Những phát hiện gần đây, các phản ứng thích nghi chung G.A.S với cơ chế thần kinh – thể dịch – nội tiết được phát huy sâu rộng hơn dẫn tới những rối loạn bệnh lý tổng quát dưới danh từ s
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Sinh Phúc
Hà Nội-2012
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 8
1.1 Tổng quan một số nghiên cứu có liên quan đến đề tài 8
1.1.1 Các nghiên cứu về stress 8
1.1.2 Các nghiên cứu về stress ở bệnh nhân ung thư 15
1.2 Một số khái niệm cơ bản 18
1.2.1 Khái niệm ung thư 18
1.2.2 Khái niệm ung thư máu 18
1.2.3 Khái niệm Stress 21
1.2.3.1 Khái niệm 21
1.2.3.2 Biểu hiện 25
1.2.3.3 Mức độ 29
1.2.3.4 Phân loại 33
1.3 Stress ở bệnh nhân ung thư máu 37
1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến phản ứng stress 40
Chương 2 TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 43
2.1 Tổ chức nghiên cứu 43
2.1.1 Tổ chức nghiên cứu về mặt lý thuyết 43
2.1.2 Tổ chức nghiên cứu về mặt thực tiễn 43
2.2 Phương pháp chọn mẫu 43
2.3 Phương pháp nghiên cứu 44
2.3.1 Phương pháp phân tích văn bản, tài liệu 44
2.3.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 44
2.3.3 Phương pháp trắc nghiệm 44
Trang 42.3.4 Phương pháp phỏng vấn sâu theo cặp 45
2.3.5 Phương pháp xử lý số liệu: 45
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 46
3.1 Những số liệu chung 46
3.2 Thực trạng phản ứng stress ở bệnh nhân UTM 50
3.3 Các đặc điểm của phản ứng stress ở bệnh nhân UTM 55
3.3.1 Biểu hiện của phản ứng stress 55
3.3.2 Stress và lo âu, trầm cảm 58
3.3.3 Stress và các hoạt động tâm linh 68
3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến phản ứng stress của bệnh nhân UTM 71
3.4.1 Một số yếu tố liên quan đến phản ứng stress ở bệnh nhân UTM 71
3.4.2 Mối liên hệ với giới tính 76
3.4.3 Mối liên hệ với độ tuổi 78
3.4.4 Mối liên hệ với trình độ học vấn 79
3.4.5 Mối liên hệ với thời gian điều trị 80
3.4.6 Mối liên hệ với số đợt điều trị hóa chất 81
KẾT LUẬN 84
KIẾN NGHỊ 85
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
Trang 5BẢNG CHỮ VIẾT TẮT
DABDA : Denial – Anger – Bargaining – Depression – Acceptance
(Mô hình tâm lý 5 giai đoạn của những người mắc bệnh nan y) G.A.S : General adaptation syndrome (Hội chứng thích nghi chung) NXB : Nhà xuất bản
ĐTHC : Điều trị hóa chất
TCN : Trước công nguyên
THPT : Trung học phổ thông
TN THPT : Tốt nghiệp Trung học phổ thông
UTM : Ung thư máu
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Mỗi năm trên thế giới có khoảng 300.000 ca bệnh ung thư máu mới và
có khoảng 220.000 người chết vì ung thư máu Tỷ lệ này là cao so với những dạng ung thư khác Trong những năm gần đây, khoa học đã có nhiều tiến bộ vượt bậc, đặc biệt chú trọng nghiên cứu và điều trị các bệnh nan y trong đó có bệnh ung thư
Tháng 11/2012, Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương công bố kết quả ca ghép tế bào gốc thành công cho một bệnh nhân ung thư máu – một ca ghép khó mà các bệnh viện lớn trên thế giới từ chối vì tỉ lệ thành công không cao Thành công này đã gây được tiếng vang lớn trong khu vực và trên thế giới, củng cố niềm tin, hy vọng sống của hàng ngàn bệnh nhân ung thư máu tại Việt Nam [47] Nhiều nghiên cứu khoa học chuyên sâu về mặt lâm sàng bệnh ung thư máu cũng được tiến hành nghiên cứu rộng rãi, được đầu tư với quy mô lớn Nhưng hiện tại ở Việt Nam, những nghiên cứu về lĩnh vực tâm
lý, tinh thần của bệnh nhân ung thư nói chung và ung thư máu nói riêng còn là một khoảng trống bị bỏ ngỏ, chưa nhận được sự quan tâm và đầu tư xứng tầm mặc dù sự ổn định về mặt tâm lý của bệnh nhân chiếm đến 50% thành công của quá trình điều trị
Mặt khác, bệnh ung thư máu không chỉ ảnh hưởng nặng nề đến thực thể người bệnh, làm suy nhược sức khỏe và dẫn đến tử vong mà còn là cú sốc rất lớn về mặt tinh thần đối với mỗi người Nhiều phản ứng tâm lý có thể xảy ra ảnh hưởng không tốt đến quá trình điều trị, trong đó, phổ biến là phản ứng stress, để lại hậu quả rất nặng nề cho người bệnh Chính vì vậy chúng tôi tiến
hành nghiên cứu: “Phản ứng stress ở bệnh nhân ung thư máu với bệnh” với
mục tiêu khảo sát thực trạng và mô tả các đặc điểm của phản ứng stress ở bệnh nhân ung thư máu trong quá trình điều trị bệnh
Trang 72 Mục đích nghiên cứu
Khảo sát thực trạng và đặc điểm của phản ứng stress ở bệnh nhân ung thư máu (UTM) trong quá trình điều trị
3 Đối tuợng nghiên cứu
Phản ứng stress của bệnh nhân ung thư máu với bệnh trong thời gian điều trị nội trú tại Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương
4 Khách thể nghiên cứu
76 bệnh nhân từ 18 – 60 tuổi, đã được chẩn đoán là ung thư máu đang điều trị nội trú, đã được điều trị hóa chất (ĐTHC) ít nhất 1 đợt, giao tiếp tốt, sẵn sàng tham gia nghiên cứu
5 Giả thuyết nghiên cứu
Đa số bệnh nhân UTM có phản ứng stress trong quá trình điều trị tại bệnh viện Phản ứng stress ở bệnh nhân diễn ra phức tạp, khác nhau ở giới tính, lứa tuổi, trình độ, giai đoạn bệnh, thời gian điều trị và số lần ĐTHC khác nhau
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa một số vấn đề cơ bản về stress, bệnh ung thư máu và phản ứng stress ở bệnh nhân UTM
- Làm rõ thực trạng và đặc điểm của phản ứng stress ở bệnh nhân UTM
7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu phản ứng stress ở 76 bệnh nhân ung thư máu đang điều trị nội trú tại Viện Huyết học – Truyền máu Trung ương
8 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp hồi cứu, phân tích văn bản, tài liệu
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (nghiên cứu định lượng)
Trang 8Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Tổng quan một số nghiên cứu có liên quan đến đề tài
1.1.1 Các nghiên cứu về stress
Từ xưa người Trung Quốc mặc dù chưa hiểu bản chất của stress và cơ chế của nó, nhưng bằng thực tiễn cuộc sống sinh hoạt đã thấy được tác hại của stress đối với sức khỏe con người và đã đề xuất cách chống stress có hại Chúng ta cũng có thể coi đây là những nghiên cứu đầu tiền về stress
Thời Xuân thu Chiến quốc (403 – 221 TCN) các danh y Trung Hoa trong sách “Hoàng đế Nội kinh tố vấn” đã tổng kết các dữ liệu khoa học từ đời vua huyền thoại Hoàng Đế (2697 – 2597 TCN), nêu rõ bệnh tật có ba nguyên nhân, đó là: Nguyên nhân bên ngoài (khí hậu, thời tiết, môi trường gọi là “lục khí ngũ vận”), nguyên nhân bên trong (rối loạn bảy loại cảm xúc, còn gọi là “thất tình”: hỷ, nộ, ai, lạc, ái, ố, dục (vui, giận, sầu bi, khoái lạc, yêu, ghét, đam mê) và do các bệnh tật khác dẫn đến các rối loạn chung gọi là “lục dâm”: phong – hàn, thử - tháp, táo hỏa), nguyên nhân không hoàn toàn bên trong cũng không hoàn toàn bên ngoài, mà do tai nạn gây ra như: rắn rết cắn, chấn thương, ăn nhầm phải chất độc…
Như vậy, rối loạn cảm xúc đã được người xưa cho là một trong ba nguyên nhân cơ bản gây nên bệnh tật ở con người
Các nhà stress học hiện đại đã và đang kế thừa, phát huy những di sản khoa học truyền thống Tác giả Claude Bernard đã cho rằng “Những thay đổi của môi trường bên ngoài sẽ không ảnh hưởng đến cơ thể, nếu cơ thể bù trừ và làm cân bằng” những thay đổi đó [40] Theo ông, chính hệ thần kinh đảm bảo chức năng điều tiết làm cho cơ thể lấy lại cân bằng Phát hiện của Claude
Bernard khai phá lịch sử nghiên cứu hiện đại về khả năng tự điều chỉnh để thích
nghi của cơ thể con người Nhà sinh lý học người Mỹ W.B Cannon với tác
Trang 9phẩm nổi tiếng “Sự khôn ngoan của cơ thể” xuất bản tại New York năm 1932 đã
đề xuất thuật ngữ “Homeostasie” nghĩa là “cân bằng nội môi” để mô tả những trạng thái phức hợp cân bằng sinh lý mà ông nhận thấy chủ yếu khi thay đổi nồng độ các chất có trong máu như: nước, natri, đường, đạm, mỡ… trên cơ sở sự điều tiết của hệ thần kinh thực vật và lõi thượng thận Phản ứng này là cấp thời I.P Pavlov (1932) cũng đã nêu ra đặc tính chung của khái niệm này: “… cơ thể
là một hệ thống (đúng hơn là một cái máy) tự điều chỉnh, là một hệ thống tự điều chỉnh bản thân ở mức cao nhất, hệ thống ấy tự duy trì bản thân, tự hiệu chỉnh bản thân, tự cân bằng bản thân và thậm chí tự hoàn thiện bản thân” Kế thừa kết quả nghiên cứu của Claude Bernard về sự ổn định tương đối thường xuyên của nội môi ở động vật, điều kiện quan trọng nhất để nó tồn tại và phát triển, và khả năng tự điều chỉnh của W.B Cannon, Hans Selye đã nhận thấy bên cạnh những phản ứng đặc trưng do các yếu tố bất lợi khác nhau gây ra, cơ thể luôn luôn có những phản ứng chung nhất Năm 1936 ông gọi phản ứng chung, không đặc hiệu của cơ thể bằng thuật ngữ “stress” Thuật ngữ này lúc đầu thiên về bệnh học, nên dùng là “hội chứng”, sau đó nó được hiểu là “Hội chứng thích nghi chung” (General adaptation syndrome) và thường được viết tắt là G.A.S, hiểu là phản ứng nhằm giúp cơ thể thích nghi với môi trường luôn thay đổi Đây là quá trình diễn ra qua ba giai đoạn kế tiếp nhau: báo động, cầm cự và kiệt quệ Biểu hiện của quá trình này là sự tăng cường rồi suy kiệt của hệ thống thần kinh – nội tiết: dưới đồi – tuyến yên – vỏ thượng thận Phản ứng này kéo dài hơn do các tác động của hormone vỏ thượng thận (corticoid) Các công trình nghiên cứu có hệ thống của H Selye đã bổ sung thêm cho thuyết Homeostasie và làm cho học thuyết stress được truyền bá rộng rãi H Selye có hơn 1000 công bố khoa học, trong đó có hơn 20 tập sách chuyên khảo Là nhà lãnh đạo trường đại học nhiều năm, ông đã kết hợp được sức mạnh của các nhà khoa học nhiều nước trong việc giải quyết các mặt khác nhau của stress và tạo điều kiện cho việc nghiên cứu
Trang 10stress vượt ra khỏi khuôn khổ của những cuộc thí nghiệm về bệnh lý ban đầu Những phát hiện gần đây, các phản ứng thích nghi chung (G.A.S) với cơ chế thần kinh – thể dịch – nội tiết được phát huy sâu rộng hơn dẫn tới những rối loạn bệnh lý tổng quát dưới danh từ stress oxy hóa (rối loạn quá trình oxy hóa khử là
cơ chế cơ bản của mọi hoạt động sống và hoạt động trên cơ sở chuyển hóa chất dinh dưỡng và gây ra một loại bệnh mới đã được đưa vào danh mục chính thức của các loại bệnh, đó là bệnh các gốc tự do)
Năm 1972 viện sĩ V.V Parin đã nhận xét: “Khái niệm stress của H Selye
đã thay đổi phần lớn quy tắc chữa trị và phòng ngừa hàng loạt bệnh Quan điểm của ông lúc đầu gặp không ít sự phản đối, bây giờ đã nhận được sự phổ biến không chỉ thông qua các phản ứng hormone mà còn thông qua nhiều phản ứng sinh lý khác của cơ thể, đặc biệt là của hệ thần kinh Nhiều tác giả có những dữ liệu chứng tỏ rằng, sự điều tiết giao cảm chiếm ưu thế đảm bảo nâng cao khả năng thích nghi, vì nó góp phần làm lan tỏa các quá trình thần kinh, nâng cao độ nhạy của giác quan và làm cho cơ thể phản ứng thích hợp với từng tình huống
Sự điều tiết phó giao cảm vượt trội làm giảm sút khả năng thích nghi” V.I Rôgiơđêxtơvenxcaia (1980) với cộng sự qua các thực nghiệm đã nhận xét rằng: khả năng làm việc giảm sút khi có stress do mệt mỏi nảy sinh ở những người có
hệ thần kinh yếu sớm hơn những người có hệ thần kinh mạnh Nhưng tác giả cũng cho rằng, khả năng làm việc khi có stress không phụ thuộc một các tuyệt đối vào độ mạnh của hệ thần kinh Những người có hệ thần kinh mạnh có thể bị stress mạnh hơn, trong những trường hợp tác nhận gây stress là những tín hiệu dơn điệu và kéo dài Nhưng ở những người hệ thần kinh yếu bị stress do các tác động đơn điệu kéo dài lại có xác suất nhỏ hơn V.X Meclin (1981) đã nhận xét rằng những người có hệ thần kinh yếu có độ nhạy cảm tri giác lớn hơn những người có hệ thần kinh mạnh Điều đó cho phép ông chỉ ra những khác biệt của stress ở từng cá nhân không chỉ phụ thuộc vào độ mạnh, yếu của các quá trình
Trang 11thần kinh mà còn phụ thuộc vào một loạt thuộc tính khác của hệ thần kinh và của các quá trình thần kinh và của các quá trình tâm lý [10]
Các tác giả E Johnson, S Smith, T.J Myers cùng nhiều tác giả khác đi tìm sự liên quan giữa điện não đồ với stress và đã phát hiện có nhiều cơ chế thay đổi hoạt tính điện nhịp của não ở những giai đoạn khác nhau của stress, cũng như có sự thay đổi khác nhau của điện não đồ của từng cá nhân trong những điều kiện gây stress Tác giả I.A Raykôvski (1979) cùng một loạt các tác giả khác đã chỉ ra mối tương quan giữa các thông số sinh lý (điện não đồ, điện tâm đồ, phản ứng điện da, hàm lượng catecholamine, corticosteroid trong máu và nước tiểu), các thông số biểu thị quá trình tâm lý và các phản ứng cảm xúc Trên cơ sở các mối tương quan ấy người ta đưa ra các thông số biểu thị những đặc điểm và độ sâu của trạng thái stress của con người S.P Kôrôlenkô (1978) cho rằng nghiên cứu stress lâu dài cho thấy chủ yếu không phải là trình độ thích nghi sinh lý mà
là trình độ thích nghi tâm lý mới là thông số nhạy nhất, biểu thị trạng thái thể chất và trạng thái tinh thần của con người Chúng tôi cho rằng đây là nhận định rất quan trọng nói lên vai trò của yếu tố tâm lý trong các tình huống xuất hiện nhân tố gây stress
Những công trình rộng lớn nghiên cứu các thông số sinh hóa của stress được tiến hành trong phòng thực nghiệm của M Phrankenhoide đã đi đến kết luận rằng: Hiệu quả của các yếu tố tâm lý xã hội gây ra ở hệ thống giao cảm là
do sự đánh giá của con người về sự cân đối giữa một bên là độ gay gắt của tình huống gây stress và bên kia là khả năng của từng người đối phó với các nhân tố gây stress Tác giả M Ferreri Trưởng khoa Tâm thần và Tâm lý y học thuộc bệnh viện Saint – Antoine, (Paris, Pháp), với tác phẩm “Stress từ bệnh học tâm thần đến cách tiếp cận trong điều trị” đã khẳng định cơ chế sinh bệnh và biểu hiện lâm sàng của các rối loạn do stress là rất đa dạng và phức tạp Tác phẩm đã trình bày một cách ngắn gọn và rõ ràng các phản ứng thích nghi bình thường,
Trang 12phản ứng thích nghi bệnh lý, sự tham gia của nhân cách, môi trường và nghề nghiệp vào phản ứng stress Các phản ứng thần kinh thể dịch và các biểu hiện rối loạn do stress [30]
Những nghiên cứu trên chứng tỏ rằng những biểu hiện tâm lý của stress được phản ánh trong những thay đổi của các chức năng sinh lý là tất yếu, vì các chức năng sinh lý là cơ sở của các chức năng tâm lý Sự tồn tại của mối tương quan đó cho phép sử dụng các thông số của sự thay đổi (có tính chất stress) của các chức năng sinh lý làm thông số cho stress tâm lý Đồng thời mối tương quan này hoàn toàn không phải là trọn vẹn và không phải đối với tất cả mọi biểu hiện tâm lý của stress đều có thể tìm thấy những thay đổi sinh lý liên quan đến chúng
Nghiên cứu stress dưới góc độ Tâm lý học là phương hướng nghiên cứu hiện đại Nếu như trước đây những tài liệu khoa học đã công bố về stress phần lớn thuộc lĩnh vực sinh lý học và y học, thì trong những năm gần đây ngày càng
có nhiều tác giả đề cập đến vấn đề tâm lý học của stress trong các công trình tâm
lý học kỹ thuật, tâm lý học lao động, vệ sinh lao động, tổ chức lao động, các vấn
đề xã hội và tâm lý xã hội Tác giả L.A Kitaepxmưx (1983) đã thống kê được có trên 1000 tài liệu được công bố là các sách báo khoa học nghiên cứu stress trên góc độ tâm lý học xuất bản bằng tiếng Anh và tiếng Đức từ năm 1976 – 1980
Tâm lý học lao động và vấn đề stress đã được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, vì các quá trình công nghệ hiện đại thường tạo ra môi trường rất khác môi trường sống mà quá trình tiến hóa sinh vật đã làm cho con người thích nghi Môi trường Sinh quyển đã trở thành môi trường Tâm – sinh quyển Khó có thể kể hết những nhân tố muôn hình muôn vẻ trong sản xuất đã nhanh chóng hay từng chút một gây ra sự căng thẳng ở con người, như tiếng ồn, làm việc với bộ phận vi xử lý, điều khiển các phương tiện vận tải tốc độ cao… Một nhiệm vụ quan trọng của Tâm lý học là nghiên cứu và đề xuất những nguyên tắc thiết kế các phương tiện sản xuất đề nâng cao hiệu quả và độ tin cậy của hệ thống “con
Trang 13người – máy móc” Đồng thời ngăn ngừa sự mệt mỏi, căng thẳng ở con người đang tham gia hệ thống “con người – máy móc – môi trường”
Ở Việt Nam, đến thập kỷ 60 đã có một số nhà nghiên cứu quan tâm đến stress, nhưng chủ yếu là các nhà khoa học thuộc lĩnh vực sinh lý học và y học Tác giả Tô Như Khuê đã có nhiều nghiên cứu trong lĩnh vực này Những nghiên cứu của ông có thể chia làm hai giai đoạn:
Giai đoạn thứ nhất: từ năm 1967 đến năm 1975, nghiên cứu của ông và cộng sự là sự căng thẳng cảm xúc của các chiến sĩ thuộc các binh chủng đặc biệt của Quân đội trong hoạt động chiến đấu và phục vụ chiến đấu Những nghiên cứu trên đã đóng góp quan trọng trong việc nâng cao chất lượng tuyển dụng, huấn luyện, chiến đấu và phục vụ chiến đấu cho bộ đội
Giai đoạn thứ hai: từ sau năm 1975 đến nay, các tác giả đã có nhiều công trình tiếp theo nghiên cứu về stress và các biện pháp phòng chống stress, đã được công bố trong các đề tài cấp nhà nước như 480 702 – 03 (1983 – 1986), đề tài KX 07 06, KX.07 15, KX.07 07 (1991 – 1995)
Các tác giả Phạm Ngọc Rao và Nguyễn Hữu Nghiêm, với tác phẩm
“Stress trong thời đại văn minh” đã cảnh báo với tất cả mọi người đang sống trong xã hội văn minh về nguy cơ stress và hậu quả ghê gớm của nó Từ đó mỗi người đều biết điều chỉnh lối sống của mình để có thể đương đầu với stress, một hiện tượng phổ biến của xã hội văn minh Các tác giả Nguyễn Khắc Viện, Đặng Phương Kiệt quan tâm đặc sắc đến stress ở trẻ em Nhiều công trình nghiên cứu của hai ông được tập hợp trong tập bài giảng tại trung tâm nghiên cứu tâm lý trẻ
em (N – T) và sau này được công bố trong tác phẩm “Stress và đời sống” [11] Riêng tác giả Đặng Phương Kiệt còn có tác phẩm “Stress và sức khỏe” [12],
“Stress và miễn dịch”… Tháng 11 năm 1997, Viện sức khỏe tâm thần, Bệnh viện Bạch Mai đã tổ chức thành công hội nghị kkhoa học về “Những rối loạn có liên quan đến stress ở trẻ em và thanh thiếu niên” Hội nghị đã thu hút sự tham
Trang 14gia của nhiều nhà khoa học thuộc các lĩnh vực khác nhau như Ngô Công Hoàn với bài “Tâm lý học stress – một vài đặc trưng tâm lý trong trạng thái stress ở trẻ
em, thiếu niên”, Mạc Văn Trang với bài “Về sự căng thẳng của sinh viên trong học tập, đời sống và giải pháp cải thiện tình hình” Năm 1998 trong tác phẩm :
“Stress trong đời sống của người và động vật”, các tác giả Phạm Khắc Hiếu, Lê Thị Ngọc Diệp và Trần Thị Lộc đã trình bày quan niệm stress chủ yếu dưới góc
độ sinh học và coi nó là một nguyên nhân cơ bản gây nên nhiều bệnh tật ở người
và động vật Nhưng ở đây các tác giả mới nghiên cứu chủ yếu các biểu hiện, cách ngăn ngừa stress và điều trị các bệnh có nguyên nhân stress trên vật nuôi Tác giả Nguyễn Duy Dung với “Bão tố stress cuộc đời: Thách thức, tôi luyện tinh thần” đã nêu lên ảnh hưởng mạnh mẽ của stress đối với cuộc sống con người và cách phòng ngừa [9]
Nhìn chung vấn đề stress đang được các nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu Họ đã chỉ ra bản chất của stress dưới góc độ sinh học, nguyên nhân và ảnh hưởng của stress đối với hoạt động sức khỏe của con người, cùng với những biện pháp cơ bản ngăn ngừa hoặc đương đầu với stress Thời gian gần đây trên một số tạp chí y học, sinh lý học, tâm lý học … chúng ta
có thể bắt gặp rất nhiều những bài viết của các tác giả trong nước hoặc dịch từ sách báo nước ngoài đề cập đến chủ đề stress Tuy nhiên vấn đề nghiên cứu về stress ở những bệnh nhân ung thư máu vẫn còn là khoảng trống, cần được nghiên cứu đầy đủ hơn
Ngày 17-18/8/2000, tại Hội thảo Việt - Pháp về tâm lý học: “Trẻ em, văn hóa, giáo dục”, một số tác giả như: Nguyễn Công Khanh, Lã Thị Bưởi
và cộng sự … đó có những báo cáo về stress ở tuổi thanh thiếu niên
Một số công trình nghiên cứu ở cấp độ cử nhân, thạc sỹ, tiến sỹ cũng đã
được thực hiện và nghiệm thu “Nghiên cứu stress ở cán bộ quản lý” (2001)
của tác giả Nguyễn Thành Khải là công trình đầu tiên nghiên cứu stress ở tuổi
Trang 15trung niên, với nhóm khách thể đặc thù của tuổi này Tuy nhiên, trong nghiên cứu, tác giả chưa chú ý đến những yếu tố tâm lý, gia đình của lứa tuổi [10]
Ngoài ra, còn có một số công trình nghiên cứu khác về stress như: Luận
văn thạc sỹ tâm lý học của Phạm Thị Thanh Hương với đề tài: “Stress trong học tập của sinh viên” (2003), Đề tài nghiên cứu: “Căng thẳng và bệnh tim”
(2006) của Phạm Mạnh Hùng - Trường Đại học Y Hà Nội, Luận văn thạc sỹ
tâm lý của tác giả Phạm Thị Hồng Định: “Nghiên cứu stress ở những trẻ em
vị thành niên qua đường dây tư vấn và hỗ trợ trẻ em 18001567” (2007)
Nhìn chung, vấn đề stress tại Việt Nam dưới góc độ tâm lý học đã và đang được chú ý nghiên cứu góp phần đem lại những cơ sở lý thuyết và kết quả thực tiễn giúp nâng cao đời sống nhân dân trong bối cảnh hiện đại hoá và công nghiệp hoá của đất nước
Hiện nay, ngoài những nghiên cứu chính thức, tại Việt Nam đó có vài chục tác phẩm, nhiều bài viết hoặc dịch đăng trên các tạp chí, các website… giúp cho mọi người có thể dễ dàng tìm hiểu về stress và cách phòng chống stress
1.1.2 Các nghiên cứu về stress ở bệnh nhân ung thư
Trong giáo trình “Tâm thần học và tâm lý học y học” của Học viện Quân y có đề cập đến mối quan hệ giữa stress và bệnh ung thư [6]: Ung thư là bệnh khởi phát mang tính chất kéo dài Người ta vẫn chưa xác định được rõ vai trò của hệ miễn dịch trong việc kiểm soát sự đột biến trong quá trình khối
u chuyển từ lành tính sang ác tính và sau đó sang di căn Nhìn chung mới chỉ
có cứ liệu cho thấy stress liên quan đến tiến triển của ung thư và có khả năng liên quan đến cả cuộc sống cũng như yếu tố nhạy cảm chung, nguy cơ và chất lượng cuộc sống
Khoá luận tốt nghiệp của Phạm Thị Oanh: “Người bệnh ung thư đi tìm ý nghĩa cuộc sống” đã được xuất bản thành sách (NXB Trẻ, 1998) [18] nghiên cứu
Trang 16một cách sâu sắc những giai đoạn tâm lý mà người bệnh gặp phải khi đương đầu với cú sốc tinh thần lớn – bệnh ung thư, gồm 4 giai đoạn:
- Giai đoạn phát hiện: Phủ nhận và suy sụp
- Giai đoạn phẫu trị: Chấp nhận và sợ hãi
- Giai đoạn hoá trị: Suy sụp và hy vọng
- Giai đoạn cuối đời: Cô lập và bình an
Ở mỗi giai đoạn, người bệnh có đặc điểm tâm lý riêng rất đặc trưng Phản ứng stress cũng được biểu hiện khá rõ nét ở giai đoạn phát hiện và giai đoạn phẫu trị Đây không chỉ là công trình nghiên cứu khoa học của một sinh viên mà còn là sự chắt lọc, theo dõi, tổng hợp những thông tin về diễn biến tâm lý của bệnh nhân ung thư Công trình được viết bằng chính những trải nghiệm thực tế bản thân và sự tiếp xúc lâu dài giữa chị với những bệnh nhân khác tại Trung tâm Ung bướu thành phố Hồ Chí Minh Chị đã phát hiện ra chân lý sâu sắc rằng: “Tình yêu là ý nghĩa cao đẹp nhất giúp người bệnh ung thư có được sự bình an để hoàn thành trách nhiệm làm người”
Nghiên cứu của Đặng Hoàng Minh: “Biểu tượng của trẻ mắc bệnh ung thư về bệnh của mình” đã chỉ rằng: trong quá trình từ khi phát hiện ra bệnh,
trẻ bị ung thư trải qua rất nhiều những trạng thái xúc cảm – tình cảm khác nhau: chán nản, bi quan, tuyệt vọng… nhưng các em đều vượt qua và đặt niềm tin rất lớn vào các bác sĩ Và sự tự đánh giá mức độ bệnh (nặng – nhẹ, cấp tính – mãn tính) của trẻ phụ thuộc một cách rõ rệt vào sự trải nghiệm các cảm xúc, thái độ của cha mẹ và những người xung quanh Có thể thấy cảm xúc đóng một vai trò rất lớn trong biểu tượng của trẻ về bệnh của mình [15]
Khoá luận tốt nghiệp của Nguyễn Thị Đoan Trang: “Bước đầu nghiên cứu rối nhiễu cảm xúc (lo âu – trầm cảm) ở trẻ bị bệnh ung thư tại khoa Ung bướu Bệnh viện Nhi Trung ương” cho thấy rằng: trẻ em bị bệnh ung thư có biểu hiện của lo âu – trầm cảm (rối nhiễu cảm xúc) Đặc biệt, biểu hiện này
Trang 17thể hiện rõ ràng ở những trẻ lớn tuổi (11 – 18 tuổi) với tỷ lệ trầm cảm là 100% [18] Như vậy có thể thấy trẻ bị ung thư có biểu hiện của rối nhiễu cảm xúc – điều này sẽ ảnh hưởng rất xấu đến hiệu quả của quá trình điều trị bệnh cho trẻ
Nghiên cứu của Triệu Thị Biển và cộng sự năm 2009 [1] về thái độ lạc quan của bệnh nhân UTM trong quá trình điều trị cho thấy, mặc dù có những biểu hiện của sự lo âu, căng thẳng nhưng có đến 78% bệnh nhân UTM có thái độ lạc quan, luôn cảm thấy vui vẻ trong suốt quá trình chữa trị bệnh
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Mai trong Luận án Tiến sĩ Y học “Nghiên cứu rối loạn trầm cảm, lo âu ở trẻ bị ung thư và phương thức ứng phó của cha mẹ” đã cho thấy một bức tranh khá tổng quát về những rối loạn cảm xúc ở bệnh nhân ung thư trẻ em
Ở thời điểm mới chẩn đoán và điều trị, rối loạn trầm cảm và lo âu gặp tỷ
lệ khá cao (40,6% rối loạn trầm cảm, 48,5% rối loạn lo âu) Nhóm tuổi vị thành niên mắc trầm cảm nhiều hơn rõ rệt so với nhóm trẻ 4-9 tuổi (79,4% so với 20,9%) nhưng mắc lo âu ít hơn (35,3% so với 55,2%) Tỷ lệ trầm cảm và lo âu duy trì cao trong 3 tháng đầu sau chẩn đoán và giảm dần ở các thời điểm về sau (8% rối loạn trầm cảm, 2,3% rối loạn lo âu tại 12 tháng sau chẩn đoán)
Mức độ trầm cảm, lo âu đánh giá qua các thang tâm lý đều trầm trọng ở thời điểm mới chẩn đoán và điều trị, nhưng giảm dần theo thời gian sau chẩn đoán Có sự tương quan chặt chẽ giữa mức độ trầm cảm, lo âu và mức độ ảnh
hưởng tâm lý của triệu chứng liên quan bệnh và điều trị ung thư ( r > 0,5)
Đặc điểm lâm sàng của rối loạn trầm cảm, lo âu: Biểu hiện không điển hình, các triệu chứng phổ biến là chán ăn (89,1%), giảm thích thú (88,1%), thu mình (85,1%), ngủ ít (81,2%), khí sắc lo lắng (70,3%), khí sắc trầm buồn (67,3%) và rối loạn thần kinh thực vật (68,3%) Rất hiếm gặp triệu chứng ý tưởng và hành vi tự hủy hoại hoặc tự sát, ý tưởng bị tội Không có triệu chứng
Trang 18loạn thần Có sự khác nhau rõ rệt giữa nhóm tuổi vị thành niên và nhóm tuổi 4 – 9 về triệu chứng lâm sàng Các triệu chứng lâm sàng trầm cảm, lo âu giảm
đi rõ rệt theo thời gian kéo dài sau chẩn đoán [14]
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Khái niệm ung thư
Khái niệm ung thư: Ung thư là bệnh lí ác tính của tế bào, khi bị kích
thích của tác nhân sinh ung thư, tế bào tăng sinh một cách vô hạn độ, vô tổ chức, không tuân theo cơ chế kiểm soát về phát triển của cơ thể [22]
Đa số bệnh ung thư hình thành các khối u Khác với các khối u lành tính chỉ phát triển tại chỗ, thường rất chậm, có vỏ bọc xung quanh, các khối u
ác tính (ung thư) xâm lấn vào các tổ chức lành trong cơ thể giống như rễ cây lan trong đất Các tế bào của khối u ác tính có khả năng di căn tới các hạch bạch huyết hoặc ở các tạng xa hình thành các khối u mới và cuối cùng dẫn người bệnh tới tử vong
Đa số bệnh ung thư có biểu hiện mãn tính, có quá trình phát sinh và phát triển lâu dài, có khi hàng chục năm không có dấu hiệu gì trước khi phát hiện thấy dưới dạng các khối u Khi đó, khối u sẽ phát triển nhanh và mới có triệu chứng của bệnh Triệu chứng đau thường chỉ xuất hiện ở giai đoạn cuối
1.2.2 Khái niệm ung thư máu
Khái niệm ung thư máu: bệnh ung thư máu có tên khoa học là Lơ xê
mi, còn gọi là ung thư bạch cầu hay gọi ngắn gọn là ung thư máu, thuộc loại ung thư ác tính Căn bệnh này là hiện tượng khi bạch cầu trong cơ thể người bệnh tăng đột biến Nguyên nhân của bệnh chưa được xác định nhưng có thể
là do các tác động của môi trường như ô nhiễm hóa học hay nhiễm chất phóng
xạ hoặc cũng có thể là do di truyền Bạch cầu trong cơ thể vốn đảm nhiệm nhiệm vụ bảo vệ cơ thể nên chúng cũng khá “hung dữ”, đặc biệt khi loại tế bào này bị tăng số lượng một cách đột biến sẽ làm chúng bị thiếu “thức ăn” và
Trang 19có hiện tượng ăn hồng cầu Hồng cầu sẽ bị phá hủy dần dần, vì vậy người bệnh sẽ có dấu hiệu bị thiếu máu dẫn đến chết [22]
Các triệu chứng của bệnh ung thư máu:
Khi dạng bạch cầu ung thư phát triển nhanh trong tủy làm đau nhức đồng thời chiếm chỗ và làm giảm sự phát triển những tế bào máu bình thường khác
Bệnh nhân có thể có những triệu chứng như sau:
- Do sức công phá trong tủy: sốt, cảm lạnh, đau đầu, khớp
- Do thiếu hồng cầu: mệt mỏi, yếu sức, da đổi thành màu trắng nhạt
- Do bạch cầu không bình thường: hay nhiễm trùng
- Do giảm khả năng làm đông máu: chảy máu chân răng, dễ bầm
- Biếng ăn, sút cân
- Nếu bệnh nhân là nữ thì sẽ có hiện tượng ra mồ hôi về ban đêm
Phân loại bệnh ung thư máu:
- Ung thư máu cấp tính bạch cầu nguyên bào tủy (Acute myelogenous leukemia): Là dạng ung thứ máu thường gặp nhất, có thể ở trẻ em và người lớn
- Ung thư máu cấp tính nguyên bào lympho (Acute Lymphocytic Leukemia) Đây là dạng ung thư máu thường gặp nhất ở trẻ em (60-70% ung thư máu ở trẻ em)
- Ung thư máu mãn tính nguyên bào tủy (Chronic myelogenous leukemia) thường ở người lớn Đặc tính của loại này có bất thường của nhiễm thể gọi là Philadelphia chromosome)
- Ung thư máu mãn tính nguyên bào lympho (chronic lymphocytic leukemia) thường ở người lớn, rất hiếm ở trẻ em Thường không gây triệu chứng trong nhiều năm (có thể bị bệnh từ rất lâu nhưng không có triệu chứng của bệnh nên không thể phát hiện ra bệnh)
Trang 20Hiện nay có các phương pháp điều trị bệnh ung thư máu:
Hóa trị liệu (Chemotherapy)
Là liệu pháp hay được sử dụng nhất, càng ngày càng khẳng định được vai trò chủ yếu của nó
Tuy nhiên có một số mâu thuẫn gặp phải trong phương pháp điều trị này: bệnh thì rất nặng mà thể trạng lại kém và điều kiện hồi sức huyết học, điều kiện vô trùng ở các cơ sở còn thiếu, do đó nếu điều trị đủ thuốc, đủ liều, đúng liệu trình thì bệnh nhân khó có thể chịu nổi Mà điều trị không đủ, không tập trung cường độ liều thường không đạt được hiệu quả như mong muốn Hiện tượng kháng thuốc nhanh chóng xảy ra và kết quả đưa lại thường rất kém
Xạ trị liệu
Phương pháp này được dùng sớm hơn cả (từ đầu thế kỷ 19), do sự tiến
bộ của các liệu pháp khác, đặc biệt là hóa trị liệu nên phạm vi ứng dụng của
xạ trị liệu càng ngày càng bị thu hẹp
Xạ trị liệu ít khi được sử dụng một mình mà thường phối hợp với các phương pháp khác đặc biệt là hóa trị liệu
Ghép tủy xương – Ghép tế bào gốc (Stem Cell Transplant)
Hiện tại phương pháp điều trị bệnh ung thư máu vẫn là thay tủy xương của người bệnh với một người hiến có tủy xương phù hợp (thích hợp nhất là người có chung huyết thống với người bệnh) để thay thế phần tủy xương đã bị hỏng và kích thích sinh ra hồng cầu cũng như kìm hãm sự gia tăng đột biến của bạch cầu
Cũng có thể ghép tủy dị gen (người cho và người nhận chỉ phù hợp một phần hệ HLA) Hiện nay thuật ngữ “ghép tủy xương” đang dần được thay thế bằng “ghép tế bào gốc”
Trang 21Miễn dịch liệu pháp (Immunotherapy)
Phương pháp này sử dụng kháng thể chống dị loại để tiêu diệt các tế bào khối u
Liệu pháp miễn dịch phóng xạ: sử dụng các kháng thể chống lại kháng nguyên khối u có gắn chất phóng xạ tiêm vào cơ thể bệnh nhân Cũng có thể sử dụng liệu pháp miễn dịch nhưng chất gắn lên kháng thể là một độc tố phóng xạ
Nhìn chung các biện pháp miễn dịch như trên chưa được phổ biến rộng rãi, mới chỉ thực hiện được thử nghiệm tại các trung tâm điều trị lớn, có đầy
đủ điều kiện
Ngoài ra, còn có thể điều trị bằng các biện pháp khác như: điều trị bằng ngoại khoa (cắt lách, cắt hạch, nạo tủy), loại bỏ các thành phần máu, dùng các chất cảm ứng biệt hóa
Tuy nhiên, dù có điều trị bằng phương pháp nào di chăng nữa thì khả năng thành công cũng rất thấp, chỉ khoảng 10% và cho dù có thành công thì khả năng bệnh tái phát cũng rất lớn (khoảng từ 3 đến 5 năm) Đối với bệnh nhân là trẻ em thì có triển vọng khỏi bệnh cao hơn Hiện nay trên 60% trẻ bị bệnh bạch cầu được cứu sống ở các nước tiên tiến và trên 90% trẻ sống thêm được từ 3 – 5 năm
1.2.3 Khái niệm Stress
1.2.3.1 Khái niệm
Stress trong tiếng Anh có nghĩa là nhấn mạnh Thuật ngữ được dùng trong vật lý học để chỉ sức nén mà vật nén mà vật liệu phải chịu, sau đó được W.B Cannon sử dụng trong sinh lý học năm 1914 Khái niệm stress lần đầu tiên được nhà sinh lý học Canada Hans Selye sử dụng để mô tả hội chứng của quá trình thích nghi với mọi loại bệnh tật Trong các công trình sau này, Hans Selye có cách giải thích khác nhau về stress, nhưng phổ biến hơn cả là định nghĩa: Stress là một trạng thái được thể hiện trong một hội chứng bao gồm tất
Trang 22cả các biến đổi không đặc hiệu trong một hệ thống sinh học Ở các công trình khoa học cuối đời, Hans Selye nhấn mạnh rằng: Stress có tính chất tổng hợp, chứ không phải chỉ thể hiện trong một trạng thái bệnh lý Stress thể hiện phản ứng sống, là phản ứng không đặc hiệu của cơ thể với bất kỳ tác động nào Năm 1975, H Selye quan niệm rộng hơn về stress: stress là nhịp sống luôn luôn có mặt ở bất kỳ thời điểm nào của sự tồn tại của chúng ta và một tác động bất kỳ tới một cơ quan nào đó đều gây stress Stress không phải lúc nào cũng là kết quả của sự tồn thương, ngược lại, có hai loại stress khác nhau, đối lập nhau: stress bình thường khỏe mạnh là “eustress”, stress có hại là
“dystress” H Selye một lần nữa đã cảnh báo rằng, “không cần tránh stress, tự
do hoàn toàn khỏi stress tức là chết” Như vậy, H Selye đã khẳng định stress
là phản ứng thích nghi không đặc hiệu của cơ thể đối với mọi tác động của môi trường, do đó nó là phản ứng không thể thiếu được của động vật nói chung và của con người nói riêng Nhưng nếu phản ứng quá mạnh là distress – có hại cho cơ thể Như vậy ông đã nêu lên bản chất sinh học của stress [10]
Vào thập niên 80, L.A Kitaepxmưx đã nêu các quan điểm khác nhau
về stress:
- Stress là những tác động mạnh ảnh hưởng không tốt và tiêu cực đến
cơ thể, quan điểm này tồn tại một thời gian dài, nhưng nó lại trùng với khái niệm về tác nhân gây stress
- Stress là những phản ứng mạnh không tốt của cơ thể về sinh lý hoặc tâm
lý đối với tác động của tác nhân gây stress, cách hiểu này ngày nay khá phổ biến
- Stress là những phản ứng mạnh đủ loại, không tốt hoặc tốt đối với cơ thể Hai cách hiểu này đều khẳng định stress là những phản ứng mạnh của
cơ thể trước các tác động khác nhau của môi trường Nhưng trong thực tế không phải phản ứng mạnh nào của cơ thể cũng đều là stress và không phải chỉ có phản ứng mạnh mới là biểu hiện stress
Trang 23- Stress là những nét không đặc hiệu của những phản ứng sinh lý và tâm lý của cơ thể, trong trường hợp có những tác động mạnh, quá mức đối với
nó, gây ra những biểu hiện mạnh mẽ của tính tích cực thích nghi
Quan niệm này cho rằng stress là những nét phản ứng sinh lý và tâm lý không đặc hiệu của cơ thể, nhưng chỉ khi có tác động mạnh quá mức đối với
nó Trong thực tế những tác động tuy không mạnh nhưng lại đơn điệu và kéo dài hoặc lặp lại nhiều lần cũng gây nên stress
- Stress là những nét không đặc hiệu của những biểu hiện sinh lý và tâm lý của cơ thể, nảy sinh trong mọi phản ứng của cơ thể
Theo ông, cách hiểu cuối cùng đúng nhất, vì những nét không đặc hiệu của quá trình thích nghi thể hiện cả trong khi có những tác động tiêu cực và cả khi có những tác động tích cực đến cơ thể Tính không đặc hiệu của các quá trình thích nghi tâm lý và sinh lý là thể hiện khi gặp các tác động khác nhau về cường độ, sự kéo dài, và tầm quan trọng của các tác động đó đối với chủ thể Như vậy, stress là những biều hiện sinh lý và tâm lý không đặc hiệu của tính tích cực thích nghi khi có những tác động mạnh, quá mức đối với cơ thể, trong trường hợp này là cách hiểu stress theo nghĩa hẹp Stress là những biểu hiện không đặc hiệu cuả tính tích cực thích nghi về sinh lý và tâm lý khi có tác động của mọi nhân tố quan trọng đối với cơ thể là cách hiểu stress theo nghĩa rộng Như vậy L.A Kitaepxmưx cũng mới chỉ nêu được bản chất sinh học của stress
Từ điển Tâm lý học (tiếng Nga) của V.P Dintrenko và B.G Mesiriakova, NXB Giáo dục, 1996 đã đưa ra một định nghĩa khá hoàn chỉnh
về stress: “Stress – trạng thái căng thẳng về tâm lý xuất hiện ở người trong quá trình hoạt động ở những điều kiện phức tạp, khó khăn của đời sống thường ngày, cũng như những điều kiện đặc biệt” Đây là định nghĩa chỉ rõ
bản chất của stress dưới góc độ tâm lý học, đó là sự căng thẳng về tâm lý và
Trang 24nguyên nhân gây ra stress là những điều kiện phức tạp và khó khăn trong cuộc sống thường ngày, cũng như trong điều kiện đặc biệt
Các nhà khoa học Việt Nam cũng có ý kiến riêng về đề tài stress Tô Như Khuê đã cho rằng: “Stress tâm lý chính là những phản ứng không đặc hiệu xảy ra một cách chung khắp, do các yếu tố có hại về tâm lý xuất hiện trong các tình thế mà con người chủ quan thấy là bất lợi hoặc rủi ro, ở đây vai trò quyết định không chủ yếu do tác nhân kích thích, mà do sự đánh giá chủ quan về tác nhân đó” Định nghĩa này đã nêu được vai trò của yếu tố nhận thức và thái độ của con người trong stress Các nhà tâm lý học khác của Việt Nam là Phạm Minh Hạc, Trần Trọng Thủy và Nguyễn Quang Uẩn cho rằng:
“Stress là những xúc cảm nảy sinh trong những tình huống nguy hiểm, hẫng hụt, hay trong những tình huống phải chịu đựng những nặng nhọc về thể chất
và tinh thần hoặc trong những điều kiện phải quyết định hành động nhanh chóng và trọng yếu” Đây là định nghĩa khá rõ vì đã nêu được thành phần quan trọng cuả stress đó là xúc cảm và một số nguyên nhân cơ bản gây stress
ở con người
Với tác giả Nguyễn Văn Nhận, Nguyễn Bá Dương và Nguyễn Sinh Phúc, “khái niệm stress vừa để chỉ tác nhân công kích, vừa để chỉ phản ứng của cơ thể trước các tác nhân đó” Ở đây, stress mới chỉ được hiểu như là phản ứng mang tính sinh lý của cơ thể, những biểu hiện tâm lý của stress còn chưa được đề cập tới và “những tác nhân công kích” mà ngày nay được hiểu
là những yếu tố gây nên stress
Các tác giả Phạm Khắc Hiếu, Lê Thị Ngọc Diệp và Trần Thị Lộc cho rằng: “Stress là một trạng thái thể hiện của cơ thể với những triệu chứng đặc thù, bao gồm tất cả những biến đổi không đặc hiệu xảy ra trong phạm vi một
hệ thống sinh học” Đây là định nghĩa stress dưới góc độ sinh học
Trang 25Sơ đồ 1.1 Phản ứng của stress (theo M Ferreri) [30]
Tóm lại: Từ những quan niệm khác nhau về stress nêu trên, dưới góc
độ tâm lý học, chúng tôi đưa ra quan điểm về stress như sau: “Stress là một quá trình trong đó những đòi hỏi từ phía môi trường vượt quá khả năng thích ứng của cơ thể, gây ra những thay đổi về tâm lý và sinh lý, đưa cá nhân đến nguy cơ bị bệnh” Các đòi hỏi từ phía môi trường ở đây bao gồm tất cả các
tình huống, các sự việc diễn ra trong suốt quá trình hoạt động của con người (thiên tai, thảm họa, sức ép công việc, học tập, áp lực cuộc sống hàng ngày, bị bệnh…) Các yếu tố này có thể tác động một cách nhanh chóng, mạnh mẽ nhưng cũng có thể tác động đều đều và kéo dài làm vượt quá ngưỡng chịu đựng của con người Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài chúng tôi chỉ nghiên cứu stress ở khía cạnh là phản ứng tâm lý của con người
1.2.3.2 Biểu hiện
Có hai mặt biểu hiện của stress: biểu hiện về tâm lý và biểu hiện về sinh lý (Ở đề tài này chúng tôi chỉ quan tâm đến những biểu hiện về tâm lý)
CHỦ THỂ (Đáp ứng)
Không mong đợi LẶP LẠI Trung bình
TÌNH HUỐNG STRESS
KÉO DÀI
Không lường trước XẢY RA MỘT LẦN Mãnh liệt CẤP
Trang 26Biểu hiện về mặt tâm lý của stress được thể hiện ở sự thay đổi của hoạt động tâm lý, từ cảm xúc đến chú ý, trí nhớ, tư duy, ngôn ngữ Những thay đổi này thể hiện ra bên ngoài, hoặc qua các thông số có thể đo được Biểu hiện stress ở con người rất đa dạng, vì mỗi người đáp ứng khác nhau khi có stress, những đáp ứng này được thể hiện ở nét mặt, lời nói, hành vi…
- Sự thay đổi các hoạt động tâm lý cơ bản khi có stress: khi có stress, các hoạt động tâm lý cơ bản có sự thay đổi rõ rệt, từ nhận thức đến xúc cảm, ý chí Những thay đổi này ở mức độ khác nhau tùy theo cường độ hoặc độ dài lâu của tác nhân gây stress và sự đánh giá chủ quan của chủ thể về tác nhân đó
- Thay đổi cảm xúc khi có stress Để tồn tại và phát triển con người không chỉ nhận biết thế giới mà còn tỏ thái độ nhất định đối với các sự kiện xảy ra Những thái độ ấy là cảm xúc Cảm xúc là thái độ của con người có liên quan đến việc thỏa mãn hay không thỏa mãn các nhu cầu Xã hội phát triển, nhu cầu của con người ngày càng phong phú, đa dạng và thay đổi với nhịp độ nhanh hơn, vì thế việc thỏa mãn nhu cầu cũng trở nên phức tạp hơn, làm cho cảm xúc ngày càng phong phú hơn
Trong thực tế, tùy theo tính chất của tâm trạng, người ta phân biệt xúc cảm dương tính và xúc cảm âm tính Tùy theo ảnh hưởng của xúc cảm tới sinh hoạt và khả năng lao động, người ta phân biệt xúc cảm cường tính (nâng cao sức sống và khả năng lao động) và xúc cảm nhược tính (hạ thấp các mặt đó) Theo Tô Như Khuê: “tính chất cường hay nhược của xúc cảm tùy thuộc vào các đặc điểm cá nhân hơn là tính chất của tác nhân kích thích” Người ta cũng phân biệt trạng thái căng thẳng cảm xúc và giải tỏa cảm xúc sau khi đã chấm dứt tác động của các yếu tố gây xúc cảm Trạng thái căng thẳng cảm xúc được biểu hiện như sau:
Biểu hiện của stress ở vẻ mặt Như chúng ta đã biết, vẻ mặt là tinh hoa, nghi biểu của con người, khi có stress mỗi người cũng có những cảm xúc rất
Trang 27khác nhau, và vì thế vẻ mặt cũng rất khác nhau như: những nếp nhăn trên trán khi căng thẳng suy nghĩ, các cơ mặt chùng hẳn xuống khi buồn phiền đau khổ, thất vọng, ánh mắt long lên khi giận giữ, mím chặt môi khi căm giận hoặc quyết tâm
Con người ở trạng thái tâm lý khác nhau thì có vẻ mặt khác nhau Theo
Tô Như Khuê có thể chia cảm xúc làm ba mức độ có biểu hiện khác nhau:
Bình tĩnh: vẻ mặt thay đổi ít, biểu hiện sẵn sàng hành động, chú ý, quyết đoán
Xúc động: các thay đổi biểu hiện căng thẳng rõ, ít nhiều lúng túng, chăm chú, môi mấp máy, mắt mở to, chớp chớp…
Xúc động mạnh: vẻ mặt lúng túng, nhăn nhó, hoảng hốt, cảm thấy bất lực, ngây dại, cơ hàm co bóp mạnh nổi lên hai bên má, môi xệch đi, mín chặt Miệng mở to, thè lưỡi: động tác mạnh, đột ngột, không có mục đích
Biểu hiện bằng lời: đối với người trưởng thành đôi khi giọng nói còn biểu cảm rõ nét hơn cả nét mặt Chẳng hạn, một giọng điệu chậm rãi kéo dài, kết hợp với hơi thở ra thể hiện sự thất bại hay chán nản Giọng cao lên khi giận dữ, vì khi cơ thể căng thẳng thì các dây thanh âm cũng cao lên Khi run
sợ giọng người ta thường run và thì thầm Lời nói cũng có thể biểu hiện stress Khi giận dữ người ta có thể nói nhanh hơn, dằn giọng hơn, sử dụng ngôn từ mạnh hơn, khi lo sợ lời nói có thể đứt đoạn, hoặc diễn đạt nội dung không rõ Tuy nhiên biểu hiện stress thông qua lời nói của mỗi người không giống nhau vì thế cần kết hợp với quan sát các biểu hiện khác
Biểu hiện qua nét chữ: Ảnh hưởng của stress tới nét chữ tuy chưa được nghiên cứu một cách hệ thống, nhưng những nghiên cứu gần đây cho thấy có
sự liên hệ giữa nét chữ và đủ loại cảm xúc Chẳng hạn, cảm xúc ổn định thì nét chữ đều đặn, khi giận dữ nét chữ không đều…
Trang 28Hành động ứng xử khi có stress: khi có stress con người bộc lộ qua hành vi ứng xử, có thể phân loại các hành vi bộc lộ khi stress làm ba loại là phá hoại, rút lui và ngừng đáp ứng
Phá hoại: Qua nghiên cứu người ta thấy rằng trong cơn giận dữ ứng xử điển hình là tấn công Một người không văn minh có thể tấn công mang tính chất phá hoại về thể xác bằng cách lao vào kẻ thù để cào cấu, hoặc đấm đá… Song đối với người văn minh, hành động tấn công mang tính chất tượng trưng nhiều hơn Người ta có thể dùng ngôn ngữ hay cú đấm, dùng nụ cười khinh bỉ thay cho việc gây thương tích thân thể, nhằm làm giảm uy tín của đối phương Như vậy điều cốt lõi của hành vi khi giận dữ là phá hoại
Rút lui hoặc tháo chạy: Là phản ứng của chủ thể nhằm thoát khỏi tình huống chủ thể đánh giá là nguy hiểm Đây có thể là hành động cụ thể hoặc tượng trưng, và thường đó là cách thích nghi tốt nhất Tuy vậy trong cuộc sống văn minh người ta thường rút lui một cách tượng trưng thông qua sự nhân nhượng, thỏa hiệp trong giao tiếp hoặc tranh luận
Ngừng đáp ứng: Đôi khi gặp tình huống stress người ra không tấn công, hoặc tháo chạy mà ngừng không đáp ứng Chẳng hạn, khi buồn rầu, chán nản con người không muốn tiếp xúc với người khác Thực tế là khi rơi vào trạng thái buồn rầu cực độ người ta không có khả năng đáp ứng ngay cả đối với những kích thích mạnh nhất, họ muốn ở lại một mình, không muốn tiếp xúc với ai và có thể rơi vào trạng thái vô cảm Đây là trạng thái tự vệ của
cơ thể nhằm giảm bớt nỗi đau khổ thực sự của mình
Sự thay đổi nhận thức khi có stress: Trong nhiều tác phẩm nghiên cứu các quá trình nhận thức khi có stress, các tác giả thường chỉ chú ý đến những thay đổi tiêu cực của các quá trình nhận thức Điều đó là rất cần thiết, nhưng cũng không nên quên khi có stress ở mức độ nhất định có thể dẫn đến sự thay đổi có lợi đáng kể của tư duy, trí nhớ … như suy ngẫm để hiểu thấu vấn đề,
Trang 29tăng cường tự ý thức… Trong những trường hợp như vậy làm cho chú ý, trí nhớ và từ duy thay đổi theo chiều hướng tốt hơn Theo L.A Kitaepxmưx, khi
có stress làm tăng cường tính tích cực tư duy, đó là sự suy ngẫm hoàn chỉnh toàn bộ thông tin mà chủ thể có thể có nhằm làm chủ tình huống gây stress Nhưng đến một mức độ stress nào đó ở chủ thể xuất hiện tình trạng giảm tính tích cực tư duy và giảm hoặc mất trí nhớ, chủ thể “rời bỏ việc giải quyết vấn
1.2.3.3 Mức độ
+ Theo Hans Selye: có 2 mức độ rõ rệt là eustress và distress
Mức độ thứ nhất, eustress: là mức độ stress bình thường, phản ứng thích nghi bình thường của cơ thể với những tác nhân của môi trường bên trong hoặc bên ngoài cơ thể Đây là stress tích cực, nó huy động khả năng của
cơ thể để thích nghi với sự thay đổi của môi trường và nó đã làm được điều
đó Eustress bao gồm 2 pha của Hội chứng thích nghi chung (General adaptation syndrome) viết tắt là G.A.S là pha báo động và pha kháng cự Ở đây cơ thể vượt qua được các tác nhân gây stress và lấy lại được cân bằng
Trang 30Mức độ thứ hai, distress Là mức độ stress bệnh lý, phản ứng thích nghi bình thường của cơ thể bị thất bại, cơ thể không thể vượt qua được tác nhân gây stress và chuyển sang giai đoạn ba của G.A.S là giai đoạn kiệt sức (exhaustion), do tác nhân gây stress quá mạnh hoặc quá kéo dài, vượt quá sức kháng cự của cơ thể Cơ thể bị rơi vào đáp ứng hỗn loạn và bị kiệt sức dẫn đến bệnh tật ở hệ thống tuần hoàn, tiêu hóa, hay thần kinh (cao huyết áp, loét chảy máu dạ dày, mất ngủ …), hoặc cái chết
+ Phân loại theo Tô Như Khuê: Theo tác giả, tùy theo các kết quả đạt được trong yêu cầu thích nghi của cơ thể, có thể phân ra ba chương trình thích nghi và tương ứng là ba mức độ đáp ứng của cơ thể với môi trường (3 mức độ stress)
Mức độ stress bình thường: Là chương trình thích nghi bình thường, đảm bảo hoạt động sống bình thường không có ảnh hưởng của yếu tố căng thẳng đáng kể, cơ thể đảm bảo sự tương ứng đồng bộ giữa các hệ thống chức năng và trạng thái của các điều kiện môi trường, qua đó các hệ thống chức năng đạt được chủ đích của nó là cân bằng nội môi trong trạng thái yên tĩnh hoặc có tác nhân căng thẳng nhẹ hoặc vừa Ở mức độ này mọi hoạt động tâm sinh lý đều diễn ra bình thường
Mức độ stress cao: Là chương trình thích nghi căng thẳng, xuất hiện khi có các tác nhân căng thẳng đáng kể của môi trường, từ mức nặng đến cực hạn Cơ thể phải sử dụng thêm một số năng lượng, bố trí lại cấu trúc hệ thống chức năng Chẳng hạn, nếu nhiệt độ môi trường quá cao, cơ thể tăng tiết mồ hôi, dãn mạch máu da Song song với phản ứng thích nghi đặc hiệu đó, nếu yếu tố căng thẳng lớn, cơ thể lại huy động thêm một số phản ứng thích nghi chung như tăng tiết catecholamine (hệ thống thần kinh thực vật – lõi thượng thận), tăng hoạt động của hệ thống dưới đồi – tuyến yên – vỏ thượng thận Các phản ứng thích nghi đạt mức này hoặc mức kéo dài,phản ứng thích nghi không đáp ứng được nữa, thì cơ thể chuyển sang trạng thái bệnh lý Tiêu
Trang 31chuẩn chính để đánh giá mức độ bình thường của chương trình này là hệ thống chức năng vẫn giữ được tính chất mềm dẻo đồng bộ, trạng thái biến đổi được phục hồi sau khi tác nhân ngừng tác động Trường hợp các tác nhân ảnh hưởng lâu dài với mức vừa phải, không gây rối loạn bệnh lý, nó sẽ dần dần nâng cao khả năng chịu đựng của cơ thể
Mức độ stress bệnh lý: Y sinh học gọi là chương trình thích nghi bệnh
lý, xuất hiện khi tác nhân gây căng thẳng quá lớn hoặc quá kéo dài, các cơ chế phản ứng của cơ thể không còn hiệu quả mong muốn, các hệ thống chức năng mất tính mềm dẻo đồng bộ, môi trường bên trong có nhiều rối loạn, các dự trữ chức năng bị suy giảm nghiêm trọng, các phản ứng thích nghi chung tăng mạnh Các dấu hiệu này không trở lại bình thường khi tác nhân bất lợi ngừng tác động Có những trường hợp trạng thái thích nghi bệnh lý xảy ra nhanh, cấp tính, có trường hợp xảy ra qua một quá trình phát triển mạn tính Nhưng
dù là cơ thể đã lâm vào trạng thái bệnh lý thì cơ chế phản ứng mà cơ thể vận dụng vẫn có tác dụng nhất định tăng sức chống đỡ với yếu tố bất lợi và bảo vệ cấu trúc chức năng của cơ thể Theo Tô Như Khuê, cơ chế này kém hiệu quả, tiêu phí nhiều năng lượng, thậm chí còn gây thêm những thương tổn của hệ thống chức năng không liên quan trực tiếp đến yếu tố bất lợi Trạng thái này vẫn chưa được coi là chương trình thích nghi, nhưng là thích nghi bệnh lý có mục đích bảo vệ, trong phạm vi chức năng bảo vệ sức khỏe
Từ những quan điểm khác nhau nêu trên, tác giả Nguyễn Thành Khải trong đề tài “Nghiên cứu stress ở cán bộ quản lý” [10] đã đưa ra 3 mức độ stress như sau:
Mức độ stress 1: Rất căng thẳng, ở mức này cơ thể cảm nhận thấy rất căng thẳng về tâm lý, đây là trạng thái khó chịu, con người cảm nhận được và
có nhu cầu thoát khỏi nó Do con người rơi vào tình huống khó khăn chưa có phương án giải quyết, do quá tải về công việc, quá tải về thông tin, hoặc rơi
Trang 32vào trạng thái căng thẳng kéo dài Về mặt cảm xúc, có thể biểu hiện giận dữ, nóng nảy thường xuyên, mà đôi khi là vô cớ, hoặc lo âu, thất vọng chán chường… Trí nhớ giảm sút rõ rệt, tư duy kém sắc bén, khối lượng chú ý thu hẹp và phân phối chú ý giảm, chất lượng hoạt động giảm sút rõ rệt
Mức độ stress 2: Căng thẳng, ở mức này con người cảm nhận thấy có
sự căng thẳng cảm xúc, sự tập trung chú ý cao hơn, trí nhớ, tư duy nhanh nhạy hơn, các thông số hoạt động sinh lý cũng tăng mạnh, nhưng trạng thái này nếu kéo dài cơ thể sẽ chuyển sang trạng thái rất căng thẳng Độ bền vững của mức độ stress này tùy thuộc vào đặc điểm tâm – sinh lý cá nhân
Mức độ stress 3: Ít căng thẳng, là trạng thái con người cảm nhận bình thường hoặc có yếu tố căng thẳng nhẹ Ở mức độ này, mọi hoạt động diễn ra bình thường, cơ thể huy động năng lượng với mức vừa phải, các hoạt động chú
ý, trí nhớ, tư duy hoạt động bình thường, hoặc có thay đổi cũng không đáng kể
Việc phân chia 3 mức độ stress như trên là rất tương đối bởi nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như đặc điểm tâm sinh lý cá nhân, tính chất của các yếu tố gây stress, hoàn cảnh gây stress… Mỗi cá nhân trong thời điểm, tình huống khác nhau thì có trạng thái tâm lý khác nhau và ở mức độ stress khác nhau Thậm chí, không những mỗi cá nhân phản ứng với mức độ stress khác nhau trong cùng một tình huống mà ngay cả một tác nhân cũng gây ra phản ứng stress mức độ khác nhau ở cùng một người trong những thời điểm khác nhau Sở dĩ có tình trạng trên vì mức độ stress không chỉ phụ thuộc vào cường độ, tính chất, độ lâu dài… của các tác nhân gây stress mà nó còn phụ thuộc vào sự đánh giá và thái độ của chủ thể về tác nhân đó
Theo bác sỹ Đặng Phương Kiệt, có các mức độ stress như sau:
- Stress mức độ nhẹ
- Stress mức độ vừa
- Stress mức độ nặngs
Trang 33Tác giả Lovibond chia mức độ stress thành 5 mức độ khác nhau [37]:
* Dựa vào tác nhân gây stress: người ta có thể phân ra stress vật lý,
stress tâm lý, stress sinh lý
* Dựa vào thời điểm của yếu tố tác động gây ra stress có thể có:
- Stress quá khứ (khi nhớ về quá khứ tốt đẹp hoặc không tốt đẹp người
ta có thể bị stress trở lại, ví dụ như vô tình gặp lại những người quen trong
quá khứ, những kỷ niệm với người đó lại hiện về có thể kỷ niệm tốt đẹp làm cho chúng ta cứ luyến tiếc, hoặc những kỷ niệm là đau buồn làm cho chúng ta buồn rầu, đó chính là yếu tố gây stress
- Stress hiện tại: yếu tố gây stress đang tác động và phát huy tác dụng trong hiện tại gặp nhiều những biến cố không mong muốn và không chờ đợi khiến cho cơ thể không chuẩn bị sự đáp ứng, thích nghi dẫn đến stress
- Stress tương lai: cá nhân bị stress khi nghĩ về tương lai (ví dụ: những sinh viên năm cuối nghĩ về tương lai không biết mình ra trường đi đâu, về đâu, làm gì cũng có thể bị stress)
* Căn cứ vào cấp độ của stress, có thể phân ra stress sơ cấp và stress
thứ cấp:
- Stress sơ cấp là stress lần thứ nhất do yếu tố gây stress khách quan gây ra
Trang 34- Stress thứ cấp là khi chủ thể đang ở trạng thái stress sơ cấp cho rằng
có tình trạng như hiện nay là bởi lỗi lầm của mình, do đó rất ân hận, hối tiếc, giận bản thân làm cho stress tăng nặng thành thứ cấp
* Dựa vào mức độ, theo H.Selye phân ra stress tích cực (eustress) và stress tiêu cực (distress):
- Stress tích cực (eustress)
Trong một tình huống stress bình thường, cơ thể phản ứng lại với các tác động của môi trường bằng giai đoạn báo động và giai đoạn chống đỡ
+ Giai đoạn báo động: bị chi phối bởi sự cảnh tỉnh cao độ, kích thích các
quá trình tâm lý, đặc biệt là quá trình tập trung chú ý, ghi nhớ, phán đoán, trong
cơ thể triển khai những phản ứng đến trước đối với một tác động có thể xảy ra thể hiện bằng việc tăng nhịp tim, tăng huyết áp, tăng nhịp thở, tăng lực cơ bắp Các thay đổi tâm sinh lý này góp phần vào việc đánh giá tình huống stress đối với chính bản thân người đó, cũng như đối với môi trường xung quanh
+ Giai đoạn chống đỡ: Đặc trưng bởi việc huy động các đáp ứng thích
hợp nhằm giúp cơ thể làm chủ được tình huống stress và có được một cân bằng mới đối với chính bản thân người đó Tuy nhiên, cường độ của stress có thể khác nhau, và động cơ cá nhân cũng có thể thay đổi Như vậy, một hoàn cảnh gây stress bình thường có thể chuyển sang distress khi có sự thay đổi về một trong các cực của mối quan hệ qua lại giữa chủ thể và môi trường
- Stress tiêu cực (distress): Phản ứng stress trở thành distress khi tình
huống bất ngờ, quá dữ dội, hoặc ngược lại, quen thuộc nhưng lặp đi lặp lại, vượt quá khả năng thích ứng của chủ thể Distress là stress có cả giai đoạn tiếp sau giai đoạn báo động và chống đỡ Đó là giai đoạn kiệt sức Trong distress, các rối loạn tâm lý ở cơ thể có thể xuất hiện ở cấp tính, tạm thời hoặc nhẹ hơn hoặc kéo dài
Trang 35+ Stress cấp tính: Các biểu hiện của stress này thường gặp trong các
tình huống không lường trước, có tính chất dữ dội, như lúc bị tấn công, gặp thảm hoạ, hoặc khi thân chủ biết mình hay người thân bị bệnh nặng nguy hiểm, khó cứu chữa (AIDS, ung thư) Trong stress bệnh lý cấp tính, các phản ứng xúc cảm cấp diễn, tức thì, trạng thái cấp tính của stress được đặc trưng bởi những cử chỉ cứng nhắc, không linh hoạt, kèm theo cảm giác đau do căng thẳng bên trong; có sự rối loạn thần kinh thực vật như: tim đập nhanh, cơn đau tim, cao huyết áp, khó thở, ngất xỉu, chóng mặt, ra mồ hôi, nhức đầu, đau
ở nhiều nơi, nhất là ở cơ bắp; phản ứng giác quan quá mức, nhất là tai có cảm giác khó chịu trước những tiếng động thường ngày Distress cấp tính dẫn đến các rối loạn trí tuệ thể hiện ở việc khó tập trung suy nghĩ, kèm theo tư duy bị nhiễu do nhớ lại các tình huống gây stress Những biểu hiện khác thường thấy
là dễ cáu gắt, trên cơ sở cảm giác bất an có thể đưa đến những rối loạn trong hành vi, nhất là trạng thái kích động nhẹ kèm theo khó khăn trong quan hệ với những người xung quanh Chủ thể ở trạng thái lo âu lan rộng, kèm theo sợ hãi
mơ hồ Phản ứng distress cấp tính thường kéo dài từ vài phút đến vài giờ, rồi
mờ nhạt đi Sự có mặt của những người xung quanh, nhất là người thân sẽ làm cho chủ thể distress yên tâm hơn và khuây khoả ít nhiều tuỳ theo tính chất và tiến triển của stress
Khi có những phản ứng cảm xúc cấp tính thì các rối loạn tâm sinh lý đều xảy ra chậm, chủ thể có vẻ chịu đựng và chống đỡ được với tình huống gây stress Nhưng thực tế, các biểu tượng của tình huống gây stress vẫn tiếp tục phát huy tác dụng và từng bước xâm chiếm chủ thể Giai đoạn chống đỡ của chủ thể tiếp diễn, nhưng chỉ tạo ra một sự cân bằng rất tạm thời, không bền vững, và chỉ kéo dài trong vài giờ hoặc vài ngày, sau đó đột nhiên xuất hiện một phản ứng distress cấp tính xảy ra chậm, có biểu hiện và tiến triển giống như phản ứng cấp, thức thì Chứng tỏ về mặt tâm lý chủ thể không còn
Trang 36khả năng dàn xếp được tình huống stress nữa Chủ thể bị suy sụp và mất khả năng bù trừ một cách chậm chạp
+ Distress kéo dài: thường gặp nhất trong các tình huống stress quen
thuộc lặp đi lặp lại như xung đột, bất toại, phiền nhiễu trong cuộc sống hàng ngày Nó có thể xảy ra tiếp theo như một phản ứng cấp ban đầu và không thoái lùi hoàn toàn, hoặc sau một loạt nhiều phản ứng cấp trung nhưng không mạnh Nhưng dù cho nó có nguồn gốc nào, những biểu hiện của stress kéo dài cũng rất đa dạng thay đổi tuỳ theo ưu thế của các biểu hiện tâm lý, thể chất và có sự pha trộn của nhiều hiện tượng khác nhau Con người khi bị stress kéo dài thường phản ứng quá mức với hoàn cảnh xung quanh và đây là biểu hiện nổi trội nhất Nó kèm theo với sự cáu giận, cảm giác khó chịu, căng thẳng tâm lý, mệt mỏi về trí tuệ không thể thư giãn được Ngoài ra, cũng có biểu hiện về rối loạn giấc ngủ, như khó ngủ, giấc ngủ chập chờn, hay thức giấc, về cảm giác không thấy phục hồi sau khi ngủ Những rối loạn này tuỳ theo bối cảnh, tính chất cũng như mức độ lặp đi lặp lại của tình huống stress, có thể tiến triển thành trạng thái bi quan kéo dài, tính dễ cáu giận và sự căng thẳng nội tâm Chủ thể thậm chí có biểu hiện lo âu, ám ảnh sợ khi gặp lại những nơi đã gây nên tình huống distress, hoặc nhớ lại tình huống này
Khi bị stress kéo dài, cơ thể thường có những rối loạn thực vật ở mức
độ vừa phải, chúng chỉ tăng lên khi hồi tưởng về các tình huống stress, hay khi phải đương đầu với những tình huống đó Chúng thường xuất hiện cùng với các rối loạn tâm lý và biểu lộ trong những lời than phiền của chủ thể về các rối loạn chức năng cơ thể
* Dựa vào đặc tính của stress người ta cũng chia ra làm 2 loại: Stress
lạc quan (Positive) và stress bi quan (Negative)
- Stress lạc quan: trong tính chất lạc quan, stress đưa đến những thử
thách, kích thích, để tạo cho đời sống thêm phần thú vị, vui tươi, nhưng
Trang 37không làm tổn hại đến sức khoẻ Theo các nhà chuyên môn, stress là một kinh nghiệm học tập, giúp con người có cơ hội trưởng thành và phát triển Ngoài
ra, stress giúp tập trung sức lực nhằm vào mục tiêu, và thực thi, để tiến đến hiệu quả công việc, trong một thời gian ngắn nhất Sau một tiến trình vội vã, đầy áp lực (stress), để hoàn thành công việc chúng ta dành thời gian cho việc nghỉ ngơi, và thư giãn cơ thể, để phục hồi sinh lực thân tâm, nhằm chuẩn bị cho những thử thách sắp tới Sự nghỉ ngơi, để phục hồi sinh lực, chính là một trong những yếu tố của tính chất stress lạc quan
- Stress bi quan: trong tính chất bi quan, stress có liên quan đến việc
gây nên nhiều chứng bệnh chứng cho cơ thể như: nhức đầu, cao huyết áp, đau tim, nhức mỏi gân thịt, suy nhược thể chất và tinh thần Khi cơ thể bị đặt trong tình trạng thử thách dài hạn, hoặc những kích thích ngắn hạn liên tục và thiếu thời gian nghỉ ngơi, thư giãn thích đáng, stress là tiêu hao sinh lực, đưa
cơ thể đến tình trạng kiệt sức và tổn hại sức khoẻ
1.3 Stress ở bệnh nhân ung thƣ máu
Qua nghiên cứu các tài liệu về stress, các công trình nghiên cứu về stress và stress ở bệnh nhân UTM cũng như quá trình thực tế tiếp xúc với bệnh nhân UTM, chúng tôi cho rằng: Phản ứng stress ở bệnh nhân UTM là những phản ứng về mặt sinh lý và tâm lý của bệnh nhân khi bị tác động bởi việc biết mình bị bệnh ung thư máu và quá trình điều trị bệnh ung thư máu tại bệnh viện Chúng tôi chỉ đi sâu nghiên cứu stress ở bệnh nhân trên khía cạnh nhìn nhận stress là những phản ứng tâm lý Phản ứng stress ở bệnh nhân cũng
có thể liên quan đến một số yếu tố như giới tính, trình độ học vấn, lứa tuổi, các giai đoạn bị bệnh và thời gian điều trị bệnh
Nghiên cứu của Kubler – Ross (1970) trên 200 bệnh nhân ung thư đã đưa ra mô hình diễn biến tâm lý 5 giai đoạn, có thể viết tắt là “DABDA” (Denial – Anger – Bargaining – Depression – Acceptance) như sau:
Trang 38Giai đoạn I (từ chối/phủ nhận): chối bỏ, sốc và không tin Đó là những phản ứng đầu tiên khi người bệnh biết rằng mình đã được chẩn đoán là ung thư và điều này có nghĩa là cái chết đã cận kề với họ Người bệnh thường cho rằng: “Không, tôi khỏe mà!”; “Chuyện đó không thể xảy ra với tôi được!” Sau đó, người bệnh nhanh chóng nhận ra rằng họ đang phải đối mặt với một
sự việc rất trầm trọng Theo Kubler-Ross, một số người có những phản ứng này cho đến những giây phút cuối cùng của cuộc đời
Giai đoạn II (tức giận/kích động): Sau khi chối từ, người bệnh trở nên khó tính, hay đòi hỏi, gây khó khăn Họ hay đưa ra những câu hỏi không có câu trả lời: “Tại sao lại là tôi phải chết?”, “Tại sao là tôi, không công bằng chút nào hết?”; “Sao mà nó có thể xảy ra cho tôi được?”; “Ai gây ra chuyện này?” Họ có thể nổi cơn thịnh nộ và đố kỵ làm cho việc giao tiếp với họ là một thách thức rất lớn Những cá nhân nào càng mạnh mẽ trong cuộc sống thì càng có khuynh hướng bùng phát sự phẫn nộ và bực bội.Trong giai đoạn này, người bệnh bắt đầu nhận ra rằng họ không thể tiếp tục phủ nhận mãi được
Giai đoạn thứ III (Mặc cả): Liên quan đến sự hy vọng mà người bệnh mong rằng có thể kéo dài hoặc trì hoãn cái chết Thông thường, họ tìm mọi cách thương lượng để kéo dài cuộc sống “Chỉ cần cho tôi sống đến ngày con tôi tốt nghiệp”; “Tôi sẽ làm tất cả những gì có thể được để sống thêm vài năm nữa”; “Tôi hiểu là tôi sẽ chết nhưng chỉ mong có thêm thời gian hơn nữa ”
Giai đoạn IV (trầm cảm): đây là dấu hiệu đầu tiên của sự chấp nhận mất mát, không thể tránh khỏi Trong giai đoạn này, người bệnh bắt đầu hiểu rằng cái chết là chắc chắn Vì thế, họ có thể trở nên im lặng, từ chối gặp người viếng thăm, dành nhiều thời gian để khóc và đau buồn Quá trình này giúp cho người bệnh cắt đứt với những sự việc liên quan đến tình thương yêu và bệnh tật Sự cắt đứt này có tác dụng làm nguôi ngoai nên trong giai đoạn này, không nên tìm cách làm vui cho người bệnh cho mà để cho nỗi buồn được diễn tiến
Trang 39Giai đoạn V (chấp nhận buông xuôi, sẵn sàng cho cái chết): Họ cảm nhận rằng cái chế là không thể tránh khỏi: “Rồi cũng sẽ xong thôi”; “Tôi không thể chống lại được nó, tốt nhất là nên chuẩn bị đón nhận nó” Lúc này
họ rất muốn có người thân bên cạnh
Bác sĩ Kübler-Ross đưa ra mô hình này sau khi phỏng vấn và khảo sát hơn 500 bệnh nhân đang cận kề với cái chết Do đó, mô hình này lúc đầu được áp dụng cho những bệnh nhân giai đoan cuối Về sau, bác sĩ Kübler-Ross mở rộng mô hình lý thuyêt này cho bất kỳ dạng mất mát (loss) khác của một cá nhân Những mất mát này có thể là cái chết của người thân, bị bỏ rơi, kết thúc một mối quan hệ, ly dị, khởi bệnh v.v…
Theo BS Kübler-Ross, không phải tất cả các giai đoạn này đều xảy ra theo thứ tự cũng như không phải tất cả mọi người đều kinh qua tất cả các giai đọan này Tuy nhiên, BS Kübler-Ross nhấn mạnh rằng một người sẽ luôn luôn kinh qua ít nhất hai giai đoạn
Phản ứng của một người trước một tin buồn rất khác nhau và không ai giống ai Thông thường, người ta sẽ dao động qua lại giữa hai (hay nhiều hơn) giai đoạn, lập lại một vài lần trước khi đi qua giai đoạn đó Một số người có thể bị kẹt vào một giai đoạn mà thôi Phụ nữ thường có khuynh hướng kinh qua 5 giai đoạn hơn đàn ông
Dù còn nhiều tranh cãi, nhưng mô hình Kübler-Ross rất nổi tiếng và thường được trích dẫn trong các khóa học về giao tiếp y khoa, đặc biệt là về
kỹ năng thông báo tin buồn Qua nghiên cứu các tài liệu về mô hình này, chúng tôi nhận thấy đây là mô hình khá phù hợp để sử dụng phân tích các giai đoạn diễn ra phản ứng stress ở bệnh nhân UTM
Trang 401.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến phản ứng stress
Stress và giới tính
Stress có ảnh hưởng đến cả thể chất và tinh thần ở cả hai giới nam và
nữ nhưng chúng tôi chưa tìm thấy công trình nghiên cứu nào đề cập và nghiên cứu đến vấn đề này
Stress và lứa tuổi
Trong một nghiên cứu năm 2009 về stress lo âu ở học sinh lớp 12 trường trung học phổ thông (THPT) Phan Bội Châu, Phan Thiết, Bình Thuận, người ta nhận thấy, có 38% học sinh có biểu hiện stress lo âu
Nghiên cứu đã cho thấy , có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa stress lo âu với giới tính và học lực, đó là, giới nữ có tỷ lệ stress lo âu cao hơn
ở giới nam (44% so với 29%), bên cạnh đó, học sinh sống ở trọ có tỷ lệ stress
lo âu cao hơn học sinh sống ở gia đình mình (44% so với 37%) [42]
Stress có thể gặp ở mọi lứa tuổi, từ trẻ em, trẻ vị thành niên, cán bộ công chức, người về hưu… nhưng để thấy được mối quan hệ khác nhau giữa stress với các yếu tố này thì cần có nhiều nghiên cứu chuyên sâu về stress trên mọi lứa tuổi
Stress và trình độ học vấn
Nghiên cứu do một số chuyên gia khoa y tế gia đình và cộng đồng thuộc Đại học Y Wake Forest (Mỹ) tiến hành Đối tượng nghiên cứu là 1.031 người lớn có trình độ học vấn khác nhau và hiện đang làm việc trong nhiều môi trường cũng khác nhau
Họ được giám sát trong vòng 8 ngày liên tiếp và được yêu cầu ghi lại các sự kiện mà họ cho là gây stress xảy ra hằng ngày Kết quả được sắp xếp theo mức độ trầm trọng của tình trạng stress
Tổng kết cho thấy, những người có trình độ đại học bị stress trong gần