Nhận thức của trẻ vị thành niên ở trường giáo dưỡng về những vấn đề cần được thầy cô tham vấn .... Mục đích nghiên cứu Chỉ ra thực trạng nhận thức về sự cần thiết phải được tham vấn tâm
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
LÊ THU TRANG
NHU CẦU THAM VẤN TÂM LÝ CỦA TRẺ VỊ THÀNH NIÊN VI PHẠM PHÁP LUẬT
Ở TRƯỜNG GIÁO DƯỠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH: TÂM LÝ HỌC
MÃ SỐ: 60 31 80
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Trần Thị Minh Đức
HÀ NỘI - 2011
Trang 2MỤC LỤC
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CÁC BẢNG 5
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ 6
MỞ ĐẦU 7
1 Lý do chọn đề tài 7
2 Đối tượng nghiên cứu 8
3 Mục đích nghiên cứu 9
4 Khách thể nghiên cứu 9
5 Giả thuyết nghiên cứu 9
6 Nhiệm vụ nghiên cứu 9
7 Phạm vi nghiên cứu 10
8 Phương pháp nghiên cứu 10
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 11
1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề 11
1.1.1 Một số nghiên cứu về tham vấn trên thế giới 11
1.1.2 Sự phát triển tham vấn ở Việt Nam 16
1.1.3 Một số nghiên cứu về nhu cầu 20
1.2 Một số khái niệm cơ bản 31
1.2.1 Nhu cầu 31
1.2.2 Khái niệm trẻ vị thành niên vi phạm pháp luật 35
1.2.3 Khái niệm trường giáo dưỡng 37
1.3 Nhu cầu tham vấn của trẻ vị thành niên vi phạm pháp luật ở trường giáo dưỡng 38
1.3.1 Một số đặc điểm của trẻ vị thành niên vi phạm pháp luật ở trường giáo
Trang 31.3.2 Nhu cầu tham vấn của trẻ vị thành niên vi phạm pháp luật ở trường
giáo dưỡng 45
CHƯƠNG 2 TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 54
2.1 Tổ chức nghiên cứu 54
2.1.1 Giai đoạn 1: Nghiên cứu lý luận 54
2.1.2 Giai đoạn 2: Khảo sát thử 54
2.1.3 Giai đoạn 3: Khảo sát chính thức 55
2.2 Phương pháp nghiên cứu 60
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 60
2.2.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (ankét) 60
2.2.3 Phương pháp phỏng vấn sâu 62
2.2.4 Phương pháp thảo luận nhóm 63
2.2.5 Phương pháp quan sát 64
2.2.6 Phương pháp thống kê toán học 64
2.3 Tiến độ nghiên cứu 65
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 66
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 67
3.1 Nhận thức của trẻ vị thành niên vi phạm pháp luật ở trường giáo dưỡng về nhu cầu tham vấn tâm lý 67
3.1.1 Nhận thức của trẻ vị thành niên ở trường giáo dưỡng về ý nghĩa của tham vấn tâm lý 68
3.1.2 Nhận thức của trẻ vị thành niên ở trường giáo dưỡng về sự cần thiết phải tham vấn tâm lý 73
3.1.3 Nhận thức của trẻ vị thành niên ở trường giáo dưỡng về lợi ích của tham vấn tâm lý 81
3.1.4 Nhận thức của trẻ vị thành niên ở trường giáo dưỡng về những phẩm chất quan trọng của nhà tham vấn 85
Trang 43.1.5 Nhận thức của trẻ vị thành niên ở trường giáo dưỡng về những vấn đề
cần được thầy cô tham vấn 97
3.2 Nhu cầu tham vấn tâm lý của trẻ vị thành niên vi phạm pháp luật ở trường giáo dưỡng 109
3.2.1 Mức độ mong muốn được tham vấn tâm lý của trẻ vị thành niên ở trường giáo dưỡng 109
3.2.2 Sự e ngại của trẻ vị thành niên khi nói ra vấn đề của mình 116
3.2.3 Mong muốn của trẻ vị thành niên ở trường giáo dưỡng về những vấn đề thầy cô có thể giúp đỡ 118
3.2.4 Những khó khăn trẻ vị thành niên ở trường giáo dưỡng gặp phải nếu không được tham vấn tâm lý 121
3.2.5 Tâm trạng của trẻ vị thành niên ở trường giáo dưỡng khi không được tham vấn 125
3.3 Sự thỏa mãn nhu cầu tham vấn tâm lý của trẻ vị thành niên ở trường giáo dưỡng 127
3.3.1 Hành vi tìm đến tham vấn của trẻ vị thành niên ở trường giáo dưỡng 128
3.3.2 Tần suất được tham vấn của trẻ vị thành niên ở trường giáo dưỡng 130
3.3.3 Sự thoả mãn nhu cầu tham vấn của trẻ vị thành niên ở trường giáo dưỡng thể hiện qua việc lựa chọn hình thức tham vấn 132
3.3.4 Mức độ thoả mãn nhu cầu tham vấn tâm lý của trẻ vị thành niên ở trường giáo dưỡng 135
3.3.5 Những đề xuất của trẻ vị thành niên trường giáo dưỡng để đáp ứng tốt hơn nhu cầu tham vấn của các em 140
MỘT SỐ CA THAM VẤN 143
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 149
1 Kết luận 149
Trang 52.1 Đối với lãnh đạo, cơ quan chức năng trực thuộc Bộ Công an 151
2.2 Đối với nhà trường và thầy cô giáo 151
2.3 Đối với gia đình 152
2.4 Đối với trẻ vị thành niên ở trường giáo dưỡng 153
TÀI LIỆU THAM KHẢO 154 PHẦN PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1 Một số đặc điểm của học sinh trường giáo dưỡng số 2 Bảng 2.2 Một số đặc điểm của giáo viên trường giáo dưỡng Bảng 3.1 Những phẩm chất tâm lý quan trọng của nhà tham vấn Bảng 3.2 Mức độ quan trọng của các kỹ năng tham vấn
Bảng 3.3 Nhận thức về những vấn đề cần được thầy cô tham vấn Bảng 3.4 Các vấn đề được chia sẻ nhiều nhất khi tham vấn
Bảng 3.5 Số lần trẻ được tham vấn
Trang 7DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 1.1 Tháp nhu cầu của Maslow
Biểu đồ 3.1 Nhận thức về tham vấn tâm lý
Biểu đồ 3.2 Nhận thức về sự cần thiết phải tham vấn tâm lý
Biểu đồ 3.3 Nhận thức về lợi ích của tham vấn tâm lý
Biểu đồ 3.4 Phẩm chất tâm lý của nhà tham vấn
Biểu đồ 3.5 Nhận thức về những vấn đề cần được thầy cô tham vấn Biểu đồ 3.6 Mức độ mong muốn được tham vấn tâm lý
Biểu đồ 3.7 Mức độ mong muốn tham vấn khi không gặp phải vấn đề Biểu đồ 3.8 Mức độ e ngại khi tham vấn
Biểu đồ 3.9 Tâm trạng học sinh nếu không được tham vấn
Biểu đồ 3.10 Hành vi tìm đến tham vấn của trẻ vị thành niên
Biểu đồ 3.11 Số lần trẻ được tham vấn
Biểu đồ 3.12 Mức độ của các hình thức tham vấn
Biểu đồ 3.13 Mức độ thoả mãn nhu cầu tham vấn tâm lý
Biểu đồ 3.14 Cảm xúc của thầy cô sau khi tham vấn
Biểu đồ 3.15 Mức độ hài lòng của thầy cô sau khi làm tham vấn
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong quá trình phát triển đất nước, mặt trái của nền kinh tế thị trường
và tác hại của các tệ nạn xã hội đã làm phát sinh tình trạng một bộ phận trẻ vị thành niên vi phạm pháp luật, làm đau đớn và nhức nhối cho gia đình và xã hội Trẻ em mắc phải những tội nghiêm trọng như cướp của, giết người, vận chuyển ma túy… Năm 2006, theo số liệu thống kê của Viện kiểm sát nhân dân tối cao riêng trẻ em dưới 14 tuổi có 7000 vụ vi phạm, chiếm đến 70% tội phạm vị thành niên dưới 18 tuổi Con số này là một lời cảnh báo về tình trạng trẻ vị thành niên phạm tội Trẻ vị thành niên ở lứa tuổi muốn tự khẳng định mình, không muốn phụ thuộc và dễ bị tác động, rủ rê, lôi kéo bởi các đối tượng xấu Nhiều em bị ảnh hưởng tâm lý từ các loại phim, ảnh bạo lực, văn hoá phẩm đồi truỵ trên mạng Internet và ngoài xã hội Trong khi đó, nhiều bậc phụ huynh không chú ý đến sự phát triển tâm, sinh lý của con cái, nuông chiều con cái, không nghiêm khắc trong việc dạy bảo con em mình mà mải lo công việc, kiếm tiền Một số trẻ em phải sống trong hoàn cảnh mồ côi bố hoặc
mẹ, cha mẹ bất hoà, ly thân, ly hôn dẫn đến sự thiếu hụt về mặt tình cảm, sự phát triển lệch lạc Hơn nữa do thiếu sự chỉ bảo, quan tâm của gia đình nên số thanh, thiếu niên này dễ bị kẻ xấu lợi dụng và lôi kéo vào con đường phạm tội
Trẻ vị thành niên vi phạm pháp luật được đưa vào trường giáo dưỡng hầu như đã bị tổn thương về nhiều mặt Các em thiếu tình yêu thương và sự chăm sóc của cha mẹ, gia đình dẫn tới sự lệch lạc trong cấu trúc nhân cách, rối nhiễu tâm lý, rối loạn hành vi… Hầu hết các em đều có nhu cầu được chia
sẻ những tâm tư nguyện vọng và vượt qua những trở ngại tâm lý, nhất là trong quãng thời gian nhận sự quản lý, giáo dục ở trường giáo dưỡng Để các em có
Trang 9thể yên tâm ở trường học tập, lao động, phấn đấu…, thầy cô giáo phải giúp các em tháo gỡ những vướng mắc tâm lý, ổn định tinh thần, tư tưởng
Trong những năm qua, Tổng cục VIII, Bộ công an đã đưa vào thử nghiệm hoạt động tham vấn cho học sinh trong các trường giáo dưỡng và đã đạt được những kết quả bước đầu đáng khích lệ Thực chất công tác giáo dục trong trường giáo dưỡng là giúp trẻ em có hành vi vi phạm pháp luật thay đổi những cảm xúc - nhận thức - hành vi sai lệch, hình thành cho các em những phẩm chất tâm lý mới, hành vi mới phù hợp với yêu cầu xã hội
Thực tế cho thấy, hoạt động tham vấn kịp thời có thể giúp các em vượt qua khủng hoảng tâm lý, giúp các em nhìn nhận rõ hơn vấn đề của mình và tự giải quyết vấn đề theo hướng tích cực hơn Khi nhà tham vấn nhận thấy những biểu hiện bất thường ở trẻ, kịp thời có sự hỗ trợ tâm lý cho các em thì
sẽ giảm bớt nhiều hậu quả xấu và đưa lại những kết quả về mặt kinh tế, giáo dục, thậm chí còn ngăn chặn, phòng ngừa những rối loạn hành vi trong các
em như: giận dữ, đánh nhau, bỏ ăn, tự sát
Chúng tôi thiết nghĩ rằng, với những trẻ vị thành niên có nhu cầu cần được hỗ trợ tâm lý, nếu công tác tham vấn được đưa vào trường giáo dưỡng một cách đồng bộ, chuyên biệt thì chắc hiệu quả giáo dục sẽ rất cao Nhằm đi sâu tìm hiểu nhu cầu tham vấn của trẻ vị thành niên ở trường giáo dưỡng,
chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nhu cầu tham vấn của trẻ vị thành
niên vi phạm pháp luật ở trường giáo dưỡng”
2 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu mức độ thỏa mãn nhu cầu tham vấn tâm lý của trẻ vị thành niên vi phạm pháp luật sống trong trường giáo dưỡng
Trang 103 Mục đích nghiên cứu
Chỉ ra thực trạng nhận thức về sự cần thiết phải được tham vấn tâm lý,
về mức độ mong muốn và mức độ thỏa mãn nhu cầu tham vấn tâm lý của trẻ
vị thành niên vi phạm pháp luật ở trường giáo dưỡng Trên cơ sở đó, đưa ra một số kiến nghị nhằm đáp ứng nhu cầu tham vấn tâm lý của các em
4 Khách thể nghiên cứu
- Nghiên cứu 141 trẻ vị thành niên vi phạm pháp luật ở trường giáo dưỡng số 2 - Ninh Bình
- 02 cán bộ lãnh đạo trường giáo dưỡng
- 02 cán bộ quản lý học sinh trường giáo dưỡng
- 23 thầy cô giáo làm tham vấn các trường giáo dưỡng trong cả nước (4 trường)
5 Giả thuyết nghiên cứu
Chúng tôi cho rằng, sau khi được tham vấn tâm lý, nhìn chung nhu cầu tham vấn tâm lý của đa số trẻ vị thành niên vi phạm pháp luật ở trường giáo dưỡng đều được thỏa mãn
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hóa các tài liệu liên quan đến nội dung đề tài nhằm xây dựng cơ sở lý thuyết cho đề tài
- Nghiên cứu thực trạng nhận thức của trẻ vị thành niên vi phạm pháp luật về sự cần thiết phải tham vấn tâm lý, mức độ mong muốn được tham vấn tâm lý và hành vi để thỏa mãn nhu cầu tham vấn tâm lý ở các em
- Đưa ra một số kiến nghị nhằm đáp ứng hiệu quả nhu cầu tham vấn của trẻ vị thành niên ở trường giáo dưỡng
Trang 117 Giới hạn nghiên cứu
- Nội dung nghiên cứu: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu nhu cầu tham vấn của trẻ vị thành niên ở trường giáo dưỡng về những khó khăn tâm lý mà các em gặp phải trong thời gian học tập và rèn luyện ở trường
- Địa bàn nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu ở trường giáo dưỡng số 2 – Ninh Bình
8 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
- Phương pháp điều tra bảng hỏi (an két)
- Phương pháp phỏng vấn sâu
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp thảo luận nhóm
- Phương pháp thống kê toán học
(Các phương pháp nghiên cứu này sẽ được chúng tôi trình bày cụ thể ở chương 2)
Trang 12CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Một số nghiên cứu về tham vấn tâm lý trên thế giới
Với danh nghĩa là một câu chuyện xin cho lời khuyên của một người có kinh nghiệm với một người đang gặp khó khăn, tham vấn đã xuất hiện ngay
từ buổi bình minh của xã hội loài người Nhà “tham vấn” ở đây có thể là một người lớn tuổi, những người đứng đầu bộ tộc, buôn làng, những vị cha xứ hay những nhà hiền triết… Tuy nhiên, tham vấn được nghiên cứu và ứng dụng rộng rãi trong xã hội như một nghề mang tính chuyên nghiệp thì đến tận cuối thế kỷ XIX người ta mới thấy có những dấu hiệu chính thức
Dựa trên các mốc phát triển của các lý thuyết tiếp cận trong tham vấn
và sự phát triển toàn diện của các hoạt động tham vấn, như sự ra đời của các hiệp hội tham vấn, công tác nghiên cứu, giám sát tham vấn, hay vấn đề chứng chỉ hành nghề… và dựa vào những ảnh hưởng của các ngành khoa học lân cận, những sự kiện chính trị xã hội của thế giới có liên quan đến sự thúc đẩy, phát triển ngành tham vấn chuyên nghiệp
Ngành tham vấn trong giai đoạn khởi đầu với các nhà tiên phong triển khai các khái niệm cơ bản theo trường phái phân tâm học, các lý thuyết nghiên cứu về quá trình phát triển tâm lý người và sự ra đời của công tác hướng dẫn nghề, sau đó
là tham vấn nghề Những người có đóng góp cho sự ra đời của tham vấn hướng nghiệp trong giai đoạn này là Francis Galton, Wilhelm Wundt, James Cattell, G.Stanley Hall, Alfred Binet, Jesse Davis, Frank Parsons, Robert Yerkers
Wilhelm Wundt và Francis Galton là những nhà tâm lý học thực nghiệm Anh đầu tiên đã phát triển những phòng thực nghiệm để kiểm tra sự
Trang 13James Cattell và G.Stanley Hall, những nhà tâm lý học thực nghiệm Mĩ đầu tiên đã mở phòng thực nghiệm tại Havard và Đại học Pennsylvania cuối thế kỉ XIX và phát triển trắc nghiệm đo nhân cách, trắc nghiệm được áp dụng vào tham vấn nghề
Alfred Binet, nhà tâm lý học người Pháp đã phát triển trắc nghiệm kiểm tra trí thông minh đầu tiên cho Bộ Giáo dục - Cộng hoà Pháp nhằm phân biệt những đứa trẻ “bình thường” với những đứa “không bình thường” Vào đầu thế kỷ XX, những trắc nghiệm về năng lực như trắc nghiệm đánh giá thành tựu đạt được ở trường học và trắc nghiệm đánh giá nhân cách được phát triển Cũng vào thời gian này, Emil Kraepelin đã phát triển bảng phân loại bệnh tâm thần đầu tiên trên thế giới
Năm 1907, Jesse Davis đã xây dựng cơ sở đào tạo đầu tiên về công tác hướng dẫn nghề tại Michigan Tuy nhiên, người có ảnh hưởng lớn nhất đến công tác hướng nghiệp ở Mĩ là Frank Parson Ông đã xuất bản cuốn sách
“Cẩm nang hướng nghiệp” nhằm trợ giúp các cá nhân trong việc lựa chọn nghề nghiệp Năm 1909, cuốn sách “Chọn nghề” được coi là sự cống hiến to lớn mà ông đã để lại cho công tác hướng nghiệp Phòng tư vấn đầu tiên trên thế giới đã được F Parsons thành lập ở Boston (Mĩ) vào năm 1908 Parsons cho rằng công tác hướng nghiệp phải được thể hiện trong ba quá trình: sự thấu hiểu một cách rõ ràng về bản thân, về khả năng, sở thích, hoài bão; nguồn lực cũng như hạn chế của bản thân; sự hiểu biết về những yêu cầu của nghề nghiệp, điều kiện thành công, những cơ hội và những triển vọng phát triển; hiểu biết về mối liên hệ giữa đặc điểm cá nhân của bản thân và yêu cầu của công việc cụ thể Những ý tưởng của Parsons trong công tác hướng nghiệp đã thực sự trở thành nguyên tắc của nghề tham vấn sau này
Trên thế giới, những chuyên gia tham vấn hướng nghiệp phải là những nhà tham vấn học đường Họ có những phẩm chất và kỹ năng cần thiết để có
Trang 14thể làm việc với các nhu cầu học tập, cá nhân, xã hội và phát triển nghề nghiệp của học sinh Theo Bộ Lao động Hoa Kỳ, nhà tham vấn học đường giúp học sinh đánh giá khả năng, hứng thú, tài năng và đặc điểm nhân cách của mình để phát triển khả năng học tập thực sự và mục tiêu nghề nghiệp là
hỗ trợ cho học sinh Một người muốn trở thành nhà tham vấn học đường phải trải qua các chương trình học như: Lịch sử, quy trình tham vấn học đường, làm việc nhóm, nghiên cứu và đánh giá chương trình, một số yêu cầu cho nhà tham vấn học đường… Các học viên phải có 600 giờ thực tập nội trú dưới sự kiểm soát của một nhà tham vấn học đường uy tín và để được thực tập nội trú, người học phải có bằng thạc sỹ, hơn nữa phải có 3 năm kinh nghiệm làm việc được giám sát tại cơ sở
Hiện nay, ở các nước phát triển, tham vấn học đường là hoạt động không thể thiếu trong các trường học, 100% học sinh phổ thông được tiếp cận với nhà tham vấn học đường cũng như tất cả các em tiếp cận bắt buộc với môn Toán hay Lịch sử
Xét từ góc độ phát triển của các lý thuyết tâm lý học, các nhà tiên phong của trường phái Phân tâm học là Sigmund Freud, Anna Freud, Melanie Klein, Donald Winnicott, Carl Jung, Margaret Lawenferd, Alfred Adler Phần lớn phép trị liệu phân tâm của S.Freud đều xuất phát từ những khám phá về các quá trình vô thức và các cơ chế phòng vệ, chúng xuất hiện khi con người
có xáo trộn về cảm xúc, nhằm để tự vệ trước những kinh nghiệm đau buồn mà con người không đủ sức ứng phó Học thuyết của Freud đã mở ra một cách nhìn mới về sự phát triển của con người Các nhà tham vấn đã vận dụng những lí thuyết của Freud để ứng dụng trong giúp đỡ thân chủ thoát khỏi những rối nhiễu tâm lý Những thuật ngữ như: bản năng xung động (vô thức), bản ngã (ý thức) và siêu ngã (siêu thức), các cơ chế phòng vệ, sự đề kháng và
Trang 15sự liên tưởng thông suốt ngày nay đã trở nên quen thuộc đối với các khoa học trợ giúp về tâm lý, đặc biệt là đối với các nhà tham vấn chuyên nghiệp
E G Williamson (1930) đưa ra một lí thuyết hoàn chỉnh về tham vấn với tên gọi là “Tiếp cận đặc điểm và nhân tố” Williamson đề xuất các bước của một hoạt động tham vấn như sau:
1 Phân tích đánh giá vấn đề và lập hồ sơ về sự tiếp xúc và sự trắc nghiệm đối với thân chủ
2 Tổng hợp, tóm tắt và sắp xếp thông tin để hiểu vấn đề
3 Chẩn đoán, làm sáng tỏ vấn đề
4 Tham vấn, trợ giúp cá nhân tìm cách giải quyết
5 Theo dõi sát sao sự tiến triển cùng thân chủ
Patterson cho rằng sự khác nhau cơ bản của sự tiếp cận theo đặc điểm
và nhân tố so với tham vấn hướng nghiệp giai đoạn đầu thế kỷ là việc xác định được một chuỗi các bước của một hoạt động trợ giúp Đây chính là tiền thân của “Quá trình tham vấn”
Vào những năm 50 của thế kỷ XX, các lí thuyết nghiên cứu về quá trình phát triển tâm lý con người đã cho phép các nhà tham vấn vận dụng nó
để giúp đỡ cho các thân chủ của mình Các học thuyết tâm lý này là cơ sở khoa học cho việc nhận biết, giải thích nguồn gốc của hành vi và các rối loạn tâm lý ở con người như: Lý thuyết phát triển tâm lý xã hội, thuyết phát triển
tư duy trẻ em, lý thuyết phát triển nhu cầu con người, thuyết gắn bó mẹ - con,
lý thuyết về tổn thương tâm lý
Một trong những thay đổi lớn nhất của tham vấn hiện nay là tập trung vào lĩnh vực văn hoá hay còn gọi là tham vấn xuyên văn hoá Các nhà tham vấn cho rằng sẽ rất khó khăn trong việc giúp đỡ khách hàng nếu nhà tham vấn không nắm được nền tảng văn hoá của khách hàng Whitfield, McGrath và Coleman chỉ ra các yếu tố xác định một mô hình văn hoá cụ thể, đó là:
Trang 16- Đặc điểm bản thân cá nhân
- Diện mạo và cách ăn mặc
- Có niềm tin và hành vi đặc trưng
- Mối liên hệ với gia đình và các đặc trưng quan trọng khác
- Cách dành và sử dụng thời gian nhàn rỗi
- Cách tiếp thu và sử dụng kiến thức
- Cách thức giao tiếp và ngôn ngữ
- Những giá trị và các tập tục
- Sử dụng thời gian và không gian sống
- Thói quen ăn uống và chế biến món ăn theo phong tục tập quán
- Công việc và cách thức thực hiện công việc Những vấn đề văn hoá liên quan đến gen di truyền, màu da, dòng
giống, truyền thống hay vấn đề tiền bạc, quyền lực, vị trí xã hội, vai trò xã hội đều có ảnh hưởng đến sự nảy sinh nan đề, cách nhìn nan đề và cách xử lí nan
đề của mỗi thân chủ Tham vấn đa văn hoá là hướng tiếp cận thân chủ mà nhà tham vấn có cân nhắc cụ thể đến nền tảng khác biệt về văn hoá truyền thống, hiện tại và những kinh nghiệm của các nhóm khách hàng khác nhau Khi các nhà tham vấn thiếu hiểu biết về nền tảng văn hoá của thân chủ thì họ dễ đứng trên quan điểm của bản thân để đánh giá thân chủ, nhà tham vấn sẽ có nguy
cơ đánh giá thấp tác động của áp lực xã hội đối với thân chủ, giải thích nan đề của thân chủ theo xu hướng bệnh học mà không tính đến nguyên nhân từ cơ
sở văn hoá Điều này có thể dẫn đến sự chẩn đoán nhầm và có thể gây ra những tổn thương cho thân chủ
Ngày nay, tham vấn đã được ứng dụng rộng rãi trong cuộc sống của con người Các cán bộ tham vấn với tư cách là các chuyên gia tham vấn hay cán bộ xã hội làm việc trong các trường giáo dưỡng, trong các trung tâm tham
Trang 17như là một trong những dịch vụ xã hội có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống tinh thần mỗi cá nhân và gia đình
Tại một số nước có ngành tham vấn phát triển như Anh, Pháp, Mỹ, Canada… cán bộ tham vấn cần được đào tạo ở bậc thạc sĩ và có bằng hành nghề như một nhà tham vấn độc lập hay như một nhà công tác xã hội được đào tạo về công tác xã hội trong đó có tham vấn cùng với bằng hành nghề do hội đồng quốc gia cấp Tại các nước này đều có hội đồng quốc gia về tham vấn với những quy định chặt chẽ về nguyên tắc đạo đức, kiến thức và các kỹ năng mà nhà tham vấn cần có cũng như việc cấp bằng hành nghề cho các nhà tham vấn
1.1.2 Sự phát triển tham vấn ở Việt Nam
Hầu như không thấy tài liệu nào ghi lại sự phát triển của ngành tham vấn ở Việt Nam trước năm 1945
“Nghề tham vấn tâm lý”, mà khởi đầu là công tác tư vấn tâm lý, được xuất hiện vào những năm của thời kỳ chuyển đổi từ nền kinh tế bao cấp sang kinh tế thị trường Vào thời kỳ này, các hoạt động tư vấn tâm lý thường đi kèm với các chương trình cải thiện cuộc sống và kinh tế cho các đối tượng thuộc diện chính sách xã hội Công tác tư vấn là một phần trong các hoạt động của công tác Từ thiện, Công tác xã hội nhằm giải quyết những vấn đề mang tính thời đại như đói nghèo, bệnh tật, mại dâm, người có HIV, trẻ mồ côi, trẻ lang thang, người già không nơi nương tựa… với những tổn thương tâm lý sâu sắc
Công ước Quốc tế về quyền trẻ em (1991) đã được Nhà nước phê chuẩn và ban hành Luật Bảo vệ và Chăm sóc Giáo dục Trẻ em đã góp phần nâng cao trách nhiệm của gia đình, các cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội trong việc hạn chế vấn đề vi phạm quyền trẻ em và trẻ em làm trái pháp luật Bằng nghiệp vụ chuyên môn của mình, Ủy ban Bảo vệ Chăm sóc Trẻ em Việt Nam (tên cũ) đã xây dựng nhiều mô hình chăm sóc trẻ em, trong đó có
Trang 18mô hình văn phòng Tư vấn, nhằm bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, như trẻ em lang thang kiếm sống ở thành phố, trẻ em trộm cắp, trẻ nghiện hút, trẻ bị bóc lột lao động và tình dục, trẻ em mồ côi không nơi nương tựa… Những khóa tập huấn gần như đầu tiên về tư vấn trẻ em do Ủy ban Bảo vệ Chăm sóc Trẻ em Việt Nam tổ chức tại Hà Nội đã đặt nền tảng cho hàng loạt các hoạt động tập huấn nâng cao năng lực tham vấn cho cán bộ làm việc trong lĩnh vực bảo vệ trẻ em sau này
Trong những năm gần đây, ở Việt Nam xuất hiện nhiều hình thức tham vấn khác nhau, nhằm đáp ứng nhu cầu cơ bản của người dân Hiện nay tham vấn là một hoạt động không thể thiếu được trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày, được phát triển với nhiều mức độ khác nhau
Cũng như tiến trình phát triển tham vấn trên thế giới, ở Việt Nam tư vấn nghề là một trong những loại hình mang tính chuyên môn rõ nét nhất trong những năm vừa qua Các cán bộ tham gia vào loại hình hoạt động này thường đã được đào tạo ở nước ngoài ở các nước như Liên Xô và các nước Đông Âu khác Hình thức tham vấn học đường nói chung và tư vấn nghề nói riêng hiện nay chủ yếu xuất hiện trong các trường phổ thông trung học tư thục Kết quả tham vấn tại một số trường phổ thông cho thấy, bên cạnh những chủ đề về tình bạn, tình yêu thì vấn đề học tập, hướng nghiệp và quan hệ trong gia đình giữa cha mẹ và con cái liên quan đến áp lực học tập luôn là những nội dung khiến các em băn khoăn nhiều nhất
Hình thức tham vấn qua đài, báo và các phương tiên thông tin đại chúng khác ngày càng trở nên phổ biến ở nước ta Tuy nhiên một điều hết sức đáng chú ý là dù qua đài báo hay tham vấn trực tiếp cho đối tượng thì sự trợ giúp ở nước ta vẫn mang tính “tư vấn”, “thuyết phục” nhiều hơn, ít chú ý đến cách tiếp cận coi thân chủ là trọng tâm Cũng giống như ở các nước phát triển,
Trang 19tham vấn vào thời kỳ phát triển sơ khai của nó, ở nước ta, tham vấn mới chỉ tồn tại dưới dạng cung cấp thông tin, thuyết phục là chủ yếu
Nội dung tham vấn thường là các vấn đề về chính sách, pháp luật, hướng nghiệp; các vấn đề về giáo dục, sức khoẻ sinh sản và kế hoạch hóa gia đình Khía cạnh tâm lý và nâng cao năng lực ở đây còn ít được chú ý đến
Tham vấn điện thoại “đường dây nóng” cũng được phát triển mạnh mẽ
ở nước ta, ban đầu cung cấp thông tin và sau đó là tham vấn Một trong những điểm mạnh của dịch vụ tham vấn điện thoại là khả năng cung cấp sự hỗ trợ và lời khuyên miễn phí đáng tin cậy Đội ngũ nhân viên hỗ trợ thường được đào tạo hoặc có những hiểu biết cá nhân về những khó khăn điển hình của người gọi điện đang nói chuyện với họ Cùng với sự phát triển của đường dây tư vấn, hình thức tham vấn qua mạng internet đã phát triển rộng rãi, thể hiện qua
ba dạng thức tham vấn khác nhau, đó là: tham vấn qua trang web, tham vấn qua email và tham vấn qua chat
Ở Việt Nam, những chủ đề tham vấn phổ biến là hỏi đáp các vấn đề về pháp luật, chính sách, hôn nhân gia đình, nuôi dạy con cái, bảo vệ và chăm sóc trẻ em, các hiện tượng xâm hại, vấn đề HIV/AIDS…Nguyên nhân gây nên do các vấn đề mất cân bằng tinh thần trong cuộc sống
Tham vấn trẻ em làm trái pháp luật là một loại chủ đề và cũng là đối tượng tham vấn được Nhà nước quan tâm rất sớm Ngay từ những năm 1996 -
2000, trên phạm vi các thành phố lớn như Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh
đã xuất hiện các dự án bảo vệ trẻ em, trong đó có mảng tư vấn trẻ em làm trái pháp luật Các phòng tư vấn được hình thành tại cộng đồng với các tình nguyện viên làm công tác tư vấn miễn phí cho các nhóm trẻ em, chủ yếu là trẻ
em lang thang kiếm sống trên đường phố
Đặc biệt, hiện nay dưới sự chỉ đạo của Tổng cục VIII - Bộ công an, các trường giáo dưỡng dành cho vị thành niên vi phạm pháp luật trong cả nước,
Trang 20như Trường Giáo dưỡng số 2 Ninh Bình, trường số 3 Đà Nẵng, trường số 4 Đồng Nai và trường số 5 Long An với tổng cộng khoảng 3700 học sinh (tập trung nhiều ở nhóm từ 16 đến dưới18 tuổi) được hưởng các dịch vụ tham vấn trong khoảng 2 năm Số trẻ em vào các trường giáo dưỡng chủ yếu có hành vi trộm cắp, cướp của, lừa đảo, gây rối trật tự, đánh người gây thương tích…
Xuất phát từ nhận định rằng các em này đang ở giai đoạn tự khẳng định bản sắc cá nhân, nếu thiếu vắng sự hướng dẫn, dạy dỗ và tình yêu thương của gia đình; thiếu vắng sự kiểm soát xã hội thì sẽ gây ra không ít những trở ngại cho quá trình trưởng thành của các em Vì vậy, dưới sự đầu tư cơ sở vật chất của Nhà nước (như xây phòng tư vấn, hỗ trợ các tham vấn viên làm tham vấn ngoài giờ…), đặc biệt sự hỗ trợ của các tổ chức quốc tế tại Việt Nam như Unicef, Quỹ Dân số Thế giới, Tổ chức Plan… nhiều khóa tập huấn nâng cao năng lực tham vấn về hiểu biết tâm lý trẻ em nói chung và trẻ em làm trái pháp luật nói riêng; về sức khỏe sinh sản và sức khỏe tình dục; về HIV/AIDS cho các giáo viên tham vấn của các trường đã được thực hiện Mục đích là giúp các thầy cô hỗ trợ các em thích nghi và đương đầu tốt với cuộc sống trong trường và khi các em tái hòa nhập gia đình và cộng đồng
Hiện nay hoạt động tham vấn tại các trường giáo dưỡng khá quy củ Các học sinh muốn được tham vấn chỉ cần điền vào phiếu xin tham vấn thì sẽ được xếp lịch tham vấn Ngoài ra, các trường mở rộng việc nâng cao năng lực tham vấn cho cả các giáo viên chủ nhiệm đã làm giảm đi gánh nặng cho các giáo viên tổ tham vấn; làm cho các cuộc tham vấn bớt mang tính hình thức và hiệu quả hơn, do các giáo viên chủ nhiệm là người gần gũi nhất với học sinh của họ nên họ nắm bắt tâm lý của các em sát thực hơn
Trong thời điểm hiện nay, để đáp ứng nhu cầu tinh thần của xã hội, các chuyên gia tâm lý và tham vấn ở nước ta đang đẩy mạnh việc nghiên cứu và
Trang 21sát thực trạng những khó khăn tâm lý và tìm hiểu nhu cầu được tham vấn của học sinh Đã bắt đầu xuất hiện những mô hình trợ giúp tâm lý trong nhà trường nhưng đang trong giai đoạn thử nghiệm Như vậy, mặc dù tham vấn học đường đã bắt đầu được quan tâm nghiên cứu nhưng mới trong giai đoạn thăm dò Đặc biệt, những nghiên cứu về thực trạng thực hiện hoạt động tham vấn và khả năng đáp ứng nhu cầu tham vấn của lực lượng giáo viên trong nhà trường, lực lượng mà từ trước đến nay vẫn tiến hành hoạt động tham vấn mang tính chức năng cho học sinh, còn ít được nghiên cứu
Tóm lại, hoạt động tham vấn chuyên nghiệp ở nước ta còn rất mới mẻ không những chỉ về nghiên cứu lý luận mà còn cả về thực tiễn Trong khi đó, nhu cầu được tham vấn của xã hội hiện nay rất lớn Điều này yêu cầu các nhà nghiên cứu cần nỗ lực rất nhiều trong việc nghiên cứu và phát triển ngành tham vấn trên mọi phương diện
1.1.3 Một số nghiên cứu về nhu cầu
Trong cấu trúc của nhân cách, xu hướng được xếp ở vị trí trung tâm, nó quy định chiều hướng đạo đức và tài năng của sự phát triển nhân cách Xu hướng nhân cách được biểu hiện ở một số mặt như nhu cầu, hứng thú, thế giới quan, lý tưởng… Trong đó, nhu cầu là thành phần đầu tiên của xu hướng, nó chi phối mạnh mẽ đến đời sống tâm lý nói chung, đến hành vi con người nói riêng Để tồn tại và phát triển, con người cần phải được thoả mãn các nhu cầu nhất định như nhu cầu ăn, ở, mặc, nhu cầu học tập, lao động, giải trí, nhu cầu giao tiếp với những người xung quanh và rất nhiều nhu cầu khác nữa Có thể nói rằng, mục đích cuối cùng trong tất cả các hành vi của con người là nhằm thoả mãn một nhu cầu nào đó
Nói đến nhu cầu là nói đến sự đòi hỏi của cá nhân về một cái gì đó ở ngoài cá nhân, nó có thể là một sự vật, một hiện tượng hoặc một người khác hoặc bên trong cơ thể Nhu cầu là trạng thái tâm lý làm rung động người ta về
Trang 22một điều gì đó A.G.Côvaliôv đã đưa ra định nghĩa về nhu cầu với tư cách là nhu cầu của một nhóm xã hội: “Nhu cầu là sự đòi hỏi của các cá nhân và của các nhóm xã hội khác nhau muốn có những điều kiện nhất định để sống và phát triển Nhu cầu quy định sự hoạt động xã hội của các cá nhân, các giai cấp và tập thể” [6, tr 75]
Theo lý thuyết của Henry Murray, nhu cầu được hiểu là một tổ chức cơ động, nó tổ chức và hướng dẫn các quá trình nhận thức, tưởng tượng và hành
vi, nhờ nhu cầu mà hành động mang tính chất có mục đích Nhu cầu là một động lực thúc đẩy hành vi của con người, nó xuất phát từ cơ thể và hướng vào đối tượng ngoài cơ thể Trong vấn đề nguyên nhân phát sinh nhu cầu thì Henry Musray theo quan điểm của phân tâm học cho rằng tất cả mọi nhu cầu
để có khởi nguồn từ những ý hướng libido vô thức Trên cơ sở đó ông chia các nhu cầu thành nhu cầu nguyên phát và nhu cầu thứ phát trong đó nhu cầu nguyên phát là những nhu cầu tự nhiên của con người với tư cách là một cơ thể sống
Tuy nhiên, Henry Murray quan tâm chủ yếu đến những nhu cầu thứ phát, đặc trưng cho con người như là một tồn tại xã hội và bắt nguồn từ sự giao tiếp của con người mà quan trọng nhất là nhu cầu về tình yêu, sự hợp tác, sáng tạo Khi phân tích nhu cầu với tư cách là một thành phần trong xu hướng của nhân cách, các nhà tâm lý học Liên Xô coi nhu cầu là "tồn tại cá thể của các quan hệ xã hội" Ở đây nhu cầu nói lên sự gắn bó giữa con người với thế giới xung quanh và sự phụ thuộc của nó vào thế giới Sự hình thành các mối quan hệ xã hội trong bản thân mỗi cá nhân cụ thể sẽ có vai trò quyết định tới
sự hình thành và phát triển nhu cầu của cá nhân đó trong quá trình sống Như vậy, nhu cầu cũng đóng một vai trò quan trọng đối với quá trình hoạt động và quá trình hình thành, hoàn thiện nhân cách mỗi một con người
Trang 23Khi tìm hiểu về bản chất của nhu cầu con người, các nhà tâm lý học đều xem xét nó với tư cách là nguồn gốc tính tích cực của nhân cách Nhưng trong chính vấn đề này cũng có không ít quan điểm gây tranh cãi trong suốt thế kỷ
XX mà mở đầu là Freud
Theo S.Freud, con người tích cực hoạt động là do sự thúc đẩy bởi bản năng di truyền từ tổ tiên sinh vật để lại Trong đó đầu tiên phải nói tới là bản năng tình dục và bản năng tự vệ Tuy nhiên trong xã hội tồn tại rất nhiều những quy định, những chuẩn mực, những giới hạn cụ thể nên các bản năng
đó không được bộc lộ một cách tự do như trong giới sinh vật, mà chúng bị kiểm duyệt, bị ức chế và bị dồn nén xuống dưới tầng ý thức Trong quá trình con người hành động, những bản năng này tự trong tiềm thức vẫn tiếp tục điều khiển hành vi của con người Như vậy theo quan điểm của S.Freud nhu cầu của con người được coi như một sức mạnh sinh học, tương tự với các bản năng sinh vật, cũng có những tính chất mù quáng và vô ý thức
Dựa trên những quan điểm này, quan điểm Freud mới ra đời nhấn mạnh sự phụ thuộc của cá nhân vào hoàn cảnh Hoàn cảnh quy định cho cá nhân những phẩm chất quan trọng nhất, những phẩm chất đó trở thành những hình thức của tính tích cực của nhân cách Theo các nhà phân tâm mới nhu cầu của con người được hình thành do sự tác động của môi trường sống Chính vì vậy, họ cũng không giải thích được những nguyên nhân xuất phát gây ra hoạt động của con người trước hoàn cảnh đã được sinh ra như thế nào trong mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau giữa cá nhân với hoàn cảnh Đây chính là điểm hạn chế lớn nhất trong quan điểm của phân tâm học về nhu cầu
A.H.Maslow (1908-1970) - nhà tâm lý học Mỹ cũng cho rằng nhu cầu
là động lực thúc đẩy hành vi của con người mạnh mẽ nhất Tính xã hội nằm
trong nhu cầu của con người, tính người mà nhu cầu và các rung động của con
Trang 24người được hình thành và phát triển trong quá trình phát sinh chủng loại Các nhu cầu dựa trên cơ sở di truyền nhất định ở điểm này học thuyết về nhu cầu của Maslow giống với học thuyết phân tâm của S.Freud Maslow đã hình dung nhu cầu và sự phát triển của con người theo một chuỗi liên tiếp như một chiếc thang Ông đã đem các loại nhu cầu khác nhau của con người căn cứ theo tính đòi hỏi và thứ tự phát sinh trước sau của chúng để chia thành năm bậc và sắp xếp theo thứ bậc từ thấp đến cao: Nhu cầu sinh lí (basic needs), nhu cầu an toàn (social needs), nhu cầu thương yêu (safety needs), nhu cầu tôn trọng (esteem needs), nhu cầu tù thể hiện (self-actualizing needs) Theo ông, mỗi nhu cầu của con người trong toàn bộ hệ thống nhu cầu phải được thoả mãn trong mối tương quan với môi trường để cá nhân đó phát triển khả năng cao nhất của mình Việc người đó có thể thoả mãn được các nhu cầu ở từng bậc của hệ thống thứ bậc nhu cầu hay không phụ thuộc khá nhiều vào môi trường bên ngoài
Vào những năm 1990, A.H.Maslow đã hiệu chỉnh thành 8 bậc nhu cầu của con người, bao gồm: 1/ Nhu cầu cơ bản (basic needs), 2/ Nhu cầu an toàn (safety needs), 3/ Nhu cầu xã hội (social needs), 4/ Nhu cầu được quý trọng (esteem needs), 5/ Nhu cầu về nhận thức (cognitive needs), 6/ Nhu cầu về thẩm mỹ (aesthetic needs), 7/ Nhu cầu thể hiện mình (self – actualizing needs), 8/ Sự siêu nghiệm (transcendence) Tuy nhiên, trong thực tế tháp nhu cầu gồm 5 cấp bậc vẫn được sử dụng nhiều hơn trong các lĩnh vực của cuộc sống trong đó có cả tham vấn
Mỗi nhu cầu của con người trong hệ thống thứ bậc phải được thoả mãn trong mối tương quan với môi trường để cá thể phát triển khả năng cao nhất của mình Nhu cầu tham vấn thuộc nhu cầu bậc cao của con người và nó cũng cần được thoả mãn để mỗi cá nhân phát triển một cách tốt nhất
Trang 25Biểu đồ 1.1 Tháp nhu cầu của Maslow
Nhu cầu được tôn trọng
Nhu cầu giao lưu tình cảm
Nhu cầu an toàn
Nhu cầu thể chất
Nhu cầu hoàn thiện
Ở đây chúng tôi phân tích 5 thứ bậc nhu cầu của Maslow gắn với đặc điểm tâm lý của trẻ vị thành niên phạm pháp
Nhu cầu thể chất theo Maslow còn được gọi là nhu cầu của cơ thể hoặc nhu cầu sinh lý, bao gồm các nhu cầu như ăn, uống, ngủ, không khí để thở, tính dục, các nhu cầu làm cho con người thoải mái,… Đây là những nhu cầu cơ bản nhất và mạnh mẽ nhất của con người Trong hình kim tự tháp, chúng ta thấy những nhu cầu này được xếp vào bậc thấp nhất (bậc cơ bản nhất) Maslow cho rằng, những nhu cầu ở mức độ cao hơn sẽ không xuất hiện trừ khi những nhu cầu cơ bản được thoả mãn và những nhu cầu cơ bản
sẽ chế ngự, hối thúc, giục giã con người hành động khi nó chưa đạt được Chúng ta có thể kiểm chứng điều này đối với đa số các trường hợp, khi cơ thể không khỏe mạnh, đói khát hoặc bệnh tật, các nhu cầu khác thường chỉ còn là thứ yếu
Theo Maslow, cùng với việc đáp ứng các nhu cầu cơ bản, con người cũng có nhu cầu về sự an toàn Nhu cầu an toàn thể hiện trong cả thể chất lẫn
Trang 26tinh thần Con người mong muốn được bảo vệ cho sự sống còn của mình trong những trường hợp khẩn cấp, nguy khốn đến tính mạng như chiến tranh, thiên tai, gặp thú dữ,…hay trẻ con thường hay biểu lộ cảm giác thiếu an toàn khi bứt rứt, khóc đòi cha mẹ, muốn được vỗ về Nhu cầu này cũng được khẳng định qua các mong muốn về sự ổn định trong cuộc sống, được sinh hoạt trong các khu phố an ninh, sống trong xã hội có pháp luật,…Nhiều người tìm đến sự che chở bởi các niềm tin tôn giáo cũng là do nhu cầu này, đây chính là việc tìm kiếm sự an toàn về mặt tinh thần
Đối với trẻ vị thành niên tại một số trường giáo dưỡng, việc các em không được đáp ứng đầy đủ sự bảo vệ an toàn như sự quan tâm của gia đình,
có nhà ở, được đi học, được chăm sóc sức khỏe… sẽ là nguyên nhân thúc đẩy các em lang thang ngoài đường, tham gia vào các nhóm xã hội tiêu cực dẫn đến tình trạng bị đưa vào trường giáo dưỡng Ngoài ra, việc các em cần
sự bảo vệ từ những người xung quanh, từ phía xã hội là một nhu cầu chính đáng bởi lẽ trong trường giáo dưỡng, sự thống lĩnh, phân biệt giữa các trẻ vẫn diễn ra một cách phổ biến Điều này sẽ tạo nên tâm lý bất ổn, thiếu an toàn ở các em
Nhu cầu xã hội còn được gọi là nhu cầu mong muốn thuộc về một bộ phận, một tổ chức nào đó hay ai đó Nhu cầu xuất phát từ tình cảm, tình yêu thương, thể hiện quá trình giao tiếp nhằm tìm kiếm kết bạn, làm việc nhóm hay tham gia vào một cộng đồng với những hoạt động chung nào đó,… Maslow nhấn mạnh rằng nếu nhu cầu này không được thoả mãn hay đáp ứng, nó có thể gây ra các bệnh trầm trọng về tinh thần Nhiều nghiên cứu gần đây cũng cho thấy, những người sống cô lập, không giao tiếp hay tách mình ra khỏi nhóm thường mắc các bệnh về tiêu hóa, thần kinh, hô hấp hơn những người sống hòa nhập với cộng đồng, tập thể Chúng ta cũng biết rõ
Trang 27rằng, không một ai có thể tồn tại ngoài các mối quan hệ xã hội, nơi mà ta đang tồn tại
Trong các trường giáo dưỡng, do có sự "va chạm" của nhiều nhân cách phức tạp cùng với tâm lý bất ổn, hoang mang, nhiều trẻ thường cô lập mình trong "một thế giới riêng", các em có nhu cầu giao tiếp nhưng không có kỹ năng giao tiếp, điều này tạo nên rào cản tâm lý nhất định giữa các em Do đó, trong công tác quản lý, giáo dục trẻ em phạm pháp ở trường giáo dưỡng cần đưa các em vào những hoạt động tập thể chung để các em có thể "giao tiếp" với nhau, làm việc theo nhóm, đồng thời các em chia sẻ những tâm tư, nguyện vọng và đồng cảm với những hoàn cảnh của nhau
Nhu cầu tự trọng là nhu cầu thể hiện bậc cao trong hệ thống nhu cầu của Maslow Nhu cầu tự trọng thể hiện 2 cấp độ: nhu cầu được người khác quý mến, nể trọng thông qua các thành quả của bản thân và nhu cầu cảm nhận, quý trọng chính bản thân mình Sự đáp ứng và đạt được nhu cầu này có thể khiến cho một đứa trẻ học tập tích cực hơn, một người trưởng thành cảm thấy tự do hơn Chúng ta thường thấy trong công việc hoặc cuộc sống, khi một đứa trẻ được khích lệ, khen thưởng về thành quả lao động của mình, nó sẵn sàng làm việc hăng say hơn, hiệu quả hơn
Kinh nghiệm giáo dục trẻ phạm pháp tại các trường giáo dưỡng cũng chỉ ra rằng: các hành động chỉ trích, quát mắng các em chỉ dẫn đến những hậu quả tồi tệ hơn về mặt giáo dục tâm lý Nhà sư phạm Makarenko trong suốt cuộc đời dạy dỗ trẻ em hư, khi được hỏi bí quyết nào để sửa trị các em, ông nói: “Tôi chỉ đúc kết trong một công thức ngắn gọn: Tôn trọng và yêu cầu cao” Bản chất tâm lý con người ai cũng muốn được tôn trọng nhưng chỉ tôn trọng mà không yêu cầu là không ổn Khi được tôn trọng là đã cho con người
ở đúng vị trí “Người” nhất của mình Do vậy, cần có trách nhiệm buộc phải sống và hành xử đúng đắn với sự tôn trọng đó.” Trích theo [38, tr 45]
Trang 28Trong hệ thống các thang bậc nhu cầu, nhu cầu tự thể hiện mình được xếp đặt ở mức độ cao nhất Maslow mô tả nhu cầu này là: “Self - actualization as a person's need to be and do that which the person was “born
to do” (nhu cầu của một cá nhân mong muốn được là chính mình, được làm những cái mà mình “sinh ra để làm”) Nói cách khác, đây chính là nhu cầu được sử dụng hết tiềm năng bản thân để tự khẳng định mình, là việc tìm kiếm các cách thức mà năng lực, trí tuệ của mình được phát huy và cảm thấy hài lòng về nó Nhu cầu này cũng chính là mục tiêu cao nhất mà công tác giáo dục trẻ em ở trường giáo dưỡng hướng đến Có nhiều em là những đứa trẻ trưởng thành từ những gia đình nề nếp, có giáo dục nhưng vì những lý do khác nhau dẫn các em đến với con đường phạm tội Giờ đây, khi đang chấp nhận sự quản lý giáo dục của nhà trường, tâm trạng chung của các em là ân hận và hối tiếc, các em có ý thức chấp hành nghiêm chỉnh nội quy của nhà trường, mong muốn sớm được trở về với cuộc sống tốt đẹp Tuy nhiên, trẻ em trường giáo dưỡng là những đứa trẻ đang được rèn luyện, “giáo dục lại” nhân cách, các em bị quản thúc và phải chấp hành nội quy, hình thức giáo dục đặc thù của nhà trường nên không thể phát triển tối đa năng lực và làm theo ý muốn của mình Vì vậy, chúng không thể đạt được nhu cầu tự thể hiện mình khi các nhu cầu khác chưa được đáp ứng
Thông qua lý thuyết về thang bậc nhu cầu của Maslow, những người làm công tác quản lý, giáo dục trẻ vị thành niên tại các trường giáo dưỡng có thể hiểu được nhu cầu của các em, tìm hiểu các khó khăn mà các em gặp phải, các phương thức cần thiết để giáo dục, tác động một cách hiệu quả đến tâm lý các em
Khi khẳng định nguồn gốc của tính tích cực nhân cách ở mỗi cá nhân chính là nhu cầu, các nhà tâm lý học Mác- xít cho rằng nhu cầu chính là sản
Trang 29người được thể hiện trong quá trình tác động qua lại với thế giới xung quanh Nhu cầu thúc đẩy hành động của con người theo một hướng nhất định nào đó D.N.Uznatze - tác giả của thuyết tâm thế - là người đã khám phá ra sự liên quan giữa nhu cầu với hành vi của con người, tương ứng với mỗi kiểu hành vi là một loại nhu cầu cơ bản Ông khẳng định nhu cầu là yếu tố tạo ra tính tích cực của con người, không có nhu cầu thì không thể có tính tích cực; nhu cầu xác định xu hướng và tính chất của hành vi, giữa nhu cầu và hành vi
có mối quan hệ mật thiết nên Uznatze đã dựa vào nhu cầu để phân loại các hành vi của con người thành những hành vi có nguồn gốc bên ngoài và những hành vi có nguồn gốc bên trong Cũng theo Uznatze thì đồng thời với những nhu cầu mang tính bản năng sinh vật như đói, rét, tình dục (còn gọi là những nhu cầu bậc thấp), ở con người còn có những nhu cầu bậc cao, đó là những nhu cầu trí tuệ, đạo đức và thẩm mỹ Vấn đề là ở chỗ đối với mỗi người thì nhu cầu này hay nhu cầu khác mang tính ưu thế và áp đảo
X.L.Rubinxtêin cho rằng nhu cầu của con người thể hiện sự liên kết, sự phụ thuộc của họ với thế giới Nhu cầu là sự đòi hỏi về "cái gì đó" nằm ngoài chủ thể "Cái gì đó" chính là đối tượng của nhu cầu, có khả năng đem lại sự thỏa mãn nhu cầu thông qua hoạt động của chủ thể Theo Rubinxtêin, quá trình hình thành và phát triển một nhu cầu cụ thể luôn có sự tham gia của ý thức ở những mức độ khác nhau và trải qua một số giai đoạn như sau:
- Ý hướng
Là bước khởi đầu của nhu cầu Ở mức độ này, nhu cầu chưa được phản ánh đầy đủ, rõ ràng vào ý thức mà chủ thể mới chỉ ý thức được trạng thái thiếu hụt của bản thân về một cái gì đó nhưng chưa ý thức đầy đủ về đối tượng và khả năng thoả mãn nhu cầu Điều này thúc đẩy chủ thể tích cực tìm kiếm đối tượng và phương thức thoả mãn để giải quyết nó Khi chủ thể tự trả lời được câu hỏi "thiếu hụt về cái gì" thì lúc đó nhu cầu đã chuyển sang mức
Trang 30độ cao hơn, đó là ý muốn Đối với trẻ em ở trường giáo dưỡng, “sự thiếu hụt”
là rất lớn, các em thiếu hụt tình cảm gia đình, thiếu hụt sự hiểu biết,… các em cần được tham vấn để thỏa mãn các nhu cầu này
độ cao hơn nữa, đó là ý định
- Ý định
Đến giai đoạn này, chủ thể ý thức đầy đủ cả về đối tượng lẫn cách thức, điều kiện nhằm thoả mãn nhu cầu, xác định rõ khuynh hướng của nhu cầu và sẵn sàng hoạt động Nhu cầu đã có hướng và đã được “động cơ hóa”, xuất hiện tâm thế sẵn sàng hoạt động để thoả mãn nhu cầu Nhu cầu trở thành sức mạnh nội tại thúc đẩy mạnh mẽ chủ thể hoạt động nhằm thoả mãn nó Đồng thời, lúc này chủ thể có khả năng hình dung về kết quả của hoạt động
Rubinxtêin cũng khẳng định nhu cầu của con người thể hiện mối quan
hệ của họ với thế giới xung quanh Để tồn tại và phát triển con người luôn phải hoạt động nhằm đáp ứng những nhu cầu nhất định Nhu cầu của con người vừa mang tính tích cực vừa mang tính thụ động Tính tích cực của nhu cầu thể hiện: nhu cầu thúc đẩy chủ thể tích cực hoạt động tìm kiếm các cách thức, phương tiện, đối tượng để thoả mãn nó Tính thụ động thể hiện ở chỗ khả năng thoả mãn nhu cầu lệ thuộc vào chính thế giới đối tượng tồn tại trong hiện thực khách quan Tính tích cực của nhu cầu thể hiện cao hay thấp là phụ thuộc vào các mức độ của nhu cầu (ý hướng, ý muốn, ý định)
Trang 31Leonchiev Ông là người đã xây dựng nên lý thuyết và sơ đồ hoạt động của con người, trong đó vấn đề động cơ và nhu cầu được đưa ra, giải thích khá rõ ràng và sâu sắc Leonchiev khẳng định vấn đề có tính chất nguyên tắc là nhu cầu nói riêng và tâm lý của con người nói chung có nguồn gốc từ hoạt động thực tiễn và duy nhất chỉ có trong đó các nhu cầu mới có được tính cụ thể về mặt tâm lý học
Leonchiev cho rằng một nhu cầu thực sự bao giờ cũng phải là nhu cầu
về một cái gì đó Lúc đầu, nhu cầu mới chỉ là trạng thái thiếu thốn của cơ thể
về một cái gì đó và chưa được chủ thể nhận thức một cách rõ ràng, mới chỉ là
"trạng thái có tính chất nhu cầu", "trạng thái có tính chất nhu cầu" khi không chứa một nội dung đối tượng nào hết thì không thể coi là nhu cầu ở cấp độ tâm lý Chỉ đến khi chủ thể bắt đầu hoạt động với đối tượng nhất định thì nhu cầu mới có được tính vật thể (tính đối tượng) và mới trở thành một nhu cầu thực sự Như vậy, nhu cầu chỉ có chức năng định hướng khi có sự gặp gỡ của chủ thể và khách thể (chứa đựng đối tượng của nhu cầu) hay nói cách khác đối tượng nhu cầu của con người được "sản xuất" ra bởi chính hoạt động của
họ Mối liên hệ giữa nhu cầu và hoạt động được Leonchiev khái quát theo sơ
đồ: Hoạt động - Nhu cầu - Hoạt động thay cho cách giải thích trước đây là
Nhu cầu - Hoạt động - Nhu cầu Đây là sơ đồ đáp ứng được quan niệm mác
xít về nhu cầu đồng thời là sơ đồ cơ bản đối với nền tâm lý học
Leonchiev cũng cho rằng hoạt động sản xuất của con người thúc đẩy nhu cầu hình thành và phát triển, từ đó thúc đẩy xã hội tiến bộ Vai trò của lao động mà cụ thể là những dạng hoạt động khác nhau, giúp sản sinh ra các nhu cầu mới, cũng như không ngừng tiêu thụ nó để xuất hiện những nhu cầu cao hơn do đó nghiên cứu về nhu cầu không thể tách nó khỏi những điều kiện vật chất cũng như những phương thức để thoả mãn nó và cũng không được tách
nó khỏi hoạt động Bên cạnh đó, ông khẳng định: Sự phân tích các nhu cầu về
Trang 32mặt tâm lý học cũng cần phải gắn với sự phân tích các động cơ vì "các nhu cầu của con người được sản sinh ra nhờ sự phát triển của sản xuất Vì sản xuất cũng trực tiếp là sự tiêu dùng mà sự tiêu dùng ấy vốn tạo ra nhu cầu Nói cách khác sự tiêu dùng được thông qua sự trung gian của nhu cầu về một sự vật, hoặc của sự tri giác về vật ấy hoặc biểu tượng về nó mà người ta hình dung ra trong trí óc Dưới cái hình thức được phản ánh vào đầu óc như vậy của nó, chính sự vật xuất hiện với tính chất là một hiện tượng tinh thần, một động cơ thúc đẩy từ bên trong" [29, tr 42]
Cuộc sống xã hội càng phát triển thì hệ thống các nhu cầu của con người ngày càng được bổ sung và ngược lại, khi nhu cầu của con người được thoả mãn
ở mức độ càng cao thì điều đó có nghĩa là xã hội đó càng phát triển Trong mỗi điều kiện cụ thể thì nhu cầu xã hội được biến đổi, cải tạo thành nhu cầu cá nhân
Vì vậy, Mác nói: “Sự phát triển của xã hội xét đến cùng là sự phát triển các nhu cầu của con người” Trích theo [15, tr 8] Điều này cho thấy ý nghĩa rất quan trọng của nhu cầu đối với cuộc sống con người và sự phát triển xã hội loài người
1.2 Một số khái niệm cơ bản
1.2.1 Nhu cầu
Bất cứ hoạt động nào cũng làm thoả mãn một nhu cầu nhất định Nhu cầu là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, trong đó có tâm lý học Nhu cầu là thành phần đầu tiên trong xu hướng, song nó chi phối mãnh liệt đến đời sống tâm lý nói chung, đến hành vi của con người nói riêng Bởi
vì để tồn tại và phát triển không ngừng, con người cần được thoả mãn những nhu cầu nhất định như nhu cầu ăn, mặc, ở, học tập, vui chơi và rất nhiều nhu cầu khác nữa
Trong từ điển Tâm lý học, Viện Tâm lý đã định nghĩa về nhu cầu như
Trang 33đối tượng cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của mình và đó là nguồn gốc tính tích cực của cá nhân" [10, tr 55]
Ở đây nhu cầu được hiểu là sự biểu hiện mối quan hệ tích cực của các
cá nhân với hoàn cảnh là sự đòi hỏi tất yếu mà con người thấy cần phải được thoả mãn để tồn tại và phát triển Nhu cầu là yếu tố thúc đẩy của hoạt động, vừa có tính chất vật thể vừa có tính chức năng (nhu cầu tinh thần) Thoả mãn nhu cầu thực chất là quá trình con người chiếm lĩnh một hình thức hoạt động nhất định trong xã hội Nhu cầu thể hiện ở động cơ, cái thúc đẩy con người hoạt động và động cơ trở thành hình thức thể hiện của nhu cầu
Hiện nay đang tồn tại rất nhiều quan điểm khác nhau về nhu cầu Có tác giả tiếp cận nhu cầu theo khía cạnh sinh học, có tác giả xem xét nó ở góc độ
xã hội và cho rằng tất cả mọi nhu cầu sinh học mang tính chất bản năng đều được xã hội hoá Từ đó dẫn tới việc phân chia các loại nhu cầu, sự hình thành
và phát triển nhu cầu, đặc điểm của nó cũng khác nhau, thậm chí là trái ngược nhau Trên cơ sở kế thừa những học thuyết nghiên cứu về nhu cầu và dựa trên lập trường của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chúng ta có thể hiểu khái niệm
về nhu cầu một cách khái quát như sau: Nhu cầu chính là sự đòi hỏi tất yếu
mà con người thấy cần được thoả mãn để tồn tại và phát triển, là sự biểu hiện của mối quan hệ qua lại giữa con người với những điều kiện cụ thể, luôn biến đổi của đời sống Nhu cầu là một thuộc tính tâm lý nằm trong cấu trúc xu hướng của nhân cách
Nhu cầu có một số đặc điểm sau:
- Nhu cầu bao giờ cũng có đối tượng và đối tượng của nhu cầu chính là
căn cứ rõ ràng nhất để phân biệt các loại nhu cầu của con người Tuy nhiên sự tồn tại của đối tượng ấy trong tâm lý học cá nhân có thể có nhiều mức độ, chính nhờ sự tồn tại của đối tượng của nhu cầu trong tâm lý cá nhân mà cá nhân đó định hướng được hoạt động của mình trong môi trường
Trang 34- Mỗi nhu cầu đều có một nội dung cụ thể tuỳ theo nó được thoả mãn
trong những điều kiện nào và bằng phương thức nào Nội dung cụ thể của nhu cầu phụ thuộc vào những điều kiện và phương thức thoả mãn nó Về phương thức thoả mãn nhu cầu ở con người thì nhu cầu được thoả mãn thông qua hoạt động và chỉ có thông qua hoạt động có đối tượng thì nhu cầu mới được cụ thể hoá về mặt tâm lý và mới được thoả mãn Do đó, nhu cầu luôn có mối quan
hệ mật thiết với động cơ Mỗi loại nhu cầu cụ thể được thoả mãn trong quá trình tiến hành hoạt động tương ứng Từ nhu cầu đến thoả mãn nhu cầu thường thông qua nhiều khâu trung gian và có sự chuyển hóa phức tạp Trong quá trình sống, con người đã chế tạo ra các công cụ lao động để tác động vào thiên nhiên, cải tạo thiên nhiên và bắt nó phải thoả mãn nhu cầu của chính mình Hơn nữa, xã hội càng phát triển thì các nhu cầu của con người ngày càng phong phú và đa dạng, được mở rộng và không ngừng tăng lên về mặt số lượng và chất lượng Nhu cầu của con người và mức độ thoả mãn chúng phụ thuộc rất nhiều vào nền sản xuất của xã hội và rất nhiều yếu tố khác như: thói quen, phong tục, tập quán cũng như trạng thái riêng của từng chủ thể
- Nhu cầu thường có tính chất chu kỳ Khi một nhu cầu nào đó của con
người được thoả mãn thì không có nghĩa là nó chấm dứt mà trong sự phát triển nói chung của xã hội và của từng con người cụ thể nó được tái diễn nhiều lần và thường thì những lần sau ở cấp độ cao hơn Điều này cũng có nghĩa là khi xã hội ngày càng phát triển thì đối tượng thoả mãn nhu cầu và phương thức thoả mãn nhu cầu cũng được phát triển phong phú nhiều lên, chứng tỏ cuộc sống ngày càng chất lượng
- Nhu cầu và hoạt động có mối quan hệ mật thiết với nhau Nhu cầu là điều kiện bên trong của hoạt động và luôn gắn liền với hoạt động có đối tượng của chủ thể Cùng với sự phát triển của khoa học- kĩ thuật và công nghệ, nhu
Trang 35hạn còn nhu cầu về văn hóa tinh thần lại tăng lên, không có giới hạn Không những thế, con người có khả năng nhận thức được đầy đủ nhu cầu của mình (nội dung, đối tượng, phương thức thoả mãn nó) Trước khi thực hiện hành động nào đó nhằm thoả mãn nhu cầu của mình, con người thường đối chiếu
nó với các chuẩn mực (đạo đức, pháp luật ), từ đó tự điều khiển, điều chỉnh hành động của mình cho phù hợp với yêu cầu của xã hội
Nhu cầu của con người rất phong phú, đa dạng Các nhà tâm lý học đã
căn cứ vào các tiêu chí khác nhau để phân loại nhu cầu của con người
Căn cứ vào điều kiện tồn tại của đối tượng nhu cầu chia thành nhu cầu
vật chất và nhu cầu tinh thần Nhu cầu vật chất có liên quan trực tiếp đến sự
tồn tại của cơ thể con người (nhu cầu về thức ăn, nhà ở, quần áo để chống rét ) Chính nó thúc đẩy hoạt động lao động và sáng tạo của con người, làm
ra của cải vật chất, tạo cơ sở của toàn bộ lịch sử tồn tại của loài người Nhu cầu tinh thần có liên quan trực tiếp tới những đòi hỏi về cái đẹp, về trí tuệ (cách cư xử giữa người và người sao cho hợp đạo lý), có nguồn gốc sâu xa
từ trong nền văn minh Chẳng hạn, nhu cầu về nghệ thuật (âm nhạc, hội họa, kiến trúc ) Nhu cầu tham vấn tâm lý của trẻ em trường giáo dưỡng là nhu cầu tinh thần, nhu cầu tình cảm, nhu cầu trí tuệ giúp cho sự trưởng thành ở các em
Căn cứ vào chủ thể của nhu cầu, phân chia thành nhu cầu cá nhân và
nhu cầu xã hội Nhu cầu cá nhân là nhu cầu của một cá nhân riêng lẻ còn nhu
cầu xã hội là nhu cầu của một nhóm người như một chỉnh thể thống nhất Nhu cầu của cá nhân gắn chặt với cá tính của mỗi người
Một quan điểm khác của tác giả I.A.Gidarian lại phân chia nhu cầu của con người, một mặt, thành những nhu cầu thực tế, nhu cầu hợp lý, nhu cầu tự nhiên Mặt khác, là nhu cầu hư ảo, nhu cầu giả tạo, nhu cầu sai lệch được hình thành do giáo dục sai lệch, do thói quen xấu Đối với nhu cầu
Trang 36được tham vấn của trẻ em trường giáo dưỡng, đây là nhu cầu thực tế, nhu cầu tự nhiên, khi các em thiếu hụt sự chăm sóc về tình cảm và trí tuệ trong quá trình trưởng thành
Trên thực tế, khó có thể tách biệt một cách rạch ròi các nhu cầu vì đối với con người, dù là nhu cầu vật chất hay nhu cầu tinh thần thì chúng đều có bản chất xã hội và chịu sự quy định của những điều kiện xã hội - lịch sử nhất định Cùng với sự phát triển của lịch sử, nhu cầu của con người ngày càng đa dạng và phát triển không ngừng
1.2.2 Khái niệm trẻ vị thành niên vi phạm pháp luật
Trẻ vị thành niên được định nghĩa chung là giai đoạn chuyển tiếp, sự phát triển giữa trẻ em và người lớn Nói cách khác, vị thành niên là các em đang ở giai đoạn “không còn là trẻ con nhưng chưa phải người lớn” [38, tr 11]
Do sự phát triển thể chất, trí tuệ, tình cảm và xã hội cũng như sự thay đổi của tuổi dậy thì đã làm cho giai đoạn này trở thành một quãng thời gian
“duy nhất” và “quan trọng nhất” trong cuộc sống của con người
Chúng ta có thể hiểu về tuổi vị thành niên như sau:
Đó là tuổi chuyển tiếp giữa trẻ con trở thành người lớn, các em đang có những thay đổi nhanh chóng về thể lực, tâm lý, tình cảm, nhận thức Tuổi vị thành niên bắt đầu bằng tuổi dậy thì và kết thúc bằng việc dành được vai trò
và trách nhiệm của người lớn
Vi phạm pháp luật theo nghĩa hẹp có mức độ gây nguy hiểm cho xã hội
ít hơn tội phạm Hành vi vi phạm pháp luật không cấu thành tội phạm có thể
là hành vi không phải là tội phạm, như hành vi bị xử phạt hành chính cảnh cáo, phạt tiền hoặc bồi thường thiệt hại dân sự, vi phạm nội quy kỷ luật lao động, cơ quan, trường học [2, tr 15] Vi phạm pháp luật là một trong những
Trang 37thành niên, theo Cloward Ohlin (1960), là một hành vi vi phạm những chuẩn mực chung của một xã hội
Trẻ em vi phạm pháp luật là tất cả những người dưới 16 tuổi, có năng lực chịu trách nhiệm pháp lý, đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội đều
bị coi là vi phạm pháp luật (trừ trẻ em phạm tội hình sự)
Trẻ vị thành niên vi phạm pháp luật là những người có hành vi vi phạm các quy định của pháp luật ở các mức độ khác nhau nhưng chưa đến mức bị coi là phạm tội, chưa phải chịu trách nhiệm hình sự
Trong Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính, Điều 24 có ghi đối tượng
bị áp dụng đưa vào trường giáo dưỡng là:
- Trẻ vị thành niên từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 16 tuổi thực hiện hành vi
có dấu hiệu của một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng do
cố ý phải chịu trách nhiệm hình sự được quy định tại Bộ luật hình sự (1999)
- Trẻ vị thành niên từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự
về mọi tội phạm
Đối với các trường giáo dưỡng, trẻ chưa thành niên từ đủ 12 tuổi đến
18 tuổi nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp, lừa đảo nhỏ, đánh bạc nhỏ, nhiều lần gây rối trật tự công cộng mà trước đó đã được áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn hoặc chưa bị áp dụng biện pháp này nhưng không có nơi cư trú nhất định thì phải đưa vào trường giáo dưỡng
Như vậy, trẻ vị thành niên vi phạm pháp luật được đưa vào trường giáo dưỡng có độ tuổi từ 12 đến dưới 18 tuổi Thời gian sống trong trường của các
em từ 6 đến 24 tháng Trong quá trình phấn đấu tu dưỡng trong trường, các
em có thể được giảm án (các em sau khi đã ở trường được 1/2 thời gian sẽ được xét giảm và thời hạn giảm tối đa là 1/3 thời hạn ghi trong quy định)
Từ gọi thông thường với trẻ vị thành niên vi phạm pháp luật là trẻ em làm trái pháp luật, người chưa thành niên vi phạm pháp luật
Trang 381.2.3 Khái niệm trường giáo dưỡng
Trường giáo dưỡng là một mô hình trường nội trú “ đặc biệt”, đã có lịch sử hình thành và phát triển hơn 40 năm qua Trường giáo dưỡng có nhiệm
vụ quản lý, giáo dục đạo đức, pháp luật, hướng nghiệp, dạy văn hóa, dạy nghề, tổ chức lao động, sinh hoạt phù hợp với lứa tuổi người chưa thành niên
có hành vi vi phạm pháo luật nhằm giúp đỡ các em sửa chữa những vi phạm của mình, học tập, rèn luyện tiến bộ, phát triển lành mạnh về thể chất, tinh thần, trí tuệ để trở thành công dân lương thiện, có ích cho bản thân, gia đình
và xã hội
Ban giám hiệu nhà trường gồm có 1 hiệu trưởng, 2 hiệu phó Cơ cấu tổ chức trong ban giám hiệu nhà trường gồm có 7 đội/phòng Đội chính trị, đội chủ nhiệm, đội hậu cần, đội bảo vệ, đội giáo vụ, đội văn hóa và đội sản xuất
Học sinh các trường giáo dưỡng được đưa vào trường trong nhóm tuổi
từ đủ 12 đến dưới 18 Có nghĩa là không ít em vào trường từ lúc còn là trẻ em -12 tuổi và có những em khi ra trường đã trở thành người lớn gần 18 tuổi Thời gian chấp hành biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng từ 6 tháng đến 2 năm Tùy theo mức độ phấn đấu của các em mà thời gian sống trong trường của các em có thể giảm xuống 18 tháng hay 12 tháng Tuy nhiên, phần lớn các em ở trong trường là 24 tháng - chiếm 85,16% Số em ở lại trường trong thời gian ngắn nhất - 6 tháng là rất ít, chỉ chiếm 1,03%
Số trẻ em được đưa vào các trường giáo dưỡng tập trung nhiều ở nhóm
từ 16 đến dưới 18 tuổi Thời kỳ mà các em đang hình thành bản sắc cá nhân với những câu hỏi đặt ra cần phải tự giải đáp: tôi là ai? Người khác nghĩ tôi như thế nào? Tương lai của tôi sẽ ra sao? Ở giai đoạn khẳng định bản sắc cá nhân, nếu trẻ thiếu vắng sự hướng dẫn, dạy dỗ và tình yêu thương của gia đình, thiếu vắng sự kiểm soát xã hội sẽ gây ra không ít những trở ngại cho quá
Trang 39Trẻ em trong các trường giáo dưỡng có trình độ học vấn nhìn chung khá thấp Số liệu theo điều tra của tổ chức Plan cho thấy học vấn của các em tập trung chủ yếu mới ở bậc THCS - chiếm 51,56% Số em có trình độ THPT rất ít, chiếm 15% Đặc biệt số trẻ em mù chữ và tái mù chữ ở trường số 4 (Đồng Nai) chiếm 11,26% và trường số 5 (Long An) chiếm 25,3% là khá cao Trong khi đó số lượng các em ở trường số 2 (Ninh Bình) có trình độ học vấn phổ thông trung học là rất cao - chiếm 47,9%
Nhìn chung học sinh trong các trường giáo dưỡng có hoàn cảnh gia đình rất khác nhau, nên lý do khiến các em vào trường cũng rất khác nhau Có
em thì vẫn còn cả cha lẫn mẹ, có em lại chỉ còn bố hoặc mẹ, có em thì bố mẹ
li dị, có em thì mồ côi cả cha lẫn mẹ, có em phải sống với họ hàng Khi trẻ em
có cuộc sống gần như nghèo nàn về tình thương yêu thì không thể không ảnh hưởng đến khả năng tư duy, nhận biết cuộc sống của các em
Trẻ em vào trường giáo dưỡng chủ yếu có hành vi trộm cắp, cướp của
và lừa đảo trong đó hành vi trộm cắp là chủ yếu Hành vi gây rối trật tự, đánh người gây thương tích chiếm 22,6% Những hành vi vi phạm khác của các em chiếm một tỷ lệ khá ít, được nhắc đến chủ yếu là hiếp dâm, ma túy, giết người
và một số vi phạm nhỏ lẻ khác chiếm 7,69% Không ít em lại có tất cả các vấn
Trang 40Ở lứa tuổi đầu vị thành niên - giai đoạn tuổi dậy thì, sự phát triển mất cân bằng tạm thời về cơ thể có thể dẫn đến sự mất cân bằng tạm thời về tâm
lý Khủng hoảng lứa tuổi ở giai đoạn này liên quan đến sự biến đổi đột ngột,
rõ rệt về cấu tạo cơ thể, về chức năng sinh lý, tạo nên sự mất cân bằng tạm thời giữa hoạt động của tim và mạch máu gây nên sự thiếu máu cục bộ trên vỏ não, và có thể gây rối loạn hệ tim mạch, như tim đập nhanh, áp huyết tăng, dễ chóng mặt, đau đầu, mệt mỏi Những biểu hiện này có thể dẫn đến những rối loạn cảm xúc, những phản ứng bất thường vô cớ, hành vi hung tính thiếu kiểm soát tạm thời ở vị thành niên
Sự phát triển của các hoóc môn sinh dục có thể kích hoạt hành vi do
sự tác động lên hệ thần kinh Các nhà nghiên cứu (Buchanan, Eccles và Becker, 1972) chỉ ra có sự phụ thuộc không rõ nét giữa mức độ hoóc môn với các đặc điểm về hành vi ở lứa tuổi vị thành niên, như sự cau có, trầm cảm, lo lắng, mất tập trung, tức giận, kích động, hoảng hốt, hung hăng Dù
sự tác động này thường mang tính nhất thời, không kéo dài Tuy nhiên, sự phát triển của “các hoóc môn nổi loạn” kết hợp với các nhân tố khác ở mỗi
cá nhân, như hoàn cảnh gia đình nghèo khó, sự khuyết thiếu của cha, mẹ hay các mối quan hệ gia đình thiếu sự chăm sóc, thiếu tình yêu thương sẽ dễ dàng dẫn đến những rối loạn cảm xúc và hành vi lệch lạc ở trẻ vị thành niên Một số nghiên cứu chỉ ra rằng trẻ vị thành niên sống trong các gia đình khuyết thiếu có thể xuất hiện những lệch lạc trong hành vi tình dục, sự chạy trốn, sự hung hăng và sử dụng các chất gây nghiện
Ở tuổi vị thành niên, ý thức về sự tự trọng, về nhu cầu độc lập xuất hiện do trẻ cảm thấy mình đã lớn, do cảm thấy được đối xử “ngang hàng” như “người lớn”, do sự bổ sung lượng tri thức, hiểu biết lớn, tự mình lý giải được nhiều khía cạnh khác nhau của cuộc sống, và ý thức về bản sắc cá nhân