Phạm vi nghiên cứu - Nội dung: Mức độ phát triển các loại tư duy tư duy trực quan - hành động, tư duy trực quan - hình tượng của trẻ mẫu giáo từ 3 đến 6 tuổi và một số yếu tố ảnh hưởng.
Trang 11
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Hà Nội-2012
Trang 22
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Người hướng dẫn: PGS.TS Trương Thị Khánh Hà
Hà Nội-2012
Trang 3108
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Mục đích nghiên cứu 4
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 4
3.1 Lý luận 4
3.2 Thực tiễn 4
4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 4
4.1 Đối tượng nghiên cứu 4
4.2 Khách thể nghiên cứu 4
4.3 Phạm vi nghiên cứu 5
5 Giả thuyết nghiên cứu 5
6 Phương pháp nghiên cứu 5
6.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 5
6.2 Phương pháp phân tích sản phẩm của hoạt động 5
6.3 Phương pháp quan sát 5
6.4 Phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi 6
6.5 Phương pháp phỏng vấn sâu 6
6.6 Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học 6
CHƯƠNG I 7
CƠ SỞ LÝ LUẬN 7
1.1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ 7
1.1.1 Một số hướng tiếp cận vấn đề tư duy trong tâm lý học 7
Trang 4109
1.1.1.1 Tiếp cận hành vi 7
1.1.1.2 Tiếp cận hình thái (Gestalt) 7
1.1.1.3 Tiếp cận phát sinh nhận thức 8
1.1.1.4 Tiếp cận hoạt động 9
1.1.2.Những nghiên cứu về đặc điểm tư duy của trẻ em ở nước ngoài… 11 113.Những nghiên cứu về đặc điểm tư duy của trẻ em ở Việt Nam 20
1.2 NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN 23
1.2.1 Khái niệm tư duy 23
1.2.2 Tư duy của trẻ mẫu giáo 24
1.2.3 Đặc điểm tư duy của trẻ tuổi mẫu giáo 27
1.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển tư duy của trẻ em mẫu giáo 38
1.2.4.1 Di truyền 38
1.2.4.2 Giáo dục 39
1.2.4.3 Tính tích cực hoạt động của trẻ 43
Chương 2 45
TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 45
2.1 Vài nét về quá trình tổ chức thực hiện và khách thể nghiên cứu: 45 2.1.1 Tiến trình thực hiện 45
2.1.2 Vài nét về khách thể nghiên cứu 45
2.2 Phương pháp nghiên cứu 46
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 46
Trang 5110
2.2.2.Phương pháp phân tích sản phẩm của hoạt động 46
2.2.2.1 Phân tích kết quả thực hiện các bài tập tư duy của Jean Piaget……… 46
2.2.2.2 Phân tích kết quả thực hiện các bài tập tư duy trực quan – hành động 48
2.2.2.3 Phân tích kết quả thực hiện các bài tập tư duy trực quan – hình tượng 51
2.2.3 Phương pháp quan sát 57
2.2.4 Phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi 57
2.2.5 Phương pháp phỏng vấn sâu 58
2.2.6 Phương pháp thống kê toán học 58
2.3 Kết quả nghiên cứu thử 58
2.4 Các bước nghiên cứu thực tiễn 59
CHƯƠNG 3 60
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 60
3.1 Khả năng bảo toàn và xếp hạng của trẻ mẫu giáo 60
3.2 Trình độ tư duy của trẻ mẫu giáo 64
3.2.1 Trình độ tư duy trực quan - hành động của trẻ mẫu giáo 64
3.2.2 Trình độ tư duy trực quan - hình tượng của trẻ mẫu giáo 69
3.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển tư duy của trẻ mẫu giáo 78
3.4 Mối quan hệ giữa cách dạy của cha mẹ với kết quả các bài tập tư duy của trẻ 87
3.6 Phân tích một số chân dung tâm lý 93
Trang 6111
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 98
1 Kết luận 98
1.1 Về lí luận 98
1.2 Về thực tiễn 98
2 Kiến nghị 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
PHỤ LỤC……….116
Trang 7Trong quá trình phát triển của trẻ em, giai đoạn từ 0 đến 6 tuổi đóng một vai trò quan trọng Đối với trẻ em ở giai đoạn đầu tiên của cuộc đời (0 đến 6 tuổi), các hiện tượng tâm lý luôn cần được quan tâm phát triển vì nó là cơ sở ban đầu cho sự hình thành và phát triển các hiện tượng tâm lý ở những giai đoạn lứa tuổi tiếp theo Điều gì là khởi đầu thì sẽ là nền tảng hết sức quan trọng cho tương lai Khoa học cũng đã khẳng định rằng: những cơ cấu và cơ chế quan trọng nhất của tâm trí con người được hình thành trong 5, 6 năm đầu của cuộc đời Với ý nghĩa quan trọng như vậy của giai đoạn lứa tuổi 0 đến 6 tuổi, chúng ta cần quan tâm thích đáng hơn nữa tới trẻ em lứa tuổi này Tạo điều kiện cho trẻ mầm non phát triển chính là góp phần đặt nền móng vững chắc cho công cuộc “trồng người” của toàn xã hội
Trong thực tế, ở độ tuổi này, các em vẫn còn phụ thuộc rất nhiều vào sự chăm sóc và giáo dục của bố mẹ, anh chị trong gia đình và các cô dạy trẻ Nếu
sự quan tâm, chăm sóc đó đúng đắn thì trẻ sẽ có sự phát triển trí tuệ tốt, làm tiền đề cho sự phát triển những hiện tượng tâm lý khác cũng như cho sự phát
Trang 84
triển trí tuệ ở những giai đoạn lứa tuổi tiếp theo Ngược lại, nếu sự chăm sóc không đúng thì sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ Trong giai đoạn từ 0 đến 6 tuổi thì vấn đề đặc điểm tư duy của trẻ từ 3 đến 6 tuổi và phương pháp phát triển nó là rất cần thiết đối với các bậc phụ huynh và các cô dạy trẻ
Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài “Nghiên cứu đặc điểm tư duy của trẻ em từ 3 đến 6 tuổi" nhằm tìm hiểu đặc điểm tư duy của
trẻ em và các yếu tố ảnh hưởng; từ đó đề xuất những kiến nghị giúp cha mẹ
và các cô dạy trẻ có phương pháp phát triển tư duy của trẻ tốt hơn
2 Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu đặc điểm tư duy của trẻ em mẫu giáo từ 3 đến 6 tuổi và các yếu
tố ảnh hưởng nhằm đưa ra những kiến nghị giúp cha mẹ và các cô dạy trẻ
có phương pháp phát triển tư duy của trẻ tốt hơn
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Lý luận
- Khái quát về lịch sử nghiên cứu vấn đề
- Xây dựng các khái niệm cơ bản của đề tài: tư duy, đặc điểm tư duy, đặc điểm tư duy của trẻ em từ 3 đến 6 tuổi
4 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đặc điểm một số loại hình tư duy của trẻ mẫu giáo từ 3 đến 6 tuổi (tư duy trực quan - hành động, tư duy trực quan - hình tượng)
4.2 Khách thể nghiên cứu
Trang 95
90 trẻ em từ 3 đến 6 tuổi trong đó: 30 em 3 - 4 tuổi; 30 em 4 - 5 tuổi; 30
em 5 - 6 tuổi; 90 cha mẹ của những trẻ tham gia nghiên cứu; 6 cô giáo mầm non của các em
4.3 Phạm vi nghiên cứu
- Nội dung: Mức độ phát triển các loại tư duy (tư duy trực quan - hành động, tư duy trực quan - hình tượng) của trẻ mẫu giáo từ 3 đến 6 tuổi và một số yếu tố ảnh hưởng
- Địa điểm: trường mầm non công lập Hoa Sữa, quận Đống Đa và trường mẫu giáo tư thục Khánh Ly, quận Đống Đa, Hà Nội
- Thời gian: từ tháng 10 năm 2010 đến tháng 12 năm 2011
5 Giả thuyết nghiên cứu
Nhìn chung, tư duy của trẻ em các trường mầm non phát triển phù hợp với lứa tuổi Tuy nhiên, mức độ phát triển các loại tư duy ở một số trẻ còn thấp Một trong những nguyên nhân dẫn đến thực trạng trên là do người lớn chưa biết cách và chưa quan tâm phát triển tư duy của trẻ một cách khoa học
6 Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài này chúng tôi đã sử dụng hệ thống các phương pháp nghiên cứu sau:
6.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Phương pháp này nhằm tìm hiểu những vấn đề lý luận cơ bản về đặc điểm
và sự phát triển tư duy của trẻ em từ 3 đến 6 tuổi và cách phát triển tư duy cho trẻ Trên cơ sở đó xây dựng bộ công cụnghiên cứu
6.2 Phương pháp phân tích sản phẩm của hoạt động
Phân tích kết quả thực hiện các bài tập tư duy (Sử dụng các bài tập của Piaget và các bài tập được biên soạn trên cơ sở các tài liệu tham khảo nhằm tìm hiểu đặc điểm tư duy của trẻ em)
6.3 Phương pháp quan sát
Trang 106
Phương pháp quan sát có ghi biên bản được sử dụng để khắc họa hành vi của trẻ khi làm các bài tập tư duy
6.4 Phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi
Tìm hiểu thực trạng sự quan tâm và phương phápphát triển tư duy trẻ em của các bậc phụ huynh
6.5 Phương pháp phỏng vấn sâu
Trao đổi trực tiếp với trẻ em, phụ huynh, các cô dạy trẻ để tìm hiểu sâu thêm các vấn đề cần nghiên cứu
6.6 Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học
Phương pháp này được sử dụng để xử lý các kết quả thu được từ trắc nghiệm và bảng hỏi
Trang 117
CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÝ LUẬN 1.1 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
1.1.1 Một số hướng tiếp cận vấn đề tư duy trong tâm lý học
1.1.1.1 Tiếp cận hành vi
Các nhà tâm lý học hành vi đề cao vai trò của kích thích bên ngoài trong việc tạo ra các phản ứng Hành vi trí tuệ ở cả người và động vật là các phản ứng có hiệu quả mà chủ thể học được nhằm đáp lại các kích thích từ môi trường bên ngoài Vì vậy, nghiên cứu và điều khiển việc hình thành hành vi trí tuệ cho cả người và động vật được quy về việc nghiên cứu tạo ra môi trường kích thích cho phép hình thành các phản ứng mong muốn, tức là quá trình “điều kiện hóa hành vi” Vấn đề học tập và kỹ xảo đạt được là trung tâm của tâm lý học hành vi Theo các nhà tâm lý học hành vi, tư duy giống như kỹ xảo, nó được hình thành theo cơ chế phản xạ và luyện tập
1.1.1.2 Tiếp cận hình thái (Gestalt)
Gestlat có nghĩa là cấu trúc, tổ chức, hình thể hay hình thái Trong tâm
lý học, hướng tiếp cận hình thái của trường phái Berlin xuất hiện vào thập niên đầu của thế kỷ XX mà đại biểu là các nhà tâm lý học Đức nổi tiếng W Kohlor (1887 - 1970), K Koffka (1886 – 1941), M Wertheimer (1880 – 1943) Lĩnh vực chủ yếu và thành công nhất theo hướng tiếp cận hình thái là các nghiên cứu về tri giác và tư duy
Trong nghiên cứu tư duy, vấn đề quan tâm của các nhà tâm lý học Gestalt là sự biến đổi, cải tổ nhận thức Nhờ đó các quá trình tư duy mang tính sáng tạo khác hẳn với các khái quát hình thức, các thuật toán…như thuyết liên tưởng quan niệm Theo họ, tư duy là sự hiểu biết bất ngờ (bừng hiểu) các quan hệ bản chất của tình huống có vấn đề Sự bừng hiểu này không được chuẩn bị sẵn trực tiếp bởi hoạt động phân tích trước đó Việc giải quyết
Trang 128
nhiệm vụ tư duy thể hiện ở chỗ, một bộ phận của tình huống có vấn đề được tri giác trong cấu trúc mới Tình huống có vấn đề được cấu trúc lại, nhờ đó các thành phần tham gia bộc lộ thuộc tính mới, tính chất mới của mình Thực chất của việc giải quyết nhiệm vụ là khám phá ra các tính chất mới đó
Các nhà Gestalt cho rằng sự có mặt của kinh nghiệm chưa đủ để giải quyết nhiệm vụ tư duy, thậm chí còn cản trở quá trình đi tìm lời giải cho các nhiệm vụ mới, vì nó tạo “sức ỳ” về mặt chức năng của đối tượng được sử dụng Theo các nhà Gestalt, nghiên cứu tư duy không phải bằng quan sát mà phải bằng thực nghiệm Khi tiến hành thực nghiệm, cần lưu ý chọn các nhiệm
vụ có các mức độ phức tạp khác nhau để làm rõ khả năng thực sự của nghiệm thể
Tuy chưa giải quyết triệt để các vấn đề tư duy nhưng các nhà tâm lý học theo hướng tiếp cận hình thái đã có những đóng góp lớn cho nền tâm lý học: các quy luật của tri giác, sự phát sinh các mối quan hệ giữa tri giác với tư duy trong quá trình giải quyết các bài toán tư duy…Nhiều thành tựu của tâm
lý học Gestalt đến nay vẫn còn nguyên giá trị, chẳng hạn, phát hiện về sự phát sinh tri giác và tư duy trong trường tri giác khi giải quyết bài toán tư duy là cơ
sở lí luận của một trong những trắc nghiệm nổi tiếng hiện nay: trắc nghiệm khuôn hình tiếp diễn do nhà tâm lý học J.C.Raven soạn thảo và chuẩn hóa
1.1.1.3 Tiếp cận phát sinh nhận thức
Trong suốt hơn nửa thế kỷ, J.Piaget (1896 – 1980) và các cộng sự đã kiên trì hướng tiếp cận có ảnh hưởng to lớn đối với sự phát triển của tâm lý học thế kỷ XX: tiếp cận phát sinh nhận thức, phát triển trí tuệ trẻ em Học thuyết của J.Piaget về sự phát triển trí tuệ của trẻ có hai nội dung gắn bó với nhau: học thuyết về cấu trúc, chức năng và sự phát sinh (Tâm lý học phát sinh) và học thuyết về các giai đoạn phát triển trí tuệ ở trẻ em (Tâm lý học lứa tuổi)
Trang 139
Lý luận phát triển của Piaget hàm chứa một lý luận học tập tiềm ẩn dù vẫn mang màu sắc sinh học Nói khác đi, tính phát sinh không tách rời khỏi lịch sử là như vậy Do tính khoa học và giá trị thực tiễn to lớn của lý thuyết phát sinh trí tuệ nên chúng ta sẽ tìm hiểu kỹ hơn ở phần sau
1.1.1.4 Tiếp cận hoạt động
Tiếp cận hoạt động là cuộc cách mạng thực sự trong tâm lý học nói chung và trong nghiên cứu sự hình thành và phát triển tư duy cá nhân nói riêng Đại biểu của hướng tiếp cận này là nhà tâm lý học kiệt xuất L.X.Vưgôtxki và các nhà tâm lý học khác như: A.N.Leônchiev, X.L.Rubinstein Hướng tiếp cận hoạt động có cùng mục tiêu với các hướng tiếp cận hành vi, hình thái và phát sinh là xây dựng nền tâm lý học khách quan Nhưng nếu cách tiếp cận hành vi chỉ nghiên cứu hành vi và loại bỏ ý thức của chủ thể thì cách tiếp cận hoạt động ngay từ đầu đã đưa ý thức trở thành đối tượng nghiên cứu của mình Tất nhiên, việc nghiên cứu này không thể diễn ra theo cách thức của tâm lý học nội quan mà phải theo phương pháp khách quan Đó thực sự là vấn đề nan giải Hướng tiếp cận hoạt động đã khắc phục tình trạng này bằng cách khai thác triệt để thành tựu của triết học duy vật biện chứng và lịch sử, lấy triết học làm nền tảng phương pháp luận cho việc nghiên cứu tâm lý con người Luận điểm cơ bản là: con người là ra chính bản thân mình bằng lao động và hoạt động xã hội Toàn bộ đời sống tâm lý, ý thức của con người là sự phản ánh thực tiễn đời sống vật chất của nó Tâm lý,
ý thức được hình thành và biểu hiện qua hoạt động mà trước hết là lao động sản xuất và hoạt động xã hội Vì vậy muốn nghiên cứu tâm lý, ý thức của con người một cách khách quan phải bắt nguồn từ nghiên cứu toàn bộ đời sống thực tiễn của nó Công việc chủ yếu của nhà tâm lý học là phân tích các dạng hoạt động trong đời sống thực tiễn, phát hiện các quy luật hình thành và
Trang 14Từ nghiên cứu chức năng, cấu trúc đến nguồn gốc, nội dung xã hội, lịch sử phát sinh, hình thành và phát triển Học thuyết lịch sử - văn hóa về sự phát triển tâm lý do L.X.Vugôtxki sáng lập đã chỉ ra rằng mặt văn hóa – xã hội của các quan hệ này mới thực sự ảnh hưởng tới chiều hướng và phương thức phát sinh, phát triển trí tuệ của trẻ em trong các nền văn hóa khác nhau Theo quan điểm của tiếp cận hoạt động, bất kỳ chức năng tâm lý cấp cao nào của trẻ em trong quá trình phát triển cũng đều được thể hiện hai lần: lần đầu là hoạt động tập thể, hoạt động xã hội, tức là chức năng tâm lý bên ngoài Lần thứ hai là hoạt động cá nhân, phương pháp bên trong của tư duy trẻ em là chức năng tâm lý bên trong
- Trí tuệ của trẻ em được hình thành bằng chính hoạt động của nó Mỗi giai đoạn phát triển của trẻ có nhiều hoạt động, trong đó hoạt động chủ đạo có vai trò chủ yếu đối với sự phát triển trí tuệ và các hoạt động khác trong giai đoạn đó Sự phát triển trí tuệ của trẻ em phụ thuộc trước hết vào hoạt động nào giữ vai trò chủ đạo trong từng giai đoạn Vì vậy,
sự hình thành và phát triển trí tuệ của trẻ em gắn liền với việc hình thành hoạt động chủ đạo trong mỗi giai đoạn phát triển của nó
- Trẻ em không thể tự mình hoạt động một cách đơn độc Hoạt động của trẻ em với thế giới đồ vật bao giờ cũng phải trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua người lớn, lấy người lớn làm trung gian Có thể nói trí tuệ của trẻ em là sản phẩm của hoạt động và sự hợp tác của nó với người lớn
Trang 1511
- Chức năng của dạy học là phát triển nên dạy học phải đi trước sự phát triển Tức là dạy học không hướng vào trình độ phát triển hiện thời mà phải tác động vào vùng phát triển gần nhất trong trí tuệ học sinh [10] Hướng tiếp cận hoạt động nhìn chung có hướng nhấn mạnh tới khía cạnh lĩnh hội với tư cách là sự tái tạo những kinh nghiệm của xã hội, chuyển biến chúng thành của riêng cá nhân Vì vậy, cần xác định đúng giới hạn của việc tái tạo, sự lặp lại để trách coi nhẹ yếu tố sáng tạo trong hoạt động trí tuệ của trẻ em
1.1.2 Những nghiên cứu về đặc điểm tư duy của trẻ em ở nước ngoài Trong tâm lý học, trẻ em luôn là đối tượng trung tâm để nghiên cứu các vấn đề đặc trưng về tâm lý học Hoạt động tư duy là một trong những vấn đề
đó Vậy tư duy của trẻ em nảy sinh, hình thành và phát triển ra sao? Các công trình nghiên cứu về tư duy trẻ em của các nhà khoa học trên thế giới đã có nhiều câu trả lời khác nhau
Jean Piaget (1896 – 1980), là một nhà tâm lý học nổi tiếng người Thụy Sĩ Những thành tựu nghiên cứu về sự phát sinh, phát triển trí tuệ của trẻ em mà ông phát hiện ra là một trong những đóng góp lớn nhất cho sự phát triển tâm
lý học thế kỷ XX Mối quan tâm lớn nhất của Piaget là cấu trúc trí tuệ và quá trình phát sinh phát triển trí tuệ của trẻ em như thế nào? Theo ông, trí tuệ của
cá nhân phát triển từ thấp đến cao được tuân theo trật tự chặt chẽ Đây không phải là trật tự thời gian mà là trật tự kế tiếp, mọi cá nhân phát triển bình thường đều phải tuân theo trật tự đó Đồng thời quá trình phát triển này theo hai quy luật: tăng trưởng liên tục, từng tí một và phát triển nhảy vọt Chính sự nhảy vọt cho ta khái niệm giai đoạn Piaget cho rằng mỗi lứa tuổi có đặc trưng riêng về chất lượng trí tuệ và được coi là một giai đoạn phát triển Ông chia quá trình phát triển trí tuệ của trẻ em thành các giai đoạn lớn:
- Giai đoạn cảm giác – vận động (0 đến 2 tuổi)
Trang 1612
- Giai đoạn tiền thao tác (2 – 6, 7 tuổi)
- Giai đoạn thao tác cụ thể (7-11 tuổi)
- Giai đoạn thao tác hình thức (11, 12 tuổi trở lên) [44]
L X.Vưgôtxki – nhà tâm lý học Liên Xô đã có những quan điểm có giá trị
về sự phát triển tâm lý, tư duy của trẻ em Ông cho rằng, trẻ em sinh ra với chỉ một vài chức năng tâm lý sơ đẳng (chú ý, cảm giác, tri giác và trí nhớ) Những chức năng này dần dần sẽ phát triển và trở thành các chức năng tâm lý cao cấp phức tạp Sự phát triển này diễn ra dưới ảnh hưởng trực tiếp của văn hóa xã hội Mỗi nền văn hóa truyền cho trẻ em “nhớ thế nào”, các cách ghi nhớ, suy nghĩ (“nghĩ thế nào”) Ngoài ra mỗi nền văn hóa còn có những giá trị
và chuẩn mực khác nhau, nên nó còn dạy cho trẻ em “nghĩ về cái gì?
Và vì mỗi nền văn hóa xã hội có hệ thống giá trị, chuẩn mực, các công cụ phương tiện tư duy khác nhau (đặc biệt ở những nền văn hóa khác xa nhau như các bộ lạc vùng núi với các nước công nghiệp văn minh) nên nội dung và phương thức phát triển trí tuệ, nhận thức cũng rất khác nhau, và không thể giống nhau đối với toàn thể nhân loại
Vưgôtxki đồng ý với Piaget là trẻ em luôn ham hiểu biết, tích cực tìm tòi, khám phá thế giới xung quanh Nhưng khác với Piaget, Vưgôtxki cho rằng, nhiều phát hiện quan trọng của trẻ em diễn ra nhờ sự dẫn dắt của người (có kinh nghiệm hơn) lớn, chứ không phải do trẻ tự mày mò mà có được
Đầu tiên người lớn cùng hoạt động với trẻ, người lớn làm trước để trẻ nhìn, vừa làm vừa giải thích cách làm Đứa trẻ nhập tâm dần chỉ dẫn của người lớn, sau đó mới tự thực hiện công việc một mình Ví dụ: Bé Hoa 4 tuổi vừa nhận được quà sinh nhật là hộp ghép hình, bé mở ra nhưng không biết chơi cho đến khi bố bé đến ngồi cạnh và cho bé một vài chỉ dẫn Bố gợi ý nên ghép các góc trước tiên Người bố chỉ vào màu hồng của mảnh ở góc và đề nghị: “Chúng ta cùng tìm mảnh có màu giống thế này nữa nhé” Khi Hoa lúng
Trang 1713
túng, không biết tiếp tục thế nào, bố bé đặt 2 mảnh cạnh nhau để bé nhận ra chúng, khi Hoa làm được, bố khen ngợi, động viên bé Khi Hoa từng bước nắm được cách chơi, bố bé đứng lên và để bé tự chơi một mình [9]
GS.TS Phạm Minh Hạc đã nói J.Piaget và L.X.Vưgôtxki là hai trụ cột chính, hai người có nhiều đóng góp trên lĩnh vực tâm lý học phát triển – một trong những thành tựu lớn nhất của tâm lý học thế kỷ 20 [12]
L.X.Vưgôtxki nhận xét: “Các công trình nghiên cứu của Piaget là cả một thời đại trong sự phát triển học thuyết ngôn ngữ và tư duy trẻ em, học thuyết
về logic và cách nhìn thế giới của trẻ em” Công lao của nhà tâm lý học, giáo dục học J.Piaget còn được nhắc đến nhiều trong thế kỷ 21
Ngoài ra chúng ta còn phải kể đến các tác giả nổi tiếng khác:
Henri Wallon (1879 – 1962), nhà tâm lý học Pháp đã phân tích sâu sắc mối quan hệ giữa tư duy, hành động và điều kiện xung quanh, thể hiện rõ nhất
là ở trẻ nhỏ Ông nghiên cứu quá trình chuyển hóa hành động bên ngoài thành hành động bên trong và bản chất xã hội vốn có từ đầu trong tư duy của trẻ em
Từ đó H.Wallon đánh giá cao vai trò của dạy học và sự luyện tập, phân tích
sự thay đổi về nội dung và phương pháp tư duy của trẻ em dưới ảnh hưởng của dạy học và luyện tập
J.S.Bruner, nhà tâm lý học Mỹ chuyên nghiên cứu về tâm lý học trẻ em và các quá trình nhận thức đã phân tích các mức độ khác nhau của hoạt động nhận thức, từ tri giác đến tư duy khái niệm Ở trẻ nhỏ, sản phẩm của quá trình
tư duy chính là các biểu tượng, hình ảnh nhưng ở các mức độ khác nhau Sự phát triển của các biểu tượng là một trong những chỉ số của sự phát triển trí tuệ nói chung và sự phát triển tư duy nói riêng
P.Osterrieth, nhà tâm lý học Đức cho rằng, từ 3 đến 6 tuổi trẻ có thể suy nghĩ về những cái nó đang cảm thấy Bản chất tư duy ở độ tuổi này là “Tư duy trực giác”, chưa có các thao tác logic
Trang 1814
Năm 1904, Alfred Binet cùng một nhóm các nhà tâm lý học người Pháp chuyên nghiên cứu tâm lý trẻ đã nghiên cứu thành công phương pháp nhận diện và đánh giá trí tuệ của học sinh Công trình được được giới chức giáo dục Pháp đánh giá rất cao Sau đó, bài kiểm tra của Binet trở nên thông dụng trên khắp nước Mỹ và bùng phát mạnh vào năm 1917 – chính phủ Mỹ sử dụng bài kiểm tra này để phân loại, đánh giá và phân bổ tân binh vào các vị trí trong quân đội, trong Thế chiến thứ I Các bài kiểm tra của Binet nhằm kiểm tra trí thông minh đối với học sinh, qua đó ông sẽ đánh giá được năng lực tư duy và suy luận của trẻ trong nhiều lĩnh vực khác nhau Bài kiểm tra đòi hỏi trẻ phải làm một số trắc nghiệm về khả năng làm theo hướng dẫn, bắt chước hình mẫu, gọi tên đồ vật hoặc sắp xếp món đồ theo thứ tự và chủng loại
Là người đưa ra những khái niệm đầu tiên về “chỉ số thông minh - IQ”, Binet cũng nhìn nhận rằng bài kiểm tra IQ cũng bộc lộ một số hạn chế Ông cho rằng rằng trí thông minh không hẳn chỉ do di truyền, bởi các gien cấu thành, mà còn do môi trường giáo – dưỡng tác động Binet mở ra một hướng nghiên cứu quan trọng, cuốn hút giới nghiên cứu trong suốt một thế kỷ qua và đến nay nó còn hấp dẫn hơn nữa khi thế giới đã bước vào kỷ nguyên kinh tế tri thức
Tony Buzan , tác giả của “Sơ đồ tư duy” (1904) và cũng là tác giả của cụm
từ mới “Mental Literacy – Đọc hiểu năng lực trí tuệ”, có nghĩa là trình độ am hiểu về hoạt động của bộ não Ông rất đam mê khám phá cấu trúc và cNhức năng hoạt động của bộ não và phát minh ra những phương pháp để “bật tín hiệu” cho bộ não Ông cho rằng đứa trẻ nào cũng có tiềm năng của Leonardo
da Vinci và Albert Einstein và dày công nghiên cứu cách “bật tín hiệu” cho tiềm năng đó phát huy Các nghiên cứu của Buzan cho thấy trí thông minh được phát huy hết công năng khi con cái chúng ta được nuôi dưỡng trong môi
Trang 1915
trường tốt, được khuyến khích, động viên và giáo dục đúng phương pháp Với
bộ công cụ sơ đồ tư duy hay còn gọi là sơ đồ trí não, Buzan hướng dẫn chúng
ta học phương pháp học, học cách xử lý thông tin, và học tư duy có phương pháp để rèn luyện và nâng cao năng lực tư duy, từ đó khai phá năng lực tiềm
ẩn vô cùng to lớn của bộ não tạo nên sự đột phá trong học tập và công tác Như vậy, hành trình khám phá trí thông minh đã phát triển từ trí thông minh thiên bẩm - cái bên trong, đến khả năng học từ môi trường bên ngoài của nó Và chiếc cầu nối chính là học và đào tạo đúng phương pháp
Giáo sư tâm lý Howard Gardner của trường đại học Havard công bố thuyết
“trí thông minh đa đạng” (1987) Theo đó, trí thông minh của con người có tám dạng như sau:
a Trí thông minh ngôn ngữ
b Trí thông minh logic – toán học
c Trí thông minh về không gian
d Trí thông minh về khả năng vận động thân thể
e Trí thông minh âm nhạc
f Trí thông minh tương tác, giao tiếp với người khác
g Trí thông minh nội tâm
h Trí thông minh trong lĩnh vực tự nhiên
Từng loại trí thông minh trên sẽ phát huy tốt với các chương trình đào tạo, huấn luyện tư duy phù hợp
Một nhà khoa học khác, giáo sư Edward de Bono là bác sĩ và là nhà tâm lý, tập trung vào tìm kiếm các phương pháp phát triển tư duy Được mệnh danh là cha đẻ của “Ngẫm về Tư duy” (Thinking on thinking), ông tạo ra công cụ dẫn đường cho việc cải tiến doanh nghiệp, lãnh đạo chiến lược, sáng tạo cá nhân và giải quyết vấn đề Thông thái trong cả hai lĩnh vực y học và tâm lý học, ông thiết kế những công cụ và phương pháp tư duy đơn giản, hiệu
Trang 2016
quả và dễ áp dụng Nổi bật nhất là phương pháp Six Thinking Hats giúp việc
tư duy trở nên toàn diện, tập trung và có hệ thống “Sáu chiếc mũ tư duy” này đặc biệt hữu ích trong việc giải quyết vấn đề của cá nhân, tổ chức, tập thể, nhất là trong hoạt động sáng tạo
Vấn đề tư duy trẻ em đã lôi cuốn các nhà tâm lý học Liên Xô như: L.X.Vưgôtxki, A.N.Lêônchiep, X.L.Rubinstêin, P.Ia.Galperin… Các nhà tâm
lý học Liên Xô đã nghiên cứu tư duy như một hoạt động trí tuệ, là quá trình chuyển từ hoạt động bên ngoài vào hoạt động bên trong theo cơ chế “nhập tâm” hay “chuyển vào trong” Tư tưởng này được bắt đầu từ Vưgôtxki Ông coi hoạt động của con người mang tính gián tiếp, là hoạt động có phương tiện Công cụ và ngôn ngữ là hai phương tiện cơ bản để thế hệ sau lĩnh hội kinh nghiệm của thế hệ trước để lại Quan điểm cơ bản của tâm lý học Xô Viết là: hoạt động tâm lý bên trong xuất phát từ hoạt động thực tiễn bên ngoài Vì vậy, khi nghiên cứu về tâm lý nói chung và trí tuệ nói riêng phải nghiên cứu hoạt động có đối tượng bên ngoài và tiếp đó bằng sự chuyển hóa mà có được hoạt động bên trong P.Ia.Galperin đã mô tả suốt chặng đường chuyển hóa ấy như sau:
- Giai đoạn 1: Thiết lập cơ sở định hướng của hành động
- Giai đoạn 2: Thực hiện hành động ở dạng vật chất (với đồ vật thật)
- Giai đoạn 3: Thực hiện hành động ngôn ngữ bên ngoài (hình thức nói to)
- Giai đoạn 4: Hình thành hành động với ngôn ngữ bên ngoài dành riêng cho mình nghe nói (nói thầm)
- Giai đoạn 5: Thực hiện hành động trong trí óc (hành động với lời nói bên trong) [38]
Đây là thành tựu tổng kết lại một quá trình phát triển lâu dài về lý luận của tâm lý học nói chung Thực tế cho thấy không phải lúc nào và không phải
Trang 2117
hiện tượng tâm lý nào cũng được hình thành thông qua các giai đoạn như Galperin mô tả Nhưng đối với các hành động trí tuệ ở trẻ em lứa tuổi nhỏ (2 – 7 tuổi) nói chung và trẻ mẫu giáo (3 – 6 tuổi) nói riêng thì lý thuyết này vẫn giữ nguyên giá trị của nó.Ý nghĩa của học thuyết Galperin là thao tác hóa cụ thể quá trình hình thành hành động trí tuệ đến mức có thể thực nghiệm Từ những năm 50, nhất là những năm 60 trở đi, những công trình nghiên cứu thực nghiệm theo tư tưởng cơ bản “chuyển vào trong” đã làm rõ thêm những vấn đề lý luận và hình thành dần phương pháp giáo dục mới, đặc biệt trong lĩnh vực phát triển trí tuệ của trẻ em [8]
Cần nói thêm rằng, từ lâu các nhà tâm lý học cũng đã tìm đến mối liên hệ giữa hai hình thái hoạt động bên ngoài và bên trong Cho đến những năm 20 của thế kỷ XX, Watson đã đưa ra giả thuyết về sự chuyển hóa của quá trình bên ngoài thành quá trình bên trong: nói to – nói thầm – nói không có tiếng Cũng vào thời kỳ này J.Piaget tìm ra cơ chế chuyển từ giai đoạn “sờ mó, mầy mò” thành “ý nghĩ”, nhờ đó cho phép thấy được vai trò của hành động trong quá trình hình thành tư duy mà ông cho rằng chủ yếu là quá trình chuyển vào trong Sau đó ít lâu, J.Bruner cũng có tư tưởng tương tự Quá trình “nội tâm hóa” diễn ra theo 5 mức độ mà P.Ia Galperin đã đưa ra, nhưng ở trẻ đầu tuổi mẫu giáo chỉ dừng ở quá trình định hướng và hành động vật chất [8]
A.V Daparôgiet khẳng định tư duy của trẻ em mẫu giáo mang tính chất hình tượng và cụ thể Ông đã nhận xét về các bước hình thành thao tác trí tuệ của trẻ mẫu giáo: “Lứa tuổi mẫu giáo không thể, không cần thiết phải thúc đẩy quá trình nhận thức đạt đến giai đoạn cao nhất của quá trình “nhập tâm”, làm sao sự nhập tâm đến từ từ vào “lời nói thầm” – tức là giai đoạn thao tác với các hình ảnh và lan dần đến các thao tác trí tuệ bên trong.” [8]
Dựa vào quan điểm cơ bản về hoạt động trong tâm lý học Xô Viết, L.A.Venger và các cộng sự của ông đã nghiên cứu quá trình phát triển trí tuệ
Trang 2218
của trẻ lứa tuổi tiền học đường Trong luận án tiến sỹ khoa học về chẩn đoán
sự phát triển trí tuệ ở trẻ mẫu giáo, L.A.Venger đã xây dựng bộ trắc nghiệm nhằm đánh giá mức độ phát triển trí tuệ ở tất cả các dạng hoạt động nhận thức khác nhau
Theo các nhà tâm lý học Xô viết, ở tuổi ấu nhi (khoảng 15 tháng đến 36 tháng), hầu hết trẻ em đều rất tích cực hoạt động với đồ vật, nhờ đó trí tuệ đặc biệt là tư duy phát triển khá mạnh Lúc này trẻ đã bắt đầu giải các bài toán thực tế nhưng quá trình giái đó không diễn ra trong óc mà diễn ra bằng tay theo phương thức “thử và sai”, được gọi là tư duy bằng tay hay tư duy trực quan hành động Nói cho đúng hơn đây chỉ là những hình động định hướng bên ngoài, làm tiền đề cho sự hình thành những hành động định hướng bên trong, tức là giúp trẻ giải các bài toán trong óc – tư duy [38]
Đến tuổi mẫu giáo (3 – 6 tuổi), tư duy của trẻ có một bước ngoặt rất cơ bản Đó là sự chuyển tư duy từ bình diện bên ngoài vào bình diện bên trong
mà thực chất đó là việc chuyển những hành động định hướng bên ngoài thành những hành động định hướng bên trong theo cơ chế nhập tâm Theo các nhà tâm lý học Xô viết, các loại tư duy ở tuổi mẫu giáo đã được hình thành rõ rệt:
- Tư duy trực quan - hành động: đặc điểm của loại tư duy này là những biểu hiện của tư duy gắn chặt với hành động trong những tình huống cụ thể Trẻ giải quyết nhiệm vụ cụ thể bằng những hành động thử nghiệm
và chỉ nhận ra kết quả sau khi hành động này đã được thực hiện Ở tuổi mẫu giáo, loại tư duy này còn đóng một vai trò quan trọng trong suốt thời gian 3 – 4 tuổi Trẻ 4 – 5 tuổi bắt đầu suy nghĩ về nhiệm vụ và phương pháp giải quyết nhiệm vụ trong chính quá trình hành động
- Tư duy trực quan - hình tượng: đây là loại tư duy phát triển mạnh mẽ ở lứa tuổi mẫu giáo Đặc điểm của loại tư duy này là việc thực hiện các hành động không chỉ ở bên ngoài mang tính vật chất cụ thể mà được
Trang 23- Tư duy ngôn ngữ - logic: các nhà Tâm lý học Xô Viết, bắt đầu từ P.P Blônxki đã chứng minh rằng, tính chất hình tượng cụ thể trong tư duy của trẻ mẫu giáo tuyệt nhiên không loại trừ một số hình thức phán đoán
và kết luận vốn có ở trẻ 3 – 4 tuổi Trẻ 5 tuổi đã có khả năng tách dấu hiệu có ý nghĩa nhất đối với nó trong chức năng đối tượng Chỉ đến tuổi mẫu giáo lớn, trẻ mới học được cách tách biệt dấu hiệu bản chất của đối tượng Ở trẻ mẫu giáo cũng đã có các hình thức tư duy như phán đoán, suy lý…Các em đoán trước được những sự việc sẽ xảy ra Trẻ 3-5 tuổi
đã có khả năng suy lí quy nạp và diễn dịch Tuy nhiên, trẻ còn thiếu những tri thức cần thiết để thiết lập mối quan hệ bản chất có thực giữa các điều kiện hay các mặt của một hiện tượng Đồng thời, trẻ chưa có
khả năng tư duy liên tục, có hệ thống và logic
Chúng tôi đưa ra các nghiên cứu về sự phát triển trí tuệ, tư duy của trẻ mẫu giáo ở nước ngoài nhằm lấy đó làm cơ sở lý luận cho đề tài nghiên cứu của mình, đặc biệt là lý thuyết hoạt động và những công trình nghiên cứu về trí
tuệ trẻ em của J.Piaget
Trang 2420
1.1.3 Những nghiên cứu về đặc điểm tư duy của trẻ em ở Việt Nam
Vấn đề năng lực tư duy được nghiên cứu không chỉ ở trẻ mẫu giáo, mà còn được tiến hành trên trẻ em các lứa tuổi lớn hơn, đặc biệt là ở trẻ em lứa tuổi tiểu học bởi nhiều tác giả khác như:
Nguyễn Kim Quý “Đánh giá năng lực khái quát hóa và năng lực tri giác không gian của học sinh lớp 4 chuyên toán” trong nghiên cứu giáo dục số 1, tháng 10 – 1991
Nguyễn Hồng Nga với “Năng lực khái quát hóa trong môn toán của học sinh tiểu học” trong tạp chí nghiên cứu giáo dục số 1 – 1996
Nguyễn Lan Anh với “ Khả năng phân tích tổng hợp của học sinh lớp 1” – Luận văn tốt nghiệp, 1991
Nguyễn Thị Loan “Sự tương tác giữa tư duy cụ thể và tư duy trừu tượng trong
sử dụng sơ đồ giải các bài tập cơ học của học sinh lớp 1”,1998
Nguyễn Thị Thúy Vân “Xây dựng trắc nghiệm để chẩn đoán năng lực tư duy toán học của học sinh lớp 5”, 2001
Nguyễn Thị Thủy “Phát triển tư duy cho học sinh tỉnh miền núi qua hệ thống câu hỏi bài tập hóa học”, 2000
Trần Lệ Thanh “Nghiên cứu năng lực tư duy của sinh viên trường đại học An Ninh Nhân Dân”, 2001
Dương Thị Linh “Tìm hiểu một số đặc điểm trừu tượng hóa, khái quát hóa ở học sinh lớp 4 và 5 bậc tiểu học”, 2002
Viêngsay Sulachit “Phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh Lào”, 2002
Huỳnh Văn Sơn “Nghiên cứu mức độ trí tuệ của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi”,
2004
Trần Trung Kiên “Tìm hiểu khả năng vận dụng các thao tác tư duy trong quá trình giải các bài tập hóa học của học sinh lớp 1”, 2005
Trang 25Có thể nói, ở Việt Nam chưa có nhiều công trình nghiên cứu riêng về
tư duy trẻ em mẫu giáo Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu về trí tuệ trẻ em của Hồ Ngọc Đại, Phạm Hoàng Gia, Nguyễn Ánh Tuyết, Nguyễn Khắc Viện…đã đạt được nhiều kết quả đáng trân trọng Thành tựu nghiên cứu về sự phát triển trí tuệ trẻ em đầu tuổi học của Hồ Ngọc Đại đã chỉ ra chiến lược về giáo dục trí tuệ Cùng với đồng nghiệp của mình là Nguyễn Kế Hào và các cộng sự ở Trung tâm Công nghệ giáo dục, ông đã thực hiện một số công trình thực nghiệm dài hạn về chiến lược giáo dục mới với tư tưởng cơ bản là: người lớn tổ chức trẻ em hoạt động để chiếm lĩnh nền văn hóa loài người [5]
Công trình nghiên cứu về trí thông minh của Phạm Hoàng Gia cho rằng trí thông minh ở trẻ em, một sản phẩm tư duy được đặc trưng bởi tính chủ động, linh hoạt, sáng tạo trong nhận thức và hành vi Vậy cốt lõi của trí thông minh chính là tư duy Quá trình phát triển tư duy cũng chính là con đường lĩnh hội khái niệm, là tiền tố tạo nên trí thông minh Việc hình thành trí thông minh ở trẻ em là con đường vững chắc nhất để chiếm lĩnh khái niệm khoa học Ở trẻ mẫu giáo, trí thông minh thể hiện trong thao tác với đồ vật Đó là
kỹ năng, kỹ xảo thuần thục, óc quan sát, trí nhớ logic, sự thể hiện ngôn ngữ Ở trẻ em, trí thông minh và năng khiếu phải được bộc lộ và phát triển trong hoạt động của chính bản thân đứa trẻ [8]
Cũng xuất phát từ quan điểm cơ bản của lý thuyết hoạt động, trong lĩnh vực tư duy của trẻ mẫu giáo, Nguyễn Ánh Tuyết đã có công trình nghiên cứu
Trang 2622
về tính linh hoạt trong tư duy bằng thực nghiệm cho trẻ hành động trên các đồ vật có nhiều hình dạng khác nhau gồm nhiều biến thể của các hình học Kết quả, trẻ giải quyết nhiệm vụ thực tiễn một cách linh hoạt với nhiều phương án khác nhau, chứ không rập khuôn theo một mẫu cứng nhắc nào Từ đó tác giả cho rằng, nếu trẻ em mẫu giáo hành động với các đồ vật phong phú đa dạng
sẽ tránh được sự cứng nhắc, gò bó trong hành động vật chất, dẫn tới kiểu tư duy giáo điều, kinh nghiệm chủ nghĩa sau này [8]
Tác giả Nguyễn Ánh Tuyết cũng đã tìm hiểu sự phát triển trí tuệ của trẻ mẫu giáo lớn (5 – 6 tuổi) trong mối tương quan với một số điều kiện giáo dục gia đình thông qua nghiên cứu tranh vẽ của các em Kết quả cho thấy đa số những cháu đạt điểm cao là những cháu bố mẹ có trình độ văn hóa từ phổ thông trung học trở lên, có điều kiện chăm sóc, giáo dục tương đối đầy đủ Bố
mẹ các cháu luôn tạo điều kiện cho trẻ tiếp xúc với môi trường xung quanh [36]
Các công trình nghiên cứu của bác sỹ Nguyễn Khắc Viện về tâm lý học trẻ em có một ý nghĩa đặc biệt sâu sắc Qua nhiều năm làm việc, tiếp xúc với trẻ em, ông cho rằng trí khôn của trẻ biểu hiện ở chỗ biết định hướng trong không gian, thời gian và các mối quan hệ xã hội Các bài viết của ông thể hiện một tình yêu tha thiết đối với con trẻ, một mong muốn mãnh liệt là làm sao nền giáo dục nước nhà không làm thui chột mà ngược lại phát triển hết mọi khả năng có thể có của trẻ em Đối với trẻ mẫu giáo, ông viết: “Khoa học ngày nay cho ta đủ chứng cớ để khẳng định rằng những cơ cấu và cơ chế quan trọng nhất của tâm trí con người đã hình thành trong năm, sáu năm đầu”, mặc dầu vậy, “không thể nhồi nhét vào đầu óc các em những tri thức trừu tượng
mà phải xuất phát từ những hoạt động tri giác và vận động phong phú với những đề tài gần gũi với cuộc sống” [18]
Trang 2723
Nghiên cứu đặc điểm trí tuệ của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi, tác giả Nguyễn Thạc đã vạch ra sự phát triển các thành phần tâm lý trí tuệ như: quan sát, tư duy, ngôn ngữ…của trẻ mẫu giáo không như nhau [8]
Trong luận văn thạc sỹ “Nghiên cứu trình độ phát triển tư duy trực quan hình tượng của trẻ em cuối tuổi mẫu giáo, trước khi bước vào lớp 1”; tác giả Trương Khánh Hà (2002) đã chỉ ra rằng những trẻ có trình độ tư duy trực quan – hình tượng ở mức cao là những trẻ có vốn biểu tượng phong phú, khả năng tri giác chi tiết sự vật đạt trình độ cao, các thao tác tư duy hình ảnh đã hình thành khá tốt Ngoài ra nguyên nhân từ phía gia đình, trường mẫu giáo cũng ảnh huởng đến sự phát triển tư duy trực quan – hình tượng của trẻ như: cha mẹ thiếu hiểu biết về việc chăm sóc, giáo dục con cái; thầy cô chưa tổ chức tốt các hoạt động giúp trẻ phát huy khả năng tri giác và đẩy mạnh quá trình nhập tâm các thao tác tư duy [8]
Tác giả Trần Thị Dung (2009) trong nghiên cứu mức độ phát triển trí tuệ của trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi tại trường mầm non Họa My và Trung Tự đã chỉ ra sự phát triển trí tuệ không đồng đều giữa nam và nữ Mức độ phát triển trí tuệ ở nam cao hơn nữ Đồng thời nghiên cứu cũng chỉ ra yếu tố ảnh hưởng lớn đến sự phát triển trí tuệ của trẻ là môi trường giáo dục và tổ chức hoạt động giáo dục [3]
Tóm lại, vấn đề tư duy của trẻ em đã được đề cập đến trong nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu về đặc điểm tư duy của trẻ mẫu giáo và các yếu ảnh hưởng
1.2 NHỮNG KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.2.1 Khái niệm tư duy
Tư duy là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học: triết học, logic học, tâm lý học… Mỗi khoa học nghiên cứu tư duy ở những góc độ khác nhau Triết học nghiên cứu những quy luật chung nhất của toàn bộ nhận
Trang 2824
thức của loài người trong đó tư duy là đỉnh cao của nhận thức Logic học nghiên cứu những quy luật logic trong việc định nghĩa, phân loại khái niệm, các quy luật phán đoán và suy lý với tư cách là những hình thức logic của tư duy Tâm lý học đi sâu nghiên cứu quá trình tư duy của con người diễn ra như thế nào, các quy luật hình thành và phát triển tư duy con người từ tuổi ấu thơ đến người lớn, nghĩa là tâm lý học nghiên cứu quy luật và cơ chế hình thành, phát triển và thể hiện tư duy ở con người
Vậy tư duy là gi? Trong tâm lý học, tư duy là một quá trình tâm lý thuộc nhận thức lý tính, là một mức độ nhận thức mới về chất so với cảm giác
và tri giác Tư duy phản ánh những thuộc tính bên trong, bản chất, những mối liên hệ có tính quy luật của sự vật, hiện tượng
Trong nghiên cứu này, chúng tôi chọn định nghĩa tư duy của Nguyễn
Quang Uẩn:“Tư duy là một quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính bản chất, những mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật và hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết.” [39]
1.2.2 Tư duy của trẻ mẫu giáo
Tư duy là một quá trình phát hiện những thuộc tính bên trong và những quy luật khách quan của sự vật Tư duy cho phép con người nhận biết rõ thế giới bên ngoài và bên trong: một bên là thế giới bên ngoài với những vật cụ thể mắt thấy, tai nghe, tay sờ mó được; một bên là thế giới bên trong với những hình ảnh, những biểu tượng của sự vật, những ý muốn chủ quan của con người [38]
Ở tuổi mẫu giáo, tư duy của trẻ đang có sự chuyển dịch từ bình diện bên ngoài vào bình diện bên trong mà thực chất đó là việc chuyển những hành động định hướng bên ngoài thành những hành động định hướng bên trong theo cơ chế nhập tâm Quá trình tư duy của trẻ đã bắt đầu dựa vào những hình ảnh, biểu tượng của sự vật và hiện tượng đã có trong đầu Lúc này việc giải
Trang 2925
các bài toán không cần thực hiện bằng những phép thử bằng hành động bên ngoài nữa mà thực hiện dựa trên phép thử với những hình ảnh, những biểu tượng đã có về các sự vật, hiện tượng, hành động mà trước đây trẻ em đã có dịp tiếp xúc trực tiếp hay nhìn thấy từ người khác Chẳng hạn sau nhiều lần dùng que để khều các đồ vật nào đó từ xa đến gần, do hành động ngẫu nhiên của trẻ hay hành động mẫu mà người lớn bầy cho trước đây thì bây giờ trước tình huống mới: quả bóng bị lăn vào gầm giường, trẻ đã biết dự đoán là có thể dùng que để khều quả bóng ra Sự dự đoán này là phép thử được tiến hành trong óc, định hướng cho hành động giải quyết vấn đề của trẻ diễn ra hiệu quả Trong quá trình thử đó đứa trẻ không hành động với đồ vật thật mà với hình ảnh của các biểu tượng về đồ vật và phương thức sử dụng Loại tư duy này gọi là tư duy trực quan – hình tượng, là loại tư duy mà trong đó, việc giải các bài toán được thực hiện nhờ các thao tác trong óc với các hình ảnh, biểu tượng trên cơ sở tri giác trực tiếp hoàn cảnh có vấn đề và các điều kiện tư duy Tư duy trực quan – hình tượng của trẻ em chỉ có thể phát triển tốt trên cơ
sở các hình ảnh, biểu tượng về hiện thực khách quan phong phú Các hình ảnh, biểu tượng của trẻ về thế giới khách quan và quy luật về sự vận động của thế giới đó chỉ có thể có được nếu trẻ được tri giác, vận động, trải nghiệm cách giải quyết vấn đề nhiều lần bằng hành động bên ngoài Những hình ảnh, biểu tượng, hành động này được giữ lại nhờ ngôn ngữ bắt đầu phát triển mạnh Nói cách khác, tư duy trực quan – hình tượng của trẻ em mẫu giáo (3 –
6 tuổi) chỉ có thể phát triển tốt trên cơ sở trình độ tư duy trực quan – hành động cùng với sự phát triển ngôn ngữ của các em đạt mức phát triển cao ở lứa tuổi trước đó (1 – 3 tuổi) [35]
Việc chuyển từ tư duy trực quan – hành động sang tư duy trực quan – hình tượng được hình thành là nhờ vào:
Trang 3026
- Thứ nhất, trẻ tích cực hoạt động với đồ vật, tích cực thú và hứng với việc giải quyết các tình huống có vấn đề bằng hành động với đồ vật Hoạt động đó được lặp đi lặp lại nhiều lần, lâu dần được nhập tâm thành những hình ảnh, những biểu tượng trong óc Đó là cơ sở để hoạt động tư duy được diễn ra ở bình diện bên trong
- Thứ hai, nhờ hoạt động và giao tiếp cùng nhau bằng ngôn ngữ giữa người lớn và trẻ trong quá trình hành động với đồ vật (người lớn dùng ngôn ngữ và hành động để kích thích tính tích cực hoạt động và khám phá ở trẻ, khen ngợi, động viên mỗi khi trẻ thành công trong việc giải quyết một vấn đề nào đó, nói lại với trẻ hoặc kể với những người khác về hành động khéo léo của trẻ…), ngôn ngữ của trẻ phát triển đến trình độ mới Trẻ có khả năng dùng ngôn ngữ mô tả sự vật hiện tượng và hành động Đầu tiên là nói cho mình, sau đó là nói cho người khác hiểu và cuối cùng là dùng ngôn ngữ như công cụ đắc lực của tư duy
- Thứ ba, nhờ sự phát triển loại hình hoạt động chủ đạo mới, hoạt động trò chơi mà trung tâm là trò chơi đóng vai theo chủ đề, ở trẻ phát triển ngôn ngữ, tình cảm, ý chí, tư duy, tưởng tượng, kỹ năng giao tiếp, hoạt động cùng nhau, khả năng phán đoán, đánh giá, khả năng ý thức và tự ý thức Về phương diện
tư duy, ở trẻ hình thành chức năng ký hiệu Chức năng này được thể hiện ở khả năng dùng một vật thay thế cho một vật khác và hành động với vật thay thế diễn ra như là hành động với đồ vật thật, ví dụ, dùng lá cây làm thức ăn, búp bê làm bệnh nhân, góc phòng làm lớp học, …Hoặc phân vai một bạn làm
bố, một bạn làm mẹ, một bạn làm con trong trò chơi gia đình; một bạn làm cô giáo, một vài bạn làm học sinh trong trò chơi lớp học; một bạn làm người bán hàng, một vài bạn làm người đi mua hàng trong trò chơi bán hàng; rồi công
an, lái xe, bác sĩ, …và ứng xử với bạn như với người có vai trò xã hội tương ứng [24, 35, 38]
Trang 31Từ những lập luận trên, chúng tôi hiểu rằng : tư duy của trẻ mẫu giáo là quá trình khám phá những thuộc tính mới, những mối quan hệ mới giữa các
sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan mà trước đó trẻ chưa biết
1.2.3 Đặc điểm tư duy của trẻ mẫu giáo
Ở tuổi ấu nhi hay còn gọi là tuổi vườn trẻ (1 đến 3 tuổi), hầu hết trẻ em đều rất tích cực hoạt động với đồ vật, nhờ đó trí tuệ, đặc biệt là tư duy phát triển khá mạnh Lúc đó trẻ bắt đầu giải các bài toán thực tế nhưng quá trình giải đó không diễn ra trong óc mà diễn ra bằng tay theo phương thức “thử và sai”, được gọi là tư duy bằng tay hay tư duy trực quan - hành động Tư duy trực quan – hành động là loại tư duy gắn liền với những hành động cụ thể, những tình huống cụ thể Tư duy này có được do trẻ hành động trực tiếp với đối tượng dưới sự tổ chức, hướng dẫn của người lớn Chẳng hạn, để lấy quả cam đựng trong rổ, đứa trẻ sẽ kéo cái rổ đến gần và lấy quả cam Để lấy cái dép nằm sâu dưới gầm bàn, trẻ phải dùng que khều cái dép đến gần để lấy…Những hành động định hướng bên ngoài chính là tiền đề cho sự hình thành những hành động định hướng bên trong, giúp trẻ tìm ra cách giải quyết các vấn đề trong óc sau này
Trang 3228
Theo Nguyễn Ánh Tuyết, đến tuổi mẫu giáo, tư duy của trẻ có một bước ngoặt rất cơ bản Đó là sự chuyển tư duy từ bình diện bên ngoài vào bình diện bên trong mà thực chất đó là việc chuyển những hành động định hướng bên ngoài thành những hành động định hướng bên trong theo cơ chế nhập tâm Mặc dù tư duy của trẻ mẫu giáo bước sang một giai đoạn phát triển mới, nhưng đó mới chỉ là một bước nhảy từ bờ bên này (là tư duy ở bình diện bên ngoài, tư duy trực quan - hành động) sang bờ bên kia (là tư duy trực quan – hình tượng) Đây mới chỉ là điểm khởi đầu của loại hình tư duy mới Loại hình tư duy này còn được hoàn thiện và phát triển suốt giai đoạn tuổi mẫu giáo và là tiền đề quan trọng cho tư duy ngôn ngữ phát triển
- Ở đầu tuổi mẫu giáo, tư duy của trẻ đã đạt tới ranh giới của tư duy trực quan hình tượng nhưng các hình ảnh và biểu tượng trong đầu trẻ vẫn còn gắn liền với hành động vật chất bên ngoài Chỉ trong những trường hợp thật đơn giản thì trẻ mới có thể giải quyết vấn đề bằng tư duy trực quan – hình tượng Chẳng hạn khi hỏi em bé 3 tuổi: Cái thước gỗ này thả xuống nước thì nổi hay chìm? Bé nói ngay là “nổi”; Vì sao? Bé trả lời: “Vì que củi thả xuống nước cũng nổi” Trong trường hợp này việc giải quyết bài toán đã dựa vào biểu tượng cũ, tức là trẻ đã biết dùng tư duy trực quan – hình tượng
Ở trẻ em mẫu giáo bé, thế giới nội tâm của các em chưa đựợc phân hóa thành những chức năng rõ ràng như người lớn Tư duy của các em còn gắn liền với hành động, với cảm xúc và ý muốn chủ quan Trẻ khó nhận biết được đâu là thế giới bên trong, đâu là thế giới bên ngoài, đâu là những biểu tượng trong đầu óc mình và đâu là sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan Ranh giới giữa cái thực và cái hư, giữa ý nghĩ của mình và ý nghĩ của người khác chưa phân biệt rõ
Tư duy của trẻ bị tình cảm chi phối rất mạnh, thể hiện ở chỗ, trẻ chỉ suy nghĩ về những điều mà chúng thích và dòng suy nghĩ thường bị cuốn hút vào
Trang 3329
ý thích riêng của mình Ví dụ: một em bé đang chơi xây dựng bằng mấy miếng gỗ, có người hỏi: “Cháu cần hình vuông hay hình tam giác?”, em bé trả lời ngay: “Cháu đang xây cầu Thăng Long” Thì ra ý muốn xây cầu Thăng Long đang chiếm hết tâm trí của em bé Chúng ta thường nghe trẻ hỏi những câu hỏi: “Tại sao” như “Tại sao trời mưa”, “Tại sao vịt đi được trên mặt nước”… Tư duy của trẻ chưa cho phép tìm ra những câu trả lời khoa học Trẻ
em lứa tuổi này nghĩ rằng các hiện tượng xung quanh xảy ra là do ý muốn của
ai đó, rằng mọi vật đều có hồn, có tính tình, có ý thích Chẳng hạn vì ông trời khóc nên có mưa Đây là một lối suy nghĩ rất chủ quan, cho rằng mọi việc đều xuất phát từ ý muốn chủ quan của một người nào đó Do xúc cảm chi phối mạnh mẽ quá trình tư duy cho nên muốn trẻ tin vào điều gì đó và làm theo thì cần gây cho trẻ một cảm xúc mạnh chứ nói lý là không ăn thua Muốn cho chúng thay đổi ý kiến về một vấn đề nào đó thì không thể thuyết phục bằng lý
lẽ mà tốt nhất là nên khêu gợi tình cảm thì mới có kết quả
Trẻ em ở tuổi mẫu giáo bé (3 – 4 tuổi) do chưa biết phân tích tổng hợp, chưa biết một sự vật bao gồm nhiều bộ phận kết hợp lại thành một tổng thể, chưa xác định được vị trí, quan hệ giữa bộ phận này với bộ phận kia trong một sự vật Do đó cách nhìn nhận sự vật của bé là theo lối trực quan toàn bộ,
có nghĩa là trước một sự vật nào đó trẻ nhận ra ngay, chộp lấy rất nhanh một hình ảnh tổng thể chưa phân chia ra thành các bộ phận Chẳng hạn, giữa nhiều chiếc xe đạp, em bé lên 3 nhận ra ngay xe nào là của bố Vì sao? Em không giải thích được, chưa dựa trên cơ sở phân tích nào là cái yên có đặc điểm như thế này, cái khung có đặc điểm như thế kia để tổng hợp lại thành chiếc xe của bố Tư duy kiểu này cũng là chịu ảnh hưởng của tính duy kỷ Lối tư duy duy kỷ của trẻ em diễn ra khác với tư duy của người lớn Trẻ em không tư duy theo lối phân tích tổng hợp, thường là chộp lấy một cách rất nhanh (theo lối chụp ảnh) một sự vật hay một tình thế trong một trực giác bao quát toàn bộ
Trang 34Đầu tuổi mẫu giáo, trẻ đã biết tư duy bằng những hình ảnh trong đầu nhưng do biểu tưởng còn nghèo nàn và tư duy mới được chuyển từ bình diện bên ngoài vào bình diện bên trong nên trẻ mới chỉ giải được một số bài toán hết sức đơn giản theo kiểu tư duy trực quan – hình tượng Cùng với sự hoàn thiện hoạt động vui chơi, vốn biểu tượng của trẻ mẫu giáo nhỡ phong phú thêm nhiều, chức năng ký hiệu phát triển mạnh, lòng ham hiểu biết và hứng thú nhận thức tăng lên rõ rệt Đó chính là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển
tư duy trực quan – hình tượng và đây cũng là thời điểm kiểu tư duy đó phát triển mạnh mẽ nhất
Ở tuổi mẫu giáo nhỡ, trẻ em phải giải những bài toán ngày càng phức tạp và đa dạng, đòi hỏi phải tách biệt và sử dụng những mối liên hệ giữa các
sự vật, hiện tượng và hành động Trong hoạt động hàng ngày trẻ em không những chỉ đơn giản sử dụng những kinh nghiệm đã có mà còn không ngừng biến đổi những kinh nghiệm ấy để thu nhận những kết quả mới hơn Các bé
Trang 3531
có nhu cầu khám phá các quan hệ phụ thuộc giữa các sự vật và hiện tượng như quan hệ giữa độ ẩm và độ mềm của đất khi nặn, giữa độ lăn xa với sức búng của ngón tay vào hòn bi…Tư duy đang trên đà phát triển mạnh khiến đứa trẻ dự kiến được hành động và lập kế hoạch cho hành động của mình
Trẻ mẫu giáo nhỡ đã bắt đầu đề ra cho mình những bài toán nhận thức, tìm tòi cách giải thích những hiện tượng mà mình nhìn thấy được Trẻ thường
“thực nghiệm”, chăm chú quan sát các hiện tượng và suy nghĩ về những hiện tượng đó để rút ra kết luận Tất nhiên những kết luận đó còn ngây ngô, ngộ nghĩnh và nhiều khi còn gây ngạc nhiên đối với người lớn Chẳng hạn có một nhóm trẻ mẫu giáo 4, 5 tuổi bắt được một con mèo, chúng chơi với mèo rất thích thú rồi sau đó quyết định thả con mèo xuống ao và thế là con mèo ấy đã chết một cách oan uổng Hỏi ra thì các em trong nhóm đã trả lời “Vì chúng cháu muốn xem nó bơi” Thì ra các em đã suy luận từ việc bơi của một số con vật trên nước như vịt, chó…để cho là mèo cũng biết bơi như vậy Dù sao thì đây cũng bộc lộ một khả năng suy luận của trẻ
Phần lớn trẻ mẫu giáo nhỡ đã có khả năng suy luận Vấn đề là cần xem xét để biết chúng suy luận theo kiểu tư duy nào?
Nếu ở tuổi mẫu giáo bé (3,4 tuổi), để giải các bài toán, trẻ thường dùng những hành động định hướng bên ngoài tức là bằng tư duy trực quan hành động và chỉ với những bài toán thật đơn giản chúng mới bắt đầu giải thầm trong óc dựa vào các biểu tượng thu nhận được, thì phần lớn số em ở tuổi mẫu giáo nhỡ đã có khả năng giải các bài toán bằng các “phép thử ngầm” trong óc dựa vào các biểu tượng, tức là kiểu tư duy trực quan – hình tượng đã bắt đầu chiếm ưu thế
Khi hành động với các biểu tượng trong óc, trẻ hình dung được các hành động thực tiễn với các đối tượng và kết quả của những hành động ấy Bằng con đường đó trẻ có thể giải được nhiều bài toán thực tiễn đặt ra cho
Trang 3632
mình Tư duy trực quan hình tượng tỏ ra có hiệu quả khi giải những bài toán trong đó những thuộc tính bản chất là những thuộc tính có thể hình dung được Chẳng hạn đứa trẻ có thể hình dung được rằng quả bóng lăn trên đường nhựa nhanh hơn lăn trên mặt đá gồ ghề hay hòn bi mà búng mạnh thì lăn xa hơn…
Tư duy trực quan – hình tượng phát triển mạnh cho phép trẻ ở tuổi mẫu giáo nhỡ giải được nhiều bài toán thực tiễn mà trẻ thường gặp trong đời sống Tuy vậy, vì chưa có khả năng tư duy trừu tượng nên trẻ chỉ mới dựa vào những biểu tượng đã có, những kinh nghiệm đã trải qua để suy luận ra những vấn đề mới Vì vậy, trong khá nhiều trường hợp chúng chỉ dừng lại ở các hiện tượng bên ngoài mà chưa đi được vào bản chất bên trong Do đó nhiều khi trẻ giải thích các hiện tượng một cách ngộ nghĩnh như: “Ai cho muối vào nước biển mà mặn thế?” Trẻ cũng rất dễ lẫn lộn thuộc tính bản chất và không bản chất của sự vật và hiện tượng xung quanh Chẳng hạn, một trẻ Việt Nam 4 tuổi trông thấy một em bé người Nga đang đi xe đạp 3 bánh liền kêu: “Ơ kìa, một ông già bé” Chả là vì cháu thấy em bé đó có tóc vàng nhạt hơi giống tóc ông ngoại ở nhà Hay trẻ cứ thấy ai mặc áo trắng cũng đều gọi là “bác sỹ” Nếu cứ theo đà này thì tư duy của trẻ có nguy cơ biến thành kiểu tư duy theo lối kinh nghiệm chủ nghĩa Do đó để giúp trẻ phát triển tư duy – hình tượng cần cung cấp cho trẻ những hiểu biết cần thiết để có những suy luận đúng đắn.Tư duy trực quan – hình tượng phát triển mạnh sẽ tạo ra những tiền đề cần thiết để làm nảy sinh những yếu tố ban đầu của kiểu tư duy trừu tượng [35, 38]
Ở tuổi mẫu giáo nhỡ, tư duy trực quan – hình tượng phát triển mạnh mẽ
đã giúp trẻ giải quyết một số bài toán thực tiễn Nhưng trong thực tế, những thuộc tính bản chất của sự vật – hiện tượng mà trẻ cần tìm hiểu lại bị che giấu, không thể hình dung được bằng hình ảnh cho nên không đáp ứng được nhu
Trang 3733
cầu nhận thức đang phát triển mạnh ở trẻ mẫu giáo lớn, cho nên bên cạnh việc phát triển tư duy trực quan – hình tượng vẫn mạnh mẽ như trước đây còn cần phải phát triển thêm một kiểu tư duy trực quan - hình tượng mới để đáp ứng với khả năng và nhu cầu của trẻ ở cuối tuổi mẫu giáo Đó là kiểu tư duy trực quan – sơ đồ Kiểu tư duy này tạo ra cho trẻ khả năng phản ánh những mối liên hệ tồn tại khách quan, không bị phụ thuộc vào hành động hay ý muốn chủ quan của bản thân đứa trẻ Sự phản ánh những mối liên hệ khách quan là điều kiện cần thiết để lĩnh hội những tri thức vượt ra ngoài khuôn khổ của việc tìm hiểu từng sự vật riêng lẻ với những thuộc tính sinh động của chúng để đạt tới tri thức khái quát Tuy tư duy trực quan – sơ đồ vẫn giữ tính chất hình tượng song bản thân hình tượng đã trở nên khác trước: những hình tượng đã bị mất
đi những chi tiết rườm rà mà chỉ giữ lại những mối liên hệ khách quan, giúp trẻ phản ánh một cách khái quát về các sự vật chứ không phải từng sự vật riêng lẻ Trẻ ở cuối tuổi mẫu giáo nhỡ và mẫu giáo lớn có khả năng hiểu về cách biểu diễn những sơ đồ đơn giản và sử dụng có kết quả những sơ đồ đó để tìm hiểu sự vật Chẳng hạn trẻ có thể nhìn vào sơ đồ tìm ra một vị trí nào đó
Tư duy trực quan – sơ đồ giúp trẻ một cách có hiệu lực để lĩnh hội những tri thức ở trình độ khái quát cao, từ đó mà hiểu được bản chất của sự vật Nhưng kiểu tu duy này vẫn nằm trong phạm vi của kiểu tư duy trực quan – hình tượng nói chung và do đó nó bị hạn chế khi trẻ cần giải các bài toán đòi hỏi phải tách biệt những thuộc tính quan hệ mà không thể hình dung một cách trực quan dưới dạng hình tượng được nữa Nhưng dẫu sao kiểu tư duy trực quan – sơ đồ cũng biểu hiện một bước phát triển đáng kể trong tư duy của trẻ mẫu giáo Đó là kiểu tư duy trung gian, quá độ để chuyển từ kiểu tư duy hình tượng lên một kiểu tư duy mới, khác về chất là tư duy trừu tượng [38]
Trang 3834
Tư duy trừu tượng hình thành và phát triển mạnh ở tuổi học sinh nhưng những yếu tố của nó đã có thể xuất hiện ngay ở tuổi mẫu giáo, đặc biệt là trẻ mẫu giáo lớn Lúc này, trẻ biết sử dụng thành thạo các vật thay thế Trong thời gian này, trẻ bắt đầu hiểu rằng có thể biểu thị một sự vật hay một hiện tượng nào đó bằng từ ngữ hay các ký hiệu khác Nói cách khác, chức năng ký hiệu của ý thức bắt đầu phát triển
Cả tư duy trực quan – hành động lẫn tư duy trực quan – hình tượng đều liên hệ mật thiết với ngôn ngữ Vai trò của ngôn ngữ ở đây rất lớn, nó giúp trẻ nhận ra bài toán cần phải giải quyết, giúp trẻ đặt kế hoạch để tìm cách giải quyết và nghe những lời giải thích, hướng dẫn của người lớn Nhưng thực ra trong cả hai kiểu tư duy đó, hành động tư duy vẫn chủ yếu là dựa trực tiếp vào hành động và biểu tượng, còn ngôn ngữ chỉ đóng vai trò hỗ trợ mà thôi Chúng ta đều biết là mỗi từ đều mang ý nghĩa khái quát nhưng đối với trẻ em thì mỗi từ vẫn chỉ là đại diện cho một vật cụ thể, riêng lẻ mà thôi Từ ở trẻ em chỉ chứa đựng biểu tượng, còn từ ở người lớn chứa đựng khái niệm Các biểu tượng phản ánh hiện thực một cách sinh động hơn, rõ ràng hơn các khái niệm nhưng lại không có tính chất khái quát, tính chính xác và tính hệ thống đặc trưng của khái niệm Những khái niệm chỉ có thể được hình thành khi lĩnh hội những tri thức khoa học thực sự và việc nắm hệ thống khái niệm được bắt đầu trong quá trình học tập ở trường phổ thông Nhưng các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng, trẻ mẫu giáo lớn cũng có thể lĩnh hội được một số khái niệm đơn giản nếu được dạy theo cách thức phù hợp với đặc điểm của lứa tuổi mẫu giáo [35]
Ở tuổi mẫu giáo đang diễn ra một quá trình chuyển tiếp từ chỗ trẻ chỉ biết những sự vật cụ thể sang khái quát hóa những kinh nghiệm cảm tính của bản thân Chẳng hạn về hình dạng, trẻ biết nhóm các hình tròn, hình vuông,
Trang 3935
hình tam giác vào những nhóm riêng, phân biệt các vật có màu đỏ, màu xanh, dài, ngắn, …
Cuối tuổi mẫu giáo, trẻ lĩnh hội được các chuẩn về hình dạng, màu sắc,
độ dài ngắn, nặng nhẹ, … Nhờ đó các em tách biệt được trong số các biến dạng muôn màu muôn vẻ những dạng cơ bản của các thuộc tính được dùng làm chuẩn và bắt đầu biết so sánh thuộc tính của sự vật vô cùng đa dạng xung quanh với các chuẩn đó Chính những biến đổi về chất của những tài liệu cảm tính như thế cho phép hoạt động tư duy của trẻ chuyển dần sang một giai đoạn phát triển cao hơn
Jeans Piaget gọi giai đoạn từ 2 đến 7 tuổi là giai đoạn tiền thao tác Khi bước vào giai đoạn tiền thao tác, khối lượng biểu tượng trí óc (các từ và các hình ảnh trí óc) được trẻ sử dụng để diễn tả các đối tượng và sự kiện xung quanh tăng vọt Biểu tượng - đó là cái dùng để thay thế một cái khác Ví dụ từ
“cái cốc” dùng để chỉ vật có thể đựng nước dùng để uống, “cái ghế” dùng để chỉ một vật có chân đứng, dùng để ngồi
Theo Piaget, khả năng dùng biểu tượng rõ nét nhất là việc sử dụng ngôn ngữ Ngoài ra, trẻ em tuổi này còn dùng biểu tượng trong khi diễn tả hay bắt chước sự vật hay hiện tượng nào đó đã xảy ra mà trẻ là người chứng kiến: dùng tranh vẽ để mô tả cái gì đó; dùng vật này để thay thế vật khác trong trò chơi (ví dụ dùng cái que, chổi làm xe đạp, xe máy, cái ghế làm bếp, giấy vụn làm thức ăn, búp bê làm em bé, các khúc gỗ làm đoàn tàu, cho búp bê ăn cháo
“giả vờ”…) [9]
Mỗi dạng biểu tượng trên đều bắt đầu xuất hiện từ khoảng 2 tuổi, nhưng chúng sẽ còn phát triển và hoàn thiện trong 10 - 12 năm tiếp theo nữa
Giai đoạn tiền thao tác được Piaget chia làm 2 giai đoạn nhỏ
+ Giai đoạn tư duy tiền khái niệm: từ 2 - 4 tuổi:
Trang 4036
Giai đoạn tiền khái niệm đặc trưng bởi sự xuất hiện chức năng biểu tượng: khả năng sử dụng từ ngữ, các động tác hay vật nào đó để diễn tả hay biểu thị sự vật, hiện tượng khác Trẻ bắt đầu có khả năng tư duy hình tượng
Từ một đứa trẻ tò mò và vớ tất cả những gì xung quanh để cắn, đập đến một đứa trẻ mẫu giáo biết suy nghĩ là một bước chuyển lớn Một nhà tâm lý học trẻ em có nhận xét một đứa trẻ 3 tuổi có sự phát triển trí tuệ gần với một người lớn 21 tuổi hơn là với một đứa trẻ 12 tháng Quả thực, trẻ 3 - 4 tuổi đã
có thể dùng lời nói và các hình ảnh trong đầu để thể hiện những gì đã xảy ra, suy luận về những sự vật hiện tượng không có thực và thậm chí so sánh chúng với nhau
Một thành tựu và biểu hiện quan trọng của giai đoạn tiền khái niệm là
sự nở rộ của trò chơi (đóng vai) tưởng tượng: Trẻ có thể trở thành bất kỳ ai (từ bố, mẹ đến siêu nhân) và có thể dùng bất cứ đồ vật gì để biến nó thành bất
cứ thứ gì (từ cơm cháo, đến vũ khí tàng hình…) Nhiều bậc cha mẹ thấy con
em mình chìm đắm vào thế giới tưởng tượng kỳ dị thì lo lắng, nhưng Piaget
và các nhà nghiên cứu hiện nay cho rằng những hành động tưởng tượng đó không có gì nguy hại và nó có ảnh hưởng tốt đến sự phát triển trí tuệ, tình cảm và các mối quan hệ xã hội của trẻ
Tuy nhiên tư duy tiền khái niệm vẫn còn rất ấu trĩ so với tư duy logic của những trẻ lớn hơn:
- Trẻ em nhỏ thường có xu hướng gán cho những sự vật xung quanh tâm hồn
và mọi cảm giác (ý muốn, cảm xúc) của sinh vật sống
- Trẻ em thường nhìn mọi sự vật hiện tượng ở thế giới xung quanh dưới góc nhìn của bản thân mình mà chưa có khả năng hiểu góc nhìn, quan điểm của người khác
Piaget gọi đó là tính tự kỷ và minh họa tính tự kỷ trong tư duy của trẻ trong nhiều thí nghiệm, ví dụ với mô hình ngọn núi, trẻ 3, 4 tuổi thường nói