1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu hành vi đối với việc giữ gìn nghề làm bún truyền thống của người dân làng Phú Đô - Mễ Trì - Từ Liêm - Hà Nội

127 1,2K 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 127
Dung lượng 2,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ việc nhìn nhận, đánh giá nghiêm túc hiện trạng trên, với mong muốn đi sâu tìm hiểu vấn đề, tác giả quyết định lựa chọn đề tài mang tên: “Nghiên cứu hành vi giữ gìn nghề làm bún truyề

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

ĐỖ THỊ THÚY NGA

NGHIÊN CỨU HÀNH VI ĐỐI VỚI VIỆC GIỮ GÌN NGHỀ LÀM BÚN TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI DÂN LÀNG PHÚ ĐÔ – MỄ TRÌ – TỪ LIÊM – HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

Hà Nội – 2012

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -

ĐỖ THỊ THÚY NGA

NGHIÊN CỨU HÀNH VI ĐỐI VỚI VIỆC GIỮ GÌN NGHỀ LÀM BÚN TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI DÂN LÀNG PHÚ ĐÔ – MỄ TRÌ – TỪ LIÊM – HÀ NỘI

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Tâm lý học

Mã số: 60.31.80

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Lê Thị Thanh Hương

Hà Nội – 2012

Trang 3

Mục lục

Trang

Bảng các chữ viết tắt 3

Mở đầu 4

Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 9 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 9

1.1.1.Trên thế giới

9 1.1.2 Ở Việt Nam

18 1.2 Một số vấn đề lý luận về hành vi giữ gìn nghề truyền thống ……… 20

1.2.1 Khái niệm hành vi……… 20

1.2.2 Khái niệm và đặc điểm nghề truyền thống 21

1.2.3 Khái niệm hành vi giữ gìn nghề truyền thống 23

1.3 Nghề làm bún truyền thống và một số đặc điểm tâm lý của

người dân tại làng bún Phú Đô - Mễ Trì - Từ Liêm - Hà Nội

27 1.3.1 Nghề làm bún truyền thống của làng Phú Đô 27

1.3.2 Một số đặc điểm tâm lý của người dân làng Phú Đô 28

1.3.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của làng nghề làm

bún Phú Đô - Mễ Trì - Từ Liêm - Hà Nội 30

Tiểu Kết chương 1 36

Chương 2: TỔ CHỨC, TIẾN TRÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 37 2.1 Tổ chức, tiến trình và phương pháp nghiên cứu lý luận 37

2.1.1 Tổ chức nghiên cứu lý luận 37

Trang 4

2.1.2 Tiến trình nghiên cứu lý luận 37

2.1.3 Phương pháp nghiên cứu lý luận 37

2.2 Tổ chức, tiến trình và phương pháp nghiên cứu thực tiễn………

38 2.2.1 Tổ chức nghiên cứu thực tiễn 38

2.2.2 Tiến trình nghiên cứu thực tiễn 41

2.2.3 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn 41

Tiểu kết chương 2 46

Chương 3: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 47 3.1.Thực trạng hành vi giữ gìn nghề làm bún truyền thống của người dân làng Phú Đô - Mễ Trì - Từ Liêm - Hà Nội

47 3.1.1 Mức độ nhận thức, mong muốn, say mê tìm hiểu của người dân

trong việc tìm hiểu, giữ gìn nghề làm bún truyền thống……… 47

3.1.2 Mức độ tham gia hoạt động sản xuất và động cơ lựa chọn nghề của người dân thôn Phú Đô - Mễ Trì - Từ Liêm – Hµ Néi……… 62

3.1.3 Mức độ lôi cuốn người khác cùng tham gia làm bún của người dân tại Phú Đô - Mễ Trì - Từ Liêm – Hµ Néi

70 3.2 Một số yếu tố ảnh hưởng đến hành vi giữ gìn nghề làm bún truyền thống của người dân 79

3.2.1 Nhóm yếu tố khách quan 79

3.2.2 Nhóm yếu tố chủ quan 84

3.2.3 Một số hoạt động sinh hoạt cộng đồng nhằm giữ gìn nghề truyền thống tại làng bún Phú Đô 86

3.3 Phân tích một số trường hợp điển hình 89

Tiểu kết chương 3 95

Trang 5

Kết luận và khuyến nghị 96 Tài liệu tham khảo 100 Phụ lục 103

Trang 6

MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của đề tài

Việt Nam, đất nước phương đông với nhiều nét văn hoá truyền thống nổi tiếng được bạn bè trên thế giới biết đến và ngợi ca Bên cạnh những nét văn hoá trong giao tiếp ứng xử, nghệ thuật ẩm thực cũng tạo nên nét đẹp văn hoá Á Đông riêng biệt đặc sắc Xuất phát điểm là một nước nông nghiệp, với người dân, “bún” là một món ăn quen thuộc, được chế biến từ gạo, vừa là món quà để

ăn chơi, vừa là món ăn chính phổ biến , có thể kết hợp với nhiều món ăn khác là đặc sản riêng của mỗi vùng miền trên khắp đất nước

Nghề làm bún truyền thống Việt Nam có lịch sử phát triển hàng trăm năm và trên nhiều tỉnh thành cả nước như: nghề làm bún ở Phú Đô - Hà Nội, Vân Cù – Huế, An Nhơn – Bình Định, Cẩm Thạch – Quảng Trị, Đông Cận – Hải Dương, Đông Xuân – Thái Bình,… Đứng trước nhiều khó khăn và thử thách của thời đại mới, nhiều làng nghề bún đã quyết tâm vượt khó, lao động hết sức mình với ý thức quý trọng, giữ gìn nghề truyền thống của cha ông để lại Đồng thời, nhiều làng nghề làm bún không chỉ mang ý nghĩa giữ gìn nghề truyền thống địa phương mà còn là thu nhập ổn định, hấp dẫn trong sự lựa chọn so với nghề khác của người nông dân sau mùa vụ Tuy nhiên, bên cạnh những địa phương phát triển tốt nghề truyền thống , và nguồn thu nhập kinh tế của nông dân từ nghề làm bún là một thế mạnh thì còn có rất nhiều địa phương có nguy cơ nghề làm bún truyền thống bị suy yếu, đang dần có nguy cơ bị mai một do tốc độ

Trang 7

công nghiệp hoá , đô thị hoá quá nhanh đặc biệt ở một số làng nghề ngoại thành

Hà Nội

Thủ đô Hà Nội, vùng đất chứa đựng của lịch sử ngàn năm văn hiến, là nơi hội tụ những nét tinh hoa của nghề, làng nghề truyền thống nhưng chính các quận, huyện ngoại thành Hà Nội lại là nơi có tốc độ đô thị hoá cao, đường quốc

lộ và các khu công nghiệp, khu trung tâm du lịch, thể thao, giải trí dần thay thế ruộng vườn, đất đai mạnh mẽ Kinh tế, văn hoá, tâm lý, xã hội của người dân làng nghề có nhiều sự thay đổi do điều kiện cuộc sống thay đổi Chính vì vậy, người dân có mong muốn thay đổi nghề nghiệp

Làng nghề làm bún Phú Đô - Mễ Trì - Từ Liêm - Hà Nội là một điển hình trong số các làng nghề ngoại thành Hà Nội chịu ảnh hưởng mạnh của xu thế trên

Từ việc nhìn nhận, đánh giá nghiêm túc hiện trạng trên, với mong muốn

đi sâu tìm hiểu vấn đề, tác giả quyết định lựa chọn đề tài mang tên: “Nghiên

cứu hành vi giữ gìn nghề làm bún truyền thống của người dân làng Phú Đô

- Mễ Trì - Từ Liêm - Hà Nội” cho luận văn thạc sĩ Tâm lý học của mình

3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Thực trạng hành vi, những khó khăn thuận lợi và những yếu tố ảnh hưởng đến việc giữ gìn nghề truyền thống của người dân làng Bún Phú Đô - Mễ Trì -

Từ Liêm - Hà Nội

Trang 8

3.2 Khách thể nghiên cứu:

- Số lượng: 200 người dân, trong đó có 110 người sống trong gia đình có làm bún & 90 người sống trong gia đình không làm bún tại làng Phú Đô - Mễ Trì -

Từ Liêm - Hà Nội

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Nhiệm vụ nghiên cứu lý luận:

- Xây dựng cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu các vấn đề về hành vi, động

cơ nhu cầu giữ gìn nghề truyền thống của người dân

4.2.Nhiệm vụ nghiên cứu thực tiễn:

- Nghiên cứu thực trạng hành vi giữ gìn nghề truyền thống của người dân làng bún Phú Đô - Mễ Trì - Từ Liêm - Hà Nội và các yếu tố ảnh hưởng

- Nghiên cứu những yếu tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến việc giữ gìn và phát triển nghề làm bún truyền thống của địa phương

- Đề xuất một số kiến nghị, giải pháp dưới góc độ tâm lý nhằm giữ gìn nghề làm bún truyền thống của làng

5.Giả thuyết nghiên cứu:

Hành vi giữ gìn nghề làm bún truyền thống của người dân làng bún Phú

Đô - Mễ Trì - Từ Liêm - Hà Nội có sự khác biệt giữa những người là thành viên của gia đình có làm bún và gia đình không làm bún

Có tương quan thuận trong hành động thuyết phục, lôi cuốn người khác tham gia giữ gìn nghề truyền thống với mong muốn được giữ gìn, phát triển nghề làm bún của người dân

Một số yếu tố ảnh hưởng đến hành vi giữ gìn nghề làm bún truyền thống của người dân Phú Đô trong đó bao gồm: quá trình đô thị hóa của địa phương,

Trang 9

nghề làm bún vất vả, nặng nhọc nhưng thu nhập thấp và không được xã hội tôn vinh, kính nể

6.Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận:

6.1.1.Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Phân tích các tài liệu có liên

quan, phân tích so sánh, tổng hợp, khái quát hoá,

6.1.2 Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến đóng góp của các nhà

chuyên môn có kinh nghiệm trong lĩnh vực tâm lý học về nội dung cần được xem xét khi xây dựng cơ sở lý luận cho vấn đề nghiên cứu của luận văn

6.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

6.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Đây là phương pháp

chính để thu thập số liệu thực tế cho đề tài nghiên cứu dựa trên hệ thống câu hỏi được thiết kế sẵn Kết cấu bảng câu hỏi gồm các câu hỏi đóng và

mở, kết hợp bổ sung kiểm tra lẫn nhau.Với đề tài này chúng tôi dùng bảng câu hỏi để điều tra nhóm khách thể người dân có hành vi giữ gìn nghề làm

bún truyền thống của làng Phú Đô - Mễ Trì - Từ Liêm - Hà Nội

6.2.2 Phương pháp phỏng vấn sâu: Đây là phương pháp áp dụng để

tìm hiểu sâu và trực tiếp các thông tin có liên quan đến đề tài nghiên cứu, kết hợp với phương pháp điều tra bằng bảng hỏi để khai thác thêm thông

tin, làm sáng tỏ những vấn đề mà phương pháp Ankét chưa điều tra được

Trang 10

6.2.3.Phương pháp quan sát: Đây là phương pháp tìm hiểu gián

tiếp các thông tin có liên quan, phương pháp này được tiến hành xen kẽ trong quá trình thực hiện các phương pháp khác Mục đích nhằm đánh giá

vấn đề một cách khách quan, triệt để hơn

6.2.4 Phương pháp thống kê toán học thông qua việc sử dụng phần mềm SPSS 20: Sử dụng các công thức toán học để xử lý số liệu nghiên

cứu

7.Cấu trúc của luận văn gồm :

Phần mở đầu

Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu

Chương 2: Tổ chức, tiến trình, phương pháp nghiên cứu

Chương 3: Phân tích kết quả nghiên cứu

Kết luận, khuyến nghị

Danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục

Trang 11

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU HÀNH VI GIỮ GÌN NGHỀ LÀM BÚN TRUYỀN THỐNG

1.1.Tổng quan nghiên cứu về hành vi

Hành vi dưới góc độ tâm lý học là một vấn đề đã được nghiên cứu trong

và ngoài nước quan tâm nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau

1.1.1 Nghiên cứu về hành vi trên thế giới

- Nghiên cứu về hành vi theo quan điểm của chủ nghĩa hành vi:

Năm 1913, thuật ngữ “hành vi” xuất hiện với tư cách là một khái niệm của tâm lý học trong bài báo cáo của J.Watson: “Tâm lý học dưới con mắt của nhà hành vi” Từ đó cho đến nay, có rất nhiều trường phái tâm lý học nghiên cứu về hành vi Những vấn đề lý luận về hành vi của mỗi trường phái tâm lý học còn có

sự khác nhau và vì thế chỉ ra cách thức nghiên cứu từng loại hành vi và điều khiển hành vi khác nhau

Thuyết hành vi cổ điển: do nhà tâm lý học người Mỹ J Watson

(1878-1958) sáng lập, ông cho rằng: ở con người cũng như động vật, hành vi được hiểu

là tổng số các cử động bên ngoài nảy sinh ở cơ thể nhằm đáp ứng lại một kích thích Tất cả các hiện tượng tâm lý được quy về những phản ứng của cơ thể, chủ yếu là các phản ứng vận động Ở thuyết này, tư duy đồng nhất với các động tác

Trang 12

ngôn ngữ, còn cảm giác thì đồng nhất với các thay đổi bên trong cơ thể Đơn vị của hành vi là mối quan hệ giữa kích thích và phản ứng” [20, tr.215] Phương pháp cơ bản để nghiên cứu và giải thích hành vi của thuyết cổ điển là công thức:

S  R

Trong đó:

+ S: Tác nhân kích thích (Stimulation)

+ R: Phản ứng, sự trả lời (Reaction, Respond)

Theo J Watson,bất kỳ hành vi nào của người hay động vật đều có thể nghiên cứu một cách khách quan theo công thức trên Dựa vào công thức này các nhà tâm lý học hành vi thời đó hy vọng có thể điều khiển hành vi và điều khiển con người Thuyết hành vi cổ điển cho rằng có thể điều khiển hành vi theo phương pháp “thử và sai”: việc giải quyết vấn đề bao giờ cũng bắt đầu từ những hành động lộn xộn, không kết quả, thử và lỗi Những hành động này được lặp đi lặp lại và đến một lúc nào đó, tất nhiên sẽ xuất hiện hành động đúng có hiệu quả Nếu như vấn đề sẽ tiếp tục được đặt ra thì trước sau cũng hình thành được một

kỹ năng, kỹ xảo nào đó [20]

Thuyết hành vi cổ điển đã có những thành công nổi bật là:

- Với cương lĩnh đầu tiên của mình, thuyết hành vi đã tạo nên một không khí khoa học hoàn toàn mới khác hẳn với bộ mặt tâm lý học thời kỳ đầu thế kỷ 20, tức là một nền tâm lý học kiểu mới thoát khỏi tâm lý học nội quan duy tâm

- Do lấy hành vi làm đối tượng nghiên cứu và dùng phương pháp khoa học tự nhiên nên tâm lý học hành vi lần đầu tiên có dáng dấp của một nền tâm lý học khách quan Sự xuất hiện của tâm lý học hành vi đã làm cho tâm lý học phát triển [20]

Tuy vậy, thuyết hành vi cổ điển vẫn còn nhiều hạn chế:

Trang 13

- Thuyết hành vi xuất phát từ phương pháp luận sai lầm, đó là quan điểm máy móc, sinh vật hoá con người và tâm lý con người

- Thuyết hành vi đã hoàn toàn phủ nhận tâm lý ý thức con người, hạ thấp con người ngang hàng con vật Hiểu hành vi là tổ hợp các phản ứng của cơ thể trước các tác động của kích thích là điều không đúng

+ M: Yếu tố trung gian (kinh nghiệm xã hội, vốn hiểu biết, nhu cầu, thái

độ, tri thức, niềm tin…)

thích

M

Ý thức – Yếu tố trung gian

R Phản ứng trả lời

Trang 14

Gây nên sự hoạt động và làm thúc đẩy hoạt động của con người Hiệu quả của kích thích tạo nên phụ thuộc vào: loại tác nhân kích thích, cường độ kích thích, tần suất kích thích và thời điểm chịu kích thích cơ thể có nhu cầu gì

+ Yếu tố trung gian:

Bao hàm ý thức (nhận thức, tình cảm, thái độ…) Ý thức của các cá nhân quyết định phản ứng đáp lại của cơ thể Ý thức của mỗi người không giống nhau, nên cùng một kích thích tác động, các cá nhân có cách xử lý khác nhau, do

đó dẫn đến phản ứng đáp lại là phong phú, đa dạng

+ Phản ứng trả lời:

Nhằm đáp ứng mục đích thích nghi có lợi cho cơ thể, cá nhân thể hiện sự thích nghi đó bằng mọi cách, mọi cố gắng bằng phương tiện sẵn có Biểu hiện của phản ứng trả lời là hành động và xúc cảm của con người [20]

Quan niệm về hành vi trong tâm lý học hành vi tạo tác của B.F.Skinner:

Kế thừa tâm lý học hành vi của J.Watson, Skinner cho rằng trong hệ thống hành

vi có một loại hành vi tạo tác, chẳng hạn động vật bị rơi vào hoàn cảnh- chiếc lồng do người thực nghiệm tạo ra (gọi là “cái lồng Skinner”) thì thoạt đầu động vật thực hiện một số thao tác (cử động) ngẫu nhiên, có thao tác đúng tức là đi đúng hướng có kích thích được củng cố Những thao tác này chính là tác động ngược lên có thể nhìn thấy của củng cố Dù coi môi trường gồm môi trường vật

lý, sinh vật, môi trường xã hội hay còn gọi là môi trường văn hoá, thì con người theo quan niệm của Skinner chẳng qua vẫn là cơ thể người mang hành vi được hình thành nhờ có các loại môi trường tác động vào Môi trường theo J Watson

có vai trò khơi dậy hành vi , còn theo Skinner có vai trò chọn lọc hành vi ; sự tăng cường các yếu tố phụ thuộc mà môi trường cung cấp sẽ quyết định hành vi nào trở nên mạnh hơn và hành vi nào không [10, tr.505] Điều này có nghĩa là xác suất, tần số và cường độ xuất hiện hành vi tạo tác hoàn toàn phụ thuộc vào

Trang 15

các yếu tố củng cố và cách thức củng cố từ môi trường B.F Skinner cho rằng sự khác biệt đầu tiên giữa hành vi có điều kiện với hành vi tạo tác là hành vi có điều kiện xuất hiện nhằm tiếp nhận một kích thích củng cố , còn hành vi tạo tác nhằm tạo ra một kích thích củng cố Vì vậy người ta gọi hành vi tạo tác là hành vi được hình thành “trong điều kiện hoá có hiệu lực” nhằm đáp lại kích thích của môi trường một cách tích cực chủ động Nhờ tiếp cận các điều kiện hoá có hiệu lực

mà có thể kiểm soát được các hành vi Theo Skinner: Cái gọi là sự kiện tâm lý thực ra chỉ là sự kiện sinh lý được dán cho cái nhãn ý thức [10, tr.504]

Như vậy, thuyết hành vi mới đã nghiên cứu hành vi theo phương pháp tiếp cận mới, trong đó hành vi được hiểu là một tổng thể có các yếu tố trung gian làm khâu gián tiếp giữa kích thích và phản ứng Tuy nhiên, trong khi giải quyết các vấn đề cơ bản trong lý thuyết của mình, các nhà hành vi mới vẫn dựa theo phương pháp luận của thuyết hành vi cổ điển với cách hiểu con người như là kẻ chứa đựng hành vi theo chủ nghĩa tự nhiên Do đó thuyết hành vi mới vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế [20]

Tóm lại, các tác giả của Tâm lý học hành vi coi hành vi chỉ đơn thuần là phản ứng trả lời kích thích Tuy có quan niệm hơi khác nhau về các yếu tố và vai trò của chúng tác động đến hành vi, nhưng đều nhấn mạnh tính quyết định của kích thích đối với hành vi; không thừa nhận có sự tồn tại của tâm lý, ý thức và tác động của nó đối với hành vi người Môi trường có vai trò khơi dậy hành vi, cứ có kích thích là có hành vi theo công thức S > R Tâm lý, ý thức là cái gì đó vu

vơ, vô ích đối với hành vi (J.Watson), môi trường có vai trò chọn lọc hành vi, các yếu tố củng cố và cách thức củng cố từ môi trường quyết định hoàn toàn hành vi tạo tác; các sự kiện tâm lý thực ra chỉ là các sự kiện tâm lý được dán cho cái nhãn ý thức (Skinner) Thêm biến số trung gian M giữa S >R thành công

Trang 16

thức S – M – R, nhưng M lại phụ thuộc chủ yếu vào môi trường bên ngoài (E.C.Tolman, K.L.Hull )[10]

- Nghiên cứu về hành vi theo quan điểm của phân tâm học:

Sigmun Freud, đại diện cho trường phái Phân tâm học (1856-1939) Ông xây dựng lý thuyết tâm lý học để giải thích những hiện tượng trong cuộc sống xã hội

và làm căn cứ cho chữa bệnh tâm thần Theo ông, tâm lý con người được tạo bởi

ba khối: Vô thức, ý thức và siêu thức Ứng với ba khối đó là cái ấy, cái tôi và cái siêu tôi Đó là các giả thuyết về năng lượng tâm thần, vô thức và cơ cấu đời sống tinh thần [16, tr.56]

Tiếp nối S Freud là các cộng sự như Jung, Adler đã kế thừa lý thuyết của Freud để xây dựng trường phái Phân tâm học mới

Về vô thức : Khái niệm vô thức là khái niệm cơ bản trong học thuyết phân tâm của S Freud Trên cơ sở phân tích những yếu tố thực nghiệm hành vi trong thôi miên, giấc ngủ, giấc mơ, liên tưởng Khối vô thức là khối bản năng, trong đó bản năng tình dục giữ vị trí trung tâm Theo Freud tất cả các hiện tượng tâm hồn được chia ra 2 nhóm: ý thức và vô thức Vì vậy, cấu trúc tâm lý phải phân ra hai

hệ thống ý thức và vô thức Trong vô thức còn phân ra tiền ý thức Vô thức là những ham muốn hay những biểu tượng bị dồn nén, kiểm duyệt [16, tr.54] Đó là những bản năng hoạt động theo nguyên tắc khoái cảm đòi hỏi sự thỏa mãn ngay lập tức những khát vọng bản năng Vô thức ngấm ngầm chi phối hành vi của con người Những hành vi mà con người không thể dùng ý thức can thiệp được, gọi

là hành vi sai lạc như lỡ lời, sự quên hay những biểu hiện trong giấc mơ Những hiện tượng mà ban ngày con người không thỏa mãn được thì được thể hiện trong giấc ngủ dưới những hình thức khác nhau do sự can thiệp của vô thức

Về ý thức tương đương với “cái tôi” Cái tôi được hình thành do áp lực thực tại bên ngoài, đến toàn bộ khối bản năng Hoạt động của cái tôi theo nguyên

Trang 17

tắc thực tại Con người phải dùng một năng lượng đáng kể để kiềm chế và kiểm soát những bản năng phi lí của “cái ấy” Cái tôi có tính chất tự chủ Nó tự chủ về nguồn năng lượng từ trong cấu trúc riêng của nó hoặc trong thùng năng lượng của bản năng tình dục được trung hòa Nó còn tự chủ với môi trường, chọn lọc kích thích của môi trường [16, tr.57]

Về siêu thức hay còn gọi là “cái siêu tôi” là những chuẩn mực đạo đức của xã hội quy định đòi hỏi cái tôi phải ý thức thực hiện Hoạt động của cái siêu tôi theo nguyên tắc kiểm duyệt [16,tr.57]

Như vậy, hành vi của con người có thể do khối vô thức điều khiển có sức mạnh động lực bên trong bởi các bản năng bị kìm nén tạo ra Tuy nhiên, hành vi của con người không chỉ được điều chỉnh bằng vô thức mà còn được điều chỉnh bằng ý thức Đó là quá trình điều chỉnh tổng hợp, là một hệ thống tự điều chỉnh theo chuẩn mực mà xã hội, đạo đức, giáo dục quy định [16,tr.64]

- Nghiên cứu về hành vi theo quan điểm của Tâm lý học nhân văn:

A Maslow được coi là “Người cha tinh thần” của Tâm lý học nhân văn (ra đời vào những năm 60 của thế kỷ XX) Trong lý thuyết của ông, nhu cầu của con người được sắp xếp theo thứ tự nhất định từ bậc thấp đến bậc cao, nhu cầu bậc thấp được thoả mãn trước thì sẽ xuất hiện nhu cầu bậc cao hơn Theo trường phái này: Hành vi của con người không chỉ bao gồm hành vi “mở” (phản ứng quan sát được)

mà còn bao gồm hành vi “kín” (là những phản ứng không quan sát được – những trải nghiệm chủ quan của con người) Hai phần này ít gắn bó với nhau [9, tr.93-95] Các quan điểm của trường phái tâm lý học nhân văn có khuynh hướng khác với cách giải thích của Tâm lý học hành vi và của Phân tâm học về hành vi Nếu Tâm lý học hành vi lấy các điều kiện bên ngoài, còn Phân tâm học lấy các điều kiện bên trong làm nguyên tắc quyết định hành vi của con người thì Tâm lý học nhân văn cho rằng: Con người có thể nhận thức và kiểm soát được hành vi của mình chứ

Trang 18

không phải hoàn toàn do tác động bên ngoài hoặc bên trong Hành vi của con người

là sự tổng hợp của nhiều khuynh hướng, họ lý giải hành vi của con người trên cơ sở tôn trọng con người với tư cách cá nhân- tôn trọng giá trị sáng tạo, trách nhiệm cũng như các phẩm chất cá nhân

Như vậy, theo trường phái này thì hành vi con người có thể nhận thức được

và kiểm soát được hành vi của mình, chứ không phải hoàn toàn do tác động bên ngoài hoặc do vô thức quyết định Hành vi do nhu cầu thúc đẩy và chịu tác động của nhiều khuynh hướng Tuy nhiên , Tâm lý học nhân văn chỉ đề cập hành vi ở góc

độ cá nhân mà bỏ qua sự chi phối của xã hội là không đầy đủ

- Nghiên cứu về hành vi theo quan điểm của Tâm lý học hoạt động

“Hành vi” theo quan điểm của các nhà Tâm lý học hoạt động không giống khái niệm “hành vi” của các nhà Tâm lý học hành vi

L.X Vưgôtski trong bài báo cáo “Ý thức là vấn đề chung của tâm lý học hành vi” (được coi là cương lĩnh đầu tiên của Tâm lý học hoạt động) đã xác định

“hành vi” là “cuộc sống”, là “lao động”, là “thực tiễn”, tức là phải hiểu hành vi là hoạt động với đơn vị của nó là hành động trong cuộc sống, tâm lý, ý thức và hoạt động không tách rời nhau Việc tạo ra và sử dụng các tín hiệu tự tạo (còn gọi là các dấu hiệu) làm cho hành vi con người khác hẳn với hành vi con vật Ở động vật, các dạng hành vi chủ yếu được hợp thành hai nhóm phản ứng: Bẩm sinh (vô điều kiện ) và tự tạo (có điều kiện) Có thể nói hành vi của động vật được coi là kinh nghiệm di truyền, kinh nghiệm cá thể Quá trình hình thành hành vi người

là quá trình hình thành hoạt động dấu hiệu, từ các dấu hiệu trung gian đơn giản của hành vi đến chỗ dấu hiệu có ý nghĩa công cụ, phương tiện giao tiếp cũng như phương tiện điều khiển hành vi bản thân Hành vi không phải là một tổ hợp các phản xạ, phản ứng máy móc theo kiểu “kích thích -> phản ứng” nhằm giúp cơ thể thích nghi với môi trường mà hành vi đã chịu sự định hướng, điều khiển,

Trang 19

điều chỉnh Hành vi được xem như tổ hợp các cử động thao tác, là mặt bề ngoài

của hoạt động[10, tr.296] Các quá trình này thực hiện dưới sự định hướng và

tích cực hoá của tâm lý, ý thức Vì vậy, tác giả L.X Vưgôtski viết: “ý thức hoá ra

là một cấu trúc rất phức tạp của hành vi” [10,tr.294] Theo tác giả, hành vi được

hiểu là hoạt động có ý thức của con người, hành vi như một thành tố của ý thức,

giữ chức năng điều chỉnh Ông cũng chủ trương nghiên cứu hành vi và tâm lý

người trong sự tác động qua lại với môi trường xung quanh Như vậy, theo quan

niệm của L.X Vưgôtski, hành vi gắn với tâm lý, chúng không tách rời nhau [10,

tr.296]

Theo tác giả X.L Rubinstein: Hành vi là hoạt động đặc biệt, và hoạt động

chuyển thành hành vi chỉ khi mà động lực hoạt động từ bình diện đối tượng

chuyển sang quan hệ cá nhân – xã hội Như vậy, hành vi không còn là một hay

vài cử chỉ riêng rẽ nào đó của con người mà là tổ hợp các cử động, thao tác hành

động bề ngoài của con người Đây là vấn đề phương pháp luận của việc nghiên

cứu hành vi người [20, tr.198]

A.V Pêtrôvxki và M.G.Iarôsevxki trong “Từ điển giản yếu” quan niệm:

Hành vi là sự tác động qua lại giữa cơ thể sống, thông qua hoạt tính bên ngoài

(vận động) và bên trong (tâm lý) [20, tr.102]

Tác giả A.N Leônchiev cho rằng: Trong bản thân ý thức có cái “nghĩa” và

cái “ý”; cả “nghĩa” và “ý” cùng tham gia vào hành động của con người “Nghĩa”

là sự phản ánh hiện thực không phụ thuộc vào những thái độ riêng của một

người riêng biệt đối với hiện thực này, còn ý thức của hành động biến đổi cùng

với động cơ của nó và vì thế sự biến đổi của nghĩa và ý là không như nhau[2,

tr.327] Về nghĩa hành động có thể hầu như vẫn giữ nguyên, nhưng động cơ thay

đổi thì ý của hành động đã biến đổi và điều này có thể dẫn tới kết quả hành động

hoàn toàn khác Để cho nội dung đang được tri thức trở thành nội dung được chủ

Trang 20

thể ý thức thì hoạt động của chủ thể, nó phải chiếm vị trí cấu trúc của mục đích trực tiếp của hành động- tham gia vào mối quan hệ phù hợp với động cơ của hoạt động Ông khẳng định: trong hoàn cảnh sống nhất định buộc cá nhân phải lựa chọn giữa các nghĩa (“vô thưởng vô phạt” đối với chủ thể – từ dùng của A

N Lêônchiep mà là lựa chọn cái “ý cá nhân” Hành vi không phải là những phản

ứng máy móc của một cơ thể sinh vật mà hành vi phải được hiểu là hoạt động có

ý thức của con người nhằm vào các đối tượng để thoả mãn các nhu cầu của con người [3, tr.329] Đây là một quan điểm rất quan trọng khi xem xét hành vi thích

ứng xã hội của con người

Do đó, theo quan điểm của tâm lý học hoạt động cả ý thức và hành vi đều tham gia một cách tích cực vào quá trình tác động của con người lên thế giới xung quanh, lên người khác và lên chính bản thân mình

Như vậy, khái niệm “hành vi trong tâm lý học hoạt động là mặt biểu hiện cụ thể

ra bên ngoài của hoạt động ”

1.1.2 Nghiên cứu hành vi ở Việt Nam

Những nghiên cứu hành vi ở Việt Nam chịu ảnh hưởng rất nhiều của hệ thống lý luận tâm lý học Liên Xô Những nghiên cứu lý luận về hành vi cũng được rất nhiều nhà nghiên cứu tâm lý đầu ngành đưa ra các quan điểm của mình

Trong “Từ điển Tiếng Việt ” do tác giả Hoàng Phê chủ biên định nghĩa:

“Hành vi là toàn bộ những phản ứng, cách cư xử biểu hiện ra bên ngoài của một

người trong một hoàn cảnh nhất định”

Trong “ Từ điển tâm lý” (Nguyễn Khắc Viện) viết: “Hành vi là các hoạt

động cụ thể, những phản ứng của con người hay động vật khi bị một yếu tố nào

đó trong môi trường kích thích với mục đích là thích nghi với môi trường”

Theo tác giả Phạm Minh Hạc:

Trang 21

“ Hành vi là những biểu hiện bên ngoài của hoạt động xã hội và bao giờ

cũng gắn liền với động cơ, mục đích” [9, tr.19]

Do đó tác giả nhận xét “Tâm lý học hoạt động nghiên cứu tâm lý ở cấp

bậc hoạt động với đơn vị là hành động và trong trường hợp này, hành vi như là

tổ hợp các cử động, các thao tác, là mặt bề ngoài của hoạt động”

Theo tác giả Lưu Song Hà trong Luận án Tiến sĩ “Nghiên cứu về hành vi lệch chuẩn của học sinh trung học cơ sở Hà Nội” và mối tương quan giữa nó với

kiểu quan hệ cha mẹ – con cái cũng đưa ra khái niệm hành vi:

“Hành vi được biểu hiện là hành vi xã hội, là cách cư xử của một người trong một hoàn cảnh cụ thể được biểu hiện ra bên ngoài bằng lời nói, cử chỉ

Như vậy việc nghiên cứu về “hành vi giữ gìn nghề truyền thống” dưới góc độ tâm lý học chưa nhiều Vấn đề này chủ yếu được nghiên cứu dưới góc độ kinh tế học, xã hội học hoặc văn hoá du lịch, tiêu biểu gồm một số tác phẩm như: Bùi

Văn Vượng với “Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam” (1998) , Nguyễn Viết Sự với “Tuổi trẻ với nghề truyền thống Việt Nam ” (2001), Dương Bá Phượng “Bảo tồn và phát triển làng nghề trong quá trình công nghiệp hoá” (2001); hoặc một số luận văn thạc sỹ như “Nghiên cứu bảo tồn và phát triển

làng nghề Tương bần huyện Mỹ Hào - Hưng Yên” (2009) của tác giả Phạm Đình

Hưng; “Nghiên cứu phát triển một số nghề sản xuất truyền thống trên địa bàn

huyện  n Thi Hưng Yên” (2008) của Trần Tuấn Nghĩa Ngoài ra, một số tác

Trang 22

giả cũng đề cập đến nghề làm bún tại một số địa phương như ở Vân Cù – Huế,

An Nhơn – Bình Định, Cẩm Thạch – Quảng Trị, Đông Cận – Hải Dương, Đông Xuân – Thái Bình,… nhưng chủ yếu dừng lại ở góc độ điều tra xã hội học , vệ sinh an toàn thực phẩm Chính vì vậy, việc nghiên cứu “hành vi giữ gìn nghề làm bún truyền thống tại làng bún Phú Đô” dưới góc độ tâm lý học là chưa có công trình nào Vì vậy,việc nghiên cứu đề tài này là rất cần thiết, nó giúp cho chính quyền địa phương, chính quyền các cấp, bản thân mỗi người dân thấy được nhu cầu, động cơ, hứng thú, …của người dân ở Phú Đô đối với việc giữ gìn

và bảo tồn nghề làm bún trong tốc độ đô thị hoá mạnh mẽ như hiện nay

1.2 Một số vấn đề lý luận về hành vi và hành vi giữ gìn nghề truyền thống

1.2.1 Khái niệm hành vi

Trên cơ sở phân tích lý luận về hành vi của các trường phái tâm lý học chủ yếu của Tâm lý học phương Tây và Tâm lý học hoạt động, kết hợp với sự tham khảo một số khái niệm về hành vi như đã trình bày ở trên, chúng tôi đưa ra quan niệm về “hành vi” như sau:

“Hành vi là mặt bề ngoài của hoạt động, được biểu hiện ra bên ngoài

bằng hành động, lời nói, cử chỉ nhất định và bao giờ cũng gắn với mục đích, động cơ”

Hành vi con người về cơ bản là hành vi có ý thức, do tâm lý định hướng, điều khiển và điều chỉnh Tuy nhiên hành vi của con người trong những hoàn cảnh và điều kiện cụ thể được kiểm duyệt bởi ý thức (hành vi có ý thức) và cũng

có thể không hoặc ít được kiểm duyệt bởi ý thức (hành vi vô thức, hành vi tự động hoá) Hành vi của con người được biểu hiện ra bên ngoài qua hành động, lời nói cử chỉ và bao giờ nó cũng được thúc đẩy bởi mục đích, động cơ bên trong

Trang 23

Từ việc đưa ra khái niệm hành vi, chúng tôi tìm hiểu khái niệm giữ gìn

Theo “Từ diển Tiếng Việt”: “giữ gìn” là “sự bảo vệ, duy trì cho được lâu, để

chống lại sự phá huỷ, thiệt thòi hoặc gây hại cho một sự vật, sự việc, hiện tượng nhất định” [27]

Từ các khái niệm “hành vi”, “giữ gìn” như trên đã phân tích và tổng hợp, chúng tôi đưa ra khái niệm “hành vi giữ gìn” như sau:

“Hành vi giữ gìn là một hành vi xã hội nhằm duy trì, bảo vệ và phát triển để

chống lại sự phá huỷ, thiệt thòi hoặc gây hại cho một sự vật, sự việc, hiện tượng nhất định”

1.2.2 Khái niệm và đặc điểm nghề truyền thống

1.2.2.1 Khái niệm nghề truyền thống

PGS.TS Nguyễn Viết Sự đã khẳng định: nghề “xuất hiện trong điều kiện

trang bị kỹ thuật thô sơ và lao động chủ yếu bằng tay” thì được gọi là nghề truyền thống [25, tr 17]

Nghề được xếp vào các nghề truyền thống phải có đầy đủ các yếu tố sau [25, tr 12]:

1 Đã hình thành tồn tại và phát triển lâu đời ở nước ta

2 Sản xuất tập trung tạo thành các làng nghề, phố nghề

3 Có nhiều thế hệ nghệ nhân tài hoa và đội ngũ thợ lành nghề

4 Kỹ thuật và công nghệ khá ổn định của dân tộc Việt Nam

5 Sử dụng nguyên liệu tại chỗ và trong nước hoàn toàn hoặc chủ yếu

6 Sản phẩm tiêu biểu và độc đáo có giá trị và chất lượng cao vừa là hàng hoá vừa là sản phẩm văn hoá nghệ thuật, mỹ thuật thậm chí trở thành di sản văn hoá dân tộc, mang bản sắc văn hoá Việt nam

Trang 24

7 Là nghề nuôi sống một bộ phận dân cư của cộng đồng, có đóng góp đáng kể về kinh tế vào ngân sách nhà nước

Làng nghề làm bún Phú Đô được xếp vào danh sách các làng nghề truyền thống với tất cả các đặc điểm trên Làng nghề đã tồn tại và phát triển hàng trăm năm, tập trung thành một làng nghề với đội ngũ thợ lành nghề, sử dụng trang thiết bị thô sơ, chủ yếu bằng tay mặc dù hiện nay đã đưa thêm một số trang thiết bị hiện đại vào một số khâu sản xuất như xay sát gạo, vắt bún, Làng bún Phú Đô có sản phẩm mang danh nổi tiếng Phú Đô Bởi khi nói tới Phú Đô, người ta biết đến bún và bún nổi tiếng đất Hà thành không thể không nhắc tới Phú Đô Nó gắn bó

và ăn sâu vào tiềm thức người tiêu dùng sành ăn món bún

1.2.2.2 Đặc điểm của nghề truyền thống

Sản xuất của các nghề truyền thống được nhìn nhận từ nhiều góc độ của kinh tế – xã hội với những giá trị hết sức to lớn và độc đáo [18, tr 19]

Về giá trị kinh tế:

Nghề truyền thống đã làm ra các sản phẩm hết sức thiết dụng, độc đáo từ vật dụng trong gia đình hàng ngày tới các mặt hàng tinh xảo trong các lễ hội, chùa và cung đình… Nó không chỉ đem lại giá trị kinh tế trong nước mà còn đem lại giá trị ngoại tệ khi xuất khẩu ra nước ngoài

Với giá trị kinh tế, nghề làm bún tại Phú Đô có thể xem như một nghề nghiệp chính của người nông dân sau mùa vụ Nghề đem lại một khoản thu nhập

ổn định, tạo một lượng công ăn việc làm lớn cho người dân thổ cư nơi đây trong những thời kỳ trước khi đô thị hóa, công nghiệp hóa vào khu vực này Người nông dân ở đây không chỉ có hai vụ lúa thuần nông như một số địa phương khác

Họ có nghề để làm quanh năm, ngoài việc sản xuất bún tiêu thụ trên thị trường,

họ còn có thể sử dụng cám bã để chăn nuôi gia súc, gia cầm Điều này làm tăng một nguồn thu đáng kể cho người nông dân

Trang 25

Về giá trị văn hoá - xã hội:

Sản phẩm nghề truyền thống đã thể hiện rõ và bảo tồn được những sắc thái độc đáo của dân tộc Những giá trị văn hoá của dân tộc thể hiện tư duy, triết

lý Á Đông, phong tục tập quán truyền thống, phong cách sống của dân tộc… tất

cả đều có thể biểu hiện qua nét vẽ, hình mẫu, cách trang trí và cấu trúc sản phẩm

mà chỉ có nghề truyền thống mới lột tả hết

Sản phẩm của nghề truyền thống Việt Nam có những nét riêng và độc đáo tới mức tên của sản phẩm luôn kèm theo tên của làng làm ra nó, sản phẩm nổi tiếng cũng làm cho làng nghề tạo ra sản phẩm ấy nổi tiếng Chính vì vậy, sự bảo tồn và phát triển làng nghề là vô cùng quan trọng Và yếu tố đảm bảo cho làng nghề có sức sống mạnh mẽ và trường tồn cùng lịch sử dân tộc

Làng nghề truyền thống nào cũng có bí quyết nghề nghiệp riêng làm cho sản phẩm của làng mình không giống các sản phẩm của làng khác Họ duy trì và phát triển bí quyết riêng đó theo cách cha truyền con nối, truyền đạt từ thế hệ này sang thế hệ khác đúc kết qua kinh nghiệm thực tế làm nghề Làng nghề bún Phú

Đô cũng có một số hương ước riêng, nhằm duy trì và bảo tồn nghề cho con cháu

mà không lộ bí quyết ra ngoài Để đạt được điều này, những hương ước của làng cũng được quy định rõ nhằm không truyền bí quyết cho người làng khác Chính

vì vậy, tính cộng đồng làng xóm càng được củng cố và nâng cao do họ cần phải

cố kết với nhau để giữ gìn và phát triển bí quyết này Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay do tốc độ đô thị hóa cao, tỷ lệ dân nhập cư lớn nên nghề của ông cha đã dần

bị mai một Đồng thời, số lượng dân từ tỉnh khác, nơi khác chuyển đến nhiều nên tính cố kết cộng đồng bị giảm sút, không còn gắn bó bền chặt như trước đây

Hơn nữa, nghề truyền thống đã tạo việc làm tại chỗ, thu hút nguồn nhân lực lớn của xã hội, tạo ra nguồn thu nhập thường xuyên to lớn cho dân chúng sinh sống Đó là những giá trị hết sức to lớn cả về kinh tế và văn hoá xã hội

Trang 26

1.2.3 Khái niệm hành vi giữ gìn nghề truyền thống

Từ việc phân tích và đưa ra khái niệm hành vi và khái niệm, đặc điểm nghề truyền thống, chúng tôi đưa ra khái niệm “hành vi giữ gìn nghề truyền thống” như sau:

“Hành vi giữ gìn nghề truyền thống là toàn bộ những hành động của con người được thể hiện ra bên ngoài gắn với mục đích, động cơ cụ thể nhằm bảo vệ, duy trì và phát triển nghề đã tồn tại lâu đời được lưu truyền qua nhiều thế hệ và chịu sự tác động của những điều kiện hoàn cảnh xã hội - lịch sử nhất định ”

Như vậy, hành vi giữ gìn nghề truyền thống là hành vi xã hội vì nó chịu sự ảnh hưởng, tác động của điều kiện xã hội, lịch sử nhất định Theo tác giả Vũ Gia Hiền thì: Khi nói đến hành vi xã hội, phải hiểu mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội Hành vi cá nhân tuyệt nhiên không phải là sản phẩm của một sự “tuỳ tiện” hay “tự do” mà bao giờ cũng phát triển trong mối quan hệ xã hội mà chủ thể hành vi tham gia vào Hành vi cá nhân tuy phụ thuộc vào ý định, động cơ, nhu cầu của cá nhân, nhưng lại bị chế ước bởi những điều kiện cụ thể của xã hội, lịch sử Hành vi xã hội bao hàm các hằng số trong bối cảnh văn hoá khác nhau, chính những hằng số văn hoá này hợp thành bản tính con người Hành vi xã hội gồm có hành vi xã hội của cá nhân và hành vi xã hội của tập thể [13, tr 309]

1.2.4 Những biểu hiện của hành vi giữ gìn nghề làm bún truyền thống

1.2.4.1 Nhận thức, mong muốn giữ gìn nghề làm bún truyền thống của người dân

Nhận thức là một trong ba mặt cơ bản của đời sống tâm lý con người (nhận thức, tình cảm, hành động) Nó quan hệ chặt chẽ với các mặt kia và có quan hệ mật thiết với các hiện tượng tâm lý khác Nhận thức là một quá trình thường gắn với những mục đích nhất định, đặc trưng nổi bật của hoạt động này

Trang 27

là phản ánh hiện thực khách quan và mang lại những sản phẩm khác nhau về các hiện tượng khách quan Thông qua các quá trình nhận thức khác nhau từ đơn giản đến phức tạp, con người hiểu biết được sự vật, hiện tượng từ tính chất bên ngoài đến các bản chất, quy luật bên trong tạo điều kiện cho con người định hướng, điều chỉnh hoạt động, phát hiện ra các quy luật mang tính bản chất để con người làm chủ tự nhiên và xã hội [21,tr.68]

Nhận thức của người dân về việc giữ gìn nghề truyền thống được thể hiện trong hành động tìm hiểu về nghề làm bún truyền thống và từ đó hiểu biết được tính chất của nghề nhằm duy trì và phát triển nó

1.2.4.2 Hành động tham gia hoạt động sản xuất của người dân đối với việc giữ gìn nghề làm bún truyền thống

Hành động tham gia vào sản xuất bún tại làng nghề là thời gian và cách thức, phương pháp mà người dân sử dụng để làm bún Qua quá trình này, người dân trực tiếp thực hành nghề, cách thức sản xuất truyền thống , cải tiến của những người thợ mà được sử dụng hiện nay tại thôn Phú Đô

Quá trình này thể hiện sự tham gia hoạt động sản xuất bún của người dân

ở đây, điều này cũng là sự đánh giá về việc giữ gìn, duy trì nghề làm bún của làng Khi mà người dân trực tiếp tham gia hoặc chọn nghề làm bún là nghề chính

có ý nghiã duy trì nghề truyền thống

1.2.4.3 Hành động lôi cuốn người khác cùng tham gia làm bún của người dân đối với việc giữ gìn nghề làm bún truyền thống

Sự lôi cuốn người khác cùng tham gia làm bún là biểu hiện rõ nét trong các biểu hiện của hành vi giữ gìn nghề làm bún truyền thống Điều này thể hiện sự mở rộng, duy trì nghề làm bún ở nhiều hộ gia đình, khuyến khích nhiều người cùng tham gia vào hoạt động nghề làm bún Điều này có ý nghĩa to lớn nói lên sự bảo

Trang 28

tồn nghề Việc bảo tồn này không chỉ có ý nghĩa đối với bản thân mỗi người dân

mà còn đối với sự lan toả sang người khác cùng tham gia như mình

1.2.4.4 Nhu cầu, động cơ, hứng thú giữ gìn nghề làm bún truyền thống của người dân

 Nhu cầu giữ gìn nghề truyền thống:

Nhu cầu là trạng thái tâm lý, là mong muốn đòi hỏi con người cần được thoả mãn Khi con người có nhu cầu nào đó thì các trạng thái tâm lý mà họ trải nghiệm là mất thăng bằng, căng thẳng hoặc nôn nao Các trạng thái này nảy sinh

do các tác nhân xã hội bên ngoài hoặc bên trong mang tính chất sinh lý (đói khát, hay thiếu hụt các chất vi lượng trong cơ thể) gây ra Nhu cầu có thể mang tính chất tinh thần, xã hội do các tác nhân tinh thần, xã hội tạo ra Ví dụ như: nhu cầu giao lưu với người khác, được thừa nhận, tôn trọng Nếu chỉ dừng lại ở trạng thái tâm lý thì nhu cầu chưa thúc đẩy được hành vi theo hướng nhất định Nhu cầu có vai trò hết sức quan trọng, không có nhu cầu thì con người không thể tồn tại với

tư cách là chủ thể của hoạt động sản xuất Nhu cầu là yếu tố cơ bản đầu tiên, quy định tính tích cực của hành vi P.K Anôkhin đã cho rằng bản chất của sự sống luôn phát triển tiến hoá không ngừng Phần lớn nhu cầu của con người đều được

xã hội hoá trong quá trình phát triển của cá nhân, ngay cả những nhu cầu sinh lý bẩm sinh ở một giai đoạn nào đó cũng mang dấu ấn xã hội Nhu cầu của người đang phát triển trong suốt quá trình hình thành và phát triển nhân cách [9,tr.318]

Nhu cầu giữ gìn nghề làm bún truyền thống là toàn bộ những mong muốn được tìm hiểu, được tham gia vào hoạt động theo nghề truyền thống địa phương nhằm bảo vệ và phát triển nó

Hành vi giữ gìn nghề truyền thống là hành vi xã hội, hành vi có ý thức, vì thế nếu không có động cơ thúc đẩy thì hành vi này không thể thực hiện được

Trang 29

Tuy động cơ là nguyên nhân bên trong và là động lực để thúc đẩy hành

vi, những mối quan hệ giữa hành vi và động cơ hết sức phức tạp Có thể cùng một động cơ lại thúc đẩy các hành vi khác nhau, và ngược lại có cùng một hành

vi lại do nhiều động cơ khác nhau quy định

Trên thực tế một hành vi thông thường không phải do một, mà do nhiều động cơ thúc đẩy, các động cơ này đan xen lẫn nhau, thậm chí là có những động

cơ trái ngược nhau gây ra Trong đời sống cùng một lúc, con người có nhiều động cơ khác nhau, trong đó động cơ nào có cường độ mạnh, có ý nghĩa quan trọng nhất trở thành động cơ chủ đạo, những động cơ nào có cường độ yếu, không quan trọng sẽ trở thành động cơ thứ yếu (không chủ đạo) Nói chung, thường thì hành vi của người dân là do động cơ chủ đạo quyết định

Động cơ giữ gìn nghề truyền thống là toàn bộ những yếu tố thúc đẩy lôi cuốn con người vào hoạt động sản xuất theo nghề truyền thống tại địa phương nhằm thực hiện mục đích bảo vệ và duy trì nó

Hứng thú là những điều lôi cuốn, hấp dẫn con người vào một điều gì đó, tạo ra sự khát khao được tiếp cận và đi sâu vào tìm hiểu Khi đã xuất hiện hứng thú tức là đã có hai điều kiện xảy ra: chủ thể đã hiểu rõ ý nghĩa của nó đối với đời sống của mình, thứ hai là đã có một tình cảm thiện cảm đặc biệt với đối tượng [6,tr.320]

Hứng thú của người dân với nghề làm bún truyền thống là sự ý thức sâu sắc và niềm say mê vào các hoạt động sản xuất của nghề truyền thống nhằm bảo

vệ và duy trì nghề phát triển

1.3 Nghề làm bún truyền thống tại làng bún Phú Đô - Mễ Trì - Từ Liêm -

Hà Nội và một số đặc điểm tâm lý nổi bật của người dân làng nghề Phú Đô

Trang 30

1.3.1 Nghề làm bún truyền thống tại làng bún Phú Đô - Mễ Trì - Từ Liêm

- Hà Nội

Quy trình làm bún nhìn chung khá cầu kỳ và mất nhiều thời giờ tuy về cơ bản trong mọi làng nghề, mọi gia đình làm bún thủ công đều có cách thức tương tự: gạo tẻ được lựa chọn kỹ càng để lấy gạo dẻo cơm, thường là gạo mùa Gạo được vo, đãi sạch và đem ngâm nước qua đêm Sau đó, đưa gạo đã ngâm vào máy xay nhuyễn cùng với nước để tạo thành bột gạo dẻo, nhão Bột lại được ủ

và chắt bỏ nước chua, rồi đưa lên bàn ép, xắt thành quả bột to cỡ bắp chân người lớn Các quả bột lại tiếp tục được nhào, trộn trong nước sạch thành dung dịch lỏng rồi đưa qua màn lọc sạch sạn, bụi tấm để tạo thành tinh bột gạo

Tinh bột gạo được cho vào khuôn bún Khuôn bún thường làm bằng chất liệu dạng ống dài, phía đầu khuôn có một miếng kim loại đục các lỗ tròn Công đoạn vắt bún thường được thực hiện bằng tay hoặc dùng cánh tay đòn để nén bột trong khuôn qua các lỗ Bột chảy đều qua các lỗ khi khuôn bị vặn, nén, tạo thành sợi bún, rơi xuống nồi nước sôi đặt sẵn dưới khuôn Sợi bún được luộc trong nồi nước sôi khoảng vài ba phút sẽ chín, và được vớt sang tráng nhanh trong nồi nước sạch, nguội để sợi bún không bị bết dính vào nhau

Cuối cùng là công đoạn vớt bún trong nồi nước tráng và dùng tay vắt thành con bún, lá bún, hoặc bún rối Bún thành phẩm được đặt trên các thùng tre có lót sẵn lá chuối, hong khô và ủ trước khi đem ra thị trường tiêu thụ

1.3.2 Một số đặc điểm tâm lý nổi bật của người dân làng nghề Phú Đô

Thôn Phú Đô là một trong ba thôn của xã Mễ Trì - Huyện Từ Liêm - Hà Nội vốn nổi tiếng với gạo tám thơm : “ Cốm Vòng, gạo Tám Mễ Trì

Tương Bần, húng Láng còn gì ngon hơn”

Trang 31

Cư dân ở đây chủ yếu là là nông dân với nghề nghiệp chính là trồng lúa và làm một

số nghề phụ khác Tuy nhiên, trong vòng mười năm trở lại đây do quá trình đô thị hoá quá nhanh nên hiện giờ Phú Đô đã trở thành “làng của Phố” Như vậy, trong một thời gian rất ngắn một bộ phận lớn người nông dân thổ cư ở đây bỗng dưng trở thành thị dân nên họ vẫn chưa chuẩn bị gì về mặt tâm lý, học vấn, văn hoá cũng như sự phát triển nghề nghiệp mới Chính vì vậy, người dân ở đây vẫn mang những đặc điểm tâm lý nông dân nổi bật [28] :

Yêu quê hương, đất nước, gắn bó với quê cha đất tổ, với truyền thống gia đình, truyền thống của làng xã Trải qua hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, người nông dân vừa phải cày cấy, vừa phải chống chọi với thiên nhiên và chống giặc ngoại xâm dù hoàn cảnh nào họ vẫn bám trụ, bảo vệ và giữ gìn quê hương, truyền thống gia tộc, họ mạc, đây được coi như “thánh địa thiêng liêng” và không thể xâm phạm

Đoàn kết gắn bó cộng đồng cao, yêu thương đùm bọc lẫn nhau, tình nghĩa thuỷ chung đã trở thành lẽ sống của họ, chính những công việc hàng ngày và sinh hoạt họ hàng, làng xã làm họ rất gắn bó và bênh vực, che chở cho nhau

Tư duy tiểu nông manh mún, tản mạn là một biểu hiện tâm lý nổi bật của người nông dân, sống khép kín sau luỹ tre làng, canh tác trên những mảnh đất, thửa ruộng nhỏ lẻ, công cụ thô sơ dựa trên những thói quen, tập quán nhiều đời, thiếu khả năng khái quát tổng hợp, không nhìn xa trông rộng, chỉ thấy lợi trước mắt, không thấy lợi lâu dài, bảo vệ quyền lợi cá nhân mang tính cục bộ, địa phương

Tính ỷ lại bảo thủ cao, ngại suy nghĩ và tính toán, thủ cựu, tư hữu rời rạc, hệ thống tri thức thu được chủ yếu qua kinh nghiệm chủ quan, cảm tính, coi nhẹ lớp trẻ, nặng tình nghĩa nên coi nhẹ pháp lý Hơn nữa, chịu sự ảnh hưởng của Nho giáo nên “trọng nam khinh nữ”, coi nam giới là người có quyền lực tối cao trong gia đình, mọi mệnh lệnh đưa ra, mọi người khác phải phục tùng theo

Trang 32

Thiếu ý thức kỷ luật lao động, có tính đố kỵ cục bộ, bản vị địa phương Lao động mang tính “tuỳ hứng” và phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên Sống phụ thuộc vào tự nhiên nên người nông dân thường rụt rè, thụ động Do bị quy định bởi tính

tư hữu nhỏ, trình độ nhận thức thấp và điều kiện kinh tế – xã hội nên người nông dân tuy cần cù, thông minh, có sáng tạo nhưng thiếu tính tổ chức, kỷ luật chặt chẽ, ngại làm theo nền nếp, quy củ

Người nông dân do đề cao tinh thần gia tộc nên trọng cái tiếng (danh dự) hơn những thứ khác, dù nghèo đói nhưng vẫn mong muốn con cái, những người trong gia đình , họ tộc đỗ đạt cao, có vị thế xã hội để được mọi người nể trọng Tâm lý sĩ diện dẫn đến tính khoa trương, trọng hình thức nên dù cuộc sống còn rất khó khăn nhưng họ vẫn sẵn sàng tuân theo các thủ tục, nghi lễ nặng nề, tốn kém

Có thể nói, do nền kinh tế tiểu nông đã tồn tại hàng ngàn năm ở Việt Nam, cùng với chế độ phong kiến, chế độ nửa thuộc địa, phong kiến, văn hoá làng xã, vị trí địa lý giao lưu đông tây, điều kiện lao động sản xuất canh tác phụ thuộc vào tự nhiên đã góp phần tạo nên đặc điểm tâm lý đa dạng, phong phú, phức tạp của người nông dân nói chung và người dân làng bún Phú Đô- Mễ Trì - Từ Liêm- Hà Nội nói riêng

Ngoài những đặc điểm tâm lý trên, người dân ở đây còn có một số đặc điểm tâm lý mang “tính chất chuyển biến tâm lý” do quá trình đô thị hoá, công nghiệp hoá tạo nên:

- Rất nhiều người dân “tự nhiên” có một số tiền lớn do được đền bù giải toả, do bán đất nhưng không biết làm gì, hoặc không biết sử dụng vào các mục đích chính đáng như: để học nghề mới thay thế làm nông nghiệp trước đây, hoặc để đầu tư vào nghề truyền thống của địa phương mà chủ yếu dùng tiền mua sắm xe

cộ, ăn chơi, cờ bạc, hút trích ma tuý, đánh lô đề, cá cược; hoặc một số đầu tư

Trang 33

vào kinh doanh nhưng không biết tính toán hiệu quả nên lại rơi vào “trắng tay”, thất nghiệp

- Do có nhiều tiền một lúc một cách “tự nhiên” không trải qua lao động để kiếm

ra được nên một bộ phận dân cư hình thành lối sống “xài sang”, “hợm hĩnh, đua đòi”, có tâm lý “ sùng ngoại”, có lối sống thực dụng, sùng bái đồng tiền, coi nhẹ giá trị văn hoá truyền thống của địa phương

- Do tốc độ đô thị hoá “nhanh chóng mặt” nên có một lượng người dân nhập cư

từ tỉnh khác tới, hoặc do lực lượng lao động cho các khu dịch vụ giải trí khác lân cận khiến cho người dân trong làng không phải chỉ có dân thổ cư như trước đây

vì vậy có nhiều đặc điểm tâm lý vùng miền khác đan xen

1.3.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến hành vi giữ gìn nghề làm bún Phú Đô -

Mễ Trì - Từ Liêm - Hà Nội

1.3.3.1 Những yếu tố khách quan

Vị trí địa lý, gia đình của người dân thôn Phú Đô - Mễ Trì - Từ Liêm

- Vị trí địa lý: Đây là yếu tố quan trọng nhất , có ý nghĩa lớn lao quyết định tới sự hình thành và đảm bảo sự tồn tại và phát triển lâu dài đối với nghề truyền thống nói chung và của làng bún Phú Đô nói riêng Yếu tố thuận tiện về giao thông và nguồn nguyên liệu được đánh giá rất cao Ngoài ra, trong công cuộc đổi mới hiện nay thì vấn đề đô thị hoá, công nghiệp hoá các làng nghề khá nổi bật Bởi Phú Đô lại nằm trong khu quy hoạch liên hợp thể thao, trung tâm thể thao quốc gia , nằm cạnh sân vận động Mỹ Đình nên mười năm nay đã

có sự phát triển xây dựng nhà cao tầng nhiều hơn, cuộc sống có nhiều thay đổi, diện tích đất bị thu hẹp, một số gia đình bán đất xây nhà mới, nhiều trường cao đẳng trung cấp mọc lên xung quanh nên điều này làm cho quỹ đất sản xuất bún, chăn nuôi bị thu hẹp, nhiều nghề kinh doanh dịch vụ nhà cho sinh viên thuê, nhà hàng ăn uống khách sạn phục vụ khu vui chơi giải trí cho khách du lịch Nên

Trang 34

làng Bún nay trở thành làng của Phố Chính điều này là tác nhân quan trọng đối với sự thay đổi nghề nghiệp của người dân nơi đây vì thế mà ảnh hưởng lớn đến việc giữ gìn nghề làm bún truyền thống

- Gia đình: Các thành viên trong gia đình là nhóm tham khảo quan trọng nhất, ảnh hưởng lớn đến hành vi của bản thân người làm nghề Thông thường, những người làm nghề thường trao đổi ý kiến với cha mẹ, anh chị em trong gia đình về cách thức, phương pháp, nguyện vọng, mong muốn đối với nghề

Hoạt động của các cấp chính quyền địa phương đối với hành vi giữ gìn nghề làm bún truyền thống của người dân

- Những hoạt động của chính quyền địa phương dành cho sự phát triển và gìn giữ nghề là hết sức quan trọng Các cấp chính quyền nếu có các phương hướng, cách thức thúc đẩy việc gìn giữ nghề khiến người dân có một cách nhìn toàn diện và tổng thể về nghề truyền thống, cộng thêm các hoạt động hỗ trợ như:

+ Tạo điều kiện để người dân tiếp xúc được với những phương thức sản xuất mới như: cơ giới hoá, hỗ trợ cải thiện môi trường sản xuất

+ Tác động đến ý thức, thái độ của người dân qua tuyên truyền

+ Quan tâm đến các chính sách hỗ trợ đời sống , tinh thần như hoạt động vui chơi giải trí, cho người dân

+ Gây áp lực, buộc người dân phải thực hiện hoặc khuyến khích họ làm nghề theo những chuẩn mực nhất định thì sẽ giúp cho người dân quan tâm, nhận thức đầy đủ và sâu sắc quyền lợi và vừa là trách nhiệm của mình đối với việc giữ gìn nghề, từ đó sẽ nỗ lực, quyết tâm phát triển nghề truyền thống hơn nữa

Vấn đề vệ sinh môi trường và an toàn thực phẩm

Trang 35

- Hiện nay các làng nghề nói chung và Phú Đô đang đứng trước những khó khăn về việc xử lý bảo vệ môi trường vì môi trường làng nghề bị ô nhiễm nặng nề do chất thải từ các công đoạn sản xuất thải ra, do chưa có một hệ thống thoát thải đồng bộ và đất đai ruộng vườn lại bị thu hẹp nhường chỗ cho việc xây dựng nhà cửa và các khu công trình khác nên rác thải vẫn xả ra đường xá theo phương thức tự nhiên làng xóm như trước đây Hơn nữa, hiện nay tình trạng dân số tăng nhanh do cả số dân di cư từ các nơi khác tới định

cư tại thôn nên tình trạng sản xuất bún gây ô nhiễm càng nghiêm trọng

Nhu cầu tiêu dùng trên thị trường đối với sản phẩm bún của làng

nghề truyền thống Phú Đô: bún luôn là sản phẩm thiết dụng hàng ngày đối với người dân Nó vừa là món quà ăn tạm vừa có thể là món ăn chính trong thực đơn của mọi gia đình Hiện nay, nhiều món ăn được chế biến để ăn kèm với bún chính vì vậy, bún trở thành một món ăn hết sức quen thuộc và phổ biến đối với mọi người và càng ngày nhu cầu càng tăng cao khiến cho sản phẩm của làng có một ưu thế mạnh về đầu ra của sản phẩm Bún làm ra bán chạy và vốn thu hồi nhanh để tái sản xuất vì làm bún không căn cứ vào mùa vụ, một tuần có 7 ngày thì cả 7 ngày làm bún, thậm chí nhiều khi vào mùa hè hoặc các dịp lễ tết thì bún bán hết nhanh, không sản xuất kịp với nhu cầu tiêu thụ của thị trường

Ngoài ra, cách thức sản xuất vẫn mang tính chất địa phương nhỏ lẻ, thiếu

sự kiểm soát chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm cần thiết Các công đoạn sản xuất bún mang tính chất thủ công và có thể gây mất vệ sinh Bên cạnh đó, có tình trạng người làm bún thiếu lương tâm có thể sử dụng hoá chất đặc biệt như Formol để bảo quản bún , gây độc hại cho sức khoẻ người sử dụng

Thu nhập từ nghề thấp hơn các nghề khác

Thu nhập từ nghề làm bún hiện chỉ khoảng 4 triệu/ người/ tháng Trong khi, trung bình một số nghề dịch vụ khác như : nhà cho sinh viên thuê, lái taxi, cho

Trang 36

thuê kinh doanh nhà hàng quán bia, rửa xe, thì số tiền thu nhập có thể cao gấp đôi so với làm bún Đặc biệt, hiện nay địa phương này lại nằm trong khu du lịch thể thao có rất nhiều điều kiện để chuyển đổi sang các ngành dịch vụ khác nhàn nhã và thu lợi nhuận cao hơn nghề làm bún Vì vậy, đặt ra một sự so sánh lớn giữa thu nhập từ nghề làm bún với các nghề khác.

1.3.3.2 Những yếu tố chủ quan

Nghề làm bún có các công đoạn và kỹ thuật nặng nhọc, vất vả

Nghề này hết sức vất vả, nặng nhọc đòi hỏi người làm phải có tính kiên trì bền

bỉ Nghề làm bún là nghề lao động nặng với các kỹ thuật nặng như khuân vác gạo, bột, nhào bột, vắt bún, cả ngày làm việc tiếp xúc với lò than bụi và khí độc Với các công đoạn nặng nhọc thường phải có sự kết hợp làm việc cùng với nhau

đặc biệt là cần có sức khỏe của người nam giới hỗ trợ

Thế hệ trẻ không quan tâm đến nghề truyền thống Hiện nay, do khu

vực này có tốc độ đô thị hóa và công nghiệp hóa mạnh nên ruộng vườn mất đi, người dân không chỉ làm nông nghiệp trồng trọt lúa , hoa màu và làm bún như trước đây Thanh thiếu niên được học hành, có trình độ học vấn cao hơn trước nên có nhiều sự lựa chọn nghề mới để kiếm sống Nếu như, trước đây, người nông dân chủ yếu chỉ được học hết tiểu học hoặc PTCS thì nay, thanh thiếu niên đã học hết THPT hoặc trung cấp, cao đẳng, đại học với các nghề mới như điện, kế toán, tin học, nên thanh niên hoặc trung niên có nhiều cơ hội nghề

mới, không chỉ có sự lựa chọn duy nhất làm bún như trước đây

Nghề không có tương lai phát triển, thăng tiến (không có vị thế trong

xã hội)

Với trình độ hiểu biết, mức độ được tiếp cận với phương tiện thông tin đại chúng như hiện nay, người dân làng nghề đặc biệt là thanh niên, giới trẻ có sự so sánh giữa nghề làm bún với một số nghề khác Nghề làm bún được coi là nghề

Trang 37

vất vả, lao động chân tay, trình độ thấp, không có điều kiện để mở mang trí óc, tầm nhìn, sự hiểu biết, thường chỉ làm ở nhà cùng người thân, không có sự thăng tiến, phát triển nghề, không được xã hội tôn vinh , thừa nhận, không có cơ hội thăng tiến ở những cấp độ cao hơn

Bảo tồn nghề của ông cha truyền lại

Với nghề truyền thống làm bún của làng nghề Phú Đô đã trải qua gần 300 năm nên người dân từ thời trước tới nay vẫn được truyền lại bí quyết nghề nghiệp từ ông cha để lại Nên hầu hết những người dân cao tuổi rất muốn con cái giữ nghề làm nghề như một cái nghiệp, với sự tự hào, hăng say nhất , và lại được tiếp tục truyền lại cho thế hệ sau để nghề không bị mai một Chính vì vậy, người già vẫn luôn ủng hộ, cổ vũ con cái theo nghề làm bún

1.3.3.3 Những điều kiện thuận lợi và khó khăn trong việc giữ gìn nghề làm bún truyền thống

Thuận lợi của làng nghề làm bún Phú Đô

- Làng nghề truyền thống không những tạo việc làm cho người lao động ở nông thôn mà còn hạn chế sự di dân tự do, tệ nạn xã hội như cờ bạc, rượu chè do tình trạng thất nghiệp gây ra ở một số làng nghề được đền bù đất đai hoặc giàu

có lên nhanh chóng nhờ bán đất đai nông nghiệp

- Huy động được nguồn lực trong dân, sử dụng nguồn tài nguyên sẵn có tại địa phương

- Sản phẩm thiết yếu, nhu cầu thị trường lớn và thường xuyên

Khó khăn của làng nghề Phú Đô

- Nguồn vốn hạn hẹp, thu nhập từ nghề thấp tạo ra tâm lý so sánh, chán nản của người dân

- Công nghệ, thiết bị thô sơ, phương thức thủ công là chủ yếu

Trang 38

- Môi trường sản xuất đang bị ô nhiễm, dịch vụ phục vụ sản xuất không đồng bộ, nhỏ lẻ mang tính chất địa phương

Trong xu thế toàn cầu hóa cộng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, ngành nghề truyền thống có những cơ hội để phát triển, song cũng đứng trước không ít khó khăn, thách thức mới

Cùng với mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội việc phát triển các làng nghề truyền thống cũng là một trong những mục tiêu quan trọng để đẩy nhanh quá trình thực hiện CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn Chính vì vậy việc nghiên cứu để đưa ra giải pháp phát triển bền vững cho làng nghề truyền thống ở Phú

Đô đang là đòi hỏi bức thiết hiện nay, bởi đây là một trong những yếu tố sống còn để tạo môi trường hoàn thiện nhất cho làng nghề vừa bảo tồn được giá trị văn hoá truyền thống vốn có, đồng thời nâng cao mức sống, đảm bảo thu nhập cho người dân nơi đây

Tiểu Kết chương 1

Hành vi là một trong những phạm trù cơ bản trong tâm lý học Đã có nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu những khía cạnh khác nhau về hành vi Mỗi công trình các tác giả đều có những quan điểm riêng của mình Nhìn chung, các nhà tâm lý học hoạt động đều cho rằng hành vi là những biểu hiện cụ thể ra bên ngoài, nhưng ẩn chứa bên trong nó là động cơ, mục đích cụ thể của con người, hành vi do ý thức định hướng, điều khiển và điều chỉnh Hành

vi của con người chủ yếu là hành vi có ý thức chứ không phải là hành vi chỉ đơn thuần là sự phản ứng lại một cách máy móc với các điều kiện tự nhiên bên ngoài

Trang 39

Hành vi người là biểu hiện bề ngoài của hoạt động, là hành động bên ngoài luôn thống nhất với tâm lý người Tâm lý và hành vi đều là những cái có thực, quan hệ với nhau, chi phối lẫn nhau, đều có vai trò trong cuộc sống, đều tham gia tích cực vào sự tác động của con người vào thế giới xung quanh cũng như tác động vào chính con người

Hành vi giữ gìn nghề truyền thống là hành vi xã hội và mang những đặc điểm của hành vi xã hội

Để tiến hành hành vi giữ gìn nghề truyền thống cần xem xét từ nhận thức, nhu cầu, mong muốn, động cơ làm nghề của người dân Đồng thời xem xét một

số biểu hiện cụ thể mà họ thực hiện như việc tiến hành sản xuất (thực hành nghề), sự lôi cuốn người khác cùng tham gia thực hiện

Từ quan niệm của mình về khái niệm “hành vi”, “hành vi giữ gìn nghề làm bún truyền thống”, tác giả đề cập đến mặt lý luận của những yếu tố ảnh hưởng đến hành vi giữ gìn nghề làm bún truyền thống tại Phú Đô - Mễ Trì - Từ Liêm- Hà Nội Trong đó bao gồm các yếu tố liên quan đến bản thân người dân

và các yếu tố thuộc về môi trường xã hội có liên quan và một số điều kiện thuận lợi khó khăn trong việc giữ gìn và phát triển nghề truyền thống tại đây

Chương 2

TỔ CHỨC, TIẾN TRÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Tổ chức, tiến trình và phương pháp nghiên cứu lý luận

2.1.1 Tổ chức nghiên cứu lý luận

Để xây dựng cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu hành vi giữ gìn nghề làm bún truyền thống, chúng tôi nghiên cứu những công trình của các tác giả đi trước trong và ngoài nước về các vấn đề liên quan đến hành vi, hành vi giữ gìn nghề truyền thống Trên cơ sở đó, chỉ ra các khái niệm công cụ cho luận văn

Trang 40

cũng như một số vấn đề lý luận cơ bản về hành vi, hành vi giữ gìn nghề truyền thống bằng cách tập trung vào việc trả lời những vấn đề chính sau: thực trạng hành vi giữ gìn nghề truyền thống như thế nào? Các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng này? Từ đó, chúng tôi đề xuất một số biện pháp nhằm cải thiện thực trạng, nâng cao hơn nữa hiệu quả hành vi giữ gìn nghề truyền thống

2.1.2 Tiến trình nghiên cứu lý luận:

Chúng tôi tiến hành nghiên cứu lý luận nói trên trong khoảng thời gian từ 2/2009-12/2009

2.1.3 Phương pháp nghiên cứu lý luận:

2.1.3.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu, văn bản

a Mục đích nghiên cứu: Xác lập nền tảng lý luận cơ bản làm cơ sở nghiên

cứu vấn đề hành vi giữ gìn nghề truyền thống

b Nội dung nghiên cứu: (1) Phân tích, tổng hợp và hệ thống hoá những

công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước về các vấn đề liên quan đến hành vi nói chung và vấn đề hành vi giữ gìn nghề làm bún truyền thống, nêu bật các hạn chế và các vấn đề còn tồn tại trong các nghiên cứu này; (2) Xác định các khái niệm công cụ và một số vấn đề lý luận khác liên quan đến

đề tài

c Phương pháp nghiên cứu:

Phân tích, tổng hợp , hệ thống hoá và khái quát hoá những lý thuyết và các công trình nghiên cứu thực tiễn đã được công bố và đăng tải trên sách báo, tạp chí có uy tín của các tác giả trong và ngoài nước về các vấn đề liên quan đến hành vi và hành vi giữ gìn nghề truyền thống

2.1.3.2 Phương pháp chuyên gia

a Mục đích nghiên cứu: Xác định nền tảng lý luận cơ bản làm cơ sở

nghiên cứu vấn đề hành vi giữ gìn nghề làm bún truyền thống

Ngày đăng: 23/03/2015, 13:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Gustave Le Bon (1895), La Psychologie des foule, Felix Alcan, Nguyễn Xuân Khánh dịch (2006), Tâm lý học đám đông Nxb Tri thức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: La Psychologie des foule, Felix Alcan", Nguyễn Xuân Khánh dịch (2006), "Tâm lý học đám đông
Tác giả: Gustave Le Bon (1895), La Psychologie des foule, Felix Alcan, Nguyễn Xuân Khánh dịch
Nhà XB: Nxb Tri thức
Năm: 2006
3. Phạm Hoàng Gia (Chủ biên)- Phạm Minh Hạc – Phạm Huy Châu dịch (1989), Hoạt động, ý thức, nhân cách , Nxb Giáo Dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động, ý thức, nhân cách
Tác giả: Phạm Hoàng Gia (Chủ biên)- Phạm Minh Hạc – Phạm Huy Châu dịch
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 1989
4. Lưu Song Hà (2004), Nghiên cứu về hành vi lệch chuẩn của học sinh trung học cơ sở Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lưu Song Hà (2004)
Tác giả: Lưu Song Hà
Năm: 2004
5. Phạm Minh Hạc (2001), Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2001
6. Phạm Minh Hạc – Lê Khanh – Trần Trọng Thuỷ (1988), Tâm lý học, Tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học
Tác giả: Phạm Minh Hạc – Lê Khanh – Trần Trọng Thuỷ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1988
7. Phạm Minh Hạc – Lê Khanh – Trần Trọng Thuỷ (2004), Tâm lý học, Tập 2, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học
Tác giả: Phạm Minh Hạc – Lê Khanh – Trần Trọng Thuỷ
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2004
8. Phạm Minh Hạc (1996), Phát triển văn hoá, giữ gìn bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa nhân loại, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Minh Hạc (1996), "Phát triển văn hoá, giữ gìn bản sắc dân tộc, tiếp thu tinh hoa nhân loại
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1996
9. Phạm Minh Hạc (1994), Vấn đề con người trong công cuộc đổi mới, KX – 07, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Minh Hạc (1994), "Vấn đề con người trong công cuộc đổi mới
Tác giả: Phạm Minh Hạc
Năm: 1994
10. Phạm Minh Hạc (1989), Hành vi và hoạt động, Nxb Giáo dục, Hà Nội 11. Hergenhahn.B.R (2003), Nhập môn lịch sử tâm lý học, ngời dịch Lưu VănHy, Nxb Thống kê, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Minh Hạc (1989), "Hành vi và hoạt động", Nxb Giáo dục, Hà Nội" 11. "Hergenhahn.B.R (2003), "Nhập môn lịch sử tâm lý học
Tác giả: Phạm Minh Hạc (1989), Hành vi và hoạt động, Nxb Giáo dục, Hà Nội 11. Hergenhahn.B.R
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
12. Trần Hiệp (Chủ biên) (1996), Tâm lý học xã hội (Những vấn đề lý luận), Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học xã hội (Những vấn đề lý luận)
Tác giả: Trần Hiệp (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1996
13. Vũ Gia Hiền (2005), Tâm lý học và chuẩn hành vi, NXb Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học và chuẩn hành vi
Tác giả: Vũ Gia Hiền
Năm: 2005
14. Nguyễn Hưởng- Dương Diệu Hoa – Phan Trọng Ngọ (1997), Tuyển tập Tâm lý học, Nxb ĐHQG, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập Tâm lý học
Tác giả: Nguyễn Hưởng- Dương Diệu Hoa – Phan Trọng Ngọ
Nhà XB: Nxb ĐHQG
Năm: 1997
15. Nguyễn Thị Hoa (2000), Các khái niệm cơ bản và sự phân loại hành vi xã hội, Tâm lý học xã hội, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các khái niệm cơ bản và sự phân loại hành vi xã hội, Tâm lý học xã hội
Tác giả: Nguyễn Thị Hoa
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2000
16. Lê Khanh (2004), Tâm lý học nhân cách, Nxb Đại học Quốc Gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học nhân cách
Tác giả: Lê Khanh
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc Gia
Năm: 2004
17. Hoàng Mộc Lan (2001), Phương pháp luận và Phương pháp nghiên cứu Tâm lý học, Giáo án chi tiết Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp luận và Phương pháp nghiên cứu Tâm lý học
Tác giả: Hoàng Mộc Lan
Năm: 2001
18. Nguyễn Lân (1989), Từ điển Hán Việt , Nxb TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Hán Việt
Tác giả: Nguyễn Lân
Nhà XB: Nxb TP. Hồ Chí Minh
Năm: 1989
19. Đỗ Long – Trần Hiệp (1993): Tâm lý cộng đồng làng và di sản, Nxb KHXH Miền Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý cộng đồng làng và di sản
Tác giả: Đỗ Long – Trần Hiệp
Nhà XB: Nxb KHXH Miền Nam
Năm: 1993
20. Phan Trọng Ngọ (Chủ biên) – Nguyễn Đức Hưởng (6/2003), Các lý thuyết phát triển tâm lý người, Nxb ĐHSP, Hà nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các lý thuyết phát triển tâm lý người
Nhà XB: Nxb ĐHSP
21. Đào Thị Oanh (2002), Tâm lý học lao động, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học lao động
Tác giả: Đào Thị Oanh
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2002
22. Nguyễn Ngọc Phú (2005), Cơ sở phương pháp luận của Tâm lý học, Học viện Chính trị – Quân sự Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở phương pháp luận của Tâm lý học
Tác giả: Nguyễn Ngọc Phú
Năm: 2005

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng các chữ viết tắt - Nghiên cứu hành vi đối với việc giữ gìn nghề làm bún truyền thống của người dân làng Phú Đô - Mễ Trì - Từ Liêm - Hà Nội
Bảng c ác chữ viết tắt (Trang 5)
Bảng 2.1. Mẫu khách thể tại thôn Phú Đô được khảo sát - Nghiên cứu hành vi đối với việc giữ gìn nghề làm bún truyền thống của người dân làng Phú Đô - Mễ Trì - Từ Liêm - Hà Nội
Bảng 2.1. Mẫu khách thể tại thôn Phú Đô được khảo sát (Trang 43)
Bảng 3.1: Tần số thực hiện tìm hiểu về nghề truyền thống của người dân. - Nghiên cứu hành vi đối với việc giữ gìn nghề làm bún truyền thống của người dân làng Phú Đô - Mễ Trì - Từ Liêm - Hà Nội
Bảng 3.1 Tần số thực hiện tìm hiểu về nghề truyền thống của người dân (Trang 50)
Theo bảng 3.1, hình thức tìm hiểu “thông qua chỉ dẫn của người thân trong  gia đình, họ hàng” là cao nhất ( 28,5%), tiếp theo là “ thông qua việc tự tham gia  vào các quá trình sản xuất bún” (27,0%), đứng thứ ba là “thông qua qua sát các  thợ lành nghề  ( - Nghiên cứu hành vi đối với việc giữ gìn nghề làm bún truyền thống của người dân làng Phú Đô - Mễ Trì - Từ Liêm - Hà Nội
heo bảng 3.1, hình thức tìm hiểu “thông qua chỉ dẫn của người thân trong gia đình, họ hàng” là cao nhất ( 28,5%), tiếp theo là “ thông qua việc tự tham gia vào các quá trình sản xuất bún” (27,0%), đứng thứ ba là “thông qua qua sát các thợ lành nghề ( (Trang 51)
Bảng 3.5: Hiểu biết của người dân về quy trình kỹ thuật công nghệ  sản xuất bún - Nghiên cứu hành vi đối với việc giữ gìn nghề làm bún truyền thống của người dân làng Phú Đô - Mễ Trì - Từ Liêm - Hà Nội
Bảng 3.5 Hiểu biết của người dân về quy trình kỹ thuật công nghệ sản xuất bún (Trang 57)
Hình 3.1: Mức độ mong muốn của nữ giới - Nghiên cứu hành vi đối với việc giữ gìn nghề làm bún truyền thống của người dân làng Phú Đô - Mễ Trì - Từ Liêm - Hà Nội
Hình 3.1 Mức độ mong muốn của nữ giới (Trang 60)
Hình 3.2: Mức độ mong muốn của nam giới - Nghiên cứu hành vi đối với việc giữ gìn nghề làm bún truyền thống của người dân làng Phú Đô - Mễ Trì - Từ Liêm - Hà Nội
Hình 3.2 Mức độ mong muốn của nam giới (Trang 61)
Hình 3.3: Mong muốn của người dân sống trong gia đình có làm bún - Nghiên cứu hành vi đối với việc giữ gìn nghề làm bún truyền thống của người dân làng Phú Đô - Mễ Trì - Từ Liêm - Hà Nội
Hình 3.3 Mong muốn của người dân sống trong gia đình có làm bún (Trang 61)
Hình 3.5: Động cơ lựa chọn nghề làm bún là nghề chính của nam giới - Nghiên cứu hành vi đối với việc giữ gìn nghề làm bún truyền thống của người dân làng Phú Đô - Mễ Trì - Từ Liêm - Hà Nội
Hình 3.5 Động cơ lựa chọn nghề làm bún là nghề chính của nam giới (Trang 68)
Hình 3.6:Động cơ lựa chọn nghề làm bún làm nghề chính của nữ giới. - Nghiên cứu hành vi đối với việc giữ gìn nghề làm bún truyền thống của người dân làng Phú Đô - Mễ Trì - Từ Liêm - Hà Nội
Hình 3.6 Động cơ lựa chọn nghề làm bún làm nghề chính của nữ giới (Trang 68)
Bảng 3.8: Hành động tiêu cực của người dân đối với hành vi giữ gìn  nghề làm bún truyền thống - Nghiên cứu hành vi đối với việc giữ gìn nghề làm bún truyền thống của người dân làng Phú Đô - Mễ Trì - Từ Liêm - Hà Nội
Bảng 3.8 Hành động tiêu cực của người dân đối với hành vi giữ gìn nghề làm bún truyền thống (Trang 72)
Bảng 3.9: Hành động lôi cuốn người khác tham gia làm nghề - Nghiên cứu hành vi đối với việc giữ gìn nghề làm bún truyền thống của người dân làng Phú Đô - Mễ Trì - Từ Liêm - Hà Nội
Bảng 3.9 Hành động lôi cuốn người khác tham gia làm nghề (Trang 74)
Bảng 3.10: So sánh hành động lôi cuốn người khác tham gia làm nghề  truyền thống giữa các nhóm khách thể - Nghiên cứu hành vi đối với việc giữ gìn nghề làm bún truyền thống của người dân làng Phú Đô - Mễ Trì - Từ Liêm - Hà Nội
Bảng 3.10 So sánh hành động lôi cuốn người khác tham gia làm nghề truyền thống giữa các nhóm khách thể (Trang 75)
Bảng 3.12: Hành động tiếp đón khách du lịch của người dân làng nghề. - Nghiên cứu hành vi đối với việc giữ gìn nghề làm bún truyền thống của người dân làng Phú Đô - Mễ Trì - Từ Liêm - Hà Nội
Bảng 3.12 Hành động tiếp đón khách du lịch của người dân làng nghề (Trang 80)
Bảng 3.13: Đánh giá của người dân đối với các yếu tố khách quan ảnh  hưởng đến việc giữ gìn nghề làm bún tại Phú Đô - Nghiên cứu hành vi đối với việc giữ gìn nghề làm bún truyền thống của người dân làng Phú Đô - Mễ Trì - Từ Liêm - Hà Nội
Bảng 3.13 Đánh giá của người dân đối với các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến việc giữ gìn nghề làm bún tại Phú Đô (Trang 83)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w