Theo các nhà tâm lý học, cách mà mỗi học sinh tri giác bản thân có ảnh hưởng rất lớn đến cảm xúc và hành vi, trong đó có kết quả hoạt động và kết quả học tập của các em... Bên ca
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS Nguyễn Thị Minh Hằng
Hà Nội, 2014
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi với sự hướng dẫn của PGS TS Nguyễn Thị Minh Hằng Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Nguyễn Thi ̣ Thủy
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo – PGS.TS Nguyễn Thi ̣ Minh Hằng.Cô đã chỉ bảo , tâ ̣n tình hướng dẫn tôi hoàn thành luâ ̣n văn tốt nghiê ̣p này
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới toàn thể các thầy cô giáo và các
Phòng, đã ta ̣o mo ̣i điều kiê ̣n để tôi hoàn thành tốt công viê ̣c điều tra nghiên cứu ta ̣i trường
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giá o trong khoa Tâm lý học và toàn thể các bạn đã giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp
Hà Nội, tháng 2 năm 2014 Học viên
Nguyễn Thị Thủy
Trang 5MỤC LỤC
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐGBT VÀ MỐI
QUAN HỆ GIỮA ĐGBT - KQHT
5
Chương 2 TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27
Trang 62.3 Phương pháp nghiên cứu 31
Trang 73.4.5 Mối quan hê ̣ giữa ĐGBT về sự tự tin với KQHT 59
3.4.8 Mối quan hê ̣ giữa ĐGBT về uy tín với ba ̣n bè/ thầy cô với
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang 10KQHT của HS THPT (so sánh đánh giá của HS và GV)
Trang 11DANH MỤC BIỂU ĐỒ - HÌNH VẼ
8 3.8 Mức đô ̣ đánh giá bản thân về uy tín v ới bạn bè và
9 3.9 Mức đô ̣ đánh giá bản thân về khả năng thành đa ̣t
10 3.10 Điểm trung bình của các thang đo tự đánh giá bản
12 3.12 Thực tra ̣ng kết quả ho ̣c tâ ̣p của HS THPT trên mẫu
Trang 1216 3.16 Các yếu tố ảnh hưởng đến ĐGBT của HS THPT qua
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đánh giá bản thân (ĐGBT) chính là sự đánh giá tổng thể về các giá trị của bản thân với tư cách là một cá nhân gia nhập vào các mối quan hệ xã
hô ̣i Nếu mỗi người có sự đánh giá bản thân đúng đắn và được mo ̣i người công nhâ ̣n , điều đó ta ̣o nên sức ma ̣nh tinh thần giúp cá nhân ấy vượt qua khó khăn và các trở ngại Nhưng không phải bao giờ cá nhân cũng có sự đánh giá bản thân phù hợp và tích cực Hơn thế nữa, cũng có nhiều cá nhân thiếu tự tin vào chính bản thân mình
Đánh giá bản thân có vai trò quan tro ̣ng và ảnh hưởng rất lớn đến quá trình phát triển nhân cách của mỗi người Nếu chúng ta biết đánh giá đúng năng lực của bản thân , hiểu những thế ma ̣nh của mình, biết phát huy những thế ma ̣nh ấy cũng như hiểu những điểm ha ̣n chế , biết kiềmchế nó thì cá nhân ấy sẽ cố gắng phấn đấu để đa ̣t đến “cái tôi lý tưởng”
Bản thân học sinh Trung học phổ thông (HS THPT) ngoài việc đánh giá đúng tính cách, cá tính của mình thì việc đánh giá đúng năng lực học tập là
mô ̣t vấn đề quan tro ̣ng Theo các nhà tâm lý học, cách mà mỗi học sinh tri giác bản thân có ảnh hưởng rất lớn đến cảm xúc và hành vi, trong đó có kết quả hoạt động và kết quả học tập của các em Nếu tự bản thân ho ̣c sinh có thể đánh giá, nhìn nhận về kết quả học tập (KQHT) của mình thì điều đó sẽ có ích lợi như thế nào với học sinh ? Với những ho ̣c sinh ho ̣c giỏi , khá thì mức đô ̣ tự đánh giá sẽ khác như thế nào đối với những ho ̣c sinh học trung bình? Liệu giữa mức độ đánh giá bản thân và mức độ kỳ vọng vào bản thân có mối quan hệ nào hay không? Tất cả những câu hỏi nêu trên còn ít được nghiên cứu làm rõ ở học sinh Việt Nam
Trong những năm gần đây , vấn đề tự đánh giá bản thân đã thu hút sự quan tâm chú ý của những nhà tâm lý học Các nghiên cứu của các tác giả trong nước về ĐGBT khá phong phú nhưng mới chỉ tâ ̣p trung vào mô ̣t số
Trang 14khía cạnh mà các tác giả quan tâm như thái độ học tập , ý thức về bản ngã
và ít có các công trình nghiên cứu về mối quan hê ̣ giữa ĐGBT và các phương diện của ĐGBT với KQHT
Xuất phát từ những lý dođó, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu của luận văn là:“Mối quan hê ̣ giữa đánh giá bản thân và kết quả ho ̣c tâ ̣p của ho ̣c sinh THPT”
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu mối quan hê ̣ giữa đánh giá bản thân và kết quả ho ̣c tâ ̣p của học sinh THPT để từ đó đề xuất một số biện pháp giúp học sinh đánh giá phù hợp và tích cực về bản thân nhằm nâng cao kết quả ho ̣c tâ ̣p
3 Đối tươ ̣ng nghiên cứu
Mối quan hê ̣ giữa đánh giá bản thân và kết quả ho ̣c tâ ̣p của ho ̣c sinh THPT
4.Nhiê ̣m vu ̣ nghiên cứu
- Phân tích tài liê ̣u để làm sáng tỏ mô ̣t số vấn đề lý luâ ̣n , phương pháp luâ ̣n và phương pháp nghiên cứu liên quan đến tự đánh giá bản thân, kết quả học tập của học sinh THPT và mối quan hệ giữa chúng
- Nghiên cứu thực tra ̣ng mối quan hệ giữa đánh giá bản thân và kết quả học tập của học sinh THPT
- Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến ĐGBT của học sinh THPT
- Đề xuất mô ̣t số kiến nghi ̣ nhằm nâng cao mức đô ̣ đánh giá bản thân của học sinh THPT
5 Khách thể nghiên cứu
Khách thể là 190 em ở lứa tuổi từ 16 – 18 đang ho ̣c ở trường Trung ho ̣c Phổ thông Vĩnh Bảo, huyê ̣n Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng
6 Giả thuyết nghiên cứu
Có mối tương quan thuâ ̣n giữa ĐGBT và KQHT ở HS THPT Những học sinh có học lực giỏi, khá đánh giá bản thân cao hơn, tích cực hơn so với những ho ̣c sinh có ho ̣c lực trung bình
Trang 157.Giới ha ̣n pha ̣m vi nghiên cứu
- Đi ̣a điểm nghiên cứu: Trường THPT Vĩnh Bảo, huyê ̣n Vĩnh Bảo, thành
phố Hải Phòng
- Khách thể nghiên cứu : nghiên cứu tiến hành trên 190 HS đang ho ̣c từ lớp 10 – 12
- Về nô ̣i dung : Đề tài tâ ̣p trung vào nghiên cứu mối quan hê ̣ giữa đánh giá bản thân (bao gồm 9 phương diện tự đánh giá: sức khỏe, ngoại hình, năng lực học tập, năng lực khác, sự tự tin, tính cách, mức độ hạnh phúc, uy tín đối với thầy cô/bạn bè, khả năng thành đạt trong tương lai)và kết quả học
tâ ̣p của ho ̣c sinh THPT Bên ca ̣nh đó, đề tài này còn nghiên cứu mối quan hệ giữa ĐGBT và kỳ vọng về bản thân của học sinh THPT
8.Phương pháp nghiên cứu
8.1.Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Sử dụng phương pháp này để đọc và khái quát các văn bản, tài liệu, tạp chí, báo cáo, nghiên cứu khoa học, luận văn…ở trong và ngoài nước khi nghiên cứu về các lĩnh vực có liên quan đến mối quan hê ̣ giữa đánh giá bản thân và kết quả ho ̣c tâ ̣p của ho ̣c sinh
Tiếp thu kết quả nghiên cứu từ hệ thống các tài liệu sẵn có để làm rõ cơ sở lý luận và khái niệm có liên quan đến đề tài, đồng thời để lựa chọn và xây dựng phương pháp nghiên cứu
8.2 Phương pháp thang đo
Phương pháp thang đo được sử du ̣ng để đo mức đô ̣ tự đánh giá bản thân
và mức độ kỳ vọng bản thân của học sinh THPT Trong nghiên cứu này , chúng tôi khảo sát 9 tiêu chí qua các khía ca ̣nh : sức khỏe, ngoại hình, năng lực học tập, năng lực khác, sự tự tin, tính cách, mức độ hạnh phúc, uy tín đối với thầy cô/bạn bè, khả năng thành đạt trong tương lai
8.3 Phương pháp phỏng vấn sâu
Sử dụng phương pháp này để trao đổi, trò chuyện nhằm khai thác ý kiến, những thông tin chân thực khách quan nhất v ề hoàn cảnh gia đình ,
Trang 16quá trình sống và học tập , mối quan hê ̣ trong gia đình , kết quả ho ̣c tâ ̣p, tính cách, sở thích, cuô ̣c sống hiê ̣n ta ̣i của em như thế nào ? Đi ̣nh hướng tương lai của em ra sao? Phỏng vấn sâu trên hai đối tượng:
- Phỏng vấn sâu học sinh: Phỏng vấn sâu 3 HS;
- Phỏng vấn sâu giáo viên: Phỏng vấn sâu 2 GV
8.4 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Với phương pháp này , chúng tôi điều tra trên hai nhóm đối tượng đó là
HS và GV
8.5 Phương pháp thống kê toán học( SPSS)
Sử du ̣ng chương trình SPSS 16.0 để xử lý số liệu thu được từ nghiên cứu thực tiễn
- Chúng tôi sử dụng các phương pháp thống kê như: Tính tần suất, mô tả thống kê, tính giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, hệ số tương quan
Trang 17Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ BẢN THÂN VÀ MỐI QUAN HỆ GIỮA
ĐÁNH GIÁ BẢN THÂN VỚI KẾT QUẢ HỌC TẬP
1.1 Tổng quan li ̣ch sử nghiên cứu về đánh giá bản thân
1.1.1 Những nghiên cứu về đánh giá bản thân trên thế giới
Trong những năm gần đây, ĐGBT là một đề tài đang được quan tâm nghiên cứu nhiều trên thế giới Riêng ở Pháp thống kê cho thấy chỉ trong vòng hơn 10 năm cuối của thế kỷ XX đã có hơn 20.000 công trình nghiên cứu về tự đánh giá Còn theo thống kê của Hiệp hội Tâm lý học Mỹ trong vòng 30 năm nay kể từ năm 1967 đến 1996 đã có 13587 các bài viết về tự đánh giá được xuất bản Các công trình nghiên cứu của các tác giả trên thế giới tập trung chủ yếu vào các nội dung lớn như: nghiên cứu nguồn gốc, bản chất, nô ̣i dung, quá trình hình thành và phát triển của ĐGBT , vai trò cũng như ảnh hưởng của ĐGBT đến sự phát triển nhân cách của con người nói chung[7]
Nhìn chung, có một vài lý thuyết về nhân cách đưa sự ĐGBT như một biến số có ý nghĩa nhưng chỉ có thuyết của Alfred Adler coi biến số này đóng một vai trò chính Adler nhìn nhận một cách rõ ràng sự quan trọng của
tự đánh giá nhưng ông quan tâm đến nó trong việc áp dụng vào trị liệu hơn
là giải thích lý thuyết Ồng cho rằng những cá nhân tự ti sẽ cố gắng bù trừ khiếm khuyết để vươn lên trong cuô ̣c sống Như vâ ̣y, Adler nhìn nhâ ̣n viê ̣c đánh giá đúng những ha ̣n chế của bản thân , thậm chí đánh giá thấp về BT là
đô ̣ng lực ma ̣nh mẽ để cá nhân vươn lên và thành công trong cuô ̣c sống Chính bản thân con người và cuộc đời của Adler là một minh chứng hùng hồn cho lý thuyết của ông
Mô ̣t hướng nghiên cứu của Alfred Adler liên quan đến tự đánh giá, đó là yếu tố thể chất của cá nhân cũng ảnh hưởng đến ĐGBT Sự không khỏe mạnh về thể chất , sự yếu ớt trong phát triển cơ bắp , sự thiếu hu ̣t mô ̣t vài bô ̣ phâ ̣n trên cơ thể có ảnh hưởng đến ĐGBT không thuâ ̣n lợi của cá nhân Như
Trang 18vâ ̣y, theo Adler có 3 nhóm điều kiện có thể gây ra cho trẻ em sự ĐGBT không thuâ ̣n lợi:
- Sự thiếu hu ̣t về thể chất;
Một vài nhà Tâm lý học khác như Hartmann, Erikson và Jacobson có liên hệ đến sự tự đánh giá nhưng lại chỉ liên hệ gián tiếp Rogers cũng quan tâm tới sự ĐGBT nhưng chủ yếu là ở bản chất chung các trải nghiệm của các khách thể và sự chấp nhận thể nghiệm ở cá nhân
Có thể nói, James, Mead và Charles là những nhà tâm lý học đầu tiên cung cấp khả năng và hướng dẫn chính cho việc nghiên cứu về ĐGBT Họ quan tâm đến nguồn gốc và mức độ của ĐGBT Tuy nhiên, họ vẫn còn bị hạn chế do chưa chỉ ra được những nhân tố ảnh hưởng tới sự tự đánh giá Một trong những tác giả đã có những nghiên cứu công phu về vấn đề tự
đánh giá đó là nhà Tâm lý học người Đức S.Franz với đề tài: “Khả năng tự
đánh giá phù hợp đối với thái độ học tập và thái độ tập thể ở học sinh các lớp 5 – 7 – 9” Sau đó, bà còn cho xuất bản cuốn: “Phát triển tự đánh giá
của học sinh”
A.I.Lipkina, một nhà Tâm lý học người Nga, cũng là người rất quan tâm đến vấn đề tự đánh giá ở học sinh Bà đã cùng cộng tác với L.A.Rubak trong công trình nghiên cứu: “Tính phê phán và tự đánh giá trong hoạt động học tập”.Sau đó, vào năm 1976, bà còn cho xuất bản cuốn “Tự đánh giá của học sinh”
Trang 19Tác giả Stanley Cooper Smith với những nghiên cứu về nguồn gốc của
tự đánh giá, nguồn gốc của lòng tự trọng, đã được trình bày trong tác phẩm
“Nguồn gốc của lòng tự trọng”
Cũng nghiên cứu về nguồn gốc phát sinh của sự ĐGBT quá thấp, sự đánh giá quá cao, Alfred Adler ngoài sự thừa nhận những tác động của tính chất mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái còn rất đề cao tầm quan trọng của yếu tố bệnh tật, sự yếu ớt về thể chất trong sự hình thành các mầm mống của sự ĐGBT thấp
Vấn đề vai trò của tự đánh giá trong sự hình thành và phát triển nhân cách cũng rất được quan tâm Vấn đề này đã được V.P.Levcovic bàn đến trong nghiên cứu “Sự tự đánh giá và vai trò của nó trong quá trình hình thành nhân cách”
*Tóm lại, qua những công trình của các tác giả nước ngoài về ĐGBT , chúng tôi đưa ra một vài nhận xét như sau:
- Đối tượng của tự đánh giá chính là bản thân chủ thể
- ĐGBT được hình thành thông qua giao tiếp xã hô ̣i , cá nhân tiếp thu và lĩnh hội những chuẩn mực xã hội , đồng thời tự điều chỉnh hành vi ứng xử cho phù hợp với những chuẩn mực đó Đây chính là cơ sở của ĐGBT
- Thể chất của cá nhân và thái đô ̣ đánh giá của người khác về cá nhâncũng góp phần tạo nên sự ĐGBT của cá nhân
- ĐGBT hình thành thông qua tương tác xã hô ̣i, trước hết là mối quan hê ̣ tương tác với cha me ̣, người thân
1.1.2 Những nghiên cứu về đánh giá bản thân ở Viê ̣t Nam
Từ trước đến nay có không ít các công trình của các tác giả trong nước nghiên cứu về vấn đề ĐGBT
Trong nghiên cứu Lê Ngo ̣c Lan (1999), Nghiên cứu sự tự đánh giá thái
độ học tập môn toán, cho rằng: Đánh giá bản thân có mối liên hê ̣ với những
yếu tố tâm lý khác của nhân cách Sự đánh giá bản thân phù hợp đối với thái
Trang 20đô ̣ ho ̣c tâ ̣p ở ho ̣c sinh lớp 6 và lớp 8 còn chưa cao Đánh giá bản thân về thái
đô ̣ ho ̣c tâ ̣p của các em gái phù hợp hơn các em trai
Lê Đức Phúc (1999) đã nghiên cứu đánh giá bản thân của ho ̣c sinh tiểu
học xét về mặt ý thức bản ngã qua đề tài “Sự phát triển ý thức bản ngã”
Qua đó, ông đã làm rõ thực tra ̣ng của ý thức này trong mối quan hê ̣ với trình
đô ̣ phát triển nhân cách của lứa tuổi HS tiểu ho ̣c
Qua bài viết “Con người thích tự đánh giá và được đánh giá hình ảnh cái
tôi của mình như thế nào?”, tác giả Nguyễn Thị Hoa (1999) đã khẳng định:
Tất cả mọi người đều có nhu cầu muốn tự đánh giá và được đánh giá hình ảnh cái tôi Thông qua việc tổng hợp từ một số kết quả nghiên cứu thực nghiệm, tác giả đã chỉ ra rằng: Nhìn chung, con người thích những nhận xét thống nhất với nhận xét của họ về bản thân hơn là những nhận xét trái ngược Những người ĐGBT tốt thường tìm cách để người khác cũng đánh giá tốt về họ
Đào Lan Hương (2000), Nghiên cứu tự đánh giá về thái độ học tập môn
toán của sinh viên Cao đẳng sư phạm Hà Nội đã tiến hành nghiên cứu trên
360 sinh viên Phương pháp chí nh được sử du ̣ng trong đề tài là phương phápđiều tra bằng bảng hỏi Tác giả còn sử dụng phương pháp thực nghiệm để khảo sát thực trạng mức độ phù hợp của tự đánh giá về thái độ học toán ở sinh viên và áp du ̣ng biê ̣n pháp thử nghiệm tác động nhằm nâng cao khả năng TĐG phù hợp của sinh viên về thái đô ̣ ho ̣c toán ; đồng thời nghiên cứu cũng tiến hành thực nghiệm kiểm chứng biện pháp nâng cao khả năng TĐG phù hợp của sinh viên về thái độ học toán
Với nghiên cứu này , Đào Lan Hương đã rút ra mô ̣t số kết luâ ̣n như sau: Khả năng tự đánh giá thái đô ̣ ho ̣c tâ ̣p môn toán của sinh viên phát triển không đồng đều với các mức đô ̣ khác nhau : Có sự khác biệt về khả năng TĐG thái đô ̣ ho ̣c toán ở những sinh viên khác nhau về kết quả ho ̣c tâ ̣p , thái
đô ̣ ho ̣c tâ ̣p , vị thế trong tập thể , hoạt động nghề nghiệp và môi trường học
tâ ̣p Về các yếu tố ảnh hưởng đến đánh giá bản thân tác giả cho rằng , trình
Trang 21đô ̣ phát triển nhân cách là yếu tố bên trong ảnh hưởng tới sự tiếp thu của cá nhân đối với đánh giá bên ngoài, vì vậy nó ảnh hưởng một cách gián tiếp lên đánh giá bản thân [6]
Văn Thi ̣ Kim Cúc (2003) với đề tài: Những tổn thương tâm lý củ a thiếu
niên do bố me ̣ ly hôn đã so sánh đánh giá bản thân giữa trẻ trong các gia
đình ly hôn và trẻ trong các gia đình bình thường Kết quả nghiên cứu cho thấy
- Các em trong gia đình ly hôn và trong các gia đình bình thường đều có điểm số trung bình của cái Tôi xã hô ̣i , cái Tôi trườn g ho ̣c khá cao và điểm trung bình của cái Tôi cảm xúc tiêu cực đều thấp Các em trong gia đình ly hôn có điểm số cái Tôi thể chất thấp hơn các em trong gia đình bình thường
- Về mă ̣t giới tính , trẻ nam hay nữ trong gia đình có bố mẹ ly hôn cùng cảm thấy phải chịu thiệt thòi như nhau Tuy nhiên, các em nữ trong gia đình có bố mẹ ly hôn đánh giá ứng xử và năng lực trong cuô ̣c sống ho ̣c đường cũng như năng lực xây dựng và duy trì các mối quan hệ với các thành viên trong gia đình, bạn bè hay cảm giác được thừa nhận về mặt xã hội thấp hơn
mô ̣t cách có ý nghĩa so với các em nữ sống trong gia đình có đầy đủ cả bố
mẹ [2]
Tác giả Văn Thị Kim Cúc (2003),Tìm hiểu sự đánh giá bản thân ở trẻ
10 - 15 tuổi (số 7) trình bày công trình nghiên cứu của mình và cô ̣ng sự v ề
tự đánh giá bản thân của trẻ 10 – 15 tuổi Theo các tác giả này, có mối liên
hệ chặt chẽ giữa tính tích cực của tự đánh giá với kết quả hoạt động của cá nhân trong lĩnh vực có liên quan
Qua nghiên cứu thực tiễn trên 60 trẻ trai và 60 trẻ gái ở một số trường Phổ thông cơ sở ta ̣i Hà Nô ̣i , Văn Thi ̣ Kim Cúc (2004) đã có những kết luâ ̣n ban đầu về “Mối tương quan giữa biểu tượng về gia đình và sự đánh giá bản thân của trẻ” Theo đó, sự hình thành biểu tượng về gia đình nói chung , về giá trị của người cha , người me ̣ nói riên g không có con đường nào khác ngoài những gì trẻ nhìn thấy , nghe thấy , cảm thấy thông qua những hoạt
Trang 22đô ̣ng của gia đình , của người bố và người mẹ Chính qua tổng thể các mối quan hê ̣ này mà trẻ xác đi ̣nh được vi ̣ trí của mình trong gia đình: mình được tôn tro ̣ng như thế nào? Bố me ̣ có thâ ̣t lòng yêu thương mình không ? Những
gì trẻ cảm nhận được sẽ là cơ sở để trẻ thiết lập những giá trị về bản thân mình
Đỗ Ngọc Khanh (2005) trong Luận án tiến sĩ với đề tài: Nghiên cứu sự
tự đánh giá của học sinh Trung học cơ sở ở Hà Nội cũng đưa ra một số kết
luận đáng chú ý:
- Ứng xử của cha mẹ đối với con cái cũng đóng một vai trò quan trọng trong hình thànhĐGBT ở các em, mức độ ủng hộ của bạn bè và thầy cô cũng có ảnh hưởng đến mức độ cao thấp trong tự đánh giá của trẻ em;
- Nói chung , sự tự đánh giá về ho ̣c tâ ̣p , đa ̣o đức , xã hội của học sinh Trung ho ̣c cơ sở Hà Nô ̣i đa ̣t mức trung bình cao Sự tự đánh giá về mă ̣t thể chất ở mức trung bình, trong đó các em ho ̣c sinh đánh giá sức khỏe tích cực hơn đánh giá về hình dáng của bản thân Sự tự đánh giá về mă ̣t cảm xúc đa ̣t mức trung bình thấp Yếu tố ho ̣c lực không ảnh hưởng nhiều đến TĐG về
mă ̣t giao tiếp xã hô ̣i của ho ̣c sinh [9]
Trần Thị Hà (2012) với nghiên cứuẢnh hưởng của bạo lực gia đình đến
đánh giá bản thân của trẻ vi ̣ thành niên từ 12 – 15 tuổiđã đưa ra kết luâ ̣n:
- Đa số, trẻ vị thành niên ĐGBT ở mức độ trung bìn h ở cả 8 tiêu chí: ngoại hình, năng lực ho ̣c tâ ̣p , các năng lực khác , uy tín đối với ba ̣n bè và thầy cô , tính cách , mức đô ̣ tự tin , mức đô ̣ ha ̣nh phúc , khả năng thành đạt trong tương lai
- Trẻ bị bạo lực gia đình thường xuyê n có ảnh hưởng tiêu cực đến mức
đô ̣ đánh giá bản thân Trẻ vị thành niên thường xuyên bị bạo lực thì càng đánh giá thấp về bản thân và nhìn nhận bản thân khôngchính xác Ngược la ̣i, những em ít khi bi ̣ ba ̣o lực , được bố mẹ quan tâm, gia đình hòa thuâ ̣n thì đa phần các em đánh giá bản thân ở mức đô ̣ trung bình khá và khá [7]
Trang 23* Tóm lại, trong những năm gần đây, vấn đề tự đánh giá bản thân đã thu hút sự quan tâm chú ý của những nhà tâm lý học Các nghiên cứu của các tác giả trong nước về ĐGBT khá phong phú nhưng mới chỉ tập trung vào
mô ̣t số khía ca ̣nh mà các tác giả quan tâm như thái đô ̣ ho ̣c tâ ̣p, ý thức về bản ngã Ngay cả nghiên cứu mới đây về ĐGBT ở tr ẻ vị thành niên từ 12 đến
15 tuổi trong những gia đình có ba ̣o lực cho rằng , bạo lực gia đình có ảnh hưởng đến ĐGBT của HS Tuy nhiên, câu hỏi đă ̣t ra là ngoài ba ̣o lực gia đình thì còn có yếu tố nào khác như giáo du ̣c nhà t rường, cách ứng xử giữa cha me ̣ với con cái , điều kiê ̣n kinh tế gia đình , cách ứng xử giữa học sinh với ho ̣c sinh, giữa thầy cô giáo với ho ̣c sinh hay phương tiê ̣n truyền thông có ảnh hưởng đến ĐGBT của trẻ hay không? Sự ĐGBT ấy ảnh hưởng ra sao đến KQHT? Và mức độ kỳ vọng vào tương lai của các em như thế nào ? Các vấn đề này cần được giải quyết để có được bức tranh toàn cảnh về ĐGBT của trẻ Mô ̣t nghiên cứu riêng biê ̣t về ĐGBT và mối quan hê ̣ giữa ĐGBT với KQHT trên HS THPT trên nhiều phương diê ̣n khác nhau (sức khỏe, năng lực ho ̣c tâ ̣p, sự tự tin, uy tín với ba ̣n bè và thầy cô , các năng lực khác, ngoại hình, mức đô ̣ ha ̣nh phúc , tính cách và khả năng thành đạt trong c uô ̣c sống) sẽ giải quyết được các vấn đề đó mà các nghiên cứu trước chưa làm được
1.2 Các khái niệm cơ bản
1.2.1 Khái niệm “Mối quan hệ”
Khái niệm mối quan hệ là một khái niệm chung được sử dụng trong nhiều ngành khoa học như: triết học, xã hội học, toán học, tâm lý học Hoàng Phê (2000): Quan hệ là sự gắn liền về mặt nào đó giữa hai hay nhiều sự vật khác nhau, khiến sự vật này có biến đổi, thay đổi thì có thể tác động đến sự vật kia [18]
Theo Vũ Dũng (2000): Mối quan hệ là mối thiện cảm lẫn nhau của các khách thể và các thuộc tính của các khách thể đó[4]
Trang 24V.G Karuxco (2001) hiểu theo nghĩa rộng: Quan hệ là thuộc tính của bất kỳ một liên hệ nào của con người với thế giới bên ngoài và với những người khác [8]
Theo A.I Secbakov và V.V Bôgôlôvxki, hiện nay trong tâm lý học có hai sự giải thích “mối quan hệ” Trong trường hợp thứ nhất, mối quan hệ là mối liên hệ khách quan của con người và sự vật, của một cá thể này với cá thể khác Ở trường hợp thứ hai, mối quan hệ được giải thích là sự tỏ thái độ,
sự phản ứng của người này đối với người khác, với sự vật, đồ vật, hiện tượng như một lập trường chủ quan trong thái độ đối với chúng [4]
Từ những quan niệm khác nhau về “mối quan hệ” ở trên, chúng tôi thấy rằng bản thân khái niệm “mối quan hệ” có nội hàm rất rộng Tuy nhiên,
trong đề tài này chúng tôi hiểu khái niệm mối quan hệ như sau:“Mối quan
hệ là sự tác động qua lại lẫn nhau, chi phối và ảnh hưởng, phụ thuộc lẫn
nhau giữa hai hay nhiều yếu tố trong thế giới khách quan”
Đi ̣nh nghĩa mối quan hê ̣ nêu trên đã chỉ ra rằng để có thể gây dựng được
mô ̣t mối quan hê ̣ thì phải có từ hai yếu tố trở nên Yếu tố này chi ̣u sự tác
đô ̣ng qua la ̣i, chi phối, ảnh hưởng, phụ thuộc của yếu tố kia Khi mô ̣t yếu tố biến đổi thì những yếu tố còn la ̣i cũng biến đổi theo và ngược la ̣i Trong nghiên cứu này , chúng tôi kỳ vọng sẽ làm rõ mố i quan hê ̣ giữa ĐGBT và KQHT của HS THPT
1.2.2 Khái niệm “Đánh giá bản thân”
Theo Từ điển Cambridge thì đánh giá bản thân có nghĩa là: “Lòng tin,
sự tin tưởng vào năng lực và giá trị của bản thân mình”.(Cambridge Dicstionnary(2006)
Nhà Tâm lý học người Mỹ William James (1890), cho rằng: ĐGBT là kết quả của mối liên hệ giữa những thành công đã đạt được và những tham vọng cá nhân muốn vươn tới trong những lĩnh vực mà cá nhân cho là quan trọng trong cuộc sống Ở một nghĩa khác, ĐGBT là mối liên hệ giữa cái mà
Trang 25chúng ta làm (cái tôi hiện thực) với cái mà chúng ta muốn làm, muốn trở thành (cái tôi lý tưởng) [7]
Theo Cooley (1902), người khác chính là gương soi mà trong đó chúng
ta có thể nhâ ̣n ra bản thân mình Những phán xét của người khác về bản thân chúng ta sẽ được nô ̣i tâm hóa và ta ̣o ra những quan niê ̣m của chúng ta về bản t hân Mead (1934) thì cho rằng: Sự ĐGBT chính là những phán xét của người khác được nội tâm hóa
Theo thang nhu cầu Maslow (1970): ĐGBT ta ̣o cho cá nhân cảm thấy mình có năng lực và được người khác biết tới
Franz (1979) – nhà Tâm lý học người Đức – một người nghiên cứu rất nhiều về tự đánh giá đã đưa ra kết luận: ĐGBT là một dạng đặc biệt của hoạt động tự nhận thức Đó là nhận thức của cá nhân về mức độ biểu hiện, của các hiện tượng tâm lý, của phương thức, thái độ đang tồn tại ở bản thân Susan Carter (1999), trong tác phẩm “Xây dựng cái tôi – Một viễn cảnh của sự phát triển” cho rằng: ĐGBT là sự đánh giá tổng thể về giá trị bản thân với tư cách là con người Đó là sự đánh giá mà cá nhân có được về giá trị của mình
Vũ Dũng (2000) cho rằng : “Cá nhân đánh giá chính mình , đánh giá những năng lực, phẩm chất của mình so với người khác” ; “là sự điều chỉnh quan tro ̣nghành vi cá nhân , mối quan hê ̣ qua la ̣i của con người với những người xung quanh , tính phê phán, tính đòi hỏi của bản thân , mối quan hê ̣ qua la ̣i đối với những thành tích và thất ba ̣i của người đó đều ph ụ thuộc vào tự đánh giá” [4]
Có rất nhiều các quan điểm khác nhau về ĐGBT và mọi người đều
thống nhất ở một điểm khi cho rằng ĐGBT chính là sự tự nhận xét , đánh giá về chính bản thân mình ĐGBT chính là mô ̣t giai đoa ̣n phát triển cao của tự
ý thức.Đối tượng của ĐGBT chính là bản thân chủ thể , là người biểu hiện của thể giới nô ̣i tâm ở mỗi con người
Trang 26Từ sự phân tích các quan điểm nêu trên , chúng tôi cho rằng :“ĐGBT là
một hoạt động nhận thức đặc biê ̣t của con người , là trình độ phát triển cao của tự ý thức , trong đó đối tượng nhận thức chính là bản thân chủ thể ĐGBT là quá trình chủ thể tự đánh giá tổng thể về giá trị bản thân mình”
Đi ̣nh nghĩa ĐGBT nêu trên đã chỉ ra rằng: ĐGBT là mô ̣t hoa ̣t đô ̣ng nhâ ̣n thức đă ̣c biê ̣t của con người , nó hướng vào chính nhận thức bản thân chủ thể Xét trong phạm vi đề tài thì đối tượng của ĐGBT chính là cái “tôi” của
HS THPT và ĐGBT tức là HS THPT tự đánh giá tổng thể những giá tri ̣ mà bản thân có Các em đánh giá về mình như thế nào phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố như : mối tương tác với mo ̣i người xung quanh , sự thành công h ay thất ba ̣i trong cuô ̣c sống và những trải nghiê ̣m của bản thân
Vâ ̣y, nô ̣i dung của ĐGBT là gì ? Mô ̣t mă ̣t, chủ thể tự đánh giá tổng thể về bản thân Mă ̣t khác, chủ thể đánh giá từng phương diện bản thân Theo
mô hình 4 yếu tố, ĐGBT gồm những phương diê ̣n sau:
+ Cái Tôi thể chất : Là sự ý thức của cá nhân về cơ thể , vóc dáng của chính bản thân mình Cá nhân hành động tích cực hay tiêu cực là do cách cá nhân tự đánh giá hay do sự đánh giá của người khác về vóc dáng của mình; + Cái Tôi chủ quan : Là cách một cá nhân nghĩ về chính mình và những
gì người khác đánh giá về mình;
+ Cái Tôi lý tưởng : Là cái tôi mà một cá nhân muốn trở thành về các
mă ̣t như : ước vọng, giá trị , nguyên tắc sống , đa ̣o đức, lý tưởng…, thường dựa theo mô ̣t mẫu người được ngưỡng mô ̣ hay ước muốn đi theo mô ̣t lĩnh vực hoa ̣t đô ̣ng có ích cho xã hô ̣i;
+ Và những cái Tôi khác: Theo từng vai trò xã hô ̣i mà mỗi cá nhân đang đảm nhâ ̣n theo từng thời điểm của cuô ̣c sống , nghề nghiê ̣p , môi trường sống
Bên ca ̣nh đó , cũng có những tác giả nói về mô hình ĐGBT khác như Petrovski và Iarosevxki (1990) cho rằng các nô ̣i dung ĐGBT bao gồm: + Cái Tôi hiê ̣n thực: Quan niê ̣m về bản thân trong thời điểm hiê ̣n ta ̣i;
Trang 27+ Cái Tôi lý tưởng: Hình ảnh về bản thân mà cá nhân muốn đa ̣t được; + Cái Tôi động cơ: Là cái gì đó cá nhân dự định trưởng thành;
+ Cái Tôi viễn tưởng: Là ai đó chủ thể muốn trở thành
Ngoài ra , A.M.Prikharan – mô ̣t chuyên gia người Nga chuyên nghiên cứu lo âu, trầm cảm, ĐGBT… ở ho ̣c sinh đưa ra mô hình ĐGBT gồm 7 yếu tố 7 yếu tố đó là:
+ Sức khỏe
+ Ngoại hình
+ Trí tuệ, năng lực
+ Tính cách
+ Uy tín đối với ba ̣n
+ Năng lực làm các công viê ̣c thủ công
+ Sự tự tin
Kế thừa và phát triển quan điểm nêu trên của A.M.Prikharan, trong nghiên cứu này , chúng tôi cho rằng nội dung ĐGBT gồm những phương diê ̣n sau:
+ Uy tín với ba ̣n bè và thầy cô
+ Mức đô ̣ ha ̣nh phúc
+ Khả năng thành đạt trong cuộc sống
Trên đây cũng là những tiêu chí để đo lường đă ̣c điểm ĐGBT của HS THPT Chúng tôi cũng phân hóa 9 tiêu chí trên thành 4 nhóm sau đây:
+ Tiêu chí về những đă ̣c điểm cơ thể: Sức khỏe và ngoa ̣i hình
+ Tiêu chí về năng lực: Năng lực ho ̣c tâ ̣p và các năng lực khác
Trang 28+ Tiêu chí về đă ̣c điểm tâm lý cá nhân: Sự tự tin, tính cách, mức đô ̣ ha ̣nh phúc
+ Tiêu chí về đă ̣c điểm xã hô ̣i : Uy tín với thầy cô / bạn bè và khả năng thành đạt trong cuộc sống
1.2.3 Khái niệm “Kỳ vọng về bản thân”
Kỳ vọng về bản thân vẫn còn là một hướng mới và ít có công trình nào
đi sâu nghiên cứu lĩnh vực này Tuy nhiên, phần lớn các nhà nghiên cứu đều cho rằng, ĐGBT có mối quan hệ nhất định đến kỳ vọng vào bản thân Một
số nhà nghiên cứu cho rằng, nếu cá nhân có kỳ vọng cao vào bản thân thì họ có xu hướng đặt ra cho bản thân những mục tiêu cao trong hoạt động của
họ Từ đó, họ nỗ lực, cố gắng rất lớn để đạt được nhưng mục tiêu đó Vậy, ĐGBT cao có phải là cơ sở để học sinh kỳ vọng cao vào bản thân hay không? Hơn nữa, những học sinh có kỳ vọng cao có KQHT cao hay không? Ngược lại, những học sinh ĐGBT thấp có kỳ vọng cao hay không kỳ vọng vào bản thân? Điều đó có ảnh hưởng như thế nào đến KQHT của các em? Những câu hỏi trên đã gợi ý cho chúng tôi đặt ra thêm một nhiệm vụ nghiên cứu là tìm hiểu mối quan hệ giữa ĐGBT và kỳ vọng vào bản thân của học sinh THPT
Trong đề tài này , chúng tôi hiểu r ằng“Kỳ vọng vào bản thân chính là
những gì mà cá nhân tin tư ởng và mong muốn mình sẽ đạt được trong tương lai Kỳ vọng vào bản thân có tác dụng thúc đẩy mức độ tích cực hoạt động của cá nhân để đạt được mục tiêu đã đặt ra”
Trong nghiên cứu này , chúng tôi nghiên cứu nội dung kỳ vọng trên các phương diê ̣n sau (cũng là các phương diện ĐGBT):
Trang 29+ Tính cách
+ Uy tín với ba ̣n bè và thầy cô
+ Mức đô ̣ ha ̣nh phúc
+ Khả năng thành đạt trong cuộc sống
1.2.4 Khái niệm “Kết quả học tập”( KQHT)
James Madison University (2003), James O Nichols (2002) cho rằng : KQHT là bằng chứng sự thành công của học sinh, sinh viên về kiến thức, kỹ năng, năng lực, thái độ đã được đặt ra trong mục tiêu giáo dục
Lê Thi ̣ Thu Liễu , Huỳnh Văn Nhựt (2009) cho rằng : KQHT là kiến thức, kỹ năng và thái độ sinh viên đạt được qua học tập và rèn luyện ở từng môn ho ̣c trong chương trình ho ̣c ta ̣i trường [14]
Có khá nhiều quan niệm khác nhau về KQHT Trong nghiên cứu này ,
chúng tôi cho rằng : “KQHT chính là học lực của học sinh sau một quá
trình”
Như vâ ̣y, đánh giáKQHT của HS THPT là mô ̣t khâu quan tro ̣ng và cần thiết trong quá trình các em ho ̣c tâ ̣p ta ̣i trường Thông qua KQHT, HS THPT biết được mình tiếp thu được cái gì và cái gì chưa tiếp thu được , giúp các
em biết được mình ho ̣c tốt môn ho ̣c nào và môn ho ̣c nào các em chưa ho ̣c tốt Ngoài ra KQHT còn nói lên khả năng và chất lượng đào tạo của một trường, cũng như cho các em biết được sự đánh giá tổng thể về năng lực ho ̣c
tâ ̣p của mình qua từng kỳ ho ̣c, năm ho ̣c
1.2.5 Khái niệm “Học sinh Trung học phổ thông” (HS THPT)
Nhìn chung, các nhà tâm lý học phát triển đều thống nhất rằng, lứa tuổi học sinh THPT bắt đầu từ 15, đến 18 tuổi, tương đương với thời kỳ cuối vị thành niên và đầu thanh niên
Ở giai đoạn lứa tuổi này, sựphát triển của HS THPT có sự biến đổi lớn
cả về lượng và chất Do sự biến đổi vềtự ý thức, về ngoa ̣i hình đến vai trò và vị trí xã hội… nên HS THPT cảm nhận về hình ảnh bản thân với những phẩm chất và năng lực nhất đi ̣nh HS THPT với những kiến thức khoa ho ̣c
Trang 30và kiến thức xã hô ̣i, các em có thể tự đá nh giá về các năng lực củ a bản thân sâu hơn và khái quát hơn các em HS Tiểu ho ̣c và các em HS Trung ho ̣c cơ sở
Khả năng tự ý thức phát triển khá sớm ở con người và được hoàn thiê ̣n từng bước, đến 15 – 16 tuổi thì phát triển ma ̣nh, trở thành mô ̣t đă ̣c điểm nổi
bâ ̣t trong sự phát triển của thanh niên mới lớn Biểu hiê ̣n đă ̣c trưng là thanh niên nhâ ̣n thức được những đă ̣c điểm và phẩm chất của mình trong xã hô ̣i , trong cô ̣ng đồng, ở mức cao hơn đó là khả năng tự ĐGBT theo những chuẩn mực của xã hô ̣i trên bình diê ̣n thể chất, tâm lý, đa ̣o đức
HS THPT có khả năng tự ý thức khá cao , do có trình đô ̣ ho ̣c vấn , khối lượng kiến thức, kinh nghiê ̣m sống ở mức tương đối cao giúp cho tự ý thức của các em phát triển mạnh Đây là lứa tuổ i các em thích tự thử thách năng lực của mình : đă ̣t ra các kỳ vo ̣ng , so sánh kết quả với kỳ vo ̣ng đã đă ̣t ra , nhằm phát hiê ̣n và khẳng đi ̣nh bản thân
Sự hình thành tự ý thức ở tuổi HS THPT là mô ̣t quá trình lâu dài, trải qua những mức đô ̣ khác nhau Ở lứa tuổi này, quá trình phát triển tự ý thức diễn
ra ma ̣nh mẽ, sôi nổi và có tính đă ̣c thù riêng: thanh niên mới lớn có nhu cầu tìm hiểu và đánh giá những đặc điểm tâm lý của mình theo quan điểm về mục đích cuộc sống và hoài bão của mình Chính điều này khiến các em quan tâm sâu sắc đến đời sống tâm lý , phẩm chất nhân cách và năng lực riêng của bản thân [13]
Nô ̣i dung của tự ý thức rất phức ta ̣p Các em không chỉ nhận thức về cái tôi của mình trong hiê ̣n ta ̣i như thiếu niên mà còn nhâ ̣n thức về vi ̣ trí của mình trong xã hội , trong tương lai, về các mối quan hê ̣ của mình với những người xung quanh (Mình cần trở thành người như thế nào ? Mọi người có yêu quý/chấp nhâ ̣n mình không? Mình cần làm gì để tốt hơn ? ) Nếu thiếu niên có thể hiểu rõ mình ở những phẩm chất nhân các h (lòng yêu lao động, tính cần cù, dũng cảm…) thì thanh niên còn có thể hiểu rõ những phẩm chất
Trang 31phức ta ̣p, biểu hiê ̣n những mối quan hê ̣ nhiều mă ̣t của nhân cách (tinh thần trách nhiệm, lòng tự trọng,…)
Để khẳng đi ̣nh và có thể ĐGBT, các em có xu hướng hành động theo
mô ̣t trong những cách sau:
- Tự nguyê ̣n nhâ ̣n những nhiê ̣m vu ̣ khó khăn , cố gắng hoàn thành nó Tuy nhiên, do còn ha ̣n chế về kinh nghiê ̣m sống, nên viê ̣c ĐGBT gă ̣p không ít khó khăn và đô i khi gây ra những ngô ̣ nhâ ̣n Ví dụ: bướng bỉnh, ngang tàng được hiểu lầm là gan góc, dũng cảm
- Ngầm so sánh với những người xung quanh , đối chiếu ý kiến của mình với ý kiến của những người lớn, nhất là những người các em ngưỡng mộ
- Đôi khi, thanh niên tự quan sát, tự xem xét bản thân mình Điều này thể hiê ̣n trong viê ̣c ghi nhâ ̣t ký của các em Nô ̣i dung nhâ ̣t ký của các em cho thấy nhiều khi chúng rất nghiêm khắc , khắt khe với bản thân , tự hối hâ ̣n về
mô ̣t hành vi nào đó mà các em cho là sai trái hoă ̣c không được chấp nhâ ̣n
Ở đầu tuổi thanh niên , sự ý thức có những biến chuyển và chưa thâ ̣t sự ổn định Cái Tôi đang có , cái Tôi đang biến động và cái Tôi mơ ước, lý tưởng Điều quan tro ̣ng là xu hướng vươn lên của cái Tôi đó được hướng dẫn, chỉ đạo bởi những điều kiện giáo dục, môi trường xã hô ̣i như thế nào sẽ quyết đi ̣nh phẩm chất của sự tự ý thức, tự ĐGBT của các em như vâ ̣y [13]
1.2.6 Khái niệm “Đánh giá bản thân của HS THPT”
Chúng tôi cho rằng ĐGBT của HS THPT là : “Đánh giá tổng thể của HS
với tư cách là một thành viên của xã hội v ề những giá tri ̣ của bản thân, bao gồm các giá trị không bản chất bên ngoài như ngoại hình, sức khỏe đến những giá trị bản chất bên trong như các đặc điểm tâm lý – nhân cách và kết quả hoạt động của họ”
Từ khái niê ̣m trên , chúng tôi cho rằng , ĐGBT của HS THPT có một số
đă ̣c điểm sau:
- ĐGBT của HS THPT xoay quanh các mối quan hệ xã hội : gia đình, thầy cô, bạn bè cùng lứa Các em ĐGBT dựa vào nhận thức của mình , tuy
Trang 32nhiên không phải em HS nào cũng đánh giá khách quan do nhận thức về bản thân chưa khái quát và sâu sắc
- ĐGBT của các em HS THPT về giá trị của bản thân biểu hiện qua các
mă ̣t sau: sức khỏethể chất , năng lực ho ̣c tâ ̣p , sự tự tin , uy tín với ba ̣n bè và thầy cô, ngoại hình, các năng lực khác , mức đô ̣ ha ̣nh phúc, tính cách và khả năng thành đa ̣t trong cuô ̣c sống
- Ý thức về các phẩm chất tâm lý của cá nhân được phả n ánh mô ̣t cách
rõ nét hơn Như: “Tôi là người như thế nào ? Tôi có năng lực vượt trô ̣i nào ? Tôi muốn trở thành người như thế nào? Tôi phải làm gì để bản thân và mo ̣i người xung quanh tôi tốt hơn Đó là những vấn đề khiến thanh niên băn khoăn, suy nghĩ nhất trong lứa tuổi đầu thanh niên” [15]
ĐGBT của HS THPT có chiều sâu và khái quát hơn nhiều so vớ i những lứa tuổi thiếu niên Các em không chỉ đánh giá về “cái tôi hiện thực” , mà các em còn đánh giá về “cái tôi lý tưởng”
1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến đánh giá bản thân của HS THPT
1.3.1 Yếu tố khách quan
1.3.1.1 Gia đình
Gia đình được xem là môi trường giáo du ̣c đầu tiên mà mỗi cá nhân thường phải phu ̣ thuô ̣c vào, là môi trường quan trọng nhất đảm bảo cho đứa trẻ, cho cá nhân có cảm giác an toàn Quá trình xã hội hóa của một người từ những năm tháng đầu tiên của cuô ̣c đời có ảnh hưởng quyết đi ̣nh đến thái đô ̣
và hành vi của họ khi trưởng thành Kinh nghiê ̣m xã hô ̣i diễn ra bên trong gia đình hình thành nền tảng nhân cách của cá nhân Trẻ luôn học hỏi từ môi trường do người lớn hình thành mô ̣t cách vô tình trong gia đình , cho dù sau này cá nhân có thay đổi nhiều đến đâu đi chăng nữa
Trần Thi ̣ Hà (2012) trong nghiên cứu “Ảnh hưởng của ba ̣o lực gia đình
đến đánh giá bản thân của trẻ vị thành niên từ 12 – 15 tuổi” cho rằng: “Cách
ứng xử tích cực nhất của cha mẹ với con cái là luôn khuyến khích, động viên con cái, luôn thảo luận với con cái và lắng nghe chúng nói về ý kiến của
Trang 33chúng về công việc , đi ̣nh hướng tương lai … Và nhất là luôn cho trẻ thấy được sự tin tưởng của cha me ̣ vào con cái, dùng lời lẽ yêu thương để nói với con cái Bên cạnh đó, cha me ̣ tránh dùng lời lẽ chê bai con cái, làm cho con cái cảm thấy mình thấp kém”[7]
A E Litrco – mô ̣t nhà tâm thần ho ̣c nổi tiếng của Liên bang Nga đã cho
rằng: “Lứa tuổi từ 14 – 18 là lứa tuổi khủng hoảng đối với tâm thần học Ở
lứa tuổi này, các biểu hiện rối loạn nhân cách tăng lên rõ rệt, và trong phần lớn các trường hợp , chúng có nguồn gốc sâu xa từ mối quan hệ cha mẹ – con cái; thầy – trò không thuận lợi”
Theo kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thi ̣ Mai Lan về “Đi ̣nh hướng giá
trị nhân cách của HS THPT” đã cho rằng : “Phần lớn HS THPT đều mong
muốn được khẳng đi ̣nh cái tôi của mình trong quan hê ̣ với bố me ̣ và những người thân trong gia đình”
Có thể nói mối quan hệ liên nhân cách giữa cha mẹ và những người thân trong gia đình có ý nghĩa nhất định trong việc cá nhân tự nhìn nhận về mình như thế nào Sự yêu thương, sự quan tâm, chăm sóc, thừa nhâ ̣n và đánh giá của gia đình ít nhiều cũng làm cho c húng thấy mình có giá trị Ngược la ̣i, cha me ̣ và những người thân trong gia đình luôn bỏ mă ̣c, thờ ơ, lạnh nhạt và đánh giá thấp năng lực của con cái thì chính bản thân đứa trẻ ấy sẽ cảm thấy lạc lõng, không có chỗ dựa và thấy mình ít có giá tri ̣ hơn Bởi vâ ̣y, khi mô ̣t đứa trẻ có sự ĐGBT phù hợp hay không phù hợp đều có ảnh hưởng tích cực hoă ̣c tiêu cực đến kết quả ho ̣c tâ ̣p của nó
1.3.1.2 Giáo dục nhà trường
Nhà trường đóng vai trò rất quan trọng trong việc hình thành phẩm chất , nhân cách của mỗi cá nhân Đời sống của một cá nhân trong các xã hội văn minh đều phải trải qua mô ̣t thời gian dài ở trường Nhà trường là nơi giáo dục các kiến thức cơ bản cho cá nhân và đồng thời còn là môi trường xã h ội
mà qua đó cá nhân dần dần hoàn thiện bản thân mình , trở thành mô ̣t nhân cách xã hội
Trang 34Đánh giá và nhâ ̣n xét của giáo viên là yếu tố tác đô ̣ng đến nhâ ̣n thức của
HS Theo nghiên cứu của tác giả Nguyễn Ngo ̣c Lan , Nguyễn Văn Hồng đã chỉ ra rằng: Viê ̣c ho ̣c tâ ̣p của HS THPT được thúc đẩy bởi đô ̣ng cơ ho ̣c tâ ̣p có cấu trúc khác với tuổi trước Lúc này có ý nghĩa nhất là động cơ thực tiễn (ý nghĩa của môn học , sự tiếp thu của các em ), đô ̣ng cơ nhâ ̣n thức, sau mới
là ý nghĩa xã hội của môn học.Vì vậy, thường ho ̣c sinh chỉ tâ ̣p trung vào các môn ho ̣c sau này các em dự đi ̣nh thi vào các trường ĐH và CĐ [15]
Nhà trường là môi trường giáo dục chính yếu khi đứa trẻ bắ t đầu trưởng thành bên ngoài gia đình Ở đó, cá nhân được trang bị các kỹ năng cần thiết , đồng thời cá nhân tự nâng cao nhâ ̣n thức của mình , tự xác đi ̣nh về năng lực của bản thân, tự điều chỉnh cuô ̣c sống của bản thân trong mô ̣t thế giới khách quan rô ̣ng lớn hơn môi trường gia đình Ở nhà trường, cá nhân được học các
nô ̣i quy, cách ứng xử với thầy cô , bạn bè, hình thành thái độ , đô ̣ng cơ với viê ̣c ho ̣c Khi trẻ hứng thú đến trường, xác định việc đến trường là niềm vui,
là nhu cầu, viê ̣c đến trường là để trẻ vừa được ho ̣c tâ ̣p và chơi với nhóm ba ̣n cùng lứa thì lúc này , ở học sinh ấy sẽ có sự ĐGBT một cách tích cực Ngược la ̣i , khi trẻ cảm thấy không hứng thú đến trường, viê ̣c ho ̣c tâ ̣p trên trường thâ ̣t nhàm chán thì lúc này ở ho ̣c sinh sẽ tự hình thành những cảm xúc và sự ĐGBT một cách tiêu cực HS sẽ cho rằng : mình không đủ năng lực để ho ̣c , những bài tâ ̣p trên trường thâ ̣t kh ó, mình không thể giải được những bài toán này, các bạn trong lớp không hòa đồng với mình… Và chính sự ĐGBT mô ̣t cách tích cực hoă ̣c tiêu cực này sẽ có ảnh hưởng tốt hoă ̣c không tốt đến kết quả ho ̣c tâ ̣p của các em
1.3.1.3 Nhóm bạn cùng lứa
Con người chỉ có thể nhâ ̣n thức về bản thân mình thông qua người khác Có thể thấy, chính trong quá trình giao lưu trong các mối quan hệ mà mỗi cá nhân hiểu được người khác, đánh giá được về người khác và cũng thông qua đó mà nhâ ̣n biết được thái đô ̣ , sự đánh giá của những người khác về mình
Trang 35Cùng với gia đình , nhà trường thì nhóm bạn cũng là yếu tố ảnh hưởng đến ĐGBT của HS THPT
Trương Quang Lâm (2012) cho rằng: “Giao tiếp bạn bè là nhu cầu rất
lớn của HS THPT Tình bạn cùng tuổi giữ vai trò trọng yếu trong đời sống tình cảm của các em , mang màu sắc xúc cảm đặc biê ̣t , làm thỏa mãn nhu cầu tâm sự của các em Thông qua học tập và hoạt động giao lưu bên ngoài, HS thường hướng về bạn bè cùng lứa tuổi và có một vài quan điểm ,
HS chi ̣u ảnh hưởng của bạn bè hơn là cha me ̣”
Mă ̣c dù chức năng cơ bản của nhóm ba ̣n cùng lứa là giải trí nhưng trong thực tế nhóm này cũng có ảnh hưởng nhất định đến khả năng đánh giá bản thân cá nhân Nhóm bạn cùng tuổi khác với gia đình và trường học ở chỗ nó tạo ra điều kiện cho cá nhân tham gia vào nhiều hoạt động không có sự giám sát t rực tiếp của người lớn Trong nhóm này , cá nhân có sự độc lập đáng kể, điều này ta ̣o cho cá nhân có kinh nghiê ̣m đánh giá trong viê ̣c hình thành các mối quan hệ xã hội cho riêng mình và phát triển ý thức về bản thân
1.3.2 Yếu tố chủ quan
Mọi hiện tượng tâm lý của cá nhân như xu hướng nhân cách , nhu cầu,
đô ̣ng cơ, năng lực, khí chất, khả năng nhận thức của cá nhân… đều có liên quan đến sự ĐGBT Bên ca ̣nh đó, tình trạng sức khỏe của cá nhân được coi như là nguồn gốc của ĐGBT Thực tế, nếu chúng ta cảm thấy lo lắng , bất
an, ốm yếu…thì cá nhân khó có thể có sự đánh giá tích cực về bản thân mình
Có thể nói, ĐGBT chịu ảnh hưởng lớn nhất bởi kết quả hoạt động của cá nhân Ngay từ bé, nếu một đứa trẻ làm được một việc gì đó, dù rất nhỏ, trẻ sẽ cảm thấy tự hào về bản thân, do đó trẻ thường khoe với những người khác, chẳng hạn, “con giỏi chưa, mẹ nhìn con xúc cơm này, ” Những dấu hiệu ĐGBT tích cực ban đầu đó sẽ được nhân lên nếu trẻ gặt hái được nhiều thành công trong học tập, trong giao lưu với bạn bè, thầy cô, cha mẹ khi đã
Trang 36đến tuổi đi học Ngược lai, những học sinh có nhiều thất bại trong học tập
và giao lưu với bạn bè và những người xung quanh sẽ có xu hướng đánh giá thấp bản thân, coi bản thân là “người thất bại” Điều này sẽ mang đến mặc cảm tự ti, nhút nhát và sợ thất bại, làm cản trở hoạt động, ảnh hướng tiêu cực đến kết quả hoạt động và học tập của các em
Đối với lứa tuổi học sinh THPT thì nhu cầu tự khẳng định cũng là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng khá mạnh mẽ đến ĐGBT của các
em Các em muốn chứng tỏ bản thân mình với bạn bè, với thầy cô, với cha
mẹ Nhu cầu này góp phần thúc đẩy mạnh mẽ mức độ tích cực hoạt động để đạt được những mục tiêu mà các em tự đặt ra hoặc người lớn kỳ vọng vào các em Vì vậy, có thể nói, hầu như học sinh THPT nào cũng có những ước
mơ và hoài bão về cuộc sống tương lai của bản thân mình và các em tự cảm thấy bản thân tràn đầy năng lượng để thực hiện những ước mơ, hoài bão đó Tuy nhiên, ở một số học sinh, nhu cầu tự khẳng định rất mạnh mẽ nên đôi khi các em ĐGBT cao hơn so với năng lực thực tế của mình, do đó các em đặt ra cho mình những “nhiệm vụ bất khả thi” Những em học sinh này rất có thể gặp thất bại trên hành trình chinh phục mục tiêu đó, điều này ảnh hưởng không nhỏ đến hình ảnh bản thân làm cho các em có xu hướng ngược lại, lại ĐGBT thấp Như vậy, việc giúp học sinh THPT có những ĐGBT phù hợp để các em có thể đặt ra những mục tiêu vừa sức có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự trưởng thành của các em
ĐGBT còn phu ̣ thuô ̣c vào sự kỳ vo ̣ng ở bản thân của mỗi cá nhân Sự kỳ vọng cao nơi chính bản thân giúp chúng ta có cái nhìn tích cực hơn về bản thân
Sự suy nghĩ của mô ̣t cá nhân về những mong đợi của người khác về mìnhcũng có ảnh hưởng nhất định đến việc cá nhân tự ĐGBT như thế nào Như vâ ̣y, qua viê ̣c phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến ĐGBT, chúng tôi cho rằng gia đình, nhà trường và nhóm bạn cùng lứa có ảnh hưởng nhất đi ̣nh đến ĐGBT của các em HS THPT Các yếu tố này tác động đồng thời lên
Trang 37nhâ ̣n thức, thái độ của HS trong đó giáo dục gia đình là nhân tố có sự ảnh hưởng trực tiếp đến sự ĐGBT của các em
1.4.Mối quan hê ̣ giữa ĐGBT và kỳ vọng về bản thân với kết quả học tập của HS THPT
Như chúng ta đã biết , đánh giá bản thân có vai trò rất quan tro ̣ng trong viê ̣c hình thành nhân cách cũng như xu hướng hành đô ̣ng của con người
Mô ̣t cá nhân tự biết nhìn nhâ ̣n những điểm ma ̣nh và những điểm ha ̣n chế của bản thân thì cá nhân ấy sẽ cố gắng phấn đấu để đạt đến “cái tôi lý
tưởng” của mình
Trong nghiên cứu về mối quan hê ̣ giữa khả năng đánh giá bản thân phù hợp của ho ̣c sinh đối với thái đô ̣ ho ̣c tâ ̣p và đô ̣ng cơ ho ̣c tâ ̣p , tác giả Lê
Ngọc Lan (1999) cho rằng:“ Sự đánh giá bản thân thái độ học tập có liên
quan chặt chẽ với động cơ học tập”
Đào Lan Hương (2000) nghiên cứu về đánh giá bản thân thái độ học tập
môn toán của sinh viên cao đẳng sư pha ̣m Hà Nô ̣i Tác giả cho rằng : “Khả
năng đánh giá bản thân thái độ học toán của sinh viên phát triển không đồng đều với các mức độ khác nhau Có sự khác biệt về khả năng đánh giá bản thân thái độ học toán ở những sinh viên có kết quả học tập không giống nhau”
Có thể nói , nếu học sinh THPT có sự tự ĐGBT theo chiều hướng tích cực, điều này sẽ ta ̣o ra được sức ma ̣nh tinh thần ở các em , giúp các em học
tâ ̣p tốt hơn, và ngược lại Nhưng bên ca ̣nh đó , chúng ta cũng phải nhắc đến sự kỳ vo ̣ng về bản thân của ho ̣c sinh THPT Sự kỳ vo ̣ng về bản thân giúp mỗi người có ý chí phấn đấu để đa ̣t tới “ cái Tôi lý tưởng” Vâ ̣y nếu không
mẫu vươn tới của con người sẽ ít nhiều gă ̣p khó khăn Như vâ ̣y, ĐGBT và
kỳ vọng vào bản thân có mối quan hê ̣ mâ ̣t thiết với kết quả ho ̣c tâ ̣p của ho ̣c sinh THPT
Trang 38Tiểu kết chương 1
Từ những phân tích trên, chúng tôi đưa ra một số kết luận sau:
Trên thế giới và Việt Nam cho đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề đánh giá bản thân Những nghiên cứu đó đã xây dựng được
hệ thống cơ sở lý luận về đánh giá bản thân khá đ ầy đủ, tạo cơ sở nền tảng vững chắc cho các công trình nghiên cứu tiếp theo;
Tuy nhiên, nghiên cứu về mối quan hệ giữa đánh giá bản thân - kết quả học tập, thực tra ̣ng kỳ vo ̣ng về bản thân cho đ ến hiện nay vẫn còn là hướng nghiên cứu mới Đặc biệt với hướng nghiên cứu vấn đề này trên đối tượng
là học sinh THPT thì còn ít Việc nghiên cứu về „„Mối quan hệ giữa đánh giá bản thân và kết quả học tập của h ọc sinh THPT‟‟ là một trong những vấn đề rất phức tạp nhưng nó có ý nghĩa lớn đối với sự hình thành và phát triển tâm lý nhân cách của học sinh Do đó, việc đi sâu nghiên cứu vấn đề này là một yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn hiện nay;
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến ĐGBT của HS THPT như gia đình, nhà trường, nhóm bạn cùng lứa và chính bản thân các em HS THPT;
Có mối quan hệ mật thiết giữa đánh giá bản thân và kỳ vọng về bản thân với kết quả ho ̣c tâ ̣p
Trang 39Chương 2
TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu
2.1.1 Vài nét chung về địa bàn huyê ̣n Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng
Vĩnh Bảo là huyện trọng điểm về nông nghiệp của thành phố Hải Phòng với diện tích đất tự nhiên 180 km², dân số 185.000 người Đây là huyện có nhiều nghề thủ công truyền thống khá nổi tiếng như: dệt vải, dệt thảm, chiếu cói, tạc tượng, sơn mài, điêu khắc gỗ, thêu mỹ nghệ Đây là nh ững nghề truyền thống có nhiều tiềm năng cần được đầu tư phát triển Ở vị trí tiếp giáp giữa Hải Phòng với các tỉnh Thái Bình, Hải Dương, huyện Vĩnh Bảo là một huyện giữ vai trò trọng yếu trong phát triển vùng kinh tế ngoại thành Hải Phòng Điểm cực Đông của huyện là cửa của sông Hóa đổ vào sông Thái Bình, trước khi sông Thái Bình đổ ra vịnh Bắc Bộ (biển Đông), phía Tây Bắc huyện giáp tỉnh Hải Dương, phía Tây Nam và Nam giáp tỉnh Thái Bình, phía Đông và Đông Bắc giáp huyện Tiên Lãng (Hải Phòng) Huyện có Quốc lộ 10 sang Thái Bình (hướng Tây Nam), hướng ngược lại lên phía Bắc
là hướng đi trung tâm thành phố Hải Phòng qua các huyện Tiên Lãng, An Lão Huyện Vĩnh Bảo được bao bọc kín xung quanh bởi ba con sông: Sông Luộc phía Tây Bắc, là ranh giới của huyện với tỉnh Hải Dương; Sông Hóa ở phía Tây Nam và Nam, gần như là ranh giới của huyện với tỉnh Thái Bình; Sông Thái Bình làm ranh giới giữa huyện Vĩnh Bảo với huyện Tiên Lãng Về mặt tổ chức hành chính, huyện Vĩnh Bảo có 1 thị trấn Vĩnh Bảo và 29
xã, là các xã: Giang Biên, Dũng Tiến, Việt Tiến, Vĩnh An, Vĩnh Long, Thắng Thủy, Trung Lập, Hiệp Hòa, An Hòa, Hùng Tiến, Tân Liên, Tân Hưng, Hưng Nhân, Nhân Hòa, Tam Đa, Vinh Quang, Đồng Minh, Thanh Lương, Cộng Hiền, Tiền Phong, Vĩnh Phong, Cao Minh, Tam Cường, Liên
Am, Cổ Am, Lý Học, Hòa Bình, Vĩnh Tiến, Trấn Dương
Trang 402.1.2 Vài nét chung về truờng THPT Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng
Vĩnh Bảo là quê hương của danh nhân văn hoá Trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm - một vùng đất “địa linh - nhân kiệt”, có truyền thống hiếu học từ lâu đời Học sinh Vĩnh Bảo chăm chỉ, có ý chí vượt khó, quyết tâm vươn lên trong học tập và rèn luyện
Tỉ lệ học sinh đỗ tốt nghiệp THPT hàng năm đạt từ 99 - 100%, nhiều năm đạt 100%, trong đó tỉ lệ tốt nghiệp loại giỏi xếp từ thứ 3 đến thứ 5 thành phố Đặc biệt trong các kì thi học sinh giỏi cấp thành phố, tuyển sinh vào các trường đại học, học sinh trường THPT Vĩnh Bảo luôn đạt kết quả cao Trường THPT Vĩnh Bảo được tôn vinh là “Ngôi trường của những thủ khoa” của thành phố bởi 5 năm liên tục (từ 2006 đến năm 2010) trường là đơn vị duy nhất trong thành phố liên tục có học sinh đỗ thủ khoa vào các trường đại học danh tiếng trong nước và có học sinh thi vào đại học điểm cao nhất thành phố, đồng thời là trường duy nhất khối ngoại thành trong 3 năm liên tục được lọt vào tốp 200 trường THPT có điểm thi trung bình vào đại học cao nhất Việt Nam Nếu xếp theo số thí sinh đạt từ 27 điểm trở lên thì trường THPT Vĩnh Bảo xếp thứ 51 trong toàn quốc và xếp thứ 2 trong
thành phố Hải Phòng, chỉ sau Trường THPT năng khiếu Trần Phú
2.1.3 Vài nét về khách thể nghiên cứu
Xuất phát từ điều kiện và mục đích nghiên cứu, chúng tôi tiến hành khảo sát nghiên cứu trên:
-190 học sinh, bao gồm 3 khối lớp 10, 11 và 12 thuộc trường THPT Vĩnh Bảo Số lượng khách thể nghiên cứu được chi tiết ở bảng 1.1:
Bảng 1.1 : Cơ cấu điều tra trên đi ̣a bàn nghiên cứu