhân có thể được chẩn đoán bịlo âu Khi mô ̣t cá nhân vừa có những dấu hiê ̣u trầm cảm, vừa có những dấu hiê ̣u lo âu sẽ được chẩn đoán là lo âu – trầm cảm

Về mặt nhận thức, một cá nhân bị RNTL có thể có các dấu hiệubị ám ảnh về

mô ̣t vấn đề nào đó , nghe thấy tiếng nói trong đầu , lă ̣p la ̣i những đô ̣ng tác không có ý nghĩa, bị lẫn lộn , ảo giác, hoang tưởng, có những suy nghĩ kỳ lạ , hành động bột phát, giữ các sự vâ ̣t cũ không còn giá t rị sử dụng ,v.v., cá nhân có thể được chẩn đoán có dấu hiê ̣u tâm thần phân liê ̣t Nếu mô ̣t cá nhân nào đó đang có hoa ̣t đô ̣ng

Trang 32

nhâ ̣n thức bình thường sau đó có xu hướng lẫn lô ̣n , không phân biê ̣t được các sự

vâ ̣t, hiê ̣n tượng tron g cuô ̣c sống dẫn đến hoa ̣t đô ̣ng khó khăn , có thể được chẩn đoán có dấu hiê ̣u suy giảm trí tuê ̣ Tuy nhiên, trong thực hành lâm sàng cho thấy , nhiều người có nhâ ̣n thức và niềm tin phi lý , sai lầm dẫn đến có những phản ứng cảm xúc và hành vi thiếu hợp lý Những kiểu nhâ ̣n thức như vâ ̣y không được mô tả trong DSM – IV – TR (2000), chúng được coi là nguyên nhân dẫn đến RNTL

Về mặt hành vi ,một cá nhân bị RNTL có các hành vi mang tính lă ̣p la ̣i như

nói dối, lấy đồ của người khác, đâ ̣p phá đồ đa ̣c, nói tục, chửi bâ ̣y, uống rượu sau đó gây mất trâ ̣t tự xã hội và bắt na ̣t người khác , đánh nhau, đánh người, kêu la, phô trương, bướng bỉnh , gây sự với người khác , gây ồn, phá hoại công trình công

cô ̣ng,.v.v, có thể được chẩn đoán là có hành vi chống đối xã hội và rối nhiễu nhân cách Tuy nhiên, nếu mô ̣t trẻ em dưới 16 tuổi có những hành vi như vậy sẽ không đươ ̣c chẩn đoán là rối nhiễu nhân các h, chỉ được chẩn đoán là r ối loạn hành vi thể gây hấn và sai pha ̣m

Về mặt cơ thể, một cá nhân bị RNTL trong các tình huống, hoàn cảnh gây lo

lắng, sơ ̣ hãi thường có các phản ứng tâm sinh lý như đỏ mă ̣t, chân tay run rẩy , trán vã mồ hôi , đầu gối muốn khu ̣y xuống , giọng nói run , hoa mắt , khuôn mă ̣t căng thẳng,v.v, có thể được chẩn đoán rối nhiễu lo âu hoặc mắc chứng ám sợ Mô ̣tngười bị RNTL với những biểu hiê ̣n về mă ̣t sinh lý : đau bu ̣ng, đau đầu, đau mỏi cơ thể , chóng mặt , đau da ̣ dày , buồn nôn ,v.v Những triê ̣u chứng lâm sàng nêu trên do nguyên nhân tâm lý – xã hội gây ra,khi đó,cá nhân có thể được chẩn đoán rối nhiễu tâm thể

Trong DSM – IV – TR (2000) giớ i thiê ̣u và mô tả mô ̣t da ̣ng RNTL khá đă ̣c biê ̣t bởi các dấu hiê ̣u , triê ̣u chứng lâm sàng xảy ra ở cả bốn phương diê ̣n : cảm xúc, nhâ ̣n thức, hành vi và sinh học Đó là sự tổn thương tâm lý sau sang chấn (PTSD) RNTL này được đi ̣nh nghĩa như sau: “Chỉ một cá nhân đã trải qua hoặc chứng kiến một sự kiện gây tử vong, có nguy cơ tử vong hoặc gây tổn thương nghiệm trọng , đe doạ đến tính toàn vẹn về mặt thể chất của bản thân cá nhân hoặc người khác , phản ứng ngay lập tức của cá n hân là kinh sợ, hoảng hốt dẫn đến sững sờ và mất tự chủ Sau ba đến sáu tháng , cá nhân trải qua ba nhóm triệu chứng: ký ức xâm nhập, né tránh và suy giảm hoạt động, suy nhược hê ̣ thần kinh giao cảm” [40]

Trang 33

1.3 Cơ sở lý luâ ̣n nghiên cƣ́u về gia đình có ba ̣o lƣ̣c

Từ trước đến nay, bạo lực vẫn được hiểu là hành vi cố ý, gây hại, mang đến sự tổn thương thể chất và tinh thần cho nạn nhân Khi những HVBL xảy ra giữa những người có quan hê ̣ hôn nhân , nuôi dưỡ ng và hoă ̣c cùng huyết thống , sống chung dưới một mái nhà được gọi là BLGĐ

1.3.1 Khái niệm gia đình có bạo lực

Luật Phòng chống Bạo lực gia đình (2007) chỉ rõ, một thành viên trong gia đình được coi là bị BLGĐ khi chi ̣u đựng một trong số các hành vi dưới đây do một , một số thành viên khác trong gia đình gây ra : ( 1) hành hạ , ngược đãi , đánh đập hoặc có hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khoẻ , tính mạng; lăng mạ hoặc có hành

vi cố ý khác xúc phạm danh dự , nhân phẩm ; (2) cô lập , xua đuổi hoặc thường xuyên gây áp lực về tâm lý gây ra hậu quả nghiêm trọng; (3) ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau; (4) cưỡng ép quan hệ tình dục; (5) cưỡng ép tảo hôn, kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ; (6) chiếm đoạt, huỷ hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của gia đình; (7) cưỡng ép thành viên gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên trong gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính; (8) Có hành vi làm trái pháp luật, buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở Các hành vi bạo lực quy định tại khoản một điều hai trong Luật này cũng được áp dụng đối với thành viên gia đình của vợ, chồng đã ly hôn hoặc nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ chồng [22]

Từ góc độ pháp luật , có thể định nghĩa gia đình có bạo lực (GĐCBL) là những gia đình trong đó mô ̣t hoă ̣c mô ̣t nhóm thành viên nào đó trong gia đình phải chịu đựng một hoặc một số hành vi bạo lực được ghi trong điều hai của Luâ ̣t Phòng chống Ba ̣o lực gia đình (2007) do mô ̣t hoă ̣c mô ̣t nhóm các thành viên khác trong gia đình gây ra

Trong khuôn khổ nghiên cứu này , gia đình có bạo lực (GĐCBL) được hiểu là những gia đình có một số hành vi bạo lực xảy ra giữa cha mẹ mà trẻ em chứng kiến thấy hoặc trẻ em bi ̣ cha me ̣ trừng phạt mỗi khi các em mắc lỗi

Trang 34

Từ khái niê ̣m nêu trên, chúng ta thấy rằng, BLGĐ đối với trẻ em diễn ra phổ biến dưới hai hình thức: thứ nhất, trẻ em chứng kiến cảnh BLGĐ xảy ra giữa cha mẹ hoặc giữa các thành viên khác trong gia đình Bạo lực giữa cha mẹ xảy ra dưới nhiều hình thức ba ̣o lực: thân thể, tinh thần, tình dục, kinh tế Tuy nhiên, với trẻ em bạo lực giữa cha mẹ phổ biến nhất là bạo lực thân thể và tinh thần Đó là các hành

vi cãi vã , mắng chửi, dọa nạt, xô đẩy, đánh, đấm xảy ra giữa cha me ̣ Nghiên cứu của Tổng cục Thống kê (2010) chỉ ra rằng, hơn một nửa số phụ nữ từng bị bạo lực thể xác do chồng gây ra cho biết , con cái họ đã chứng kiến cảnh bạo lực giữa cha mẹ; 22,3% trong số này nói rằng, con cái đã từng chứng kiến bạo lực thể xác giữa cha mẹ ít nhất mô ̣t lần; 23% cho biết việc đó xảy ra từ hai đến năm lần và 8,8% cho biết điều đó xảy ra nhiều hơn nămlần [29] Các hình thức bạo lực: tình dục, kinh tế giữa cha mẹ, trẻ em khó nhận biết hơn và không được chứng kiến nhiều

Thứ hai, trẻ em bị cha mẹ, người lớn trong gia đình đối xử một cách đầy bạo lực Các nghiên cứu cho thấy gần ¼ trẻ dưới 15 tuổi phải hứng chịu HVBL từ người cha trong đời và 1/5 trẻ hứng chịu hành vi này trong vòng 12 tháng tính từ thời điểm điều tra Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng , khu vực nông thôn, tỷ lệ trẻ bi ̣ cha me ̣ trừng pha ̣t cao hơn so với thành thị trong suốt cuộc đời và trong 12 tháng gần nhất tính đến thời điểm phỏng vấn [29] BLGĐ đối với trẻ em phổ biến nhất là các HVBL tinh thần: chửi, mắng, sỉ nhục, dọa đuổi khỏi nhà, bắt đứng xó nhà, bỏ đói, bỏ rơi; tiếp đến là các HVBL thân thể như đánh bằng roi, đánh bằng gậy , cốc vào đầu, véo tai, tát, nhốt, đập đầu vào tường, trói vào cột nhà, nằm sấp trên nền nhà và bị đánh

Mô ̣t số tác giả nước ngoài : Fantuzzo và Mohr (1999), Mabanglo (2002), Dauvergne và Johnson (2002) nhâ ̣n thấy, có mối tương quan thuận giữa việc trẻ em chứng kiến BLGĐ và trẻ em bị đối xử một cách ngươ ̣c đãi[45,60,74].Fantuzzo và Mohr (1999) dự báo có đến 45 - 70 % trẻ em chứng kiến cảnh bạo lực giữa cha mẹ cũng là nạn nhân của hành vi xâm hại thể chất của cha mẹ Wolfe và cs (2003) nhấn mạnh thêm rằng , trong GĐCBL, trẻ em vừa chứng kiến cảnh bạo lực giữa cha mẹ vừa bị cha mẹ đối xử một cách tồi tệ, các em thường bi ̣ cha me ̣ xâm hại cả về mặt thể chất lẫn tinh thần Hâ ̣u quả là các emgặp vấn đề về cảm xúc và hành vi nghiêm trọng hơn so với nhữngem khác [69]

Trang 35

1.3.2 Đặc điểm của gia đình có bạo lực

Hành vi BLGĐ mang tính lặp đi lặp lại Nghiên cứu Quốc gia về BLGĐ đối

với phụ nữ ở Việt Nam (2010) chỉ ra rằng, hành vi bạo lực thể xác, tinh thần, tình dục do người chồng gây ra đối với vợ không phải là một lần mà là nhiều lần , mang tính lặp đi lặp lại Trong số những phụ nữ bị bạo lực thể xác thì tỷ lệ bị thương tích nhiều lần là 10,9%, trong khi đó, những phụ nữ bị cả bạo lực tình dục và thể xác thì

tỷ lệ bị thương tích nhiều lần lên tới 26,8% [29] BLGĐ đối với phụ nữ do các thành viên trong gia đình nhà chồng gây ra , lặp đi lặp lại nhiều lần cũng được phản ánh trong các báo cáo chuyên đề của các tổ chức xã hô ̣i

Các thành viê n trong GĐCBL bị tổn thương thể chất và tinh thần Kết quả nghiên cứu của Tổng cu ̣c Thống kê (2010) cho thấy, 26% phụ nữ từng bị chồng gây bạo lực tình dục hoặc bạo lực thể xác cho biết họ đã bị thương tích do HVBL của chồng gây ra, trong đó, 60% cho biết họ bị thương tích nhiều hơn một lần và 17% bị thương tích nhiều lần Phụ nữ từng bị chồng gây bạo lực thể xác, hoặc bạo lực tình dục, đánh giá tình trạng sức khỏe của mình “kém” hoặc “rất kém” so với những phụ nữ không bị bạo lực Họ cũng có xu hướng gặp phải những khó khăn trong việc đi lại và thực hiện những công viê ̣c hàng ngày Họ bị đau và mất trí nhớ, căng thẳng tinh thần và có suy nghĩ muốn tự tử , họ bị sảy thai, nạo thai và thai chết lưu [29] Những tổn thương về thể chất ảnh hưởng mạnh mẽ đến tâm lý , làm tăng thêm sự mặc cảm , tự ti, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống riêng tư và sự phát triển của người phụ nữ cả phương diện gia đình và xã hội

Các chức năng của GĐCBL bị ảnh hưởng nặng nề Ngày này qua ngày

khác, HVBL giữa các thành v iên trong gia đình lă ̣p đi lă ̣p la ̣i làm cho gia đình không còn là tổ ấm , chốn nướng náu , đáp ứng nhu cầu tình cảm của mỗi thành viên, thay vào đó gia đình là sự hội tụ của những người ghét nhau buộc phải sống chung với nhau Chức năng chăm sóc, giáo dục của gia đình đối với trẻ em cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng bởi BLGĐ Trong gia đình hòa thuâ ̣n, trẻ em cảm nhận và học được tình yêu thương , tính trách nhiệm , sự đoàn kết , những đức tính ta ̣o nên giá trị cốt lõi của nhân cách Trong GĐCBL, trẻ em không cảm nhận được những tình cảm như vậy , chúng cảm thấy tức giận và buồn chán , chúng nhận thấ y sức mạnh gắn với bạo lực , mô ̣t niềm tin sai lầm dẫn đến hành vi gây hấn ở tuổi trưởng

Trang 36

thành Mă ̣t khác, BLGĐ làm suy nhược cơ thể và đời sống tinh thần của người me ̣ – thường là na ̣n nhân của BLGĐ dẫn đến sự quan tâm , chăm sóc của người me ̣ dành cho trẻ em bị hạn chế Kinh tế gia đình bi ̣ thiê ̣t ha ̣i nă ̣ng nề do BLGĐ gây ra Nghiên cứu của Cơ quan Liên Hợp Quốc về Bình đẳng giới và Trao quyền cho Phụ nữ: UN Women (2012) cho thấy, thiệt hại do BLGĐ gây ra đối với phụ nữ ở Việt Nam là rất lớn, bao gồm cả những chi phí họ phải trả trực tiếp và những khoản thu bị mất do gián đoạn công việc [3] Chỉ tính riêng chi phí y tế bao gồm việc tiếp cận

y tế, chi phí đi lại, thuốc men trung bình đã lên đến 804.000 đồng một vụ, tương đương khoảng 28,2% thu nhập trung bình hàng tháng của phụ nữ Kết quả này không đáng ngạc nhiên xét trên tần suất phải thăm khám và điều trị của những người bị bạo lực gia đình Các chi phí khác tính toán được bao gồm phí thay mới

đồ đạc và tài sản bị hư hại, chi phí chỗ ở và chi phí khi nhờ sự giúp đỡ của cảnh sát, tòa án, hoặc các cơ quan có thẩm quyền khác

1.3.3 Phân loa ̣i mức độ bạo lực gia đình

Căn cứ vào số lần xảy ra hành vi ba ̣o lực giữa cha me ̣ mà trẻ chứng kiến đươ ̣c, GĐCBL được chia thành bốn nhóm

Gia đình không xảy ra hành vi bạo lực giữa cha me ̣ Ở nhóm gia đình này ,

trẻ không chứng kiến thấy cha mẹ có những HVBL thể chất và tinh thần với nhau Mỗi khi cha me ̣ có bất đồng ý kiến , mẫu thuẫn trẻ thấy cha me ̣ nhường nhi ̣n , thương lươ ̣ng hoă ̣c tranh luâ ̣n với nhau nhưng khô ng có hành vi mắng chửi , xô sát với nhau Hình ảnh cha mẹ mắng chửi nhau không có trong tâm trí của trẻ

Gia đình hiếm khi xảy ra hành vi bạo lực giữa cha me ̣ Đó là những gia đình, giữa cha me ̣ rất ít xảy ra HVBL Trong những gia đình này , trẻ em rất ít khi chứng kiến cảnh cha me ̣ cãi vã, đánh, mắng chửi nhau Mỗi khi có mâu thuẫn, xung

đô ̣t, các thành viên trong gia đình nhanh chóng thoát ra khỏi sự bất đồng ý kiến và trạng thái hẫng hụt, sự tức giâ ̣n và HVBL được kiểm soát

Gia đình thỉnh thoảng xảy ra hành vi bạo lực giữa cha me ̣ Ở nhóm gia đình

này, đôi khi trẻ phải chứng kiến cảnh cha me ̣ có hành vi ba ̣o lực tinh thần , thể chất với nhau Số lần trẻ chứng kiến cha me ̣ mắng, chửi, đánh nhau gắn với mức đô ̣ mâu thuẫn, xung đô ̣t giữa cha me ̣ Hình ảnh cha mẹ cãi vã , mắng chửi , đánh nhau in

đâ ̣m trong tâm trí của trẻ

Trang 37

Gia đình thường xuyên có hành vi bạo lực là loại gia đình, ở đó trẻ luôn phải

chứng kiến HVBL Các thành viên sử dụng bạo lực như là một hình thức để giải tỏa sự tức giận , không hài lòng trong cuô ̣c sống , giải quyết bất đồng, mâu thuẫn HVBL của các thành viên trong gia đình mang tính cố ý hoặc nó đã trở thành những hành vi có tính đô ̣ng hình hóa trong tâm trí của mỗi cá nhân , hễ có bất đồng, mâu thuẫn là những hành vi này xuất hiện Đó thường là những hành vi mắng chửi, nhiếc móc, dọa nạt, quát tháo, đánh đấm, xô đẩy, đập phá đồ đạc trong gia đình Mỗi lần xảy ra xung đột, mức độ xảy ra những hành vi này là khác nhau Có thể chỉ có hành vi mắng chửi, cũng có thể bao gồm cả hành vi đánh đấm, xô đẩy

1.4 Rối nhiễu tâm lý ở trẻ em sống trong gia đi ̀nh có ba ̣o lƣ̣c

Để xác định được khái niệmRNTL ở trẻ em sống trong GĐCBLphù hợp vớitiến trình nghiên cứu về RNTL trẻ em hiê ̣n nay , chúng tôi nhận thấy , cần phải điểm lại khái niệm RNTLở trẻem của mô ̣t số tác giả trong và ngoài nước

1.4.1 Khái niệm rối nhiễu tâm ly ́ ở trẻ em

Simeonsson (1994) cho rằng, RNTL trẻ em gồm các hành vi hướng nội như thích ở một mình , không nói chuyê ̣n , hay xấu hổ , buồn rầu, thu mình, trầm tro ̣ng hơn là lo âu và trầm cảm ; các hành vi hướng ngoạinhư hành động bùng phát, gây hấn, hoạt động thái quá, vi phạm kỷ luật học đường: bỏ học, trốn học, vô lễ với giáo viên, bỏ nhà đi chơi qua đêm [67]

Gelfand D M và Drew C J (2003) nhâ ̣n thấy , trẻ em từ 11 đến 18 tuổi bi ̣ RNT có các kiểu hành vi như cáu kỉnh, nhạy cảm , đố ky ̣ với ba ̣n, dè dặt quá mức , hay buồn rầu , mô ̣t số em hút thuốc , uống rượu, lấy cắp đồ và gây hấn , có hành vi tình dục sớm, không an toàn hoă ̣c gă ̣p vấn đề về thành tích ở trường học [50] Geldard, K và Geldard, D (2007) cho rằng,RNTL trẻ em là những dấu hiệu , triê ̣u chứng lâm sàng như hoảng loạn, lo âu, ám ảnh, buồn rầu, trầm cảm, hành vi và ý tưởng tự sát RNTL xuất hiện, khi trẻ em không thể ứng phó với các nhân tố gây căng thẳng trong cuộc sống[49]

Đi ̣nh nghĩa RNTL ở trẻ em của các tác giả nêu trên tâ ̣p trung mô tả những dấu hiê ̣u, triê ̣u chứng lâm sàng quan sát thấy ở trẻ em trong các tình huống , hoàn cảnh gây căng thẳng cho trẻ em Cách nhìn nhận như vậy về RNTL trẻ em xuất phát từ

Trang 38

quan điểm thực chứng trong nghiên cứu , đánh giá, chẩn đoán RNTL và các vấn đề sức khỏe tâm th ần đang được sử dụng phổ biến ở các nước thuộc khu vực Bắc Mỹ và mô ̣t số quốc gia Châu Âu: Anh, Đức, Đan Ma ̣ch, Hà Lan

Ở Việt Nam , bác sĩ Nguyễn Khắc Viện (1915 – 1997), người đă ̣t nền móng cho chuyên ngành Tâm lý ho ̣c lâm sàng trẻ em Viê ̣t Nam đã đi ̣nh nghĩa RNTL ở trẻ

em như là một tình trạng bị phá rối, làm cho sự phát triển bị ngừng lại hoặc bị chệch hướng nhưng ở mức độ chưa phá hủy những cơ cấu bình thường, chưa làm mất khả năng thích nghi với cuộc sống hàng ngày Còn rối loạn tâm lý là tình trạng cấu trúc tâm lý bị tan rã, toàn bộ nhân cách bị phá vỡ, làm mất hết khả năng thích nghi [35].Trong tác phẩm Tâm lý lâm sàng trẻ em Việt Nam xuất bản năm 1999, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện đã chủ trương dùng thuật ngữ khám tâm lý trẻ em thay cho thuật ngữ khám tâm thần, thuật ngữ rối nhiễu tâm lý thay cho bệnh tâm thần hay bệnh “điên” Theo tác giả sử dụng thuật ngữ RNTL, khám tâm lý cho trẻ em khuyến khích cha mẹ đưa con đi thăm khám, kiểm tra khi phát hiện trẻ có dấu hiệu bất thường, đồng thời khích lệ bác sĩ, y tá, giáo viên, các nhà tâm lý, cán bộ xã hội học tập chuyên khoa này” [37]

Kế thừa quan điểm của Nguyễn Khắc Viện, Nguyễn Phương Hoa (2000)khi nghiên cứu về “Rối nhiễu tâm lý – chẩn đoán và trị liệu với học sinh phổ thông trên địa bàn Hà Nội”đã đưa ra định nghĩa: “RNTLtrẻ em được h iểu như là một tình trạng bị phá rối bởi nguyên nhân tâm lý, nhưng sự phá rối đó mới ở mức độ nhẹ, chưa làm trẻ mất khả năng nhận thức, vẫn còn khả năng thích nghi với môi trường xung quanh Tuy nhiên, nó đã gây ra một số trở ngại trong cuộc sống của đứa trẻ Tác giả nhấn mạnh thêm rằng,RNTL ở trẻ em nhiều khi chỉ là tạm thời, những triệu chứng rối nhiễu thường là những biểu hiện của mối lo hãi phải xa cách người thân hoặc đơn thuần là kết quả của sự nhận thức chưa đầy đủ của trẻem” [9]

Từđi ̣nh nghĩa về RNTL và cách nhìn nhận về RNTL ở trẻ em của các tác giả

nêu trên, trong nghiên cư ́ u này RNTL ở trẻ em được hiểu là trạng thái sức khỏe tâm thần không bình thường , gây xáo trộn, mất cân bằng trong đời sống tâm lý của trẻ

em, thể hiê ̣n qua cảm xúc , nhận thức và hành vi kém thích nghi , gây phiền muộn cho chính bản thân trẻ em và người thân xung quanh, cản trở hoạt động và giao tiếp của trẻ em ở nhà cũng như ở trường học

Trang 39

1.4.2 Khái niệm rối nhiễu tâm ly ́ ở trẻ em sống trong gia đình có bạo lực

BLGĐ không chỉ để lại hậu quả nă ̣ng nề ngay ta ̣i thời điểm xảy ra HVBL , nó còn gây ra những vết thương đau lòng ở nạn nhân trực tiếp chịu đựng hoặc

chứng kiến HVBL, đă ̣c biê ̣t đối với trẻ em Nghiêm trọng hơn một số trẻ em còn bị RNTL, về sau có thể chuyển thành những tâm bệnh lý nặng cần đến sự can thiê ̣p tâm lý và y tế

Trong nghiên cứu này , RNTL ở trẻ em sốngtrong GĐCBL được hiểu là trạng thái sức khỏe tâm thần không bình thường do trẻ em chứng kiến HVBL giữa cha mẹ hoặc bi ̣ cha me ̣ trừng phạt mỗi khi mắc lỗi gây ra, dẫn đến sựxáo trộn, mất cân bằng trong đời sống tâm lý , thể hiê ̣n qua cảm xúc , nhận thức và hành vi kém thích nghi, gây phiền muô ̣n cho chính bản thân trẻ em và những người thân xung quanh, cản trở hoạt động và giao tiếp của trẻ em ở nhà cũng như ở trường học

Dựa vào phương pháp tiếp câ ̣n văn hóa – xã hội, đă ̣t biê ̣t nguyên tắc quyết

đi ̣nh luâ ̣n xã hội, nguyên tắc phát triển , nguyên tắc hê ̣ thống trong nghiên cứu tâm lý con người, RNTL ở trẻ em sống trong GĐCBL được xem là hậu quả của việc trẻ chứng kiến, chịu đựng BLGĐ Nguồngốc gây ra RNTL ở trẻ em là do BLGĐ Ở đây, BLGĐ được coi là yếu tố gây sang chấn dẫn đến RNTL Giữa BLGĐ và RNTL ở trẻ em là mối quan hệ nhân quả,BLGĐ gây ra RNTL Tuy nhiên, mức độ và hình thức biểu hiện RNTL ở mỗi trẻ em sống trong GĐCBL là khác nhau

RNTL ở trẻ em sống trong GĐCBL, một mặt phụ thuộc vào đặc điểm tâm lý cá nhân: cảm xúc và niềm tin, kiểu khí chất, sự tự đánh giá bản thân , trải nghiệm ở tuổi ấu thơ, kỹ năng sống, khả năng ứng phó , giải quyết vấn đề ; nó còn phụ thuộc vào mối quan hê ̣ mẹ con, cha con, phương pháp giáo du ̣c của cha me ̣ và cách nhìn nhâ ̣n về BLGĐ của mỗi t hành viên trong gia đình ; mă ̣t khác nó cònphụ thuộc vào môi trường v ăn hóa xã hô ̣i nơi gia đình của trẻ em sinh sống, sự hỗ trợ của cô ̣ng đồng dành cho những trẻ em sống trong GĐ CBL Như vâ ̣y chúng ta thấy rằng , các yếu tố tâm lý cá nhân và các yếu tố văn hóa xã hô ̣i đóng vai trò trung gian tạo nên sự khác biệt về RNTL ở mỗi trẻ emsống trong GĐCBL

1.4.3 Đặc điểm cu ̉ a rối nhiễu tâm lý ở trẻ em sống trong gia đình có bạo lực

Căn cứ vào đă ̣ c điểm của RNTL và sự ảnh hưởng của BLGĐ đến trẻ em,chúng ta nhận thấy, RNTL ở trẻ em sống trong GĐCBL có các đă ̣c điểm sau:

Trang 40

Tínhmất cân bằng trong đơ ̀ i sống tâm lý, trạng thái cảm xúc , quá trình nhận

thức và hành vi ứng xử của trẻ em do chi ̣u sự tác đô ̣ng của BLGĐ dẫn đến lê ̣ch chuẩn so với ngưỡng bình thường gây ra sự mất cân bằng trong đời sống tâm lý Ví dụ, chứng kiến cảnh cha me ̣ đánh , mắng chửi nhau , mô ̣t số trẻ em cảm thấy buồn rầu, chán nản, tuyê ̣t vo ̣ng, mô ̣t số khác cảm thấy tức giận cha mẹ và chính bản thân mình Những hiê ̣n tượng tâm lý này chính là biểu hiê ̣n của sự mất cân bằng trong đời sốn g cảm xúc và có thể dẫn đến r ối nhiễu cảm xúc với cá c dấu hiê ̣u , triê ̣u chứng lo âu – trầm cảm

Tính kém thích nghi ,Trạng thái cảm xúc , quá trình nhận thức , niềm tin và hành vi ứng xử của trẻ em sống trong GĐCBL kém thích nghi bởi chúng đã (1)làm suy giảm các chức năng tâm lý khác Trẻ em sống trong những GĐ CBL thường đánh giá thấp bản thân dẫn đến lo lắng nhiều hơn trong các tính huống có vấn đề so với những trẻ em sống trong gia đình không có ba ̣o lực; (2) gây phiền muô ̣n và đau khổ cho chính bản thân trẻ em, cha me ̣ và những người thân xung quanh Trẻ em sống trong GĐCBL thường có những giây phút chìm đắm , suy nghĩ miên man về gia đình , những lúc đó hình ảnh BLGĐ tài hiê ̣n , xâm nhâ ̣p trở la ̣i trong tâm trí khiến trẻ em dằn vă ̣t và khổ tâm; (3) vi pha ̣m các nguyên tắc chuẩn mực văn hóa xã

hô ̣i, đó là những hành vi sai pha ̣m và gây hấn như ném và đâ ̣p phá đồ đa ̣c , gây gổ, đánh nhau với ba ̣n, dọa nạt bạn

Tính cản trở hoạt động , RNTL cản trở trẻ em sống trong GĐCBL thực hiện

các hoạt động trong gia đình và nhà trường Các nghiên cứu chỉ ra rằng những trẻ

em phải chứng kiến cảnh bạo lực giữa cha mẹ giảm năng lực xã hội , gă ̣p khó khăn trong giao tiếp và duy trì tình ba ̣n , gặp khó khăn học đường , giải quyết tình tính huống có vấn đề và ít tập trun g chú ý hơn, so với những trẻ em sống trong hoàn cảnh gia đình không có bạo lực giữa cha mẹ

Tính biến đổi , RNTL ở trẻ em số ng trong GĐCBL luôn biến đổi Cùng

chứng kiến và chi ̣u đựng BLGĐ nhưng RNTL ở mỗi trẻ em là khác nhau , mô ̣t số trẻ em bị rối nhiễu cảm xúc , mô ̣t số khác bi ̣ rối nhiễu hành vi hoă ̣c mất tâ ̣p trung chú ý Trong GĐCBL, các yếu tố ảnh hưởng đến trẻ em là khác nhau nhưng gây ra RNTL giống nhau Chẳng hạn như , mô ̣t nhóm thiếu niên sống trong GĐCBL bi ̣ RNTL với những dấu hiê ̣u , triê ̣u chứng điển hình như buồn phiền , lo âu, thu mình

Ngày đăng: 23/03/2015, 13:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Văn hoá, thể thao và Du lịch (2008), Kết quả điều tra gia đình Việt Nam, Hà Nô ̣i, tr. 40 – 43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả điều tra gia đình Việt Nam
Tác giả: Bộ Văn hoá, thể thao và Du lịch
Năm: 2008
2. Dulamdary Enkhtor và cs (2007), Giáo dục hay xâm hại: nghiên cứu về trừng phạt thân thể và tinh thần trẻ em tại Việt Nam, Báo cáo kết quả nghiên cứu của UNICEF, SCS, PLAN, SIPFC, Hà Nội, tr. 47 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục hay xâm hại: nghiên cứu về trừng phạt thân thể và tinh thần trẻ em tại Việt Nam
Tác giả: Dulamdary Enkhtor
Nhà XB: UNICEF
Năm: 2007
3. Duvury N , Carney. P va ̀ Nguyễn Hữu Minh (2012), Báo cáo hoàn thiện ước tính thiệt hại về kinh tế do bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam , UN Women, Hà Nô ̣i, tr. 83 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo hoàn thiện ước tính thiệt hại về kinh tế do bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam
Tác giả: Duvury N, Carney P, Nguyễn Hữu Minh
Nhà XB: UN Women
Năm: 2012
4. Nguyễn Bá Đạt và cs (2009), Nghiên cứu sự tổn thương tâm lý ở thiếu niên sống trong gia đình có bạo lực, đề tài nghiên cứu cấp Đa ̣i ho ̣c Quốc gia Hà Nội, HàNô ̣i, tr. 63 – 83 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sự tổn thương tâm lý ở thiếu niên sống trong gia đình có bạo lực
Tác giả: Nguyễn Bá Đạt, cs
Nhà XB: Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2009
5. Trần Thị Minh Đức (2009), Thực hành tham vấn và trị liệu tâm lý – thực trạng và giải pháp, đề tài khoa học Đa ̣i ho ̣c Quốc gia Hà Nô ̣i, Hà Nội, tr. 46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành tham vấn và trị liệu tâm lý – thực trạng và giải pháp
Tác giả: Trần Thị Minh Đức
Năm: 2009
6. Trần Thị Minh Đức (2010), Hành vi gây hấn phân tích từ góc độ Tâm lý học xã hội, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr. 136 – 137 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành vi gây hấn phân tích từ góc độ Tâm lý học xã "hội
Tác giả: Trần Thị Minh Đức
Năm: 2010
8. Hergenhanhn B.R (2003), Nhập môn Li ̣ch sử Tâm lý học , bản dịch cu ̉ a Lưu Văn Hy, Nhà xuất bản Thống kê, tr. 600 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn Li ̣ch sử Tâm lý học
Tác giả: Hergenhanhn B.R, Lưu Văn Hy
Nhà XB: Nhà xuất bản Thống kê
Năm: 2003
9. Nguyễn Phương Hoa (2000), Rối nhiễu tâm lý – chẩn đoán và trị liệu với học sinh phổ thông trên địa bàn Hà Nội, Báo cáo kết quả nghiên cứu của Viện Tâm lý học, Hà Nội, tr. 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Rối nhiễu tâm lý – chẩn đoán và trị liệu với học sinh phổ thông trên địa bàn Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Phương Hoa
Năm: 2000
10. Ngô Thanh Hồi và cs (2007), Dự án chăm sóc sức khỏe tâm thần học sinh ở Hà Nội,Báo cáo kết quả nghiên cứu của Bệnh viện Tâm thần Ban ngày Mai Hương, Sở Y tế Hà nội và Trung tâm Sức khoẻ tâm thần quốc tế Đại học Melbourne Australia thực hiện, Hà Nội, tr.1- 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự án chăm sóc sức khỏe tâm thần học sinh ở Hà Nội
Tác giả: Ngô Thanh Hồi, cs
Nhà XB: Bệnh viện Tâm thần Ban ngày Mai Hương
Năm: 2007
11. Lê Văn Hồng và Lê Ngọc Lan (1998), Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm, tr. 41 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm
Tác giả: Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Sư phạm
Năm: 1998
12. Trần Thu Hương (2012), “Chứng đái dầm thứ phát : Nghiên cứu trường hợp trẻ sáu tuổi”, Đa ̀ o tạo, nghiên cứu và ứng dụng Tâm lý học trong bối cảnh hội nhập quốc tế, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr. 79 – 88 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chứng đái dầm thứ phát : Nghiên cứu trường hợp trẻ sáu tuổi”", Đà o tạo, nghiên cứu và ứng dụng Tâm lý học trong bối cảnh hội nhập quốc tế
Tác giả: Trần Thu Hương
Năm: 2012
13. Trần Thu Hương , Nguyễn Thi ̣ Hương (2014), Giáo trình Tâm lý học lâm sàng , Trường Đa ̣i ho ̣c Lao đô ̣ng – Xã hội, Hà Nội, tr. 14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tâm lý học lâm sàng
Tác giả: Trần Thu Hương, Nguyễn Thi ̣ Hương
Nhà XB: Trường Đa ̣i ho ̣c Lao đô ̣ng – Xã hội
Năm: 2014
14. Khadija Charaoui và Herve Bénony (2003), Các phương pháp, đánh giá và nghiên cứu trong Tâm lý học lâm sàng: Méthodes, évaluation et recherche en psychologie clinique,Nhà xuất bản Dunod, Bản dịch của Nguyễn Ba ́ Đa ̣t và cs, tr. 30 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phương pháp, đánh giá và nghiên cứu trong Tâm lý học lâm sàng: Méthodes, évaluation et recherche en psychologie clinique
Tác giả: Khadija Charaoui, Herve Bénony
Nhà XB: Nhà xuất bản Dunod
Năm: 2003
15. Đỗ Ngọc Khanh (2005), Nghiên cứu sự tự đánh giá của học sinh trung học cơ sở ở Hà Nội, Luận án tiến sĩ Tâm lý học, Viện Tâm lý học, Hà Nội, tr. 42 – 43 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu sự tự đánh giá của học sinh trung học cơ sở ở Hà Nội
Tác giả: Đỗ Ngọc Khanh
Nhà XB: Viện Tâm lý học
Năm: 2005
16. Đỗ Ngọc Khanh (2010), “Áp du ̣ng tri ̣ liê ̣u nhâ ̣n thức hành vi theo nhóm đối với tức giâ ̣n ở trẻ có hoàn cảnh khó khăn”, Tạp chí Tâm lý học (12), tr. 19 – 28 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Áp du ̣ng tri ̣ liê ̣u nhâ ̣n thức hành vi theo nhóm đối với tức giâ ̣n ở trẻ có hoàn cảnh khó khăn
Tác giả: Đỗ Ngọc Khanh
Nhà XB: Tạp chí Tâm lý học
Năm: 2010
17. Lê Khanh (2003), “Cuô ̣c sống đang đòi hỏi phải đào ta ̣o mô ̣t đô ̣i ngũ chuyên gia Tâm lý ho ̣c chất lượng cao ”,Tạp chí Tâm lý học (2), tr. 3 – 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuô ̣c sống đang đòi hỏi phải đào ta ̣o mô ̣t đô ̣i ngũ chuyên gia Tâm lý ho ̣c chất lượng cao
Tác giả: Lê Khanh
Nhà XB: Tạp chí Tâm lý học
Năm: 2003
18. Nguyễn Công Khanh (2000), Tâm lý tri ̣ liê ̣u, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nô ̣i, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý tri ̣ liê ̣u
Tác giả: Nguyễn Công Khanh
Năm: 2000
19. Nguyễn Công Khanh , Nguyễn Văn Liê ̣u (2001), Ứng dụng SPSS for Windows trong xử lý và phân tích dữ liệu trong nghiên cứu về giáo dục, ý tế, tâm lý học và xã hội, Tài liệu của Viện Khoa ho ̣c Giáo du ̣c Viê ̣t Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng SPSS for Windows trong xử lý và phân tích dữ liệu trong nghiên cứu về giáo dục, ý tế, tâm lý học và xã hội
Tác giả: Nguyễn Công Khanh, Nguyễn Văn Liê ̣u
Nhà XB: Tài liệu của Viện Khoa ho ̣c Giáo du ̣c Viê ̣t Nam
Năm: 2001
20. Đặng Hoàng Minh (2008), Thực trạng sức khoẻ tâm thần (SKTT) của học sinh THCS ở Hà Nội và nhu cầu tham vấn SKTT học đường, Báo cáo kết quả nghiên cứu, Hà Nội, tr. 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng sức khoẻ tâm thần (SKTT) của học sinh THCS ở Hà Nội và nhu cầu tham vấn SKTT học đường
Tác giả: Đặng Hoàng Minh
Nhà XB: Báo cáo kết quả nghiên cứu
Năm: 2008
21. Paul Bennett(2006), Tâm lý học dị thường: Anormal and Clinical Psychology An introductory texbook, Nhà xuất bản Open University Press Maidenhead – Philadelphia, bản dịch của Nguyễn Sinh Phu ́ c và cs , tr. 10 – 28,tr. 243,tr. 281,tr.377 – 378 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học dị thường: Anormal and Clinical Psychology An introductory texbook
Tác giả: Paul Bennett, Nguyễn Sinh Phúc
Nhà XB: Nhà xuất bản Open University Press
Năm: 2006

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG HỎI RỐI NHIỄU TÂM LÝ Ở TRẺ EM SỐNG TRONG GĐCBL - Rối nhiễu tâm lý ở trẻ em sống trong gia đình có bạolực
BẢNG HỎI RỐI NHIỄU TÂM LÝ Ở TRẺ EM SỐNG TRONG GĐCBL (Trang 177)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w