1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tìm hiểu thái độ của người dân Hà Nội với loại hình bảo hiểm nhân thọ

113 697 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 113
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhằm tìm ra những yếu tố tâm lý đã tạo ra thái độ tiêu cực, hoài nghi của người dân với loại hình BHNT Từ đó đề xuất những kiến nghị giúp các nhà quản lý có những chiến lược thúc đẩy nhi

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

VŨ THẾ THƯỜNG

Tìm hiểu thái độ của người dân Hà Nội với

loại hình bảo hiểm nhân thọ

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

Người hướng dẫn: TS NGUYỄN HỮU THỤ

HÀ NỘI - 2003

Trang 2

dự định lớn trong cuộc sống (như mua nhà, mua xe, cho con học đại học, mở rộng ngành nghề kinh doanh) Loại hình này còn giúp gia đình giảm bớt những khó khăn về tài chính khi rủi ro xảy ra (tai nạn, bệnh tật ), hoặc đảm bảo thu nhập ổn định khi hết tuổi lao động Đối với xã hội, loại hình BHNT là một kênh tập trung nguồn vốn nhàn rỗi trong nhân dân để đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội Đây là nguồn vốn trung và dài hạn rất quan trọng để đầu tư phát triển, đặc biết với những nước có nền kinh tế đang phát triển như ở nước

ta BHNT còn là một hình thức tạo quỹ phúc lợi xã hội, hỗ trợ tài chính cho các hoạt động xã hội, hoạt động từ thiện và tạo việc làm cho người lao động

Nhận thức được vai trò và ý nghĩa của loại hình BHNT, năm 1996, Đảng và Nhà nước ta đã cho phép triển khai hoạt động kinh doanh BHNT Nếu như thời gian đầu chỉ có duy nhất Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam thì đến nay (đầu năm 2003), trên thị trường BHNT nước ta chính thức có 5 doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực này (có cả doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp nước ngoài, và doanh nghiệp liên doanh) Sau hơn 6 năm hoạt động loại hình BHNT đã thu được những thành quả nhất định: tăng trưởng khá, các sản phẩm ngày càng đa dạng, chất lượng phục vụ ngày càng được nâng cao Nhưng theo con số thống kê của ngành bảo hiểm thì tính tới cuối năm 2002 số người tham gia BHNT ở nước ta mới chỉ chiếm gần 2% dân số

và số người tham gia chủ yếu chỉ tập trung ở một số thành phố lớn là Hà Nội

Trang 3

6

và Thành phố Hồ Chí Minh Tỷ lệ người dân tham gia BHNT, tỷ lệ doanh thu phí BHNT ở nước ta thấp hơn nhiều so với những nước trong khu vực và thế giới Như năm 2002 vừa qua, tổng doanh thu phí BHNT ở nước ta mới chỉ chiếm 0,97% GDP, trong khi tỷ lệ này ở Đài Loan là 6,9%, Xingapo là 5,52%, Thái Lan là 2,25%, Trung Quốc là 1,5% Trung bình một người dân Việt Nam năm 2002 đã tiêu dùng 4 USD/năm cho BHNT, trong khi đó ở Trung Quốc là 10 USD, Thái Lan là 30 USD, Hàn Quốc là 903 USD

Theo những chuyên gia trong lĩnh vực BHNT những thành quả đã đạt được trong những năm vừa qua chưa tương xứng với tiềm năng thực sự của thị trường BHNT nước ta Vậy nguyên nhân nào đã làm cho người dân chưa tham gia BHNT, trong khi loại hình này có những ý nghĩa to lớn với cuộc sống của con người như vậy? Điều kiện cần và đủ để người dân tham gia BHNT là:

- Có hiểu biết về loại hình BHNT

- Có niềm tin vào loại hình BHNT

- Là đối tượng của loại hình BHNT

- Có khả năng tài chính nhất định

Khái quát lại thì đó là hai yếu tố: thái độ của con người với loại hình BHNT và vấn đề tài chính Chúng tôi cho rằng loại hình BHNT cũng là một sản phẩm tiêu dùng, hành vi tham gia BHNT cũng có cấu trúc tâm lý của hành vi mua hàng, hành vi tiêu dùng sản phẩm Hơn nữa, loại hình BHNT là loại dịch vụ đặc biệt, là sản phẩm vô hình, vì vậy thái độ của người dân với loại hình này có ảnh hưởng rất lớn tới hành vi tham gia hay không tham gia BHNT

Với những những ý nghĩa đó chúng tôi đã chọn nghiên cứu đề tài “Tìm hiểu thái độ của người dân Hà Nội với loại hình Bảo hiểm nhân thọ”

2 Ý nghĩa của đề tài

2.1 Về mặt lý luận

Trang 4

Chúng tôi thực hiện nghiên cứu này nhằm xác định rõ vai trò của thái

độ đối với quyết định tham gia BHNT của người dân

2.2 Về mặt thực tiễn

Nghiên cứu này tìm hiểu thực trạng thái độ của người dân Hà Nội đối với loại hình BHNT đang được triển khai trên địa bàn Hà Nội nói riêng và trên phạm vi cả nước nói chung

Nhằm tìm ra những yếu tố tâm lý đã tạo nên thái độ tích cực, tin tưởng của người dân với loại hình BHNT

Nhằm tìm ra những yếu tố tâm lý đã tạo ra thái độ tiêu cực, hoài nghi của người dân với loại hình BHNT

Từ đó đề xuất những kiến nghị giúp các nhà quản lý có những chiến lược thúc đẩy nhiều người dân tự nguyện tham gia BHNT hơn nữa (cũng là làm cho mọi người dân có một tương lai an toàn hơn) Những điều đó cũng góp phần thúc đẩy ngành BHNT nước ta tăng trưởng, phát triển tương xứng với những tiềm năng thực sự của thị trường Tạo ra nguồn vốn quan trọng để thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước

3 Giả thuyết nghiên cứu

Phần lớn người dân Hà Nội có thái độ tích cực đối với loại hình BHNT Thái độ đối với loại hình BHNT bị quy định bởi rất nhiều các yếu tố khách quan và tâm lý chủ quan nhưng các yếu tố tâm lý chủ quan đóng vai trò quyết định (nhận thức niềm tin, nhu cầu, động cơ) Người dân Hà Nội cũng có thái

độ khác nhau đối với các doanh nghiệp BHNT khác nhau

4 Mục tiêu nghiên cứu

Trang 5

8

Khái quát hoá những vấn đề lý luận, làm sáng tỏ một số khái niệm trong phạm vi đề tài nghiên cứu (Thái độ, nhận thức, xúc cảm tình cảm, Bảo hiểm nhân thọ)

Tìm hiểu thái độ với loại hình BHNT của người dân Hà Nội thông qua nhận thức của họ về loại hình này

Tìm hiểu thái độ với loại hình BHNT của người dân Hà Nội thông qua xúc cảm, tình cảm của họ đối với loại hình này

Tìm hiểu thái độ của người dân Hà Nội với loại hình BHNT biểu hiện

ở những hành vi của họ đối với loại hình này

Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng tới thái độ của người dân với loại hình BHNT

Tìm hiểu những nguồn thông tin chủ yếu giúp người dân Hà Nội có nhận thức đầy đủ, đúng đắn về loại hình BHNT

Đề xuất những kiến nghị tạo cơ sở về mặt tâm lý học giúp các công ty bảo hiểm có những chính sách, chiến lược tạo ra thái độ tích cực, tin tưởng với loại hình BHNT

5 Đối tƣợng, khách thể nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Thái độ với loại hình Bảo hiểm nhân thọ

và Đông Anh Ở mỗi quận, huyện chúng tôi chọn 50 người đã tham gia (địa chỉ do công ty bảo hiểm cung cấp) và 50 người chưa tham gia (chọn những

Trang 6

9

khách thể có điều kiện kinh tế) Trong gần 400 khách thể đó gồm: công nhân, nông dân, trí thức, những người buôn bán, trong độ tuổi từ 20 - 60 (độ tuổi này họ có khả năng về tài chính và tư cách pháp nhân để tham gia BHNT) Chúng tôi còn tiến hành nghiên cứu trên hơn 100 khách thể phụ là những cán bộ quản lý, cán bộ tư vấn thuộc Công ty Bảo Việt nhân thọ Hà Nội

và chi nhánh Công ty Prudental tại Hà Nội, với mục đích thu thập thông tin để

so sánh, đối chiếu, kiểm chứng những thông tin thu được từ phiếu trưng cầu ý kiến và phỏng vấn người dân

7 Các phương pháp nghiên cứu

7.1 Phương pháp quan sát

Chúng tôi sử dụng những phương pháp quan sát để có những định hướng ban đầu về khách thể, kiểm tra giả thiết và chính xác hoá những kết quả thu được bằng những phương pháp khác Quan sát những hành động ngôn ngữ và phi ngôn ngữ của khách thể kết hợp cùng với phương pháp phỏng vấn và điều tra bằng bảng hỏi Chúng tôi đã tiến hành quan sát hoạt động nói, nội dung lời nói và các biểu hiện cử chỉ nét mặt của người dân khi được cán bộ tư vấn tiếp xúc mời tham gia BHNT Những quan sát này đều được chúng tôi ghi chép lại

7.2 Phương pháp phân tích tài liệu

Chúng tôi đã tham khảo các các tài liệu trong nước và nước ngoài có liên quan đến vấn đề nghiên cứu để xây dựng cơ sở lý luận cho việc triển khai nghiên cứu thực tiễn Căn cứ vào các tài liệu tâm lý học, các tài liệu của các công ty bảo hiểm, ngành bảo hiểm để tìm hiểu, đánh giá vấn đề thái độ của người dân Hà Nội với loại hình BHNT Cụ thể chúng tôi tiến hành đọc, phân tích và khái quát hoá các quan điểm, lý thuyết cơ bản về thái độ và các công trình nghiên cứu về thái độ trước đó Mục đích nhằm phỏng đoán đưa ra giả thiết khoa học, xác nhận về mặt lý thuyết các giả thuyết đã đặt ra không trái với những kết luận đã được công bố về mặt lý thuyết Xây dựng cơ sở lý luận

Trang 7

7.4 Phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi

Phương pháp này được sử dụng để thu thập những thông tin cần thiết thông qua những câu hỏi được xây dựng cho phép đánh giá và xác định được mối quan hệ, liên hệ của các mặt biểu hiện của thái độ là nhận thức, xúc cảm tình cảm và hành vi

Ngoài ra phương pháp này cũng được sử dụng nhằm chính xác thêm,

mở rộng thêm và kiểm tra những thông tin, số liệu đã thu được thông qua những phương pháp khác

Bảng hỏi gồm 24 câu được thiết kế như sau:

- Các câu hỏi làm rõ nhận thức, quan điểm, đánh giá của họ về loại hình

BHNT ( câu 1, câu 3, câu 4, câu 5, câu 6, câu 7, câu 8, câu 9, câu 10, câu 11)

- Các câu hỏi làm rõ những nguồn thông tin chủ yếu để họ có nhận thức

về loại hình BHNT (câu 2)

- Các câu hỏi làm rõ xúc cảm, tình cảm của họ đối với loại hình BHNT

(câu 12, câu 13, câu 14, câu 15, câu 21, câu 23)

- Các câu hỏi làm rõ về những hành vi, ứng xử của họ với loại hình BHNT (câu 16, câu 17, câu 18, câu 19, câu 20, câu 22)

Trang 8

11

- Các câu hỏi về thông tin liên quan đến bản thân khách thể như giới tính, lứa tuổi, nghề nghiệp, tình trạng gia đình, thu nhập bình quân hàng tháng (câu 24)

Trong các câu hỏi của phiếu trưng cầu ý kiến này, chúng tôi đã sử dụng đan xen các câu hỏi đóng và câu hỏi mở Trong một số câu hỏi đóng cũng có phương án trả lời mở để người dân tự do nói lên những ý kiến, quan điểm riêng và bộc lộ những xúc cảm, tình cảm chân thực của mình

Chúng tôi còn lập ra một bảng hỏi dùng cho cán bộ quản lý, cán bộ tư vấn của các công ty BHNT, nhằm kiểm chứng những thông tin thu được qua điều tra những người dân Cán bộ quản lý, cán bộ tư vấn đánh giá thái độ của người dân Hà Nội với loại hình BHNT như thế nào Đánh giá nguyên nhân chính (động cơ) thúc đẩy người dân tham gia hoặc không tham gia Nêu lên những khó khăn họ gặp phải trong công việc mời người dân tham gia BHNT Đề

xuất những ý kiến nhằm tạo ra thái độ tích cực với loại hình BHNT ở người dân

7.5 Phương pháp sử dụng thống kê toán học trong nghiên cứu tâm

lý học

Chúng tôi sử dụng phương pháp này để thực hiện các bước trong việc phân tích thống kê như : liệt kê dữ liệu, lập bảng số liệu, biểu đồ và các thống kê suy luận Mục đích nhằm minh chứng các giả thiết, các quan điểm về mặt định lượng và trên cơ sở đó rút ra những kết luận về vấn đề nghiên cứu của mình

Trang 9

1.1.1.Sơ lƣợc lịch sử nghiên cứu vấn đề thái độ

Trong tâm lý học, đặc biệt là tâm lý học xã hội vấn đề thái độ đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà tâm lý học, cả các nhà tâm lý học phương Tây, các nhà tâm lý học Mỹ cũng như các nhà tâm lý học mácxit Năm 1985, nhà tâm lý học người Mỹ William McGuire đã tổng kết: “Thái độ

và sự thay đổi thái độ vẫn là một trong những đề tài được nghiên cứu nhiều nhất trong tâm lý học xã hội”{8,318} Trong lịch sử nghiên cứu về vấn đề thái

độ cho đến nay đã xuất hiện nhiều trường phái, nhiều quan điểm khác nhau

a) Nghiên cứu vấn đề thái độ trong tâm lý học phương Tây

Khi phân tích lịch sử nghiên cứu về vấn đề thái độ ở phương Tây, nhà tâm lý học người Nga P.N Shikhirev đã chia quá trình này thành 3 thời kỳ [8,318]

* Thời kỳ thứ nhất: (từ khi khái niệm thái độ được sử dụng đầu tiên vào năm 1918 đến trước chiến tranh thế giới thứ hai) đây là thời kỳ phát triển mạnh mẽ, với nhiều công trình nghiên cứu tập trung chủ yếu vào định nghĩa, cấu trúc, chức năng của thái độ và mối quan hệ giữa thái độ với hành vi

* Thời kỳ thứ hai: (từ chiến tranh thế giới lần thứ hai đến cuối những năm 1950) vì lý do chiến tranh diễn ra trên toàn thế giới, cùng với sự bế tắc của quá trình lý giải các nghịch lý nảy sinh trên toàn thế giới, và những nghịch lý nảy sinh trong khi nghiên cứu thái độ, nên trong thời kỳ này các công trình nghiên cứu về thái độ giảm sút cả về số lượng lẫn chất lượng

* Thời kỳ thứ ba: (từ cuối những năm 1950 trở lại đây) các nước phương Tây phục hồi và phát triển trở lại sau chiến tranh, các công trình

Trang 10

13

nghiên cứu về thái độ cũng được tiếp tục với nhiều ý tưởng, quan điểm mới Tuy nhiên, thời gian này những nghiên cứu về thái độ cũng lâm vào tình trạng khủng hoảng

Năm 1918 hai nhà tâm lý học người Mỹ là W.I Thomas và F Znaniecki

là người đầu tiên đã đưa ra và sử dụng khái niệm thái độ trong nghiên cứu của mình về những người nông dân Ba Lan Năm 1934 La Piere đã tiến hành thí nghiệm và đưa ra kết luận đầy kinh ngạc: ông đã chứng minh những gì chúng ta nói và những gì chúng ta làm (tức là thái độ và hành vi của cá nhân trong cùng một trường hợp) đôi khi lại rất khác nhau Sau này được gọi là

“Nghịch lý La Piere” khi nói tới không có quan hệ nhân quả giữa thái độ và hành vi Kết luận của La Piere và tác động của chiến tranh thế giới lần thứ hai

đã làm cho các nhà tâm lý học Phương tây hoài nghi từ đó làm giảm sự quan tâm của họ đối với vấn đề thái độ Nhưng sau chiến tranh thế giới thứ hai nhiều nhà tâm lý học lại quan tâm nghiên cứu về thái độ, vào năm 1957 có một nghiên cứu lý giải tại sao hành vi lại ảnh hưởng tới thái độ của con người

đó là thuyết “bất đồng nhận thức” của Leon Festinger Các nhà tâm lý học

Mỹ và phương Tây còn nghiên cứu các khía cạnh khác của thái độ như vai trò, chức năng, cấu trúc của thái độ đó là các nghiên cứu của M Rokeach (1968), T.M Ostrom (1969), Mc Guire (1969), I.J Rempell (1988) đến năm

1972 có một học thuyết nghiên cứu về mối quan hệ giữa thái độ và hành vi con người đó là “thuyết tự nhận thức” của Daryl Bern Hai học thuyết của L Festinger và Daryl Bern đã có ảnh hưởng lớn tới những nghiên cứu về thái độ sau này ở Mỹ và phương Tây

b) Nghiên cứu vấn đề thái độ ở Liên Xô (trước đây)

Trong tâm lý học Liên Xô (trước đây) có ba học thuyết có ảnh hưởng rất lớn tới những nghiên cứu về vấn đề thái độ là: Thuyết tâm thế của D.N Uznatze, Thuyết định vị của V.A Iadov và Thuyết thái độ nhân cách của V.N Miaxisev

* Thuyết tâm thế

Trang 11

14

Dựa vào cơ sở thực nghiệm, D.N Uznatze đã đề ra “học thuyết tâm thế”, khái niệm thái độ (được nhiều người dịch là tâm thế) trong học thuyết

của Uznatze được hiểu là sự biến dạng hoàn chỉnh của chủ thể Theo ông tâm

thế là trạng thái trọn vẹn của khách thể sẵn sàng tri giác các sự kiện và thực hiện các hành động theo một hưóng nhất định Tâm thế là trạng thái sẵn sàng

hướng tới một hoạt động nhất định, là cơ sở của tính tích cực có chọn lọc, có định hướng của chủ thể Tâm thế xuất hiện khi có sự “tiếp xúc” giữa nhu cầu

và các tình huống thoả mãn nhu cầu, giúp cá nhân thích ứng được với các điều kiện của môi trường

D.N Uznatze đã dùng khái niệm “tâm thế” với tư cách là khái niệm trung tâm, nhằm khắc phục tính đơn giản và quan điểm cơ học trực tiếp của hành vi trong tâm lý học truyền thống và tâm lý học hành vi và đưa ra phương pháp củng cố và thay đổi tâm thế

Tuy nhiên khái niệm tâm thế mà Uznatze sử dụng lại là cái vô thức để giải thích hành vi con người Ông chỉ mới đề cập đến quá trình hiện thực hoá các nhu cầu sinh lý mà không tính đến các hình thức hoạt động phức tạp, cao cấp khác của con người, không tính đến tác động của các yếu tố xã hội cũng như vai trò của quá trình lĩnh hội kinh nghiệm xã hội tới việc quy định hành

vi của con người Nhưng với những phát hiện mới “thuyết tâm thế” đã đóng vai trò là phương pháp khoa học cụ thể cho nhiều lĩnh vực cụ thể của tâm lý học

* Thuyết định vị của V A Iadov

V A Iadov đã dựa vào và phát triển “Thuyết tâm thế” của D.N

Uznatze để đưa ra “Thuyết định vị” của mình, V.A Iadov cho rằng: Con

người có một hệ thống các định vị khác nhau, rất phức tạp và hành vi của con người bị điều khiển bởi các tổ chức định vị này [8.324] Theo V A Iadov, tâm thế của D N Uznatze chỉ là các định vị ở bậc thấp nhất, nó chỉ được hình thành khi có sự tiếp xúc giữa nhu cầu sinh lý và đối tượng cần thoả mãn nhu

cầu đó, đây chỉ là các định vị điều chỉnh hành vi, phản ứng của cá nhân trong

Trang 12

15

các tình huống đơn giản nhất Ở bậc cao hơn các định vị phức tạp hơn, được hình thành trên cơ sở các hoạt động, giao tiếp của con người trong nhóm nhỏ Trên cấp bậc này là các định vị được hình thành trên cơ sở cũng như

những định hướng, sở thích được hình thành trên cơ sở cũng như những định hướng, sở thích được hình thành trong các lĩnh vực xã hội cụ thể Còn cấp bậc cao nhất của định vị, theo V.A Iadov đã tạo nên sự định hướng giá trị của nhân cách, có tác dụng điều chỉnh hành vi và hoạt động trong những tình huống mà tính tích cực có giá trị nhất đối với nhân cách Như vậy, có thể thấy

hệ thống “định vị” có thứ bậc từ thấp đến cao, điều chỉnh hành vi của cá nhân trong các điều kiện xã hội ngày càng mở rộng và ổn định hơn Từ hệ thống định vị chúng ta có thể lý giải một cách hợp lý hành vi xã hội của cá nhân

“Thuyết định vị” đã nghiên cứu thái độ ở một góc nhìn hoàn toàn mới, nó đã thiết lập được mối liên hệ giữa những cách tiếp cận hành vi của nhân cách từ các góc độ khác nhau như tâm lý học đại cương, tâm lý học xã hội

Tuy nhiên, thiếu sót chủ yếu của V.A Iadov là đã không làm rõ khái niệm “định vị” là gì, đồng thời cũng không chỉ ra được cơ chế điều chỉnh hành vi bằng các “định vị” trong những tình huống xã hội cụ thể

* Thuyết thái độ nhân cách

Thuyết “Thái độ nhân cách” của V N Miaxisev cho rằng nhân cách là một hệ thống thái độ Theo ông phản xạ có điều kiện chính là cơ sở sinh lý học của thái độ có ý thức của con người với hiện thực V.N Miaxisev chia thái độ ra làm hai loại: tích cực và tiêu cực Cùng với các quá trình, các trạng thái, các thuộc tính tâm lý, thái độ là một trong những hình thức thể hiện tâm

lý người Tuy nhiên, ông lại cho rằng các quá trình tâm lý, nhu cầu, thị hiếu, hứng thú, tình cảm, ý chí… đều là thái độ Có thể thấy việc xếp ngang hàng các quan hệ xã hội với thái độ là chưa thoả đáng, cũng như coi các thuộc tính tâm lý của nhân cách là thái độ cũng chưa có cơ sở Tuy vậy, V.N Miaxisev vẫn là một trong những người đặt nền móng cho tâm lý học theo quan điểm mácxit

Trang 13

16

Tóm lại, khi nghiên cứu các vấn đề của thái độ, các nhà tâm lý học Xô viết đã vận dụng cách tiếp cận hoạt động và nhân cách, gắn thái độ với nhu cầu, với điều kiện hoạt động, với nhân cách, coi thái độ như là một hệ thống,

từ đó đưa ra cách lý giải hợp lý và khoa học về sự hình thành thái độ, vị trí và chức năng của thái độ trong quá trình điều chỉnh hành vi và hoạt động của cá nhân

c) Một số nghiên cứu về vấn đề thái độ ở Việt Nam

Ở nước ta trong những năm gần đây, vấn đề thái độ thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà tâm lý học Nhiều luận án tiến sỹ, luận văn thạc sỹ

và khoá luận tốt nghiệp cử nhân tâm lý học đã nghiên cứu vấn đề thái độ Các tác giả đã nghiên cứu về thái độ của con người với những sự kiện, hiện tượng

cụ thể trong cuộc sống như: thái độ với lao động, thái độ với học tập, thái độ với ca nhạc, thái độ với vấn đề ma tuý… Chúng tôi đưa ra một số nghiên cứu tiêu biểu :

Chu Quang Lưu: “Thái độ của người công nhân đối với công việc và

xí nghiệp” Đại học KHXH& NV Hà Nội, 1997

Nguyễn Đức Hưởng: “Nghiên cứu thái độ học tập của sinh viên Đại học An ninh nhân dân” Luận văn thạc sĩ tâm lý học, năm 2001

Nguyễn Thị Hoà: “Thực trạng nhận thức, thái độ, hành vi của học sinh

lớp 3 ở một số trường phổ thông Biên Hoà đối với nội dung giáo dục dân số”

Luận văn thạc sĩ tâm lý học

Nguyễn Thị Huệ: “Nghiên cứu thái độ với việc rèn luyện nghiệp vụ sư phạm của sinh viên trường Cao đẳng mầm non Thanh Hoá” Luận văn thạc sĩ tâm lý học

Lê Thị Bừng: “Tự đánh giá thái độ học tập của sinh viên sư phạm trong điều kiện có phân cấp học bổng” Kỷ yếu hộ thảo khoa học nhân dịp 30 năm thành lập khoa Tâm lý – giáo dục ĐHSP Hà Nội, 2001

Trang 14

17

Nguyễn Ngọc Bảo: “Tính tích cực của nhận thức là thái độ” Kỷ yếu

hộ thảo khoa học nhân dịp 30 năm thành lập khoa Tâm lý – giáo dục ĐHSP

Hà Nội, 2001

Nguyễn Lệ Hằng: “Thái độ của người dân với hành vi vứt rác bừa

bãi” Luận văn thạc sĩ tâm lý học, Đại học KHXH& NV Hà Nội, 2003

1.1.2 Các định nghĩa về thái độ

Từ khi khái niệm thái độ được đưa ra lần đầu tiên năm 1918, cùng với rất nhiều nghiên cứu khác nhau về vấn đề thái độ, thì đồng thời cũng xuất hiện những định nghĩa khác nhau của các nhà tâm lý học về thái độ Mỗi định nghĩa lại bàn tới một khía cạnh riêng của thái độ - thể hiện sự sâu rộng trong việc nghiên cứu về thái độ

Trước khi đề cập tới các định nghĩa thái độ trong tâm lý học, chúng ta hãy tìm hiểu khái niệm thái độ trong một số từ điển Trong từ điển tiếng Việt

thái độ được hiểu là cách nhìn nhận hoạt động của cá nhân theo một hướng

nào đó trước một vấn đề, một tình huống cần giải quyết Đó là tổng thể những biểu hiện ra bên ngoài của ý nghĩ, tình cảm của cá nhân đối với con người hay một sự việc nào đó [17,894] Trong từ điển Anh –Việt, thái độ được viết là

“Attitude” và được dịch nghĩa là cách ứng xử, quan điểm của một cá nhân

Trong từ điển “Các thuật ngữ tâm lý và phân tâm học” xuất bản ở New York

năm 1996 thì cho rằng: thái độ là một trạng thái ổn định bền vững, do tiếp thu

được từ bên ngoài, hướng vào sự ứng xử một cách nhất quán đối với một nhóm đối tượng nhất định, không phải như bản thân chúng ra sao mà chúng được nhận thức ra sao Một thái độ được nhận biết ở sự nhất quán của những phản ứng đối với một nhóm đối tượng Trạng thái sẵn sàng có ảnh hưởng trực tiếp lên cảm xúc và hoạt động có liên quan đến đối tượng

Khái niệm thái độ đã được đưa ra lần đầu tiên vào năm 1918, của hai nhà tâm lý học người Mỹ là W.I Thomas và F Znaniecki Hai ông cho rằng:

Thái độ là định hướng chủ quan của cá nhân đối với một giá trị này hay một

Trang 15

18

giá trị khác, làm cho cá nhân có hành động này hay hành động khác mà được

xã hội chấp nhận Như vậy hai ông đã đồng nhất thái độ với định hướng giá

trị của cá nhân Và nhà tâm lý học người Mỹ G W Allport vào năm 1935, đã

đưa ra định nghĩa về thái độ như sau: thái độ là trạng thái sẵn sàng về mặt

tinh thần và thần kinh, được hình thành thông qua kinh nghiệm, có khả năng điều chỉnh hay ảnh hưởng năng động đối với phản ứng của cá nhân đến các tình huống và khách thể mà nó có thiết lập mối quan hệ {27,810] G.W Allport định nghĩa thái độ trên khía cạnh điều chỉnh hành vi Ông coi thái độ như trạng thái tâm lý, thần kinh ảnh hưởng đến hoạt động Ở một cá nhân khi sắp sửa có một hành động diễn ra, thì sẽ xuất hiện thái độ nhằm chuẩn bị và điều chỉnh những hoạt động đó Có thể thấy G.W Allport đã trả lời được câu hỏi thái độ là gì và đề cập tới nguồn gốc, vai trò, chức năng của thái độ Tuy nhiên, ông đã chưa lưu ý tới ảnh hưởng của môi trường, nhu cầu, động cơ của

cá nhân đối với quá trình hình thành thái độ

Cũng vào năm 1935, H Fillmore đã đưa ra một định nghĩa về thái độ:

Thái độ là phản ứng sẵn sàng tích cực hay tiêu cực, đối với một đối tượng hay một biểu tượng trong môi trường[30,540] Ông còn khẳng định Thái độ chính

là sự định hướng của cá nhân tới các khía cạnh khác nhau của môi trường, và thái độ là một cấu trúc mang tính động cơ { 30,540]

Năm 1971, nhà tâm lý học người Mỹ H.C Triandis đã đưa ra định

nghĩa về thái độ như sau: Thái độ là những tư tưởng được tạo nên bởi các xúc

cảm, tình cảm Nó gây tác động đến hành vi nhất định, ở một giai cấp nhất định, trong những tình huống xã hội nhất định thái độ của con người bao gồm những điều mà họ cảm thấy và suy nghĩ về đối tượng, cũng như cách xử

sự của họ với đối tượng đó Còn gần đây Jame W Kalat đưa ra định nghĩa

“Thái độ là sự thích hay không thích một sự vật hoặc một người nào đó của

cá nhân, từ đó ảnh hưởng tới hành vi của anh ta khi ứng xử với sự vật hay con người đó” [36,299] Nhà tâm lý học John Traver cũng định nghĩa “Thái độ

Trang 16

đương là “tâm thế” D.N Uznatze cho rằng: Tâm thế không phải là một nội

dung cục bộ của ý thức, không phải là nội dung tâm lý bị tách rời, đối lập lại với trạng thái tâm lý khác của ý thức và ở trong mối quan hệ qua lại với nó,

mà nó là một trạng thái toàn vẹn, xác định của chủ thể… Tính khuynh hướng năng động của tâm thế là một yếu tố theo hướng toàn vẹn theo một hướng nhất định nhằm một hướng năng động nhất định Đó là sự phản ánh cơ bản, đầu tiên đối với tác động của tình huống, mà trong đó chủ thể phải đặt ra và giải quyết nhiệm vụ[8,321] Còn các nhà tâm lý học xã hội Leningrat (Liên Xô) lại quan niệm thái độ là những cơ cấu tâm lý sẵn có, định hướng cho sự ứng phó của cá nhân

Hầu hết các định nghĩa đều giải thích “thái độ” dưới góc độ chức năng của nó Thái độ định hướng hành vi, ứng xử của con người Nó thúc đẩy, tăng cường tính sẵn sàng của hành vi, phản ứng của con người tới đối tượng có liên quan Chính Nâyzơ khi nghiên cứu thái độ đã đưa ra các đặc điểm chung này của các định nghĩa về thái độ, ý kiến của Nâyzơ đã được H Hipso và M Phorvec đồng tác giả của cuốn “Nhập môn tâm lý học xã hội macxit” công nhận Hai ông đã chỉ ra “điểm chung” khi nghiên cứu khái niệm thái độ trong

lý luận của tâm lý học nói chung và tâm lý học macxit nói riêng một cách cụ

thể và chính xác cần phải chọn tiêu điểm chức năng làm điểm tựa, trong tâm

lý học macxit đó là chức năng của thái độ trong hoạt động hợp tác[9,172]

Những quan niệm về thái độ cũng được phản ánh trong quan điểm của

các nhà tâm lý học Việt Nam đó là quan niệm cho rằng Thái độ là một bộ

phận cấu thành, đồng thời là thuộc tính cơ bản của ý thức[23,48] hay Thái độ

về mặt cấu trúc bao hàm cả mặt nhận thức, mặt xúc cảm và mặt hành vi

[17,894]

Trang 17

20

Trong tâm lý học xã hội hiện đại của Mỹ, khi định nghĩa về thái độ một

số tác giả thường đề cập nhiều đến khía cạnh nhận thức hơn là về mặt chức

năng của thái độ, như Davis Myers đã coi “thái độ” là phản ứng có thiện chí

hay không có thiện chí về một điều gì đó, hay một người nào đó, được thể hiện trong niềm tin cảm xúc hay hành vi có chủ định[31,39] Hay như nhà tâm

lý học W J Mc.Guire thì cho rằng thái độ là bất cứ sự thể hiện nào về mặt nhận thức, tổng kết sự đánh giá của chúng ta về đối tượng của thái độ, về bản thân, về những người khác, về đồ vật, về hành động, sự kiện hay tư tưởng

Tóm lại, thông qua quá trình xem xét và phân tích các định nghĩa về thái độ vừa đề cập ở trên chúng ta có thể khái quát bằng một khái niệm chung

nhất về thái độ như sau: Thái độ là một bộ phận hợp thành, một thuộc tính

trọn vẹn của ý thức, tạo ra trạng thái tâm lý sẵn sàng hành động của con người với đối tượng theo một hướng nhất định, được bộc lộ ra bên ngoài thông qua nhận thức, tình cảm và hành vi, (gồm cử chỉ, nét mặt, lời nói) của người đó trong những tình huống, điều kiện cụ thể

1.1.3 Đối tƣợng và đặc điểm của thái độ

a) Đối tượng của thái độ

Thái độ bao giờ cũng hướng tới đối tượng nhất định, đối tượng của thái

độ có thể là tất cả các sự kiện, hiện tượng tồn tại trong thế giới vật chất và tinh thần mà con người đang sống Tuy nhiên, đối tượng thái độ của mỗi cá

nhân lại có giới hạn, cá nhân chỉ có thái độ đối với các đối tượng có tồn tại

trong thế giới tâm lý của mình thôi Chẳng hạn một người không thể có thái

độ với vấn đề ma tuý, HIV/AIDS khi mà anh ta không biết gì về những vấn

đề đó

b) Đặc điểm của thái độ

Năm 1957, G.V.Allport[27,810] dựa trên 17 định nghĩa thái độ mà ông

đã liệt kê và đưa ra 5 đặc điểm chung của thái bao gồm:

- Thái độ là trạng thái nhất định của tinh thần và hệ thần kinh

Trang 18

21

- Thái độ thể hiện sự sẵn sàng phản ứng

- Thái độ là trạng thái có tổ chức

- Thái độ dựa trên kinh nghiệm được tiếp thu từ trước

- Thái độ có ảnh hưởng, tác động và điều khiển hành vi

Ngoài các đặc điểm chung trên, thái độ còn có những đặc điểm khác quan trọng và chính những đặc điểm này đã tạo nên thái độ khác nhau của mỗi người, trong mỗi tình huống cụ thể Những đặc điểm đó là:

- Trị số (tính phân cực) bất kỳ một thái độ nào cũng thể hiện hoặc là tích cực hay tiêu cực, sự ủng hộ hay phản đối

- Cường độ: là sự thể hiện mạnh hay yếu của thái độ

- Mức độ: đó là thái độ thể hiện nhiều hay ít cùng một tính chất nhưng mức độ thể hiện có thể không như nhau

- Tính ổn định: thời gian tồn tại của thái độ, mối quan hệ giữa 3 thành

tố của thái độ (nhận thức, xúc cảm tình cảm và hành vi)

1.1.4 Cấu trúc thái độ

Trong ngành tâm lý học hiện nay đang tồn tại hai quan điểm lý thuyết chính về cấu trúc của thái độ Mỗi quan điểm nhìn nhận về các thành phần cụ thể của thái độ là khác nhau và mối quan hệ giữa các thành phần của thái độ cũng khác nhau Một quan điểm cho rằng thái độ gồm ba thành phần: nhận thức, xúc cảm tình cảm và hành vi và ba thành phần này có mối quan hệ chặt chẽ, thống nhất với nhau Quan điểm thứ hai lại cho rằng ba thành phần đó của thái độ thể hiện một cách riêng biệt, tách biệt và phụ thuộc vào những

hoàn cảnh cụ thể

a) Quan điểm ba thành phần có mối quan hệ chặt chẽ

Đại diện cho quan điểm này là nhà tâm lý học M J Rosenberg, trong một cuốn sách viết năm 1956, M J Rosenberg [33,367-372] đã đưa ra mô hình

3 thành tố, hình thành nên cấu trúc thái độ Ba thành tố đó là: nhận thức, xúc

Trang 19

22

cảm hành vi Cấu trúc này của Rosenberg được phần lớn các nhà tâm lý học tán thành

- Thành tố nhận thức thể hiện sự nhìn nhận, quan điểm , đánh giá của

cá nhân đối với đối tượng có liên quan

- Thành tố xúc cảm thể hiện ở sự rung động, quan tâm , chú ý đến đối tượng

- Thành tố hành vi gồm những phản ứng, ứng xử của cá nhân, xu hướng hành động với đối tượng

Các thành tố trên tuỳ theo từng đối tượng và tình huống sẽ có một vai trò chỉ đạo và chi phối thái độ của cá nhân một cách khác nhau và các thành

tố này mang tính thống nhất cao, có mối quan hệ chặt chẽ với nhau

b) Quan điểm các thành tố cuar thái độ riêng biệt

Đây là quan điểm lý thuyết mới xuất hiện về cấu trúc thái độ, quan điểm này cho rằng ba thành phần trên của thái độ được thể hiện một cách riêng biệt, các thành phần này có thể không liên quan với nhau, điều này phụ thuộc vào những hoàn cảnh cụ thể Đại diện cho quan điểm này là hai nhà tâm

lý học Fishbein và Ajzen, cho rằng khái niệm thái độ liên quan nhiều đến khía cạnh tình cảm đối với việc tán thành hay không tán thành đối tượng và cho rằng không nhất thiết phải có sự phù hợp giữa niềm tin, thái độ và xu hướng hành vi

Theo chúng tôi một nguyên tắc quyết định luận quan trọng của tâm lý

học macxit là sự thống nhất giữa ý thức và hành vi, vì vậy trong công trình

nghiên cứu này chúng tôi phân tích thái độ theo cấu trúc ba thành phần có mối quan hệ chặt chẽ, thống nhất với nhau Tuy trong cuộc sống có những

lúc, những tình huống chúng ta “nói một đằng làm một nẻo” nhưng đó là những trường hợp cá biệt, xét trong cả một quá trình và bản chất chung nhất (bản thể luận) thì giữa những gì chúng ta nghĩ và những gì chúng ta làm cơ bản là thống nhất với nhau

Trang 20

23

1.1.5 Chức năng của thái độ

Con người có khả năng ứng xử linh hoạt theo từng tình huống khác nhau nhờ có các khuôn mẫu thái độ xã hội xác định Điều này luôn giữ một vai trò to lớn trong đời sống tâm lý con người Thái độ có một số chức năng chủ yếu quan trọng sau đây:

Chức năng thích nghi: thái độ hướng con người tới các đối tượng có thể

giúp họ đạt được mục đích đề ra Nếu các cá nhân có thái độ được mọi người chấp nhận, ủng hộ thì cá nhân đó dễ dàng đạt được mục đích của mình hơn,

dễ được thưởng và tránh bị phạt hơn

Chức năng kiến thức: Thái độ giúp chúng ta hiểu được thế giới chúng

ta đang sống và tạo ra những cảm nhận về những gì đang xảy ra xung quanh Thái độ làm rõ và giải thích cho chúng ta về ý nghĩa các sự kiện Nhờ có các khuôn mẫu thái độ xã hội sẵn có, cá nhân chỉ việc thực hiện rập khuôn theo một cách hết sức giản đơn, đồng thời tiết kiệm được thời gian, sức lực

Chức năng thể hiện: Biểu hiện giá trị giúp cho cá nhân củng cố ý thức

về cá tính của mình, thông qua thái độ cá nhân biểu lộ nhận thức, xúc cảm và hành vi của mình tới đối tượng

Chức năng tự vệ: Thái độ giúp chúng ta nâng cao lòng tự trọng và bảo

vệ chúng ta chống lại những căng thẳng của cuộc sống Khi một cá nhân có sự xung đột có thể là giữa hứng thú và nhu cầu, giữa nhận thức và hành vi… cá nhân thường biện minh, tự lý giải hệ quả là hình thành một thái độ mới tương ứng giảm bớt và loại bỏ những bất đồng nội tâm

Chức năng tác động điều chỉnh hành vi: đây là một chức năng quan

trọng được xem xét nhiều hơn cả nhằm tìm hiểu sự ảnh hưởng của thái độ tới hành vi của cá nhân như thế nào

1.1.6 Sự hình thành thái độ

a) Các yếu tố hình thành thái độ

Trang 21

24

Chúng ta biết rằng không phải mọi thái độ được hình thành từ những nguồn gốc giống nhau Thái độ gồm ba thành phần vì vậy thái độ có thể được hình thành từ một trong ba thành phần trên Đa số các nhà tâm lý học xã hội đều cho rằng thái độ được hình thành trong quá trình phát triển của cá nhân,

và chịu sự quyết định của các yếu tố như: nhu cầu cá nhân, thông tin, giao tiếp nhóm và nhân cách của cá nhân Nhà tâm lý học R Marten cho rằng thái độ được hình thành từ kinh nghiệm sống của mỗi cá nhân, nó có tính ổn định và tuỳ theo từng tình huống, thái độ sẽ thay đổi phù hợp với từng tình huống đó

Thái độ được hình thành trong quá trình thoả mãn nhu cầu, theo hướng sau: hình thành thái độ tích cực đối với những khách thể có lợi cho con đường đạt được mục đích nào đó để thoả mãn các nhu cầu của mình và hình thành thái độ tiêu cực đối với những khách thể có hại cho việc đạt mục đích để thoả mãn nhu cầu của mình Một thái độ có thể phục vụ nhiều mục đích khác nhau

và mặt khác các nhu cầu khác nhau có thể hình thành nên một thái độ

Thái độ hình thành bởi các thông tin: con người không thể có thái độ với một sự kiện hiện thượng nào đó trong cuộc sống khi mà anh ta chẳng biết

tí gì về vấn đề đó cả, mà chỉ khi được tiếp xúc với những nguồn thông tin về vấn đề đó thì mới có thể có thái độ về vấn đề đó được Ở đây chúng ta thấy thái độ phụ thuộc vào nguồn thông tin, thông tin có thể đúng, có thể lệch lạc

do đó hình thành nên thái độ tương ứng

Giao tiếp nhóm: là một yếu tố quan trọng trong quá trình hình thành thái độ: Mỗi cá nhân thường là thành viên của những nhóm khác nhau, thái độ của anh ta thường phản ánh giá trị, niềm tin, chuẩn mục của nhóm mà anh ta

là thành viên Chuẩn mực nhóm không chỉ xác định hành vi nào đúng, hành vi nào sai mà còn xác định thái độ nào đúng, thái độ nào sai nữa, thông qua cơ chế thưởng- phạt của nhóm tạo nên một áp lực, ép cá nhân phải tuân theo Thưởng (bằng vật chất hoặc tinh thần) với những cá nhân có hành vi, thái độ đúng và trừng phạt những cá nhân có thái độ sai với chuẩn mực nhóm

Trang 22

25

Nhân cách cá nhân và sự hình thành thái độ: cá nhân có thể tiếp thu thái

độ của nhóm một cách có lựa chọn và mức độ tuỳ thuộc vào nhân cách của mỗi cá nhân Cá nhân có xu hướng tiếp nhận những thái độ phù hợp với nhân cách của mình và cũng có thể tiếp nhận những thái độ mâu thuẫn lẫn nhau bởi sự giáo dục khác nhau

Thái độ được hình thành từ hành vi: trong cuộc sống con người có những vai trò mới cần phải làm quen và thực hiện nó một cách tốt nhất, để thực hiện được các vai trò mới, con người cần phải có các hành vi, hoạt động

mới, và chính các “hành vi mới này sẽ làm nảy sinh thái độ mới”[33,369] Khi

xuất hiện, thái độ mới đó sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến hành vi, hoạt động, thúc đẩy quá trình thực hiện hành vi Có nhiều nhà tâm lý học đã nghiên cứu mối quan hệ này như thuyết “bất đồng nhận thức” của Leon Festinger thuyết “tự tri giác” của Daryl Bern Các nghiên cứu cho thấy hành vi ban đầu có ảnh hưởng đến thái độ của hành vi tiếp theo nó, còn thái độ lại ảnh hưởng đến chính hành vi tạo ra nó

Như vậy, thái độ được hình thành chủ yếu bởi các yếu tố xã hội Sau đây chúng ta tìm hiểu cơ chế hình thành thái độ

b) Các cơ chế hình thành thái độ

Các định nghĩa về thái độ mà chúng ta vừa đề cập ở phần trên, khi bàn

về thái độ hầu như ít đề cập đến cơ chế hình thành thái độ của cá nhân Vào năm 1968, hai nhà tâm lý học người Đức là H Hipso và M Phorvec cũng đã

quan tâm đến vấn đề này khi đưa ra ý kiến Người ta có thể nói, các thái độ

được tiếp nhận thông qua 4 cơ chế tâm lý xã hội khác nhau, đó là: bắt chước, đồng nhất hoá, giảng dạy và chỉ dẫn [9,172]

Theo hai ông thì bắt chước tạo ra một quá trình hình thành thái độ của con người Trong quá trình này con người được học các phương thức hành vi, phản ứng mà không cần phải sử dụng các kỹ thuật giáo dục và theo một phương thức nào cả Do đó, bắt chước là giáo dục một cách tự phát, hay nói một cách khác đây là cách thức thấp nhất của quá trình hình thành thái độ

Trang 23

26

Đồng nhất hoá cũng tương tự như bắt chước, sự khác biệt thể hiện ở chỗ đồng nhất hoá là sự bắt chước có chọn lọc, có ý muốn chủ quan của cá nhân, hay có thể coi đồng nhất hoá là một dạng bắt chước có ý thức Chính sự khác biệt này tạo cho đồng nhất hoá một vị trí cao hơn bắt chước trong cấu trúc của quá trình hình thành thái độ

Giảng dạy là một hình thức hình thành thái độ trong đó cá nhân được người khác trực tiếp chỉ dẫn, thông báo, truyền thụ những thông tin, những phương thức cần thiết theo mục tiêu Đây là một hình thức truyền đạt thông tin đặc biệt Trái với ba quá trình trên, chỉ dẫn đòi hỏi chủ thể phải hoạt động một cách tích cực trong quá trình tiếp thu lĩnh hội kiến thức Trong quá trình giảng dạy cá nhân bị động trong việc tiếp thu tri thức còn trong chỉ dẫn cá nhân chủ động tích cực trong lĩnh hội tri thức, tự làm giàu thêm kinh nghiệm bản thân

Mặc dù có sự khác nhau, nhưng tất cả cơ chế tâm lý nói trên đều có ảnh hưởng tới sự hình thành, củng cố, hay thay đổi thái độ ở con người

1.1.7 Sự thay đổi thái độ

Sự thay đổi thái độ của con người đã thu hút nhiều nhà tâm lý học quan tâm nghiên cứu, vì sự thay đổi thái độ thường biểu hiện trong những hoàn cảnh, sự kiện cụ thể mang dấu ấn riêng của con người như: những biến đổi tôn giáo, thương thuyết chính trị, các cuộc vận động quảng cáo, những thay đổi trong thành kiến cá nhân Thái độ của cá nhân hình thành được thì cũng

có thể thay đổi được, thật ra sự hình thành và thay đổi thái độ không tách biệt nhau - đó là hai giai đoạn liên tục của quá trình phát triển thái độ Thay đổi thái độ có thể chia làm hai loại;

- Thay đổi ngược chiều: từ thái độ tích cực (+) sang thái độ tiêu cực (-), hoặc ngược lại từ (-) sang (+)

- Thay đổi cùng chiều: chiều vẫn giữ nguyên nhưng mức độ tiêu cực hay tích cực thay đổi

Trang 24

27

Khả năng thay đổi của thái độ phụ thuộc vào đặc tính của hệ thống thái

độ, của giao tiếp nhóm và đặc điểm nhân cách cá nhân

Đặc tính thái độ và khả năng thay đổi thái độ: các thái độ cực đoan hơn

có khả năng thay đổi thấp hơn các thái độ ít cực đoan Hệ thống thái độ phù hợp bền vững thường ổn định bởi các thành tố nhận thức, tình cảm, hành vi

hỗ trợ cho nhau, thái độ không phù hợp thường kém ổn định do có sự mâu thuẫn giữa các thành tố nên dễ thay đổi theo hướng tăng độ bền vững

Đặc điểm nhân cách và khả năng thay đổi thái độ: các yếu tố như đặc điểm thể chất, tài năng, ý chí, phong cách, đạo đức…đều có mối liên hệ nhất định trong quá trình thay đổi thái độ

Giao tiếp nhóm và khả năng thay đổi thái độ: những thái độ của cá nhân được sự ủng hộ về mặt xã hội thông qua nhóm mà cá nhân giao tiếp thì

ít có sự thay đổi Hoàn cảnh sống thay đổi cũng làm cá nhân thay đổi thái độ

1.1.8 Biểu hiện của thái độ

Thái độ của con người về đối tượng nào đó được biểu hiện ra bên ngoài bằng hành động cụ thể với đối tượng đã được nhận thức đó Giữa thái độ và hành vi có mối liên hệ với nhau mà các nhà nghiên cứu về thái độ luôn quan tâm, xem xét Trong những tình huống nhất định thái độ quy định hành vi đồng thời thái độ cũng chịu sự ảnh hưởng của các yếu tố bên ngoài, ở đó cá nhân có xu thế biểu hiện những gì mà cá nhân đó cho rằng người khác muốn như vậy

Thái độ quy định hành vi được biểu hiện ở chỗ khi mỗi cá nhân ý thức được rõ ràng thái độ của mình trong cuộc sống, trong các “vai” khác nhau cá nhân quen dần với các vai của mình, thực hiện nó một cách thoải mái tự nhiên, không còn gượng ép, ngượng ngùng nữa Con người ở mỗi vị trí, mỗi

xã hội khác nhau sẽ có những hành động, cách ứng xử phù hợp với địa vị của mình

Trang 25

28

1.1.9 Mối quan hệ giữa thái độ và các hiện tƣợng tâm lý khác

Khi xem xét bản chất của thái độ, các học giả thường đặt nó trong mối quan hệ với các hiện tượng tâm lý khác hoặc trong các khái niệm khác bao quát hơn như nhân cách, xúc cảm và hoạt động

cảnh tự nhiên, xã hội Cấu trúc của ý thức bao gồm bốn thành tố cơ bản là;

Nhận thức về thế giới (thế giới quan); tri thức về bản thân; khả năng lập trình cho hành động; hệ thống thái độ với xung quanh Như vậy, thái độ là một thành phần, một hình thức của ý thức biểu hiện tính tích cực, mối quan hệ ngược của ý thức với hiện thực Mối quan hệ giữa thái độ và ý thức là mối quan hệ giữa cái bộ phận và cái tổng thể

b) Thái độ và nhu cầu

Nhu cầu là sự đòi hỏi tất yếu của con người cần phải thoả mãn để phát triển, là động lực đầu tiên thúc đẩy hoạt động Nhu cầu có thể hiểu là điều kiện bên trong - một yếu tố bắt buộc phải có của hoạt động và đó là cái hướng dẫn điều khiển hoạt động chủ quan của chủ thể trong thế giới khách quan Nhu cầu có vai trò nòng cốt, quyết định quá trình hình thành, phát triển nhân cách là nền tảng của động cơ, mục đích hoạt động, nguồn gốc của tính tích cực cá nhân, kích thích cá nhân hoạt động đồng thời là quá trình hình thành sự sẵn sàng hành động (hình thành, củng cố thái độ của cá nhân đối với sự vật, hiện tượng)

Thông qua việc thoả mãn nhu cầu, cá nhân củng cố các thành phần của thái độ như quan điểm, nhận thức, cảm xúc cũng như cách cư xử với đối tượng thoả mãn nhu cầu Thái độ của cá nhân được hình thành trên cơ sở có

sự gặp gỡ giữa nhu cầu và tình huống thoả mãn nhu cầu Do vậy, nhu cầu là

Trang 26

29

cơ sở là nguồn gốc bên trong của thái độ, thái độ phản ánh tính chất, cường

độ, mức độ thoả mãn, động thái của nhu cầu Vì vậy chúng ta có thể sử dụng các biểu hiện của nhu cầu để dự báo thái độ và ngược lại

c) Thái độ và hứng thú

Hứng thú là trạng thái đặc biệt của cá nhân đối với một đối tượng nào

đó vừa có ý nghĩa với cuộc sống, vừa có khả năng mang lại khoái cảm cho cá nhân trong quá trình hoạt động [4,220] Nhờ có hứng thú tính tích cực trong

hoạt động mới được duy trì và thúc đẩy, hứng thú làm tăng hiệu quả của hoạt động Ở cá nhân hứng thú thể hiện thông qua sự tập trung chú ý, sự quan tâm,

sự say mê khi đối tượng xuất hiện, đặc biệt là những đối tượng thu hút toàn

bộ sự chú ý của cá nhân và trong trường hợp đó, cá nhân không những quan tâm, đánh giá cao mà còn nảy sinh tình cảm với đối tượng đó Lúc này hứng thú là một dạng thái độ đặc biệt và thông qua hứng thú có thể thấy thái độ của

cá nhân đối với đối tượng đó như thế nào Như vậy có thể coi hứng thú là một dấu hiệu, một chỉ số đánh giá mức độ biểu hiện ra bên ngoài của thái độ Sự hình thành hứng thú thông qua các quá trình nhận thức như: nhận thức ý nghĩa của đối tượng với cá nhân, hình thành cảm xúc tích cực, phương thức tác động của cá nhân với đối tượng Thái độ của cá nhân thể hiện rõ nét qua hứng thú, hứng thú càng mạnh mẽ càng ổn định thì thái độ càng được củng

cố

d) Thái độ và hoạt động

Hoạt động là phương thức tác động có mục đích của con người với hiện thực nhằm thoả mãn nhu cầu của bản thân và xã hội Hoạt động là nhân tố trực tiếp quyết định sự hình thành nhân cách, quy định thái độ của cá nhân với

hiện thực Một mặt hoạt động là phương thức thể hiện thái độ tích cực của

chủ thể cải tạo môi trường, mặt khác thái độ là nhân tố quy định hiệu suất của hoạt động

Trang 27

30

Con người càng mở rộng lĩnh vực, phạm vi hoạt động thì càng tạo điều kiện hình thành và phát triển thái độ Thái độ càng củng cố vững chắc thì càng đảm bảo sự bền vững, ổn định của hoạt động

e) Thái độ và xúc cảm, tình cảm

Trong quá trình sống và hoạt động con người thường xuyên có những mối quan hệ nhất định với môi trường của thế giới khách quan, đồng thời cũng chịu sự tác động của môi trường trong cơ thể Trước một hiện tượng tự nhiên, một hiện tượng xảy ra trong đời sống xã hội và trong cuộc sống, con người thường bộc lộ thái độ của mình rất cụ thể, vừa đa dạng vừa sinh động một số trạng thái mà con người bộ lộ ra như: vui hay buồn, yêu hay ghét, sung sướng hay đau khổ, kính phục hay khinh bỉ… chính là các sắc thái xúc cảm,

tình cảm của con người Có thể cho rằng xúc cảm tình cảm là những thái độ

của cá nhân đối với các hiện tượng xảy ra trong thế giới khách quan hay trong cơ thể của mỗi người, tính chất của mỗi thái độ đó có quan hệ mật thiết với việc thoả mãn hay không thoả mãn những nhu cầu tinh thần hay vật chất của mỗi người [24,67]

Như vậy, có thể thấy trong quá trình con người tiếp xúc với đối tượng nhằm thoả mãn nhu cầu thì thái độ và xúc cảm, tình cảm xuất hiện Đồng thời trong quá trình hoạt động, thái độ và xúc cảm tình cảm lại điều chỉnh các hoạt động, hành vi đó của cá nhân Tuy nhiên trong khi thái độ phản ánh nhận thức, phương thức ứng xử của cá nhân với đối tượng, phản ánh xúc cảm, mong muốn, nhu cầu có liên quan đến đối tượng đó, thì xúc cảm tình cảm lại chỉ phản ánh những rung cảm của cá nhân đối với đối tượng đó Nhưng nhờ

có xúc cảm tình cảm chúng ta mới biết được tính chất, mức độ, đặc điểm của thái độ của cá nhân tới đối tượng như thế nào

f) Thái độ và định hướng giá trị

Định hướng giá trị là cơ sở của các đánh giá của chủ thể về hiện thực xung quanh là khả năng của chủ thể phân biệt được các đối tượng theo ý nghĩa của chúng Định hướng giá trị được hình thành khi tiếp thu kinh nghiệm

Trang 28

31

xã hội, trong quá trình xã hội hoá, và thực hiện trong các mục đích, lý tưởng niềm tin hứng thú Định hướng giá trị tạo thành mặt nội dung của xu hướng nhân cách và thể hiện như cơ sở bên trong của thái độ cá nhân với hiện thực Hai nhà tâm lý học người Mỹ là W.I Thomas và F Znaniecki, khi nghiên cứu về vấn đề thái độ, đã cho rằng thái độ và định hướng giá trị là đồng nhất với nhau, nghĩa là thái độ cũng chính là định hướng giá trị Có thể thấy định hướng giá trị hình thành trong quá trình tích luỹ kinh nghiệm xã hội, trong quá trình giao tiếp và xã hội hoá Các định hướng giá trị được cá nhân sử dụng trong nhu cầu, hứng thú, quan điểm, mục đích, niềm tin… Tuy nhiên, chính định hướng giá trị lại hình thành mặt nội dung của xu hướng nhân cách của cá nhân, và được coi là cơ sở bên trong của thái độ Thái độ được hình thành do quan hệ trực tiếp giữa nhu cầu và đối tượng thoả mãn nhu cầu, và nó điều chỉnh hành vi của con người trong một lĩnh vực cụ thể Còn định hướng giá trị được hình thành gián tiếp, thông qua các chuẩn mực, quy định, pháp chế Nó cũng điều chỉnh hoạt động của cá nhân nhưng ở một mức

độ rộng lớn hơn, đó là trong cả một hệ thống xã hội nhất định Như vậy, định

hướng giá trị nói lên nhiều thái độ khác nhau, trong khi thái độ chỉ là một bộ phận nằm trong định hướng giá trị mà thôi Định hướng giá trị là thái độ khái quát, thái độ với hàng loạt đối tượng

1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA LOẠI HÌNH BHNT

Để hiểu được các vấn đề có liên quan đến loại hình BHNT, thì trước hết chúng ta phải nhận biết được vị trí của nó trong cơ cấu chung của ngành bảo hiểm

1.2.1 Loại hình BHNT trong cơ cấu bảo hiểm

Trong cơ cấu chung của ngành bảo hiểm thì BHNT là một loại hình thuộc lĩnh vực bảo hiểm thương mại, chúng ta hãy xem sơ đồ sau:

Bảo hiểm

Trang 29

32

Sơ đồ 1: Loại hình BHNT trong cơ cấu bảo hiểm ở nước ta

Như vậy, BHNT là loại hình bảo hiểm con người, cho nên đối tượng của nó chính là sinh mạng và sức khỏe của con người và loại hình BHNT nằm trong lĩnh vực bảo hiểm thương mại, vì vậy tất cả mọi người đều có thể tự nguyện tham gia miễn là đáp ứng đầy đủ điều kiện về tài chính, sức khoẻ và

độ tuổi

1.2.2 Sơ lƣợc lịch sử ra đời, phát triển của loại hình BHNT

Trên thế giới loại hình bảo hiểm nói chung đã có lịch sử hơn nửa thiên niên kỷ, mốc đánh dấu sự ra đời của loại hình bảo hiểm là năm 1347, với sự kiện phát hành hợp đồng bảo hiểm đầu tiên tại Genes - Italia (bảo hiểm vận chuyển hàng hoá bằng đường biển) Nhưng loại hình BHNT thì ra đời muộn hơn, khi mà hợp đồng BHNT đầu tiên trên thế giới được thực hiện tại Anh vào năm 1583, do ông William Gybbon công dân Luân Đôn tham gia Phí bảo hiểm ông đóng lúc đó là 32 bảng Anh, ngay năm đó ông chết người thừa kế

Trang 30

Ở châu Á, công ty BHNT đầu tiên ra đời tại Nhật Bản vào năm 1868 là Công ty bảo hiểm Meiji và năm 1888 Công ty bảo hiểm Kyoei, năm 1889 Công ty Nippon ra đời và hoạt động đến ngày nay

Trên thế giới BHNT là loại hình bảo hiểm phát triển nhất, nếu như năm

1985 doanh thu phí BHNT đạt 630,5 tỷ USD, thì năm 1993 đã đạt 1.647 tỷ USD, chiếm khoảng 48% tổng phí bảo hiểm Hiện nay 5 thị trường BHNT lớn nhất thế giới là: Mỹ, Nhật Bản, Đức, Anh và Pháp

1.2.3 Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa của BHNT

a) Khái niệm

BHNT là cam kết giữa công ty bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm,

mà trong đó công ty bảo hiểm sẽ trả cho người tham gia (hoặc người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm) một số tiền nhất định khi có những sự kiện đã định trước xảy ra (đó là người được bảo hiểm chết hoặc sống đến một độ tuổi nhất định), còn người tham gia phải có nghĩa vụ nộp phí bảo hiểm đầy đủ và đúng hạn

Nói một cách khác thì BHNT là quá trình bảo hiểm các rủi ro có liên

quan đến sinh mạng, cuộc sống và tuổi thọ của con người

b) Đặc điểm

BHNT là một loại hình bảo hiểm nên nó có đầy đủ các đặc thù của sản phẩm bảo hiểm - sản phẩm bảo hiểm được đánh giá là một dịch vụ đặc biệt- như: là sản phẩm không định hình, là sản phẩm có “hiệu quả xê dịch”, là sản phẩm của “chu trình sản xuất kinh doanh đảo ngược”, là sản phẩm dễ bắt

Trang 31

+ Loại hình BHNT đáp ứng được nhiều mục đích khác nhau của người tham gia bảo hiểm Mỗi mục đích được thể hiện khá rõ trong từng loại hợp đồng BHNT Chẳng hạn hợp đồng bảo hiểm hưu trí sẽ đáp ứng yêu cầu của người tham gia những khoản trợ cấp đều đặn hàng tháng khi hết tuổi lao động Hợp đồng bảo hiểm tử vong sẽ giúp người được bảo hiểm để lại một số tiền cho gia đình khi không may họ bị chết

+ Hợp đồng BHNT còn có vai trò như một vật thế chấp để vay vốn còn các loại hình bảo hiểm khác thì không

+ Các hợp đồng BHNT rất đa dạng và phức tạp thể hiện ngay các sản phẩm của nó, mỗi sản phẩm BHNT cũng có nhiều loại hợp đồng khác nhau, mỗi hợp đồng có những thời hạn khác nhau, số tiền bảo hiểm khác nhau, phương thức đóng phí khác nhau… Ngay cả trong một bản hợp đồng mối quan hệ giữa các bên tham gia cũng rất phức tạp: công ty bảo hiểm, người tham gia bảo hiểm, người được bảo hiểm, người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm

+ Phí của loại hình BHNT chịu tác động tổng hợp của nhiều nhân tố, vì vậy quá trình định phí khá phức tạp Và các công ty bảo hiểm phải chi phí rất lớn để tạo nên sản phẩm như chi phí khai thác, chi phí quản lý hợp đồng… và phí đó phụ thuộc vào: độ tuổi của người được bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm, tuổi thọ bình quân của con người, số tiền bảo hiểm, thời hạn tham

Trang 32

35

gia, phương thức thanh toán, lãi suất đầu tư, tỷ lệ lạm phát và thiểu phát của đồng tiền…

+ loại hình BHNT ra đời và phát triển trong những điều kiện kinh tế -

xã hội nhất định Ở những nước có nền kinh tế phát triển thì loại hình BHNT

ra đời và phát triển hàng trăm năm nay, nhưng ở một số nước trên thế giới hiện nay vẫn chưa triển khai được BHNT mặc dù họ hiểu rất rõ vai trò và lợi ích của nó Các nhà kinh tế học cho rằng cơ sở để loại hình BHNT ra đời và phát triển là nền kinh tế - xã hội phải phát triển Những điều kiện về kinh tế như: tốc độ tăng trưởng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP), tổng sản phẩm quốc nội tính bình quân trên một người dân, mức thu nhập của dân cư, tỷ lệ lạm phát của đồng tiền, tỷ giá hối đoái… Những điều kiện xã hội bao gồm: điều kiện về dân số, tuổi thọ trung bình của người dân, trình độ học vấn, tỷ lệ

tử vong của trẻ sơ sinh… Ngoài ra, thì môi trường pháp lý cũng ảnh hưởng tới

sự ra đời và phát triển của loại hình này

c) Ý nghĩa kinh tế - xã hội của BHNT

* Đối với mỗi cá nhân và gia đình

+ Nhằm khắc phục hậu quả của rủi ro, loại hình BHNT đã đáp ứng được nhu cầu đảm bảo về mặt tài chính trước rủi ro để cá nhân và gia đình không rơi vào tình trạng kiệt quệ về mặt tài chính và tinh thần khi rủi ro xảy đến Còn về mặt tinh thần đó là sự thể hiện những quan tâm lo lắng của người chủ gia đình với mỗi thành viên, của cha mẹ đối với con cái

+ Thúc đẩy hoạt động tiết kiệm thường xuyên và có kế hoạch, là một hình thức tiết kiệm linh hoạt tác động đến tư duy cá nhân con người, họ phải suy nghĩ tính toán và dần dần hình thành ý thức, thói quen về việc phải dành

ra một phần thu nhập để có một tương lai an toàn hơn

+ Góp phần thực hiện kế hoạch tài chính của gia đình: tạo quỹ giáo dục con cái, mua sắm tài sản, đi du lịch, đảm bảo thu nhập ổn định khi hết tuổi lao động

* Đối với xã hội

Trang 33

36

+ Tập trung nguồn tiết kiệm dài hạn trong nhân dân, để tạo nguồn đầu

tư dài hạn phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

+ Tạo công ăn việc làm cho người lao động, ở nước ta loại hình BHNT mới triển khai được hơn 6 năm đã thu hút được hàng vạn người làm việc trong lĩnh vực này, chỉ tính riêng lực lượng cán bộ tư vấn đã có hơn 60.000 người

+ Góp phần nâng cao phúc lợi công cộng, các công ty BHNT thường

xuyên tham gia các hoạt động từ thiện, giúp đỡ cộng đồng

+ Bảo hiểm trong trường hợp tử vong

+ Bảo hiểm trong trường hợp sống

+ BHNT hỗn hợp

Và các điều khoản bổ sung

a) Bảo hiểm trong trường hợp tử vong

Đây là loại hình phổ biến nhất trong BHNT và được chia thành 2 nhóm

là bảo hiểm tử kỳ và BHNT trọn đời

* Bảo hiểm tử kỳ (bảo hiểm sinh mạng có thời hạn) được ký kết bảo

hiểm cho cái chết xảy ra trong thời hạn quy định của hợp đồng Nếu cái chết không xảy ra trong thời gian đó thì người được bảo hiểm không được nhận bất kỳ một khoản tiền nào, còn nếu cái chết xảy ra trong thời gian có hiệu lực

Trang 34

37

của hợp đồng thì công ty bảo hiểm phải trả số tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm đã được chỉ định

Bảo hiểm tử kỳ còn được đa dạng hoá thành các loại hình sau: Bảo hiểm tử kỳ

cố định, bảo hiểm tử kỳ có thể tái tục, bảo hiểm tử kỳ có thể chuyển đổi, bảo hiểm tử kỳ giảm dần, bảo hiểm tử kỳ tăng dần, bảo hiểm thu nhập gia đình, bảo hiểm tử kỳ có điều

* Bảo hiểm nhân thọ trọn đời

Với sản phẩm này thì công ty bảo hiểm cam kết chi trả cho người thụ hưởng bảo hiểm một số tiền bảo hiểm đã được ấn định trên hợp đồng, khi người được bảo hiểm chết vào bất cứ lúc nào kể từ ngày ký hợp đồng BHNT trọn đời được đa dạng hoá hoại hình sau: BHNT trọn đời phi lợi nhuận, BHNT trọn đời có tham gia chia lợi nhuận, BHNT trọn đời đóng phí liên tục

b) Bảo hiểm trong trường hợp sống (bảo hiểm sinh kỳ)

Với sản phẩm này, các công ty cam kết chi trả những khoản tiền đều đặn trong một khoảng thời gian xác định hoặc trong suốt cuộc đời người tham gia bảo hiểm Nếu người được bảo hiểm chết trước ngày đến hạn thanh toán thì sẽ không được chi trả bất kỳ một khoản tiền nào Như vậy, với một khoản phí bảo hiểm phải nộp khi tham gia bảo hiểm thì các công ty bảo hiểm sẽ thanh toán một khoản trợ cấp định kỳ hàng tháng cho người được bảo hiểm Nếu khoản trợ cấp này thanh toán định kỳ cho đến hết đời gọi là “bảo hiểm niên kim nhân thọ trọn đời” Nếu được thanh toán trong một thời kỳ nhất định gọi là “bảo hiểm niên kim nhân thọ tạm thời”, người tham gia sẽ nhận khoản trợ cấp của các công ty bảo hiểm theo định kỳ cho đến hết đời, sản phẩm này đảm bảo cho người tham gia có thu nhập ổn định khi hết tuổi lao động do vậy còn gọi là “bảo hiểm hưu trí tự nguyện”

c) BHNT hỗn hợp

Thực chất của sản phẩm này là người được bảo hiểm sẽ được bảo hiểm

cả trong trường hợp bị tử vong và còn sống Với sản phẩm này thì yếu tố tiết kiệm và yếu tố rủi ro đan xen nhau

Trang 35

38

d) Các điều khoản bảo hiểm bổ sung

Khi triển khai BHNT các công ty bảo hiểm còn đưa ra các điều khoản

bổ sung để đáp ứng nhu cầu đa dạng của người dân như: điều khoản bổ sung nằm viện và phẫu thuật, Điều khoản bổ sung bảo hiểm tai nạn, điều khoản bổ sung bảo hiểm sức khoẻ và các bệnh hiểm nghèo

1.2.5 Một số thuật ngữ của loại hình BHNT

a) Người được bảo hiểm

Là người mà sinh mạng và cuộc sống của họ được bảo hiểm theo điều khoản của hợp đồng bảo hiểm, có tên trong giấy yêu cầu bảo hiểm và phụ lục của hợp đồng bảo hiểm

b) Người tham gia bảo hiểm

Là cá nhân hoặc tổ chức có yêu cầu bảo hiểm, kê khai giấy yêu cầu, ký kết hợp đồng và nộp phí bảo hiểm Người tham gia bảo hiểm có thể là;

- Người được bảo hiểm,

- Người có quyền lợi có thể được bảo hiểm đối với người được bảo hiểm: quan hệ gia đình, quan hệ tài chính

c) Người được hưởng quyền lợi bảo hiểm

Là người được nhận số tiền bảo hiểm hoặc hưởng quyền lợi bảo hiểm quy định trong hợp đồng bảo hiểm khi có sự kiện được bảo hiểm xảy ra Người được hưởng quyền lợi bảo hiểm có thể là:

+ Người được bảo hiểm

+ Người do người tham gia bảo hiểm chỉ định với sự đồng ý của của người được bảo hiểm

+ Người thừa kế hợp pháp của người được bảo hiểm

d) Giá trị giải ước

Là số tiền mà người tham gia bảo hiểm được nhận theo các quy định trong điều khoản của hợp đồng khi người tham gia bảo hiểm yêu cầu huỷ bỏ hợp đồng trước thời hạn hoặc khi hợp đồng chấm dứt hiệu lực

Trang 36

39

- Đối với các hợp đồng đóng phí một lần: có giá trị giải ước ngay khi hợp đồng bắt đầu có hiệu lực

- Đối với các hợp đồng đóng phí định kỳ (tháng, quý, nửa năm, năm)

có giá trị giải ước khi hợp đồng có hiệu lực từ 2 năm trở lên

Như vậy, thường thì người tham gia bảo hiểm được 2 năm trở lên nếu không tham gia nữa thì người tham gia BHNT mới nhận lại gần đủ số tiền mà mình đã đóng (vì công ty bảo hiểm đã trừ những chi phí phát sinh), còn những hợp đồng có thời gian dưới 2 năm thì chưa có giá trị giải ước, đồng nghĩa với việc người tham gia sẽ chẳng nhận được gì từ phía công ty bảo hiểm nếu không tiếp tục tham gia nữa (huỷ hợp đồng)

e) Số tiền bảo hiểm

Là giới hạn trách nhiệm của công ty bảo hiểm đối với người được bảo hiểm khi có những sự kiện như quy định trong hợp đồng xảy ra

f) Hợp đồng BHNT

Là thoả thuận có tính chất ràng buộc pháp lý được lập bằng văn bản, thông qua đó người tham gia bảo hiểm cam kết nộp phí bảo hiểm để người được bảo hiểm hoặc người thụ hưởng quyền lợi bảo hiểm nhận số tiền chi trả, bồi thường từ công ty bảo hiểm khi phát sinh các sự kiện được bảo hiểm theo quy định trong hợp đồng

g) Khái niệm rủi ro trong BHNT

Là những sự kiện không chắc chắn có liên quan đến tổn thất phải gánh chịu

về sức khoẻ, tính mạng phải gánh chịu trong tương lai, bao gồm những sự kiện:

Trang 37

40

Ở nước ta hoạt động BHNT mới được triển khai từ năm 1996 tới nay, như vậy khoảng thời gian hoạt động hơn 6 năm chưa phải là dài, cho nên nước ta vẫn còn là một thị trường BHNT đầy tiềm năng

- Dân số nước ta đến nay gần 80 triệu người, nhưng theo con số thống

kê của ngành bảo hiểm số người tham gia BHNT chỉ chiếm gần 2%

- Nguồn vốn trong nhân dân khá lớn, vẫn được tích luỹ đơn thuần mà chưa được huy động

- Kinh tế nước ta từ khi đổi mới đến nay tăng trưởng khá và ổn định, thu nhập bình quân đầu người ngày càng tăng, đời sống nhân dân được nâng cao

- Văn hoá Việt Nam chịu nhiều ảnh hưởng của nền văn hoá phương Đông, nên người dân luôn có tâm lý lo xa, tiết kiệm

Với những tiềm năng của thị trường BHNT như vậy, trong tương lai nếu như ngành bảo hiểm có những chính sách, chiến lược và biện pháp hữu hiệu, thoả đáng thì loại hình này sẽ phát triển rất mạnh và sẽ chiếm tỷ trọng cao trong doanh thu bảo hiểm và còn góp phần đảm bảo cho người dân có một tương lai an toàn

b) Thực trạng thị trường BHNT nước ta hiện nay

Hiện nay, trên thị trường BHNT nước ta có 5 công ty đang hoạt động trong lĩnh vực này đã làm cho thị trường BHNT phát triển với một tốc độ cao

và cạnh tranh gay gắt, toàn diện trên tất cả các mặt như thu hút khách hàng, thu hút đại lý, sản phẩm, dịch vụ, địa bàn hoạt động, quảng cáo Năm 2001 vừa qua đạt đạt doanh thu phí 2.800 tỷ đồng (chiếm 0,55% GDP), vượt khá xa

so với tổng doanh thu phí bảo hiểm phi nhân thọ, của toàn thị trường Số hợp đồng BHNT tính đến đầu năm 2002 là 1,7 triệu (tương đương với 2% dân số),

5 doanh nghiệp đang triển khai hoạt động BHNT là:

* Tổng công ty Bảo hiểm Việt Nam (Bảo Việt) - Nhà kinh doanh BHNT hàng đầu Việt Nam

- Là doanh nghiệp nhà nước được xếp hạng đặc biệt

Trang 38

41

- Ngày 01/08/1996 phát hành hợp đồng BHNT đầu tiên

- Vốn kinh doanh: 557 tỷ đồng ( tương đương 55 triệu USD)

- Thời hạn hoạt động không kỳ hạn

* Công ty trách nhiệm hữu hạn BHNT Mannulife

- Là công ty 100% vốn nước ngoài của Tập đoàn Manulife (Canada)

- Khai trương hoạt động ngày 12/06/1999

- Vốn đăng ký kinh doanh 10 triệu USD

- Thời gian hoạt động 50 năm

* Công ty trách nhiệm hữu hạn BHNT Prudential

- Là công ty 100% vốn nước ngoài của Anh quốc

- Khai trương hoạt động ngày 29/10/1999

- Vốn đăng ký kinh doanh 14 triệu USD

- Thời gian hoạt động 50 năm

* Công ty trách nhiệm hữu hạn Bảo Minh - CMG

- Liên doanh giữa tập đoàn CMG (Australia) và Công ty bảo hiểm Thành phố Hồ Chí Minh (Bảo Minh)

- Vốn đăng ký kinh doanh 6 triệu USD

- Khai trương hoạt động ngày 12/10/1999

- Thời hạn hoạt động 30 năm

- Bảo Minh –CMG ban đầu khai thác bảo hiểm trên cơ sở những đại diện sẵn có của Bảo Minh hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam

* Công ty trách nhiệm hữu hạn BHNT quốc tế Mỹ AIA

- Công ty 100% vốn của Tập đoàn AIA của Mỹ

- Khai trương hoạt động ngày 22/2/2000

- Vốn đăng ký kinh doanh 10 triệu USD

- Thời gian hoạt động 50 năm

* Thị phần BHNT năm 2001 của các công ty BHNT nước ta như sau:

Bảo Việt: 54,3%, Prudental: 29,9%, Manulife: 10,8%, AIA: 3,6%, Bảo

Minh - CMG : 1,4% (chia theo doanh thu) (Nguồn: Tổng công ty bảo hiểm

Trang 39

42

Việt Nam) Hiện nay, các doanh nghiệp BHNT đã xây dựng được mạng lưới

cung cấp dịch vụ khắp cả nước, (điển hình là Bảo Việt đã có ở 61/61 tỉnh thành) đáp ứng nhu cầu BHNT của mọi tầng lớp nhân dân từ thành thị đến nông thôn

1.3 LOẠI HÌNH BHNT DƯỚI GÓC ĐỘ TÂM LÝ HỌC

1.3.1 Thái độ với loại hình BHNT

Sau khi phân tích các định nghĩa về thái độ của một số nhà tâm lý học

đã trình bày ở phần trên, chúng tôi đưa ra định nghĩa về thái độ đối với loại

hình BHNT như sau: Là một trạng thái tâm lý, là một thuộc tính trọn vẹn của

ý thức, nó thể hiện hứng thú, tình cảm của con người tới loại hình BHNT thông qua những đánh giá về các mặt nhận thức về loại hình BHNT, xúc cảm, tình cảm với loại hình BHNT và hành vi với loại hình BHNT

1.3.2 Nhu cầu về loại hình BHNT

Nhu cầu là một trong những thành tố quan trọng trong xu hướng của nhân cách, là sự đòi hỏi tất yếu mà con người thấy cần được thoả mãn để tồn tại và phát triển Ở đây nhu cầu về loại hình BHNT chính là sự đòi hỏi, mong muốn hạn chế những khó khăn tổn thất về vật chất khi không may gặp rủi ro hoặc mong muốn có một quỹ tài chính cho tương lai để thực hiện những dự định, kế hoạch lớn cho mình và gia đình, đảm bảo có thu nhập ổn định khi hết tuổi lao động Nói một cách khái quát nhu cầu về loại hình BHNT chính là sự đòi hỏi được đảm bảo an toàn, được bảo vệ

Thông thường hành động của con người tại một thời điểm nào đó thường được quyết định và thúc đẩy bởi nhu cầu mạnh nhất của họ Khi con người nhận thức được nhu cầu đó và phương thức để thoả mãn nhu cầu đó (nhu cầu gặp đối tượng có khả năng đáp ứng sự thoả mãn) thì sẽ hình thành động cơ hoạt động của con người nhằm thoả mãn nhu cầu đó

Nhu cầu về loại hình BHNT xếp theo hệ thống phân cấp các nhu cầu của Abraham Maslow thuộc nhu cầu an toàn và được xếp ở cấp độ thứ 2 sau

Trang 40

43

nhu cầu sinh lý Con người mong muốn thoát khỏi những rủi ro trong cuộc sống như tai nạn, bệnh tật, bấp bênh về kinh tế và chính BHNT là phương thức rất hữu hiệu để đảm bảo sự chắc chắn nào đó rằng các tai hoạ này có thể tránh được (tức là BHNT là hình thức thoả mãn nhu cầu an toàn này) Con người ai cũng có nhu cầu an toàn nên chúng ta có thể khẳng định rằng: mọi người đều có nhu cầu về loại hình BHNT nhưng vấn đề là không phải ai cũng nhận thức được điều đó và có đủ điều kiện tài chính để thoả mãn nhu cầu đó

Sự phát triển về kinh tế và khoa học- kỹ thuật là cơ sở vật chất đảm bảo cho sự tăng trưởng nhu cầu về loại hình BHNT ở người dân Ở các nước có nền kinh tế phát triển nhu cầu về bảo hiểm nói chung và loại hình BHNT nói riêng là nhu cầu căn bản của mọi người dân trong xã hội Biểu hiện cụ thể của

sự phát triển kinh tế ở thu nhập và khả năng thanh toán Nhưng thu nhập và khả năng thanh toán chỉ là cơ sở quan trọng làm tăng cường nhu cầu tiêu dùng sản phẩm BHNT, còn yếu tố quyết định nhu cầu tiêu dùng sản phẩm BHNT lại là yếu tố tâm lý, ý thức, thái độ của con người với loại hình này

1.3.3 Động cơ tham gia BHNT

Động cơ tham gia BHNT là động lực tác động, điều khiển thúc đẩy con người hoạt động để đạt được mục đích của mình là sự thôi thúc thực hiện những mong muốn của mỗi cá nhân Khi con người ý thức được nhu cầu về loại hình BHNT, nhận thấy mình có đủ điều kiện tham gia, có thể tiếp cận được các công ty BHNT thì lúc này nhu cầu đó đã trở thành động cơ thôi thúc

họ tham gia BHNT Động cơ tham gia BHNT xuất phát từ sự thôi thúc của nhận thức lý tính và nhận thức cảm tính Động cơ đó được xác lập trên cơ sở lợi ích của sản phẩm BHNT và sự phù hợp giữa các lợi ích đó với đặc điểm

cụ thể của mỗi con người Theo chúng tôi động cơ tham gia BHNT có thể chia thành những loại chủ yếu sau:

- Động cơ đảm bảo an toàn trong cuộc sống (tránh được khó khăn về kinh tế khi gặp rủi ro)

Ngày đăng: 23/03/2015, 13:55

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2: Diễn biến tâm lý của hành vi tham gia BHNT - Tìm hiểu thái độ của người dân Hà Nội với loại hình bảo hiểm nhân thọ
Sơ đồ 2 Diễn biến tâm lý của hành vi tham gia BHNT (Trang 43)
Hình thức chiếm dụng vốn  19 - Tìm hiểu thái độ của người dân Hà Nội với loại hình bảo hiểm nhân thọ
Hình th ức chiếm dụng vốn 19 (Trang 55)
Bảng 2: Đánh giá ý nghĩa quan trọng nhất của BHNT với cuộc sống - Tìm hiểu thái độ của người dân Hà Nội với loại hình bảo hiểm nhân thọ
Bảng 2 Đánh giá ý nghĩa quan trọng nhất của BHNT với cuộc sống (Trang 61)
Hình BHNT - Tìm hiểu thái độ của người dân Hà Nội với loại hình bảo hiểm nhân thọ
nh BHNT (Trang 61)
Bảng 3: Nhận thức của người dân về ý nghĩa của loại hình BHNT - Tìm hiểu thái độ của người dân Hà Nội với loại hình bảo hiểm nhân thọ
Bảng 3 Nhận thức của người dân về ý nghĩa của loại hình BHNT (Trang 65)
Bảng 4: Nhận thức về đối tượng của loại hình BHNT - Tìm hiểu thái độ của người dân Hà Nội với loại hình bảo hiểm nhân thọ
Bảng 4 Nhận thức về đối tượng của loại hình BHNT (Trang 67)
Bảng 6 Nhận thức về thời gian tham gia BHNT - Tìm hiểu thái độ của người dân Hà Nội với loại hình bảo hiểm nhân thọ
Bảng 6 Nhận thức về thời gian tham gia BHNT (Trang 71)
Bảng 9: Niềm tin của người dân với loại hình BHNT - Tìm hiểu thái độ của người dân Hà Nội với loại hình bảo hiểm nhân thọ
Bảng 9 Niềm tin của người dân với loại hình BHNT (Trang 78)
Bảng 11:  Yếu tố chủ yếu làm người dân chưa tin tưởng loại hình BHNT - Tìm hiểu thái độ của người dân Hà Nội với loại hình bảo hiểm nhân thọ
Bảng 11 Yếu tố chủ yếu làm người dân chưa tin tưởng loại hình BHNT (Trang 82)
Bảng 12 Mức độ bền vững của niềm tin vào loại hình BHNT - Tìm hiểu thái độ của người dân Hà Nội với loại hình bảo hiểm nhân thọ
Bảng 12 Mức độ bền vững của niềm tin vào loại hình BHNT (Trang 84)
Bảng 13: Niềm tin vào loại hình BHNT theo giới tính - Tìm hiểu thái độ của người dân Hà Nội với loại hình bảo hiểm nhân thọ
Bảng 13 Niềm tin vào loại hình BHNT theo giới tính (Trang 86)
Bảng 17: Hành vi cụ thể khi thấy người khác tham gia BHNT - Tìm hiểu thái độ của người dân Hà Nội với loại hình bảo hiểm nhân thọ
Bảng 17 Hành vi cụ thể khi thấy người khác tham gia BHNT (Trang 92)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w