1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những đặc điểm rối nhiễu hành vi ở trẻ tự kỷ

123 802 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 123
Dung lượng 1,48 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Để hiểu rõ hơn những biểu hiện ở trẻ tự kỷ, từ đó có những biện pháp thích hợp cho việc điều trị, tôi lựa chọn việc đi sâu nghiên cứu những đặc điểm về hành vi của trẻ tự kỷ, làm rõ sự

Trang 1

Đại Học Quốc Gia Hà Nội Trường Đại Học Khoa Học-Xã Hội và Nhân văn

- - TRẦN THỊ TUYẾT

Những đặc điểm rối nhiễu hành vi ở trẻ tự kỷ

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Tâm lý học

Hà Nội – 2012

Trang 2

Đại Học Quốc Gia Hà Nội Trường Đại học Khoa học-Xã hội và Nhân văn

- -

TRẦN THỊ TUYẾT

Những đặc điểm rối nhiễu hành vi ở trẻ tự kỷ

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Tâm lý học

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU: ··· 1

1 Tính cấp thiết của đề tài: ··· 1

2 Mục đích nghiên cứu: ··· 2

3 Đối tượng nghiên cứu: ··· 2

4 Khách thể nghiên cứu: ··· 2

5 Nhiệm vụ nghiên cứu: ··· 3

6 Các phương pháp nghiên cứu: ··· 3

7 Giả thuyết khoa học: ··· 3

8 Giới hạn về phạm vi đề tài nghiên cứu: ··· 4

9 Cấu trúc của luận văn: ··· 4

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU··· 5

1.1 Sơ lược về lịch sử nghiên cứu rối nhiễu hành vi và rối nhiễu hành vi ở trẻ tự kỷ: ··· 5

1.1.1 Những nghiên cứu trên thế giới: ··· 5

1.1.2 Những nghiên cứu ở trong nước: ··· 6

1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài nghiên cứu: ··· 9

1.2.1 Khái niệm hành vi:··· 9

1.2.2 Khái niệm rối nhiễu hành vi: ··· 10

1.2.3 Những cách tiếp cận tâm lý về rối nhiễu hành vi: ··· 11

1.3 Khái niệm tự kỷ và những đặc điểm về trẻ tự kỷ: ··· 13

1.3.1 Khái niệm tự kỷ: ··· 13

1.3.2 Những tiêu chuẩn chẩn đoán trẻ tự kỷ: ··· 16

1.3.3 Các hội chứng liên quan tới tự kỷ: ··· 18

1.3.4 Phân loại tự kỷ: ··· 19

1.3.5 Những biểu hiện của trẻ tự kỷ:··· 20

1.4 Khái niệm rối nhiễu hành vi ở trẻ tự kỷ: ··· 21

Trang 4

1.5 Đặc điểm rối nhiễu hành vi của trẻ tự kỷ: ··· 22

1.5.1 Rối nhiễu hành vi thể hiện về mặt tương tác xã hội: ··· 22

1.5.2 Rối nhiễu về khả năng hiểu và sử dụng công cụ ngôn ngữ: ··· 23

1.5.3 Rối nhiễu hành vi thể hiện qua khả năng tưởng tượng: ··· 23

1.5.4 RNHV thể hiện thông qua những hành vi bất thường:··· 24

1.6 Các kỹ thuật trị liệu hành vi ở trẻ tự kỷ: ··· 27

CHƯƠNG 2: TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: ··· 31

1 Tổ chức nghiên cứu: ··· 31

1.1 Nghiên cứu lý luận: ··· 31

1.2 Nghiên cứu thực tiễn: ··· 31

1.2.1 Chọn mẫu nghiên cứu và địa bàn nghiên cứu: ··· 31

2 Các phương pháp nghiên cứu: ··· 33

2.1 Phương pháp phân tích tài liệu bằng văn bản: ··· 33

2.2 Phương pháp quan sát: ··· 33

2.3 Phương pháp hỏi chuyện, phỏng vấn sâu: ··· 35

2.4 Trích dẫn một số trường hợp được quan sát: ··· 36

2.5 Một số nguyên tắc đạo đức trong công tác nghiên cứu: ··· 36

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊ CỨU THỰC TIỄN ··· 38

3 Những đặc điểm rối nhiễu hành vi ở trẻ tự kỷ: ··· 38

3.1 Các loại hành vi của nhóm trẻ TK ở gia đình và ở trường: ··· 38

3.1.1 Những đặc điểm HV thể hiện qua khả năng ngôn ngữ:··· 41

3.1.2 Những đặc điểm hành vi thể hiện qua khả năng giao tiếp, tương tác xã hội ··· 43

3.1.3 Những hành vi bất thường: ··· 44

3.2 Những đặc điểm hành vi ở môi trường gia đình: ··· 47

3.2.1 Những hành vi ngôn ngữ: ··· 48

Trang 5

3.2.2 Những hành vi tương tác,giao tiếp với cha, mẹ, mọi người trong gia

đình: ··· 50

3.2.3 Những hành vi bất thường về mặt cơ thể: ··· 54

3.3 Những hành vi của trẻ tự kỷ ở trường học: ··· 57

3.3.1 Những hành vi ngôn ngữ: ··· 58

3.3.2 Những hành vi thể hiện qua tương tác với giáo viên, với bạn bè: ···· 60

3.3.3 Hành vi bất thường ở trẻ tự kỷ: ··· 62

TRƯỜNG HỢP 1: ··· 66

1 Tiểu sử và bệnh sử: ··· 66

2 Hành vi của N.T.M được thể hiện trong quá trình quan sát: ··· 66

2.1 Hành vi tại gia đình: ··· 66

2.2 Hành vi được quan sát tại lớp học: ··· 69

TRƯỜNG HỢP 2: ··· 74

1 Tiểu sử và bệnh sử: ··· 74

2 Hành vi của H.A.T được thể hiện trong quá trình quan sát: ··· 74

2.1 Hành vi tại gia đình: ··· 74

2.2 Hành vi tại lớp học: ··· 78

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ··· 83

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Các chữ viết tắt Xin đọc là

CARS The childhood autism rasing scale ICD- 10 The international classification diseases- 10 DSM- IV Diagnostic and statistical manual of mental disorder ĐTB Điểm trung bình

RNHV Rối nhiễu hành vi

TK Tự kỷ

HV Hành vi

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Rối loạn tự kỷ là một trong những rối loạn về mặt tinh thần, ngày một gia tăng mạnh ở trẻ nhỏ, có tính chất tiến triển mạn tính Hiện nay nguyên nhân của hội chứng tự kỷ vẫn còn nhiều vấn đề chưa được sáng tỏ, cho nên việc chữa trị cho trẻ mắc chứng tự kỷ cũng gặp nhiều khó khăn Điểm nổi bật ở trẻ mắc hội chứng tự kỷ là những khó khăn về ngôn ngữ, giao tiếp xã hội, rối nhiễu về hành vi và nhận thức, Các em luôn sống thu mình trong thế giới riêng của các em Chính vì thế các em gặp rất nhiều khó khăn trong việc hoà nhập xã hội, khả năng hiểu biết, khám phá môi trường xung quanh, khó khăn trong việc biểu đạt bản thân và học các kỹ năng ứng xử xã hội

Các nghiên cứu gần đây cho thấy , tỷ lệ mắc hội chứng tự kỷ khá cao trong dân số , bình quân vào khoảng từ 58 đến 60 trẻ tự kỷ trên 10.000 trẻ được sinh ra (theo số liệu năm 2003 của Trung tâm kiểm soát và Phòng ngừa bệnh của Mỹ) Theo nghiên cứu trên 10000 trẻ tại Anh và Thuỵ Điển , con số trẻ tự kỷ là 91 trẻ, gần bằng 1% ( Lorna Wing , trong cuốn The Autistic Spectrum) Khái niệm “dịch tự kỷ” đã xuất hiện ở quốc gia đông dân nhất thế giới này Như vâ ̣y , hội chứng tự kỷ chiếm tỷ lê ̣ khá cao trong dân số [11]

Ở Việt Nam, mặc dù chưa có những nghiên cứu, điều tra và thống kê chính thức, nhưng theo tình hình chung, số trẻ được đưa đến các bệnh viện, các cơ sở y tế và được phát hiện mắc chứng tự kỷ ngày càng tăng lên

Trước tình hình đó, rất nhiều phụ huynh có con bị tự kỷ tỏ ra hoang mang lo sợ không những về sự giảm sút về mặt trí tuệ của con mình, mà còn

Trang 9

vật, gây ảnh hưởng đến bản thân trẻ và những người xung quanh trẻ Bên cạnh đó là y học hiện nay vẫn chưa giải quyết được triệt để vấn đề bệnh tự

kỷ Vì những lý do đó nhiều khi bố mẹ không dám cho trẻ ra ngoài chơi, không dám cho trẻ tiếp xúc với ai, vì sợ trẻ gây phiền toái cho người khác Việc quản lý hành vi ở trẻ tự kỷ thực sự là vấn đề khó khăn và nan giải đối với các phụ huynh Họ rất mong muốn con mình có thể cải thiện được tình hình đó, giúp trẻ có thể hoà nhập với cộng đồng tốt hơn

Dưới góc độ tâm lý học, đã có nhiều đề tài, luận án nghiên cứu liên quan đến trẻ tự kỷ như: nghiên cứu về nhận thức, giao tiếp, phương pháp can thiệp Để hiểu rõ hơn những biểu hiện ở trẻ tự kỷ, từ đó có những biện pháp thích hợp cho việc điều trị, tôi lựa chọn việc đi sâu nghiên cứu những đặc điểm về hành vi của trẻ tự kỷ, làm rõ sự ảnh hưởng của những hành vi

ấy đến việc học tập, sinh hoạt và giao tiếp của trẻ tự kỷ Từ đó đề xuất các biện pháp thích hợp nhằm giảm thiểu những hành vi kém thích ứng và tăng cường những hành vi thích hợp, giúp trẻ hoà nhập tốt hơn với cuộc sống xã

hội Chính vì vậy, tôi quyết định lựa chọn đề tài “Những đặc điểm rối nhiễu hành vi ở trẻ tự kỷ”

2 Mục đích nghiên cứu

Tìm ra và phân tích những đặc điểm về rối nhiễu hành vi của trẻ tự kỷ

3 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là “Những đặc điểm rối nhiễu hành

vi ở trẻ tự kỷ”

4 Khách thể nghiên cứu

Giới hạn phạm vi khách thể là các trẻ tự kỷ trên địa bàn Hà Nội

- Chúng tôi lựa trọn nhóm nghiên cứu với số lượng là 10 trẻ TK với một số đặc điểm sau:

- Độ tuổi: 4- 5 tuổi

Trang 10

- Giới tính: 7 trẻ nam và 3 trẻ nữ, được chia thành 3 nhóm: nặng, trung bình và nhẹ (3 trẻ ở mức nặng, 4 trẻ ở mức trung bình, 3 trẻ ở mức nhẹ)

- Những trẻ này đều được chẩn đoán bởi các bác sĩ tầm thần nhi, các cán bộ tâm lý ở viện nhi Trung Ương, trung tâm Phúc Tuệ, trung tâm Tuệ tâm (trực thuộc hội bảo trợ quyền trẻ em Việt Nam) nơi mà trẻ đang được chữa trị trong phạm vi địa bàn Hà Nội

- Hoàn cảnh gia đình: những trẻ này đang sống cùng bố mẹ, ông bà, anh- chị- em ruột cùng ở trên địa bàn Hà Nội Tiền sử gia đình của các trẻ này chưa có ai bị mắc các bệnh về tâm thần

- Chúng tôi lựa chọn nhóm đối chứng là 10 trẻ bình thường đang học tại trường mẫu giáo Những trẻ này đang học tại trường mầm non tư thục Mai Động, thuộc quận Hoàng Mai- Hà Nội

5 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nghiên cứu lý luận: Tổng hợp và phân tích những tài liệu ở trong và

ngoài nước liên quan đến rối nhiễu hành vi ở trẻ tự kỷ; làm rõ cơ sở lý luận

và các khái niệm công cụ liên quan đến đề tài nghiên cứu

Nghiên cứu thực tiễn

- Làm rõ những đặc điểm và mức độ rối nhiễu hành vi ở trẻ tự kỷ,

- Phân tích và so sánh giữa hành vi của trẻ tự kỷ và trẻ bình thường

6 Các phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp quan sát

- Phương pháp nghiên cứu trường hợp,

- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

- Phương pháp phỏng vấn sâu

7 Giả thuyết khoa học

Trang 11

- Những hành vi rối nhiễu của trẻ tự kỷ thể hiện có nhiều điểm khác nhau ở cả hai môi trường gia đình và nhà trường

- Hành vi của trẻ tự kỷ có những đặc điểm khác biệt với trẻ bình thường

8 Giới hạn vê phạm vi của đề tài nghiên cứu

8.1 Giới hạn về địa bàn nghiên cứu:

- Nhóm trẻ tự kỷ tại các gia đình và các trung tâm chữa trị cho trẻ tự

kỷ trên địa bàn Hà Nội

- Nhóm trẻ em không mắc chứng tự kỷ đang học tại các trường mẫu giáo trên địa bàn Hà Nội

8.2 Giới hạn về độ tuổi nghiên cứu: Từ 4-5 tuổi (ở cả trẻ tự kỷ và trẻ

bình thường)

8.3 Giới hạn về nội dung nghiên cứu: chúng tôi tập trung nghiên cứu chủ

yếu về mặt hành vi của trẻ, cụ thể là:

+ Những hành vi của trẻ được biểu hiện tại gia đình trẻ,

+ Những hành vi của trẻ được thể hiện ở trường học, trung tâm chăm sóc trẻ tự kỷ

9 Cấu trúc của luận văn

Luận văn gồm có ba phần: Phần mở đầu, phần nội dung (gồm 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài; chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu; chương 3: Kết quả nghiên cứu thực tiễn) và kết luận, kiến nghị

Trang 12

Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài

1.1 Sơ lược về lịch sử nghiên cứu vấn đề rối nhiễu hành vi và rối nhiễu hành vi ở trẻ tự kỷ

1.1.1 Những nghiên cứu trên thế giới

Vấn đề rối nhiễu hành vi ở trên thế giới đã được quan tâm nghiên cứu từ cuối thế kỷ 19, trong đó có một số tên tuổi nổi tiếng là các nhà tâm thần học, tâm lý học, giáo dục học nổi tiếng như: V.N Miaxishev, M.J Eysench, Xukhareva và Inxevit

Trong lĩnh vực này có thể kể đến các thành tựu nổi bật của một số tác giả, đó là:

Theo Leo Kanner, một nhà Tâm thần học người Mỹ thuộc viện John Hopkins (1943) đã nghiên cứu trên một nhóm trẻ được đưa tới viện với những biểu hiện bất kỳ lạ, ông chỉ ra rằng những đứa trẻ này có những dạng hành vi khác thường, ông gọi là dạng tự toả ban đầu ở trẻ nhỏ (các rối loạn

về tiếp xúc cảm xúc có tính tự kỷ) Ông đã mô tả chi tiết các hành vi của nhóm trẻ này nhưng đã trọn ra một số nét đặc biệt có thể coi là quan trọng hàng đầu trong việc chẩn đoán Những đặc điểm này bao gồm: thiếu quan hệ tiếp xúc về mặt tình cảm với người khác, thể hiện cách lựa trọn các thói quen hàng ngày rất giống nhau với tính cách kì dị và tỉ mỉ, không hề nói năng hoặc cách nói khác thường rõ rệt, rất ham thích xoay vần các đồ vật và thao tác khéo léo, có khả năng tốt về nhận thức không gian và trí nhớ vẹt, trái ngược về tình trạng khó khăn trong các lĩnh vực khác, hình thức bề

ngoài có vẻ nhanh nhẹn, hấp dẫn và thông minh Sau này ông chỉ dẫn chỉ cần hai đặc điểm đầu tiên cũng đủ để dự đoán Ông cũng nhấn mạnh tình trạng này có thể thấy được từ khi đứa trẻ ra đời hoặc trong 30 tháng đầu [8,tr22]

Trang 13

Năm 1944, một bác sĩ tâm thần người Áo là Hans Asperger 1980), ông đã sử dụng thuật ngữ Autism khi nghiên cứu trên một nhóm trẻ trai có hành vi khác thường Ông mô tả như sau: Ngôn ngữ của trẻ phát triển bình thường, tuy nhiên trong cách diễn tả và phát âm nhiều cung điệu lên xuống không thích hợp với hoàn cảnh Có những rối loạn trong cách sử dụng đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất “con, tôi”, lẫn lộn với ngôi thứ hai và thứ ba Trẻ vẫn có tiếp xúc về mặt xã hội nhưng có xu hướng thích cô đơn, đơn độc Rối loạn đặc biệt nhất trong hội chứng này là cách suy luận rườm rà, phức tạp, không thích ứng với điều kiện, hoàn cảnh xã hội Những nét khác thường này được phát hiện khi trẻ được 3 tuổi trở lên hoặc bắt đầu đi học Những trẻ mang hội chứng này có sở thích đặc biệt về toán học và có khả năng trí nhớ tốt một cách lạ thường [4,tr21]

(1906-Nghiên cứu của Kira (2004) liên quan đến rối loạn hành vi : “Hầu hết trẻ tự kỷ có nét đặc trưng như : trải qua nhiều thời gian với những hành vi ứng xử bối rối, xao đô ̣ng mà điều này khiến trẻ tự kỷ khác với những trẻ bình thường khác Chúng có thể nhìn chằm chằm vào khoảng không hàng giờ, ném những đồ vật một cách vô căn cứ trong cơn tức giận Biểu lô ̣ viê ̣c không thích con người (kể cả bố me ̣), thích những hà nh đô ̣ng bất thường

mô ̣t cách vô thức Trẻ thể hiện như đang sống trong thế giới riêng của mình

Mô ̣t vài cá nhân trẻ tự kỷ có năng khiếu đă ̣c biê ̣t trong mô ̣t lĩnh vực nào đó như: âm nha ̣c, toán học” [dẫn theo 27, tr12]

1.1.2 Những nghiên cứu ở trong nước

Từ những năm 80 của thế kỷ XX trở lại đây, ở Việt Nam bắt đầu xuất hiện nhiều công trình nghiên cứu về rối nhiễu hành vi, đặc biệt là rối nhiễu hành vi ở trẻ em

Trang 14

Nghiên cứu của Ngành Tâm thần học Việt Nam trong phạm vi cả nước (1992), tiến hành trên các trẻ em từ 10- 17 tuổi cho thấy có 3,7% có rối nhiễu hành vi trong số 124.194 em (khoảng 21.960 em) Trong đó tỷ lệ của trẻ em nam cao hơn tỷ lệ của trẻ em nữ [dẫn theo tài liệu số 23,tr15]

Nghiên cứu của trung tâm NT trên những trẻ có vấn đề được đưa đến khám và điều trị tại bệnh viện Đống Đa (1991- 1996) với báo cáo chuyên đề

“Mã hoá- phân loại rối nhiễu tâm lý trẻ em và thanh thiếu niên Việt Nam” cũng cho thấy có 287/717 (xấp xỉ 39%) trẻ có rối nhiễu hành vi (bao gồm các biểu hiện hung hãn, học sút, lang thang, trốn học)

Một công trình nghiên cứu của cố giáo sư Đặng Phương Kiệt (1997- 1999) trên 1266 học sinh phổ thông trung học ở Hà Nội cũng cho thấy có

117 em có rối nhiễu hành vi, chiếm 9,24% trong đó rối nhiễu hàng đầu là nói rối, trốn học, bỏ tiết

Nghiên cứu của Hoàng Cẩm Tú- Viện Nhi Trung Ương trên hai phường ở Hà Nội về nguyên nhân gây RNHV và bị ngược đãi ở trẻ em, nghiên cứu này đưa ra kết luận: tỉ lệ các rối loạn tâm thần và cảm xúc ở trẻ

em và thanh thiếu niên chiếm 19,64% trong đó RNHV chiếm 6% và nam cao hơn nữ 1/1,63 lần

Có thể thấy, rối nhiễu hành vi là vấn đề lớn, thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trong các lĩnh vực khác nhau Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu chỉ nghiên cứu đơn lẻ hay một số yếu tố về RNHV Các công trình nghiên cứu này tập trung nhiều ở những khách thể lớn, trẻ vị thành niên, những công trình nghiên cứu về RNHV ở trẻ tự kỷ còn rất hạn hẹp, có thể kể đến một số nghiên cứu sau:

Nghiên cứu “Tìm hiểu về một số yếu tố gia đình và hành vi của trẻ tự kỷ” ở Khoa Tâm Thần Bệnh viện Nhi Trung ương do Bs Quách Thuý Minh

Trang 15

và cộng sự thực hiện có đề cập đến những hành vi khác thường ở trẻ tự kỷ

và cách tiến hành điều trị tâm vận động khi có sự kết hợp của gia đình

Thời gian gần đây cũng có rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu về trẻ tự kỷ (Nghiên cứu của tác giả Ngô Xuân Điệp về “Nhận thức của trẻ tự

kỷ tại thành phố Hồ Chí Minh” (luận án tiến sĩ- Viện Tâm lý-2009), nghiên cứu đã chỉ ra thực trạng mức độ nhận thức cũng như một số đặc điểm trong nhận thức của trẻ tự kỷ tại thành phố Hồ Chí Minh Luận án không nghiên cứu về hành vi của trẻ tự kỷ nhưng luận án cũng đã đề cập đến một số hành

vi của trẻ tự kỷ được ghi nhận trong quá trình nghiên cứu: trẻ tự kỷ có những biểu hiện la hét nơi công cộng, giật đồ vật từ tay của người khác, trẻ

có biểu hiện thờ ơ hay quá gắn bó vào một đồ vật nào đó [6]

Nghiên cứu của tác giả Vũ Thị Hải Oanh về “Những liệu pháp tâm lý được sử dụng trong trị liệu cho trẻ tự kỷ” (Luận văn tốt nghiệp, khoa Tâm lý -2006), một trong số những vấn đề của nghiên cứu chỉ ra rằng: Trẻ tự kỷ có rất nhiều vấn đề về hành vi như gào khóc ăn vạ hàng giờ, tự cào cấu bản thân mình, hung tính với người khác liệu pháp hành vi giúp trẻ có được hành vi thích ứng để hoà nhập với xã hội từ đó đi tới loại bỏ hành vi kém thích nghi [19]

Nghiên cứu gần đây của tác giả Nguyễn Thị Mẫn về “Giao tiếp giữa cha mẹ với con cái là trẻ tự kỷ trên địa bàn Hà Nội” (Luận văn thạc sĩ, khoa Tâm Lý , 2010) Nghiên cứu đã chỉ ra những hạn chế trên bình diện giao tiếp giữa những bậc cha mẹ có con tự kỷ với chính con cái mình, bên cạnh đó nghiên cứu cũng đề cập đến những biểu hiện của trẻ tự kỷ được thể hiện trong quá trình giao tiếp với bố mẹ như những hành vi xa lánh bố mẹ, sự hạn chế về biểu đạt ngôn ngữ trong quá trình giao tiếp [17]

Mặc dù chưa có tác giả nào đề cập một cách cụ thể cũng như nghiên cứu chi tiết về hành vi của trẻ tự kỷ, nhưng những công trình, đề tài nghiên

Trang 16

cứu ấy đã giúp chúng tôi được bổ sung nhiều tư liệu quý báu và làm phong phú thêm cho đề tài nghiên cứu của chúng tôi Do vậy, nhằm làm rõ hơn nữa

về những rối nhiễu hành vi ở trẻ tự kỷ, ảnh hưởng của những hành vi đó tới cuộc sống của trẻ như thế nào? cách khắc phục ra sao? Thiết nghĩ đây là một trong những đặc điểm của trẻ tự kỷ cần được quan tâm nghiên cứu

Cho đến nay khoa học vẫn chưa xác định được chính xác căn nguyên của bệnh tự kỷ Mỗi cách tiếp cận khác nhau lại đưa ra những giả thuyết khác nhau về nguyên nhân của những rối loạn này chẳng hạn như: nguyên nhân do cấu tạo não, căn nguyên tâm lý, nhiễm độc thuỷ ngân, tổn thương trong khi sinh Do đó việc đi tìm căn nguyên cuả có vẫn đang được tiếp tục nghiên cứu

Như vậy, những trẻ mắc bệnh tự kỷ ngày càng được xã hội quan tâm

và có cơ hội phát triển như những trẻ em khác Nhưng để điều này trở thành hiện thực, chúng ta cần có sự nỗ lực của nhiều chuyên ngành, lĩnh vực khác nhau, trước hết chúng ta phải hiểu rõ và hiểu đúng về bệnh tự kỷ

1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài nghiên cứu

1.2.1 Khái niệm hành vi

Có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm hành vi:

Các nhà sinh vật học cho rằng: hành vi là cách sống và hoạt động của con người trong một môi trường nhất định, tạo nên sự thích nghi của cơ thể đối với môi trường Hành vi của con người theo quan điểm này bị bó hẹp trong hoạt động nhằm thích nghi với môi trường để đảm bảo sự tồn tại của con người trước môi trường đó

Chủ nghĩa hành vi quan niệm: hành vi là tổ hợp các phản ứng của cơ thể để trả lời các kích thích tác động vào cơ thể, tức hành vi là tất cả các phản ứng hay cách thức để con người thích ứng với môi trường Tuy nhiên,

Trang 17

tự nhiên mà còn thích ứng cả với môi trường xã hội và con người cũng có sự lựa chọn kích thích, chỉ trả lơì những kích thích có lợi cho bản thân mình

Theo quan điểm của tâm lý học Hoạt động: hành vi là quá trình con người xã hội tích cực tác động lên các đối tượng bên ngoài, lên những người khác và lên chính bản thân mình, qua đó con người cải tạo tự nhiên, cải tạo

xã hội và cải tạo chính bản thân con người Phát triển hànhvi người, do đó gắn liền với phát triển văn hoá; con đường của sự phát triển hành vi người được xác định là con đường phát triển văn hoá [10, tr18]

Trên cở sở tham khảo các quan điểm trên và trong giới hạn đề tài nghiên cứu về hành vi ở trẻ tự kỷ, chúng tôi tán thành với quan điểm của

trường phái Tâm lý học Hành Vi: Hành vi là tổ hợp các phản ứng của cơ thể

để trả lời các kích thích tác động vào cơ thể, tức hành vi là tất cả các phản ứng hay cách thức để con người thích ứng với môi trường

1.2.2 Khái niệm rối nhiễu hành vi

Ranh giới giữa hành vi bình thường và hành vi bị rối nhiễu nhiều khi không dễ gì phân biệt, cần phải hiểu rõ rối nhiễu hành vi là gì?

Có nhiều cách hiểu khác nhau về rối nhiễu hành vi:

Hai tác giả là Reismas và Hollambe cho rằng: rối nhiễu hành vi là những hành vi xuất hiện ở những trẻ chống đối và gây rối trật tự xã hội

Giáo sư Debray- Ritzen (Trường Đại học Y khoa Pari, Pháp) đưa ra quan điểm: Rối nhiễu hành vi là những hành vi không phù hợp với chuẩn,

mà biểu hiện của hành vi đó nếu thường xuyên xảy ra thì sẽ ảnh hưởng xấu đến sự thích nghi xã hội của cá nhân

Trong cuốn DSM-IV (sách phân loại bệnh của Hoa Kỳ) có định nghĩa

về RNHV như sau: “RNHV là kiểu hành vi lặp đi lặp lại và kéo dài trong đó các quyền cơ bản của người khác hay các chuẩn mực xã hội hay luật lệ lớn phù hợp với lứa tuổi bị vi phạm”

Trang 18

Trong bảng phân loại bệnh quốc tế ICD- 10 (1992) đưa ra: rối nhiễu hành vi là toàn bộ những hành vi chống đối xã hội; xâm phạm hay khiêu khích lặp đi lặp lại nhiều lần và kéo dài Một hành vi như vậy trong hình thái cực độ sẽ đưa đối tượng đến chỗ vi phạm các quy tắc xã hội không tương ứng với lứa tuổi của trẻ

Theo quan điểm của TS Nguyễn Công Khanh trong giáo trình “Tâm

lý trị liệu” có viết: rối nhiễu hành vi là những hành vi xâm phạm các quyền

cơ bản của người khác hay các chuẩn mực xã hội hoặc luật lệ nặng nề không phù hợp với lứa tuổi

Rối nhiễu hành vi hiểu theo hướng tiếp cận của Tâm lý học Hành vi: những hành vi được xem là rối nhiễu là phản ứng trước một tập hợp những kích thích, phản ứng đã được học tập qua kinh nghiệm trong quá khứ và hiện tại, được điều khiển bởi những kích thích mà người ta phát hiện trong môi trường

Từ những ý kiến trên, chúng ta có thể hiểu rối nhiễu hành vi là những hành vi lặp lại nhiều lần và kéo dài, những hành vi này không phù hợp với chuẩn mực xã hội và lứa tuổi, những hành vi đó ảnh hưởng đến việc học tập, sinh hoạt, lao động của cá nhân và ảnh hưởng đến những người khác

Từ định nghĩa trên có thể thấy RNHV có một số đặc trưng sau:

- Là những hành vi không thích ứng với môi trường văn hoá, xã hội nhất định

- Đó phải là hành vi lặp đi lặp lại nhiều lần và kéo dài

- Những hành vi đó ảnh hưởng đến học tập, lao động và các hoạt động vui chơi khác

- Những hành vi mang tính chất chống đối xã hội, vi phạm các chuẩn mực xã hội (có tính đến lứa tuổi)

Trang 19

Mỗi cách tiếp cận khác nhau lại có những cách lý giải khác nhau về nguyên nhân xuất hiện những rối nhiễu hành vi

Hướng tiếp cận văn hoá xã hội giả định rằng hành vi của con người

cả hành vi bình thường và hành vi bất thường được định hình, quy định bởi gia đình, xã hội và văn hoá trong đó họ đang sống Tất cả chúng ta là một bộ phận trong hệ thống xã hội gồm gia đình, bạn bè, người quen biết, thậm chí người lạ hệ thống xã hội đó có thể hỗ trợ hành vi bất thường, thậm chí khiến cho hành vi bất thường diễn ra Những rối nhiễu hành vi xuất phát và

là một bộ phận trong quan hệ tương tác của cá nhân với môi trường bên ngoài có thể là điều kiện thúc đẩy và duy trì hành vi rối nhiễu ấy

Theo hướng tiếp cận Tâm lý học Hành vi: Cả hành vi bình thường và

hành vi bất thường được xem như là một phản ứng trước một tập hợp kích thích, phản ứng đã được học tập qua kinh nghiệm trong qúa khứ và hiện tại được điều khiển bởi những kích thích mà người ta phát hiện trong môi trường Những nhà hành vi này khẳng định rằng những hành vi bệnh lý (ngoại trừ những hành vi được hình thành từ nguyên nhân thực tổn) có thể nhận dạng và biến đổi được, mà cách tốt nhất là tập trung vào sự biến đổi hành vi hơn là sự thay đổi bất kỳ bệnh lý cơ bản nào [15, tr74-75]

Nguồn gốc của liệu pháp hành vi nằm trong thuyết điều kiện hoá kinh điển và thuyết điều kiện hoá thao tác được phát triển vào nửa đầu thế kỷ 20 bởi Pavlov (1917) và Skinner (1953) Mặc dù khác biệt đáng kể trong cách giải thích về hành vi, song cả hai lý thuyết này đều cho rằng:

- Hành vi được quyết định bởi những sự kiện bên ngoài

- Những kinh nghiệm trong quá khứ quyết định hành vi hiện tại

- Có thể thay đổi hành vi thông qua sự thay đổi trực tiếp những sự kiện bên ngoài Không cần thiết phải hiểu hoặc thay đổi “tinh thần” hay “thế giới bên trong” của cá nhân

Trang 20

- Hành vi nếu được củng cố sẽ tăng lên về tần suất hay được lặp đi lặp lại; còn nếu không được củng cố hay bị trừng phạt thì sẽ giảm tần xuất hoặc không lặp lại nữa

Mục đích của trị liệu hành vi: Mục đích tổng quát là loại bỏ hành vi không thích ứng trong người bệnh và giúp người bệnh học được những khuôn mẫu hành vi có hiệu quả hơn Trị liệu hành vi nhằm vào việc thay đổi những hành vi có vấn đề thông qua việc tiếp thu những kinh nghiệm

Để làm được như vậy, nhà trị liệu cần phải phân biệt được giữa những điều kiện hiện tại đang duy trì hành vi rối nhiễu và những điều kiện có nguồn gốc nảy sinh trong quá khứ; cần phải xác định các nguồn cung cấp những điều kiện duy trì hành vi rối nhiễu và xác định vai trò của các nhân tố từ môi trường: Gồm tất cả những kích thích, ảnh hưởng bên ngoài hành vi của người bệnh

1.3 Khái niệm tự kỷ và một số đặc điểm của trẻ tự kỷ

1.3.1 Khái niệm tự kỷ

Thuâ ̣t ngữ Autism khi chuyển ngữ sang tiếng Viê ̣t , được di ̣ch theo ba cụm từ khác nhau: Tự kỷ, tự tỏa, tự bế Tuy nhiên, người ta hay sử dụng cụm từ tự kỷ

Có rất nhiều quan niệm và định nghĩa khác nhau về trẻ tự kỷ, những định nghĩa này rất phong phú và đa dạng, dưới đây là một số quan niệm phổ biến:

Rối loạn phát triển lan tỏa (Pervasive Developmental Disorders) là các rối loạn được đặc trưng bởi những bất thường về chất lượng trong các mối quan hệ xã hội và phương thức giao tiếp cũng như có một số sở thích và hành vi bị thu hẹp, định hình lặp đi lặp lại Các bất thường về chất lượng này hình thành một nét lan tỏa mà người ta tìm thấy trong hoạt động của chủ thể

Trang 21

ở mọi hoàn cảnh với nhiều mức độ khác nhau Trong đa số các trường hợp,

sự phát triển không bình thường ngay từ tuổi trẻ nhỏ và có một vài trường hợp các trạng thái bệnh lý này thấy rõ trong 5 năm đầu cuộc đời [16, tr.236]

Do hội chứng tự kỷ nằm trong rối loạn phát triển lan tỏa, nên trẻ tự kỷ cũng

có những bất thường liên quan đến quan hệ xã hội, giao tiếp, hành vi định hình Và, điếu này sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển nhận thức của trẻ tự kỷ, đặc biệt là nhận thức về các kỹ năng ứng xử trong giao tiếp, quan hệ xã hội

Theo quan điểm của Kanner (1943) cho rằng: “Tự kỷ là sự rút lui cực đoan của một số trẻ em từ lúc mới bắt đầu cuộc sống, triệu trứng đặc biệt của bệnh là một sự hiếm thấy, đó là một sự rối loạn từ cội rễ, là sự không có khả năng của những trẻ này trong việc thiết lập các mối quan hệ bình thường với những người khác và hành động một cách bình thường với các tình huống từ lúc chúng bắt đầu cuộc sống.”

Không đề cập nhiều đến sự rối loạn phát triển tâm lý như các tác giả khác, Kira (2004) quan tâm hơn đến rối loạn hành vi : “Hầu hết trẻ tự kỷ có nét đặc trưng như : trải qua nhiều thời gian với những hành vi ứng xử bối rối , xao đô ̣ng mà điều này khiến trẻ tự kỷ khác với những trẻ bình thường khác Chúng có thể nhìn chằm chằm vào khoảng không hàng giờ , ném những đồ

vâ ̣t mô ̣t cách vô căn cứ trong cơn tức giâ ̣n Biểu lô ̣ viê ̣c không thích con người (kể cả bố me ̣), thích những hành động bất thường một cách vô thức Trẻ thể hiện như đang sốn g trong thế giới riêng của mình Mô ̣t vài cá nhân trẻ tự kỷ có năng khiếu đặc biệt trong một lĩnh vực nào đó như: âm nha ̣c, toán học” [11]

Tác giả cho thấy một loạt các hành vi bất thường liên quan đến giao tiếp, tính cách, sở thích và năng khiếu của trẻ tự kỷ Với những hành vi bất

Trang 22

thường trên sẽ ảnh hưởng tới hành vi học tập trong phát triển nhận thức của trẻ tự kỷ

Theo Hiê ̣p Hô ̣i Tâm Thần Quốc Tế : Chứng tự kỷ là một sự rối loa ̣n phát triển ảnh hưởng đến khả năng giao tiếp của con người , đến hình thức quan hệ với người khác và đáp ứng phù hợp của con người tới môi trường Chứng tự kỷ bắt đầu trong thời thơ ấu và được cho là một rối loa ̣n suốt đời

Mô ̣t vài triệu chứng có liên hệ với chứng tự kỷ có thể thay đổi trong số những cá nhân , nhưng nói chung , những người tự kỷ có xu hướng suy giảm quan hê ̣ xã hô ̣i , giao tiếp, vâ ̣n đô ̣ng và cảm giác mà ảnh hưởng đến hành vi của họ Những cá nhân bi ̣ tự kỷ cũng có thể cho thấy một loa ̣t những hành vi ứng xử bao gồm hiếu động thái quá , thiếu chú ý , bốc đồng, sự hung tí nh, và

tự gây thương tích [22]

Ở việt Nam cũng có nhiều tác giả đưa ra quan điểm về hội chứng tự

kỷ

Theo Nguyễn Văn Siêm và cộng sự: “Rối loạn tự kỷ ở trẻ nhỏ là rối loạn hành vi của sự phát triển, đặc trưng bởi sự phát triển bất thường xuất hiện rõ trước 3 tuổi, với rối loạn đặc thù trong ba lĩnh vực: tương tác xã hội, giao tiếp, hành vi định hình và lặp lại”

Một quan niệm khác được đưa ra bởi TS Võ Nguyễn Tinh Vân (2002), đã làm rõ hơn sự rối loạn phát triển ở trẻ tự kỷ khi đề cập đến “phát triển không đồng đều”, trong đó có những nét phát triển chậm nhưng cũng

có những mặt phát triển khá thậm chí vượt trội hơn trẻ bình thường chứng

tự kỷ thường mang nét lạ lung, phát triển không đồng đều về hành vi và khả năng, trẻ thường hết sức phát triển về một số lĩnh vực, cho thấy những khả năng ít thấy ở những trẻ khác cùng lứa, nhưng lại yếu kém về khả năng căn

Trang 23

bản ở những lĩnh vực khác Chẳng hạn, trẻ có thể đọc sách thông thạo nhưng

tỏ ra không hiểu lời nói và yêu cầu đơn giản

Từ những quan điểm và khái niệm ở trên, chúng ta có thể đưa ra khái

niệm chung về tự kỷ: Tự kỷ là một hội chứng đa khuyết tật, là một dạng rối

loạn phát triển ở trẻ nhỏ, biểu hiện từ những năm đầu hay một sự giảm sút rõ rệt, hoạt động bất thường đặc trưng trong ba lĩnh vực là tương tác

xã hội, giao tiếp, hành vi định hình lặp lại

Những bất thường đều ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng học tập và giao tiếp xã hội ở trẻ tự kỷ

1.3.2 Những tiêu chuẩn chẩn đoán trẻ tự kỷ

Trên thế giới hiện có nhiều thang đo, trắc nghiệm đánh giá về mức độ của trẻ tự kỷ Nhưng nhìn chung, người ta hay sử dụng sách thống kê và chẩn đoán các rối loạn tâm thần DSM IV trong chẩn đoán cho trẻ tự kỷ

Nội dung của DSM- IV trong chẩn đoán trẻ tự kỷ:

A Có tổng cộng sáu (hoă ̣c nhiều hơn ) trong số những yếu tố được

mô tả ở (1),(2) và (3) trong đó có ít nhất hai yếu tố ở (1), mô ̣t ở (2) và một ở (3):

1 Biến đổi về chất lươ ̣ng trong các tương tác xã hô ̣i được biểu hiê ̣n trong ít nhất hai trong những yếu tố sau đây :

a Biến đổi rõ rê ̣t trong sử dụng những hành vi phi ngôn ngữ đa dạng như : tiếp xúc bằng mắt , vẻ mặt, tư thế, cử chỉ để điều chỉnh các tương tác xã hội

b Mất khả năng thiết lâ ̣p mố i quan hê ̣ với những ba ̣n bè cùng tuổi tương ứng với mức đô ̣ phát triển

c Đương sự không tự ý tìm cách chia sẻ những vui sướng , những thích thú hoặc những thành đạt của mình với người khác (ví dụ : không tìm cách lấy tay chỉ hoặc lấy những đồ vật mà mình quan tâm đến )

Trang 24

d Mất sự tác đô ̣ng qua la ̣i về xã hô ̣i hoă ̣c cảm xúc

2 Biến đổi chất lươ ̣ng về sự giao tiếp đươ ̣c biểu hiê ̣n bởi ít nhất

mô ̣t trong những yếu tố sau đây :

a Châ ̣m trễ hoă ̣c mất hoàn t oàn sự phát triển ngôn ngữ nói (không

có toan tính bù trừ bằng những phương thức giao tiếp khác như cử chỉ hoặc

a Bâ ̣n tâm tâ ̣p trung vào mô ̣t hoă ̣c nhiều kiểu vui thú giới ha ̣n và

đi ̣nh hình, bất thường về cường độ hoặc về định hướng

b Gắn bó cứng nhắc vào những thói quen hoă ̣c những nghi thức

đă ̣c biê ̣t và không có chức năng

c Kiểu cách vâ ̣n đô ̣ng đi ̣nh hình và lă ̣p đi lă ̣p la ̣i (Ví dụ: vỗ tay,

vă ̣n xoắn những bàn tay và ngón tay, cử đô ̣ng phức ta ̣p toàn thân)

d Bâ ̣n tâm dai dẳng đối với mô ̣t số phần của đồ vâ ̣t

B Châ ̣m trễ hoă ̣c tính chất bất thường về hoa ̣t đô ̣ng , khở i đầu trước ba tuổi, trong ít nhất mô ̣t trong những lĩnh vực sau đây : (1) tương tác

xã hội , (2) ngôn ngữ cần thiết để giao tiếp xã hô ̣i , (3) trò chơi biểu tượng hoă ̣c tưởng tượng

C Rối loạn không thể quy cho hội chứng Rett hoặc rối loạn tan rã Ở

Trang 25

Ngoài ra , một vài trẻ có hành vi tự hủy hoa ̣i như đâ ̣p đầu vào tường, nền nhà , cắn bàn tay của mình Có những trẻ có hành vi đập tay , dâ ̣m chân

và những cơn nóng giận cực điểm ; đă ̣c biê ̣t khi chúng bi ̣ bắt buô ̣c phải thay đổi thói quen hàng ngày

1.3.3 Các hội chứng liên quan đến tự kỷ

Hội chứng Aspenger: người bệnh tỏ ra vụng về, sợ leo trèo, khi bước

đi vung vẩy hai tay và chúi đầu về phía trước, tư duy thực tế, tính cách kỳ quặc, trí nhớ tốt, nhớ lâu, có thể có ám ảnh theo chủ đề Song họ vẫn có khả năng lao động và sống độc lập

Hội chứng Rett: chỉ gặp ở trẻ nữ và tuổi khởi phát thường từ 7 – 24 tháng Với các biểu hiện lâm sàng đặc trưng như mất các hoạt động khéo léo, mất một phần hoặc không phát triển ngôn ngữ, thường có các động tác đặc biệt là uốn vẹo người, rối nhiễu chức năng vận động dễ dẫn đến co cứng Hội chứng này còn kèm theo sự chậm phát triển trí tuệ

Hội chứng Landau – Klefner: được đặc trưng bởi những biểu hiện thu mình, rập khuôn, hạn chế ngôn ngữ Trẻ mắc hội chứng này đã có thời kỳ phát triển bình thường khi còn trước tuổi đi học, nhưng sau 6, 7 tuổi khả năng ngôn ngữ giảm dần về vốn từ, cách diễn đạt… và được xem là trẻ tự kỷ “thoái

lùi”

Hội chứng gãy nhiễm sắc thể X: là một dạng chậm phát triển trí tuệ, trong đó nhiễm sắc thể X có nhánh bị ngắn Bệnh nhân có biểu hiện chậm phát triển ngôn ngữ, tăng động, thiếu tiếp xúc mắt – mắt, hay vỗ tay Khi trưởng thành có thể có những nét đặc trưng nổi bật như mặt dài, tay dài…

Tâm thần phân liệt: thường xuất hiện ở tuổi lớn hơn, rất ít trẻ em được chẩn đoán là tâm thần phân biệt trước 13 tuổi, và đáp ứng các tiêu chuẩn chẩn đoán bệnh tâm thần phân liệt

Trang 26

Chậm phát triển tâm thần: họ có quan hệ với người khác, có sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp và các chức năng không tách biệt nhau

Loạn thần phân rã (bao hàm hội chứng Heller, loạn thần cộng sinh, mất trí trẻ em) Đặc điểm của rối loạn này là:

+ Có một thời kỳ phát triển bình thường từ 2 – 4 năm

+ Tan rã hành vi

+ Mất các kỹ năng nhận thức nặng và nhanh

+ Mất thích thú các vật

+ Biểu hiện thoái lùi nặng (đái dầm, ỉa đùn)

Ở Việt Nam, tự kỷ còn có những tên gọi khác như tự tỏa hay tự bế

Nhưng tự kỷ là danh từ được sử dụng rộng rãi hơn cả Trong giới hạn nghiên cứu của tôi, tôi xin đưa ra một định nghĩa chung nhất về trẻ tự kỷ như sau:

Trẻ tự kỷ là những trẻ có những khiếm khuyến rõ rệt về 3 mặt chính sau: khả năng giao tiếp (ngôn ngữ và phi ngôn ngữ), hành vi khác thường và

kỹ năng xã hội (kỹ năng tự phục vụ)

+ Tự kỷ không điển hình: sự phát triển bất thường hoặc suy giảm các triệu chứng của tự kỷ chỉ biểu hiện lần đầu tiên sau 3 tuổi (Ví dụ: trẻ phát triển ngôn ngữ và giao tiếp bình thường, biết nói, biết chào hỏi người khác, không có hành vi đập phá đồ đạc nhưng đến 3 tuổi lại mất dần ngôn ngữ và

xa lánh mọi người)

Trang 27

- Nhóm xa lánh mọi người: coi người khác như không tồn tại, không thể hiện một dạng cảm xúc nào, không có vẻ gì đồng cảm

- Nhóm thụ động: không giao tiếp bằng mắt nhưng khi có sự nhắc nhở cũng có thể đáp ứng với ánh mắt của người khác

- Nhóm thụ động nhưng kỳ quặc: trẻ tích cực tiếp cận người thân mà không chú ý các bạn cùng trang lứa; không chú ý gì đến cảm xúc và nhu cầu của người đang nghe mình nói Trẻ thường nhìn chằm chằm, có khi ôm chặt, ghì chặt lấy người khác (trẻ thường có biểu hiện như ngửi, liếm tay, hít hơi người khác)

- Nhóm quá hình thức, khoa trương: trẻ thường bám vào các quy tắc một cách cứng nhắc, không hiểu các ý nghĩa cảm xúc của người khác

Trẻ tự kỷ thuộc những dạng tự kỷ khác nhau lại biểu hiện những hành

vi cụ thể cũng khác nhau, phân loại như vậy giúp chúng tôi có thể ghi lại một cách chi tiết từng hành vi nhỏ lẻ của trẻ khi quan sát, tuy nhiên sự phân loại như trên cũng chỉ mang tính tương đối

1.3.5 Những biểu hiện của trẻ tự kỷ

Thông thường, những trẻ em tự kỷ có thể được phát hiện qua những biểu hiện ở một số mặt sau:

Tương tác xã hội: Trẻ gặp khó khăn trong quan hệ với mọi người

xung quanh Ví dụ: Trẻ tự kỷ thường thích được chơi một mình tách rời khỏi mọi người xung quanh, tỏ ra lãnh đạm, không quan tâm đến những người khác thậm chí cả những người thân trong gia đình Đôi khi có những trẻ tự

kỷ có chủ động tương tác với người khác nhưng lại theo một cách rất kỳ quặc, khó được chấp nhận: trẻ ngửi tay hay liếm má của bất kỳ người nào

mà trẻ tiếp xúc Hầu như trẻ lẩn tránh ánh mắt của người khác, ít khi nhìn vào mắt của người đối diện Ngay cả đối với những trẻ em và người lớn bị tự

kỷ có sự phát triển chức năng tốt cũng không có hay ít duy trì quan hệ bạn

Trang 28

bè bên ngoài phạm vi gia đình và thường bị coi là kỳ cục trong quan hệ xã hội

Giao tiếp xã hội: Khó khăn trong việc hiểu các công cụ ngôn ngữ và

phi ngôn ngữ, đặc biệt trong các tình huống giao tiếp Ví dụ: Không hiểu ý nghĩa của cử chỉ, điệu bộ, biểu hiện nét mặt, ngữ điệu giọng nói và lời nói của người khác Nếu nói được thì trẻ có thể không sử dụng hoặc rất thụ động trong sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp với người khác Thậm chí có nhiều trẻ

sử dụng ngôn ngữ không đúng tình huống Ví dụ: Người lớn hỏi trẻ ăn cơm chưa? trẻ trả lời là: Hôm nay trời mát quá

Khả năng tưởng tượng: Trẻ gặp nhiều khó khăn trong việc phát triển

các hoạt động chơi và tưởng tượng Ví dụ: có rất nhiều hạn chế trong các hoạt động đòi hỏi trí tưởng tượng Chơi với các đồ vật theo một cách rập khuôn, kỳ quặc, chỉ quan tâm đến một vài chi tiết nhất định chứ không hiểu chức năng của đồ vật

Ngoài ba vấn đề nổi bật trên, trẻ tự kỷ thường hay biểu hiện những hành vi rập khuôn, hành vi tự lạm dụng, định hình (không thay đổi) trong những hoạt động khác nhau Ví dụ: trẻ chỉ chịu mặc một số quần áo nhất định, ăn những thức ăn nhất định chứ nhất định không chịu ăn thức ăn khác, trẻ chỉ đi trên một con đường từ nhà tới trường, nhất định không chịu đi đường khác Khi đã nắm được tiến trình thực hiện một nhiệm vụ nào đó thì

sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc điều chỉnh chúng để phù hợp với hoàn cảnh mới

Tự kỷ là một khuyết tật suốt đời và thường bắt đầu trong tuổi ấu thơ Phần lớn các trẻ tự kỷ bắt đầu thể hiện các dấu hiệu đặc trưng của tự kỷ vào khoảng 2 đến 3 tuổi Một số trẻ phát triển bình thường trong một số năm đầu nhưng sau trẻ mất dần các kỹ năng: ngôn ngữ, hứng thú quan hệ xã hội và

Trang 29

1.4 Khái niệm rối nhiễu hành vi của trẻ tự kỷ

Dựa trên những đặc điểm của khái niệm rối nhiễu hành vi: RNHV là những hành vi lặp lại nhiều lần và kéo dài, những hành vi không phù hợp với chuẩn mực xã hội và lứa tuổi, những hành vi làm ảnh hưởng đến việc học, sinh hoạt, lao động của cá nhân và ảnh hưởng đến những người xung quanh

Dựa trên tiêu chuẩn chẩn đoán trẻ tự kỷ của DSM-IV và những biểu hiện của trẻ tự kỷ đã được trình bày ở trên, chúng tôi đưa ra khái niệm RNHV ở trẻ tự kỷ như sau:

Những hành vi được coi là rối nhiễu ở trẻ tự kỷ là những hành vi mang tính bệnh lý, nằm trong tiêu chuẩn chẩn đoán các loại bệnh rối nhiễu tâm trí ở trẻ em Đó là những kiểu hành vi, những mối quan tâm và hoạt động lặp đi lặp lại hoặc rập khuôn và bó hẹp với một mức độ tập trung hoặc cường độ bất thường, ở trẻ có thể có hành vi kích động, tự hành hạ bản thân

và ảnh hưởng đến những người xung quanh trẻ

1.5 Đặc điểm rối nhiễu hành vi ở trẻ tự kỷ

Hành vi ở trẻ tự kỷ, ở đây nhìn từ góc độ là những hành vi rối nhiễu gây cản trở cho việc sinh hoạt, học tập của trẻ cũng như ảnh hưởng đến giao tiếp xã hội của trẻ và ảnh hưởng tới cuộc sống của trẻ và những người xung quanh Những hành vi rối nhiễu của trẻ tự kỷ được thể hiện ở ba mặt sau:

1.5.1 Rối nhiễu hành vi thể hiện về mặt ương tác xã hội

* Nhóm trẻ có hành vi xa lánh mọi người: Đây là loại rối nhiễu thường thấy nhất, dễ phát hiện ngay từ nhỏ Những trẻ này thường có biểu hiện coi mọi người không tồn tại Khi có ai gọi trẻ không phản ứng, có ai nói với trẻ thì trẻ cũng không trả lời, trên khuôn mặt trẻ hầu như không biểu lộ cảm xúc nào, trừ những lúc trẻ giận giữ, buồn hoặc vui cực độ Nếu chạm tay vào người trẻ thì trẻ có biểu hiện co lại Nếu trẻ muốn lấy một đồ vật gì

Trang 30

thì thường nắm lấy mu bàn tay hay cánh tay người lớn mà không đặt tay vào lòng bàn tay họ, sau đó kéo gần họ đến vật mà nó muốn lấy, khi đã được như

ý trẻ lại lờ họ đi Nhóm trẻ này thường không để ý đến cảm xúc buồn vui của bố mẹ, hầu như không có thái độ đồng cảm, trẻ hầu như bị thu hút vào vào những hoạt động không mục đích của riêng mình Trẻ thường tỏ ra thờ ơ bực bội với các trẻ khác (nhóm trẻ thường) [25]

* Nhóm trẻ thụ động: Nhóm trẻ này không xa lánh hẳn với mọi người nhưng cũng không chủ động, ít giao tiếp mắt với người khác có thể giao tiếp với người khác nhưng mức độ tập trung ngắn

1.5.2 Rối nhiễu về khả năng hiểu và sử dụng công cụ ngôn ngữ trong

giao tiếp

Đa số trẻ đều chậm nói và gặp những trở ngại trong cách nói, có trẻ hầu như không bao giờ nói một tiếng nào, có trẻ có khả năng bắt chước tiếng kêu của loài vật hoặc có thể nhắc lại một từ riêng biệt nào đó, nhưng hầu như không

có tiến bộ thêm Nhiều trẻ nói được nhưng chậm hơn so với trẻ bình thường, trẻ hay nhắc lại lời của người khác như con vẹt còn gọi là “chứng nhại lời”

Ví dụ: người lớn hỏi trẻ “con có uống nước cam không?”, trẻ trả lời bằng cách nhắc lại “con có uống nước cam không?” [4] Khả năng hiểu lời của người khác nói cũng rất hạn chế Nhiều trẻ hầu như không hiểu những gì người khác nói với chúng, có một số trẻ thì hiểu một phần nào đó nhưng thường là trong phạm vi môi trường quen thuộc Khả năng sử dụng các công

cụ phi ngôn ngữ để giao tiếp: Đa số các trẻ tự kỷ chỉ biết cách nắm lấy cánh tay của người lớn để lôi kéo hay dẫn chỗ đến chỗ mà trẻ muốn lấy, phải mất một thời gian trẻ mới có thể chỉ chỏ, nhưng thường dùng cả cánh tay chứ ít khi dùng ngón tay

1.5.3 Những rối nhiễu về khả năng tưởng tượng

Trang 31

Các trẻ tự kỷ hầu như không biết chơi trò chơi giả vờ và các hoạt động tưởng tượng giống như người khác Một số trẻ khác có thể chơi các đồ chơi xếp hình nhưng chỉ là những hình đơn giản, các động tác trong khi chơi thường lặp lại một cách máy móc, vị trí của các hình trẻ xếp thường theo một vị trí bất biến Khi chúng nghe một câu chuyện hay xem một bộ phim hoạt hình trẻ không có khả năng tưởng tượng để hiểu được ý nghĩa của câu chuyện đó mặc dù chúng có thể đọc đúng từng từ Chính vì thế chúng không thể hiểu được cảm xúc của người khác và cũng không thể trao đổi ý kiến với người khác [25]

1.5.4 Rối nhiễu hành vi thể hiện trực tiếp qua những hành vi bất thường

- Hành vi định hình

Theo Kanner, hành vi định hình là biểu hiện điển hình của trẻ tự kỷ Trẻ tự kỷ có những hành vi rập khuôn , lặp đi lă ̣p la ̣i: trẻ thích đi đi lại lại trong phòng, thích xếp các đồ vật thành hàng thẳng ; Vă ̣n, xoắn các ngón tay

và bàn tay; Nói đi nói lại một vài từ mà bé thích ; Thích đến những nơi quen thuô ̣c; Thích chạy vòng vòng và quay vòng vòng ; Thích chơi các đồ chơi phát ra tiếng động; Thích bật tắt các nút điện hay điện tử ,… Những trẻ khác nhau, sở thích về các hành vi đi ̣nh hình khác nha u [16]

- Không thi ́ch sự thay đôỉ

Hầu như trẻ tự kỷ muốn tất cả mo ̣i điều phải quen thuô ̣c , gần gũi, trẻ rất ghét sự thay đổi, xáo trộn: từ những đồ dùng cá nhân , đồ dùng ho ̣c tâ ̣p cho đến nơi chốn s inh hoa ̣t hàng ngày Đối với trẻ tự kỷ, sự không quen thuô ̣c đồng nghĩa với sự thiếu an toàn , trẻ sẽ cảm thấy bất an khi có một người la ̣, đồ vâ ̣t la ̣ hay đến mô ̣t nơi xa la ̣ (chẳng hạn một đứa trẻ tự kỷ chỉ đi trên một con đường quen thuộc để đến trường, nếu mẹ nó dẫn nó đi bằng

Trang 32

đường khác, có thể gần hơn nhưng nó khóc oà và nhất định không chịu đi con đường đó) Do đó viê ̣c báo trước cho trẻ chuẩn bi ̣ tư tưởng để đón nhâ ̣n những điều mới la ̣ là mô ̣t việc hết sức quan trọng và nhiều khi trẻ cần sự

giúp đỡ từ phía người lớn [11]

- Thiếu nha ̣y cảm hoặc quá nhạy cảm

Ngày nay những chuyên gia dạy trẻ tự kỷ rất quan tâm đến giác quan của trẻ Theo quan sát của chúng tôi , hầu hết trẻ tự kỷ ít nhiều đều có vấn đề về giác quan: biểu hiê ̣n viê ̣c trẻ hay đưa các đồ vâ ̣t lên ngửi , liếm các vâ ̣t trẻ cầm trên tay, ăn muối không thấy mă ̣n , ăn chanh không chua , quay tròn lâu không chóng mă ̣t , thích leo trèo cao, thích lộn đầu xuống đất, đâ ̣p đầu vào tường không biết đau, bịt tai khi nghe thấy âm thanh l ạ chẳng hạn như tiếng khoan tường nhà, tiếng máy xay sinh tố… Do đó mà tri ̣ liê ̣u cảm giác

(sensory therapy) cho trẻ tự kỷ là mô ̣t lĩnh vực rất đươ ̣c quan tâm hiê ̣n n ay, nhằm giúp các em thích ứng hơn, đỡ sợ hãi hơn trong cuộc sống nhộn nhịp với những thay đổi liên tục của môi trường xung quanh trẻ [32]

- Như ̃ng gắn bó bất thường

Trẻ tự kỷ ở một giai đoạn nào đó có những gắn bó với đồ vật theo

cách không bình thường như : Trẻ hàng ngày chỉ sưu tầm các tờ báo , vỏ chai, đồ hô ̣p, tờ li ̣ch, sợi dây, ống hút, vỏ kẹo; Trẻ có thích những khối hình có cạnh sắc nhọn, dẹt, chóp; Trẻ thích những đồ vật sinh hoạt trong nhà như : chén, bát, xoong, chảo, dĩa nhưng hoàn toàn không thích đồ chơi bình

thường Với những loa ̣i đồ vâ ̣t này , trẻ tìm trong đó có một ý nghĩa thích thú nào đó mà người lớn không biết , trẻ có thể chơi cả ngày đối với những đồ vật đó mà không thấy chán Nếu như khi đang chơi với những đồ vật này mà

bị lấy đi thì trẻ thường có thái độ chống đối rất dữ rội và có thể khóc, ăn vạ

Trang 33

rất lâu, cha mẹ trẻ sẽ rất vất vả để dỗ dành trẻ và đưa trẻ về trạng thái ban đầu [29]

- Hành vi gây phiền toái nơi công cô ̣ng

Khi ở chỗ đông người, trẻ tự kỷ thường có những hành vi gây ảnh hưởng đến những người xung quanh trẻ, chẳng hạn trẻ có thể gây ồn, la hét, kéo áo, giật đồ, làm đổ vỡ đồ đạc của người khác mà không hiểu hậu quả của mình gây ra, bởi vì trẻ không hiểu những những quy tắc ứng xử nơi công cộng Do trẻ tự kỷ có những hành vi khác thường gây phiền toái cho những người xung quanh nên các bâ ̣c phụ huynh rất nga ̣i khi cho con đi đến chỗ đông người Thường trẻ tự kỷ ít quan tâm đến cá c chuẩn mực xã hô ̣i, muốn làm theo sở thích cá nhân nên rất dễ có những hành vi trái ngược với sự mong đơ ̣i của người khác như : la khóc khi người lớn không đáp ứng sở thích của trẻ, làm đổ một đống đồ khi vào siêu thị , chụp nhanh những đồ vật từ tay người bán hàng, tự lấy đồ ở túi, giỏ của người khác, giâ ̣t nhanh mô ̣t món đồ chơi từ tay đứa trẻ bên cạnh ,… mà không mắc cỡ , ngượng ngùng Nhưng theo các chuyên gia về trẻ tự kỷ , dù trẻ có làm vậy đi nữa , phụ huynh vẫn nên cho trẻ đến nơi công cô ̣ng , điều này giúp trẻ sống hòa nhâ ̣p với mo ̣i người và lâu dài sẽ có lợi cho sự phát triển của trẻ, [11]

Trang 34

sự chú ý của người lớn đến trẻ Ví dụ: có nhiều trẻ tự kỷ có thói quen ăn uống, ngủ vào những khung giời nhất định trong ngày, nhưng có những hôm

vì lí do nào đó mà bố mẹ chậm chễ trong việc cho trẻ ăn và ngủ thì trẻ có thể

sẽ có những hành vi quấy khóc, ăn vạ, bứt rứt trong người…

bị tự kỷ cũng có thể có biể u hiê ̣n những hành vi phá phách Trẻ có thể tấn công lại bản thân hay những người khác khi không được đáp ứng nhu cầu kịp thời và đi đến môi trường không quen thuộc

1.6 Các kỹ thuật trị liệu ở trẻ tự kỷ

Nhìn chung trị liệu hành vi là một trong những kỹ thuật trị liệu phổ biến

và đem lại hiệu quả rõ rệt cho trẻ tự kỷ Trong khuôn khổ của luận văn, chúng tôi có chích dẫn một số kỹ thuật trị liệu của trường phái Tâm lý học

hành vi:

Kỹ thuật hành vi mẫu:

Nhà trị liệu đặt ra những mẫu hành vi có thể quan sát được và yêu cầu người bệnh luyện tập trước ở phòng trị liệu và sau đó là tự luyện tập Những hành vi ấy phần lớn là được giảng giải, thực hành trực tiếp trong quá trình trị liệu Chúng thường được diễn tả trong một nhóm định sẵn người bệnh quan sát và luyện tập thông qua việc đóng vai trong suốt quá trình trị liệu

Kỹ thuật điều kiện hoá thao tác:

Trang 35

Sau khi theo dõi sự hình thành những vấn đề cơ bản, nhà trị liệu làm việc với người bệnh để bắt đầu dập tắt những hành vi không mong muốn Việc dập tắt một cách đột ngột hành vi nào đó là rất khó khăn Do vậy, quá trình dập tắt từ từ bằng cách củng cố tích cực những hành vi mới phải được thiết lập thường xuyên Củng cố tích cực là nhằm làm tăng cường độ hoặc tần số xuất hiện của một hành vi nào đó kèm theo yếu tố củng cố (khen thưởng) khi đáp ứng được người bệnh tiến hành ngay lập tức Nhà trị liệu khen thưởng bằng lời hoặc bằng các hình thức khác thì phản ứng sẽ có khuynh hướng lặp đi lặp lại và sẽ làm tăng tần số Kỹ thuật này đặc biệt hữu dụng đối với trẻ em

Kỹ thuật điều kiện hoá thao tác là một quy trình thực hiện gồm nhiều thao tác sau:

Thiết lập hành vi:

- Củng cố tích cực: tức là làm tăng cường độ hoặc tần suất xuất hiện

của hành vi nào đó kèm theo yếu tố củng cố (khen thưởng) Chiến lược củng

cố tích cực được thực hiện là khi đáp ứng được tiến hành ngay lập tức bằng khen thưởng thì phản ứng sẽ có khuynh hướng lặp đi lặp lại và sẽ làm tăng tần số xuất hiện lại của hành vi, đây là nguyên tắc chiến lược nhằm làm thay thế hành vi không mong muốn Ví dụ: một đứa trẻ được điểm 10 ngay sau

đó bố em thưởng cho em 1 món quà mà em yêu thích, như vậy lần sau em sẽ phấn đấu được nhiều điểm 10 hơn nữa

- Củng cố âm tính: tức là làm gián đoạn kích thích gây ghét sợ mà đó

chính là hậu quả của một đáp ứng làm tăng tần suất và cường độ của hành vi

đó, đó là sự thoát khỏi hay là tránh hậu quả gây ghét sợ gây củng cố hành vi

đó Ví dụ Ayllon (1959) đã điều trị một trường hợp là một bệnh nhân mỗi ngày vào phòng y tá 16 lần, càng cấm bệnh nhân đó vào thì bệnh nhân lại

Trang 36

càng vào, sau đó ông để bệnh nhân vào tự do và không để ý đến sự ra vào của bệnh nhân, sau 7 tuần mỗi ngày bệnh nhân đó chỉ vào 2 lần

Giảm thiểu hành vi: bao gồm một số liệu pháp sau

- Chiến lược dập tắt hành vi: Khi một hành vi không được tiếp tục

củng cố thì nó sẽ có chiều hướng giảm dần và từ từ bị dập tắt Ví dụ như, khi đứa trẻ ít nhận được sự quan tâm hơn, khi nó giận giữ nó sẽ bị nhốt trong phòng một mình điều này có thể làm gián đoạn sự giận giữ của nó Sự dập tắt này rất có lợi trong điều trị khi những ứng xử bị rối loạn được duy trì bởi môi trường củng cố một cách vô tình (đứa trẻ khóc, người lớn chạy lại dỗ dành nó và cho nó kẹo) Trong những hoàn cảnh nhất định, có thể chúng ta

đã vô tình củng cố ứng xử xấu cho đứa trẻ mà chúng ta không hề biết, chiến lược dập tắt hành vi có thể giúp chúng ta giảm tần xuất hành vi không mong muốn của đứa trẻ và từ đó loại bỏ hoàn toàn hành vi ấy

- Gây sự nhàm chán: những đáp ứng xảy ra trước kích thích mang tính

củng cố sẽ bị giảm đi khi kích thích vượt quá mức và khi đó tạo ra sự nhàm chán Chẳng hạn như: một đứa trẻ có thói quen xé sách báo, xé bất cứ cái gì bằng giấy mà nó có trong tay, ta có thể sử dụng hiện tượng gây nhàm chán bằng cách đưa thật nhiều sách báo cho nó xé mà không cần giai thích và quan tâm đến hành động của nó cho đến khi nó chán và bỏ bớt sách báo đi

và không xé giấy nữa

Liệu pháp gây ghét sợ: sự ghét sợ được coi như một cuộc chơi trong

đó kích thích gây khó chịu được thể hiện như là hậu quả của một hành vi, điều này làm giảm cường độ và tần suất xuất hiện của hành vi đó (sôc điện, thuốc gây nôn ) Thông qua việc trải nghiệm cảm giác sợ hãi đó, con người xuất hiện sự ghét sợ đối với chúng, điều đó thay thế những mong muốn trước đây của họ

Trang 37

Ví dụ: một người nghiện rượu được kê một đơn thuốc uống cùng một chút rượu, sau đó họ xuất hiện buồn nôn dữ dội

Bằng cách biết trước hậu quả gây ghét sợ như vậy, bệnh nhân có thể trở nên mạnh mẽ hơn và từ bỏ dần dần thói quen xấu của mình Tuy nhiên liệu pháp này thường gây đau đớn về mặt cơ thể cho nên ít người muốn điều trị bằng phương pháp này

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

Thông qua chương 1, chúng tôi đã cố gắng chỉ rõ các vấn đề lý luận nhằm định hướng đề tài trong các bước nghiên cứu tiếp theo Mặc dù nguồn tài liệu liên quan đến vấn đề RNHV ở trẻ tự kỷ và không nhiều, nhưng chúng tôi

đã hết sức cố gắng tìm hiểu quan điểm của các công trình nghiên cứu trước đó

và làm rõ các khái niệm cơ bản có liên quan như: khái niệm trẻ tự kỷ, khái niệm hành vi và khái niệm RNHV ở trẻ tự kỷ Các vấn đề lý luận nói trên là cơ

sở để chúng tôi thực hiện nghiên cứu của mình

Trang 38

Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu

1 Tổ chức nghiên cứu

1.1 Nghiên cứu lý luận

- Thời gian tiến hành: từ tháng 9/2009 đến tháng 4/2010

- Mục đích: xây dựng cơ sở lý luận của đề tài

- Tổng quan các công trình nghiên cứu và những phương pháp được

sử dụng trong trị liệu cho trẻ tự kỷ

1.2 Nghiên cứu thực tiễn

- Thời gian nghiên cứu: từ tháng 3/2010 đến tháng 3/2011

- Tiến hành sử dụng các thang đo đã được lựa chọn để đánh giá mức

độ rối nhiễu hành vi trên nhóm trẻ tự kỷ đã lựa chọn, đưa ra những đặc điểm rối nhiễu hành vi cơ bản của trẻ,

- So sánh mức độ rối nhiễu hành vi ở trẻ tự kỷ với hành vi của nhóm trẻ thường

1.3 Chọn mẫu nghiên cứu và địa bàn nghiên cứu

Qua một thời gian tìm hiểu tình hình trị liệu và giảng dạy cho trẻ tự kỷ

ở một số trung tâm, ở các gia đình có con bị tự kỷ trên địa bàn Hà Nội Tôi quyết định sẽ tiến hành điều tra nghiên cứu một số trẻ tự kỷ đang được trị liệu tại trung tâm Phúc Tuệ, trung tâm Sao Mai, các trẻ ở khoa Phục hồi chức năng thuộc bệnh viện Nhi trung ương, trường chuyên biệt Tuệ Tâm (Đống Đa, Hà Nội), một số trẻ khác ở các gia đình trên địa bàn Hà Nội

Đây là những trung tâm đi đầu và có thâm niên về trị liệu trẻ tự kỷ, các trung tâm này đã và đang sử dụng nhiều phương pháp khác nhau trong việc dạy trẻ tự kỷ, được tiến hành bởi các kỹ thuật viên, chuyên viên tâm lý, các cô giáo tốt nghiệp từ khoa giáo dục đặc biệt, các trường mẫu giáo Đặc

Trang 39

biệt là việc dạy cho trẻ tự kỷ tại trung tâm luôn có sự giám sát của các chuyên gia có kinh nghiệm, và kết qủa của việc điều trị thường xuyên được các bác sĩ chuyên khoa Tâm thần lượng giá theo từng giai đoạn trị liệu và lứa tuổi của trẻ

Thời gian gần đây, chúng ta thấy nổi lên tình hình chữa trị cho trẻ tự

kỷ tại các gia đình ở địa bàn Hà Nội với hình thức gia đình nhờ cô giáo có khả năng trị liệu cho trẻ tự kỷ đến tại nhà trị liệu Mỗi gia đình tuỳ vào mức

độ nặng nhẹ, đặc điểm cụ thể của con em mình mà tiến hành chữa trị cho trẻ với những phương pháp khác nhau, thông thường là một cô và một trò trong một giờ trị liệu, mỗi ngày từ 1-2 giờ tuỳ theo sự hợp tác của trẻ và sự lựa chọn của gia đình trẻ Việc nghiên cứu hành vi trên những trẻ được trị liệu tại các gia đình sẽ góp phần khái quát và làm rõ nét hơn nữa những hành vi rối nhiễu ở trẻ tự kỷ

Để góp phần làm rõ hơn mức độ rối nhiễu hành vi so với chuẩn hành

vi bình thường Tôi quyết định lựa chọn nhóm đối chứng là những trẻ bình thường có cùng độ tuổi với trẻ tự kỷ, khách thể nghiên cứu là các trẻ đang học tại trường mẫu giáo Mai Động, thuộc phường Mai Động- Quận Hoàng Mai, Hà Nội

Trên cơ sở lựa chọn địa bàn nghiên cứu, tôi quyết định chọn mẫu và

tổ chức nghiên cứu:

Tiến hành nghiên cứu, tìm hiểu những biểu hiện về hành vi của 10 trường hợp trẻ tự kỷ, 10 trẻ thường, với những tiêu chí, thời điểm quan sát là tương đương nhau (45 phút ở cả gia đình và ở lớp học)

2 Các phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau:

2.1 Phương pháp phân tích tài liệu và văn bản:

Trang 40

Phương pháp này bao gồm các giai đoạn như phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa và khái quát hóa lý thuyết, cũng như những nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước đã được đăng tải trên các sách, báo, tạp chí và website Ngoài ra chúng tôi còn nghiên cứu các hồ sơ bệnh án, sổ theo dõi hàng ngày về việc trị liệu của trẻ tự kỷ

2.2 Phương pháp quan sát:

Đây là phương pháp chủ đạo của đề tài nghiên cứu

Quan sát là một phương pháp nghiên cứu trong đó người quan sát sử dụng các quá trình tri giác để thu thập thông tin về hành vi, cử chỉ, lời nói của khách thể nghiên cứu nhằm đạt được mục đích nghiên cứu nhất định

- Khách thể quan sát: Với thời gian có hạn chúng tôi tiến hành quan sát 10 trẻ tự kỷ, mỗi lần quay video là 45 phút học và chơi ở trường, 45 phút khi trẻ ở tại gia đình Chúng tôi cũng quan sát nhóm đối chứng là 10 trẻ thường cũng với thời gian như trên

- Mục đích quan sát: Đối với trẻ tự kỷ, chúng tôi quan sát hành vi, ứng

xử của trẻ trong giờ trị liệu, khi trẻ sống với gia đình, quan sát những hành

vi của trẻ ở trường học, các hành vi của trẻ trong khi chơi Đối với nhóm trẻ thường, chúng tôi tiến hành quan sát những hành vi, ứng xử của trẻ khi chơi với bạn và khi giao tiếp với mọi người trong gia đình

- Cách thức tiến hành quan sát: Để việc quan sát trẻ tự kỷ diễn ra được liên tục, đầy đủ và hiệu quả, chúng thực hiện theo các bước sau:

+ Chúng tôi sử dụng camera (máy canon Legria FS46, bộ nhớ 8GB,

để chế độ quay tự động) ghi lại những hình ảnh chân thực, cụ thể nhất về những biểu hiện bên ngoài của trẻ Bao gồm toàn bộ những đặc điểm về nét mặt, ánh mắt, những hành vi về mặt cơ thể, những hành vi ngôn ngữ và tương tác của trẻ với môi trường xung quanh

Ngày đăng: 23/03/2015, 13:56

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  3.1.  Bảng  biểu  thị  những  hành  vi  của  trẻ  ở  môi  trường  gia  đình và nhà trường.(dẫn theo bảng 3.1 của phụ lục 1) - Những đặc điểm rối nhiễu hành vi ở trẻ tự kỷ
ng 3.1. Bảng biểu thị những hành vi của trẻ ở môi trường gia đình và nhà trường.(dẫn theo bảng 3.1 của phụ lục 1) (Trang 45)
Bảng 3.2. Bảng biểu thị về ngôn ngữ của trẻ tự kỷ ở gia đình và ở  trường học. - Những đặc điểm rối nhiễu hành vi ở trẻ tự kỷ
Bảng 3.2. Bảng biểu thị về ngôn ngữ của trẻ tự kỷ ở gia đình và ở trường học (Trang 48)
Bảng 3.5. Bảng biểu thị các hành vi của trẻ ở gia đình (nhóm trẻ tự - Những đặc điểm rối nhiễu hành vi ở trẻ tự kỷ
Bảng 3.5. Bảng biểu thị các hành vi của trẻ ở gia đình (nhóm trẻ tự (Trang 54)
Bảng 3.6. Bảng biểu thị hành vi ngôn ngữ của trẻ ở gia đình - Những đặc điểm rối nhiễu hành vi ở trẻ tự kỷ
Bảng 3.6. Bảng biểu thị hành vi ngôn ngữ của trẻ ở gia đình (Trang 55)
Bảng 3.8. Bảng biểu thị những hành vi cơ thể ở trẻ - Những đặc điểm rối nhiễu hành vi ở trẻ tự kỷ
Bảng 3.8. Bảng biểu thị những hành vi cơ thể ở trẻ (Trang 61)
Bảng  3.10.  Bảng  biểu  thị  hành  vi  ngôn  ngữ  của  trẻ  ở  trường  học  (nhóm trẻ tự kỷ và nhóm trẻ thường) - Những đặc điểm rối nhiễu hành vi ở trẻ tự kỷ
ng 3.10. Bảng biểu thị hành vi ngôn ngữ của trẻ ở trường học (nhóm trẻ tự kỷ và nhóm trẻ thường) (Trang 65)
Bảng  3.11.  Bảng  biểu thị hành  vi tương  tác  với  giáo viên,  với  bạn - Những đặc điểm rối nhiễu hành vi ở trẻ tự kỷ
ng 3.11. Bảng biểu thị hành vi tương tác với giáo viên, với bạn (Trang 67)
Bảng 1. Các loại hành vi của trẻ tự kỷ và trẻ thường - Những đặc điểm rối nhiễu hành vi ở trẻ tự kỷ
Bảng 1. Các loại hành vi của trẻ tự kỷ và trẻ thường (Trang 97)
Bảng  2:  Bảng  biểu  thị  những  hành  vi  của  trẻ  tự  kỷ  ở  nhà  và  ở  trường. - Những đặc điểm rối nhiễu hành vi ở trẻ tự kỷ
ng 2: Bảng biểu thị những hành vi của trẻ tự kỷ ở nhà và ở trường (Trang 110)
Hình  với  bạn - Những đặc điểm rối nhiễu hành vi ở trẻ tự kỷ
nh với bạn (Trang 111)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w