Thành phố Saigon ngày nay mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hình thành từ rất lâu… hơn 300 năm, nhưng đông đúc và sầm uất là từ thế kỷ thứ 19. Bến Nghé năm xưa, Saigon và thành phố Hồ Chí Minh ngày nay có một vị trí đặc biệt quan trọng. Hiện nay do hoàn cảnh lịch sử và vị trí địa dư thuận lợi, Saigon – thành phố Hồ Chí Minh trở thành một trung tâm công nghiệp, một trung tâm văn hóa và khoa học kỹ thuật, một đầu mối giao thông quan trọng. Thời gian 30 năm không phải là dài so với lịch sử dân tộc hay lịch sử Saigon – thành phố Hồ Chí Minh, nhưng 30 năm qua là một khoảng thời gian mang nhiều ý nghĩa to lớn cho sự phát triển của đất nước, của thành phố Hồ Chí Minh và sự nghiệp giáo dục đào tạo thành phố trong đó có quá trình xây dựng và phát triển của ngành Giáo dục mầm non thành phố Hồ Chí Minh.
Trang 1NGÀNH GIÁO DỤC MẦM NON TP HỒ CHÍ MINH
30 NĂM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN
A. PHẦN MỞ ĐẦU
Thành phố Saigon ngày nay mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hình thành từ rất lâu…
hơn 300 năm, nhưng đông đúc và sầm uất là từ thế kỷ thứ 19
Bến Nghé năm xưa, Saigon và thành phố Hồ Chí Minh ngày nay có một vị trí đặc biệt quan trọng Hiện nay do hoàn cảnh lịch sử và vị trí địa dư thuận lợi, Saigon – thành phố Hồ Chí Minh trở thành một trung tâm công nghiệp, một trung tâm văn hóa và khoa học kỹ thuật, một đầu mối giao thông quan trọng
Thời gian 30 năm không phải là dài so với lịch sử dân tộc hay lịch sử Saigon – thành phố Hồ Chí Minh, nhưng 30 năm qua là một khoảng thời gian mang nhiều ý nghĩa to lớn cho sự phát triển của đất nước, của thành phố Hồ Chí Minh và sự nghiệp giáo dục đào tạo thành phố trong đó có quá trình xây dựng và phát triển của ngành Giáo dục mầm non thành phố Hồ Chí Minh
B. NGÀNH GIÁO DỤC MẦM NON TP.HỒ CHÍ MINH –
30 NĂM HÌNH THÀNH XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN
I. Giáo dục Mầm non ở Saigon trước năm 1975
1) Thời kỳ 1945 – 1954:
Từ năm 1945 đến năm 1954 ở Saigon về giáo dục, rất ít người quan tâm đến nhu cầu, học tập của con em nhân dân ở độ tuổi ấu thơ (3 đến 6 tuổi) trước khi vào học cấp tiểu học
Từ năm 1954, trong khi ở nhiều nước Âu Mỹ, ngành mẫu giáo đã phát triển mạnh với nhiều phương pháp giáo dục mới, tiến bộ của các nhà sư phạm Montessori, Decroly, Freinet… thì ở Saigon mới có một số ít trường tư thục mở lớp mẫu giáo tiếng Pháp cho con em nhà giàu như trường Michelet, Calmette, Auroe, Mạnh Mẫu và một số trường công giáo khác như Caritas, Sainte Enfance…
Trong chương trình giáo dục của chính quyền Saigon lúc bấy giờ không có chương trình mẫu giáo nên các trường công lập không mở lớp mẫu giáo, cũng không có tư thục về ngành này
Lúc đó ở Saigon có nhiều nhà giáo quan tâm đến việc dạy trẻ em nhỏ ở Việt Nam bằng tiếng Việt với một phương pháp phù hợp trẻ Việt Nam nên đã nghiên cứu và viết nhiều bài báo giới thiệu phương pháp giáo dục mới Trong số này có nhà văn nhà giáo Thiên Giang giới thiệu phương pháp Decroly; từ năm 1950 anh Phan Văn Vệ đã cộng tác với báo “Dạy trẻ” ở Hà Nội là
tờ báo hỗ trợ cho lớp mẫu giáo thí điểm ở Hà Nội
Trang 22) Thời kỳ 1954-1975
Sau hiệp định Genève (7/1954), tình hình chính trị ở Saigon cũng như trong cả nước có nhiều chuyển biến quan trọng Ở miền Nam, chính quyền Ngô Đình Diệm được Mỹ dựng lên làm công cụ thực hiện chế độ thực dân kiểu Mỹ Dùng văn hóa giáo dục làm phương tiện âm mưu đầu độc thanh thiếu niên Việt Nam, làm họ quên đi bản chất Việt Nam, chạy theo lối sống thụ hưởng kiểu Mỹ, trở thành công cụ phục vụ cuộc chiến tranh xâm lược của chúng
Nhân dân đô thị, nhất là ở Saigon, cương quyết chống âm mưu thâm độc đó Các trí thức, nhà báo, nhà giáo, nhà văn tiến bộ, với sự đồng tình của phụ huynh học sinh đã dùng tiếng Việt dạy học từ mẫu giáo đến Đại học để phát huy tình yêu tiếng mẹ đẻ
Một yêu cầu bức xúc khác nữa là việc mở lớp học cho trẻ nhỏ - con em gia đình lao động - để cha mẹ các cháu yên tâm làm ăn sinh sống, đồng thời tạo cơ sở giúp gia đình anh chị
em đi kháng chiến và cán bộ hoạt động nội thành
Nhằm đáp ứng yêu cầu đó, những người có tâm huyết như các ông Lưu Văn Lê, Văn Công Lầu, Phan Văn Vệ… đứng ra tổ chức lớp đào tạo giáo viên mẫu giáo đầu tiên ở Saigon vào năm 1954 tại tư thục Lam Sơn (ngã sáu Chợ Lớn) do chị Dung làm Hiệu trưởng Lớp học có
63 chị tham dự Các thành viên trong Chi hội Truyền bá chữ Quốc ngữ, ngã sáu Chợ lớn đỡ đầu
về mặt tài chánh Chương trình huấn luyện gồm có: tâm lý nhi đồng, đạo đức giáo viên mẫu giáo, vận dụng các phương pháp mẫu giáo của Decroly, Montessori, Freinet cho thích hợp với điều kiện và hoàn cảnh của Việt Nam Các môn nghiệp vụ là nhạc, vẽ, múa, thủ công, y tế trẻ em; thời gian huấn luyện là 6 tháng Về sau, số giáo viên này làm lực lượng nòng cốt tổ chức hàng chục trường mẫu giáo ở Saigon, Chợ Lớn Có thể kể:
Trường mẫu giáo Việt Nam trong cư xá công chức Chí Hoà (1955)
Trường mẫu giáo Việt Nam Chợ Quán trong hẻm xóm lao động Chợ Quán (1956)
Trường mẫu giáo Hoà Hưng tại nhà bà giáo Phan Thị Của (1956)
Trường mẫu giáo Việt Nam Chim Non tại góc đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa và Trần Quang Diệu (1957)
Trường mẫu giáo Mầm non ở Bình Thạnh và đường Nguyễn Tri Phương quận
10 (1958)
Trường mẫu giáo Việt Nam Trần Quốc Toản (1960)
Trường mẫu giáo Việt Nam Phú Lâm (1967)
Trường mẫu giáo Hợp Phố 200 Lê Quang Định, Bình Thạnh (1967)
Các lớp học đều lấy học phí rất nhẹ, vừa đủ trang trải chi phí để con em nhân dân có thể đi học được Trong các dịp lễ, Tết các trường tổ chức nhiều buổi nói chuyện với phụ huynh
Trang 3Năm 1960 ông Phan Văn Vệ, Trưởng ty Gia Định hỗ trợ mở lớp tu nghiệp giáo viên mẫu giáo, học tại hội trường Ty Tiểu học Gia Định, có 200 người tham dự
Ngày 20/11/1967, Hội Ái hữu Giáo chức bậc Tiểu học, nghiệp đoàn Giáo dục tư thục Việt Nam, Hội bảo vệ nhân phẩm và quyền lợi phụ nữ mở lớp tu nghiệp giáo viên mẫu giáo tại trường tiểu học Phan Đình Phùng (Bàn Cờ) thu hút 300 học viên tham gia, trong đó có cả nữ tu Thiên chúa giáo, Phật giáo và giáo viên người Hoa
Năm 1970, tại trường tiểu học Phan Đình Phùng đã mở một đợt hoạt động mẫu giáo Triển lãm đồ dùng dạy học tự tạo, trình bày phương pháp dạy mẫu, hướng dẫn các cô dạy hát, dạy múa, múa rối, kể chuyện cho trẻ từng lứa tuổi Đến năm 1973, mở một lớp tu nghiệp mẫu giáo gồm 246 học viên, có nhiều hiệu trưởng các trường mẫu giáo Pháp đã tu nghiệp ở nước ngoài cũng đến tham dự
Sau ngày Saigon được giải phóng, đội ngũ giáo viên này đã làm hạt nhân góp phần tích cực cho việc xây dựng ngành học mầm non của thành phố như các chị: Nguyễn Thị Nhân, Nguyễn Thị Mẹo, Phan Thị Nhàn, Phan Ngọc Ẩn, Châu Kim Lộc, Huỳnh Thị Nhung, Đặng Yến Nhi, Lê Thị Minh, Châu Thị Ba, Ngụy Như Sương, Nguyễn Thị Bảy…
Trước giải phóng, thực sự thành phố chỉ có 5 trường mẫu giáo đúng quy cách, còn lại
361 trường tiểu học có mở thêm lớp mẫu giáo hoặc có một số lớp mẫu giáo mở tại tư gia Có 36.000 cháu độ tuổi mẫu giáo theo học các trường lớp này Về tổ chức quản lý chủ yếu do tư nhân kinh doanh hoặc do tôn giáo mở ra với mục đích tuyên truyền đạo giáo Và một số ít do những nhà giáo có tâm huyết quản lý để giúp đỡ con em gia đình lao động nghèo và tạo điều kiện cho anh chị em đi kháng chiến hoạt động nội thành
II. Giáo dục mầm non ở thành phố Hồ Chí Minh từ sau ngày giải phóng đến năm 2005
1) Giáo dục Mầm non thành phố những năm đầu sau giải phóng miền Nam thời kỳ cải tạo và xây dựng nền giáo dục mới (từ 5/1975 đến hết năm học 1976-1977)
Hai năm thực hiện chỉ thị 221/CT-TW của Ban Bí thư TW Đảng:
1.1 Đối với ngành học Mẫu giáo: Chỉ thị 221/CT-TW đã nêu:” Cần tổ chức các lớp mẫu giáo ở các cơ sở của thành thị và nông thôn cho trẻ em từ 3 đến 5 tuổi” Chú trọng trước hết đến con em cán bộ và nhân dân lao động mà đời sống còn nhiều khó khăn”
Phòng Mẫu giáo của Sở Giáo dục đã phối hợp với Thành đoàn và Thành hội phụ nữ chọn 44 chị em cơ sở cách mạng có trình độ văn hóa có kinh qua giảng dạy để bố trí làm cán bộ phụ trách mẫu giáo ở các quận huyện Với lực lượng nòng cốt này, các quận huyện đã tập trung tuyên truyền vận động số giáo viên cũ đăng ký dạy lại
Đã chọn 1617 giáo viên (trong số gần 2000 chị em đăng ký) Sau khi được bồi dưỡng
cơ bản, các giáo viên này đã về các địa phương củng cố và xây dựng các trường lớp mẫu giáo
để kịp khai giảng năm học mới cùng các trường phổ thông (19/10/1975)
Ngay trong năm học 1975-1976, ngành học mẫu giáo đã có bước phát triển nhảy vọt rất đáng phấn khởi Tính đến tháng 10/1976 toàn thành phố đã có 1920 lớp với 1973 giáo viên nuôi dạy 62.260 cháu (đạt 21% số cháu trong độ tuổi mẫu giáo) Trong đó có 9020 cháu ở ngoại thành Số học sinh đã tăng gấp hai lần trước giải phóng Con em các gia đình không phân biệt giàu nghèo đều được thu nhận vào các trường mẫu giáo
Trang 41.2 Đối với ngành nhà trẻ.
Sau 30/04/1975, Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố Hồ Chí Minh là đơn vị tổ chức và chỉ đạo hoạt động các nhà trẻ
Cuối năm 1975 đã có 10 nhà trẻ thu nhận 878 cháu với 106 cô nuôi dạy trẻ Các quận huyện cũng lần lượt tổ chức các nhà trẻ Cuối 1976 có 121 nhà trẻ với 631 cô nuôi dạy trẻ chăm sóc nuôi dạy 5.010 cháu Đồng thời Sở Thương binh xã hội giao cho Hội 42 Ký nhi viện để chuyển thành nhà trẻ thu nhận con cán bộ công nhân viên trong độ tuổi từ 2 đến 48 tháng tuổi
Trong hai năm đầu sau giải phóng, những gì đã làm được là nhằm mục đích xây dựng được nền móng cho quá trình phát triển lâu dài của sự nghiệp Giáo dục Mầm non thành phố -> ý nghĩa và giá trị của những thành tích về giáo dục mầm non chính là ở tầm quan trọng này.
2) Giáo dục mầm non thành phố trong quá trình thực hiện cải cách giáo dục (từ năm học 1977-1978 đến năm học 1989-1990)
2.1 Thời kỳ phát triển số lượng, từng bước nâng cao chất lượng giáo dục (năm học 1977-1978 đến năm học 1979-1980)
2.1.1 Khu vực mẫu giáo:
Tốc độ phát triển của ngành mẫu giáo thành phố tăng nhanh trong 3 năm kế tiếp Đến năm học 1979-1980, đã có 107.820 học sinh mẫu giáo (đạt tỉ lệ 44% tổng số cháu trong độ tuổi
và tăng gấp hai lần so với năm học 1975-1976) Nếu như trong những năm đầu, cách dạy còn gò
bó, theo nền nếp cũ không phù hợp với tâm, sinh lý tuổi mẫu giáo khiến cho học sinh thiếu linh hoạt, thiếu mạnh dạn và hồn nhiên thì từ năm 1980, nhờ những cải tiến về phương pháp giáo dục bắt đầu từ những kinh nghiệm của trường mẫu giáo Măng non I quận 10 được nhân rộng ra nên chất lượng ngày càng chuyển biến tốt Trẻ linh hoạt, vui tươi, lễ phép, sạch sẽ, thoải mái, hồn nhiên trong giao tiếp; có thói quen vệ sinh, lao động tự phục vụ, lao động tập thể và dần dần hình thành thói quen tốt trong học tập Sự chuyển biến về chất lượng giáo dục ở các trường, lớp mẫu giáo đã góp phần chuẩn bị tốt việc đưa trẻ vào lớp 1
Nhiều đơn vị đã tiến hành song song nhiều biện pháp thiết thực, phù hợp với từng địa phương, từng vùng, phát huy tác động tương hỗ của số lượng và chất lượng giáo dục Đã xuất hiện nhiều điển hình tiên tiến rất đáng khâm phục: trường mẫu giáo Măng non I (quận 10), Hoa
Lư (quận 1), Sư phạm Thực hành (quận 5), Rạng Đông (quận 6), Thới Tam (Hóc Môn), Bông Sen 2 (Củ Chi)… đã không ngừng nâng cao chất lượng nuôi dạy trẻ, thu hút được nhiệt tình giúp
đỡ của phụ huynh và nhân dân địa phương từ đó đã nhân ra cách làm, cách nghĩ mạnh dạn sáng tạo của Phòng học cụ mẫu giáo quận 6, của Chi đoàn mẫu giáo phường 9 Gò Vấp, đã có thêm những điển hình mới như Phòng học cụ mẫu giáo quận Phú Nhuận, Tổ học cụ mẫu giáo quận 11, Tổ Thanh niên mẫu giáo xã Thạnh Lộc (Hóc Môn) v.v… Phường 12, quận Gò Vấp tổ chức lớp mẫu giáo bán trú từ các tập đoàn sản xuất, dùng loa phóng thanh truyền tình hình của các cháu ở lớp làm cho cha mẹ yên tâm đối với việc nuôi dạy của trường
2.1.2 Khu vực nhà trẻ:
Tháng 4/1977 Uỷ Ban Bảo vệ Bà mẹ và Trẻ em thành phố Hồ Chí Minh được chính thức thành lập Hội Liên hiệp phụ nữ đã bàn giao các cơ sở nhà trẻ cho Uỷ Ban Bảo vệ Bà mẹ và Trẻ Em quản lý
Trang 52.2 Thời kỳ tiếp tục phát triển số lượng, nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ (năm học 1980-1982 đến năm học 1987-1988)
2.2.1 Khu vực mẫu giáo:
Trong những năm này, các trường, lớp mẫu giáo tuy vẫn tiếp tục phát triển nhưng tốc
độ có chậm lại do số phòng học tăng thêm không tương ứng với số học sinh tăng trong khi lại phải dành phòng để mở các lớp mẫu giáo bán trú Đến năm học 1984-1985, đã có 114.780 học sinh mẫu giáo (đạt tỉ lệ huy động 47%) Số học sinh bán trú tăng nhanh với 35.016 cháu (chiếm 30,5% tổng số học sinh mẫu giáo tăng gấp 22 lần so với năm học 1975-1976) Trong sự phát triển chung của ngành mẫu giáo, điều đáng phấn khởi là ở các huyện ngoại thành từ chỗ hầu như chưa có gì thì đến nay hầu hết các xã đều có trường, lớp mẫu giáo Tuy tỉ lệ huy động có thấp hơn so với nội thành song lại có sự phát triển nhanh qua các năm học (năm học 1975-1976,
tỉ lệ huy động ở ngoại thành là 11% so với 21% của toàn thành phố thì đến năm học 1984-1985,
tỉ lệ huy động đã là 30% so với 47%)
Ngành học mẫu giáo phát triển nhanh nhờ tăng kinh phí đầu tư của thành phố (năm học 1983-1984 đầu tư 31.700.986 đồng, tăng 30 lần so với năm học 1980-1981) và sự hỗ trợ tích cực của quỹ phúc lợi các đơn vị (12-15%) và của nhân dân (6-10%)
Chỉ trong vòng 10 năm, trường lớp mẫu giáo đã có ở hầu hết các phường, xã là một thắng lợi lớn Mặc dù còn những mặt yếu về tỉ lệ huy động trẻ vào lớp, về quy cách trường, lớp v v… song kết quả này là biểu hiện tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội, được các tầng lớp nhân dân hoan nghênh và ủng hộ.
Chất lượng nuôi dạy từng bước đã có sự chuyển biến khá chắc, góp phần chuẩn bị tốt việc đưa trẻ đúng độ tuổi vào lớp một cải cách giáo dục
Mẫu giáo là một ngành học mới, còn non trẻ Tình hình kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn Đời sống nhân dân lao động còn nhiều thiếu thốn Trong bối cảnh đó, sự phát triển về số lượng và chất lượng của giáo dục mẫu giáo là một thành tựu to lớn, khẳng định tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa Người lao động, chủ yếu là lao động nữ, được giải phóng sức lao động
có điều kiện tăng ngày công, tăng năng suất lao động, nguồn thu nhập được tăng thêm, con cái được nuôi dạy tốt… đã cảm nhận sâu sắc ý nghĩa của sự đổi đời, càng thêm tin yêu chế độ, càng hăng hái lao động sản xuất và góp công, góp sức xây dựng ngành học
Trong những năm từ 1985 đến 1987, mặc dù chế độ, chính sách đối với giáo viên quá thiếu thốn, đa số cán bộ, giáo viên ngành học mẫu giáo vẫn phát huy lòng yêu nghề, yêu trẻ,
cố gắng duy trì lớp để nuôi dạy các cháu Đã chú trọng mở thêm các lớp mẫu giáo ở các quận có đồng bào Thiên chúa giáo, người Hoa Lớp mẫu giáo bán trú tăng thêm, có cả ở ngoại thành Trong khi cố gắng huy động trẻ ở cả 3 độ tuổi, đã chú trọng huy động thêm số trẻ 5 tuổi đến trường góp phần đảm bảo tỉ lệ huy động trẻ vào lớp 1 Về chất lượng giáo dục, chuyển biến rõ nét nhất là ở các trường trọng điểm, trường tiên tiến Ở những trường này, trong một khung cảnh
sư phạm đẹp có tác động giáo dục thẩm mỹ, với hình thức giáo dục phong phú, linh hoạt phù hợp với nhu cầu tâm lý của trẻ, dìu dắt trẻ hoạt động, tránh được lối giáo dục gò bó nên các cháu
đã được phát triển tính mạnh dạn, hồn nhiên, vui tươi trong học tập, vui chơi Các cháu được chăm sóc toàn diện: khoẻ mạnh, phát triển nhận thức, xây dựng được một số nền nếp học tập và sinh hoạt, có ý thức tự phục vụ, giữ gìn vệ sinh cá nhân, mạnh dạn, hào hứng tham gia vào các hoạt động, đặc biệt là hoạt động vui chơi có tính giáo dục - hoạt động chính của trường mẫu giáo Nhân cách của trẻ đã bộc lộ và sớm được bồi dưỡng
Thắng lợi này trước hết thể hiện quan điểm đúng đắn của Đảng đối với thế hệ mầm non, coi đây là “vấn đề xã hội to lớn, liên quan đến sự phát triển kinh tế và văn hoá của đất nước” Với tư tưởng “nếu chưa có chủ nghĩa xã hội cho người lớn thì trước hết
Trang 6phải có chủ nghĩa xã hội cho trẻ em” Thành uỷ và Uỷ ban nhân dân thành phố đã dành nhiều điều kiện thuận lợi về kinh phí, về cơ sở vật chất… cho ngành học mẫu giáo cũng như ngành nhà trẻ Đó cũng là công lao đóng góp của đội ngũ cán bộ, giáo viên ngành học Nhận rõ trách nhiệm nặng nề trong việc giáo dục thế hệ trẻ ngay từ thuở ấu thơ, các chị em đã vượt qua bao nỗi nhọc nhằn trong cuộc sống, gắn bó với nghề nghiệp, hết lòng thương yêu các cháu, luôn học hỏi kinh nghiệm, trau dồi nghiệp vụ, đã góp phần quyết định tạo nên những thành công đáng quý.
Trường mẫu giáo (Đơn vị: trường)
Toàn thành
Nội thành
Ngoại thành
363 267 96
381 270 111
373 260 113
371 226 123 Học sinh mẫu giáo
(Đơn vị: người)
Toàn thành
Nội thành
Ngoại thành
109.370 82.210 26.160
122.064 92.593 29.471
131.777 101.346 30.431
135.830 104.594 31.236 2.2.2 Khu vực nhà trẻ:
Năm 1985, có 564 nhà trẻ, 4.850 cô nuôi dạy trẻ, 31.089 cháu 100% phường, 65%
xã có nhà trẻ So với năm 1975, số nhà trẻ tăng 56 lần, số cháu tăng 46 lần Các nhà trẻ đều cải tạo và xây dựng từ những cơ sở cũ, những nhà ở của tư nhân, nên điều kiện nuôi dạy trẻ gặp rất nhiều hạn chế Tranh thủ sự viện trợ của các tổ chức quốc tế, thành phố đã xây dựng được 5 nhà trẻ có quy mô từ 100 đến 300 cháu
UIPE (Union Internation de Protection des Enfants) giúp xây nhà trẻ Thành phố (số 4, Trần Quốc Thảo, quận 3) thu nhận 300 cháu UNICEF giúp xây 4 nhà trẻ quy mô 100 cháu mỗi trường: nhà trẻ Nguyễn Tất Thành (quận 4), nhà trẻ 19/5 (quận 8), nhà trẻ Hữu Nghị (quận 11), nhà trẻ Bông Hồng (huyện Củ Chi), tổ chức FCD (Fonds Cooperatin de Dévelopment) của Bỉ giúp xây nông trại Tân Thắng (phường 16, quận Tân Bình) để cung cấp thịt, cá, trứng, rau xanh cho các cháu ở nhà trẻ Các cháu ở nông trại có một nhà trẻ riêng Tổ chức PI (Protection International) và một số Việt kiều hảo tâm đã giúp đỡ tiền, đồ dùng, đồ chơi, trang thiết bị cho các nhà trẻ
Ngoài tiền đóng góp của cha mẹ, chính quyền hỗ trợ thêm tiền ăn cho các cháu Ngành y tế thường xuyên khám sức khoẻ định kỳ cho các cháu và cô nuôi dạy trẻ, tiêm chủng phòng bệnh, phòng dịch theo mùa cho các cháu
Trang 72.3 Thời kỳ phấn đấu giữ vững chất lượng để ngành học mầm non được tồn tại trước những biến động và thách thức của cơ chế thị trường (Năm học 1988-1989 đến năm học
1989-1990)
Năm 1988, ngành Bảo vệ Bà mẹ và Trẻ Em thành phố hợp nhất với ngành Giáo dục xây dựng hệ thống giáo dục mầm non làm nhiệm vụ chăm sóc và giáo dục trẻ từ 6 đến 71 tháng tuổi Phòng Giáo dục Mầm non được thành lập
Trong những năm từ 1987 đến 1989, ngành học mầm non là ngành học bị tác động mạnh nhất khi chuyển sang cơ chế thị trường, có nhiều dấu hiệu báo động sự tan rã của ngành học nhất là ở khu vực nhà trẻ Do nhận thức không đầy đủ và cả nhận thức lệch lạc về “xoá bao cấp giáo dục”, các nhà trẻ, mẫu giáo được phân cấp cho phường, xã, xí nghiệp quản lý Nhiều xí nghiệp trong khi thực hiện cơ chế tự hạch toán thấy sự tồn tại của nhà trẻ, mẫu giáo là “gánh nặng” nên đã xoá dần; phường xã không đủ ngân sách lo cho giáo dục mầm non nên cũng giảm bớt trường, lớp; các cơ sở tốt của nhà trẻ, mẫu giáo - những điểm son về chủ nghĩa xã hội của trẻ thơ trong những năm 1976 - 1980 trở thành những “mục tiêu” cho một sự hoạch định về các
cơ sở dịch vụ thương mại, du lịch, nhà hàng, khách sạn… của các nhà “kinh tế thị trường” để thu lợi nhuận phục vụ lợi ích cục bộ của địa phương
Sai lầm này đã dẫn đến một hậu quả đáng buồn: nhiều nhà trẻ bị xoá sổ nhất là ở ngoại thành và cơ quan xí nghiệp; nhiều trường mẫu giáo bị đổi đến những nơi thiếu tiện nghi hoặc bị thu hẹp diện tích Do vậy, số cháu đến nhà trẻ, mẫu giáo giảm sút nghiêm trọng
Những số liệu chứng minh:
(47% trẻ trong độ tuổi)
(9,5% trẻ trong độ tuổi)
(34,5% trẻ trong độ tuổi)
Đây là những năm tháng gian nan nhất của ngành học Tồn tại và phát triển hay tan rã? Câu hỏi này nếu chưa làm động lòng những ai đã mạnh tay sử dụng những cơ
sở tốt của nhà trẻ, mẫu giáo cho mục đích kinh doanh thì luôn luôn là nỗi day dứt, thôi thúc các cán bộ giáo dục trước hết là cán bộ, giáo viên nhà trẻ, mẫu giáo suy nghĩ và hành động nhằm đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngành học mầm non – “một bộ phận rất quan trọng trong sự nghiệp đào tạo thế hệ trẻ thành những con người mới xã hội chủ nghĩa” – (trích Nghị quyết 14 của Bộ Chính trị về cải cách giáo dục) Cán bộ, giáo viên đã kiên trì bám trụ để giữ lại trường, lớp có thể giữ được, học sinh nhiều ít vẫn cứ dạy
Toàn ngành học mầm non từ đội ngũ cán bộ quản lý đến giáo viên xác định: Chỉ có một con đường duy nhất để tồn tại và phát triển là phải quyết tâm nâng cao chất lượng nuôi dạy trẻ bất luận dù khó khăn đến đâu Chất lượng nuôi dạy trẻ sẽ là một minh chứng hùng hồn cho
sự cần thiết tồn tại và phát triển ngành
Trang 8Cán bộ quản lý ngành học các cấp vừa vận động thuyết phục, vừa đấu tranh có lý, có tình, đồng thời đề xuất những biện pháp chấn chỉnh, khôi phục và phát triển ngành học
Và Uỷ ban nhân dân thành phố đã có những chủ trương kịp thời đối với ngành học:
Chuyển nhà trẻ, mẫu giáo cho Phòng Giáo dục quận, huyện quản lý toàn diện
Nghiêm cấm việc hoán đổi sai chức năng các cơ sở đã dành cho nhà trẻ, mẫu giáo
Thực hiện xã hội hoá giáo dục, tận dụng sự hỗ trợ tích cực của mọi lực lượng
xã hội, các ban ngành và sự đóng góp của cha mẹ học sinh để từng bước cải tạo, nâng cấp cơ
sở vật chất phục vụ tốt cho việc nuôi dạy trẻ
Có chính sách cụ thể chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho giáo viên mầm non (nhất là giáo viên ở ngoại thành)
Thực hiện đa dạng hoá các loại hình chăm sóc, giáo dục trẻ để tạo điều kiện cho tất cả trẻ em ở lứa tuổi mầm non đều được chăm sóc, giáo dục và điều kiện sống được cải thiện
Những quyết định đúng đắn và kịp thời này đã tạo được sự chuyển biến mới cho ngành học Đến năm 1989-1990, đã củng cố, ổn định và phát triển được nhiều loại hình chăm sóc, giáo dục trẻ nhằm duy trì số lượng trẻ đến trường phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều biến động Bên cạnh hệ thống nhà trẻ, mẫu giáo chính quy (273 nhà trẻ với 17.126 cháu và
346 trường mẫu giáo với 87.859 cháu), còn có 278 nhóm trẻ gia đình ở 15/18 quận, huyện thu nhận 5.348 cháu (nhà trẻ: 1783 cháu; mẫu giáo: 3556 cháu) Ngoài ra còn có 13 đơn vị nhà trẻ -mẫu giáo hợp nhất, 1 trường -mẫu giáo thực nghiệm và 1 trường -mẫu giáo dân lập Tổng cộng các loại hình giáo dục, chăm sóc trẻ của thành phố thu nhận được 18.956 cháu nhà trẻ (đạt 10,49% số cháu trong độ tuổi) và 91.424 cháu mẫu giáo (đạt 36% số cháu trong độ tuổi) Chất lượng giảng dạy được giữ vững Khối nhà trẻ thực hiện có kết quả nhiều chuyên đề Chất lượng chuyên môn khối mẫu giáo chuyển biến tốt Các cháu học theo chương trình cải cách đã phát triển tốt về nhiều mặt, phát huy được tính tích cực chủ động, thể hiện rõ sự hồn nhiên, thoải mái trong các hoạt động Các cháu thông minh, hoạt bát, mạnh dạn, tiếp thu kiến thức tốt
Hưởng ứng “Năm thiếu nhi của Việt Nam” và phong trào thi đua do Bộ Giáo dục phát động vận động toàn dân, toàn ngành tập trung chống suy dinh dưỡng cho trẻ
Chất lượng nuôi có một bước tiến rõ rệt 100% các đơn vị nhà trẻ, mẫu giáo đã triển khai việc tính khẩu phần dinh dưỡng bữa ăn cho trẻ
Chất lượng bữa ăn được nâng lên Bằng nhiều biện pháp tích cực chủ động, nhà trường đã kết hợp với gia đình thực hiện chế độ chăm sóc đặc biệt cho trẻ suy dinh dưỡng Nhờ vậy, tỉ lệ trẻ suy dinh dưỡng ở nhà trẻ chỉ còn 21, 93%, ở mẫu giáo chỉ còn 22,45% (trong khi đó,
tỉ lệ suy dinh dưỡng của các cháu nhà trẻ, mẫu giáo trong cả nước là 50%) Nhà trẻ thực hành 19/5 của thành phố có tỉ lệ cháu suy dinh dưỡng thấp nhất (nhà trẻ:5,74%, mẫu giáo:8,7%) Quận 1 và quận 10 là hai đơn vị có tỉ lệ cháu suy dinh dưỡng thấp (quận 1: nhà trẻ 13,4%, mẫu giáo 15%; quận 10: nhà trẻ 13%, mẫu giáo 20%)
Kết quả chống suy dinh dưỡng và chất lượng nuôi được nâng lên đã tạo được niềm tin cho cha mẹ các cháu
Trang 9Nhờ sự hỗ trợ tích cực của ngành y tế, đã tiêm chủng cho 83,95% trẻ dưới 1 tuổi và khám sức khoẻ định kỳ cho 83,73% cháu nhà trẻ và 76,8% cháu mẫu giáo
Hội thi Bé khoẻ - Bé ngoan đã có tác động tốt trong việc khẳng định chất lượng nuôi dạy tại các nhà trẻ và trường mẫu giáo chính quy, tạo điều kiện cho toàn xã hội nhận thức đúng
về sự nghiệp giáo dục mầm non đồng thời có tác dụng lớn trong việc nâng cao chất lượng nuôi dạy Việc thu một phần học phí một cách linh hoạt tuỳ theo đối tượng, tuỳ theo loại trường và thực tế từng địa phương là một kinh nghiệm tốt Từ nguồn thu này đã có thêm điều kiện chăm lo đời sống các cô, động viên phong trào thi đua và bổ sung thêm trang thiết bị
Tuy nhiên, vẫn còn những điểm yếu: số học sinh mẫu giáo giảm nhiều (giảm 33.209 cháu so với năm học 1988-1989) Số cháu 5 tuổi ra lớp chỉ mới đạt 48,3% trong độ tuổi Nguyên nhân giảm sút là do cha mẹ muốn cho con đi học chữ, học ngoại ngữ ở nhà hoặc học ở những lớp do tôn giáo mở Tình trạng tôn giáo tự phát mở các lớp mẫu giáo ở nhiều qụận, huyện nằm ngoài sự kiểm soát, chỉ đạo của ngành giáo dục cần phải có biện pháp chấn chỉnh kịp thời Tỉ lệ cháu suy dinh dưỡng ở ngoại thành và vùng ven còn cao (Bình Chánh, Tân Bình: trên 25%, quận
8, Củ Chi: trên 30%) do tiền ăn quá thấp, không đảm bảo dinh dưỡng cần thiết Cán bộ phụ trách giáo dục mầm non ở một số quận, huyện còn thiếu và yếu Số đông cán bộ quản lý nhà trẻ còn yếu về nghiệp vụ nên ảnh hưởng đến việc chỉ đạo chuyên môn
3) Giáo dục Mầm non trong quá trình đổi mới giáo dục
(từ năm học 1990-1991 đến năm học 1994-1995)
Năm học 1990-1991 mở đầu một giai đoạn mới có nhiều thuận lợi cho sự phát
triển giáo dục Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ VII (tháng 6/1991) đã xác định “Khoa học và công
nghệ, giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu” Nghị quyết cũng đã nêu: ”Khoa học và giáo dục đóng vai trò then chốt trong toàn bộ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc, là động lực đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu vươn lên trình độ tiên tiến của thế giới…”
Nghị quyết của Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ V (10/1991) đã nêu: ”Trong 5
năm tới tập trung sức nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo…”
Đối với ngành mầm non, dù chưa lấy lại được các cơ sở đã bị hoán đổi song cũng ngăn chận không để tình trạng này tiếp diễn Các địa phương cố gắng đầu tư thêm kinh phí để sửa chữa, xây dựng cơ sở vật chất, nâng chất các điều kiện nuôi dạy trẻ Phụ huynh cũng đóng góp tích cực vào phần chi phí này
Chủ trương hợp nhất nhà trẻ, mẫu giáo thành trường mầm non theo chỉ thị của
Bộ Giáo Dục & Đào Tạo đã tạo điều kiện thuận lợi trong việc quản lý, tận dụng hết công năng cơ
sở vật chất, giảm biên chế trung gian, thuận tiện cho phụ huynh học sinh gửi con đã thu hút các cháu đến trường nhiều hơn
Quận Tân Bình là đơn vị đi đầu trong việc thực hiện loại hình trường mầm non ở thành phố Hồ Chí Minh cũng là đơn vị đi đầu trong cả nước về việc thực hiện chủ trương này Thành phố đã đăng cai tổ chức hội nghị rút kinh nghiệm về việc xây dựng trường mầm non cho ngành học mầm non toàn quốc
Đồng thời với việc hợp nhất nhà trẻ mẫu giáo, củng cố các nhà trẻ mẫu giáo trong hệ thống chính quy, đặc biệt phát huy tác dụng đầu tàu của các trường trọng điểm của thành phố và của địa phương, việc thực hiện đa dạng hoá các loại hình trường lớp (lớp mẫu giáo 5 tuổi ngắn hạn, nhóm trẻ gia đình, trường lớp mẫu giáo dân lập, tư thục) đã huy động được
sự đóng góp của toàn xã hội nên số lượng trường lớp tăng đáng kể, góp phần tăng tỉ lệ huy động cháu đến trường phù hợp đặc điểm từng địa phương
Trang 10 Ở năm học 1990-1991 năm đầu tiên của quá trình đổi mới giáo dục, toàn ngành
đã tổ chức học tập nghiêm túc Quyết định 55 của Bộ Giáo Dục & Đào Tạo về: “Mục tiêu kế
hoạch đào tạo nhà trẻ mẫu giáo…” đến từng giáo viên Các đơn vị trường học, quận huyện,
thành phố đã căn cứ vào QĐ 55 để đặt mục tiêu phấn đấu và đánh giá phân loại các cơ sở giáo dục mầm non cũng như đánh giá kết quả nuôi dạy của giáo viên
Ở khu vực nhà trẻ cũng là năm đầu tiên triển khai đại trà chương trình chỉnh lý của Bộ Gíáo Dục & Đào Tạo thành phố, cũng đã xây dựng các chuyên đề thành phố cho nhóm cơm nát, chuyên đề trang bị sân chơi Chuyên đề sân chơi đã góp phần tích cực trong việc cải tạo sân chơi, bổ sung đồ chơi ngoài trời vừa đáp ứng yêu cầu giảng dạy, giúp cô tổ chức tốt hoạt động vui chơi ngoài trời cho trẻ, trẻ có điều kiện hoạt động tích cực, chạy nhảy thoải mái, cháu chơi ngoài trời tốt nên ăn ngon, ngủ khỏe và lên cân Mặt khác chuyên đề này cũng tạo điều kiện cho các nhà trẻ thay da đổi thịt, tạo sức hút đối với phụ huynh và cháu
Sở Giáo Dục & Đào Tạo phát động phong trào thi vẽ tranh phục vụ chương trình học Nhiều giáo viên nhà trẻ đã tích cực hưởng ứng gởi tranh dự thi Kết quả có các đơn vị sau đây đạt giải:
Nhà trẻ Hoa Cúc phường 7 quận 3 đạt giải nhất
Nhà trẻ 30/4 quận 1 và nhà trẻ 2/9 quận 10 đạt giải nhì
Nhà trẻ nhà máy sợi Đông Nam, nhà trẻ P.17, P.1 quận Tân Bình đạt giải khuyến khích
Thành phố đã chọn 12 bộ truyện (38 hình) để công ty Sách và Thiết Bị sản xuất phục vụ ngành
Ở khu vực mẫu giáo: tập trung nâng chất lượng giảng dạy ở các lớp mẫu giáo 5 tuổi Thực hiện các chuyên đề Làm quen với Toán và Làm quen chữ cái nhằm rút kinh nghiệm việc chuẩn bị cho trẻ sẵn sàng vào lớp 1 phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi Đồng thời cũng đã tích cực thực hiện thể nghiệm chương trình cải cách tại các trường: Hoa Lư quận 1, Măng non I quận
10, Bông Sen Củ Chi, Tuổi Ngọc quận Tân Bình để chuẩn bị triển khai chương trình cải cách ra đại trà
Hội thi “Bé khoẻ Bé ngoan” đã trở thành hội thi truyền thống của ngành, một hoạt động thực chất có tác dụng sâu rộng đến từng đơn vị nhà trẻ mẫu giáo và đến tận từng giáo viên Hội thi của những mầm non nhỏ nhất xã hội, đã có một ảnh hưởng lớn trong việc phát động các gia đình, các tổ chức nuôi dạy trẻ cùng toàn xã hội nâng cao chất lượng nuôi dạy cháu để đạt mục đích chống suy dinh dưỡng, tạo điều kiện cho bé phát triển toàn diện cả về thể chất và trí tuệ Kết quả lớn nhất của phong trào thi Bé khoẻ Bé ngoan là đã nâng cao chất lượng nuôi dạy của giáo viên, đánh giá chính xác phong trào thi đua thông qua kết quả thể hiện trên trẻ, có tác dụng sâu rộng trong việc tuyên truyền phòng chống suy dinh dưỡng, nâng uy tín các nhà trẻ mẫu giáo chính quy, xã hội đánh giá tầm quan trọng hoạt động của ngành học mầm non ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng cuộc sống của trẻ
Để nâng cao chất lượng nuôi dạy trẻ và theo yêu cầu gởi trẻ của phụ huynh trường lớp mẫu giáo bán trú, đòi hỏi phải phát triển mạnh, số trẻ học bán trú ngày càng đông
Chính từ chất lượng nuôi dạy trẻ có sự tiến bộ rõ rệt, yêu cầu trường lớp bán trú phát triển mạnh, cùng với sự tham mưu tích cực của ngành đã tạo sự thay đổi trong nhận thức,
tư duy của các cấp lãnh đạo địa phương đối với ngành học mầm non Ở năm học 1992-1993