Khó khăn tâm lý có nguồn gốc từ thực tiễn khách quan, từ sự hình thành và phát triển nhân cách, nhân cách chịu sự tác động của môi trường, của giáo dục, hoạt động, giao tiếp, tự tu dưỡ
Trang 1Đại học quốc gia Hà nội Trường đại học khoa học xã hội và nhân văn
tại làng trẻ sos – hà nội
Luận văn thạc sỹ khoa học
Hà Nội - 2008
Trang 2Đại học quốc gia Hà nội Trường đại học khoa học xã hội và nhân văn
Luận văn thạc sỹ khoa học
Người hướng dẫn khoa học
PGS.TS Đào Thị Ôanh
Hà Nội - 2008
Trang 3Mục lục
Mở đầu 1
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 8
3 Mục đích nghiên cứu 8
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 8
5 Phương pháp nghiên cứu 8
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu 9
7 Giả thuyết khoa học 9
Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài 10
1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề 10
1.1.1 Những nghiên cứu ngoài nước 10
1.1.2.Những nghiên cứu trong nước 13
1 2 Một số khái niệm chủ yếu của đề tài 19
1.2.1 Khái niệm “Khó khăn” : 19
1.2.2 Khái niệm “ứng xử” 20
1.2.3 Khái niệm “Khó khăn tâm lý trong ứng xử” 23
1.3 Các chỉ số 37
1.4 Khái niệm trẻ em 38
1.4.1 Một số đặc điểm tâm - sinh lý của trẻ em 38
1.4.2 Đặc điểm tâm – sinh lý của trẻ em sống tại làng trẻ SOS 40
1.5 Khái niệm “Người mẹ thay thế” 41
Chương 2: Tổ chức nghiên cứu 43
2.1 Vài nét giới thiệu sơ lược về làng trẻ SOS ở Việt Nam và Làng trẻ SOS Hà Nội 43
2.2 Quá trình tổ chức nghiên cứu 45
2.2.1 Nghiên cứu lý luận 45
Trang 42.2.2 Xây dựng công cụ nghiên cứu 46
2.2.3 Điều tra thử 47
2.2.4 Nghiên cứu thực tiễn 47
2.2.5 Xử lý số liệu 48
2.2.6.Phân tích số liệu 48
2.3 Đặc điểm nhóm khách thể nghiên cứu 48
Chương 3: kết quả nghiên cứu 50
3.1 Các khó khăn tâm lý trong ứng xử giữa con cái và người mẹ thay thế 50
3.1.1 Khó khăn về nhận thức 50
3.1.2 Khó khăn về xúc cảm – tình cảm 57
3.1.3 Khó khăn về hành vi 62
3.2 Những nguyên nhân dẫn đến các khó khăn tâm lý trong ứng xử giữa con cái và người mẹ thay thế 67
3.2.1 Cơ chế hoạt động của làng trẻ SOS 67
3.2.2 Nguyên nhân từ phía trẻ 68
3.2.3 Nguyên nhân từ phía các bà mẹ 70
3.3 Hậu quả do những khó khăn đem lại 70
3.3.1 Về phía trẻ 70
3.3.2 Về phía mẹ 71
3.4 Một số trường hợp điển hình được nghiên cứu sâu 73
3.5 Mong đợi của các con và bà mẹ để giải quyết những khó khăn tâm lý 83
3.5.1 Mong đợi của các con 83
3.5.2.Mong muốn của mẹ 86
Chương IV: Kết luận và khuyến nghị 88
4.1 Kết luận 88
4.2 Khuyến nghị 89
4.2.1 Với Ban lãnh đạo của Làng trẻ SOS: 89
4.2.2 Với các bà mẹ: 90
4.2.3 Với các con 91
Trang 5Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
Gia đình là tế bào của xã hội mà các thành viên của nó gắn kết với nhau bằng quan hệ hôn nhân (vợ - chồng), quan hệ huyết thống (giữa ông bà với con cái và các cháu chắt), bằng các sinh hoạt chung và trách nhiệm với nhau theo đạo đức và pháp luật Trong quá trình tồn tại và phát triển gia đình phải thực hiện các chức năng sinh sản, chức năng chăm sóc và bảo vệ các thành viên, chức năng giáo dục, chức năng kinh tế…
Môi trường gia đình tác động mạnh mẽ đến sự phát triển nhân cách của cá nhân ở tuổi ấu thơ, ảnh hưởng của gia đình hầu như tuyệt đối dù trẻ có đến nhà trẻ hay lớp mẫu giáo ở tuổi thiếu nhi và vị thành niên quan hệ của trẻ không còn bó hẹp trong khuôn khổ gia đình mà còn chịu nhiều ảnh hưởng của
xã hội, bạn bè, nhà trường và thầy cô giáo… Tuy vậy, sự ảnh hưởng và vai trò giáo dục của gia đình vẫn đặc biệt quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân cách của trẻ
Nhân cách của trẻ chịu ảnh hưởng rất lớn từ giáo dục gia đình và truyền thống của gia đình như sự liên kết, yêu thương gắn bó, quan tâm giúp đỡ lẫn nhau, truyền thống học tập, lao động, những sở thích văn hoá, thể thao… ảnh hưởng của giáo dục gia đình, bầu không khí, truyền thống của gia đình rất quan trọng Sự giáo dục của gia đình tốt sẽ góp phần tạo nên tính đa dạng, phong phú trong nhân cách của trẻ theo hướng tích cực, tiến bộ và ngược lại Nếu một gia đình luôn coi lời chửi mắng, quát nạt là phương pháp giáo dục tốt nhất thì sẽ hình thành nên những đứa trẻ mang tính bạo hành, hung hăng Còn trong gia đình mọi người không ai quan tâm đến ai, mỗi người sống với thế giới riêng của mình thì những đứa trẻ sống trong môi truờng như vậy khi lớn lên cũng vô cảm trước nỗi đau của người khác
Như vậy, sự phát triển của trẻ em phụ thuộc vào sự nuôi dưỡng và chăm sóc của gia đình Đó là môi trường gần gũi nhất tác động đến trẻ Từ lúc mới
Trang 6sinh ra trong gia đình, trẻ đã nhận được những kinh nghiệm xã hội đầu tiên,
sự phân công trách nhiệm và vai trò cá nhân thông qua vai trò của mỗi thành viên trong gia đình Cũng trong gia đình, phẩm chất cá nhân, thế giới nội tâm được bộc lộ đầy đủ nhất Cuộc sống gia đình đặt nền móng đầu tiên cho sự hình thành thế giới quan, những thói quen, hành vi văn hoá, đạo đức và phát triển trí tuệ Bởi vậy gia đình luôn là nơi cung cấp mọi điều kiện tốt nhất cho
sự phát triển toàn diện của trẻ em cả về thể chất lẫn tinh thần
Tuy nhiên không phải đứa trẻ nào cũng có niềm hạnh phúc được sống trong vòng tay của những người thân yêu Có rất nhiều lý do như: những mâu thuẫn, những mất mát khiến cho tổ ấm gia đình không còn nguyên vẹn, khiến những đứa trẻ phải sống thiếu cha / mẹ, hoặc thiếu cả cha lẫn mẹ - đây là điều bất hạnh nhất đối với đứa trẻ Chúng phải xa rời vòng tay yêu thương chăm sóc của người thân để bắt đầu một cuộc sống mới bên những người hoàn toàn
xa lạ, chưa hề quen biết Bắt đầu một cuộc sống mới với môi trường xung quanh mới lạ không phải là chuyện dễ với bất kỳ một ai đặc biệt là đối với trẻ
em Có những em khi rời xa gia đình của mình phải sống lang thang vất vưởng, nhưng có em may mắn hơn được các nhà hảo tâm, các nhà mở, mái
ấm, làng trẻ như làng trẻ SOS đón nhận về nuôi Các em sẽ gia nhập một gia đình mới, có anh chị em mới và đặc biệt là có một người mẹ mới, không phải
là người đã sinh ra mình Việc gọi người xa lạ là mẹ, rồi phải thích ứng với những quy định của gia đình mới, sống trong cùng một mái nhà với rất nhiều anh chị em không cùng huyết thống sẽ làm các em gặp rất nhiều khó khăn và lúng túng trong ứng xử
Theo khảo sát ban đầu thì những trẻ em đang sống tại làng trẻ SOS hiện nay gặp khá nhiều khó khăn trong ứng xử với người mẹ thay thế của mình Đây là những người hoàn toàn xa lạ, không sinh ra trẻ nhưng lại có công nuôi dưỡng và chung sống hàng ngày với trẻ, thay thế vai trò của người mẹ đã sinh
ra các em
Trang 7Những khó khăn tâm lý trong ứng xử giữa cha mẹ và con cái cũng đã được
đề cập đến trong những luận văn thạc sỹ hay tiến sỹ, nhưng khó khăn tâm lý trong ứng xử giữa con cái và người mẹ thay thế tại làng trẻ SOS thì dường
như chưa được đề cập đến nhiều Chính vì vậy mà chúng tôi chọn đề tài “Khó khăn tâm lý trong ứng xử giữa con cái và người mẹ thay thế tại làng trẻ SOS” để nghiên cứu với mong muốn sẽ tìm ra biện pháp làm giảm thiểu
những yếu tố gây khó khăn trong ứng xử giữa người mẹ thay thế và các con khi mới vào sống tại làng trẻ
2 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu:
- Khó khăn tâm lý trong ứng xử giữa con cái và người mẹ thay thế
2.2 Khách thể nghiên cứu:
- Nhóm trẻ em tuổi từ 10 – 16 tuổi sống tại làng trẻ SOS
- Các bà mẹ thay thế tại làng trẻ SOS
3 Mục đích nghiên cứu
Chỉ ra các khó khăn tâm lý cản trở việc ứng xử của trẻ em làng SOS với người mẹ thay thế; phân tích nguyên nhân của thực trạng đó và đề xuất một số khuyến nghị nhằm cải thiện mối quan hệ ứng xử giữa trẻ em với người mẹ thay thế
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Hệ thống hoá một số vấn đề lý luận liên quan đến khó khăn tâm lý để định hướng cho nghiên cứu thực tiễn
4.2 Nghiên cứu thực tiễn các khó khăn tâm lý mà trẻ và người mẹ thay thế thường gặp phải trong quan hệ ứng xử hàng ngày; phân tích nguyên nhân của thực trạng đó
4.3 Kiến nghị đề xuất một số biện pháp tâm lý – giáo dục giúp làm giảm bớt những khó khăn tâm lý của trẻ trong quan hệ ứng xử với người mẹ thay thế
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Trang 85.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
5.3 Phương pháp phỏng vấn sâu
5.4 Phương pháp quan sát
5.5.Phương pháp thống kê toán học
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
6.1 Giới hạn về nội dung nghiên cứu: đề tài chỉ nghiên cứu khó khăn tâm lý
của trẻ và người mẹ thay thế trong quan hệ ứng xử
6.2 Giới hạn về khách thể nghiên cứu: nhóm trẻ em tại làng trẻ SOS, tuổi từ
10 – 16 tuổi
6.3 Giới hạn về địa bàn nghiên cứu: làng trẻ SOS Hà Nội
7 Giả thuyết khoa học
Trẻ em tuổi vị thành niên có hoàn cảnh đặc biệt được sống trong làng SOS với anh chị em không cùng huyết thống và với người mẹ thay thế thường gặp nhiều khó khăn tâm lý trong ứng xử với người mẹ thay thế thể hiện ở nhận thức, cảm xúc và thông quan các hành vi thường ngày trong cuộc sống Những khó khăn tâm lý trong ứng xử này là do một số nguyên nhân từ phía người mẹ thay thế lẫn từ phía trẻ, cụ thể là do thiếu hiểu biết lẫn nhau, thiếu
sự đồng cảm chia sẻ từ hai phía dẫn đến sự xa cách không gần gũi giữa con cái và người mẹ thay thế
Trang 9Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài
1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong lịch sử nghiên cứu các vấn đề tâm lý, vấn đề khó khăn tâm lý đã được nhiều nhà nghiên cứu tâm lý xem xét dưới nhiều góc độ, nhiều lĩnh vực khác nhau Vấn đề khó khăn tâm lý trong giao tiếp, ứng xử, trong hành vi, trong các mối quan hệ giữa cha mẹ và con cái cũng được đề cập đến nhiều Tuy nhiên việc nghiên cứu vấn đề khó khăn tâm lý của con cái trong ứng xử với người mẹ thay thế tại các làng trẻ SOS còn rất ít Do phạm vi nghiên cứu của đề tài, chúng tôi không có điều kiện đề cập một cách hệ thống toàn bộ những công trình nghiên cứu về khó khăn tâm lý mà chỉ trình bày một cách tổng quan những công trình tiêu biểu có liên quan đến đề tài Cụ thể là theo hướng : Nghiên cứu khó khăn tâm lý trong ứng xử
1.1 1 Những nghiên cứu ngoài nước
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi thấy có rất nhiều tài liệu, công trình nghiên cứu về giao tiếp, ứng xử nói chung, nhưng nghiên cứu riêng về ứng
xử thì rất ít, gần như không có Tuy nhiên, không thể tách rời ứng xử ra khỏi giao tiếp, do ứng xử là những biểu hiện cụ thể thông qua lời nói, hành động
mà chỉ xuất hiện trong giao tiếp, thông qua các tình huống giao tiếp cụ thể mới xuất hiện Do vậy, chúng tôi vẫn tham khảo cả những tài liệu liên quan đến giao tiếp, ứng xử
Tiêu biểu là công trình nghiên cứu của H.Hipsơ và M.Phorvec, hai nhà tâm
lý học Đức, tác giả của phương pháp luyện tập xã hội, trong “ Nhập môn Tâm
lý học xã hội Macxit ” Hai tác giả này cho rằng: Quá trình giao tiếp, ứng xử rất phức tạp và khó khăn, khó khăn lớn nhất ở đây là sự thiếu hiểu biết lẫn nhau và thiếu hiểu biết về bản thân của các đối tượng giao tiếp Chính các khó khăn về nhận thức này là nguyên nhân dẫn đến các khó khăn tâm lý trong giao tiếp, ứng xử Cũng theo hai tác giả này có thể phân loại khó khăn tâm lý
Trang 10trong giao tiếp, ứng xử theo phương diện “ Khó khăn tâm lý trong giao tiếp
và vấn đề thông tin” Theo cách phân loại này có thể có 6 dạng khó khăn:
Khó khăn có tính chất tình huống: do cách hiểu khác nhau về tình huống giao tiếp
Khó khăn về ý nghĩa: Do câu nói được tri giác một cách tách rời về ý nghĩa với thông báo thông tin
Khó khăn có tính chất động cơ: Đối tượng giao tiếp che dấu động cơ thông tin hoặc có động cơ không rõ ràng
Khó khăn do biểu tượng về đối tượng giao tiếp không đầy đủ
Khó khăn do thiếu mối liên hệ ngược và do đặc điểm của hình thức thông tin
Khó khăn mang tính chất ứng dụng của thông tin: phát sinh do có sự khác biệt mang tính ứng dụng giữa hệ thống kí hiệu và người sử dụng
kí hiệu
H Hipsơ và M.Phorvec đã chỉ ra được một loạt những nguyên nhân, các dạng khó khăn tâm lý trong giao tiếp, ứng xử tuy nhiên vẫn chưa làm rõ được khái niệm khó khăn tâm lý trong giao tiếp, ứng xử là gì
B Ph.Lomov đã phân tích tính chất phức tạp của giao tiếp và vạch rõ giao tiếp có hai chủ thể, hai đối tượng, hai mục đích, hai phương pháp, hai kênh giao tiếp khác nhau Ngoài ra quan hệ giữa hai chủ thể, hai đối tượng luôn luôn chuyển hoá nhau rất phức tạp Ông đã chỉ ra các loại khó khăn sau:
Tính hai mặt của giao tiếp: là khó khăn khách quan của giao tiếp
Tính động cơ của nó: giao tiếp với một người hôm nay khác với giao tiếp với người đó vào ngày mai trong điều kiện khác, hoàn cảnh khác
Giao tiếp có nhiều chức năng ( thông tin, hiểu biết lẫn nhau, tác động qua lại ) mà việc thực hiện các chức năng này không phải là dễ dàng, phụ thuộc vào nhiều điều kiện khách quan
Trang 11 Giao tiếp đòi hỏi tính sáng tạo, linh hoạt Trong giao tiếp nếu rập khuôn theo bài bản không có sự sáng tạo thì không có kết quả Kết quả giao tiếp nhiều khi không dự báo được
A.A Roiac phân loại khó khăn tâm lý theo phương diện “Khó khăn tâm lý trong giao tiếp và vấn đề hoạt động” Ông đưa ra hai nhóm khó khăn tâm lý:
Khó khăn có tính chất thao tác: do thiếu kiến thức, kinh nghiệm, phương pháp thực hiện
Khó khăn có tính chất động cơ: do chưa hình thành đầy đủ nhu cầu giao tiếp chưa hình thành đúng mức động cơ giao tiếp, do các động cơ có mục đích khác nhau chèn lấn động cơ giao tiếp
Căn cứ vào đó ông đưa ra hai loại hàng rào cản trở: hàng rào có tính chất động cơ và hàng rào có tính chất thao tác
Trong công trình nghiên cứu của G.M.Andrêeva khi phân tích chức năng thông tin về giao tiếp, ứng xử đã chỉ ra một vài nguyên nhân làm nảy sinh các khó khăn tâm lý trong quá trình giao tiếp, ứng xử Tác giả cho rằng, những khó khăn này có thể nảy sinh do sự khác biệt về tôn giáo, ngôn ngữ, nghề nghiệp, thiếu đồng nhất trong nhận thức tình huống ứng xử giữa các thành viên tham gia giao tiếp, hoặc do đặc điểm tâm lý cá nhân Như vậy, ở công trình nghiên cứu này, tác giả đã phát hiện ra một số nguyên nhân làm nảy sinh các khó khăn tâm lý trong giao tiếp, ứng xử nhưng để đưa ra khái niệm khó khăn tâm lý trong ứng xử là gì thì tác giả chưa đề cập tới
Đến năm 1987, E.V Sucanova đã đánh dấu một mốc quan trọng cho việc nghiên cứu vấn đề khó khăn tâm lý trong giao tiếp, ứng xử qua việc đưa ra cuốn sách “Những khó khăn của giao tiếp liên nhân cách” Trong công trình này tác giả đề cập đến những vấn đề:
Bản chất tâm lý của những khó khăn trong giao tiếp liên nhân cách
Vị trí của hiện tượng giao tiếp, khó khăn trong cấu trúc của các vấn đề tâm lý xã hội
Trang 12 Những đặc điểm của việc nhận thức các nguyên nhân gây ra khó khăn trong giao tiếp công việc
Nghiên cứu thực nghiệm về ảnh hưởng của các yếu tố khó khăn đến quá trình giao tiếp công việc
Trong công trình này tác giả đã phát hiện được một số khó khăn tâm lý trong giao tiếp, ứng xử và nguyên nhân nảy sinh chúng Song cũng như các tác giả trên, ông chưa đưa ra được định nghĩa về khó khăn tâm lý trong ứng
xử và cũng chưa phân loại chúng một cách cụ thể
Cũng trong năm 1987, trong công trình nghiên cứu về nhân cách sư phạm của giáo viên, V.A Cancalic đã nêu ra một số khó khăn trong ứng xử của sinh viên sư phạm như:
Không biết cách dàn xếp tổ chức một cuộc tiếp xúc
Không hiểu lập trường của đối tượng giao tiếp
Thụ động trong ứng xử
Có tâm trạng lo lắng, sợ hãi
Lúng túng khi điều khiển trạng thái tâm lý của bản thân trong ứng xử
Không biết cách xây dựng mối quan hệ qua lại và đổi mới quan hệ đó theo nhiệm vụ sư phạm
Bắt chước máy móc cách ứng xử của giáo viên khác
Như vậy bàn về khó khăn trong giao tiếp, ứng xử có rất nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu Các tác giả này đã phát hiện và kể ra được một số khó khăn tâm lý trong giao tiếp, ứng xử, nguyên nhân làm nảy sinh những khó khăn đó Nhưng để làm rõ khái niệm về khó khăn tâm lý trong giao tiếp, ứng xử, phân loại chúng một cách cụ thể thì chưa có tác giả nào làm được
1.1.2.Những nghiên cứu trong nước
Thực sự, ở Việt Nam, vấn đề khó khăn tâm lý chưa được quan tâm nghiên cứu nhiều Khó khăn tâm lý trong giao tiếp, ứng xử cũng có số lượng nghiên
Trang 13cứu rất ít Trong cuốn “Vấn đề giao tiếp” của Nguyễn Văn Lê, dưới góc độ thông tin, tác giả đã bàn đến khó khăn tâm lý trong giao tiếp, ứng xử như:
Sự chênh lệch giữa người phát và người thu
Khả năng xây dựng và trình bầy thông điệp (diễn đạt) của người phát thông tin Tác giả cũng đưa ra các yếu tố tâm lý gây khó khăn chính trong giao tiếp, ứng xử đó là: Những chấn thương tình cảm, những sự khác nhau về chính kiến, những xung đột, tưởng tượng, sự đánh giá về người khác, định kiến, sự thiện cảm hay ác cảm Tuy nhiên công trình này chỉ mang tính chất diễn giải, “chấm phá”, mặc dù tác giả có bàn tới khó khăn tâm lý trong giao tiếp, ứng xử nhưng vẫn không đề cập tới nội hàm của khái niệm đó
Tác giả Huyền Phan với bài viết: “Những khó khăn tâm lý trong giao tiếp”
đã cho thấy, nhiều khi giao tiếp, ứng xử không đạt mục đích vì bị các khó khăn tâm lý ngăn cản Muốn giao tiếp đạt mục đích cần phải vượt qua các khó khăn tâm lý đó là:
Bức tường thành kiến do có ác cảm với một ai đó, do cái nhìn thiên lệch đã tạo ra ấn tượng không tốt đẹp khi giao tiếp, ứng xử
Bức tường ác cảm nảy sinh khi có định kiến với đối tượng, do có thông tin sai lệch về đối tượng
Bức tường sợ hãi xuất hiện do những suy nghĩ băn khoăn dẫn đến tiếp xúc gượng ép, thiếu tự nhiên
Bức tường thiếu hiểu biết nảy sinh do khi tiếp xúc không hiểu nhau hoặc hiểu không đúng về nhau
Như vậy trong bài viết này tác giả đưa ra bốn khó khăn tâm lý nhưng lại không đề cập đến lý luận về khó khăn tâm lý
Một tác giả khác là Phạm Ngọc Viễn trong khi phân tích các biện pháp cơ bản của công tác huấn luyện tâm lý chung cho các vận động viên đã nêu ra các khó khăn tâm lý thể hiện dưới dạng cảm giác sợ hãi, không tin tưởng, do
Trang 14dự trong quyết định… Những khó khăn tâm lý này xuất hiện thường xuyên trong điều kiện thi đấu bởi các yếu tố nhiễu như: khởi thi không thành công, đối phương kề mình có thành tích thi đấu cao, trọng tài thiếu khách quan Các khó khăn tâm lý rất đa dạng về mặt nội dung Tuy vậy có thể chia nó thành ba loại sau:
Những khó khăn về nhận thức, xuất hiện khi phản ánh không đúng về khả năng của bản thân (suy nghĩ về thất bại, biểu tượng vận động sai, tri giác không chính xác về các tham số của biểu tượng vận động….)
Những khó khăn về cảm xúc, phụ thuộc vào thái độ của vận động viên với nhiệm vụ được giải quyết (sợ ngã khi xuống dụng cụ, không biết kìm hãm niềm vui khi chiến thắng, bị ức chế do thất bại )
Những khó khăn về đạo đức nảy sinh khi nhận thức và rung cảm về những yêu cầu của xã hội (tinh thần trách nhiệm lớn quá mức, sợ thua, quá hồi hộp trong trận quyết định…)
Trong công trình trên, tác giả đã có ưu điểm là: phát hiện và gọi tên được các khó khăn tâm lý, xác định được nguyên nhân nảy sinh các khó khăn đồng thời phân loại được các khó khăn đó Tuy nhiên còn các vấn đề như bản chất của các khó khăn này như thế nào, làm thế nào để hạn chế được nó … thì tác giả không nói đến
Năm 1995, tác giả Mạnh Toàn đã trích dẫn ý kiến của bác sỹ người Mỹ Rabbi Kahler về 5 nguyên nhân cản trở sự tiếp xúc giữa người với người như sau:
Trang 15Nhưng tác giả này cũng chỉ đề cập đến 5 nguyên nhân này mà chưa có những nghiên cứu thực nghiệm về những khó khăn tâm lý trong giao tiếp Tuy nhiên có khá nhiều nghiên cứu về những khó khăn tâm lý dành cho lứa tuổi tiểu học Trong tác phẩm “Nỗi đau của con em chúng ta” bác sỹ Nguyễn Khắc Viện đã nêu ra những khó khăn tâm lý mà học sinh lớp 1 gặp phải như:
Trẻ phải giữ kỷ luật lớp học
Trẻ phải học một chương trình nặng so với tuổi mẫu giáo
Trẻ ít được bố mẹ vỗ về âu yếm như trước và luôn chịu sự kiểm tra, đánh giá của bố mẹ…
Cùng với ông, tác giả Nguyễn Thị Nhất trong tác phẩm “6 tuổi vào lớp 1” cũng đã nêu ra những khó khăn tâm lý cụ thể mà trẻ lớp 1 phải vượt qua đó là:
Trẻ phải rời bỏ cuộc sống thoải mái, đa dạng, vui nhộn, hoạt động tuỳ hứng ở mẫu giáo, và khép mình vào kỷ luật nghiêm khắc của lớp học phổ thông
Trẻ gặp phải khó khăn trong quan hệ với cô giáo
Trẻ bị “vỡ mộng” khi vào học lớp 1 vì sự hân hoan hồi hộp chào đón những điều hấp dẫn được thay thế bằng những điều khác xa với sự tưởng tượng của trẻ
Năm 1997, tác giả Nguyễn Thanh Bình đã nghiên cứu về trở ngại tâm lý trong giao tiếp, ứng xử của sinh viên sư phạm với học sinh khi thực tập tốt nghiệp Trong đó tác giả cũng đã nghiên cứu về khái niệm, bản chất, biểu hiện, nguyên nhân, phân loại và ảnh hưởng của khó khăn tâm lý trong giao tiếp
Theo tác giả này khi nói đến khó khăn tâm lý trong giao tiếp phải chú ý đến các đặc điểm sau:
Tính đa dạng của khó khăn tâm lý trong giao tiếp Mỗi loại nhân cách, tính cách có những khó khăn đặc trưng riêng Ví dụ: nhân cách hướng
Trang 16nội có khó khăn khi giao tiếp với người lạ, người hướng ngoại có khó khăn đặc trưng là kém tập trung chú ý vào đối tượng giao tiếp trong thời gian dài…
Ai cũng gặp khó khăn trong giao tiếp Khó khăn là khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn của chủ thể Tuy nhiên ở mỗi người mức dộ khó khăn là khác nhau
Khó khăn tâm lý trong giao tiếp là một trong những nguyên nhân cơ bản làm giảm hiệu quả giao tiếp, nhưng không phải là nguyên nhân duy nhất Hiệu quả giao tiếp còn phụ thuộc vào những điều kiện khách quan
và chủ quan khác
Khó khăn tâm lý thường diễn ra trong những tình huống phức tạp, bất ngờ trong giao tiếp, thường gặp ở những người kém phát triển về năng lực và kỹ năng giao tiếp, những người có nhân cách lệch chuẩn so với chuẩn mực chung của xã hội, những người mà đặc điểm nhân cách không phù hợp với vai trò và địa vị xã hội, với nghề nghiệp mà họ đang làm
Khó khăn tâm lý có nguồn gốc từ thực tiễn khách quan, từ sự hình thành và phát triển nhân cách, nhân cách chịu sự tác động của môi trường, của giáo dục, hoạt động, giao tiếp, tự tu dưỡng…
Từ những đặc điểm trên, tác giả đã khái quát bản chất của khó khăn tâm lý trong giao tiếp như sau:
“Khó khăn tâm lý trong giao tiếp là toàn bộ những đặc điểm tâm lý cá nhân
và kiểu hành vi ứng xử không phù hợp với nội dung, đối tượng và hoàn cảnh giao tiếp”
Như vậy, những khó khăn tâm lý trong giao tiếp là một hiện tượng tâm lý mang tính chủ thể đậm nét Bản thân chủ thể giao tiếp cũng cảm thấy rõ những khó khăn trong giao tiếp với mọi người
Trang 17Năm 2007, tác giả Lê Mỹ Dung – Viện nghiên cứu Sư phạm đã nghiên cứu chuyên đề “Những khó khăn trong học tập của học sinh tiểu học” Sau khi phân tích những biểu hiện của khó khăn trong học tập , tác giả đã đưa ra 4 nguyên nhân cơ bản gây khó khăn là:
Nguyên nhân sinh học: do khuyết tật di truyền, bẩm sinh về giải phẫu - sinh lý, sức khoẻ
Nguyên nhân xã hội: hoàn cảnh gia đình, rào cản ngôn ngữ, tác động bởi môi trường xã hội
Nguyên nhân sư phạm: nội dung, chương trình sách giáo khoa, phương pháp dạy học không phù hợp, môi trường sư phạm tiêu cực…
Nguyên nhân tâm lý: nhận thức, thái độ, sự thích ứng tâm lý với hoạt động học tập, rối nhiễu hành vi, lo hãi…
Trên đây chúng tôi đã điểm qua một vài công trình nghiên cứu về khó khăn tâm lý trong giao tiếp, ứng xử Tóm lại, mặc dù mới chỉ có một số lượng
ít ỏi các tác giả với các công trình nghiên cứu về vấn đề khó khăn tâm lý trong giao tiếp nhưng họ cũng đã có những đóng góp nhất định:
Đã phát hiện được một số khó khăn tâm lý trong giao tiếp, ứng xử
Bước đầu phân loại được các khó khăn tâm lý
Xác định được một vài nguyên nhân gây ra các khó khăn trên
Tuy nhiên các tác giả trên cũng chưa có những nghiên cứu lý luận chuyên
về khó khăn tâm lý nên không đề cập đến nội hàm khái niệm và bản chất tâm
lý của khó khăn cũng như cơ sở phân loại cụ thể các khó khăn… Như vậy cho thấy cho đến nay, ở Việt Nam chưa có một công trình nghiên cứu hoàn chỉnh
về lý luận cũng như về thực nghiệm các khó khăn tâm lý trong giao tiếp, ứng
xử
Vấn đề khó khăn tâm lý đã được nhiều nhà nghiên cứu tâm lý xem xét dưới nhiều góc độ, nhiều loại khách thể với nhiều lĩnh vực khác nhau Khó khăn tâm lý trong ứng xử của trẻ em với cha mẹ cũng được đề cập đến nhiều
Trang 18Tuy nhiên, chưa có ai nghiên cứu khó khăn tâm lý của trẻ em với người mẹ thay thế tại làng trẻ SOS
1 2 Một số khái niệm chủ yếu của đề tài
1.2.1 Khái niệm “Khó khăn” :
Muốn đưa ra khái niệm “Khó khăn Tâm lý”trước hết phải hiểu được khó
khăn là gì Hiện nay, có rất nhiều cách hiểu khác nhau về “khó khăn ” Theo
từ điển Tiếng Việt căn bản thì “khó khăn ” có nghĩa là điều gây trở ngại hoặc
sự thiếu thốn
Trong từ điển Anh – Việt thì từ “ Hardship” hoặc từ “Difficulty” đều được dùng chỉ sự khó khăn, sự gay go, sự khắc nghiệt đòi hỏi nhiều nỗ lực để khắc phục
Từ điển Pháp – Việt thì “Difficulté” chỉ sự khó khăn, việc gây khó khăn
Từ điển Nga – Việt dùng từ “ ” để chỉ khó khăn với nghĩa là nan giải, khó nhọc, gay go
Như vậy, qua các từ điển ở trên ta có thể hiểu khó khăn chính là những điều gây trở ngại, cản trở, làm mất nhiều công sức, đòi hỏi nhiều nỗ lực để vượt qua Khó khăn tâm lý là những điều trở ngại , cản trở tâm lý
Trong bất kỳ hoạt động nào, chủ thể cũng gặp những khó khăn nhất định gây cản trở cho việc đạt được mục tiêu đã đề ra Những khó khăn đó bao gồm nhiều yếu tố khác nhau: những yếu tố bên ngoài (yếu tố khách quan) như : điều kiện, phương tiện hoạt động, môi trường gia đình – xã hội Và những yếu tố bên trong (yếu tố chủ quan): thiếu sự hiểu biết sâu sắc về đối tượng, vốn kinh nghiệm hạn chế, sự chủ quan, việc thực hiện các thao tác hành động không phù hợp
Khi xét về phương diện nguồn gốc xuất phát, các yếu tố bên trong có thể phân làm hai loại : yếu tố sinh học và yếu tố tâm lý Những khó khăn do yếu
tố tâm lý tạo nên thì gọi là là những khó khăn tâm lý
Từ những cách nhìn trên về “Khó khăn”, chúng tôi đưa ra khái niệm về
khó khăn tâm lý như sau : “Khó khăn tâm lý là toàn bộ những nét tâm lý
Trang 19của cá nhân, nảy sinh ở chủ thể trong quá trình hoạt động không phù hợp ( gây cản trở) với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, làm ảnh hưởng xấu tới tiến trình và kết quả của hoạt động đó”
1.2.2 Khái niệm “ứng xử”
Từ lâu, ứng xử trong quan hệ giao tiếp người - người đã được các nhà tâm
lý học Liên Xô nghiên cứu K.D Usinxki đã vạch ra được bản chất sự khéo léo ứng xử sư phạm cũng như trong mối quan hệ người - người…
Theo Usinxki, nếu không có sự khéo léo ứng xử sư phạm thì nhà giáo dục
dù tài giỏi đến mức nào cũng không bao giờ trở thành nhà thực hành giáo dục tốt
Khi nói về ứng xử người ta nói đến sự khéo léo ứng xử hoặc biết cách đối nhân xử thế Sự khéo léo ứng xử theo tiếng La tinh là “ Tactus” có nghĩa là sự tiếp xúc, là cảm giác về mức độ nhờ đó mà con người có khả năng giữ mình một cách đúng đắn
Từ điển Tiếng Việt của Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam - Viện ngôn ngữ Hà Nội đã định nghĩa khéo léo ứng xử như:
ứng đáp - đối đáp nhanh, có tài ứng đối như trạng Quỳnh
ứng khẩu - ứng đối ngay thành văn mà không có chuẩn bị trước
ứng phó - chủ động đối phó một cách kịp thời với các tình huống xẩy
ra, biết cách đối xử với người đời
Từ điển Hán Việt - Đào Duy Anh quan niệm trong xã hội con người luôn phải biết giao tiếp, trong tình huống cụ thể do tác động của hoàn cảnh mà con người có ứng xử phù hợp để đạt kết quả giao tiếp tốt nhất
ứng xử theo nghĩa tiếng Anh là “cope”: đương đầu, đối mặt trong các tình huống bất thường, tình huống khó khăn và stress
Sau này, khái niệm ứng xử được sử dụng rộng rãi trong nhiều tác phẩm và bao quát một lĩnh vực rộng lớn hoạt động của con người - từ sự tự vệ tâm lý một cách vô thức cho đến những nỗ lực có mục đích hướng đến hoàn cảnh
Trang 20Theo nghĩa rộng, ứng xử bao gồm tất cả các dạng tương tác của chủ thể với những yêu cầu của thế giới bên ngoài và nội tâm - nắm bắt làm chủ hay làm suy giảm, làm quen hay lảng tránh khỏi những yêu cầu của hoàn cảnh có vấn
đề Những điều kiện bên ngoài - yêu cầu của hoàn cảnh, hay bên trong - đặc điểm tâm lý của chủ thể, tạo nên nội dung của cách ứng xử, làm chúng hoàn toàn khác biệt với sự thích ứng đơn giản
Trong từ điển Tâm lý học của Nguyễn Khắc Viện, ứng xử được hiểu là những phản ứng thể hiện thái độ của chủ thể trước mọi tác động của thế giới khách quan Theo cách hiểu này thì ứng xử có ở mọi sinh vật “tiếp nhận một kích thích, ứng phó, đối xử lại, từ này nói lên tất cả mọi loại hành động của con vật hay con người”
Như vậy, trong ứng xử có thể thấy vai trò của hoàn cảnh, tình huống và của chính chủ thể hành vi ứng xử Tóm lại có thể hiểu hành vi ứng xử là cách
mà cá nhân thể hiện sự tương tác của mình với hoàn cảnh tương ứng với lôgíc của riêng họ, với ý nghĩa trong cuộc sống của con người và với những khả năng tâm lý của họ Nghĩa là khái niệm ứng xử bao trùm một phạm vi rộng, bao gồm cả những phản ứng nội tâm trước hoàn cảnh xảy ra (suy nghĩ, tình cảm) và cả những hành động bên ngoài nhằm đáp lại yêu cầu của hoàn cảnh
ở đây ứng xử bao hàm cả nội dung của hoàn cảnh mà con người tri giác được
và khả năng tâm lý của cá nhân ý nghĩa tâm lý của ứng xử là ở chỗ làm thế nào để con người thích ứng nhanh chóng với những yêu cầu của hoàn cảnh, cho phép họ nắm bắt và làm chủ chúng
Con người về bản chất tự nhiên là động vật bậc cao trong bậc thang tiến hoá của vật chất, do đó cái nền, cái gốc phải xuất phát từ phản ứng tự nhiên
để bảo toàn giống loài Nhưng con người còn có bản chất xã hội, cá nhân là thực thế xã hội, phản ứng của con người chịu sự chi phối của các quan hệ xã hội, dư luận, phong tục, tập quán, truyền thống của các tổ chức xã hội Như vậy phản ứng của con người không còn thuần tuý là phản ứng của tự nhiên
mà ngay cả phản ứng đối với bản thân mình cũng mang tính chất xã hội Vậy
Trang 21ta có thể hiểu khái niệm ứng xử bao hàm cả nội dung bản chất tự nhiên và bản chất xã hội của con người
ứng xử thể hiện hành vi, cử chỉ, thái độ, lời nói… của từng cá nhân Không chỉ có vậy, ứng xử biểu hiện những hành vi, cử chỉ, thái độ, nguyện vọng, mong muốn… đại diện cho một nhóm, một cộng đồng
Hiện nay, khái niệm ứng xử được sử dụng rộng rãi nhưng cũng chưa đi đến
ý kiến thống nhất, ta có thể phân biệt khái niệm ứng xử với các khái niệm sau:
ứng đối - ứng đáp, ứng khẩu … là những phản ứng bằng ngôn ngữ của con người trong một tình huống xác định
ứng phó, ứng biến, đối xử, xử thế, xử trí … là những khái niệm gần gũi với ứng xử nhưng cũng có thể coi là những khái niệm đời sống, mặc dù được hiểu gần với khái niệm ứng xử nhưng vẫn có ý nghĩa khác - phải
có tình huống bên ngoài tác động vào mới có “ứng”, và “xử” là sự thể hiện thái độ của con người trong tình huống đó Tuy nhiên trong thực tế khái niệm “đối xử” hay được dùng tương đương với khái niệm “ứng xử”
Hiện nay trong tâm lý học , thuật ngữ ứng xử được hiểu theo hai nghĩa:
Nghĩa rộng: ứng xử được hiểu là những phản ứng thể hiện thái độ của chủ thể trước mọi tác động của thế giới khách quan Theo cách hiểu này thì ứng xử có ở mọi sinh vật “tiếp nhận mọi kích thích, ứng phó, đối xử lại, từ này nói lên tất cả mọi hành động của con người hay con vật”
Nghĩa hẹp: ứng xử chỉ dùng để chỉ những phản ứng thể hiện thái độ của con người trong tình huống có vấn đề nào đó diễn ra trong quá trình giao tiếp ứng xử Theo nghĩa này, ứng xử chỉ có ở con người chứ không có ở con vật
PGS Ngô Công Hoàn cho “ứng xử là những phản ứng hành vi của con người nảy sinh trong quá trình giao tiếp, do những rung cảm cá nhân kích
Trang 22thích nhằm lĩnh hội truyền đạt những tri thức, vốn sống, kinh nghiệm của cá nhân, xã hội trong những tình huống nhất định”
PTS Lê Thị Bừng cho “ ứng xử là sự phản ứng của con người đối với sự tác động của người khác đến mình trong một tình huống cụ thể nhất định Nó thể hiện ở chỗ con người không chủ động trong giao tiếp mà chủ động trong phản ứng có sự lựa chọn, có tính toán, thể hiện qua thái độ, hành vi, cử chỉ, cách nói năng – tuỳ thuộc vào tri thức, kinh nghiệm của mỗi người nhằm đạt hiệu quả cao nhất”
Trong đề tài này, chúng tôi xin đưa ra khái niệm về ứng xử làm công cụ
cho nghiên cứu của mình như sau: “ ứng xử là những phản ứng của con người đối với những tác động của người khác đem lại cho cá nhân trong những tình huống giao tiếp cụ thể, được thể hiện thông qua thái độ, hành
vi cử chỉ và cách nói năng”
1.2.3 Khái niệm “Khó khăn tâm lý trong ứng xử”
1.2.3.1 Định nghĩa và bản chất của Khó khăn Tâm lý trong ứng xử
Từ việc phân tích khái niệm “Khó khăn Tâm lý trong ứng xử” ở trên, có thể đưa ra một cách hiểu (để làm việc) về “Khó khăn Tâm lý trong ứng xử” như sau:
“Khó khăn tâm lý trong ứng xử là những biểu hiện tâm lý làm cản trở hoặc ảnh hưởng tiêu cực đến mối quan hệ giữa người và người thể hiện ở thái độ, hành vi, cử chỉ và cách nói năng của cá nhân”
ở một mức độ nào đó có thể khẳng định rằng, trong những vấn đề tâm lý
và tâm lý xã hội cho đến nay, khó khăn tâm lý trong giao tiếp, ứng xử là một vấn đề ít được đề cập và nghiên cứu về phương diện lý luận cũng như về phương diện thực hành Sở dĩ có tình trạng như vậy là do khái niệm khó khăn tâm lý trong giao tiếp, ứng xử có phạm vi ý nghĩa rất rộng, nó là khái niệm tổng hợp (khái niệm ghép) do vậy:
- Không tồn tại các phương pháp tiếp cận truyền thống được thừa nhận trong việc nghiên cứu vấn đề này
Trang 23- Khái niệm khó khăn tâm lý trong giao tiếp, ứng xử trong các công trình nghiên cứu khác nhau có những nội dung khác nhau tuỳ theo nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu
Do tính đến các lý do trên, nên có thể tìm được một số dạng khác biệt cơ bản trong cách giải thích khái niệm khó khăn tâm lý trong ứng xử
Việc phân tích một cách chi tiết các quan niệm của các nhà nghiên cứu khác nhau về hiện tượng này cho phép đi đến kết luận rằng, tính thống nhất của các xuất phát điểm trong việc nghiên cứu đưa ra định nghĩa khái niệm khó khăn tâm lý trong ứng xử có lẽ là do ý nghĩa thường ngày được chấp nhận quy định ý nghĩa đó thông thường bao gồm khái niệm “khó khăn” chứ không phải là sự thống nhất thực sự của các quan điểm lý luận và phương pháp luận của các tác giả trong việc nghiên cứu vấn đề khó khăn tâm lý trong giao tiếp ứng xử Để biểu đạt nó, người ta thường dùng các thuật ngữ khác nhau” ngăn cản, cản trở”, “gián đoạn, trì trệ”, “ lộn xộn”, “biến dạng, vi phạm”, “ đóng khung” và cuối cùng cho rằng khó khăn tâm lý trong ứng xử là những cản trở tâm lý kìm hãm ứng xử đạt hiệu quả Những cản trở tâm lý đó chính là những “ hàng rào tâm lý”, “ hàng rào ứng xử”
Theo cách hiểu rất rộng thì “ hàng rào tâm lý”, “ hàng rào ứng xử” là “ tất
cả những gì cản trở và bó hẹp hiệu quả của ứng xử” Cách định nghĩa này đã đặt ngang hàng giữa “hàng rào tâm lý” và các yếu tố của sự nảy sinh chúng, đồng nhất hiện tượng và nguyên nhân gây ra hiện tượng
Trong tâm lý học xã hội của Liên Xô cũ, hiện tượng khó khăn tâm lý giao tiếp, ứng xử được B.D.Parưghin nghiên cứu một cách có hệ thống Tác giả đặt vấn đề hàng rào (khó khăn) tâm lý “trong khuôn khổ quan điểm do ông đưa ra
về tính gián tiếp của hoạt động” trong đó giải quyết vấn đề về bản chất và chức năng của “ hàng rào tâm lý” ở đây “ hàng rào tâm lý được hiểu như là hàng rào phổ biến không chỉ trong quan hệ giữa người và đối tượng lao động
mà cả trong hệ thống giao tiếp, ứng xử của con người Tác giả nhấn mạnh: “
Có cơ sở để khẳng định rằng, về bản chất hàng rào tâm lý là tâm thế bền vững
Trang 24(ổn định) hay là trạng thái tâm lý của cá nhân đã được định hình ở mức độ đã đạt được”
Trong trường hợp khác, “ hàng rào tâm lý” được định nghĩa thông qua việc chỉ rõ chức năng cơ bản của nó Theo đó, “ hàng rào tâm lý” được hiểu ngầm như “ các qúa trình, các thuộc tính, thậm chí cả trạng thái của con người nói chung bao bọc tiềm năng trí tuệ, tình cảm của con người Định nghĩa này đã nêu rõ chức năng của “hàng rào tâm lý” là che dấu tiềm năng, tình cảm, lý trí
và chỉ rõ “kẻ” đã mang nó là con người Không những thế, nó còn vạch ra các hình thức tồn tại của “ hàng rào tâm lý” đó là các quá trình, các thuộc tính, trạng thái của con người ở đây còn có một số định nghĩa khác về “hàng rào tâm lý” Các định nghĩa này đã nêu ra các cách giải thích khác nhau về hiện tượng nói trên VD, tác giả V.Ph.Galưgin cho rằng, việc định vị “hàng rào tâm lý” được thực hiện bằng cách chỉ ra chức năng và nguyên nhân nảy sinh
ra nó Theo ông, “hàng rào” đó là chướng ngại có tính chất tâm lý cản trở quá trình thích ứng của cá nhân đối với các yếu tố mới của ngoại cảnh, do các đặc điểm của hoàn cảnh hoặc do các đặc điểm của thông báo (thông tin) hoặc đặc điểm của cá nhân gây ra ở đây, nguyên nhân sinh ra các cản trở như vậy được xem xét hoặc qua những đặc điểm của hoàn cảnh giao tiếp, ứng xử theo nghĩa rộng, hoặc đặc điểm của thông báo (thông tin), hoặc qua những đặc điểm của các chủ thể ứng xử Như vậy trong định nghĩa này miền xác định của “hàng rào tâm lý” được mở rộng Tác giả cho rằng, nó thuộc vào ba lĩnh vực cơ bản: thông báo (thông tin), tình huống (hoàn cảnh) ứng xử, chủ thể ứng xử Quan niệm về nguồn gốc phát sinh của hàng rào tâm lý có ý nghĩa không nhỏ trong quá trình hình thành khái niệm tổng quát về hiện tượng khó khăn trong giao tiếp ứng xử VD, trong nghiên cứu của A.A.Roiac về sự phát sinh
“hàng rào tâm lý” được lý giải theo mối tương quan giữa hoạt động và giao tiếp Tác giả gọi “hàng rào tâm lý” là hiện tượng tâm lý xã hội độc đáo mà cá nhân cảm nhận những khó khăn trong ứng xử
Trang 25Theo sổ tay tâm lý học thì hàng rào tâm lý là trạng thái tâm lý thể hiện ở tính thụ động qúa mức của chủ thể, gây cản trở trong việc thực hiện hành động Cơ chế tình cảm của hàng rào tâm lý là sự gia tăng những mặc cảm và tâm thế tiêu cực: hổ thẹn, cảm giác tội lỗi, sợ hãi Trong những hành vi xã hội của con người, “hàng rào tâm lý” xuất hiện như những vách ngăn (cản trở) trong ứng xử (thiếu sự đồng cảm, không trùng lặp về ý nghĩa của các thông tin ) làm nảy sinh khó khăn trong quá trình hiểu biết lẫn nhau và thiết lập hành động chung
Qua những phân tích ở trên cho phép chúng ta đi đến kết luận rằng việc đưa ra định nghĩa nội hàm khái niệm “khó khăn tâm lý” trong ứng xử thường dựa vào một trong những thông số cuả “các hàng rào tâm lý” Do đó trong từng trường hợp nghiên cứu cụ thể, hiện tượng khó khăn ứng xử không được xem xét một cách đầy đủ và toàn diện Vì vậy, dẫn tới tình trạng có nhiều cách quan niệm khác nhau về khó khăn tâm lý trong ứng xử căn cứ vào mục đích và nhiệm vụ của từng công trình nghiên cứu
Đứng trên quan điểm cấu trúc, có một số quan niệm về khó khăn tâm lý trong ứng xử như sau:
- Quan niệm thứ nhất: Khó khăn tâm lý trong ứng xử là trạng thái tâm lý thể hiện tính thụ động quá mức của chủ thể ứng xử, làm cản trở quá trình giao tiếp cũng như kết qủa giao tiếp của chủ thể Cơ chế của khó khăn tâm lý trong ứng xử là sự gia tăng các mặc cảm và tâm thế tiêu cực như mặc cảm xấu
hổ, tâm trạng sợ hãi, lo lắng, mặc cảm tự ti đánh giá thấp bản thân
- Quan niệm thứ hai: Khó khăn tâm lý trong ứng xử là tổ hợp các thuộc tính, các trạng thái tâm lý, các đặc điểm nhân cách làm cho chủ thể không phát huy được năng lực và kĩ năng ứng xử, do đó hạn chế kết quả giao tiếp Quan niệm này chú ý đến năng lực và kĩ năng ứng xử kém phát triển của người gặp khó khăn tâm lý trong ứng xử Rõ ràng là người có năng lực và kĩ năng ứng xử phát triển thường khắc phục được các trạng thái tâm lý và tâm thế tiêu cực của bản thân, linh hoạt trong ứng xử để đạt được mục tiêu giao tiếp và ít gặp
Trang 26khó khăn tâm lý trong ứng xử Những người có kĩ năng và năng lực ứng xử kém phát triển thường gặp nhiều khó khăn trong ứng xử
- Quan niệm thứ ba: Khó khăn tâm lý trong ứng xử là sự không phù hợp của đặc điểm nhân cách và trạng thái tâm lý của chủ thể với đối tượng giao tiếp, làm cho quá trình giao tiếp ứng xử gặp khó khăn, mâu thuẫn, xung đột và làm giảm hiệu quả giao tiếp Quan niệm này nhấn mạnh tính chất không phù hợp
về tâm lý của chủ thể với đối tượng giao tiếp Sự không phù hợp này là nguyên nhân cản trở kết quả của giao tiếp Theo quan niệm này, một người có thể có nhân cách phát triển toàn diện, có năng lực ứng xử nhưng gặp đối tượng giao tiếp có đặc điểm nhân cách xung khắc với mình thì sẽ gặp khó khăn khó khăn trong ứng xử
Từ những điều trên ta thấy khi nói đến khó khăn tâm lý trong ứng xử phải chú ý đến những vấn đề sau:
- Tính đa dạng của trở ngại tâm lý trong ứng xử Mỗi loại nhân cách, tính cách có trở ngại đặc trưng riêng
- Mọi người, ai cũng có những lúc gặp trở ngại tâm lý trong ứng xử Khó khăn này là khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn của chủ thể Tuy nhiên, mức độ khó khăn tâm lý trong ứng xử ở mỗi người là khác nhau, có người nhiều, có người ít
- Khó khăn tâm lý trong ứng xử là một trong những nguyên nhân cơ bản làm giảm hiệu quả ứng xử Tuy nhiên, bên cạnh nó cũng còn nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan khác
- Khó khăn tâm lý thường diễn ra trong các tình huống phức tạp, bất ngờ trong ứng xử, thường gặp ở những người kém phát triển về năng lực và kĩ năng ứng xử, những người có nhân cách lệch chuẩn mực xã hội, những người
mà đặc điểm nhân cách không phù hợp với vai trò và địa vị xã hội, với nghề nghiệp mà họ đang làm
- Khó khăn tâm lý cũng giống như bất kì hiện tượng tâm lý nào, cũng có nguồn gốc từ thực tiễn khách quan, từ quá trình hình thành và phát triển nhân
Trang 27cách Bởi vì, khó khăn tâm lý trong ứng xử bắt nguồn từ nhân cách, mà nhân cách chịu sự tác động của môi trường, của giáo dục, hoạt động, giao tiếp, tự tu dưỡng, rèn luyện
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Bình quan niệm về khó khăn tâm lý theo nghĩa rộng là: những khó khăn ngăn cản sự thể hiện (bộc lộ) tâm lý của cá nhân phù hợp với đòi hỏi của nội dung, đối tượng và hoàn cảnh giao tiếp, ứng xử Theo nghĩa hẹp khó khăn tâm lý trong giao tiếp, ứng xử là những trở ngại tâm lý của chủ thể ngăn cản những hành vi ứng xử phù hợp với nội dung đối tượng
và hoàn cảnh giao tiếp Tóm lại, tác giả Nguyễn Thị Thanh Bình cho rằng khó khăn tâm lý trong giao tiếp, ứng xử là toàn bộ những đặc điểm tâm lý cá nhân
và kiểu hành vi ứng xử không phù hợp với nội dung, đối tượng và hoàn cảnh giao tiếp
Tóm lại, qua những quan niệm về khó khăn tâm lý trên cho thấy khó khăn tâm lý trong ứng xử là một hiện tượng tâm lý mang tính chủ thể đậm nét Bản thân chủ thể ứng xử cũng cảm thấy rõ những khó khăn đó trong ứng xử với mọi người Trong đề tài này chúng tôi cho rằng khó khăn tâm lý trong ứng xử
là sự không phù hợp giữa những đặc điểm tâm lý cá nhân và kiểu hành vi ứng xử với nội dung, đối tượng và hoàn cảnh giao tiếp
1.2.3.2 Biểu hiện của khó khăn tâm lý trong ứng xử
Những dấu hiệu cơ bản của khó khăn tâm lý trong ứng xử được thể hiện ở
ba mặt: nhận thức, tình cảm và hành vi ứng xử
Nhận thức: đây là thành tố đầu tiên rất quan trọng giúp chủ thể xác định được cho mình những suy nghĩ, tình cảm phù hợp và hình thành nên những hành vi ứng xử tương tự Tuy nhiên không phải lúc nào con người cũng có được những nhận thức đúng đắn và phù hợp với hoàn cảnh thực tại Có rất nhiều lý do như: hiểu biết không đầy đủ về đối tượng giao tiếp, đánh giá tình huống giao tiếp không chính xác, chủ thể giao tiếp đánh giá không đúng về bản thân… Tất cả các yếu tố này đều làm cản trở quá trình giao tiếp hiệu quả
Trang 28 Xúc cảm tình cảm: giúp con người biểu hiện một cách sinh động những tâm
tư tình cảm của mình khi cần thiết Đây cũng là yếu tố quan trọng thúc đẩy quá trình giao tiếp thành công Tuy nhiên có những yếu tố khiến cho việc thể hiện cảm xúc bị hạn chế như: xúc cảm – tình cảm biểu lộ không phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp, không phù hợp với đối tựng giao tiếp Đôi khi do chủ thể giao tiếp thiếu khả năng kềm chế xúc cảm – tình cảm
Hành vi ứng xử: là sự thể hiện phối hợp các bộ phận trên cơ thể Tuy nhiên
do nhiều bộ phận cùng tham gia vào một hoạt động nên đôi khi có sự không thống nhất và điều này dễ gặp trong giao tiếp Đồng thời hành vi cũng phán ánh xúc cảm – tình cảm Nếu nhận thức và xúc cảm – tình cảm thể hiện không đúng thì hành vi bộc lộ ra cũng không đúng
1.2.3.3 Nguyên nhân gây trở ngại tâm lý trong ứng xử
Khó khăn tâm lý trong ứng xử là một vấn đề hết sức phức tạp và khó khăn,
do đó việc xem xét nguyên nhân gây nên các khó khăn đó cũng rất phức tạp Xuất phát từ một số quan điểm và thực tế giao tiếp Có một số nguyên nhân khách quan và chủ quan gây ra các khó khăn tâm lý trong giao tiếp sau
* Nguyên nhân khách quan:
Hoàn cảnh giao tiếp mới lạ
Tình huống giao tiếp bất ngờ, phức tạp
Nội dung giao tiếp mới lạ
Thiếu thời gian giao tiếp
Địa vị xã hội khác nhau
Chênh lệch quá lớn về tuổi tác
Khác nhau về giới tính
Không trùng hợp về tâm thế với đối tượng giao tiếp
Khác biệt về lối sống, ngôn ngữ
Tập quán giao tiếp khác nhau
Lề thói giao tiếp lạc hậu cản trở
Trang 29 Mục tiêu giao tiếp khác nhau
* Nguyên nhân chủ quan
Thiếu kinh nghiệm giao tiếp
Kém phát triển về năng lực và kĩ năng giao tiếp
Có sự khác biệt về phong cách ứng xử của chủ thể với đối tượng giao tiếp
Chủ thể đánh giá quá cao hoặc quá thấp đối tượng giao tiếp
Không phù hợp về tính cách với đối tượng giao tiếp
Thiếu hiểu biết về đối tượng giao tiếp
Sơ ý, bất cẩn làm phật ý đối tượng giao tiếp
Các phẩm chất ý chí cá nhân kém phát triển (thiếu kiên trì, tự chủ, thiếu kiên quyết )
Khả năng biểu cảm kém không phù hợp với tình huống ứng xử
Có sự khác nhau về kiểu loại khí chất và mức độ biểu hiện
- Mặc cảm quá lớn về ngoại hình có dị tật bẩm sinh
Thiếu khả năng diễn đạt
Thiếu hiểu biết về phong tục tập quán và tục lệ giao tiếp
Máy móc, rập khuôn trong giao tiếp
Chưa có tâm thế giao tiếp
Có rất nhiều nguyên nhân có thể dẫn đến các khó khăn tâm lý trong giao tiếp Với các nguyên nhân trên ta thấy bất kì ai cũng có thể dễ dàng gặp phải
Tóm lại, có rất nhiều cách đánh giá với nhiều góc độ khác nhau về khó
khăn tâm lý, cùng với những nguyên nhân nảy sinh và các phân loại những khó khăn tâm lý này Nhưng trong phạm vi nghiên cứu của mình, chúng tôi sẽ tiến hành nghiên cứu dựa trên cách đánh giá những khó khăn tâm lý trong ứng
xử giữa con cái và người mẹ thay thế tại làng trẻ SOS theo 3 chỉ số sau:
Trang 30 Những khó khăn về nhận thức: bản thân trẻ không nhận thức hết được sự
thay đổi của môi trường sống, chưa chuẩn bị đủ cho mình tinh thần để bắt đầu hoà nhập vào một cuộc sống mới, các em gặp nhiều khó khăn để chấp nhận một người hoàn toàn xa lạ sẽ trở thành mẹ của mình
Những khó khăn về cảm xúc: do sự khác biệt, chưa hiểu nhau nên cả hai
mẹ con đều gặp khó khăn trong việc gần gũi, tâm sự và chia sẻ với nhau những tâm tư tình cảm, cũng như việc cùng nhau giải quyết những mâu thuẫn nảy sinh trong cuộc sống
Những khó khăn về hành vi: vì chưa hiểu rõ về nhau nên giữa mẹ và các
con thường có những hiểu lầm: con không muốn thể hiện tình cảm của mình với mẹ bằng những hành vi âu yếm, gần gũi, có những hành động thể hiện thái độ chống đối với mẹ
1.2.3.4 Đặc trưng của ứng xử
ứng xử được thực hiện bởi các cá nhân, mỗi cá nhân có đặc điểm khí chất khác nhau nên biểu hiện của sự phản ứng, hành vi cũng khác nhau
ứng xử được quy định bởi những chuẩn mực của xã hội
ứng xử là sự giao thoa có tính nghệ thuật giữa “cái tự nhiên” và “cái xã hội” trong bản chất con người Cái tự nhiên ở đây là bản năng bẩm sinh của mỗi con người, xuất phát từ những rung cảm tự nhiên
Trong ứng xử người ta chú ý nội dung tâm lý hơn là nội dung công việc Giao tiếp là để chia sẻ, bộc lộ tâm tư, tình cảm nhằm đạt một mục đích nào
đó Còn ứng xử người ta quan tâm đến cái ý được cá nhân biểu lộ qua hành vi
- cử chỉ Như vậy thước đo của giao tiếp là hiệu quả công việc, còn thước đo của ứng xử là thái độ của cá nhân được biểu hiện qua hành vi - cử chỉ
ứng xử thường mang tính chất tình huống, còn giao tiếp là một quá trình
Có sự tiếp xúc của con người là có giao tiếp , nhưng phải có tình huống tác động thì mới có ứng xử
ứng xử chính là sự phản ánh của cá nhân trong các tình huống giao tiếp
Trang 311.2.3.5 Phương tiện biểu hiện của ứng xử
Giao tiếp là hoàn cảnh, môi trường mà trong đó ứng xử biểu hiện Khi bàn đến ứng xử cần chú ý:
Ngôn ngữ là công cụ, phương tiện của ứng xử: khi cần nói chuyện với một người khác, bao giờ chúng ta cũng chuẩn bị sẵn trong đầu những ý cần diễn đạt Và chỉ qua cách nói chúng ta sẽ hiểu phần nào về đối tượng đang giao tiếp với mình Disekacli là một chính khách tài ba của nước Anh thế kỷ 19 đã nói rằng: “Chúng ta cai trị bằng lời nói” Và thông qua ngôn ngữ cũng đồng thời thể hiện cảm xúc - tình cảm của mỗi đối tượng giao tiếp Niềm vui, nỗi buồn, sự yêu thương, lòng kính trọng hay sự căm ghét sẽ thể hiện qua lời nói của mỗi cá nhân
ứng xử thông qua hành vi: hành vi thể hiện văn hoá của mỗi cá nhân, mỗi dân tộc Khi phân tích cử chỉ, cách nói năng, đi đứng của một cá nhân sẽ giúp
ta hiểu rõ hơn về đối tượng giao tiếp của mình Mỗi một cá nhân chịu sự giáo dục khác nhau, môi trường xã hội khác nhau thì có những hành vi khác nhau Xukhomlinxki đã nói: “ vấn đề ở chỗ khi đưa ra đánh giá con người không phải xem họ làm gì , là bác sỹ, giáo viên hay kỹ sư mà phải xem họ làm như thế nào” Hành vi của con người có thể thay đổi tuỳ thuộc vào đối tượng giao tiếp và hoàn cảnh giao tiếp khác nhau
1.2.3.6 Phân loại ứng xử
a Dựa vào phong cách ứng xử
Kiểu ứng xử độc đoán: biểu hiện là sự không quan tâm đến những đặc điểm riêng của đối tượng giao tiếp, thiếu thiện chí và gây căng thẳng với họ, dùng quyền để áp đặt và giải quyết mọi vấn đề khi quan hệ với những người xung quanh
Kiểu ứng xử dân chủ: thể hiện sự thiện chí, sự tôn trọng nhân cách con người trong ứng xử Biết quan tâm, lắng nghe khi cần thiết, luôn tạo không khí gần gũi, thân mật trong giao tiếp bằng những ứng xử hợp lý
Trang 32 Kiểu ứng xử tự do: hay chiều theo đối tượng giao tiếp, không nhất quán, dễ thay đổi mục đích do thường hành động theo cảm xúc bột phát
b Dựa vào tâm thế:
Trường phái Udnatze chú ý các yếu tố đánh giá đồng hoá các hiện tượng
và đánh giá tương phản các hiện tượng, đã làm thực nghiệm và rút ra kết luận:
Do một số tâm thế được tích luỹ lại trên cơ sở tính tích cực tâm lý biểu hiện thái độ khẳng định đối với các sự vật, một số tâm thế khác biểu thị thái độ phủ định nên cá nhân có sự phân biệt trong hiện thực theo hướng tích cực hoặc tiêu cực Tuỳ theo hướng này, con người có thái độ ứng xử dễ chịu, thoải mái hay không thoải mái trong các tình huống nhất định
Thường khi con người tri giác khách thể khác nhau ở một khía cạnh nào đó theo tâm thế đã định hình thì con người sẽ ứng xử theo quy luật liên tưởng
Do vậy khi nhận xét hay đánh giá một con người nào đó phải có sự điều chỉnh phù hợp với những gì mà thực tế mình đã thấy Bởi đôi khi những biểu hiện bên ngoài không bộc lộ rõ bản chất bên trong
c Dựa vào kiểu thần kinh của khí chất
Kiểu ứng xử mạnh mẽ (thần kinh mạnh, không cân bằng, không linh hoạt): khi có tác động bên ngoài đến họ, họ có những phản ứng bằng thái độ, hành
vi, cử chỉ Những phản ứng này có thể tích cực hoặc tiêu cực, ví dụ: khi bị xúc phạm họ có thể sẽ không bình tĩnh, phản kháng một cách gay gắt và căng thẳng, nhưng khi giao tiếp bình thường họ lại là người rất nhân hậu và vị tha
Kiểu ứng xử linh hoạt (thần kinh mạnh, cân bằng, linh hoạt): những người này trong ứng xử thường nhẹ nhàng, thoải mái, không cáu gắt, không mất bình tĩnh khi làm người khác phật lòng
Kiểu ứng xử bình thản (thần kinh mạnh, cân bằng, không linh hoạt); ứng xử
tỏ ra bình tĩnh, chín chắn và thận trọng Trước khi phản ứng lại những tác động bên ngoài họ thường cân nhắc, lựa chọn hành vi, thái độ ứng xử Do vậy
Trang 33phản ứng thường thận trọng, nên hay bỏ lỡ cơ hội và chậm thích nghi khi xẩy
ra những tình huống bất thường
Kiểu ứng xử chậm (thần kinh yếu): những người này khi giao tiếp với người
lạ thường tỏ ra sợ sệt, không chủ động Những tác động của hiện tượng khách quan thường làm cho họ lo lắng và hoảng hốt Thích lối sống êm đềm một mình, sức chịu đựng yếu, dễ bị dao động, không chịu nổi sự phê bình nặng nề, nhưng lại là những người rất giàu cảm xúc
d Dựa vào thái độ, điệu bộ:
Kiểu ứng xử hiển nhiên thể hiện thái độ chấp nhận mọi việc như một điều hiển nhiên, vốn như vậy
Kiểu ứng xử bắt buộc thể thiện thái độ qua bắt buộc phải theo một chuẩn mực nhất định
Kiểu ứng xử tự do: cách ứng xử này phụ thuộc vào kinh nghiệm sống, tri thức, vốn văn hoá, bản lĩnh và cá nhân của từng người Tuỳ vào từng hoàn cảnh cụ thể mà con người lựa chọn cách ứng xử sao cho phù hợp để đạt kết quả cao trong giao tiếp
Có nhiều cách phân loại chiến lược ứng xử phụ thuộc vào đối tượng nghiên cứu của từng tác giả ứng xử là sự đáp lại của con người trước một tình huống nhất định nên nó rất đa dạng Cách ứng xử chịu sự chi phối mạnh
mẽ của cả yếu tố hoàn cảnh lẫn đặc điểm riêng của từng loại đối tượng
Trang 34Lazarus và Folkman cho rằng có hai chiến lược ứng xử với hoàn cảnh: tập trung vào trọng tâm của vấn đề (hành vi hướng tới vấn đề cần giải quyết, giải quyết vấn đề) và tập trung trọng tâm vào cảm xúc (thay đổi thái độ, tâm thế của mình trong mối quan hệ với hoàn cảnh) Đôi khi, hai loại chiến lược này quan hệ gần gũi với nhau, bổ xung cho nhau Theo Compas (1991) ứng xử tập trung vào vấn đề xuất hiện từ tuổi ấu thơ, các kỹ năng ứng xử tập trung vào cảm xúc xuất hiện muộn hơn, vào cuối giai đoạn ấu thơ hoặc đầu tuổi vị thành niên
Một số chiến lược ứng xử tập trung vào trọng tâm vấn đề là:
Sẵn sàng đương đầu
Tìm kiếm chỗ dựa xã hộ
Giải quyết vấn đề có kế hoạch
Một số chiến lược ứng xử tập trung vào cảm xúc là:
Kiểm soát bản thân
Chiến lược ứng xử bằng nhận thức là việc thay đổi cách diễn giải những hoàn cảnh khó khăn của con người và vì thế có thể thay đổi được cách họ đáp lại hoàn cảnh Chiến lược ứng xử bằng nhận thức giúp con người suy nghĩ một cách bình tĩnh hơn, hợp lý hơn và có tính xây dựng hơn khi đối mặt với những khó khăn
Chiến lược ứng xử bằng hành động bao gồm việc lên kế hoạch, sắp xếp lại các việc phải làm trước những hoàn cảnh xảy ra nhằm làm giảm đến mức tối
Trang 35thiểu những khó khăn gây ra cho bản thân mình Quản lý thời gian là một trong những hình thức của chiến lược ứng xử bằng hành động
Chiến lược ứng xử bằng hành động và nhận thức thường gắn bó chặt chẽ với nhau Việc suy nghĩ bình tĩnh làm cho con người dễ dàng lên kế hoạch hợp lý cho hành động của mình
Chiến lược ứng xử bằng con đường sinh lý là việc phản ứng trực tiếp hướng
về thể chất của bản thân trước hoàn cảnh khó khăn, stress xảy ra Ví dụ: sử dụng thuốc, hóa chất, ma túy… nhằm hỗ trợ cho thể chất của con người Tuy nhiên, cách ứng xử này chỉ có tác dụng tạm thời bởi nó không nhằm trực tiếp đến vấn đề xảy ra
Theo Cox và Ferguson thì có 3 chiến lược ứng xử chính: ứng xử đặt trọng tâm vào vấn đề, ứng xử đặt trọng tâm vào cảm xúc và lảng tránh
Ngoài ra còn rất nhiều các chiến lược ứng xử khác như: ứng xử hướng đến tác nhân kích thích, ứng xử hướng đến làm giảm nhẹ phản ứng stress, chiến lược ứng xử tâm lý
Mặc dù việc phân loại các cách ứng xử là tương đối khó khăn bởi chúng đòi hỏi một nền tảng lý thuyết cũng như những nghiên cứu thực tiễn phong phú hơn Nhưng có thể tổng hợp những dấu hiệu của ứng xử như sau:
Có tính định hướng hoặc trọng tâm (vào vấn đề, vào bản thân)
Thuộc lĩnh vực tâm lý mà trong đó ứng xử được nảy sinh và phát triển (bao gồm hoạt động bên ngoài, tri giác hoặc tình cảm)
Tính hiệu qủa (có tính đến kết quả giải quyết khó khăn hay không)
Tính thời gian để nhận được hiệu quả (tình huống đã được giải quyết một cách cơ bản hay còn cần thêm thời gian nữa)
Hoàn cảnh – tình huống nảy sinh ra hành vi ứng phó (tình huống khủng hoảng hay thường ngày)
1.2.3.8 Các nhân tố chi phối hành vi ứng xử
Trang 36- Các đặc điểm nhân cách: tự đánh giá, tự trọng, tự kiểm soát, mức độ lo hãi (lo lắng), tính lạc quan, sự tự tin, tính tự chủ, mức độ đồng cảm và có trách nhiệm với bản thân, với xã hội xung quanh Ngoài ra những nghiên cứu về di truyền trong lĩnh vực này cũng được tiến hành
- Hoàn cảnh hiện thực: thành công trong học tập, công việc, mức độ thích nghi với stress hàng ngày (trải nghiệm cá nhân với những sự kiện của cuộc sống), sự vững chắc của chỗ dựa xã hội mà cá nhân có được…
- Sự ổn định tâm lý của con người: cũng chi phối sâu sắc đến cách mà con người ứng xử với các khó khăn Các kết quả nghiên cứu bước đầu khám phá
ra điều này nhưng để khẳng định nó như một nhân tố chính quyết định đến cách lựa chọn hành vi ứng xử thì còn cần đầu tư nhiều thời gian và công sức hơn
1.3 Các chỉ số
Nhận thức: đây là thành tố đầu tiên rất quan trọng giúp chủ thể xác định được cho mình những suy nghĩ, tình cảm phù hợp và hình thành nên những hành vi ứng xử tương tự Tuy nhiên không phải lúc nào con người cũng có được những nhận thức đúng đắn và phù hợp với hoàn cảnh thực tại Có rất nhiều lý do như: hiểu biết không đầy đủ về đối tượng giao tiếp, đánh giá tình huống giao tiếp không chính xác, chủ thể giao tiếp đánh giá không đúng về bản thân… Tất cả các yếu tố này đều làm cản trở quá trình giao tiếp hiệu quả
Xúc cảm tình cảm: giúp con người biểu hiện một cách sinh động những tâm
tư tình cảm của mình khi cần thiết Đây cũng là yếu tố quan trọng thúc đẩy quá trình giao tiếp thành công Tuy nhiên có những yếu tố khiến cho việc thể hiện cảm xúc bị hạn chế như: xúc cảm – tình cảm biểu lộ không phù hợp với hoàn cảnh giao tiếp, không phù hợp với đối tựng giao tiếp Đôi khi do chủ thể giao tiếp thiếu khả năng kềm chế xúc cảm – tình cảm
Trang 37 Hành vi ứng xử: là sự thể hiện phối hợp các bộ phận trên cơ thể Tuy nhiên
do nhiều bộ phận cùng tham gia vào một hoạt động nên đôi khi có sự không thống nhất và điều này dễ gặp trong giao tiếp Đồng thời hành vi cũng phán ánh xúc cảm – tình cảm Nếu nhận thức và xúc cảm – tình cảm thể hiện không đúng thì hành vi bộc lộ ra cũng không đúng
1.4 Khái niệm trẻ em
Trẻ em do chưa trưởng thành về thể chất và tinh thần, cần có sự bảo vệ và chăm sóc đặc biệt trong đó có sự bảo vệ về mặt pháp lý Định nghĩa trẻ em được quốc tế công nhận xác định: Trẻ em có nghĩa là mọi người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn (Điều 1, Công ước quốc tế về quyền trẻ em)
Mặc dù Công ước quốc tế về quyền trẻ em đã có quy định trẻ em là người dưới 18 tuổi, song vẫn thường có cách hiểu khác nhau trong giới chuyên môn, pháp luật, chính trị … về hạn tuổi của trẻ em Do đó, Công ước cũng đã đề ra một độ linh hoạt cho các nhà lập pháp để quy định độ tuổi trẻ em ở nước mình phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội cũng như sự phát triển ở mỗi nước
Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 quy định: trẻ em là
công dân Việt Nam dưới 16 tuổi
Trong tâm lý học, khái niệm "trẻ em" được dùng để chỉ giai đoạn đầu của
sự phát triển tâm lý - nhân cách con người Các nhà tâm lý học rất quan tâm nghiên cứu sự phát triển tâm lý của trẻ em trong độ tuổi từ lúc lọt lòng đến tuổi dậy thì
1.4.1 Một số đặc điểm tâm - sinh lý của trẻ em
Nhóm khách thể của đề tài thuộc lứa tuổi từ 10 -16 Đây là lứa tuổi vị thành niên, lứa tuổi có nhiều biến cố đặc biệt về mặt sinh học, đây là giai đoạn đặc trưng với những dấu hiệu của tuổi dậy thì ở cả nam và nữ
Về mặt sinh học: đây là giai đoạn đặc trưng với các dấu hiệu của tuổi dậy thì ở nam và nữ Trẻ đã có những điều kiện chín muồi cơ bản mà đặc điểm nổi bật nhất là sự phát triển của quá trình phát dục Tiếp đó là những cải tổ của cơ
Trang 38thể về mặt hình thái của các mô và các tuyến nội tiết như tuyến sinh dục, tuyến giáp trạng, tuyến thượng thận Hoạt động của các tuyến này dẫn đến sự thay đổi về hình thái, đặc biệt là sự phát triển nhảy vọt về chiều cao Có năm trẻ em cao từ 5-6cm đối với nữ và 8-10cm đối với nam Những dấu hiệu đặc trưng của tuổi dậy thì diễn ra ở trẻ em nữ vào khoảng 11-13 tuổi, ở trẻ em trai
từ 13-15 tuổi Trong giai đoạn này, ngực, lông ở nách, ở bộ phận sinh dục của các em nữ phát triển đồng thời xuất hiện kinh nguyệt, dấu hiệu chính của sự dậy thì đầy đủ ở các em trai, ngực bắt đầu nở nang, những dấu hiệu phụ của
bộ phận sinh dục phát triển và cuối cùng là hiện tượng xuất tinh, báo hiệu sự chín muồi của quá trình phát dục
Về mặt tâm lý: những thay đổi rất cơ bản về mặt sinh học trên đã làm cho trẻ em có ấn tượng sâu sắc rằng " Mình không còn là trẻ con nữa" Sự xuất hiện ý nghĩ về sự thay đổi vai trò xã hội của đứa trẻ rõ ràng có những cơ sở khách quan Trẻ muốn được làm người lớn và muốn được đối xử như người lớn Tuy nhiên về mặt xã hội, trẻ vẫn là những trẻ con, còn phụ thuộc nhiều vào bố mẹ Người lớn vẫn coi trẻ là trẻ con Từ đó xảy ra mâu thuẫn khá phổ biến giữa người lớn và trẻ em trong giao tiếp ứng xử Sự không thay đổi về ứng xử giữa người lớn với thiếu niên, trong khi thiếu niên tự coi mình là người lớn gây ra không ít những đụng độ, thậm chí xung đột ở lứa tuổi này Khi ý thức tự trọng và ý muốn đối xử như người lớn phát triển, về phía mình, thiếu niên thường có tâm lý "phóng đại" các năng lực cuả mình, thường đánh giá cao hơn hiện thực Điều này thường thể hiện dưới dạng ngang bướng, tỏ
ra "anh hùng", "bất cần" trước những việc làm hàng ngày cũng như những thất bại mà thiếu niên trải nghiệm Đây chính là một trong những khó khăn điển hình của lứa tuổi thiếu niên mà nhiều nhà tâm lý học đã dùng những thuật ngữ "tuổi khủng hoảng", "tuổi bất trị" Những khó khăn này thực tế có thể giải quyết đựơc bằng con đường giáo dục đúng đắn Nghĩa là một mặt người lớn phải hiểu được những thay đổi cơ bản ở lứa tuổi này, thông cảm với những biểu hiện "khác lạ" ở các em, có biện pháp giáo dục phù hợp Mặt khác
Trang 39chính thiếu niên cũng phải được giáo dục để hiểu chính mình thông qua giáo dục giới tính, cung cấp cho các em những kĩ năng ứng xử phù hợp
Một đặc điểm khác cũng rất rõ ở các em thiếu niên lứa tuổi này là những xúc cảm giới tính Cơ thể bắt đầu dậy thì, các em quan tâm nhiều hơn đến bản thân mình và các bạn khác giới Các em không còn hồn nhiên vô tư chơi với các bạn khác giới mà có sự ngượng ngùng xấu hổ và giữ khoảng cách Các
em hay gán ghép nhau, bắt đầu thích hay để ý đến một bạn khác giới nào đó Những đặc điểm này cũng rất cần đựơc người lớn để ý và có biện pháp giáo dục phù hợp để tình cảm của các em phát triển đúng hướng và đi đúng giới hạn
1.4.2 Đặc điểm tâm – sinh lý của trẻ em sống tại làng trẻ SOS
Những trẻ em hiện đang sống trong làng thường dậy thì chậm hơn so với các bạn cùng lứa tuổi Do trước khi vào làng các em có cuộc sống khá vất vả, gia đình nghèo khó, nhu cầu về dinh dưỡng được đáp ứng ở mức hạn chế nên
cơ thể các em nhỏ nhắn, gầy bé Có những em 13 – 14 tuổi nhưng vẫn chưa phát triển về cơ thể
Về mặt tâm lý của các em cũng có sự khác biệt so với những trẻ khác Phần lớn các em thường có thái độ hằn học, hay ganh tỵ, ích kỷ Mặc cảm vì mình sống trong trại mồ côi xuất hiện trong suy nghĩ của một số em Những
em này có ao ước được ra khỏi làng và được tự kiếm sống để tự nuôi bản thân mình Có những em muốn thể hiện mình đã lớn, có khả năng tự giải quyết được những vấn đề của mình
Các em trước khi vào làng đều đã từng được hưởng tình yêu thương chăm sóc của người thân Khi bước vào môi trường sống mới, các em thường kỳ vọng rất nhiều vào sự yêu thương, chăm sóc của người mẹ mới sẽ giống với
sự chăm sóc mà mình đã từng biết trước đây Do vậy khi thấy thực tại không giống với sự mong đợi của mình, các em rất dễ rơi vào tâm trạng chán nản, thất vọng, và hình thành những suy nghĩ tiêu cực
Trang 40Các em có độ tuổi khác nhau, có em còn ít tuổi, nhưng cũng có em đã nhận thức rất rõ về bản thân, về hoàn cảnh của mình Nên nhiều em mang trong lòng sự mặc cảm tự ti Các em rất e dè khi nói với người khác về hoàn cảnh của mình
Tuy đã vào làng sống, và phải tuân theo những quy định của làng, nhưng các em vẫn giữ trong mình lối sống tự do, không tuân thủ nề nếp vốn có Do vậy các em thường khó thích nghi và tuân thủ những quy định mới đặt ra Vì vậy, có nhiều em có những hành vi biểu hiện sự chống đối, ngang bướng không nghe lời
Nhiều em trước khi vào làng chưa từng đi học, không biết chữ, vì vậy mà nhận thức rất chậm, và hạn chế, hay nói dối để che lấp khuyết điểm, hạn chế của mìnnh
1.5 Khái niệm “Người mẹ thay thế”
Đối với làng trẻ SOS nói chung (ở trên thế giới cũng như ở Việt Nam), người mẹ thay thế là những phụ nữ luống tuổi, không lập gia đình, hoặc đã có gia đình nhưng tình nguyện vào làng sống đến cuối đời, chưa từng sinh con, được làng trẻ lựa chọn để sống trong làng chịu trách nhiệm nuôi dưỡng và chăm sóc toàn bộ trẻ thuộc nhà của mình Những người phụ nữ này được những đưa trẻ gọi là mẹ mặc dù họ không sinh ra chúng, nhưng họ có trách nhiệm nuôi dưỡng , chăm sóc chúng với vai trò là một người mẹ Trên thực
tế bản thân những người mẹ thay thế này chưa từng sinh con nên gặp nhiều khó khăn trong việc chăm sóc những đứa trẻ
ở làng trẻ SOS Việt Nam, những bà mẹ này thường là những người có trình độ học vấn không cao, không có nghề ổn định, và phần lớn có tuổi từ 30 tuổi trở đi
Sau khi được tuyển chọn, các bà mẹ sẽ tham gia một khoá tập huấn ngắn
về tâm lý của trẻ em, cách quản lý nhà, và một vài phương pháp giáo dục con cái