1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhu cầu tham gia chứng khoán của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán HASTC

120 649 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 120
Dung lượng 1,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính vì lý do đó mà chúng tôi đã lựa trọn đề tài : “ Nhu cầu tham gia chứng khoán của nhà đầu tư trên thị trường HASTC” 1 Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu lý luận và thực tiễn về nhu cầ

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN



LÊ THỊ MINH CHIÊN

NHU CẦU THAM GIA CHỨNG KHOÁN CỦA NHÀ ĐẦU TƯ TRÊN THỊ TRƯỜNG

CHỨNG KHOÁN HASTC

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: TÂM LÝ HỌC

HÀ NỘI - 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN



LÊ THỊ MINH CHIÊN

NHU CẦU THAM GIA CHỨNG KHOÁN CỦA NHÀ ĐẦU TƯ TRÊN THỊ TRƯỜNG

CHỨNG KHOÁN HASTC

LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: TÂM LÝ HỌC

Mã số : 60 31 80

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS NGUYỄN HỮU THỤ

HÀ NỘI - 2013

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 8

1 Mục đích nghiên cứu: 8

2 Đối tượng nghiên cứu: 9

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 9

4 Khách thể nghiên cứu: 9

5 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 9

6 Giả thiết nghiên cứu: 10

7 Phương pháp nghiên cứu: 10

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÊ NHU CẦU VÀ NHU CẦU ĐÂU TƯ CHỨNG KHOÁN CỦA CÁC NHÀ ĐẦU TƯ TRÊN THỊ TRƯỜNG HASTC 11

1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề về nhu cầu và nhu cầu đầu tư 11

1.1.1 Nghiên cứu về nhu cầu và nhu cầu đầu tư của các nhà tâm lý học

ngoài nước 11

1.1.2 Nghiên cứu nhu cầu và nhu cầu đầu tư của các nhà tâm lý học trong nước 16

1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài nghiên cứu 21

1.2.1 Nhu cầu 21

1.2.2 Khái niệm về nhu cầu đầu tư 27

1.2.3 Nhu cầu đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư 31

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư 35

1.3.1 Yếu tố khách quan 35

1.3.2 Yếu tố chủ quan 37

1.4 Các mặt biểu hiện của nhu cầu đầu tư chứng khoán 40

1.4.1 Nhu cầu đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư được biểu hiện qua nhận thức của nhà đầu tư với đầu tư chưng khoán 40

Trang 4

1.4.2 Nhu cầu đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư được biểu hiện qua xúc

cảm và niềm tin của nhà đầu tư với đầu tư chứng khoán 41

1.4.3 Nhu cầu đầu tư chứng khoán của nhà đẩu tư được biểu hiện qua hành động cụ thể của nhà đẩu tư với chứng khoán 43

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 45

Chương 2 TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 46

2.1 Tổ chức nghiên cứu 46

2.1.1 Mẫu nghiên cứu 46

2.1.2 Vài nét về địa bàn nghiên cứu: 47

2.1.3 Kế hoạch nghiên cứu 47

2.2 Các phương pháp nghiên cứu 48

2.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 48

2.2.2 Phương pháp phỏng vấn sâu 48

2.2.3 Điều tra bằng bảng hỏi 49

2.2.4 Phương pháp chuyên gia 51

2.2.5 Phương pháp nghiên cứu chân dung tâm lý 51

2.2.6 Phương pháp xử lý kết quả bằng spss 18.0 52

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 53

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 54

3.1 Thực trạng nhu cầu đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán HASTC 54

3.1.1 Nhu cầu đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư được thể hiện qua nhận thức của nhà đầu tư 54

3.1.2 Nhu cầu của nhà đầu tư thể hiện qua niềm tin và cảm xúc của nhà đầu tư với đầu tư chứng khoán 66

Trang 5

3.1.3.Nhu cầu đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư được biểu hiện qua hành

động cụ thể của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán HASTC 77

3.2.Những khó khăn và thuận lợi của nhà đầu tư khi tham gia đầu tư chứng khoán trên thị trường chứng khán HASTC 94

3.3 Đánh giá về nhu cầu tham gia đầu tư chứng khoán của các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán HASTC 98

3.4 Các yếu tố ảnh hưởng đển nhu cầu đầu tư của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán HASTC 99

3.4 Phác họa 2 chân dung tâm lý điển hình trong đầu tư chứng khoán 102

3.4.1 Nhà đầu tư thành công với đầu tư chứng khoán 102

3.4.2 Nhà đầu tư thất bại trên thị trường chứng khoán 103

TIỂU KẾT CHƯƠNG 3 104

KẾT LUẬN 107

TÀI LIỆU THAM KHẢO 111

PHỤ LỤC 113

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 3 1 Nhận thức của nhà đầu tư về tầm quan trọng của thị trường

chứng khoán 54

Bảng 3.2 nhận thức của nhà đầu tư về lợi ích khi đầu tư chứng khoán 58

Bảng 3.3 Nhận thức của nhà đầu tư về đầu tư chứng khoán 62

Bảng 3.4 Mục đích của nhà đầu tư khi tham gia đầu tư chứng khoán 67

Bẳng 3.5 Cảm xúc của nhà đầu tư khi đầu tư chứng khoán 73

Bảng 3.6 Hành động của nhà đầu tư để lấy thông tin về thị trường chứng khoán 77

Bảng 3.7 Sử dụng công cụ để tìm hiểu về mã chứng khoán 79

Bảng 3.8 Định hướng hành động của nhà đẩu tư khi lựa trọn chứng khoán 81

Bảng 3.9 Sách lược tâm lý của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán 85

Bảng 3.10 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình đầu tư của nhà đầu tư 87

Bảng 3.11 Hành vi của nhà đầu tư khi thấy cổ phiếu của công ty mình đang đầu tư được nhiều người bán ra 88

Bảng 3.12 Những nguồn thông tin nhà đầu tư sử dụng khi quết định đầu tư 91

Bảng 3.13 Những khó khăn và thuận lợi 94

Bảng 3.14 Đánh gia mức độ nhu cầu đẩu tư chứng khoán của nhà đẩu tư trên thị trường chứng khoán HASTC 98

Bảng 3.15 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu đầu tư 99

DANH MỤC BIỂU ĐỒ Biểu đố 3.1 Nhà đầu tư tiếp cận chứng khoán qua kênh thông tin internet 78 Biểu đồ 3.2 Nhưng nguồn thông tin nhà đầu tư sử dụng khi quyết định đầu tư .92

Trang 8

MỞ ĐẦU

Tính cấp thiết của đề

Một nền kinh tế muốn phát triển, tăng trưởng nhanh và bền vững trước hết phải đáp ứng đủ nhu cầu về vốn đầu tư TTCK là một kênh huy động vốn hữu hiệu và linh động cho thị trường vốn nói riêng và thị trường tài chính nói chung Hiện nay, rất nhiều những nhà khoa học, những nhà kinh tế học vẫn đã và đang không ngừng nghiên cứu, chứng minh, để đưa

ra những lý thuyết mới nhằm phát triển và hoàn thiện thị trường tài chính trong tương lai

TTCK Việt Nam chính thức đi vào hoạt động từ tháng 8 năm 2000

đã tạo nên một kênh huy động vốn trực tiếp góp phần quan trọng vào công cuộc phát triển kinh tế nước ta Tuy nhiên, dù đã qua hơn 11 năm hoạt động, nhưng TTCK Việt Nam vẫn còn rất non trẻ so với các thị trường chứng khoán trên thế giới như Mỹ, Nhật, Anh,… Vào giai đoạn bùng nổ của TTCK Việt Nam vào khoảng các năm 2006 và 2007, hầu như các NĐT đều chọn TTCK là nơi kiếm lợi nhuận Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng kinh

tế năm 2008 đã làm ảnh hưởng nhiều hoạt động của các doanh nghiệp đang niêm yết trên TTCK dẫn đến giá cổ phiếu của các doanh nghiệp này sụt giảm Cuộc khủng hoảng cũng dẫn đến nhu cầu đầu tư chứng khoán của NĐT không còn như các năm trước, TTCK không còn là sự lựa chọn đầu

tư hấp dẫn của nhiều người Các NĐT trong nước cũng như nước ngoài có

xu hướng thận trọng hơn trong quyết định đầu tư và cũng không ít NĐT không còn tha thiết với TTCK nữa Nhiều NĐT bỏ cuộc vì thua lỗ nặng do giá cả cổ phiếu biến động quá lớn Những người còn bám trụ với thị trường

Trang 9

dường như không "tin tưởng" vào các công ty niêm yết Bên cạnh cuộc khủng hoảng kinh tế, một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên

là thực tế các NĐT vẫn chưa có đủ kiến thức, kinh nghiệm, và điều kiện thông tin để đánh giá các công ty niêm yết từ đó lựa chọn cổ phiếu có chất lượng để đầu tư

Từ sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008, không riêng TTCK Việt Nam và các trung tâm tài chính khác trên thế giới vẫn còn đang trong giai đoạn phục hồi Việc phân tích nhu cầu đầu tư chứng khoán của các NĐT vào thời điểm này là rất cần thiết khi đầu tư chứng khoán không còn nằm trong giai đoạn cao trào như những năm 2006 và 2007 Việc làm này có thể giúp công ty chứng khoán đánh giá nhu cầu đầu tư của NĐT và những yếu tố tác động đến nhu cầu của họ Từ đó có thể chủ động hơn trong các chiến lược tìm kiếm cũng như giữ chân NĐT trong giai đoạn khó khăn này của TTCK Việt Nam Chính vì lý do đó mà chúng tôi đã lựa trọn đề tài : “ Nhu cầu tham gia chứng khoán của nhà đầu tư trên thị trường HASTC”

1 Mục đích nghiên cứu:

Nghiên cứu lý luận và thực tiễn về nhu cầu, các mức độ của nhu cầu đầu tư cũng như một số yếu tố ảnh hưởng tới nhu cầu đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán HASTC, từ đó đề xuất một số kiến nghị giúp lãnh đạo của các công ty chứng khoán có những hướng đi mới trong việc tư vấn cho các nhà đầu tư khi tham gia đầu tư chứng khoán nhằm phát triển ổn định hơn TTCK Việt Nam nói chung và TTCK HASTC nói riêng

Trang 10

2 Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng của đề tài chính là nhu cầu đầu tư chứng khoán của các nhà đầu tư được thể hiện qua nhận thức, niềm tin, và hành động cụ thể của các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán HASTC

3.Nhiệm vụ nghiên cứu:

3.1 Nghiên cứu lý luận

- Đọc và phân tích các lý thuyết, quan điểm và các công trình nghiên cứu về nhu cầu để xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài

- Nghiên cứu thực trạng nhu cầu đầu chứng khoán của các nhà đầu

tư và một số yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu đầu tư chứng khoán của các nhà đầu tư trên thị trường HASTC

3.2 Nghiên cứu thực tiễn

- Nghiên cứu thực trạng nhu cầu đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư trên thị trường HASTC biểu hiện qua nhận thức niềm tin và hành động cụ

thể để thỏa mãn nhu cầu đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư

- Đề xuất một số kiến nghị cho việc nắm bắt nhu cầu đầu tư chứng

khoán của các nhà đầu tư từ đó giúp các công ty chứng khoán phát triển tốt hơn TTCK Việt Nam

4.Khách thể nghiên cứu: là 300 khách thể bao gồm:

- 250 nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán HASTC

- 40 nhân viên tư vấn chứng khoán

- 10 lãnh đạo các công ty chứng khoán

5.Giới hạn phạm vi nghiên cứu

5.1 Phạm vi địa bàn Thị trường chứng khoán HASTC Hà Nội

Trang 11

5.2.Phạm vi khách thể nghiên cứu: 250 nhà đầu tư trên thị trường

chứng khoán HASTC Hà Nội 40 nhân viên tư vấn và 10 lãnh đạo các công

ty chứng khoán

5.3 Phạm vi nội dung: Đề tài chỉ đề cập đến nhu cầu đầu tư chứng khoán của các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán HASTC

6 Giả thiết nghiên cứu:

Phần lớn nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán HASTC có nhu cầu đầu tư chứng khoán ở mức trung bình việc thỏa mãn nhu cầu đầu tư chứng khoán phụ thuộc vảo rất nhiều yếu tố bao gồm yếu tố chủ quan (nhận thức, niềm tin, hành động ,sự hiểu biết về đầu tư và thị trường chứng khoán.) yếu

tố khách quan ( chính sách của nhà nước về thu hút đầu tư, lĩnh vực đầu tư, các kênh thông tin, nguồn vốn, …) trong đó yếu tố chủ quan giữ vai tròi chủ yếu

7 Phương pháp nghiên cứu:

+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu

+ Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

+ Phương pháp phỏng vấn sâu

+ Phương pháp chuyên gia

+ Phương pháp nghiên cứu chân dung tâm lý

+ Phương pháp sử lý số liệu bằng phần mềm SPSS

Trang 12

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÊ NHU CẦU VÀ NHU CẦU ĐÂU

TƯ CHỨNG KHOÁN CỦA CÁC NHÀ ĐẦU TƯ TRÊN THỊ

TRƯỜNG HASTC 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề về nhu cầu và nhu cầu đầu tư 1.1.1 Nghiên cứu về nhu cầu và nhu cầu đầu tư của các nhà tâm

lý học ngoài nước

Nhu cầu là một trong những khái niệm cơ bản trong tâm lý học và cũng là khái niệm được nhiều ngành, nhiều lĩnh vực quan tâm nghiên cứu: triết học, tâm lý học, xã hội học, quản lý nhân sự…

Ở góc độ triết học, C.Mác đã bàn về nhu cầu thông qua nghiên cứu những tiền đề đầu tiên của mọi tồn tại người và coi đó là tiền đề của mọi lịch sử: Người ta phải có khả năng sống rồi mới có thể làm ra lịch sử Nhưng muốn sống được thì trước hết phải cần có thức ăn, thức uống, nhà ở, quần áo Song để có thức ăn, thức uống, nhà ở, quần áo, con người phải lao động Ngay trong xã hội Cộng sản nguyên thủy, cái xã hội mà loài người vừa mới thoát ra khỏi loài vật, con người đã biết lấy nhu cầu làm người thầy dạy bảo và chính họ cũng đã biết phát minh ra lưỡi câu và cây gậy để câu cá, cung tên để bắn, làm quần áo từ vỏ cây và da thú, dùng lửa để nấu

ăn Khi những nhu cầu sống của con người đã được thỏa mãn thì ở con người lại xuất hiện những nhu cầu mới Khi những nhu cầu mới xuất hiện, con người lại tìm kiếm phương tiện để thỏa mãn và khi nhu cầu mới này được thỏa mãn thì con người lại xuất hiện những nhu cầu mới khác Quá trình xuất hiện và thỏa mãn các nhu cầu ở con người cứ liên tiếp diễn ra như vậy Có thể nói nhu cầu của con người là vô tận và do đó hoạt động của con người là bất tận [1 tr 289]

Các nhà nghiên cứu W.Kohler, E.Thorndike, N.E.Miller đã nghiên cứu về nhu cầu của động vật Các tác giả đã đưa ra khái niệm “luật hiệu

Trang 13

ứng” để giải thích cho mối quan hệ giữa kích thích và phản ứng của cơ thể

từ đó khẳng định nhu cầu cơ thể quyết định hành vi con người

Clark Hull đề xướng theo cách tiếp cận sinh học để giải thích về nhu cầu – động cơ Hull cho rằng các nhu cầu sinh lý chi phối đời sống con người Tuy nhiên, ông cũng không phủ nhận sự có mặt của những nhu cầu động cơ khác, nhưng chúng kết hợp và bị chi phối bởi nhu cầu thể chất, cùng thúc đẩy con người suốt đời Luận thuyết xung năng đã sinh vật hóa

hệ thống nhu cầu – động cơ của con người, xem nhu cầu là những xung năng mang tính sinh vật nảy sinh từ sự thiếu hụt thức ăn, không khí, nước uống, nguy hiểm… Hull đã phủ nhận hoặc không nhìn nhận nguồn gốc xã hội, tính chủ thể của nhu cầu Vì vậy, ông đã quy gán cho các nhu cầu nội tâm và nhu cầu xã hội đều do nhu cầu sinh vật tạo ra nghĩa là khi cơ thể thiếu hụt một cái gì đó như thức ăn, không khí thì xuất hiện xung năng kích thích con người hành động nhằm tìm kiếm cái cơ thể cần [6, tr 36]

S Freud (1856 - 1939) nhà tâm lý học người Áo, người sáng lập trường phái phân tâm học cho rằng bản năng tình dục (libido) là nguồn năng lượng dồi dào thúc đẩy mọi hoạt động của con người Nguồn năng lượng này đòi hỏi phải được thỏa mãn nếu không sẽ dẫn đến những sang chấn, tổn thương về mặt tâm lý với con người Với quan điểm cho rằng bản năng tình dục là nhu cầu có sức thúc đẩy mạnh mẽ với con người, rõ ràng Freud đã nhấn mạnh thái quá đến yếu tố băn năng, vô thức trong hoạt động sống của con người

Trường phái tâm lý học hành vi đại biểu tiêu biểu là J.Watson (1878 – 1958) Trường phái này chủ trương không giảng giải các trạng thái ý thức, nhu cầu bên trong mà chỉ nghiên cứu hành vi bên ngoài Công thức S – R đã đồng nhất phản ứng bên ngoài với nội dung tâm lý bên trong làm mất đi tính chủ thể, tính xã hội của con người Về sau, chủ nghĩa hành vi

Trang 14

mới đã bổ sung biến số trung gian vào công thức kinh điển trên, tuy nhiên, trên thực tế, chủ nghĩa hành vi chỉ quan tâm đến các biểu hiện bề ngoài có thể quan sát thông qua hành vi mà ít chú ý đến các nhu cầu bên trong bản thân con người, đặc biệt là các nhu cầu bậc cao như nhu cầu thẩm mỹ, nhu cầu đạo đức, nhu cầu tiếp thu tri thức… [7, tr 357]

Abraham Maslow (1908 – 1970) nhà tâm lý học người Mỹ, người sáng lập ra trường phái tâm lý học nhân văn đã căn cứ theo tính đòi hỏi và thứ tự phát sinh của các nhu cầu để đưa ra thang nhu cầu của con người gồm năm loại như sau:

Hình 1 Sơ đồ thứ bậc nhu cầu của Maslow

- Nhu cầu sinh lý: Theo Maslow, nhu cầu sinh lý là thứ bậc đầu tiên trong 5 bậc nhu cầu của con người Nhu cầu sinh lý gồm thức ăn, nước uống, quần áo… Đây là nhu cầu cơ bản nhất, khi nó được đáp ứng thì con người mới có những nhu cầu khác, nếu không được đáp ứng thì con người

sẽ chết

- Nhu cầu an toàn: Nhu cầu toàn của con người được thể hiện ở các khía cạnh như an toàn sinh mệnh, an toàn nghề nghiệp, môi trường sống không có các mối nguy hiểm… Nếu nhu cầu an toàn của con người không được đảm bảo thì cuộc sống của con người sẽ bị đe dọa, công việc của con

Trang 15

người không được tiến hành bình thường và các nhu cầu khác của con người không được thực hiện

- Nhu cầu được thừa nhận: Nhu cầu được thừa nhận thể hiện ở các khía cạnh tâm lý như được dư luận thừa nhận, sự gần gũi thân cận, ủng hộ… Con người về bản chất luôn tạo dựng mối quan hệ, sự thừa nhận và tình yêu thương với người khác, nếu không cảm thấy được giao tiếp và sự thừa nhận trong các mối quan hệ với người khác thì con người khó có thể tồn tại

- Nhu cầu được tôn trọng: nhu cầu này được thể hiện ở lòng tự trọng và được người khác tôn trọng, đó là nhu cầu về quyền lực, uy tín và lòng tự tin

- Nhu cầu khẳng định bản thân: Đây là bậc cao nhất trong hệ thống nhu cầu của Maslow là bước phát triển cao nhất trong tất cả các bước thể hiện ở sự trưởng thành cá nhân, cơ hội học hỏi, vươn lên khẳng định năng lực bản thân của cá nhân mỗi người Nhu cầu khẳng định bản thân được Maslow gọi là nhu cầu muốn thể hiện toàn bộ tiềm năng của con người

A Maslow gọi 4 mức nhu cầu đầu tiên là các nhóm nhu cầu thiếu hụt, nhu cầu ở nhóm thứ 5 được chia thành các nhóm nhỏ hơn như: nhu cầu hiết biết, nhu cầu thẩm mỹ, nhu cầu sáng tạo… và được gọi là các nhu cầu phát triển Maslow cho rằng, tuy phân chia các mức độ nhu vậy song vị trí của chúng trên tháp nhu cầu không phải là cố định mà luôn linh hoạt thay đổi tùy theo điều kiện cụ thể

Nhận xét về quan điểm của Maslow khi nghiên cứu về nhu cầu, B.Ph.Lomov cho rằng: tháp Maslow bao gồm tất cả các nhu cầu có nguồn gốc sinh học và xã hội, nhưng đặc điểm của các mức độ nêu trên hết sức vô định hình Theo Lomov, nguyên nhân của việc tách các nhu cầu như vậy là

do tách nhu cầu của cá nhân ra khỏi hệ thống các quan hệ xã hội, đặt nó ra

Trang 16

ngoài các mối liên hệ xã hội, không chỉ ra được trong điều kiện xã hội nào nhu cầu đó được thỏa mãn và những nguyên nhân chuyển tiếp nào từ mức

- A.G Kovaliov từ góc độ nghiên cứu tâm lý cá nhân đã coi nhu cầu chính là những nguồn gốc bên trong tạo nên tính tích cực của con người Một nhu cầu khi đã được phản ánh sẽ trở thành trạng thái tâm lý chủ quan

có tác dụng điều chỉnh thái độ và hành vi, ông còn chỉ ra tính quy định xã hội của nhu cầu [9, tr 192]

- A.N Leonchiev trong nghiên cứu về cấu trúc của hoạt động đã cho rằng nhu cầu là cốt lõi bên trong của động cơ, nhu cầu muốn hướng dẫn được hoạt động thì phải được đối tượng hóa trong một khách thể nhất định [18, tr 367]

Như vậy, vấn đề nhu cầu dưới góc độ tâm lý học ở mức khái quát nhất đã được tiếp cận từ nhiều hướng khác nhau Mỗi trường phái, mỗi tác giả dưới góc độ nhìn nhận của mình có quan điểm khác nhau về nhu cầu làm phong phú và đầy đủ hơn khái niệm này

Xét trên phương diện nhu cầu đầu tư chứng khoán thì các nhà nghiên cứu lại tập trung nghiên cứu mặt biểu hiện của nhu cầu đầu tư đó chính là mặt hành vi của nhà đầu tư, hành vi ấy lại được thể hiện rõ nhất là qua tâm

lý đám đông của nhà đâu tư với chứng khoán Hiện tượng ảnh hưởng của đám đông lên đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư đã được nhiều nhà khoa

Trang 17

học nghiên cứu Các kết quả của các cuộc điều tra về tâm lý đầu tư trên thị trường chứng khoán ở Mỹ và Nhật được Robert J Shiller- đại học Yale, Fumiko Kon-Ya -Viện nghiên cứu chứng khoán Nhật bản, Yoshiro Tsutsui- đại học Osaka tiến hành trong 10 năm,bắt đầu từ năm 1989 cũng cho thấy sự ảnh hưởng của tâm lý đám đông đến quyết định đầu tư Điển hình theo kết quả điều tra từ năm 1995 đến năm 1997, chỉ số DowJones tăng gấp đôi từ 4069 lên 7917, gấp 3-4 lần mức tăng trung bình, ở thời điểm đó cứ 5 người Mỹ thì có ít nhất 2 người chơi cổ phiếu Điều tra 6 tháng đầu năm 1996 , có đến 32.5% ( tỷ lệ cao nhất kể từ năm 1989) nhà đầu tư cho biết dù họ biết trong tương lai sẽ rớt giá nhưng họ vẫn tiếp tục mua cổ phiếu càng nhiều càng tốt vì tin rằng giá cao vẫn có thể duy trì được một thời gian nữa Tháng 10 năm 1997,chỉ số Dow rớt 554 điểm, nhiều nhà phân tích cho biết ngoài nguyên nhân do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á, nguyên nhân “tâm lý bầy đàn “ là rất đáng

kể Khi ấy, các nhà quản lý quỹ hỗ trợ vô cùng lo lắng dự đoán về những gì các nhà đầu tư khác sẽ hành động Dám cược là những người khác sẽ bán

và vì cũng không muốn “ở lại phía sau” Họ đã đua nhau bán cổ phiếu ra, hậu quả là tạo nên một cơn sụt giảm nghiêm trọng

1.1.2 Nghiên cứu nhu cầu và nhu cầu đầu tư của các nhà tâm lý học trong nước

Vấn đề nhu cầu đã được nhiều nhà tâm lý học Việt Nam quan tâm nghiên cứu không chỉ ở góc độ tâm lý học đại cương mà còn ở các chuyên ngành tâm lý học khác

Trong cuốn sách Tâm lý học tiêu dùng, tác giả Mã Nghĩa Hiệp trên

cơ sở khái niệm nhu cầu là yêu cầu chung của cá thể hoặc quần thể hữu cơ đối với sự vật khách quan (để tồn tại và phát triển) trong những điều kiện

Trang 18

sinh hoạt nhất định, ông đưa ra khái niệm nhu cầu tiêu dùng là những đòi hỏi và ước muốn của người tiêu dùng đối với hàng tiêu dùng tồn tại dưới hình thái hàng hóa và dịch vụ Nhu cầu tiêu dùng hàm chứa trong nhu cầu chung của con người [10, tr79]

Tác giả Thái Trí Dũng trong cuốn sách Tâm lý học quản trị kinh doanh (2007) trên cơ sở tìm hiểu các hiện tượng tâm lý của cá nhân đã đi sâu tìm hiểu các hiện tượng tâm lý trong kinh doanh như tâm lý thị trường, hành vi tiêu dùng, tâm lý trong chiến lược marketing, giao tiếp trong kinh doanh, kinh nghiệm phán đoán tâm lý con người trong kinh doanh…

Cũng trong cuốn sách này, tác giả Thái Trí Dũng đưa ra quan điểm

về nhu cầu tiêu dùng như sau: Nhu cầu tiêu dùng là những đòi hỏi và ước muốn của người tiêu dùng đối với hàng tiêu dùng tồn tại dưới hình thái hàng hóa và dịch vụ Nhu cầu tiêu dùng là một trong những nhu cầu chung của con người Nhu cầu tiêu dùng là cái có trước sự tiêu dùng, là nguyên nhân bên trong và là động lực căn bản của hoạt động tiêu dùng [3, tr150]

Tác giả Nguyễn Hữu Thụ (2009) trong cuốn sách Tâm lý học Quản trị kinh doanh đã cho rằng: Nhu cầu có vai trò hết sức quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển con người, không có nhu cầu thì cũng không thể có nhân cách – chủ thể của hoạt động sản xuất và tiêu dùng xã hội Tác giả Nguyễn Hữu Thụ cho rằng “Nhu cầu là trạng thái tâm lý, mong muốn của

cá nhân đòi hỏi phải thỏa mãn để tồn tại và phát triển”

Từ những cơ sở trên, tác giả Nguyễn Hữu Thụ nghiên cứu sâu về nhu cầu dưới góc độ tâm lý học quản trị kinh doanh: Nếu xét theo góc độ của Tâm lý học quản trị kinh doanh, thì nhu cầu tiêu dùng là toàn bộ các mong muốn, đòi hỏi của người tiêu dùng phải thỏa mãn các sản phẩm, dịch

vụ nào đó, đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của họ Nhu cầu tiêu dùng

là nhu cầu cấp cao của nhu cầu mang tính chất xã hội Phương thức thỏa

Trang 19

mãn nhu cầu này là các hành vi tiêu dùng của cá nhân và các nhóm xã hội được thực hiện trong mối quan hệ người – người, dựa trên các chuẩn mực, các đặc điểm văn hóa xã hội Trong xã hội, hành vi mua hàng luôn có sự thỏa thuận giữa người mua và người bán và được pháp luật thừa nhận Như

sự phân tích đó, tác giả đưa ra định nghĩa về nhu cầu tiêu dùng như sau:

“Nhu cầu tiêu dùng là trạng thái tâm lý, mong muốn của người tiêu dùng đòi hỏi đối với các sản phẩm, dịch vụ cần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển với tư cách là một thành viên trong xã hội” [12, tr 52]

Bên cạnh các cuốn sách nghiên cứu về nhu cầu, trong những năm gần đây có nhiều luận án, luận văn thạc sĩ cũng quan tâm nghiên cứu về nhu cầu của con người dưới góc độ khác nhau Tác giả Hà Thị Bình Hòa trong luận án tiến sĩ “Tìm hiểu nhu cầu thông tin của khách thể tuyên truyền” (2000) đã nghiên cứu nhu cầu thông tin về thời sự, kinh tế - xã hội, thể thao, giáo dục… của các khách thể tuyên truyền là nông dân, công nhân

và các cán bộ phường xã Kết quả nghiên cứu chỉ ra nhóm thông tin kinh

tế, quân sự luôn chiếm được sự quan tâm cao nhất của khách thể tuyên truyền; tùy theo đòi hỏi của mỗi nhóm và lợi ích do thông tin đem lại mà ở các thời điểm khác nhau thì nhu cầu thông tin của nhóm khách thể cũng khác nhau…

Năm 2003, tác Hoàng Thị Thu Hà bảo vệ luận án tiến sĩ với đề tài

“Nhu cầu học tập của sinh viên sư phạm” Theo tác giả, nhu cầu học tập được là sự đòi hỏi của cá nhân về học tập cần được thỏa mãn nhằm làm giàu vốn kinh nghiệm, phát triển và hoàn thiện nhân cách bản thân Nó là trạng thái thiếu hụt về kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo mới, được phản ánh vào ý thức và thúc đẩy cá nhân tích cực học tập chiếm lĩnh đối tượng Kết quả nghiên cứu từ 1264 sinh viên và 30 giảng viên của 3 trường sư phạm cho thấy nhu cầu học tập của sinh viên sư phạm còn chưa cao và hơn một nửa

Trang 20

số khách thể có nhu cầu học tập ổn định… Kết quả nghiên cứu trên đã chỉ

ra được một số nét cơ bản về thực trạng nhu cầu học tập của sinh viên sư phạm để có thể đưa ra những kiến nghị nhằm tích cực hóa hoạt động của các sinh viên đồng thời là các giáo viên tương lai[6, tr 34]

Tác giả Lã Thị Thu Thủy năm 2006 đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ với đề tài “Nhu cầu thành đạt nghề nghiệp của trí thức trẻ” Trong luận án này, tác giả khẳng định nhu cầu thành đạt nghề nghiệp là mong muốn của cá nhân nhằm hoàn thành tốt mục tiêu đặt ra trong hoạt động nghề nghiệp của mình Những mục tiêu đó phải phù hợp với chuẩn mực và giá trị xã hội Nội dung thể hiện của nhu cầu thành đạt nghề nghiệp phụ thuộc vào sự biến đổi của xã hội và phụ thuộc vào chính bản thân hoạt động nghề nghiệp Tác giả tập trung nghiên cứu nhu cầu thành đạt nghề nghiệp của trí thức trẻ ở 6 nội dung chính: mong muốn phát triển trình độ chuyên môn, mong muốn có mối quan hệ đồng nghiệp tốt, mong muốn đảm bảo thu nhập và nâng cao đời sống kinh tế từ hoạt động nghề nghiệp, mong muốn được áp dụng tri thức vào thực tiễn cuộc sống, mong muốn được cạnh tranh trong công việc, mong muốn có được vị trí xã hội trong tổ chức Kết quả nghiên cứu thực tiễn cho thấy quan niệm về sự thành đạt nghề nghiệp của trí thức trẻ được thể hiện theo hai trục rõ rật: Những nội dung mang tính chất tổng quát, dễ được xã hội chấp nhận (như vấn đề uy tín, đóng góp nghề, sáng tạo lớn, có vị trí xã hội…) được khách thể lựa chọn một cách thống nhất Bên cạnh đó, những giá trị cụ thể, liên quan trực tiếp đến đời sống của cá nhân (hoàn thành mục tiêu, kiếm tiền từ hoạt động nghề nghề, hiểu biết rộng…) ít được chú ý.[14, tr 90]

Năm 2009, tác giả Hoàng Diệu Anh đã nghiên cứu nhu cầu âm nhạc của sinh viên Đại học Quốc gia Hà Nội, kết quả nghiên cứu cho thấy các sinh viên hướng đến chủ đề âm nhạc là nhạc trẻ về tình bạn, tình yêu; mục

Trang 21

đích thưởng thức âm nhạc của các sinh viên chủ yếu là để giải trí; phương tiện chủ yếu được các sinh viên sử dụng để thỏa mãn nhu cầu âm nhạc của mình là internet, điện thoại…

Bàn về nhu cầu đầu tư chứng khoán của các nhà đầu tư thì cũng giống các nhà khoa học trên thế giới các nhà nghiên cứu của ta cũng đã tập chung đi sâu vào nghiên cứu tâm lý đám đông khi đầu tư chứng khoán và

nổi bật là bài viết của TS Phạm Minh Ngọc “Thử phân tích yếu tố tâm lý

trong đầu tư chứng khoán Việt” trong bài viết tác giả đã đưa ra hiện tượng

đầu tư theo đám đông của nhà đầu tư Việt Nam Trong bài viết tác giả chỉ

ra rằng: nhiều nhà đầu tư nhỏ hầu như chẳng có khái niệm gì về thị trường,

về cổ phiếu của công ty mà họ nhắm vào Nhưng điều mà họ hầu như được thị trường đảm bảo là nếu nắm trong tay một vài cổ phiếu thời thượng (hoặc không cũng chẳng sao) thì cứ nghiễm nhiên thấy tài sản của mình phình to nhanh chóng hàng ngày, có khi đến 5%/ngày, chẳng kinh doanh gì cho bằng cả! Người ta không ngần ngại tranh nhau mua ngày hôm nay, dù giá có cắt cổ đi chăng nữa, vì biết rằng ngày mai, ngày kia giá sẽ còn lên nữa, không mua nhanh chỉ có lỡ cơ hội Và thế là nhà nhà, người người đua nhau huy động vốn đổ vào chứng khoán, đẩy giá chứng khoán ở Việt Nam lên nhanh với tốc độ vô địch thế giới

Như vậy, điểm qua một số công trình nghiên cứu kể trên có thể thấy nhu cầu của con người đã được các tác giả trong và ngoài nước quan tâm tìm hiểu ở nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau Các nghiên cứu đã tập trung làm rõ các vấn đề về đối tượng, phương tiện, các nhân tố tác động ảnh hưởng tới việc thỏa mãn nhu cầu… Qua các công trình nghiên cứu trên cũng cho thấy vấn đề chơi chứng khoán và nhu cầu đầu tư chứng khoán dưới góc độ tâm lý học còn chưa được quan tâm tìm hiểu, vì thế đề tài

“Nhu cầu đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán

Trang 22

HASTC” sẽ góp phần thiết thực cả về mặt lý luận và thực tiễn trong tâm lý học kinh doanh nói riêng và tâm lý học nói chung

1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài nghiên cứu

1.2.1 Nhu cầu

Nhà tâm lý học Xô viết A.G.Kovaliov trong tác phẩm Tâm lý học cá nhân đã cho rằng: “nhu cầu là những đòi hỏi khách quan của mỗi con người trong những điều kiện nhất định đảm bảo cho sự sống và phát triển của con người” Ông cho rằng trong nhu cầu của con người có sự thống nhất giữa các nhân tố khách quan và chủ quan bởi lẽ, một nhu cầu khách quan nào đó trước khi trở thành động lực thúc đẩy tính tích cực của con người đã được con người ý thức Một nhu cầu khi đã được con người phản ánh sẽ trở thành trạng thái chủ quan có tác dụng điều chỉnh suy nghĩ, tình cảm và hành vi, hoạt động của con người Trên cơ sở phân tích nhu cầu của

cá nhân là sự phản ánh những yêu cầu thiết yếu của cuộc sống và của môi trường xung quanh, Kovaliov cho rằng: Những yêu cầu của xã hội nếu được cá nhân tiếp nhận sẽ chuyển hóa dần thành yêu cầu đối với bản thân tức là chuyển thành nhu cầu Theo A.G Kovaliov, nhu cầu của con người

là do xã hội quy định, mức độ phát triển của nhu cầu do tính chất sản xuất

xã hội và phân phối sản phẩm quyết định Nhu cầu có vai trò xác định xu hướng của cá nhân, xác định thái độ của người đó với hiện thực… xét đến cùng là xác định lối sống và hoạt động của họ[9,tr 192]

B.Ph Lomov trong tác phẩm Những vấn đề lý luận và phương pháp luận của tâm lý học cho rằng “Nhu cầu cá nhân là đòi hỏi nào đó của nó về những điều kiện và phương tiện nhất định cho việc tồn tại và phát triển Nhu cầu đó nhất thiết bắt nguồn từ những quá trình xảy ra có tính khách quan trong đó cá nhân tham dự vào suốt cả đời sống của mình Dĩ nhiên

Trang 23

nhu cầu là trạng thái của cá nhân, nhưng là nhu cầu về một cái gì đó nằm ngoài cá nhân [8, tr 479]

A.N Leontiev (1903 – 1979) nhà tâm lý học Macxit cho rằng nhu cầu thực sự bao giờ cũng là nhu cầu về một cái gì đó Trên cấp độ tâm lý, các nhu cầu phát triển thông qua sự môi giới trung gian của quá trình phản ánh tâm lý và sự trung gian này mang tính chất “kép” Một mặt, những đáp ứng nhu cầu của chủ thể xuất hiện trước chủ thể với những dấu hiệu khách quan, có tính chất tín hiệu Mặt khác, bản thân các trạng thái có tính nhu cầu cùng được báo hiệu cũng được phản ánh bởi chủ thể Trong trường hợp đó, sự biến đổi quan trọng nhất, đặc trưng cho sự chuyển tiếp sang cấp

độ tâm lý là sự xuất hiện những mối liên hệ cơ động giữa các nhu cầu và các đối tượng đáp ứng cho chúng, vì bản thân trạng thái có tính chất nhu cầu của chủ thể chưa rõ là vật nào, đối tượng nào có khả năng thỏa mãn nhu cầu

Phân tích về mối quan hệ giữa nhu cầu và hoạt động, A.N Leontiev cho rằng có hai quan niệm thể hiện theo hai sơ đồ như sau:

Sơ đồ thứ nhất: Nhu cầu => Hoạt động => Nhu cầu

Đây là quan điểm của những người theo chủ nghĩa duy vật về nhu cầu trước khi xuất hiện chủ nghĩa Mác

Sơ đồ thứ hai: Hoạt động => Nhu cầu => Hoạt động

Sơ đồ thứ hai là sơ đồ đáp ứng được quan điểm Macxit về nhu cầu Luận điểm cho rằng mọi nhu cầu của con người đều được sản sinh ra có ý nghĩa duy vật lịch sử đúng đắn Đồng thời, nó lại cực kỳ quan trọng đối với tâm lý học, bởi không có một “động lực” nào tồn tại trước bản thân hoạt động lại có thể đóng vai trò một quan niệm xuất phát, có khả năng dùng làm cơ sở đầy đủ cho một lý thuyết khoa học và nhân cách con người

Trang 24

So sánh nhu cầu của con vật và con người, Leontiev cho rằng sự phát triển nhu cầu của con vật phụ thuộc vào sự mở rộng phạm vi các vật thể tự nhiên mà chúng tiêu thụ, còn các nhu cầu của con người được sinh ra bởi

sự phát triển của sản xuất, sự tiêu dùng Vì vậy, nhu cầu của con người phong phú, đa dạng hơn nhiều so với con vật Đặc biệt ở con người hình thành một kiểu nhu cầu đặc biệt đó là nhu cầu có tính vật thể - chức năng: nhu cầu lao động, nhu cầu sáng tạo nghệ thuật… Theo ông, điều chủ yếu nhất ở con người là các nhu cầu đã mang những quan hệ mới giữa chúng với nhau Mặc dù đối với con người, sự thỏa mãn các nhu cầu sinh tồn thiết yếu vẫn là công việc hàng đầu và là điều kiện không tránh khỏi trong cuộc sống, nhưng những nhu cầu bậc cao, những nhu cầu chuyên biệt có tính người hoàn toàn không phải chỉ tạo thành những cơ cấu được chồng ghép lên mặt ngoài của các nhu cầu sinh tồn thiết yếu của con người…

Trong cuốn Tâm lý học đại cương, tác giả Nguyễn Quang Uẩn cho rằng: Nhu cầu là những đòi hỏi tất yếu khách quan được con người phản ánh trong những điều kiện cụ thể và thấy cần được thỏa mãn để tồn tại và phát triển [17, tr 45]

Trong cuốn Từ điển Tâm lý học (Vũ Dũng chủ biên): Nhu cầu là những đòi hỏi tất yếu, để cá nhân tồn tại và phát triển trong những điều kiện nhất định

Hiện này tồn tại nhiều khái niệm về nhu cầu, xuất phát từ các cách tiếp cận khác nhau như: nguồn gốc, cấu trúc, chức năng Ví dụ: theo cách tiếp cận nguồn gốc xuất hiện tính tích cực - Nhu cầu là nguồn gốc bên trong, nền tảng của con người và động vật, biểu hiện sự phụ thuộc của nó vào những điều kiện tồn tại cụ thể để tồn tại và phát triển [3,…]

Tác giả Nguyễn Xuân Thức trong cuốn Tâm lý học đại cương khẳng định: Để tồn tại và phát triển, mỗi cơ thể sống đều cần có những điều kiện

Trang 25

và phương tiện nhất định do môi trường đem lại Giống như các cơ thể sống khác, để tồn tại và hoạt động, con người cũng cần có những điều kiện

và phương tiện nhất định Tất cả những đòi hỏi ấy gọi là nhu cầu của cá nhân Tác giả Nguyễn Xuân Thức đưa ra định nghĩa về nhu cầu như sau: “ Nhu cầu là sự thể hiện mối quan hệ tích cực của các nhân đối với hoàn cảnh,

là những đòi hỏi mà cá nhân thấy cần phải được thỏa mãn để tồn tại và phát triển” [15, tr223]

* Đặc điểm nhu cầu: Hiện nay vẫn có nhiều ý kiến khác nhau liên

quan đến các đặc điểm của nhu cầu Trong đề tài nghiên cứu này, chúng tôi xác định nhu cầu có một số đặc điểm cơ bản sau đây:

- Nhu cầu của con người bao giờ cũng có đối tượng Khi gặp đối tượng được ý thức là có khả năng đáp ứng nhu cầu thì lúc đó nhu cầu trở thành động cơ thúc đẩy con người hoạt động nhằm vào đối tượng

- Nhu cầu của con người do điều kiện và phương thức thỏa mãn nó quy định Những điều kiện thỏa mãn nhu cầu gồm: điều kiện khách quan (điều kiện tự nhiên, điều kiện xã hội, phong tục tập quán…), điều kiện chủ quan: trạng thái tâm lý riêng cũng như khả năng hoạt động của chủ thể

- Nhu cầu của con người mang bản chất xã hội Bản chất đó được thể hiện ở nội dung, phương thức thỏa mãn nhu cầu

- Nhu cầu của con người có tính chu kỳ Chu kỳ của nhu cầu biến đổi theo chu kỳ vốn có của cơ thể, của môi trường xung quanh Tính chu kỳ của nhu cầu còn do thói quen của hoạt động Mỗi lần lặp lại, nhu cầu của con người có nội dung phong phú hơn và có sự cải biến về phương thức thỏa mãn

Trang 26

- Nhu cầu của con người có sự khác nhau ở các thời điểm Sự khác nhau đó tùy thuộc vào giá trị và định hướng giá trị của cá nhân và nhóm xã hội

- Nhu cầu của con người chị sự chi phối của các yếu tố, các quy luật tâm lý xã hội như: dư luận xã hội, sự lây truyền tâm lý…

- Nhu cầu của con người có tính “phóng đại” Khi điều kiện thỏa mãn nhu cầu khó khăn, còn người cảm thấy sự cần thiết dường như cao hơn

* Phân loại nhu cầu:

Nhu cầu của con người rất đa dạng, phong phú vì thế có nhiều cách phân loại nhu cầu khác nhau tùy theo tiêu chí đưa ra:

- Dựa vào hình thức tồn tại, nhu cầu được phân chia thành hai dạng tồn tại cơ bản nhất: nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần

- Dựa vào hình thức vận động của vật chất, nhu cầu được phân thành: nhu cầu sinh học và nhu cầu xã hội

- Dựa vào chủ thể nhu cầu được phân thành nhu cầu xã hội và nhu cầu cá nhân

Ngoài những cách phân loại chủ yếu trên, nhu cầu của con người còn được phân chia theo một số cách khác nhau tùy theo mục đích nghiên cứu

và cách tiếp cận của nhà nghiên cứu Nhà tâm lý học người Mỹ A.Maslow trong quan điểm về nhu cầu của mình đã phân chia nhu cầu thành 5 nhóm: nhu cầu sinh lý; nhu cầu về an ninh, an toàn; nhu cầu xã hội; nhu cầu về sự tôn trọng; nhu cầu tự khẳng định Trong tác phẩm của mình, C.Mác đã đưa

ra luận điểm nổi tiếng: Người ta phải có khả năng sống đã rồi mới có thể làm ra lịch sử, nhưng muốn sống thì con người trước hết phải có thức ăn, thức uống, nhà ở… Như vậy, theo quan điểm của C.Mác, nhu cầu của con

Trang 27

người được phân chia thành hai nhóm: nhóm các nhu cầu cơ bản (ăn, uống, nhà ở…) và nhóm nhu cầu bậc cao (văn hóa, chính trị, nghệ thuật…)

Nói chung cách phân loại về nhu cầu chỉ là tương đối tùy thuộc vào góc độ tiếp cận và mục đích nghiên cứu Cách phân loại nhu cầu dựa vào hình thức tồn tại để chia thành nhu cầu vật chất và tinh thần là cơ sự khái quát cao và đầy đủ nhất vì thế được đề tài lấy làm căn cứu để tiến hành nghiên cứu về nhu cầu chơi chứng khoán

* Nhu cầu và một số khái niệm liên quan:

Nhu cầu là khái niệm liên quan đến nhiều khái niệm khác trong tâm

lý học Dưới đây xin trình mối quan hệ của nhu cầu với một số khái niệm

cơ bản khác trong tâm lý học

- Nhu cầu và hoạt động: Khi nghiên cứu nhu cầu, chúng ta phải gắn

nó với hoạt động cụ thể Sẽ là vô nghĩa nếu xem xét nhu cầu tách biệt với quá trình hoạt động Nhu cầu được nảy sinh, hình thành và phát triển trong quá trình cá nhân hoạt động và tương tác với môi trường bên ngoài… Hơn thế nữa, bản thân thế giới đối tượng đã chứa đựng trong nó vô vàn những nhu cầu mà chỉ thông qua hoạt động, dần dần con người phản ánh được nó

Từ đó, con người thấy cần thiết phải chiếm lĩnh nó Sự cần thiết chiếm lĩnh

đó chính là sự xuất hiện nhu cầu Hoạt động sản xuất của con người thúc đẩy nhu cầu hình thành và phát triển, từ đó thúc đẩy sự tiến bộ xã hội Đến lượt mình, nhu cầu lại phát huy tính tích cực hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu Lúc đó, nhu cầu đóng vai trò là yếu tố thúc đẩy hoạt động [14, tr35]

- Nhu cầu và nhận thức: Nhu cầu bao giờ cũng là nhu cầu về một

cái gì đó Đối tượng của nhu cầu dần được chủ thể nhận thức đầy đủ hơn về

ý nghĩa của nó với sự tồn tại và phát triển của cá nhân Khi chủ thể đã nhận thức đầy đủ về đối tượng, nhu cầu sẽ trở thành động lực thúc đẩy cá nhân

Trang 28

hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu Nhận thức có vị trí đặc biệt quan trọng với nhu cầu thể hiện ở các khía cạnh sau đây:

Thứ nhất: Nhận thức giúp nhu cầu chuyển thành động cơ thúc đẩy hành động

Thứ hai, nhận thức giúp cá nhân tìm ra phương thức và cách thức thỏa mãn nhu cầu phù hợp với nền văn hóa xã hội đương đại

Thứ ba, nhận thức giúp cá nhân xác định được các công cụ, điều kiện thỏa mãn nhu cầu

Thứ tư, nhận thức giúp cá nhân lựa chọn nhu cầu cơ bản, thường trực trong thời điểm hiện tại để thỏa mãn và kìm nén một số nhu cầu khác

Ngược lại, nhu cầu cũng có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động nhận thức cá nhân Nhu cầu thôi thúc con người nhận thức, khám phá thế giới xung quanh, giúp hoạt động nhận thức của cá nhân có tính mục đích,

có tính lựa chọn cao Và cũng chính trong quá trình nhận thức mà nhu cầu được phát triển

nhiêu

- Nhu cầu và xúc cảm – tình cảm: Nói đến nhu cầu của con người

nói chung là đề cập tới toàn bộ tính chất và nội dung phong phú của nó (nhu cầu vật chất tự nhiên, nhu cầu giao tiếp, nhu cầu nhận thức…) và cùng với chúng là toàn bộ những động cơ và hành vi phong phú do tồn tại xã hội quyết định Và điều đó có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự xuất hiện tình cảm của con người Tuy nhiên, chỉ khi nào những yêu cầu, chế ước của

xã hội dựa trên cơ sở những nhu cầu của con người thì nó mới gây ra được những tình cảm tích cực, mạnh mẽ [2, tr43]

1.2.2 Khái niệm về nhu cầu đầu tư

Trang 29

- Khái niệm đầu tư: Theo định nghĩa của Luật đầu tư : “Đầu tư là

việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản và tiến hành hoạt động đầu tư theo quy định của Luật đầu tư

và các quy định khác của pháp luật có liên quan

- Khái niệm hoạt động đầu tư: Là hoạt động của nhà đầu tư trong

quá trình đầu tư bao gồm các khâu: chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu tư và quản lý dự án đầu tư với mục đích kiếm lời tạo dựng uy tín cho các doanh nghiệp trong xã hội

- Khái niệm về nhu cầu đầu tư

Cho đến nay chưa có một khái niệm chính thống về nhu cầu đầu tư, dựa trên cơ sở những khái niệm về nhu cầu, đầu tư và hoạt động đầu tư chúng tôi hiểu nhu cầu đầu tư như sau:

Nhu cầu đầu tư là những mong muốn đòi hỏi của con người về việc bỏ vốn bằng những tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản mới cần phải được thỏa mãn để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của bản thân mỗi chủ thể khi tham gia vào hoạt động đầu tư Nhu cầu đầu tư mang tính xã hội cao, được con người ý thức rõ ràng và thể hiện giá trị

xã hội của cá nhân

Nhu cầu đầu tư mang tính xã hội cao là bởi nó phản ánh trình độ phát triển của xã hội ở thời kỳ nguyên thủy khi mà xã hội mới sơ khai mông muộn, con người chưa có nhu cầu đầu tư, họ sống hoàn toàn phụ thục vào

tự nhiên, gặp gì ăn nấy, chưa có sự phân chia tài sản vì thế họ không có nhu cầu đầu tư Tuy nhiên cùng với thời gian, trải qua lao động con người sáng tạo ra nhiều cái mới và dần làm chủ được tự nhiên Và điều quan trọng là con người luôn hướng tới sự phát triển không ngừng Mà muốn phát triển cần phải có đầu tư Từ đó nhu cầu đầu tư ra đời và nó mang tính xã hội cao

Trang 30

Nhu cầu đầu tư được con người ý thức rõ ràng, bởi lẽ nó nảy sinh khi con người hiểu biết được ý nghĩa của đầu tư, tầm quan trọng của nó đối với bản thân gia định và xã hội Con người tự nhận thức được đòi hỏi của một

xã hội phát triển là phải có đầu tư, đầu tư luôn đi kèm với sự phát triển vì thế để hình thành trạng thái và biểu tượng nhu cầu cho mình họ tự trả lời câu hỏi: mình có nhu cầu đầu tư cái gì? Việc đầu tư ấy có đem lại lợi ích cho mình hay không? Nó có đảm bảo cho mình và gia đình một cuộc sống

ổn định ở hiện tại cũng như tương lai hay không? Mình phải làm gì để thỏa mãn nhu cầu đầu tư ở mức độ cao nhất có thể

- Bản chất của nhu cầu đầu tư

Nhu cầu đầu tư là mong muốn sự phát triển ở một lĩnh vực nào đó của con người, nó là nhu cầu cấp cao được con người sáng tạo ra và có sự tham gia mạnh mẽ của ý thức Nó khác với nhu cầu sinh học Hoạt động là yếu tố hiện thực hóa nhu cầu, là bằng chứng khẳng định giá trị tồn tại của con người, để phát triển con người luôn luôn phải hoạt động, vì thế nhu cầu đầu tư có ở bất kỳ cá nhân nào trong xã hội, và mức độ thiết thân, thường trực của nó ở mỗi cá nhân khác nhau là khác nhau

Nhu cầu đầu tư mang tính xã hội: Như đã phân tích ở trên, nhu cầu đầu tư được hình thành khi xã hội phát triển, xã hội phát triển càng cao, nhu cầu đầu tư càng lớn và để tồn tại, mỗi cá nhân trong xã hội cần phải tham gia tích cực vào các lĩnh vực đầu tư

Nhu cầu đầu tư gắn liền với sự hoàn thiện về mặt thể chất cũng như nhân cách của mỗi cá nhân, nó có su hướng phát triển cùng với sự phát triển của toàn xã hội Ở xã hội nguyên thủy chưa có nhu cầu đầu tư vì lúc

ấy con người còn đang phụ thuộc vào thiên nhiên, chưa hướng tới sự phát triển, cùng với thời gian và trải qua lao động con người dần dần nhận ra muốn phát triển cần phải có đầu tư ví dụ muốn chặt cây làm nhà cho nhanh

Trang 31

hơn, thay vì làm bằng tay không, con người tìm những vật nhọn và để cho sắc họ nghĩ đến việc mài chúng và để làm được điều đó họ phải bỏ thời gian ra để mài các vật sắc nhọn đó, đấy là một hình thức đầu tư và của cải

để đầu tư ở đây chính là thời gian của họ Và cùng với sự hoàn thiện về mặt thể chất và nhân cách thì nhu cầu đầu tư cũng dần được phát triển theo Một con người khỏe mạnh sẽ muốn đầu tư nhiều hơn vào nhiều lĩnh vực khác nhau hơn là một con người không có sức khỏe Một con người có nhân cách hoàn thiện thì họ không ngừng lao động, mà đã lao động thì phải

có đầu tư Chính vì thế mà nhu cầu đầu tư luôn gắn liền với sự hoàn thiện

về thể chất và nhân cách của mỗi cá nhân

Nhu cầu đầu tư hết sức phong phú và đa dạng Trong bất cứ một ngành nghề hay một lĩnh vực nào cũng cần có đầu tư vì thế mà nhu cầu đầu

tư có ở mọi lĩnh vực ví dụ trong lĩnh vực giáo dục muốn có nền giáo dục phát triển thì nhà nước cần phải có sự đầu tư về cở sở vật chất cũng như trang thiết bị phục vụ dậy và học, mỗi cá nhân muốn phát triển theo sự phát triển của xã hội thì cũng cần phải có nhu cầu đầu tư để từ đó thúc đẩy quá trình hoạt động của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu đầu tư của mình ví dụ họ mong muốn được giầu có họ cần phải đầu tư vào kinh doanh, muốn thành đạt họ cần đầu tư vào học tập, vv Nhu cầu đầu tư có mặt ở hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội

Khi có nhu cầu tất yếu phải tìm ra phương thức để thỏa mãn và nhu cầu đầu tư cũng vậy Ví dụ như với một sinh viên muốn học thật giỏi thì họ luôn muốn có nhiều sách để đọc, nhiều thời gian để học từ đó nhu cầu đầu

tư vào sách và thời gian dành cho học tập xuất hiện và để thỏa mãn nhu cầu

đó sinh viên này đã dành tiền để mua sách và dành thời gian cho việc học Hay với một nhà kinh doanh họ luôn mong muốn lĩnh vực kinh doanh của mình phát triển mà để có được sự phát triển thì họ cần phải đầu tư tiền của,

Trang 32

công sức, trí tệu thời gian của mình vào lĩnh vức kinh doanh đó Như vậy

là cũng cùng là nhu cầu đầu tư nhưng ở mỗi cá nhân thì việc nhận thức về

nó là khác nhau nên phương thức thực hiện cũng khác nhau Và khi có nhu cầu đầu tư con người sẽ tìm mọi cách để thỏa mãn nó vì thế mà nhu cầu đầu tư là động lực cho sự phát triển của mỗi cá nhân và của toàn thể xã hội

1.2.3 Nhu cầu đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư

1.2.3.1 Khái niệm nhà đầu tư

Nhà đầu tư là những người thực sự mua và bán chứng khoán trên thị trường chứng khoán Nhà đầu tư có thể chia làm hai loại là nhà đầu tư cá nhân và nhà đầu tư có tổ chức

- Nhà đầu tư cá nhân là những người có vốn tạm thời nhàn rỗi tham gia mua bán trên thị trường chứng khoán với mục đích kiếm lợi nhuận

Các nhà đầu tư có tổ chức: Hay còn gọi là các định chế đầu tư, thường xuyên mua bán chứng khoán với số lượng lớn trên thị trường Các

tổ chức này thường có các bộ phận chức năng bao gồm nhiều chuyên gia có kinh nghiệm để nghiên cứu thị trường và đưa ra các quyết định đầu tư [11, tr 9]

* Một số đặc điểm tâm lý của các nhà đầu tư

- Tính kỷ luật: Là khả năng tuân thủ nguyên tắc do chính nhà đầu tư

đề ra, tất cả các nhà đầu tư thành công đều cần tính kỷ luật để tuân thủ nguyên tắc đầu tư của mình Thực tế theo thiên tài đầu tư Jack Schwager tính kỷ luật là phẩm chất đầu tiên mà một nhà đầu tư cần có

- Kiên nhẫn: Là khả năng chờ đợi của nhà đầu tư đến ngày hưởng

thành quả đầu tư Có khi phải mất vài năm các cổ phiếu dưới giá trị mới phục hồi giá trị và mang lại khoản lợi nhuận kỳ vọng Do đó các nhà đầu tư cần phải có tính kiên nhẫn trong quá trình đầu tư của mình

Trang 33

- Khả năng chịu rủi ro: Rủi ro ở đây được hiểu theo hướng là vốn

đầu tư bị mất đi trước khi phục hồi lại Và các nhà đầu tư nếu có khả năng chấp nhận rủi ro thì họ sẽ không hoang mang khi giá trị cổ phiếu giảm , miễn là cổ phiếu đó vẫn đáp ứng được mục tiêu đầu tư của họ Ngược lại với những nhà đầu tư có khả năng chịu rủi ro kém sẽ luôn cảm thấy lo sợ khi cổ phiếu bị giảm giá trị hay bị lỗ lớn, điều đó sẽ ảnh hưởng đến quá trình đầu tư của họ

- Khả năng chịu bất ổn: Sự bất ổn liên quan đến tính thường xuyên

và mức độ dao động của cổ phiếu Nó cũng liên quan đến rủi ro nhưng không giống rủi ro Các nhà đầu tư nắm giữ một phần cổ phiếu có thể tác động đến tính bất ổn của nó Chẳng hạn các nhà giao dịch trong ngày có thể làm tăng sự bất ổn của một cổ phiếu khi mua và bán nó Những người lãnh đạo các quỹ cũng vậy Các chuyên gia quản lý quỹ chợ cấp và quỹ tương

hỗ khi nhận chức hoặc từ chức cũng có thể làm gia tăng tính bất ổn của một

cổ phiếu, thậm chí các bản báo cáo cũng có thể tác động đến khả năng bất

ổn của một cổ phiếu có khối lượng dao dịch ít(ít hơn 20.000 cố phiếu một ngày)… Chính vì vậy mà các nhà đầu tư khi tham gia đầu tư cần phải có khả năng chị bất ổn

- Sự tự tin khi đầu tư: Sự tự tin là yếu tố quan trọng trong phẩm chất

của các nhà đầu tư bởi vì mục tiêu của các nhà đầu tư là tìm kiếm nhũng cổ phiếu dưới giá trị khi đó các nhà đầu tư phải có khả năng phán đoán các dấu hiệu dưới giá trị và tự tin đầu tư chúng mà không quan tâm đến sự hoài nghi của thị trường Không công ty nào công bố cổ phiếu của mình dưới giá trị với dòng chữ đỏ đậm Do đó các nhà đầu tư cần có khả năng phán đoán về số lượng và sự tụ tin để đi đến các quyết định cao [19, tr 81-87]

- Tâm lý trông chờ vào sự may rủi:

Dễ dang đưa ra quyết định đầu tư dựa vào cảm tính, dựa vào một tin đồn, một lời khuyên một lời phát biểu mà không tự mình nghiên cứu để

Trang 34

đưa ra kết luận của chính mình về việc mua hay bán cổ phiếu nào giá bán bao nhiêu, khi nào và tại sao? Tâm lý đó khiến nhà đầu tư không tự nhìn vào chính mình để đánh giá mình, đánh giá các quyết định của mình và tự chịu trách nhiệm Và rất dẽ dẫn đến việc trông chờ vào người khác, để hỗ chợ giúp đỡ Và nếu như việc trông chờ vào sự giúp đỡ của người khác không đem lại kết quả thì họ quay ra trách và đổ lỗi Chính tâm lý đó khiến cho nhà đầu tư tự mình tước bỏ của mình một điều rất quan trọng- quyền biểu quyết bằng chính kiến và tiền của mình- biểu quyết về các cổ phiếu và công ty: Cổ phiếu nào là tốt là không tốt, công ty nào hoạt động hiệu quả hay kém hiệu quả, ban lãnh đạo nào giỏi hay không giỏi từ đó gửi đi những thông điệp cho nhưng công ty tốt làm tốt hơn những công ty nào chưa tốt thì cải thiện tình hình và loại đi những công ty không tốt không hiệu quả

- Ngược lại với tâm lý tự tin khi đầu tư cũng còn nhiều nhà đầu

tư luôn thiếu tự tin và chính kiến khi đầu tư

Nguyên nhân chính của nét tâm lý này là việc thiếu nhận định khi đầu tư, nhầm lẫn mục đích và tiêu chí đầu tư của chính cá nhân mình, từ đó thiếu tự tin và chính kiến trong đầu tư, làm cho nhà đầu tư có sự thay đổi

đầu tư khi rủi ro diễn ra

- Tâm lý bầy đàn hay chạy theo đám đông

Đây là nét tâm lý nổi bật nhất và có trong đại đa số nhà đầu tư Việt Nam Tham gia đầu tư vào thị trường chứng khoán với mục đích thu lợi nhuận nhưng đại đa số nhà đầu tư không bỏ công sức của mình ra để tìm hiểu kỹ càng giá trị cổ phiếu, sự hoạt động của các công ty mà mình sẽ đầu

tư mà họ luôn đầu tư với tâm lý hùa theo đám đông, nghĩa là không cần biết giá trị thực của cổ phiếu ấy là như thế nào nhưng nếu thấy đông người mua là họ sẽ mua, còn nếu thấy đông người bán thì họ sẽ bán kể cả giá cổ phiếu ấy có tăng đi chăng nữa Chính vì tâm lý ấy mà nhà đầu tư đã làm cho TTCK luôn trong tình trạng bất ổn và vỡ vụn

Trang 35

1.2.3.2 Khái niệm chứng khoán:

Chứng khoán là các loại giấy tờ có giá, có kỳ hạn trên một năm trở lên được chào bán và giao dịch trên thị trường chứng khoán

Chứng khoán là chứng chỉ hoặc bút toán ghi sổ, xác nhận các quyền

và lợi ích hợp pháp của người sở hữu chứng khoán đối với tài sản hoặc vốn của tổ chức phát hành gồm: trái phiếu, cổ phiếu, chứng chỉ quỹ đầu tư và chứng khoán phái sinh

Chứng khoán bào gồm chứng khoán cơ bản và chứng khoán phái sinh trong đó chứng khoán cơ bản bao gồm: cổ phiếu, trái phiếu và chứng chỉ quỹ đầu tư Chứng khoán phái sinh bao gồm: hợp đồng tương lai, quyền mua cổ phiếu, chứng quyền và hợp đồng quyền chọn.[11,.5]

1.2.3.3 Khái niệm thị trường chứng khoán

Thị trường chứng khoán là thuật ngữ dùng để chỉ cơ chế của hoạt động dao dịch mua bán chứng khoán dài hạn như các loại trái phiếu, cổ phiếu và các công cụ tài chính khác như chứng chỉ quỹ đầu tư, công cụ phái sinh, hợp đồng tương lại, quyền chọn, chứng quyền Hay nói cách khác thị trường chứng khoán được hiểu là một bộ phận của thị trường tài chính, là nơi diễn ra các hoạt động phát hành chào bán các loại chứng khoán nhằm mục đích kiếm lời [11, 5]

1.2.3.4 Khái niệm nhu cầu đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư

Cho đến nay chưa có một khái niêm chính thống về nhu cầu đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư Dựa trên khái niệm nhu cầu đầu tư, khái niệm nhà đầu tư, khái niệm chứng khoán và thị trường chứng khoán chúng tôi

hiểu nhu cầu đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư như sau: Nhu cầu đầu tư

chứng khoán của nhà đầu tư là sự đòi hỏi cần được thỏa mãn của những người tham gia mua và bán các loại giấy tờ có giá trị được chào bán trên thị trường chứng khoán nhằm mục đích kiếm lời

Trang 36

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư

1.3.1 Yếu tố khách quan

- Trong qúa trình tham gia đầu tư chứng khoán, nhu cầu đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư chịu ảnh hưởng không nhỏ của yếu tố chính sách huy động vốn của nhà nước: Đây là yêu tố có tác động mạnh mẽ đến nhu cầu đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư Hiện tại Nhà nước đã ban hành tương đối đầy đủ các quy định về pháp luật cũng như những kế hoạch, giải pháp cần thiết cho việc tái cấu trúc thị trường chứng khoán Mới đây,

Ủy ban Chứng khoán Nhà nước đã khai trương Hệ thống giám sát giao dịch chứng khoán trên thị trường chứng khoán Việt Nam Đây là công cụ hỗ trợ tích cực cho công tác giám sát của cơ quan quản lý đối với các giao dịch trên thị trường, giúp kịp thời phát hiện các dấu hiệu giao dịch bất thường, xây dựng hệ thống báo cáo, cảnh báo sớm nhằm ngăn chặn các hành vi vi phạm Qua đó tăng cường bảo vệ các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán những ngày gần đây thị trường đón nhận khá nhiều thông tin tích cực như gói hỗ trợ mua nhà với lãi suất 6%, đề xuất giảm thuế cho DN… Như vậy là nhà nước đã có hàng loạt những chính sách tích cực nhằm vực dậy thị trường chứng khoán điều này sẽ là một trong những điều thuận lợi thúc đẩy nhà đầu tư tham ga đầu tư để đi đến việc thỏa mãn nhu cầu đầu tư của mình

- Tình hình kinh tế thế giới và Việt Nam: Là một trong những yếu tố

ảnh hưởng nghiêm trọng nhất đến nhu cầu đầu tư chứng khoán của nhà đầu

tư, hàng loạt những hệ lụy từ cuộc suy thoái kinh tế thế giới đã ảnh hưởng lớn đến thi ̣ trường của nhiều quốc gia , trong đó có Viê ̣t Nam và kênh đầu tư chứng khoán sụp đổ là mô ̣t điều không bất ngờ Kể từ năm 2007 đến nay tình hình thế giới có nhiều biến động phần nào đó đã ảnh hưởng đến thị

Trang 37

trường tài chính , và thị trường chứng khoán là nạn nhân của việc suy thoái kinh tế này Theo Hiê ̣p hô ̣i kinh doanh chứng khoán Viê ̣t N am, viê ̣c kênh đầu tư này rơi vào tình hình như hiê ̣n nay có rất nhiều nguyên nhân , nhưng chủ yếu do tác động của suy thoái kinh tế thế giới đã ảnh hưởng lớn đến thị trường chứng khoán của nhiều quốc gia , trong đó có thi ̣ trư ờng Việt Nam Như vậy nếu muốn nhu cầu đầu tư được thỏa mãn thì nhà đầu tư cần phải

có những đầu tư thành công trên thị trường chứng khoán, mà muốn đầu tư thành công thì thị trường chứng khoán phải phát triển và như một tất yêu khách quan thị trường chứng khoán muốn phát triển thì trước tiên phải có một nền kinh tế phát triển điều đó có nghĩa là nếu như nền kinh tế rơi vào khủng hoảng thì thị trường chứng khoán cũng khủng hoảng và như vậy là nhu cầu đầu tư của nhà đầu tư không được thực hiện được

- Nguồn vốn từ các ngân hàng: Trong quá trình đầu tư chứng khoán

dài hạn và ngắn hạn, nhà đầu tư dù không muốn sử dụng đòn bẩy tài chính, cũng cần phải nắm được tình hình cho vay đầu tư chứng khoán để làm căn

cứ nhận định đúng tình hình thị trường, cũng như có thể xác định tổng quan quan hệ cung cầu của thị trường tại từng thời điểm

Hầu như tất cả các công ty chứng khoán (CTCK) đều đi vay tiền ngân hàng để phục vụ cho việc kinh doanh chứng khoán của doanh nghiệp, ngoài việc dành khoản tín dụng lớn cho nhà đầu tư, các CTCK cũng dùng khoản tiền vay đáng kể để hoạt động tự doanh Đa phần các nhà đầu tư cá nhân trong nước (thường là có kinh nghiệm đầu tư chứng khoán) đều đi vay tiền để đầu tư chứng khoán dưới nhiều hình thức như nêu trên

Hoạt động tín dụng đầu tư chứng khoán phát triển ở thị trường 0TC, thị trường giao dịch tập trung và thị truờng đấu giá cổ phần các doanh nghiệp nhà nước cổ phần hoá Trong giai đoạn này có lẽ mọi nhà đầu tư đều tích cực đầu tư chứng khoán, đều tìm cách gia tăng các khoản tín dụng

Trang 38

vì cứ có tín dụng là gặt hái được lợi nhuận dễ dàng mà ít người nghĩ tới những tình huống nguy hiểm sẽ xảy ra Việc sử dụng đòn bẩy tài chính đã làm cho nhiều nhà đầu tư và một số công ty chứng khoán liên tục gặt hái được lợi nhuận không ngừng, nhất là trong các năm từ 2005, 2006, 2007, bởi vì khởi đầu cho giai đoạn này Vn Index ở mức rất thấp, cộng với nhiều

sự thay đổi có tính bước ngoặt về chính sách cho môi trường đầu tư chứng khoán

Tuy nhiên khi thị trường bắt đầu lao dốc, những đối tượng nhà đầu

tư đã từng có kinh nghiệm sâu sắc về cầm cố chứng khoán trong cuộc khủng hoảng lần thứ nhất của thị trường chứng khoán Việt Nam ( 2001 - 2002) nhanh chóng cơ cấu lại danh mục đầu tư và cơ cấu nguồn vốn, tích cực thanh lý cổ phiếu để trả nợ ngân hàng thì bị ảnh huởng không nhiều Nhiều nhà đầu tư không tỉnh táo, không tích cực tất toán các khoản nợ, thậm chí cón gia tăng các khoản nợ khi TTCK tụt dốc thì tài sản của họ cũng nhanh chóng bị bốc hơi, một số nhà đầu tư mới chưa có kinh nghiệm

đã lâm vào hoàn cảnh tiền bán chứng khoán không đủ trả ngân hàng đã buộc phải bán nhà để trả nợ

Phong trào đi vay tiền để đầu tư chứng khoán đã tác động đến kinh tế

vỹ mô: Đây là một trong những nguyên nhân cơ bản gây ra lạm phát, bởi vì

từ tín dụng dễ dàng trong đầu tư chứng khoán, dẫn tới TTCK phát triển nóng, từ đó hệ thống doanh nghiệp và hệ thống các ngân hàng dễ dàng huy động được vốn và dẫn tới nhu cầu đầu tư và tiêu dùng tăng đột biến Gây

ra những rủi ro hệ thống như làm cho TTCK bất ổn định, nhiều nhà đầu tư thua lỗ hay hệ thống ngân hàng bị đe dọa nợ xấu tăng Điều đó ảnh hưởng lớn tới nhu cầu đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư

1.3.2 Yếu tố chủ quan

Trang 39

- Nhận thức của nhà đầu tư: Đây là yếu tố có thể nói là quan trọng

nhất sẽ ảnh hưởng lớn đến nhu cầu đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư bởi

lẽ, nhận thức có vai trò quan trọng trong mọi hoạt động của con người, thông qua hoạt động nhận thức con người xã hội hóa bản thân tạo nên bộ mặt nhân cách của chính mình, Nhu cầu của con người nảy sinh được thỏa mãn và phát triển như thế nào phụ thuộc vào chính nhận thức của chủ thể đối với đối tượng của nhu cầu đó Như vậy đối với các nhà đầu tư chứng khoán thì việc nhận thức về đầu tư cũng là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến nhu cầu đầu tư của họ Nếu họ nhận thức đúng đắn về đầu tư chứng khoán thì họ sẽ có mong muốn được tìm hiểu về chứng khoán cũng như đầu tư chứng khoán, và chính những kiến thức họ tiếp thu được sẽ thôi thúc

họ đòi hỏi cần được thỏa mãn mong muốn đó Còn ngược lại nếu họ coi đầu tư chứng khoán không phải là công việc quan trọng thì họ sẽ đầu tư với tâm lý “đầu tư cho vui” nên không có mong muốn tìm hiểu về chứng khoán

mà sẽ a dua theo đám đông Nếu đám đông thành công thì nhu cầu của họ được thỏa mãn, còn nếu đám đông thất bại đồng nghĩa với việc họ thất bại thì tất yếu nhu cầu của họ sẽ không được thỏa mãn

- Sở thích: “Nếu được làm việc mình thích thì tiền sẽ nhanh chóng

về túi bạn” đây là một câu nói mà vô tình tôi đã đọc được trên một bài báo viết về những người thành công trong kinh doanh Đấy là lý do vì sao mà

sở thích lại là một trong những yếu tố chủ quan có ảnh hưởng đến nhu cầu đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư Khi nhà đầu tư tham gia đầu tư chứng khoán vì sở thích sẽ khác với nhà đầu tư tham gia đầu tư chỉ vì muốn kiếm lời Trong bất kể một hoạt động nào nếu chủ thể yêu thích hoạt động đó thì

họ sẽ làm việc rất hăng say và không biết đến mệt mỏi, ngược lại với những hoạt động không yêu thích thì họ sẽ không muốn làm và có làm cũng chỉ là đối chiều cho qua có thể lấy một ví dụ minh họa đó là với công

Trang 40

việc học tập với một sinh viên yêu thích hay có hứng thú với việc học thì sinh viên đó sẽ luôn dành thời gian cho việc học và sẽ học không biết mệt mỏi và tất nhiên sinh viên đó sẽ đạt được kết quả cao trong việc học tập của mình, còn với sinh viên mà không có hứng thú hay yêu thích công việc học thì sẽ không học, kết qua là không đạt kết quả trong học tập Như vậy quay lại với đầu tư chứng khoán nếu nhà đầu tư tham gia đầu tư với niềm đam

mê hay là sở thích thì họ sẽ bỏ công sức của mình ra để tìm hiểu về chứng khoán cũng như thị trường chứng khoán, về các cổ phiếu cũng như là các công ty chào bán cổ phiếu ấy và đầu tư với chiến lược được phân rích kỹ càng, khác với nhà đầu tư chỉ đầu tư vì muốn có lợi nhuận họ sẽ đầu tư theo tâm lý trông chờ vào sự may rủi và a dua theo đám đông, điều này sẽ không đem lại thành công cho họ điều đó dẫn đến việc nhu cầu đầu tư chứng khoán của họ không được thỏa mãn

- Động cơ: Động cơ là đối tượng của nhu cầu là cái thúc đẩy chủ thể

hành động nhằm hướng đến việc thỏa mãn nhu cầu của chủ thể, và với nhu cầu đầu tư chứng khoán thì tùy vào mỗi nhà đầu tư mà có những động cơ khác nhau chẳng hạn có nhà đầu tư tham gia vào hoạt động đầu tư vì lợi nhuận, có nhà đầu tư tham gia vì muốn được giầu nhanh chóng, có nhà đầu

tư vì muốn thể hiện đẳng cấp, có nhà đầu tư vì niềm đam mê với chứng khoán Khi nhà đầu tư muốn được giầu nhanh chóng họ tìm cách để đạt được mong muốn ấy và việc đầu tiên họ sẽ làm đó là tìm hiểu xem lĩnh vực nào có thể giúp họ làm giầu nhành chóng được và nếu đầu tư chứng khoán

sẽ giúp họ thực hiện được mong muốn đó tức thì cái động cơ được giầu nhanh chóng sẽ thúc đẩy họ tiến hành hành động như tìm hiểu về chứng khoán về đầu tư chứng khoán về thị trường chứng khoán để từ đi đến tìm hiểu những công ty mà mình muốn mua cổ phiếu sau đó đưa ra những phân tích nhận định dựa trên cở sở những gì mình đã tìm hiểu từ đó có những quyết định đầu tư nhằm thỏa mãn nhu cầu mong muốn được giầu nhanh

Ngày đăng: 23/03/2015, 13:56

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. C.M ac và Awnghen. 1890. Toàn tâp, tập 1, NXB Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tâp, tập 1
Nhà XB: NXB Sự thật
2. Hoàng Diệu Anh. 2009. Nhu cầu âm nhạc của sinh viên. Luận văn thạc sỹ tâm lý học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhu cầu âm nhạc của sinh viên
7. Hà Thị Bình Hoa. 2000. Tìm hiểu thông tin của khách thể truyền thông. Luận án tiến sĩ tâm lý học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu thông tin của khách thể truyền thông
8. B.Ph. Lomov. 2001. Những vấn đề lý luận và phương pháp luận của tâm lý học. NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề lý luận và phương pháp luận của tâm lý học
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
12. Nguyễn Hữu Thụ. 2009. Tâm lý học Quản trị kinh doanh, NXB Đại học Quốc gia Hà Nôi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học Quản trị kinh doanh
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nôi
13. Nguyễn Hữu Thụ 2005. Tâm lý hoc tuyên truyền quảng cáo, NXB Đại học Quốc gia Hà Nôi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý hoc tuyên truyền quảng cáo
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nôi
14. Lã Thị Thu Thủy. 2006. Nhu cầu thành đạt của tri thức trẻ, Luận án tiến sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhu cầu thành đạt của tri thức trẻ
15. Nguyễn Xuân Thức. 2007. Tâm lý học đại cương, NXB Đại học sƣ phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học đại cương
Nhà XB: NXB Đại học sƣ phạm Hà Nội
16. A.G Kovalio. 1976. Tâm lý hoc xã hội, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý hoc xã hội
Nhà XB: NXB Giáo dục
17. Nguyễn Quang Uẩn. 2006. Tâm lý học đại cương NXB Đại học sƣ phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học đại cương
Nhà XB: NXB Đại học sƣ phạm Hà Nội
18. A.N, Leontiev. 1989. Hoạt động – ý thức – Nhân cách, NXB Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoạt động – ý thức – Nhân cách
Nhà XB: NXB Giáo dục Hà Nội
19. David Brown – Kassandra Bentley. 2009. Chiến lược đâu tư chứng khoán. NXB Lao Động- Xã Hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược đâu tư chứng khoán
Nhà XB: NXB Lao Động- Xã Hội
20. Nguyễn Đình Xuân. 1998. Tâm lý học quản trị kinh doanh. NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học quản trị kinh doanh
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
21. V.I. Lê-bê-đép. 1989. Tâm lý xã hội trong quản lý. NXB Sự thật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý xã hội trong quản lý
Nhà XB: NXB Sự thật

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1. Sơ đồ thứ  bậc nhu cầu của Maslow - Nhu cầu tham gia chứng khoán của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán HASTC
Hình 1. Sơ đồ thứ bậc nhu cầu của Maslow (Trang 14)
Bảng 3.1. Nhận thức của nhà đầu tư về tầm quan trọng của thị trường  chứng khoán - Nhu cầu tham gia chứng khoán của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán HASTC
Bảng 3.1. Nhận thức của nhà đầu tư về tầm quan trọng của thị trường chứng khoán (Trang 55)
Bảng 3.3. Nhận thức của nhà đầu tƣ về đầu tƣ chứng khoán - Nhu cầu tham gia chứng khoán của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán HASTC
Bảng 3.3. Nhận thức của nhà đầu tƣ về đầu tƣ chứng khoán (Trang 63)
Bảng 3.4. Mục đích của nhà đầu tƣ khi tham gia đầu tƣ chứng khoán - Nhu cầu tham gia chứng khoán của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán HASTC
Bảng 3.4. Mục đích của nhà đầu tƣ khi tham gia đầu tƣ chứng khoán (Trang 68)
Bảng 3.6. Hành động của nhà đầu tƣ để lấy thông tin về thị  trường chứng khoán - Nhu cầu tham gia chứng khoán của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán HASTC
Bảng 3.6. Hành động của nhà đầu tƣ để lấy thông tin về thị trường chứng khoán (Trang 78)
Bảng 3.7. Sử dụng công cụ để tìm hiểu về mã chứng khoán - Nhu cầu tham gia chứng khoán của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán HASTC
Bảng 3.7. Sử dụng công cụ để tìm hiểu về mã chứng khoán (Trang 80)
Bảng 3.8. Định hướng hành động của nhà đầu tư khi lựa trọn  chứng khoán - Nhu cầu tham gia chứng khoán của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán HASTC
Bảng 3.8. Định hướng hành động của nhà đầu tư khi lựa trọn chứng khoán (Trang 82)
Bảng 3.10: Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình đầu tư của nhà đầu tư - Nhu cầu tham gia chứng khoán của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán HASTC
Bảng 3.10 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình đầu tư của nhà đầu tư (Trang 88)
Bảng 3.11: Hành vi của nhà đầu tƣ khi thấy cổ phiếu của công ty  mình đang đầu tư được nhiều người bán ra - Nhu cầu tham gia chứng khoán của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán HASTC
Bảng 3.11 Hành vi của nhà đầu tƣ khi thấy cổ phiếu của công ty mình đang đầu tư được nhiều người bán ra (Trang 89)
Bảng 3.13. Những khó khăn và thuận lợi. - Nhu cầu tham gia chứng khoán của nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán HASTC
Bảng 3.13. Những khó khăn và thuận lợi (Trang 95)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm