DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ TRONG LUẬN VĂN DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ Biểu đồ 3.1: Nguồn cung cấp thông tin về tình hình giáo dục cho sinh viên 66 Biểu đồ 3.2: So sánh mức độ sử dụng các phươ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-o0o -
NGUYỄN THANH THÚY
DƯ LUẬN CỦA SINH VIÊN ĐÁNH GIÁ VỀ NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH, ĐIỀU KIỆN VẬT CHẤT DẠY – HỌC, PHƯƠNG PHÁP DẠY – HỌC ĐẠI
HỌC HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SỸ TÂM LÝ HỌC
MÃ SỐ: 60.31.80
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC GS.TS NGUYỄN NGỌC PHÚ
HÀ NỘI - 2008
Trang 21.3 Các trường đại học trong hệ thống quốc dân Việt Nam 58 1.4 Những vấn đề đặt ra về nội dung chương trình đào tạo, điều
kiện vật chất dạy – học, phương pháp dạy – học nhằm nâng cao
chất lượng dạy – học hiện nay
62
CHƯƠNG 2: TIẾN TRÌNH THỰC HIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
67
3.1 Thực trạng về nội dung chương trình, điều kiện cơ sở vật chất
dạy – học, phương pháp dạy – học đại học qua nghiên cứu ở một
số trường đại học công lập hiện nay
72
3.2 Dư luận xã hội của sinh viên về nội dung chương trình dạy –
học đại học hiện nay
86
3.3 Dư luận xã hội của sinh viên về điều kiện vật chất dạy – họ 103 3.4 Dư luận xã hội của sinh viên về phương pháp dạy – học 109 3.5 Đề xuất giải pháp cho cải cách giáo dục đại học Việt Nam
Trang 3DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ TRONG LUẬN VĂN
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 3.1: Nguồn cung cấp thông tin về tình hình giáo dục
cho sinh viên
66
Biểu đồ 3.2: So sánh mức độ sử dụng các phương pháp trong dạy
– học theo đánh giá của sinh viên và giảng viên
74
Biểu đồ 3.3: Đánh giá của giảng viên và sinh viên về tính hữu ích
của nội dung chương trình học
85
Biểu đồ 3.4: Tự đánh giá của sinh viên theo một số khía cạnh
trong học tập
88
Biểu đồ 3.5: Đánh giá việc sử dụng các phương tiện hiện đại vào
giảng dạy (ý kiến của sinh viên và giảng viên
99
Biểu đồ 3.6: Mối tương quan giữa tần số sử dụng các phương
pháp với hiệu quả của các phương pháp đó (%)
104
Biểu đồ 3.7: Tầm quan trọng của giảng viên và sinh viên trong
quá trình dạy – học dưới con mắt nhìn của sinh viên và giảng viên
105
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: So sánh mức độ sử dụng các phương pháp kiểm tra
đánh giá (theo ý kiến của sinh viên và giảng viên)
78
Bảng 3.2: Đánh giá của giảng viên và sinh viên về nội dung
chương trình dạy – học
80
Bảng 3.3: Đánh giá về một số yếu tố ảnh hưửng đến kết quả học
tập của sinh viên
89
Bảng 3.4: Ý kiến của sinh viên về việc sử dụng các phương tiện
kỹ thuật hiện đại trong giảng dạy
98
Bảng 3.5: Đánh giá của giảng viên và sinh viên về sự nhiệt tâm
của giảng viên và sự chuẩn bị bài giảng của giảng viên trong công
viêc
109
Trang 5MỞ ĐẦU
1- Lí do nghiên cứ đề tài
Cải cách giáo dục nói chung, cải cách giáo dục đại học nói riêng đang là một trong những vấn đề được nhiều người dân quan tâm nhất hiện nay Đồng thời cải cách giáo dục đại học đang là quyết tâm của ngành giáo dục – đào tạo, bởi đã đến lúc hàng loạt những vấn đề nảy sinh trong 20 năm qua đòi hỏi phải được giải quyết cấp bách Đội ngũ giảng viên thiếu về số lượng, một bộ phận không nhỏ còn hạn chế về chuyên môn, ngoại ngữ và tin học Chương trình và phương pháp chậm đổi mới so với thời đại, không bắt kịp với các nước trong khu vực và trên thế giới Tính “hàn lâm” còn khá đậm nét trong chương trình đào tạo [17; tr 95] “Nền giáo dục đại học Việt Nam hiện nay rất mất cân đối” Điều kiện vật chất phục vụ cho việc dạy – học thì thiếu thốn và lạc hậu Nhiều người cảm thấy mất lòng tin vào nền giáo dục nước nhà Nhiều gia đình tự lo bằng cách tìm mọi cơ hội để cho con cái họ được ra nước ngoài du học Vì không đánh giá cao nền giáo dục Việt Nam nên có đến 41.6% sinh viên đồng ý và 45% sinh viên đồng ý
một phần với ý kiến cho rằng “du học tốt hơn trong nước” chỉ có 4.7% là
không đồng ý Còn về phía các thầy cô giáo có 38.2% đồng ý với ý kiến
trên, 59% đồng ý một phần và không có ai phản đối Khi được hỏi “nếu
điều kiện tài chính cho phép ông (bà) có muốn đi du học hoặc cho người thân đi du học” thì có tới 89.3% sinh viên muốn được đi du học và 89.7%
giảng viên có ý muốn tương tự Có không ít ý kiến cho rằng “giáo dục Việt Nam nói chung, giáo dục đại học nói riêng xuống cấp một cách trầm trọng” Giáo dục Việt Nam nói chung, giáo dục đại học nói riêng đang loay hoay tìm hướng đi riêng của mình, nhiều lần cải cách nhưng vấn đề ngày càng trở nên nghiêm trọng và gây thất vọng hơn
Câu hỏi lớn nhất hiện nay đối với ai có tâm huyết với sự nghiệp giáo dục nước nhà là làm thế nào để đổi mới giáo dục thực sự mang lại hiệu quả
Trang 6thiết thực, đào tạo nên các thế hệ công dân tài giỏi xây dựng đất nước Báo
cáo chính trị của Ban chấp hành Trung Ương Đảng tại đại hội Đảng lần thứ
X cũng chỉ rõ: “Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện; đổi mới cơ cấu tổ
chức, cơ cấu quản lý, nội dung phương pháp dạy và học; thực hiện chuẩn
hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, chấn hưng nền giáo dục Việt Nam” [70; tr 95]
Câu hỏi này bao hàm nhiều câu hỏi lớn, trong đó có việc: Đổi mới
giáo dục Việt Nam nên theo mô hình nào; nên bắt đầu từ đâu, từ khi nào,
bắt đầu từ những ai? Trả lời những câu hỏi lớn này không đơn giản mà cần
có những giải pháp đồng bộ và hệ thống Cần phải xem xét và khẳng định
lại về nhiều vấn đề, cả về triết lý giáo dục, mục tiêu giáo dục, chính sách
giáo dục, hệ thống giáo dục quốc gia, nội dung chương trình, điều kiện cơ
sở vật chất cho việc dạy – học, phương pháp dạy – học v.v
Trong một nỗ lực để thực hiện cải cách giáo dục đại học, giải quyết
được những vấn đề đang tồn đọng trong giáo dục đại học Việt Nam thì
chúng ta cần phải biết giáo dục đang gặp phải những vấn đề gì và người
trong cuộc nghĩ gì về những vấn đề đó Chính vì thế mà tôi đã lựa chọn đề
tài “Dư luận của sinh viên đánh giá về nội dung chương trình, điều kiện vật
chất dạy – học, phương pháp dạy – học đại học hiện nay” với tư cách là
công trình luận văn thạc sĩ chuyên ngành Tâm lý học nhằm góp tiếng nói
chung làm rõ một phần của thực trạng giáo dục đại học Việt Nam, dư luận
xã hội của chính những sinh viên – những người đang học về một số vấn đề
nổi bật của giáo dục đại học hiện nay Bằng những kết quả cụ thể, tôi hy
vọng đề tài sẽ cho chúng ta thấy một cái nhìn tương đối về bức tranh giáo
dục đại học Việt Nam hiện nay và tìm ra con đường để khắc phục, đồng
thời góp phần đưa nền giáo dục đại học Việt Nam phát triển trong xu thế
phát triển chung của khu vực và thế giới, tìm ra một phần con đường để
khắc phục những điểm hạn chế đó
Trang 72- Mục đích nghiên cứu
Khảo sát dư luận của sinh viên về nội dung chương trình, điều kiện vật chất dạy – học, phương pháp dạy – học đại học hiện nay của một số trường đại học như đại học KHTN, đại học Luật, trường đại học Kinh tế quốc dân, trường Đại học Sư Phạm Hà Nội, trường Đại học Nông Nghiệp, phân tích nguyên nhân của thực trạng trên, từ đó đề xuất các giải pháp góp phần cải cách giáo dục đại học Việt Nam trong thời gian tới
3- Nhiệm vụ nghiên cứu
- Khái quát những vấn đề lí luận về dư luận xã hội cũng như những vấn đề chủ yếu về nội dung chương trình, điều kiện vật chất dạy – học, phương pháp dạy – học đại học hiện nay
- Làm rõ dư luận xã hội của sinh viên về nội dung chương trình đào tạo, điều kiện cơ sở vật chất cho việc dạy – học, phương pháp dạy học đại học Phân tích lý giải, xử lý số liệu nhằm rút ra các kết luận về định lượng
và định tính
- Trên cơ sở đó, đưa ra các định hướng giải pháp góp phần cải cách giáo dục đại học Việt Nam trong những năm trước mắt
4- Đối tượng nghiên cứu
Dư luận xã hội của sinh viên
Trang 86- Phạm vi nghiên cứu
6.1 Địa bàn nghiên cứu.
Trường đại học Khoa học tự nhiên, Đại học kinh tế quốc dân, trường Đại học Luật, trường Đại học Sư Phạm Hà Nội, trường Đại học Nông Nghiệp
7- Giả thuyết nghiên cứu
- Phần lớn sinh viên đều cho rằng nội dung chương trình dạy – học hiện nay đã cũ và lạc hậu, không theo kịp với sự phát triển tri thức của thời đại
- Phần lớn sinh viên cho rằng phương pháp dạy – học đại học hiện nay đã trở nên lạc hậu, chưa bắt kịp với những thành tựu dạy – học hiện đại trong khu vực và trên thế giới
- Họ cho rằng điều kiện vật chất cho dạy – học quá nghèo nàn và thiếu thốn
- Các khuôn mẫu tư duy xã hội và các tâm thế xã hội có ảnh hưởng lớn đến dư luận của sinh viên về nội dung chương trình, điều kiện vật chất dạy – học, phương pháp dạy – học đại học hiện nay
- Đa số các sinh viên có trình độ nhận thức tương đối đúng đắn về nền giáo dục đại học của nước nhà hiện nay, họ mong muốn được hưởng một nền giáo dục tốt hơn và thể hiện ra bằng dư luận và những hành động thiết thực
Trang 98- Phương pháp nghiên cứu
8.1 Phương pháp quan sát
Dựa trên việc tri giác hành vi, cử chỉ, lời nói của sinh viên khi bàn về vấn đề nội dung chương trình, điều kiện vật chất dạy – học, phương pháp dạy – học đại học Quan sát cả những biểu hiện phi ngôn ngữ đựoc thể hiện qua nét mặt của người được quan sát
8.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Dựa trên bảng hỏi có sẵn để thu nhập thông tin từ khách thể Bảng hỏi gồm những câu hỏi đóng yêu cầu người được hỏi, chọn một trong những phương án đã được nêu ra đồng thời có cả những câu hỏi mở và câu hỏi kết hợp cho phép người được hỏi nêu ra ý kiến của cá nhân họ Ngoài
ra còn có một số câu hỏi đối cực yêu cầu người trả lời chỉ chọn một trong hai phương án
8.3 Phương pháp phỏng vấn
Đề tài sử dụng phương pháp phỏng vấn nhóm, phỏng vấn cá nhân và phỏng vấn tự do nhằm thu thập những thông tin phù hợp với mục tiêu và yêu cầu của đề tài Trong một số trường hợp, đề tài sẽ tiến hành phỏng vấn sâu cá nhân một số sinh viên và giảng viên, cán bộ quản lý nhằm làm rõ
và kết luận mốt số nội dung nổi cộm của giáo dục đại học hiện nay
8.4 Phương pháp thống kê toán học
Đề tài sử dụng phương pháp thống kê toán học nhằm xử lý, phân tích, đánh giá kết quả nghiên cứu thu được qua điều tra Đề tài sử dụng phần mềm chuyên dụng SPSS 15.0
Trang 10CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Quan điểm của các tác giả phương Tây
Trước thế kỷ 18, dư luận xã hội hầu như ít được nghiên cứu với tư cách là đối tượng của một ngành khoa học Tuy rằng trong thế kỷ 18, các ý tưởng về dư luận xã hội đã xuất hiện trong các tác phẩm triết học hay văn học thời kỳ phục hưng, thậm chí trong các tác phẩm của Platon hay Aristotle cũng đã đề cập đến dư luận xã hội song đây vấn là một khái niệm
ít được đề cập tới Tuy vậy, ngay từ thế kỷ 17, William Tempie – người Anh là người đầu tiên đề cập đến dư luận xã hội dưới góc độ lý thuyết về nguồn gốc và bản chất của dư luận xã hội Điều quan trọng là những nghiên cứu dư luận xã hội không chỉ dừng trên lý thuyết mà còn được vận dụng trong thực tế Theo hướng này, sau đó, nhà hoạt động xã hội người Anh Daniel Defoe đã vận dụng những nghiên cứu này vào thực tiễn bằng cách xây dựng một mạng lưới thông tin cơ sở để nắm bắt dư luận của quần chúng ở cơ sở [ 37; tr 106]
Bắt đầu từ thế kỷ 18, các nhà khoa học bắt đầu quan tâm đến khái niệm và bản chất của dư luận xã hội do sự ra đời của các ngành khoa học mới như tâm lý học, xã hội học, chính trị học Tuy nhiên, có rất ít sự nhất trí về bản chất của dư luận xã hội Thuật ngữ này được hiểu rất mơ hồ Người Pháp được xem là người sáng lập và phổ biến dư luận xã hội với tác phẩm của Rousseau “L’ opinion publique” được viết vào khoảng năm 1744 trong đó nhấn mạnh sự xem xét các khía cạnh chính trị của dư luận xã hội hơn là coi dư luận xã hội với tư cách là một hiện tượng xã hội Năm 1762, những khái niệm cơ bản về dư luận xã hội được J.J Rousseau – nhà triết học Pháp – đã có công trong việc đưa ra những khái niệm cơ bản về dư
luận xã hội Lúc bấy giờ, ông đã nêu một số luận điểm tiến bộ “hoạt động
của nhà nước phải lệ thuộc vào sự phán xét của nhân dân” Còn trong
“khế ước xã hội”, Rousseau đã vạch ra nội dung của dư luận xã hội tiến bộ
Trang 11– đó là trí tuệ của nhân dân có thể phán xét, điều chỉnh chính quyền phải thực hiện theo một mệnh lệnh của hội nghị nhân dân Ông cho rằng:
“Muốn cho ý chí trở thành ý chí chung không nhất thiết phải lúc nào cũng trăm người như một, nhưng điều quan trọng là mọi tiếng nói nhân dân phải được xem xét đến, nếu loại bỏ, dù là hình thức một tiếng nói nào đó thì ý chí chung sẽ tan rã” [15; tr 106] Muốn vậy “dân chúng phải được thông tin một cách đầy đủ khi họ luận giải vấn đề, cho dù không ai trao đổi riêng với ai thì qua nhiều sự khác biệt nhỏ, các cuộc luận giải vẫn cứ dẫn đến ý chí chung, kết quả sẽ luôn tốt đẹp” [15; tr 58 – 59] Như vậy, Rutxo đã đề
cập đến tính quy luật của sự hình thành dư luận xã hội và cách thức để tạo
ra dư luận đó Theo ông, nếu người dân được cung cấp thông tin một cách đầy đủ, chính xác về sự kiện cũng như người lãnh đạo biết tổ chức tranh luận cho các thành viên để họ trình bày quan điểm, ý kiến riêng sẽ có kết quả tốt đẹp cho vấn đề đó
Heghen, nhà triết học duy tâm người Đức cũng có ý kiến xác đáng về
dư luận xã hội khi ông cho rằng “dư luận xã hội đã mở ra cho mỗi người
khả năng thổ lộ và bảo vệ ý kiến chủ quan của mình đối với cái chung”,
“dư luận đã là một sức mạnh to lớn trong tất cả các thời đại” [37; tr 78]
Ông coi trọng việc cung cấp khả năng hiểu biết tiến trình tranh luận, bởi vì
“bằng cách ấy dư luận mới có được những tư tưởng chân lý, mới thâm nhập được vào trạng thái công việc của nhà nước và cũng chính bằng cách
ấy dư luận mới trở nên có khả năng phán xét về chúng (nhà nước và công việc của nhà nước) một cách hợp lý” [37; tr 96] Dù là nhà triết học duy
tâm song luận điểm của ông có ý nghĩa to lớn như là một trong những hạt nhân hợp đối với dư luận xã hội
Ở thế kỷ 19, các nhà nghiên cứu đã nhấn mạnh đến tính hợp lý của quá trình dư luận (opinon process) Năm 1882, W.A Machinnon nêu ý
tưởng “dư luận xã hội có thể coi là dạng tình cảm ở bất cứ chủ thể nhất
định nào Chúng được quan tâm bởi những người có hiểu biết nhất, thông minh nhất và có đạo đức nhất trong cộng đồng Chúng được lan dần và
Trang 12được chấp nhận bởi hầu hết mọi người ở các trình độ giáo dục hoặc cảm xúc riêng tư của 1 quốc gia văn minh” Sau đó, A.Lawrence Lowell, nhà
giáo dục học, luật sư người Mỹ đã viết “một dư luận có thể được xác định
như là sự chấp nhận của một trong hai hay nhiều hơn nữa các quan điểm trái ngược nhau, chúng có thể được chấp nhận bởi sự chủ tâm hợp lý (rational mind) xem đó như một sự thực” [5; tr 30]
Năm 1910, M.Weber chính thức đặt ra chương trình nghiên cứu chính thức xã hội học về báo chí Trong chương trình đó, ông đều cập đến khía cạnh nghiên cứu đặc điểm của dư luận xã hội hay thái độ đối với thông tin
Năm 1922, nhà báo và nhà xã hội học người Mỹ, Walter Lipmann viết “Dư luận xã hội” Ồng đề cập đến nhiều vấn đề như: Cơ chế sàng lọc mang tính định hướng của các phương tiện thông tin đại chúng nhằm mục đích tạo ra dư luận xã hội phù hợp với quan điểm truyền thông [48; tr85]
Một thành tựu khác trong nghiên cứu dư luận xã hội là sự ra đời của viện dư luận đầu tiên ở Mỹ do H.Gallup thành lập năm 1935 Với luận
điểm coi “dư luận là công cụ có ích của nền dân chủ”, viện dư luận đã
hướng việc nghiên cứu vào các vấn đề thực tiễn của đời sống, chính trị, xã hội Chính ông đã đưa ta phương pháp thăm dò bằng bảng hỏi hay phỏng vấn qua điện thoại Phương pháp Gallup đánh dấu một bước tiến mới trong nghiên cứu về dư luận xã hội Các viện thăm dò như vậy cũng lần lượt được thành lập ở Anh, Pháp, Đức và một số nước tư bản khác Nội dung chủ yếu là nghiên cứu các vấn đề thực tiễn trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá Đáng chú ý là các tổ chức ấy không chỉ nghiên cứu dư luận xã hội đang tồn tại mà còn có nhiệm vụ can thiệp vào quá trình hình thành, uốn nắn, điều chỉnh dư luận xã hội cho phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị Cùng với sự ra đời của các tổ chức ấy là sự xuất hiện của nhiều tác giả với những học thuyết nghiên cứu về dư luận xã hội Một trong những thành tựu nổi bật nhất là những nghiên cứu về cơ chế hình thành và
Trang 13biến đổi của dư luận xã hội ở góc độ tâm thế Một số học thuyết đang được coi là căn cứ lý luận của sự biến đổi tâm thế thành dư luận xã hội là:
- Thuyết khai thác khía cạnh chức năng của của tâm thế Theo thuyết này, tâm thế được phân biệt với nhau trên cơ sở các chức năng mà nó đảm nhận Chẳng hạn, có tâm thế đảm nhận chức năng nhận thức, chức năng thoả mãn nhu cầu vật chất hay nhu cầu tự vệ Trước các sự kiện diễn biến
xã hội tương tự hoặc có nét tương tự các sự kiện ấy mà các tâm thế nhất định được hình thành, được nhận thức và dư luận xã hội sẽ bùng lên Muốn thay đổi khuynh hướng của dư luận xã hội thì phải thay đổi ngữ cảnh của tâm thế
- Một cách khác của sự biến đổi tâm thế, hình thành dư luận xã hội
đó là cách tiếp cận huấn tập Thuyết huấn tập khẳng định vai trò của yếu tố thưởng phạt đối với sự hình thành dư luận xã hội Theo huấn tập, các phản ứng dư luận xã hội được khích lệ sẽ trở thành những tâm thế bền vững, còn nếu không được khích lệ nó sẽ tự mất đi
- Cách tiếp cận vấn đề thay đổi tâm thế hình thành dư luận xã hội đang thịnh hành nhất hiện nay là cách tiếp cận nhận thức và cách tiếp cận tri giác
Cách tiếp cận nhận thức có các “thuyết cân bằng” của Fritz Heider, các “thuyết tương hợp tình cảm nhận thức”, “thuyết tương hợp” của Osgood và Tanenbam và “thuyết bất đồng” Cách tiếp cận nhận thức nhấn
mạnh yếu tố niềm tin và tư tưởng qua nhóm xã hội Theo cách này, một trong những nguyên tắc cơ bản mọi người theo đuổi là nguyên tắc nhất quán giữa niềm tin, tâm thế và hành vi Ý thức về tính thiếu nhất quán tạo
sự căng thẳng, bất an mà mọi người né tránh nó hoặc tự thay đổi để tháo gỡ
Trang 14phân chia các tầm này là giá trị tâm thế của chủ thể trên thang đo tâm thế, thái độ của công chúng trong việc tiếp thu thông tin được qui định bởi 3 tầm:
- Tầm thụ cảm: trung tâm của tầm thụ cảm là thái độ phán xét, đánh giá tích cực của công chúng được đo đạc bằng một thang đo nhất định Tầm thụ cảm là dải thông tin kế cận, không cách biệt lắm với thái độ phán xét đích thực của nhóm công chúng (tất cả các phát biểu của cá nhân, phương tiện thông tin đại chúng gần gũi với quan điểm của công chúng, nằm trong tầm thụ cảm) sẽ được công chúng dễ dàng chấp nhận Công chúng coi các quan điểm nằm trong tầm thụ cảm gần gũi với mình hơn là
sự gần gũi đích thực giữa công chúng
- Tầm bàng quan là dải thông tin bao gồm các quan điểm không gần nhưng cũng chưa xa lắm với quan điểm sở tại của công chúng Đối với các quan điểm này, thái độ của công chúng là bàng quan: Không chấp nhận cũng không phản bác
- Tầm cự tuyệt là dải thông tin bao gồm các quan điểm khác xa, đối lập với quan điểm sở tại của công chúng Các quan điểm ở đây bị công chúng coi cách biệt với quan điểm của họ, xa hơn là sự cách biệt đích thực,
nó bị công chúng phản bác, không chấp nhận Muốn làm chủ được dư luận
xã hội trước hết phải xuất phát từ quan điểm gần gũi với công chúng, nâng dần quan điểm của công chúng thành quan điểm riêng của mình
Xác định và hiểu sâu sắc cơ chế hình thành dư luận xã hội chẳng những cho ta hiểu biết, phân tích được dư luận xã hội mà còn cho ta thấy cách tác động có chủ định, tổ chức để hình thành dư luận lành mạnh có lợi cho xã hội
Dư luận tích cực của xã hội không chỉ là chỉ báo chính xác về thực trạng bề ngoài tinh thần, tư tưởng của một xã hội, một dân tộc mà còn như một thiết chế thuộc hệ thống điều hành quản lý xã hội
Những nghiên cứu của Heider về các điều kiện trong đó người ta sẽ quy kết tình trạng hiện có của đối tượng cho các nguyên nhân xuất phát từ
Trang 15bên trong hay bên ngoài đối tượng Chẳng hạn nghiên cứu về các yếu tố quyết định sức mạnh và độ tự tin của các qui kết, các yếu tố cản trở thiên hướng phán xét qui kết của cá nhân
Ngoài cách tiếp cận tâm thế còn có thuyết “nghiên cứu thông tin và người nhận thông tin, truyền thông tin trong quá trình hình thành dư luận” Theo hướng này, đáng chú ý là nghiên cứu của Noelle Newmann về “ứng
xử của những đối tượng tiếp nhận thông tin và truyền tin”, “những vận động thuyết phục và thay đổi thái độ con người” đã đi đến ý tưởng định hướng dư luận xã hội thông qua vai trò của “thủ lĩnh dư luận” [41; tr 32]
Năm 1947, tại Paris, cuộc hội thảo đầu tiên tập hợp các nhà nghiên cứu và thực hành chuyên ngành về dư luận xã hội được tổ chức Năm 1948, hội quốc tế nghiên cứu về dư luận xã hội được chính thức thành lập với hơn
200 hội viên đại diện cho hơn 30 quốc gia thuộc các châu lục khác nhau Năm 1962, trung tâm nghiên cứu dư luận xã hội Đông Nam Á được thành lập tại Thái Lan Trên các tạp chí của Mỹ, Canada, Anh, Pháp, Hà Lan, Bỉ, Italia … xuất hiện các chuyên mục đăng tải thông tin mới nhất về kết quả của các cuộc điều tra dư luận xã hội [37; tr 106 – 108]
Tóm lại, cho đến những năm 70, Tâm lý học xã hội phương Tây đã thu được nhiều thành tựu trong lĩnh vực nghiên cứu dư luận xã hội, đặc biệt xoay quanh cơ chế hình thành và biến đổi dư luận xã hội ở nhiều góc cạnh khác nhau Mỗi góc cạnh được làm rõ bởi học thuyết nhất định Các nghiên cứu đã được vận dụng để điều tra, thống kê, thực nghiệm với những định lượng và định tính về dư luận xã hội Các nghiên cứu này được sử dụng với những mục đích khác nhau Với tư cách là một kết quả nghiên cứu khoa học, các chủ thể có khuynh hướng chính trị khác nhau đều có thể sử dụng theo những mục đích khác nhau
1.1.2 Quan điểm của các nhà lý luận kinh điển của chủ nghĩa Mác –Lênin
Trang 16Các nhà lý luận kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin đã khẳng định
dư luận xã hội có vai trò sức mạnh Với luận điểm quần chúng nhân dân là người tạo ra lịch sử, dư luận xã hội bắt nguồn từ trí tuệ của các tầng lớp nhân dân, do đó khi tăng cường vai trò của các tầng lớp nhân dân sẽ dẫn đến phát huy hiệu lực của dư luận xã hội Ăngghen đồng thời cũng lưu ý con người cần phải nhận thức về dư luận, biết sử dụng nó một cách hợp lý,
có ý thức để sao cho các biến đổi xã hội cụ thể xảy ra trước hết cần phải có tiến bộ to lớn trong dư luận xã hội
V.I Lênin đã gắn vấn đề dư luận xã hội với sinh hoạt dân chủ và giáo dục quần chúng, cũng như vai trò của nó trong việc xây dựng xã hội nói chung Người coi việc định hướng là sứ mạng của các nhà tư tưởng các nhà
lãnh đạo: “Nhà tư tưởng chỉ xứng đáng với danh hiệu nhà tư tưởng khi nào
họ đi trước phong trào tự phát, chỉ đuờng cho nó, khi nào họ biết giải quyết trước người khác tất cả những vấn đề lý luận, chính trị, sách lược và các vấn đề tổ chức nà những yếu tố vật chất của phong trào húc phải một cách tự phát Muốn thực sự chú ý đến những yếu tố vật chất của phong trào phải có thái độ phê phán đối với nó, phải biết rõ sự nguy hiểm và những thiếu sót của phong trào tự phát, phải biết nâng tính tự phát lên tính tự giác” [69; tr 446 – 446] Lênin còn cho rằng việc quản lý của nhà nước
chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của dư luận xã hội do đó cần thiết phải làm cho
“dư luận xã hội có ý thức, có nhận thức” Như vậy, Lênin đã nêu lên tư
tưởng định hướng dư luận xã hội ở chỗ phải chuẩn bị trước cho nhân dân một cách có ý thức về chính trị, tư tưởng và tâm lý, đảm bảo cho sự phát triển của dư luận xã hội phù hợp với yêu cầu của việc xây dựng xã hội chủ nghĩa
Mác nhiều lần gọi dư luận xã hội là dư luận của nhân dân Theo quan điểm macxit, dư luận xã hội đóng vai trò là yếu tố và phương tiện điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi của con người
Tại Việt Nam, Hồ chủ tịch cũng rất chú trọng đến tiếng nói của nhân dân Người cho rằng quần chúng nhân dân có vai trò to lớn trong việc giải
Trang 17quyết các vấn đề xã hội Thí dụ, trong tác phẩm “Dân vận” và “Sửa đổi lề lối làm việc”, Người viết: “Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân chịu cũng xong” hay “dân chúng đồng lòng việc gì cũng làm được, dân chúng không đồng lòng việc gì cũng không làm nên” Trong công tác lãnh đạo, quản lý cần phải thường xuyên lắng nghe, lấy ý kiến của dân
1.1.3 Quan điểm của các nhà tâm lý học và xã hội học Liên Xô
Từ những năm 1950 – 1980 các nhà xã hội học và tâm lý học đã có những đóng góp to lớn trong việc nghiên cứu dư luận xã hội đặc biệt là ở Liên Xô Dư luận xã hội là một vấn đề được nhiều tác giả quan tâm, có nhiều công trình nghiên cứu với những cách tiếp cận khác nhau Đặc biệt,
sự phát triển của chủ nghĩa xã hội đã tạo tiền đề và điều kiện thuận lợi cho
sự hình thành và biểu hiện của dư luận xã hội tiến bộ Nền dân chủ của các nước xã hội chủ nghĩa đảm bảo cho mọi tầng lớp nhân dân tham gia vào hoạt động quản lý xã hội Chính vì vậy, việc nghiên cứu dư luận xã hội càng được quan tâm và có ý nghĩa to lớn Có nhiều hướng nghiên cứu về
dư luận xã hội tuy nhiên hướng nghiên cứu cơ bản nhất xoay quanh vấn đề
dư luận xã hội và định hướng dư luận xã hội
Hướng nghiên cứu thứ nhất: Nghiên cứu bản chất, đặc trưng và sự
hình thành của dư luận xã hội chủ nghĩa của các tác giả như A K Uledop, B.A Grusin, P.A Xakharop, V.K Paderin, V.B Richenhév
- A.K Uledop đưa ra luận điểm “dư luận xã hội là một trong những
trạng thái của ý thức xã hội” Trong một số tác phẩm như “dư luận xã hội
là đốí tượng nghiên cứu của xã hội học” (1954), “dư luận xã hội và sự hình thành của nó một cách có mục đích” (1957), “dư luận xã hội và công tác tuyên truyền” (1980) ông hướng vào làm rõ chức năng, tính qui luật của sự hình thành dư luận xã hội nhằm mục đích phục vụ cho giáo dục cộng sản [37; tr 63]
- B.A Grusin tiếp cận vấn đề ở góc độ khác Ông cho rằng trong mọi trường hợp dư luận xã hội luôn luôn là sự phản ánh hiện thực, tính chất
Trang 18phức tạp của sự phản ánh của dư luận xã hội thông qua sự có mặt của nội dung tư tưởng và nội dung tâm lý xã hội trong đó Trong tác phẩm “dư luận
về thế giới và thế giới dư luận” (1967) ông đã xác định hàng loạt những đặc điểm của dư luận xã hội, khẳng định qui luật vận hành của nó Muốn điều khiển dư luận xã hội phải tính đến những đặc điểm như: Tính đại chúng, đám đông của dư luận xã hội; tính phản ánh trực tiếp gắn với nhu cầu và lợi ích cá nhân với cộng đồng; tính không rõ ràng về mặt quan điểm so với hệ
tư tưởng khoa học; dư luận xã hội vận hành như những nhân tố kích thích
và điều chỉnh hoạt động của con người
- V.K Paderin trong công trình “dư luận xã hội chủ nghĩa phát triển, bản chất, bản chất và các qui luật hình thành” (1980), đã đưa ra cách tiếp
cận xem xét giá trị đối với dư luận xã hội Paderin cho rằng “dư luận xã
hội là ý thức đánh giá, nói cách khác là ý thức xã hội nhìn từ góc độ chức năng đánh giá của nó” [37; tr 64] Cách tiếp cận này càng khám phá sâu
bản chất của dư luận xã hội, mở rộng quan niệm về vị trí của nó trong ý thức xã hội; trong đó tập trung vào thái độ của con người với đối tượng, đánh giá dưới góc độ nhận thức của các khả năng có thể đáp ứng nhu cầu của con người mà đối tượng có được
- V.B Richenhév tập trung vào tính qui luật của sự tạo thành dư luận
xã hội cũng như vận dụng nó trong quản lý Trong cuốn “dư luận xã hội và vấn đề quản lý” (1987), tác giả khẳng định dư luận xã hội vận hành thông qua sự giao tiếp xã hội Tình qui luật của sự vận hành thể hiện ở việc nâng cao tính tích cực của ý thức quần chúng cũng như tăng cường thúc đẩy của bản thân dư luận xã hội Trên cơ sở chỉ ra tính qui luật của sự vận hành của
dư luận xã hội, tác giả đã xác định những nội dung, yêu cầu của sự vận dụng dư luận xã hội trong hệ thống thông tin; trong đấu tranh với tiêu cực
xã hội, trong công tác cán bộ cũng như trong xây dựng ý thức hệ xã hội chủ nghĩa Bằng cách này, ông đã chỉ ra vai trò của các nhà lãnh đạo quản lý, chủ thể của định hướng dư luận xã hội phải biết nắm bắt và hướng dẫn dư luận trong quản lý xã hội
Trang 19Hướng nghiên cứu thứ hai: Tìm kiếm xác định các phương thức
định hướng dư luận xã hội ở tầm vĩ mô Các tác giả đi theo hướng này đặc biệt nhấn mạnh đến việc xây dựng kiến tạo những tiền đề khách quan, chủ quan cho dư luận xã hội phát huy tác dụng Muốn vậy phải thực hiện các đảm bảo về kinh tế, chính trị, xã hội, tư tưởng, và đạo đức cho các chủ thể
dư luận xã hội Tiêu biểu theo hướng này có Govskhop, trong “dư luận xã hội – lịch sử và tính thời đại” (1989), ông đã xác định nội dung các đảm bảo nói trên Ông đặc biệt nhấn mạnh đến sự thống nhất, sự tương tác lẫn nhau của nó, những đảm bảo tạo nên một hệ thống các điều kiện và cơ cấu tạo ra khả năng hình thành có định hướng, có ý thức của dư luận xã hội cũng như sự gia tăng vai trò, ý nghĩa của nó trong xã hội [37; tr 93]
Hướng nghiên cứu thứ ba: Nghiên cứu dư luận xã hội trong phạm
vi hẹp như dư luận xã hội trong gia đình, nhóm, tập thể cơ sở (lớp học, tổ sản xuất, đơn vị …) Các tác giả như A.X Macareno, A.G Govaliov, A.V Petropxki, K.K Platonov có những đóng góp đáng kể về nghiên cứu dư luận tập thể Trong tác phẩm “giáo dục trong tập thể” Macareno đặc biệt nhấn mạnh đến tầm quan trọng của dư luận tập thể, cho rằng các cán bộ lãnh đạo, thủ lĩnh phải là người tổ chức dư luận tập thể phục vụ cho nhiệm
vụ chung A.V Petronopxki trong tác phẩm “tâm lý xã hội của tập thể” phân tích đặc điểm của sự hình thành dư luận tập thể, đồng thời xem dư luận tập thể như là một phương tiện trong tay các nhà giáo dục, có thể sử dụng điều khiển định hướng, nó nhằm mục đích xây dựng tập thể Quan niệm coi dư luận tập thể là những phán đoán biểu thị thái độ của các thành viên trong tập thể với những sự kiện có liên quan đến nhu cầu của cá nhân hoặc tập thể, khi tập thể đạt tới giai đoạn phát triển, dư luận sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến mọi thành viên [1; tr 66, tr 136]
Các nghiên cứu ở góc độ tâm lý tập thể thể đều khẳng định dư luận tập thể hình thành có tính qui luật, tham gia vào đó có sự chi phối của các nhân tố tự phát và tự giác, khách quan và chủ quan, cả nhân tố chính trị, kinh tế, tâm lý xã hội Các nhà quản lý, giáo dục khi can thiệp, hướng dẫn
Trang 20dư luận tập thể cần phải tính đến các nhân tố như tính chất, ý nghĩa sự kiện
xảy ra, số lượng và chất lượng thông tin đưa đến, mức độ chuẩn bị về tư
tưởng tâm lý của các thành viên, trình độ phát triển của tập thể cũng như uy
tín của người lãnh đạo
1.1.4 Một số nghiên cứu về dư luận ở Việt Nam
Tuy mới nghiên cứu từ những năm 80 trở lại đây nhưng chúng ta đã
có thành quả đáng ghi nhận Năm 1982, Viện dư luận xã hội thuộc ban
tuyên huấn TW Đảng ra đời Nhiệm vụ của viện là “tổ chức việc nghiên
cứu dư luận nhân dân đối với những vấn đề quan trọng có tính chất thời sự
theo quan điểm Mác – Lênin; tổng hợp phân tích dư luận xã hội để báo cáo
với các cơ quan lãnh đạo của Đảng và nhà nước, tổ chức bồi dưỡng đội
ngũ cán bộ thông tin viên, cộng tác viên của viện về lý luận và nghiệp vụ”
Thành tựu của viện trong những năm qua là hiệu quả thực tiễn trên cơ sở
nghiên cứu lý luận và phương pháp thăm dò dư luận xã hội đã phục vụ cho
công việc xây dựng xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ tập thể của
nhân dân lao động, mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường mối liên
hệ giữa Đảng, nhà nước và quần chúng nhân dân; góp phần hoàn thiện
công tác lãnh đạo và công tác quản lý xã hội trên cơ sở khoa học [37; tr 95]
“Trung tâm tâm lý học xã hội” nay là “viện tâm lý học” là một trong
những cơ sở nghiên cứu về dư luận xã hội ở nước ta, các công trình, các
chuyên khảo như dư luận xã hội trong tập thể, trong gia đình, dòng họ, làng
xã đã đóng góp nhất định về lý luận và thực tiễn [14; tr 36 – 37]
Từ những năm 1984, ban tuyên giáo thành ủy Hà Nội đã triển khai
công tác nghiên cứu, hướng dẫn dư luận xã hội trên địa bàn thành phố
Tháng 3 – 1995 hội thảo khoa học “nghiên cứu và hướng dẫn dư luận xã
hội, công cụ lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng và chính quyền thành phố” Đây
là biểu hiện cụ thể nghiên cứu, vận dụng dư luận xã hội trong thực tiễn, đặc
biệt tập trung vào vai trò hướng dẫn dư luận xã hội
Trang 21Phó giáo sư Hoàng Ngọc Phách đã đề cập đến sự cần thiết phải định hướng dư luận trong tập thể quân nhân, định hướng dư luận tập thể như là một con đường, một biện pháp để xây dựng tập thể quân nhân vững mạnh [61; tr 284]
PTS Phạm Chiến Khu đã có công trình chuyên về dư luận xã hội Tác giả tiếp cận ở góc độ xã hội học và tâm lý học, trong đó tập trung vào mối quan hệ giữa dư luận xã hội và đặc điểm tâm lý của người Việt Nam, đặc trưng của dư luận xã hội và vai trò, ảnh hưởng của nó đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, Ngoài ra, một số tác giả khác như Mai Hữu Khuê, Nguyễn Văn Lê, Nguyễn Hải Khoát, Đỗ Long, Nguyễn Quang Uẩn, Đức Uy, Hoàng Đình Châu đã có nghiên cứu và đề cập đến dư luận ở dạng này hay dạng khác Như dư luận xã hội và vấn đề quản lý nhà nước và quản lý xã hội, dư luận xã hội của giới thanh niên, dư luận xã hội trong làng xã Việt Nam, dư luận xã hội và công tác truyền thông, dư luận xã hội
và giao tiếp quân sự
Tóm lại, qua việc điểm lại một số công trình nghiên cứu xung quanh vấn đề dư luận xã hội ta thấy hầu hết các tác giả đều tập trung vào một số hướng chính sau đây
- Các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác trên cơ sở phép biện chứng duy vật đã đưa ra những tư tưởng rất quan trọng về định hướng dư luận Khi nghiên cứu dư luận hầu hết các tác giả khẳng định một mặt dư luận xã hội
do điều kiện lịch sử xã hội cụ thể và chế ước xã hội qui định, mặt khác có tính độc lập tương đối, thực hiện các chức năng giáo dục và điều chỉnh hành vi của cá nhân và cộng đồng Dư luận xã hội phải chịu sự điều tiết của hoàn cảnh lịch sử, môi trường xã hội và quản lý xã hội Cho nên định hướng dư luận xã hội chính là tích cực hoá quá trình hình thành nó một cách có ý thức, phải được thực hiện từ phía xã hội, người quản lý xã hội cũng với các thiết chế đồng bộ của nó trên cơ sở đáp ứng yêu cầu, nguyện vọng của đông đảo quần chúng nhân dân Phải làm cho dư luận xã hội có tính tích cực phục vụ mục đích chung trước, điều đó phục thuộc vào vai trò
Trang 22của những nhà quản lý, lãnh đạo và giáo dục phải nắm bắt được qui luật hình thành dư luận xã hội, tác động vào nó để hướng dẫn dư luận theo mục tiêu xã hội dặt ra
- Những nghiên cứu ở góc độ Triết học, Xã hội học về bản chất, qui luật hình thành, đặc trưng của dư luận xã hội là cơ sở của sự tác động xây dựng dư luận xã hội theo yêu cầu của xã hội, cũng như của chủ thể giáo dục Thực hiện những đảm bảo về kinh tế, chính trị, tư tưởng cho sự vận hành theo quỹ đạo chung là những tư tưởng về định hướng dư luận ở tầm vĩ
mô của nhà nước và toàn xã hội
- Những nghiên cứu ở góc độ tâm lý xã hội đề cập và lý giải sự hình thành và biến đổi của dư luận xã hội mà điển hình là các học thuyết phương Tây Đây là khuynh hướng của tâm lý xã hội tư sản hiện đại, lưu ý chúng ta
về những cơ chế hình thành và biến đổi dư luận xã hội trên cơ sở thuyết tâm thế, thuyết thông tin Muốn can thiệp, hướng dẫn dư luận xã hội các chủ thể phải vận hành theo những cơ chế đã được xác định Mặc dù có những hạn chế ở thế giới quan giai cấp trong luận giải vấn đề song nhũng thành quả của khuynh hướng này có giá trị cả lý luận và thực tiễn
- Những nghiên cứu ở góc độ tâm lý học tập thể về dư luận tập thể tập trung khai thác các nhân tố chủ quan, tự phát và tự giác của sự tạo thành dư luận tập thể Mặc dù chưa vạch ra các cấu trúc tâm lý hoặc cơ chế của định hướng dư luận tập thể, song ở một chừng mực nhất định các tác giả đã lưu ý cần thiết phải định hướng dư luận tập thể, đồng thời khẳng định vai trò, trách nhiệm định hướng dư luận của những người cán bộ quản
lý, lãnh đạo tập thể trong đó cần tính đến sự chi phối tác động của các nhân
tố như tâm lý xã hội trong tập thể như: Uy tín của người lãnh đạo, mức độ chuẩn bị về tư tưởng và tâm lý quần chúng, trình độ phát triển của tập thể…
Có thể nói rằng những tư tưởng, nghiên cứu, ý định về dư luận đã được bàn đến ở dạng này hay dạng khác tuy nhiên một công trình nghiên
cứu về đề tài “Dư luận của sinh viên đánh giá về nội dung chương trình,
Trang 23điều kiện vật chất dạy – học, phương pháp dạy – học đại học hiện nay” là
chưa có Vì vậy, nhận thấy đây là một vấn đề nhạy cảm được nhiều người quan tâm trong giai đoạn hiện nay, tôi đã chọn đề tài này làm đề tài nghiên cứu của mình với hy vọng có thể góp phần dù là rất nhỏ vào việc nhận thức
về nền giáo dục đương đại
1.2 Các khái niệm cơ bản
1.2.1 Dư luận xã hội Dư luận của sinh viên
1.2.1.1 Khái niệm
Noelle Neumann chỉ ra rằng “các thế hệ các nhà Triết học, Luật học, các sử gia, các lý thuyết chính trị gia và các nhà báo đã tuyệt vọng trong nỗ lực tìm ra một định nghĩa dư luận xã hội rõ ràng” [5; tr 10] Dẫu rằng không có 1 khái niệm dư luận xã hội được chấp nhận chung nhưng điều đó không có nghĩa rằng dư luận xã hội không tồn tại Các ngành nói chung và các nhà nghiên cứu nói riêng có thể có những cách tiếp cận khác nhau trong quan niệm hay cách nghiên cứu về dư luận xã hội, song họ vẫn xác định dư luận xã hội là một thực thể tồn tại ở một dạng nhất định Dư luận
xã hội thực sự tồn tại và ảnh hưởng đến xã hội cũng như từng cá nhân Dư luận xã hội là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học như: Tâm lý học, chính trị học, xã hội học, sử học …
Thuật ngữ dư luận xã hội (tiếng Anh: Public Opinion) là thuật ngữ
được dùng nhiều trong đời sống xã hội và trong một số ngành khoa học như xã hội học, tâm lý học xã hội, báo chí v.v … dư luận xã hội được coi là những trạng thái đặc trưng của ý thức xã hội, tâm trạng xã hội Khi dịch từ
“public opinion” trong đó public là cộng đồng, công chúng; còn opinion là quan điểm, ý kiến, dư luận Các nhà khai sáng đã ngụ ý tới tính phổ quát,
sự khách quan và sự hợp lý Dư luận xã hội gắn liền với văn hoá của cộng đồng, ở đó dư luận xã hội điều tiết các ứng xử của cộng đồng bằng những lời khen, chê Khi nói dư luận xã hội gắn với văn hoá của một cộng đồng nghĩa là dư luận xã hội mang những đặc trưng nhất định của văn hoá cộng
Trang 24đồng đó Dư luận xã hội được xem xét ở không gian và thời gian nhất định Một hiện tượng, một vấn đề xã hội có thể trở thành dư luận xã hội ở những thời điểm cụ thể trong khi không trở thành dư luận xã hội ở thời điểm khác
Có thể hiểu rằng dư luận xã hội chính là một thành phần thuộc kiến trúc thượng tầng của xã hội và tính chất của nó bị quy định bởi tính chất các quan hệ kinh tế trong xã hội Mặc dù vậy, với tư cách là một phần của thượng tầng kiến trúc, dư luận xã hội cũng có sự độc lập tương đối với hạ tầng cơ sở Thí dụ, có những lúc dư luận xã hội lại tỏ ra bảo thủ hơn so với
sự phát triển của các quan hệ kinh tế trong xã hội, cũng có những lúc nó lại
“đi nhanh hơn” so với hạ tầng xã hội
Có nhiều định nghĩa khác nhau về “dư luận xã hội”, điển hình là một
số định nghĩa sau Theo nhà triết học cổ đại Socrat thì dư luận xã hội là cái
gì đó nằm giữa sự mù quáng và nhận thức Theo Kant: Dư luận xã hội nằm
ở cấp độ thấp hơn so với kiến thức và niềm tin Theo các tác giả hiện đại thì
dư luận xã hội là ý kiến được đông đảo công chúng chia sẻ và có thể tìm thấy ở mọi nơi
Theo B.K Paderin: “Dư luận xã hội là tổng thể các ý kiến, trong đó
chủ yếu là các ý kiến thể hiện sự phán xét đánh giá, sự nhận định (bằng lời hoặc không bằng lời) phản ánh ý nghĩa của các thực tế, quá trình, hiện tượng, sự kiện đối với tập thể, giai cấp xã hội nói chung hoặc thái độ công khai họăc che đậy của các nhóm xã hội lớn nhỏ đối với các vấn đề của cuộc sống xã hội có động chạm đến các lợi ích chung của họ”
Theo A.K.Uledov: dư luận xã hội là “sự phán xét thể hiện sự đánh
giá và thái độ của mọi người đối với các hiện tượng của đời sống xã hội”
Một số nhà nghiên cứu người Mỹ định nghĩa: “công luận (dư luận xã
hội) là kết quả được cấu thành từ sự phản ứng của mọi người đối với các phát ngôn hoặc các câu hỏi nhất định, dưới điều kiện của cuộc phỏng vấn” Ngoài ra, còn có một định nghĩa đơn giản nhưng rất phổ biến trong
giới nghiên cứu Mỹ: “Dư luận là các tập hợp ý kiến cá nhân mà ở bất kỳ
nơi đâu mà chúng ta có thể tìm được”
Trang 25Các nhà nghiên cứu dư luận xã hội ở Liên Xô trước đây định nghĩa
về dư luận xã hội trong đó nhấn mạnh đến sự phán xét, đánh giá chung của
các nhóm xã hội đối với vấn đề quan tâm: “Dư luận xã hội là tổng thể các
ý kiến đánh giá, sự nhận định (bằng lời hoặc không bằng lời) phản ánh ý nghĩa của các thực tế, quá trình, hiện tượng, sự kiện đối với các tập thể, giai cấp, xã hội nói chung và thái độ công khai hoặc che đậy của các nhóm
xã hội lớn, nhỏ đối với các vấn đề của cuộc sống xã hội có động chạm đến lợi ích chnng của họ” [37; tr 6] Hoặc dư luận xã hội là “sự phán xét thể hiện sự đánh giá và thái độ của mọi người đối với các sự kiện, hiện tượng của đời sống xã hội” Các học giả Liên Xô trước đây cũng cùng quan niệm
như các tác giả phương Tây, tuy nhiên có sự khác biệt ở chỗ các tác giả phương Tây, đặc biệt là Mỹ chú trọng nhiều hơn đến khía cạnh thao tác kỹ
thuật trong nghiên cứu dư luận xã hội “Công luận là sự phán xét, đánh giá
của các cộng đồng xã hội đối với các vấn đề có tầm quan trọng, được hình thành sau khi có sự tranh luận công khai” hoặc “những gì mà các cuộc thăm dò ý kiến đo đạc được” và “công luận là kết quả được cấu thành từ sự phản ứng của mọi người đối với các phát ngôn hoặc các câu hỏi nhất định, dưới dạng điều kiện của cuộc phỏng vấn”
Còn các tác giả Việt Nam định nghĩa “dư luận xã hội là một dạng
đặc biệt của ý thức xã hội, được biểu hiện bằng chính kiến cụ thể thuộc một nhóm đông người hoặc tập thể, tầng lớp, giai cấp, nhiều khi là cả một cộng đồng (địa phương, cả nước, khu vực, thế giới …) đối với những vấn đề mà
họ quan tâm” [68; tr 4]
Như vậy trong định nghĩa này, tác giả nhấn mạnh đến dư luận xã hội như là một dạng biểu hiện của ý thức xã hội, coi dư luận xã hội là một hiện tượng thuộc lĩnh vực tinh thần của xã hội nhưng có liên quan chặt chẽ với
hoạt động thực tiễn của xã hội Hoặc “Dư luận xã hội là biểu hiện trạng
thái ý thức xã hội của một cộng đồng người nào đó, là sự phán xét, đánh giá của đại đa số trong cộng đồng người đối với các sự kiện, hiện tượng, quá trình xã hội có liên quan đến nhu cầu, lợi ích của họ trong một thời
Trang 26điểm nhất định” [33; tr 14] Ở đây, dư luận xã hội cũng được tác giả xem
xét như là một biểu hiện trạng thái ý thức xã hội Sự liên hệ của dư luận xã hội như là một lĩnh vực thuộc đời sống tinh thần – với thực tại xã hội Điểm đáng lưu ý trong định nghĩa này là sự xác định căn nguyên của của dư luận
xã hội xuất phát từ nhu cầu và lợi ích của các cá nhân trong cộng đồng ở một thời điểm nhất định
Tuy có nhiều định nghĩa về dư luận xã hội khác nhau song hầu hết
đều đồng ý rằng “dư luận xã hội là 1 hiện tượng xã hội đặc biệt, biểu thị
thái độ phán xét, đánh giá của quần chúng đối với các vấn đề mà họ quan tâm” Dư luận xã hội đã xuất hiện và tồn tại từ lâu trong lịch sử, nó phát
triển và trưởng thành cùng với bản thân của xã hội loài người
Dư luận xã hội là một hình thức biểu hiện đặc thù của ý thức xã hội trong một nhóm cộng đồng người (giai cấp, dân tộc, tầng lớp, của xã hội, nghề nghiệp ), là sự phán xét, đánh giá của đại đa số thành viên trong cộng đồng ấy đối với các hiện tượng xã hội có liên quan đến nhu cầu, lợi ích của họ trong một thời điểm nhất định
Dư luận xã hội là tập hợp các luồng ý kiến cá nhân trước các vấn đề,
sự kiện, hiện tượng có tính thời sự Mỗi luồng ý kiến là một tập hợp các cá nhân có ý kiến giống nhau Dư luận xã hội có thể bao gồm nhiều luồng ý kiến khác nhau, thậm chí trái ngược nhau, đối lập nhau Luồng ý kiến có thể rộng (tuyệt đại đa số, đa số, nhiều ý kiến) cũng có thể hẹp (một số ý kiến)
Dư luận xã hội là sự phán xét, đánh giá, biểu thị thái độ của quần chúng đối với sự kiện, hiện tượng xảy ra có liên quan đến nhu cầu, lợi ích của đa số thành viên trong nhóm, cộng đồng
Tóm lại, dư luận xã hội là sự biểu hiện trạng thái ý thức của xã hội
của một cộng đồng người nào đó, là sự phán xét, đánh giá, biểu thị thái độ của đại đa số trong cộng đồng người đối với các sự kiện, hiện tượng, quá trình xã hội có liên quan đến nhu cầu, lợi ích của họ trong một thời điểm nhất định
Trang 27Sinh viên là một nhóm xã hội, một cộng đồng người cụ thể Dư luận của sinh viên là dư luận xã hội xét ở một đối tượng người cụ thể Dư luận của sinh viên có thể được hiểu là sự biểu hiện trạng thái ý thức xã hội của sinh viên, là sự phán xét đánh giá, biểu thị thái độ của đại đa số sinh viên đối với các sự kiện, hiện tượng, quá trình xã hội có liên quan đến nhu cầu, lợi ích của sinh viên trong một thời điểm nhất định
Sự kiện, hiện tượng, quá trình xã hội được xem xét trong luận văn này là nội dung chương trình dạy – học, điều kiện vật chất dạy – học, phương pháp dạy – học đại học hiện nay
1.2.1.2 Vai trò, chức năng của dư luận xã hội
- Chức năng đánh giá
Dư luận xã hội thể hiện thái độ phán xét, đánh giá của công chúng đới với các sự kiện, hiện tượng, các vấn đề cuộc sống Sự phán xét, đánh giá có thể trực tiếp hoặc gián tiếp, có thể biểu hiện dưới hình thức rất đơn giản, mang đậm sắc thái cảm xúc (đồng tình – phản đối) nhưng cũng có thể rất phong phú về mặt nội dung Nhờ có chức năng đánh giá, dư luận xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành các thang bậc giá trị của xã hội
- Chức năng điều tiết các mối quan hệ xã hội
Dư luận xã hội thực hiện chức năng điều tiết các quan hệ xã hội thông qua việc tác động đến hành vi và các mối quan hệ giữa các cá nhân với nhau, của cá nhân với tập thể, của tập thể với xã hội và của xã hội với
xã hội, tập thể với từng cá nhận
Dư luận xã hội có thể cổ vũ, khích lệ hành vi tích cực vì lợi ích xã hội, nhưng cũng có thể gây phản đối, gây sức ép, cản trở hành vi cực đoan, không có lợi cho nhóm người này hoặc nhòm người khác Vì vậy, dư luận
xã hội là nhân tố đảm bảo cho sự phát triển lành mạnh của chủ thể Dư luận
xã hội chính là luật không thành văn,
Trang 28Cơ chế tác động của chức năng điều tiết được dựa trên phương pháp tác động xã hội và phụ thuộc vào mức độ chín muồi của dư luận, mức độ xâm nhập và ảnh hưởng của nó cũng như mức độ phát triển của xã hội
Trong điều kiện mà xã hội có những biến cố lớn, đụng chạm trực tiếp và mạnh mẽ đến lợi ích cơ bản của cộng đồng người (như chiến tranh, cách mạng) thì dư luận xã hội hình thành rất nhanh chóng, rộng rãi và có sức mạnh to lớn, nó chỉ ra phương hướng hành động cho mọi người Dư luận xã hội của giai cấp tiên tiến trong trường hợp trên có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc góp phần thúc đẩy xã hội phát triển
- Chức năng giáo dục của dư luận xã hội
Cùng với chức năng điều tiết các quan hệ xã hội, dư luận xã hội còn
có chức năng giáo dục Chức năng này gắn bó hữu cơ với chức năng điều tiết
Tác dụng chủ yếu của chức năng giáo dục là ở việc dư luận xã hội góp phần chuyển giao các giá trị tinh thần từ thế hệ này sang thế hệ khác
Điều này được thể hiện qua câu “trăm năm bia đá thì mòn, ngàn năm bia
miệng vẫn còn trơ trơ” Dư luận xã hội góp phần vào việc giáo dục ý thức
trách nhiệm của cá nhân đối với nhiệm vụ chung, giáo dục luân thường, đạo lý trong xã hội thông qua việc đồng tình hay lên án một hành vi nào đó
Điều kiện quyết định để đạt được hiệu quả giáo dục của dư luận xã hội là bản chất xã hội của cá nhân, là quá trình xã hội hoá Trong đời sống, các cá nhân không thể không chú ý đến những điều người khác nói về mình Cá nhân thường có xu hướng bảo vệ, giữ gìn các dư luận tốt về mình
và bác bỏ tất cả các dư luận đụng chạm đến nhân cách của họ Mặc dù sự cảm nhận xã hội ở mọi người là không như nhau, nhưng tác dụng của dư luận xã hội đối với cá nhân là một thực tế ít người bỏ qua được Ở đây, sự hiểu biết của con người về các nhu cầu xã hội, sự đòi hỏi của mỗi người đối với bản thân là nhân tố kích thích chủ yếu khiến con người sửa đổi những sai sót của mình theo những phán xét của dư luận
Trang 29Dư luận xã hội thực hiện chức năng của mình thông qua việc kiểm tra liên tục đối với hành vi, trạng thái và các biểu hiện của các thành viên trong xã hội Không chỉ khi cần thiết phải huy động dư luận chung nhằm tán thành hay phê phán nào đó của các thành viên trong xã hội, mà còn thực hiện vai trò đó trong những điều kiện, khi dư luận còn đang im lặng, chưa thể hiện công khai, khi nó còn đang “quan sát” các công việc và hành
vi của con người trong xã hội
Tuy nhiên, cũng cần chú ý rằng ngoài tác dụng giáo dục tích cực là chủ yếu, đôi khi dư luận xã hội cũng có tác dụng tiêu cực, nó kìm hãm sự sáng tạo và hành vi tích cực của con người Nhiều hiện tượng tiêu cực khác xuất hiện trong tập thể nhưng không bị dư luận lên án hoặc không lên án mạnh mẽ Cho nên việc tạo ra trong dư luận thái độ lên án một cách cương quyết với các hiện tượng tiêu cực ở mọi mức độ là một nhiệm vụ hết sức quan trọng
Có thể nói, chức năng điều tiết các quan hệ xã hội và chức năng giáo dục của dư luận xã hội tương tác với nhau một cách tích cực, chúng thâm nhập nhau, hoàn thiện lẫn nhau, thường xuyên kết hợp với nhau như là một chức năng kép điều tiết – giáo dục
- Chức năng giám sát
Dư luận xã hội luôn thể hiện lập trường rõ ràng với các vấn đề mà nó quan tâm Mục đích của nó là làm cho các tổ chức, các cá nhân có trách nhiệm phải có hoạt động thích hợp, đáp ứng các yêu cầu mà dư luận xã hội đưa ra Như vậy, chức năng giám sát là thông qua sự phán xét, đánh giá, dư luận xã hội giám sát các hoạt động của các tổ chức xã hội, các cơ quan nhà nước có phù hợp với lợi ích của xã hội hay không
Trong thời đại xã hội hiện nay, dư luận xã hội ngày càng có điều kiện thể hiện và trở thành yếu tố rất quan trọng nhằm điều chỉnh hoạt động của các cơ chế xã hội Để dư luận xã hội phát huy tốt chức năng này, cần tạo điều kiện hình thành thái độ phù hợp phê phán, thái độ không thoả hiệp
Trang 30của dư luận xã hội đối với những biểu hiện xa rời các chuẩn mực của xã hội, giáo dục sâu sắc tình cảm con người, trách nhiệm và lối sống lành mạnh của con người
- Chức năng cố vấn (khuyên bảo)
Thực chất của chức năng này là dư luận xã hội đưa ra những lời khuyên, những ý kiến, những đề nghị trong đó có chứa đựng những phương pháp giải quyết các vấn đề đạo đức đang đặt ra trước xã hội Chức năng này giúp người dân được bày tỏ ý kiến, tình cảm của mình về những vấn đề trọng đại có liên quan đến lợi ích cộng đồng hay lợi ích của chính họ
Tất nhiên, để có các lời khuyên có ý nghĩa, các đề nghị mang tính xây dựng, chủ thể dư luận xã hội phải có những khả năng nhất định, phải biết phân tích các hiện tượng và quá trình xã hội, phải có năng lực, trí tuệ
và phải được thông báo đầy đủ những thông tin về sự kiện, hiện tượng
- Chức năng tư vấn, phản biện
Chức năng này thể hiện khi kết quả các phán xét, những đánh giá của
dư luận xã hội là những quyết định đụng chạm đến các khía cạnh khác nhau của hoạt động xã hội và mang theo những qui định nghiêm ngặt Có thể nói, dư luận xã hội của các tầng lớp nhân dân không những có chức năng giáo dục, khuyên bảo, kiến nghị, điều tiết mà còn có thể tư vấn, phản biện cho các cơ quan quản lý, điều hành xã hội, cách thức xử lý các vấn đề
đã chính muồi Trước những vấn đề nan giải của đất nước, dư luận xã hội
có thể đưa ra những lời khuyên sáng suốt Dư luận xã hội cũng là người phản biện có uy tín đối với các quyết định của các cơ quan Tất nhiên, việc tiếp thu, giải quyết các chỉ thị, mệnh lệnh của dư luận xã hội tuỳ thuộc vào các điều kiện khách quan của xã hội đã cho phép giải quyết vấn đề hay chưa, đồng thời tuỳ thuộc vào mức độ hợp lý của các chỉ thị, mệnh lệnh
Để giải quyết cần phải cho nhà nước thời gian để tiếp nhận, nghiên cứu và
xử lý những thông tin đó Tuy nhiên, các cơ quan quản lý, điều hành xã hội không nên thờ ơ hoặc bỏ qua các chỉ thị của dư luận xã hội Nếu bỏ qua
Trang 31thậm chí coi thường các chỉ thị, mệnh lệnh ấy hoặc việc giải quyết nó tách rời các điều kiện mà xã hội cho phép thì nó có thể trở thành nguyên nhân cho các “điểm nóng” xã hội, các trạng thái căng thảng khác trong xã hội Vai trò trên đây của dư luận xã hội do uy tín về đạo đức và chính trị của nó qui định
- Chức năng giải tỏa tâm lý xã hội
Theo các nhà tâm lý học, những nỗi bất bình, oan ức mà không nói
ra được sẽ không mất đi mà lắng chìm xuống tầng vô thức trong tâm thức của con người và có thể trở thành những mầm mống bệnh hoạn nghiêm trọng về tinh thần, đến một lúc nào đó sẽ bộc phát thành những phản ứng bất thường, bệnh hoạn, không thể kiểm soát được Sự giãi bày, bày tỏ thành lời có thể giải tỏa nỗi bất bình, uất ức của con người, nhóm xã hội, làm cho tâm lý của con người, của nhóm trở lại vị trí thăng bằng Bị oan tức mà nói
ra được sẽ làm người ta cảm thấy nhẹ nhõm
Tóm lại, trong điều kiện trình độ chính trị, văn hoá của nhân dân ngày càng được nâng cao, dân chủ ngày càng được mở rộng thì các chức năng của dư luận xã hội ngày càng được thể hiện đày đủ, sức mạnh của dư luận xã hội ngày càng được phát huy, tác động đến xã hội như những “luật
lệ bất thành văn”
1.2.1.3 Bản chất của dư luận xã hội
Dư luận xã hội là một hiện tượng xã hội đặc biệt, xuất hiện và tồn tại cũng với sự xuất hiện và tồn tại của xã hội loài người Trong các cộng đồng
xã hội nguyên thuỷ xa xưa, thì dư luận xã hội với tư cách là những ý kiến,
quan niệm, thái độ phán xét chung của xã hội đã giữ vai trò vừa là phương
tiện giáo dục, vừa là công cụ định hướng, điều tiết hành vi của con người trong cộng đồng Dư luận xã hội có tác dụng khuyến khích, cổ vũ những thành viên lao động tốt, biểu dương những người dũng cảm … Mặt khác dư luận xã hội cũng phê phán những thành viên lười biếng, hèn nhát và vi
Trang 32phạm qui tắc Trong các cộng đồng nguyên thủy, cái đáng sợ nhất đối với một thành viên là bị dư luận xã hội lên án, bị tập thể khinh bỉ, ruồng bỏ
Tóm lại, trong xã hội nguyên thuỷ, khi xã hội chưa có sự phân hoá
và mâu thuẫn giai cấp, chưa có nhà nước, pháp luật … thì dư luận xã hội phản ánh thái độ, nguyện vọng và ý chí chung của cộng đồng, đã đóng vai trò như một công cụ có quyền lực tuyệt đối, có chức năng điều tiết các mối quan hệ xã hội Khi xã hội xuất hiện và phân chia thành các giai cấp đối kháng thì dư luận xã hội bị chi phối bởi ý thức hệ của giai cấp thống trị Song bên cạnh đó luôn luôn tồn tại luồng dư luận phản ánh thái độ, ý thức của quần chúng Một khi dư luận đã trở thành dư luận xã hội tức là nó được đông đảo quần chúng đồng tình, thừa nhận nó là ý thức, nguyện vọng của chính họ Trong điều kiện ấy, dư luận xã hội tham gia vào quá trình giải quyết các vấn đề xã hội hết sức đa dạng Vì thế dư luận xã hội là sự phán xét, đánh giá của một cộng đồng đông đảo đối với các sự kiện, sự việc, quá trình của thực tế xã hội mà họ quan tâm Sự phán xét, đánh giá này biểu thị biểu thị thái độ của họ đối với các sự kiện, sự việc, quá trình ấy
Trước hết, dư luận xã hội xuất phát từ đời sống thực Việc phản ánh này không hoàn toàn là sự phản ánh bản chất của hiện thực mà là sự phản ánh khúc xạ hiện thực theo những “cách nhìn” xã hội khác nhau Cách nhìn
xã hội này thể hiện lợi ích nhóm, nhận thức, tri thức, những hạn chế, thuận lợi và những quan điểm, đặc điểm của nhóm … thường có tính khuynh hướng (hoặc âm tính, hoặc dương tính, hoặc ủng hộ, hoặc phản đối, hoặc khen, hoặc chê) Chính vì vậy mà ở những thời điểm khác nhau, ở những nhóm xã hội khác nhau, dư luận xã hội về cùng một vấn đề có thể giống nhau hoặc khác nhau, có những thái độ, đánh giá khác nhau [5; tr 34 – 35]
Ngoài ra, dư luận xã hội là một sản phẩm của giao tiếp và tương tác
xã hội Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu, không thể có dư luận xã hội mà không có sự giao tiếp giữa các thành viên trong cộng đồng – những người quan tâm đến vấn đề đã nêu ra Một số lớn cá nhân có thể giữ những quan niệm giống nhau nhưng những người này sẽ không tạo thành dư luận
Trang 33xã hội nếu mỗi cá nhân không tham khảo ý kiến người khác Giao tiếp có thể thực hiện bởi các phương tiện truyền thông như báo, đài, internet, điện thoại … hoặc thông qua giao tiếp đối mặt Theo cách khác, con người học cách nghĩ về một vấn đề được đưa ra như thế nào và có thể lấy ý kiến của người khác để đưa ra quyết định của chính họ
Có thể nói, trong mọi thời đại, dư luận xã hội luôn mang trong mình nguồn sức mạnh to lớn ảnh hưởng đến nhịp độ phát triển xã hội Hiện nay,
ở nhiều nước trên thế giới, khi đưa ra các chính sách và các quyết định quan trọng của nhà nước, trước khi được thi hành đều phải tiến hành điều tra, thăm dò dư luận xã hội Nếu kết quả thăm dò dư luận cho thấy đa số quần chúng không tán thành thì các chính sách, chủ trương đó phải được xem xét lại Vì quần chúng là người tiếp nhận chủ trương, chính sách và trực tiếp thực hiện các chủ trương chính sách ấy Hơn ai hết, họ là người hiểu rõ được chỗ hợp lý, chưa hợp lý của chủ trương, chính sách đó Tuy nhiên, không phải mọi dư luận xã hội đều là chân lý, đều phản ánh đúng đắn thực tế khách quan Song đã là dư luận xã hội thì nó phản ánh đích thực trạng thái ý thức, tư tưởng, phản ánh thái độ đánh giá, phán xét của đông đảo quần chúng Vì dư luận xã hội là sự phản ánh nhu cầu – lợi ích của các nhóm xã hội cụ thể Dù là âm tính hay dương tính, chê hay khen thì nguyên nhân cũng đều có thể tìm thấy ở nhu cầu – lợi ích của từng nhóm
xã hội cụ thể Những nhu cầu – lợi ích ấy có thể xuất phát từ việc bảo vệ lợi ích của nhóm, sự tồn tại của các giá trị trong nhóm hay đảm bảo sự bền vững của các mối quan hệ trong nhóm hay trong cộng đồng Vì thế, các nhà lãnh đạo, quản lý cần phải xem xét cân nhắc kỹ lưỡng dư luận xã hội đang tồn tại trong lòng quần chúng trước khi thực hiện chủ trương, chính sách mới
Đối tượng của dư luận xã hội không phải thực tế xã hội nói chung
mà chỉ là các thực tế xã hội mà cộng đồng người quan tâm tới, vì nó liên quan tới nhu cầu, lợi ích vật chất hay tinh thần của họ Như vậy dư luận xã hội chỉ nảy sinh khi có vấn đề có ý nghĩa xã hội đụng chạm đến lợi ích
Trang 34chung của cộng đồng, có tầm quan trọng và tính cấp bách đòi hỏi có ý kiến phán xét, đánh giá, phương hướng giải quyết Chủ thể của dư luận xã hội
có thể là cộng đồng nói chung, cũng có thể là một tổ chức hợp thành của cộng đồng đó, cũng có ý kiến cho rằng chủ thể của dư luận xã hội chỉ là đại
đa số nhân dân của nước và ý kiến nói trên cho rằng chủ thể của dư luận xã hội là của một cộng đồng lớn như giai cấp, tầng lớp, dân tộc, nhân dân còn
dư luận của một nhóm, một tập thể nhỏ chỉ nên gọi là dư luận nhóm, dư luận tập thể Dư luận của một nhóm, một tập thể có thể tham gia vào việc hình thành dư luận xã hội về một vấn đề chung, nhưng cũng có những trường hợp dư luận nhóm, tập thể ấy không nhất trí với dư luận xã hội
Theo quan điểm này, A.K Uledop đưa ra khái niệm “dư luận của xã hội”
để khái quát tình hình trong một thời điểm nhất định, về cùng một vấn đề nào đó, trong xã hội, ngoài dư luận xã hội còn có dư luận không phải là dư luận xã hội Tất cả các loại dư luận đó đều là dư luận của xã hội [17; tr 13]
Thông qua dư luận xã hội, mọi người thể hiện ý chí, mong muốn… của mình Để có thể hiểu đúng đắn bản chất của dư luận xã hội, phải làm sáng tỏ và mối quan hệ của nó với ý thức xã hội và xem xét nó dưới nhiều góc độ, hình thức thể hiện, cơ cấu, chủ thể và đối tượng
“Dư luận xã hội là một kết cấu tinh thần, được sinh ra hình thành
trong ý thức của từng người, từng nhóm, từng tập thể Vì vậy, mọi dư luận trước hết là biểu hiện trạng thái ý thức của chủ thể mang nó Trong trạng thái ý thức ấy, nhờ các phán xét đối tượng trong thực tế xã hội được tái tạo Cho nên, dư luận xã hội là biểu hiện trạng thái ý thức xã hội của cộng đồng người, là phương thức tồn tại đặc biệt của ý thức xã hội Đồng thời,
dư luận xã hội cũng là trạng thái tổng hợp của toàn vẹn ý thức xã hội”
[33; tr 12]
Điều đó có nghĩa là trong cấu trúc của dư luận xã hội có mặt tất cả các thành phần, các yếu tố cấu thành ý thức xã hội: nhận thức, tình cảm và
ý chí, tâm lí xã hội và hệ tư tưởng, ý thức chính trị, ý thức pháp quyền, ý
thức đạo đức và thẩm mỹ … Nói gọn lại là trong trạng thái cụ thể của ý
Trang 35thức xã hội, tính chất tổng hợp của ý thức xã hội được biểu hiện Đây là
một trạng thái toàn vẹn bao quát trong nội dung của mình của mặt trí tuệ, cảm xúc và mặt ý chí của ý thức xã hội Nó không chỉ thể hiện một mặt riêng rẽ nào đó của hình thái ý thức xã hội như Triết học, đạo đức, ý thức
chính trị mà thể hiện tính chất tổng hợp của ý thức xã hội trong một thời
gian nhất định, bao gồm cả mặt ý thức hệ và tâm lý xã hội
Dư luận xã hội là một quá trình nhận thức Bản chất của nhận thức là phản ánh thế giới khách quan vào bộ óc con người, và là quá trình phản ánh tích cực, sáng tạo dựa trên cơ sở hoạt động thực tiễn Dư luận xã hội là một dạng của nhận thức từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng, từ nhận thức cảm tính đến nhận thức lý tính [5; tr 85]
Dư luận xã hội là một hiện tượng tinh thần của xã hội nhưng lại gắn chặt với hoạt động thực tiễn của xã hội Do đó có thể nói dư luận xã hội như cầu nối giữa ý thức xã hội và hoạt động xã hội Khi dư luận xã hội hình thành, cộng đồng xã hội đi từ phần đánh giá chung tới lập trường hành động, kiến nghị chung và tuỳ theo điều kiện mà chuyển hoá từ lời nói đến hành động, thái độ tinh thần như vậy thể hiện thái độ tinh thần thực tiễn, thúc đẩy và quyết định hành động thực tiễn Khi đã là một cấu trúc tinh thần, thực tiễn, dư luận xã hội đồng thời thể hiện luôn tính chất mâu thuẫn,
đó là tính chất “vừa đúng, vừa sai” như theo cách hiểu của Hegel [37; tr
10] Sự đánh giá của công chúng đối với những vấn đề của thực tiễn chịu
sự chi phối của nhiều yếu tố Không phải tất cả các yếu tố đều tạo thuận lợi cho việc nhận thức ra sự thật Do vậy, vấn đề chân lý và sai lầm là hai mặt của một vấn đề nằm trong dư luận xã hội
Qua phân tích trên, có thể định nghĩa dư luận xã hội là một hình thức biểu thị trạng thái ý thức xã hội của một cộng đồng người rộng lớn (giai cấp, dân tộc, tầng lớp, nhân dân), là sự phán xét, đánh giá của đại đa số trong cộng dồng người ấy, phản ánh thái độ của cộng đồng ấy với các sự kiện, hiện tượng xã hội có liên quan đến nhu cầu, lợi ích của họ trong một thời điểm nhất định
Trang 36Nhìn chung, xã hội càng phát triển, trình độ chính trị, văn hoá của quần chúng càng cao, dân chủ càng mở rộng thì sức mạnh của dư luận xã hội càng lớn, tác động đến xã hội như những “luật lệ bất thành văn” Trong
xã hội hiện nay, khi trình độ nhận thức, ý thức của nhân dân càng cao, sự nhất trí về chính trị, tư tưởng của nhân nhân ngày càng phát triển và củng
cố thì sức mạnh của dư luận xã hội ngày càng lớn, vai trò và chức năng của
nó càng phát huy tác dụng trong xã hội hiện đại
Tuy nhiên, nhận thức của con người về dư luận xã hội lại rất khác nhau Hiện tượng này có 2 nguyên nhân:
- Nguyên nhân thứ nhất: dư luận xã hội là một hiện tượng xã hội phức tạp, đa diện
- Nguyên nhân thứ hai: dư luận xã hội là khách thể nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, các nhà khoa học lại nghiên cứu dư luận xã hội theo các quan điểm khác nhau, trong các thời kỳ lịch sử khác nhau
Xét theo khía cạnh nhận thức, trong dư luận xã hội có chứa đựng những yếu tố tri thức, những chân lý khách quan, dù đó là chân lý hữu hạn, bởi vì dư luận xã hội có căn cứ là hiện thực khách quan Tuy nhiên, không thể đồng nhất dư luận xã hội với tri thức, chân lý khách quan Tri thức trong dư luận xã hội thường ở dạng hỗn tạp, có đúng đắn, có sai lầm Trong khi đó, để tạo ra tri thức khoa học, các nhà nghiên cứu phải tuân thủ các quá trình nghiêm ngặt để gạt bỏ các yếu tố chủ quan, thiên lệch của giả thuyết Cái còn lại sẽ là tri thức khoa học Còn dư luận xã hội bị ràng buộc bởi các yếu tố chủ quan như nhu cầu, động cơ, tình cảm, định kiến…của chủ thể Hay nói cách khác thì dư luận xã hội luôn luôn có cái đúng, và cái sai, lẽ phải và sự sai lầm thiển cận Dư luận xã hội không đồng nhất với tri thức, với lẽ phải, mặc dù trong dư luận xã hội có phần tri thức và lẽ phải
Do đó, dư luận xã hội phụ thuộc và mang sắc thái của các yếu tố chủ quan
ấy
Dư luận xã hội nhằm phán xét và đánh giá các đối tượng sau:
Đối tượng đơn giản: là các sự thật mà con người nhìn thấy
Trang 37 Đối tượng phức tạp: là các hiện tượng hay quá trình xã hội Nhưng không phải tất cả các sự thật, sự kiện, hiện tượng hay quá trình xã hội của hiện thực xung quanh con người đều trở thành đối tượng của dư luận xã hội Dư luận xã hội chỉ nảy sinh khi có vấn đề mang ý nghĩa xã hội, đụng chạm đến lợi ích của cộng đồng người, có tầm quan trọng đòi hỏi phải đưa ra ý kiến đánh giá, đòi hỏi phải có phương hướng giải quyết
Dư luận xã hội được “truyền bá theo lối cảm nhiễm” [32; tr 166] Dư luận xã hội nảy sinh dưới áp lực của lời nói và ảnh hưởng của những điều
lặp đi lặp lại đối với quần chúng “Cái điều lặp lại mãi rốt cuộc sẽ bám
chặt vào những tầng lớp sâu xa trong tiềm thức, ở chỗ cấu tạo ra can do những hoạt động của chúng ta” [32; tr 162] Khi cá nhân có những hiểu
biết hạn chế, không chắc chắn về hiện tượng, sự kiện hay quá trình xã hội đang diễn ra mà đòi hỏi phải có những thái độ, đánh giá về những sự kiện hay quá trình đó thì họ sư nghiêng về ý kiến của số đông, phù hợp với những lợi ích của họ Để đảm bảo sự ổn định, cá nhân thường nghiêng về những ý kiến được xem là được chấp nhận rộng rãi trong xã hội, được nhiều người trong xã hội làm theo trong thời điểm đó Đồng thời khi đó, họ vừa có sẵn được một quyết định không buộc họ phải đưa ra những đánh giá
và vừa có được khả năng an toàn cao, khả năng đúng cao đối với quyết định hay ý kiến của mình vì họ cho rằng ý kiến của số đông thường chính xác hơn ý kiến của thiểu số
Nếu chúng ta liên hệ với khái niệm ý thức tập thể của E.Durkheim, chúng ta sẽ thấy dư luận xã hội có thể đuợc xem là một dạng của ý thức tập thể (ý thức tập thể được làm thành bởi những tương đồng tâm lý Ý thức tập thể là toàn bộ những tín ngưỡng và cảm thức chung cho một số trung bình những thành phần của một xã hội và làm thành một hệ thống tương đồng nhất định có sinh hoạt nhất định), khác chăng là sự tồn tại của nó trong một không gian và thời gian cụ thể hơn Như vậy, dư luận xã hội vận hành tương tự sự vận hành của ý thức tập thể, có nghĩa là dư luận xã hội áp đặt ý kiến chủ quan của mình vào các cá nhân
Trang 38Còn theo Uledop, dư luận xã hội có mặt trong tất cả các hình thái, các thành phần ý thức xã hội, song đồng thời nó không gắn bó chặt chẽ với một hình thái hoặc một thành phần nào Khi xem xét vị trí của dư luận xã hội trong cấu trúc của ý thức xã hội, Uledop tập trung sự chú ý của mình vào việc xem xét các trạng thái của ý thức Điều này cũng đã được Plekhanop khẳng định từ lâu: “Luôn luôn có một trạng thái ý thức nhất định, có trước, kèm theo và theo sau mỗi sự kiện lịch sử” Plekhanop đã đưa ra một ý niệm lý thú rằng: Dư luận xã hội chẳng phải là một cái gì khác ngoài các phương thức tồn tại đặc biệt của ý thức xã hội, đó là biểu hiện đặc thù của ý thức xã hội, là trạng thái hiện có của nó [37; tr 52]
Trạng thái ý thức – xã hội là một phạm trù, ghi nhận tính liện tục, sự thống nhất của các thành phần ý thức xã hội, cho phép ta xem nó như là một chỉnh thể tinh thần sống động, như khuynh hướng và sắc thái của các
tư tưởng, quan điểm, quan niệm … Trạng thái ý thức xã hội ở đây không phải là một liên kết tổng cộng đơn thuần của các quan niệm, quan điểm, tình cảm, ý nghĩ … mà là một kết hợp biện chứng trong đó có sự phụ thuộc
và cùng phụ thuộc lẫn nhau Các trạng thái ý thức mang màu sắc cảm xúc
có liên hệ chặt chẽ với các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội trong hoạt động sống của mọi người Trạng thái ý thức còn có đặc điểm khác đó là nó thường xuyên ảnh hưởng đến hoạt động của mọi người Ý niệm về các trạng thái ý thức xã hội đã dẫn tới kết luận cho rằng dư luận xã hội là một trạng thái của ý thức xã hội
Cách tiếp cận trên đã gặp phải sự phản đối từ phía Grusin Grusin chỉ
ra rằng do không có đối tượng phản ánh đặc trưng của mình (dư luận xã hội phán xét mọi vấn đề chính trị, pháp quyền, đạo đức, khoa học, nghệ thuật
…) Dư luận xã hội “không thể được coi là một tồn tại đứng cùng hàng với
các hình thái ý thức xã hội nói trên, không thể được coi như là một hình thái nữa bổ sung cho các hình thái nói trên …Chiếu theo đối tượng của mình, dư luận xã hội dưòng như bao phủ lên toàn bộ các hình thái ý thức,
Trang 39nói chính xác hơn, nó thâm nhập vào mọi hình thái trong các hình thái ý thức với tư cách là một phương thức tồn tại hết sức đặc biệt của chúng”
Như vậy có thể thấy rằng vấn đề bản chất của dư luận xã hội, về vị trí của nó trong cấu trúc ý thức còn chưa có sự thống nhất Giữa các nhà nghiên cứu vẫn còn có những quan điểm khác nhau Tuy thế, giữa sự khác nhau, các nhà nghiên cứu vẫn có nhiều điểm giống nhau, trong cách tiếp cận cũng như trong các chi tiết của vấn đề Đa số thừa nhận rằng dư luận xã hội – là một thực tế tư tưởng, là một kết cấu hết sức phức tạp có liên quan đến lĩnh vực hoạt động tinh thần của mọi người
Vị trí của dư luận xã hội trong cấu trúc của ý thức xã hội sẽ rõ hơn nếu chúng ta xem xét dưới góc độ của tiếp cận giá trị Trong cách tiếp cận giá trị đối với các hiện tượng xã hội, trọng tâm là ở chỗ: cái gì có ý nghĩa đối với hoạt động sống của con người, đối với các nhu cầu của họ, cái gì đã tác động đến hoạt động của họ Khi đánh giá vấn đề của cuộc sống xã hội, các dân tộc, các giai cấp, các tập thể biểu thị thái độ của mình đối với các vấn đề đó một cách phù hợp với các đánh giá về nó Có sự khác nhau giữa
giá trị và sự đánh giá “Giá trị có thể là một hiện tượng của thế giới bên
ngoài hoặc một thực tế tư duy (ý niệm, hình ảnh, khoa học) Giá trị là cái
mà chúng ta đánh giá, là đối tượng của sự đánh giá Sự đánh giá là một hoạt động trí tuệ, là kết quả của thái độ đánh giá đối với đối tượng.” (1)
Trang 40- Phán xét đánh giá: phán xét của dư luận xã hội là sự đánh giá mà
ở đó chủ thể biểu thị thái độ đồng tình hay phê phán, khen ngợi hay chê trách, ủng hộ hay phản đối đối với chủ thể Chính vì vậy mà có nguời cho rằng dư luận xã hội là ý thức xã hội được nhìn nhận dưới góc độ chức năng đánh giá của nó
Xét theo khía cạnh ngôn ngữ thì dư luận xã hội bao giờ cũng là sự phán xét đánh giá của chủ thể đối với đối tượng Theo cấu trúc tâm lý thì
dư luận xã hội là một kết cấu tinh thần chỉnh thể (sự thống nhất của nhận thức, tình cảm và ý chí) Dư luận xã hội không bao giờ chỉ là những lời nói suông của công chúng, nó luôn luôn gắn liền với hành động xã hội của con người, sức mạnh và áp lực của sư luận xã hội là một thực tế không ai bỏ qua được
Hoạt động đánh giá của ý thức là một chức năng rất quan trọng Sự đánh giá có mặt trong tất cả các hình thái và lĩnh vực của ý thức xã hội Dư luận xã hội cũng là ý thức xã hội song được xem xét dưới góc độ chức năng
mà nó thực hiện dưới góc độ tiếp cận giá trị
1: Tugarnove B.P> Lý luận về các giá trị trong chủ nghĩa Mac – Lenin NXB Leningrat 1968, tr 24
Từ các ý kiến trên ta có thể thấy dư luận xã hội là một tổng thể bao gồm chủ yếu là các phán xét đánh giá, các kết luận (bằng lời nói hoặc không bằng lời nói) làm rõ ý nghĩa của thực tế, các quá trình các hiện tượng, các sự kiện đối với các tập thể, các giai cấp, đối với xã hội nói chung, biểu thị thái độ rõ ràng hoặc kín đáo của các nhóm xã hội lớn, nhỏ đối với những vấn đề cuộc sống xã hội có động chạm đến lợi ích chung của
họ
Dư luận xã hội của sinh viên về những vấn đề liên quan đến dạy – học đại học (vì nội dung chương trình, điều kiện cơ sở vật chất của dạy – học, phương pháp dạy – học đại học ) là ý kiến phán xét, đánh giá của sinh viên đối với các vấn đề liên quan đến dạy – học đại học (liên quan đến nội