V Tsêbưsêva cho rằng: “Học sinh chọn nghề nhưng chưa hiểu được đầy đủ ý nghĩa của việc lựa chọn đó, khi không có các kiến thức cần thiết về ngành nghề đã chọn” và “ngoài sự hiểu biết dù
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-* -
NGUYỄN THỊ LÀNH
Dù §ÞNH CHäN NGHÒ CñA HäC SINH LíP 12 TR£N §ÞA BµN TØNH NINH B×NH
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Hà Nội 2010
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA TÂM LÝ HỌC
-* -
NGUYỄN THỊ LÀNH
Dù §ÞNH CHäN NGHÒ CñA HäC SINH LíP 12 TR£N §ÞA BµN TØNH NINH B×NH
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Người hướng dẫn khoa học PGS.TS Nguyễn Sinh Phúc
Hà Nội - 2010
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1.Lý do chọn đề tài 1
2 Đối tượng nghiên cứu 2
3 Mục đích nghiên cứu 2
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
5 Khách thể nghiên cứu 3
6 Giới hạn khách thể, phạm vi nghiên cứu 3
7 Giả thuyết nghiên cứu 3
8 Phương pháp nghiên cứu 3
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 5
1 1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề 5
1.1.1 Nghiên cứu ở nước ngoài về vấn đề chọn nghề 5
1.1.2 Nghiên cứu ở Việt Nam 8
1.2 Các khái niệm công cụ được sử dụng trong đề tài 10
1.2.1 Nghề nghiệp 10
1.2.1.1 Khái niệm nghề nghiệp 10
1.2.1.2 Đặc điểm của hoạt động nghề nghiệp 11
1.2.1.3 Phân loại nghề 12
1.2.1.4 Các con đường hình thành nghề nghiệp hiện nay 17
1.2.2 Nghề thực hành 18
1.2.3 Dự định chọn nghề 20
1.2.4 Học sinh và những đặc điểm tâm sinh lý của học sinh lớp 12 21
1.3 Những vấn đề liên quan tới dự định chọn nghề của học sinh lớp 12 23
1.3.1 Dự định chọn nghề và lựa chọn nghề 23
1.3.2 Nhận thức nghề và dự định chọn nghề 25
1.3.2.1 Khái niệm nhận thức nghề 25
1.3.2.2 Nhận thức về những nhu cầu của xã hội đối với nghề nghiệp
(Nhận thức về nhu cầu của thị trường lao động hiện nay) 27
1.3.2.3 Nhận thức về thế giới nghề nghiệp và những yêu cầu đặc trưng của nghề đối với người chọn nghề 28
1.3.2.4 Nhận thức về những đặc điểm cá nhân với nghề 30
1.3.2.5 Các mức độ nhận thức nghề nghiệp 31
1.3.3 Thái độ nghề và dự định chọn nghề 32
1.3.3.1 Nguyện vọng nghề và dự định chọn nghề 33
1.3.3.2 Hứng thú và dự định chọn nghề 34
1.3.3.3 Năng lực và dự định chọn nghề 36
1.3.3.4 Động cơ và dự định chọn nghề 37
1.3.4 Ảnh hưởng của những yếu tố khách quan tới dự định chọn nghề của học sinh 39
Trang 41.4 Tư vấn hướng nghiệp là hình thức giúp cho học sinh có dự định
chọn nghề phù hợp 40
CHƯƠNG 2 42
TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 42
2.1 Tổ chức nghiên cứu 42
2.1.1 Kế hoạch nghiên cứu 42
2.1.2 Vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu 42
2.1.3 Triển khai nghiên cứu 44
2.2 Phương pháp nghiên cứu 45
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 45
2.2.2 Phương pháp trò chuyện, tọa đàm 45
2.2.3 Phương pháp nghiên cứu bằng bảng hỏi 46
2.2.4 Phương pháp phỏng vấn sâu 46
2.2.5 Phương pháp thống kê toán học 47
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 48
3.1 Thực trạng dự định chọn nghề thực hành của học sinh lớp 12 48
3.2 Nhận thức của học sinh về nghề đã chọn ( nghiên cứu trên 192 em lựa chọn nghề thực hành) 54
3.2.1 Nhận thức về các đặc điểm cá nhân với nghề đã chọn 55
3.2.2 Nhận thức về đặc điểm, đặc trưng của nghề lựa chọn 59
3.2.3 Nhận thức về nhu cầu thị trường lao động hiện nay 64
3.3 Thái độ của học sinh với việc lựa chọn nghề học tại các trường dạy nghề 65
3.4 Ảnh hưởng của các yếu tố tới việc chọn nghề thực hành của học sinh lớp 12 73
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 77
1 Kết luận 77
2 Khuyến nghị 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
PHỤ LỤC 82
PHỤ LỤC 1: PHIẾU ĐIỀU TRA 82
PHỤ LỤC 2 98
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU 1.Lý do chọn đề tài
Theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo mỗi năm nước ta có khoảng
1 triệu thí sinh dự thi vào các trường Đại học và Cao đẳng trên cả nước, nhưng chỉ có khoảng 20.000 học sinh thực hiện được ước mơ đó của mình Như vậy, còn hơn 80.000 thí sinh phải chia tay với cổng trường đại học Đầu vào đã khó nhưng đầu ra còn khó khăn hơn khi chỉ có 40 % có việc làm (đúng hoặc trái ngành) - tỷ lệ thất nghiệp khá cao Trong khi đó nước ta hiện nay đang thiếu trầm trọng lực lượng lao động trực tiếp có kỹ thuật cao - những người được đào tạo thực hành một cách bài bản về công nghệ và kỹ thuật Điều này dẫn đến một thực tế trong thị trường lao động và việc làm hiện nay đó là cảnh “thừa thầy thiếu thợ”
Với tâm lý truyền thống phải vào bằng được đại học đã khiến hầu hết các
em học sinh tốt nghiệp THPT đăng ký dự thi vào các trường đại học, số còn lại rất ít các em lựa chọn việc theo học các nghề tại các trường dạy nghề Các em cho rằng vào học tại các trường nghề chỉ là “bước đường cùng” trong cuộc đời
Theo Bộ Lao động thương binh và Xã hội, hơn 90% sinh viên tại các trường dạy nghề khi ra trường hàng năm có việc làm hoặc tự tạo việc làm ngay phù hợp với nghề được đào tạo Trong số đó những học sinh, sinh viên học nghề có tay nghề tốt đã tìm được việc làm trong nước hoặc đi xuất khẩu lao động với mức lương rất cao
Mặt khác một thực tế cũng đang diễn ra là việc các em học sinh lựa chọn nghề nghiệp trong tương lai nhưng không hề có những thông tin và hiểu biết cần thiết về nghề Từ đó dẫn đến các em không biết đến các ngành nghề
đó đào tạo ra làm gì, để làm được nghề đó cần có những yêu cầu gì, những nơi nào đào tạo chuyên sâu về nghề đó, cơ hội phát triển và việc làm sau khi học như thế nào…? Từ việc nhận thức còn hạn chế dẫn đến các em lựa chọn nghề chưa phù hợp với năng lực, điều kiện hoàn cảnh bản thân và gia đình, cũng như chưa phù hợp với nhu cầu thị trường Dẫn đến các em khi ra trường
Trang 7không có việc làm, hoặc phải học chuyển nghề gây tốn kém cho bản thân và
xã hội Có nhiều em do không yêu thích và hứng thú với nghề nên dẫn đến hiệu quả làm việc không cao, luôn có tư tưởng muốn bỏ nghề
Vì vậy việc tìm hiểu dự định chọn nghề của học sinh lớp 12, để kịp thời cung cấp những hiểu biết, định hướng và tư vấn nghề nghiệp cho các em đang trở thành vấn đề quan trọng Giúp các em học sinh có những quyết định chọn lựa nghề phù hợp với điều kiện bản thân, gia đình và đáp ứng yêu cầu xã hội
là một nhu cầu cấp thiết được đặt ra hiện nay
Xuất phát từ những lý do trên chúng tôi đã quyết định lựa chọn đề tài
“Dự định chọn nghề của học sinh lớp 12” để nghiên cứu Do thời gian và
năng lực còn hạn chế, nên chúng tôi chủ yếu tìm hiểu nhận thức và dự định của các em với vấn đề chọn nghề: thực hành được đào tạo tại các trường dạy nghề trong toàn quốc và địa bàn mà chúng tôi triển khai là tại Ninh Bình
2 Đối tượng nghiên cứu
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu một số vấn đề lý luận của đề tài
- Nghiên cứu thực trạng dự định chọn nghề thực hành của học sinh lớp
12 tại các trường dạy nghề
- Chỉ ra những nguyên nhân ảnh hưởng đến dự định chọn nghề của các
em, chú trọng những nguyên nhân các em quyết định việc theo học hay không học nghề tại các trường dạy nghề
Trang 8- Đưa ra những biện pháp nâng cao nhận thức và những biện pháp giúp các em có quyết phù hợp trong việc chọn nghề
5 Khách thể nghiên cứu
- 768 em học sinh lớp 12 tại 4 trường THPT: THPT Ngô Thì Nhậm, THPT bán công Tạ Uyên, THPT Yên Mô B, THPT Bình Minh và Trung tâm giáo dục thường xuyên Tam Điệp – Ninh Bình
- 200 em học sinh hiện đang học nghề tại trường Cao đẳng nghề Cơ giới Ninh Bình
- 100 bậc phụ huynh của các em học sinh trong diện nghiên cứu
- Các thầy cô giáo chủ nhiệm và BGH trường Cao đẳng nghề Cơ giới Ninh Bình
6 Giới hạn khách thể, phạm vi nghiên cứu
- Trong đề tài này chúng tôi chủ yếu tập trung vào tìm hiểu dự định của các em học sinh lớp 12 với việc lựa chọn nghề thực hành (học tại các trường dạy nghề trong toàn quốc)
- Khách thể nghiên cứu là các em học sinh lớp 12 đặc biệt các em học sinh có học lực Khá trở xuống vì chúng tôi cho rằng các em này khả năng đỗ vào đại học sẽ hạn chế, do vậy các em sẽ có dự định vào học tại các trường dạy nghề Các em có lực học giỏi sẽ chủ yếu lựa chọn thi vào đại học
- Phạm vi nghiên cứu: 4 trường THPT và 1 trung tâm giáo dục thường xuyên trên địa bàn tỉnh Ninh Bình
7 Giả thuyết nghiên cứu
- Đa số các em học sinh lớp 12 trong diện nghiên cứu có mong muốn đi học đại học hơn là học các nghề thực hành Có nhiều nguyên nhân dẫn đến việc các em không mong muốn học các nghề thực hành, trong đó nguyên nhân chủ yếu là do nhận thức của các em về các nghề này còn hạn chế
8 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến vấn đề được nghiên cứu trong đề tài, nhằm xây dựng cơ sở lý luận khoa học, trên cơ sở đó mới tiến hành nghiên cứu những vấn đề thực tiễn
Trang 9- Phương pháp trưng cầu ý kiến bằng bảng hỏi: Đây là phương pháp quan trọng nhất được sử dụng chủ yếu nhằm thu thập số liệu cho việc nghiên cứu đề tài
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Tiến hành phỏng vấn 2 em học sinh trường THPT Ngô Thì Nhậm và THPT Bán công Tạ Uyên; 1 em học sinh hiện đang học tại trường Cao đẳng nghề Cơ giới Ninh Bình để làm rõ nhận thức và định hướng chọn nghề của các em
- Phương pháp xử lý số liệu bằng phần mềm SPSS phiên bản 13.0
Trang 10NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI
1 1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu vấn đề
Chọn nghề là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng không chỉ với cá nhân,
mà còn cả đối với xã hội Chọn nghề không chỉ có nghĩa là chọn một công việc làm cụ thể nào đó, mà còn là việc chọn một cách sống cho tương lai,
chọn một con đường sống cho mai sau Vì thế khi bàn về vấn đề lựa chọn
nghề đã có nhiều những ý kiến của các tác giả trong và ngoài nước
1.1.1 Nghiên cứu ở nước ngoài về vấn đề chọn nghề
Theo nhà tâm lý học A.A Barbinova (1966): học sinh THPT ở Liên Xô thường có dự định được tiếp thu nền học vấn cao, không thích đi làm ngay Những nghề học sinh chọn tuỳ theo từng thời kỳ khác nhau và theo đặc điểm lứa tuổi giới tính Chẳng hạn năm 1970 học sinh thường hứng thú với những nghề thuộc lĩnh vực sản xuất vật chất, thế nhưng năm 1985 học sinh thành phố lại hứng thú với những nghề thuộc lĩnh vực xã hội hơn các nghề khác Các nhà nghiên cứu này cũng chỉ ra sự khác biệt về giới tính ảnh hưởng tới việc chọn nghề của học sinh: học sinh nữ thường quan tâm tới những nghề thuộc lĩnh vực y tế, giáo dục và nghệ thuật còn các em học sinh nam quan tâm tới những nghề kỹ thuật
Có nhiều tác giả cho rằng động cơ chi phối rất nhiều trong việc chọn nghề của học sinh: Như nghiên cứu của các tác giả A V Petropxki nguyên nhân hấp dẫn học sinh lựa chọn một nghề nghiệp nào đó là do tính chất sáng tạo của lao động; ý nghĩa xã hội và quy mô tiền lương cũng là những yếu tố quan trọng nhất thúc đẩy học sinh chọn nghề Tác giả cho rằng các em học sinh quan tâm nhiều nhất đến giá trị xã hội của nghề sau đó mới đến giá trị vật chất
Nhà nghiên cứu N.D Levitov đã đưa ra một số động cơ bên trong và bên ngoài có ảnh hưởng đến sự lựa chọn nghề của học sinh Tác giả nhận xét việc chọn nghề của học sinh liên quan nhiều đến hứng thú, năng lực và nguyện vọng trong khi chọn nghề
Trang 11Còn tác giả V A Kruchetxki cho rằng nghề được chọn không chỉ phù hợp với nguyện vọng của cá nhân mà còn phải đáp ứng yêu cầu của xã hội
Cụ thể nghề đó là phù hợp nếu: “khuynh hướng cá nhân đối với một dạng lao động nhất định, các năng lực đối với dạng lao động ấy và sự đánh giá các ý nghĩa xã hội của nó được kết hợp nhuần nhuyễn với nhau mang lại sự thỏa mãn về đạo đức cho con người và lợi ích tối đa cho xã hội” [17, 23, 31]
Trong các công trình nghiên cứu nhà tâm lý học E M Pavluchenkov đã khẳng định những động cơ chiếm vai trò chủ đạo và tối quan trọng trong việc lựa chọn nghề của học sinh THPT là động cơ đạo đức và động cơ xã hội Theo ông, cấu trúc động cơ chọn nghề phụ thuộc rất nhiều vào tính tích cực lao động của học sinh, điều này được thể hiện trong việc tích cực tham gia nghiên cứu khoa học, cố gắng làm việc hết mình trong lao động, có hứng thú với các hoạt động cụ thể như việc đọc các tài liệu chuyên ngành [24]
Cũng như các nhà tâm lý học khác, nhà tâm lý E M Pavlưuchenkov cũng cho rằng việc chọn nghề của học sinh bị chi phối bởi các nhóm động cơ Ông cho rằng những học sinh tích cực tham gia các hoạt động liên quan đến học tập, lao động thì có cấu trúc động cơ chọn nghề tối ưu hơn các học sinh khác.Tuy nhiên tác giả cũng chưa đưa ra mô hình cấu trúc động cơ cụ thể đối với từng loại học sinh này mà chỉ đưa ra học sinh có “kiểu” động cơ nào trội hơn
Bên cạnh những nghiên cứu về động cơ chọn nghề, có nhiều nhà tâm lý học Liên Xô cũng quan tâm nghiên cứu và nhấn mạnh yếu tố nhận thức nghề nghiệp trong việc lựa chọn nghề của học sinh Như nhà tâm lý học V V Tsêbưsêva cho rằng: “Học sinh chọn nghề nhưng chưa hiểu được đầy đủ ý nghĩa của việc lựa chọn đó, khi không có các kiến thức cần thiết về ngành nghề đã chọn” và “ngoài sự hiểu biết dù đó là tối thiểu về nghề đã chọn, còn phải đối chiếu những đặc điểm cá nhân của mình với những yêu cầu của nghề
đó đã đề ra và đó là điều mà học sinh thường không tính đến”
Trang 12Khi nghiên cứu về vấn đề này, M S NayMatk cũng đã nhận định:
“thanh niên hãy còn biết rất ít cả những thuộc tính thực tế của những nghề hấp dẫn họ và cả những yêu cầu mà các nghề đó đã đề ra cho người lao động lẫn những khả năng tiềm tàng của bản thân mình”
Khi nghiên cứu về vấn đề nhận thức nghề nghiệp đa phần các nhà nghiên cứu đều cho rằng những sai lầm trong việc lựa chọn nghề đó là do hai nguyên nhân sau:
Thứ nhất “học sinh lớn vì chưa có quan niệm rõ ràng và đa số về các
nghề nên không thể định hướng đúng đắn về các nghề đó Các em không biết bất
cứ một nghề nào đó đều đề ra những yêu cầu đối với phẩm chất của con người”
Thứ hai đó là học sinh “không phải bao giờ cũng biết cách xác định
một cách khách quan sự phù hợp nghề nghiệp của mình Những đặc trưng của nghề như tốc độ, tính chính xác của phản ứng, sự phối hợp những vận động, những đặc điểm cảm giác, tính linh hoạt của các quá trình thần kinh…”[23]
Vì lý do trên mà ở các nước phát triển như: Mỹ, Đức, Pháp, Singapo, Hồng Công… những chỉ dẫn nghề nghiệp là một thành tố quan trọng trong giáo dục trung học, các nước này có sự định hướng tư vấn nghề nghiệp, phân luồng ngay từ những cấp cơ sở [6]
Theo một số nhà tâm lý học lý luận ở Mỹ như: G Reynolds, J Shister,
A Roe, A A Maslow thì điều kiện để một người thỏa mãn với nghề nghiệp đó là: không có những thái độ tiêu cực khi bị đè nén, áp chế trong công việc; có mối quan hệ qua lại tốt với đồng sự, địa vị xã hội; có sự công bằng về tiền lương; có hứng thú với công việc và khả năng đáp ứng những kỹ năng đa dạng của công việc; có điều kiện khách quan của lao động, tính chất, điều kiện và công cụ lao động; độ lớn của tiền lương và sự thường xuyên của công việc
Theo Parsons Frenk - người được coi là là cha đẻ của việc chỉ dẫn nghề nghiệp ở Mỹ đã đưa ra các đặc điểm của lựa chọn nghề trên cơ sở nhận thức nghề đó là:
Trang 13- Người công nhân tương lai cần phải hiểu biết một cách rõ ràng về bản thân mình, về những năng lực của mình, về các kỹ năng hứng thú, kỳ vọng,
về những hạn chế và các nguyên nhân của chúng
- Sự hiểu biết về những yêu cầu và điều kiện để đạt được kết quả, ưu thế, nhược điểm, tiền công (phần thưởng), khả năng và tiền đề trong lĩnh vực khác nhau của công việc
- Mối tương quan đúng giữa hai nhóm các đặc điểm kể trên
Như vậy: các nhà tâm lý học Liên Xô và các nhà tâm lý học phuơng Tây đều nhận thấy sự cần thiết phải nâng cao hiểu biết về nghề nghiệp cho học sinh trong quá trình lựa chọn nghề, tuy nhiên các nghiên cứu đa phần tập trung nghiên cứu về động cơ chọn nghề và nhấn mạnh yếu tố nhận thức nghề nghiệp trong quá trình lựa chọn nghề của học sinh
1.1.2 Nghiên cứu ở Việt Nam
Việc nghiên cứu lựa chọn nghề từ lâu đã được các nhà tâm lý học Việt Nam quan tâm như:
- Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Ngọc Bích (1982) về động cơ lựa chọn nghề của thanh niên, tác giả đã đưa ra nhận xét ở thanh niên học sinh động cơ bên trong nổi bật hơn động cơ bên ngoài trong việc lựa chọn nghề [2]
- Nghiên cứu của tác giả Phạm Nguyệt Lãng và Trần Anh về xu hướng nghề nghiệp của thanh niên và học sinh phổ thông, đã đưa ra nhận xét: thanh niên học sinh suy nghĩ về nghề nghiệp rất muộn, suy nghĩ đó luôn thay đổi và thiếu ổn định Các nghề thanh niên, học sinh lựa chọn là nghề lưu thông và dịch vụ Vấn đề khoa học kỹ thuật chưa được thanh niên quan tâm và coi là một loại nghề say mê, yêu thích
- Vấn đề hướng nghiệp đã nhận được sự quan tâm nghiên cứu từ lâu của tác giả Phạm Tất Dong với công trình nghiên cứu “ Tư vấn hướng nghiệp” Trong công trình nghiên cứu này tác giả chủ yếu bàn đến những nội dung của công tác hướng nghiệp như: lịch sử phát triển hệ thống hướng nghiệp ở các nước trên thế giới, bản chất khoa học của công tác hướng
Trang 14nghiệp, mục đích nhiệm vụ và vai trò của công tác hướng nghiệp, nội dung cơ bản và hình thức hướng nghiệp…[17]
- Tác giả Nguyễn Quang Uẩn: tiếp cận xu hướng nghề theo các chỉ số: Mức độ nhận thức nghề nghiệp, thái độ đối với nghề nghiệp, tính ổn định của thái độ, đặc điểm xu hướng nghề nghiệp của học sinh THPT, xác định được nghề mà học sinh biết nhiều nhất cũng như thái độ đánh giá của học sinh Tác giả đã đưa ra nhận xét: “nhận thức về nghề của học sinh còn yếu, số nghề và các trường chuyên nghiệp chưa được học sinh biết đến nhiều Hứng thú nghề nghiệp của học sinh hình thành muộn, chưa tập trung và rõ nét”.…[23]
Ngoài ra có một số các công trình nghiên cứu của các tác giả bàn về việc hình thành “Tâm thế sẵn sàng lao động cho học sinh” của Phạm Hoàng Gia: bàn về nhu cầu được định hướng nghề nghiệp của học sinh, hứng thú của sinh viên các trong các trường sư phạm
Luận án PTS của Phan Thị Tố Oanh nghiên cứu về “ Nhận thức và dự
định chọn nghề của học sinh PTTH” (năm 1996), trong luận án này tác giả
chủ yếu bàn đến: vai trò nhận thức trong lựa chọn nghề nghiệp, tác giả cho rằng dự định chọn nghề của học sinh có biểu hiện cao nhất ở hành động lựa chọn nghề Tuy nhiên trong luận văn này tác giả nghiên cứu việc chọn nghề vào các trường đại học của các em học sinh THPT, mà chưa bàn đến khía cạnh chọn nghề vào học tại các trường nghề
Chúng tôi nhận thấy mảng nghiên cứu về dự định của các em học sinh với việc học nghề thực hành tại các trường dạy nghề hiện nay chưa nhận được sự quan tâm lưu ý của các nhà tâm lý học Vì thế, chúng tôi rất muốn đi sâu tìm hiểu
về vấn đề này Qua đó chúng tôi mong muốn sẽ đóng góp thêm vào mảng tư vấn hướng nghiệp tại các trường cấp 3 hiện nay Giúp các em học sinh có lực học không tốt thay vì lựa chọn con đường đại học sẽ được tư vấn định hướng vào việc chọn nghề thực hành học tại các trường dạy nghề trên toàn quốc
Trang 151.2 Các khái niệm công cụ được sử dụng trong đề tài
1.2.1 Nghề nghiệp
1.2.1.1 Khái niệm nghề nghiệp
Nghề nghiệp xuất phát từ tiếng La tinh: frofessio là công việc (việc làm) chuyên môn đã định một cách chính thức; từ frofiteor là nói rõ công việc của mình, đó là dạng hoạt động lao động, nghề nghiệp đòi hỏi trình độ học vấn nhất định và là nguồn để tồn tại
Từ điển Larouse của Pháp định nghĩa: “Nghề là hoạt động thường ngày được thực hiện bởi con người nhằm tự tạo nguồn thu nhập cần thiết để tồn tại”
Theo E A Klimop: “Nghề là những lĩnh vực sử dụng sức lao động cơ bắp
và tinh thần của con người một cách có giới hạn cần thiết cho xã hội (do sự phân công mà có) nó tạo ra kỹ năng cho người sử dụng sức lao động của mình để thu thập lấy những phương tiện cần thiết cho sự tồn tại và phát triển” [15, tr.10]
Theo từ điển tiếng Việt (tác giả Nguyễn Như Ý): “ Nghề là công việc chuyên làm theo sự phân công của xã hội”, còn “nghề nghiệp là nghề nói chung” [25, tr.258]
Tác giả Phạm Tất Dong trong cuốn “ nghề nghiệp tương lai” – 1978 đã định nghĩa: “Nghề là nhóm những công việc có chuyên môn gần nhau”
Như vậy, theo ý kiến của các tác giả trên chúng tôi hiểu một nghề tồn tại trong xã hội cần có 4 yếu tố sau:
- Nghề tồn tại và phát triển do sự phân công lao động xã hội
- Người lao động tiêu hao năng lượng thần kinh, cơ bắp trong quá trình lao động
- Người lao động làm nghề đó được trả công
- Người lao động cần được đào tạo ở mức độ nhất định mới có thể làm việc
Chúng tôi đồng ý với một số các nhà nghiên cứu khi cho rằng: nghề
nghiệp là một thuật ngữ chỉ một hình thức lao động xã hội theo sự phân công lao động, mà con người sử dụng sức lao động của mình để tạo ra những sản
phẩm vật chất và tinh thần cho xã hội
Trang 161.2.1.2 Đặc điểm của hoạt động nghề nghiệp
Khi nói đến đặc điểm hoạt động của bất kỳ một nghề nghiệp nào trong
xã hội người ta thường đề cập đến đặc điểm sau:
* Đối tượng lao động
Đối tượng lao động của nghề là hệ thống những thuộc tính, những mối quan hệ qua lại (tương hỗ) của các hiện tượng, các quá trình mà ở cương vị lao động nhất định con người phải vận dụng chúng
* Mục đích lao động
Mục đích lao động là kết quả mà xã hội đòi hỏi trông đợi ở người lao động, nó thể hiện ở các công việc, các thao tác chủ yếu phải hoạt động trong nghề và các sản phẩm (bán thành phẩm, sản phẩm) thu được trong nghề
Ví dụ: Mục đích lao động của nghề may là phục vụ và làm thoả mãn nhu cầu may mặc trong xã hội Từ các loại vải, người thợ cắt may, may thành những bộ quần áo hợp thời trang và những đồ dùng khác như mũ, găng tay, khăn Trong khi đó mục đích lao động của nghề tiếp viên du lịch lại là hướng dẫn giới thiệu với khách du lịch tất cả vẻ đẹp, sự hấp dẫn, những nét
kỳ lạ, đặc điệt của nơi du lịch, cung cấp những thông tin về sự an toàn, giá trị kinh tế Nhằm tạo cho khách du lịch sự thích thú, tò mò và tin tưởng mình đã
sử dụng đồng tiền đúng chỗ Đồng thời người hướng dẫn viên du lịch phải hiểu công tác tổ chức, kinh doanh trong du lịch Nắm được các loại hồ sơ, tài liệu hạch toán và thanh toán trong phục vụ du lịch Thực hiện có hiệu quả công tác thông tin và tuyên truyền của hướng dẫn du lịch
* Công cụ lao động
Công cụ lao động không chỉ là những công cụ gia công mà còn gồm những phương tiện làm tăng năng lực nhận thức của con người về các đặc điểm của đối tượng lao động, làm tăng sự tác động của con người đến đối tượng đó Vì vậy những dụng cụ đo lường, những máy móc để biến đổi năng lượng, xử lý thông tin cũng như những quy tắc, phương thức giải quyết các nhiệm vụ thực hành và lý luận cũng được coi là công cụ lao động
Trang 17Ví dụ: Công cụ lao động của nghề cắt may công nghiệp là kéo, thước, phấn, máy may, bàn là
Công cụ và phương tiện của nghề tiếp viên du lịch là những kiến thức
cơ bản về tổ chức và kỹ thuật phục vụ, hướng dẫn du lịch Những kiến thức
về địa lý, lịch sử, con người, xã hội của khu vực tổ chức du lịch Ngôn ngữ dùng để giới thiệu với mọi người một cách chính xác, rõ ràng và hấp dẫn Biết
sử dụng thành thạo từ một đến hai ngoại ngữ Biết sử dụng các thiết bị văn phòng, thông tin nghe nhìn
* Điều kiện lao động
Điều kiện lao động được hiểu như là những đặc điểm của môi trường
mà trong đó công việc nghề nghiệp của con người được diễn ra Đó là:
- Trong nhà, ngoài trời
- Nhiệt độ, tiếng ồn
- Tư thế làm việc: ngồi, đứng
Ví dụ: Điều kiện lao động của nghề thợ may làm việc trong nhà hoặc trong dây chuyền sản xuất ở các phân xưởng Vì vậy, nghề thợ may không đòi hỏi sự thích ứng đặc biệt cơ thể đối với môi trường lao động
Còn điều kiện lao động của nghề tiếp viên du lịch lại là thường xuyên làm việc ngoài trời, luôn di chuyển địa điểm du lịch cùng với khách tham quan, làm việc trong hoàn cảnh thường xuyên tiếp xúc với nhiều người trong nước và nước ngoài [26]
1.2.1.3 Phân loại nghề
Xã hội càng phát triển thì nghề nghiệp càng phong phú, cùng với sự thay đổi công cụ sản xuất và sự phân công lao động, nhiều nghề nghiệp được phát triển và không ít nghề nghiệp có sự thay đổi Trong thời đại ngày nay, thời đại bão táp của tiến bộ khoa học kỹ thuật, nghề này mất đi, nghề khác xuất hiện, nhiều nghề đã thay đổi nội dung lẫn hình thức công việc Tiến bộ khoa học kỹ thuật làm thay đổi tính chất lao động, hoàn thiện công cụ sản xuất, thay đổi bản thân đối tượng lao động Do đó, việc đào tạo con người lao
Trang 18động trong các nghề nghiệp khác nhau cũng được thay đổi Con người cần phải thực hiện một cách rộng rãi nhiều chức năng hơn và cần thiết lao động phối hợp các nghề khác Do đó việc chọn nghề mới hay phân hóa và chuyên môn hóa nghề nghiệp cao, mỗi nghề mới này đòi hỏi ở người lao động những phẩm chất tâm lý nhân cách, những khả năng khác nhau Tuỳ thuộc vào cách
sử dụng mà có cách phân loại nghề khác nhau Hiện nay tồn tại các kiểu phân loại nghề khác nhau:
* Phân loại theo dấu hiệu, mức độ phức tạp về kỹ thuật
- Đó là những nghề phải thông qua đào tạo, đòi hỏi có những quy trình nhất định thì mới có thể hành nghề được Ví dụ như nghề điện, lái xe, nghề sửa chữa ô tô - xe máy
* Phân loại nghề theo diện chuyên môn và diện hoạt động của nghề
- Nghề diện hẹp: Là nghề chuyên môn sâu và hẹp về khả năng hoạt động của người hành nghề Ví dụ: Nghề hàn công nghệ cao, nghề trồng cà phê
- Nghề diện rộng: Là nghề kết hợp hai hay nhiều nghề khác nhau có chung hoặc không chung cơ sở kỹ thụât Phạm vi hoạt động nghề rộng như nghề cắt gọt kim loại là sự kết hợp các nghề tiện, phay, bào, rèn Nghề phục vụ khách sạn là sự kết hợp các nghề phục vụ bàn, buồng, chiêu đãi viên, đón tiếp
Như vậy, tương ứng với hai loại nghề trên sẽ có công nhân diện hẹp và công nhân diện rộng Xu thế phát triển công nhân diện rộng là phù hợp với tiến bộ xã hội và sự đa năng trong hoạt động nghề tương lai
* Phân loại nghề theo đối tượng lao động
Phân loại nghề lấy đối tượng lao động làm dấu hiệu phân loại nghề được E A Klimov chia thành 5 nhóm nghề chính [15]
Trang 19Nhóm nghề Đối tượng lao động chủ yếu Ví dụ về các nghề
Thợ rèn, nguội, tiện, thợ xây, thợ máy, lái xe, lái máy xúc Người
-
người
Con người, nhóm tập thể Bán hàng, y tá, điều dưỡng
viên, hộ lý, thư ký Người
Trang 20- Nhóm nghề số 2: mang tính chất giao tiếp về trí tuệ, trong đó có giao tiếp kiểu bồi dưỡng trí thức cho người khác gồm các nghề hoạt động quản lý kinh tế, nghề dạy học, các nhà giáo dục, các cán bộ, nhân viên làm công tác
kỹ thuật trong các ngành công nghiệp, xây dựng giao thông Các cán bộ nhân viên làm việc trong ngành pháp lý, văn hóa, kinh tế, nhà báo luật sư, nhà văn, dịch thuật, bác sỹ, người làm nghề tự do
- Nhóm nghề số 3: bao gồm hoạt động trong lĩnh vực khoa học, kỹ thuật Gồm nghề nghiên cứu thử nghiệm, nhà quản lý, chỉ đạo, các bộ môn khoa học kỹ thuật và khoa học xã hội
Có thể gộp lại nhóm nghề số 2 và nhóm nghề số 3 mang tên nhóm nghề
về hoạt động trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật
- Nhóm nghề thứ 4: mang tính chất thực hành về kỹ thuật và điều khiển các cơ cấu trong ngành điện cơ Bao gồm:
+ Cán bộ, nhân viên làm nhiệm vụ chế tạo sản xuất trong các ngành kỹ thuật công nghiệp, nông nghiệp
+ Các cán bộ, nhân viên theo dõi, điều khiển hệ thống cơ cấu hoạt động của các cơ sở nghiên cứu, sản xuất, điều khiển từ xa, điều khiển các phương tiện giao thông vận tải để chuyên chở người thiết bị
- Nhóm nghề thứ 5: mang tính chất tư duy trừu tượng và lao động sáng tạo bao gồm các nghề và chuyên môn trong sáng tác, mỹ thuật, nghệ thuật,
mỹ thuật ứng dụng, kiến trúc sư trong lĩnh vực triết học, thần học
- Nhóm nghề thứ 6: lao động có tính chất đơn điệu, nhưng hoạt động sản xuất mang lại kết quả cụ thể Bao gồm các nhóm nghề như công nhân thi công các công trình xây dựng, các công trình về giao thông vận tải, công nhân làm việc trong các dây chuyền sản xuất Công nhân điều khiển các phương tiện bốc dỡ, nâng hạ
- Nhóm nghề thứ 7: sử dụng các thiết bị, máy móc gia công, chế biến các nguyên vật liệu Đặc điểm các sản phẩm thuộc những nhóm nghề này thường phải tuân theo tiêu chuẩn quốc gia hoặc tiêu chuẩn của ngành Bao
Trang 21gồm các nhóm nghề gia công, chế tạo các sản phẩm bằng các vật liệu khác nhau trên các thiết bị máy móc chuyên dùng Chất lượng sản phẩm được kiểm tra, nghiệm thu chặt chẽ
- Nhóm nghề thứ 8: thủ công bao gồm các chuyên môn lắp ráp các chi tiết nhỏ (trong các lĩnh vực cơ điện, điện tử, sinh học ) chế tạo các sản phẩm
về mỹ nghệ bằng các loại vật liệu đa dạng khác nhau [26]
* Ngoài ra còn có cách phân loại nghề theo từ điển nghề của Mỹ
- Căn cứ vào chức năng có 3 loại sau:
-Loại thứ nhất: Chức năng xử lý số liệu (tổng hợp, phối hợp, phân tích,
sưu tập tính toán, ghi chép, so sánh đọc đơn giản, không xử lý số liệu)
- Loại thứ hai: Chức năng quan hệ tiếp xúc (huấn luyện, trao đổi, hướng dẫn, quan sát, giải trí, thuyết phục, ra lệnh, phục tùng, không có quan hệ tiếp xúc)
- Loại thứ ba: Chức năng quan hệ với công cụ và đối tượng lao động (lắp đặt, hiệu chỉnh, sử dụng dụng cụ chính xác, kiểm tra thao tác sản xuất, điều khiển các phương tiện truyền tải, thao tác sản xuất, điều chỉnh máy, không sử dụng thiết bị) [27]
* Căn cứ vào tính chất công việc và đặc điểm của hoạt động sản xuất
có 9 nhóm nghề như sau:
- Nghề giao tiếp bằng trí tuệ
- Các nghề văn phòng và giao dịch thương mại
Trang 22tôi cho rằng cách phân loại của E AKlimov phù hợp với mục đích nghiên cứu của mình, vì vậy chúng tôi đã sử dụng cách phân loại các nghề căn cứ vào đối tượng lao động làm dấu
1.2.1.4 Các con đường hình thành nghề nghiệp hiện nay
Căn cứ vào nguồn tiếp nhận các tri thức về nghề Chúng tôi chia các con đường nhận thức về nghề nghiệp của học sinh thành 2 loại:
từ các phương tiện thông tin và từ chính sự tìm kiếm của hứng thú, được học sinh tiếp thu một cách tự phát Những tri thức này có thể ảnh hưởng đến quá trình chọn nghề của học sinh theo hai chiều hướng: tích cực hoặc tiêu cực Nếu học sinh được cung cấp những tri thức đầy đủ, sâu sắc về nghề từ các nguồn trên thì bản thân học sinh sẽ có những hiểu biết đúng về nghề và ngược lại nếu xuất phát từ sự am hiểu một nghề mà chuyển hiểu biết đó sang nghề khác thì sẽ tạo ra cho học sinh những kiến thức lệch lạc về nghề và dẫn tới sự lựa chọn sai lầm Trước đây việc nhận thức nghề và theo học nghề thường xuất phát từ con đường này Nhưng xã hội càng phát triển thì nhận thức nghề cần có hệ thống, mang tính tự giác cao
*Nhận thức nghề tự giác, có hệ thống
Đó là những tri thức lựa chọn thu nhận được trong quá trình học tập ở trường và khi tham gia sinh hoạt ở trung tâm hướng nghiệp, trung tâm tư vấn nghề một cách tự giác và có chủ định
Trong khi học tập ở nhà trường, các môn học chính là nguồn thông tin rất lớn giúp cho học sinh hiểu biết về nghề Các tri thức về lịch sử phát sinh, các tri thức về lĩnh vực khoa học sẽ giúp cho học sinh hiểu được những con
Trang 23đường dẫn tới nghề nghiệp, thái độ đối với nghề nghiệp tương lai, những yêu cầu của nghề nghiệp đang đặt ra trước mắt những người lao động Từ đó học sinh sẽ có quan niệm đúng về nghề, tức là có được biểu tượng về công việc
mà các em đang hướng vào
Chẳng hạn khi học một công thức toán, ngoài việc chứng minh công thức và đưa ra những bài tập cần thiết, thầy giáo còn giới thiệu thêm trong các ngành sản xuất, công thức này được sử dụng như thế nào Từ đó giúp học sinh hiểu được nội dung chuẩn bị kiến thức cho nghề nghiệp tương lai, có được hình ảnh về nghề nghiệp ngay ở từng môn học
Giáo dục hướng nghiệp, tư vấn nghề giữ vị trí quan trọng trong quá trình truyền đạt cho học sinh biết về các ngành nghề cần phát triển và những nơi học sinh có thể đến học nghề hoặc làm việc sau khi ra trường Đưa ra những lời khuyên để giúp các em đánh giá đúng những phẩm chất, năng lực của mình đối chiếu với những yêu cầu do nghề đặt ra đối với người lao động
Trong đề tài nghiên cứu này, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu dự định của học sinh lớp 12 với việc chọn các nghề thực hành học tại các trường dạy
nghề Vậy nghề thực hành được hiểu là: nghề được đào tạo coi trọng tính
thực hành về kỹ thuật và công nghệ, đòi hỏi người lao động phải có kiến thức
và kỹ năng cần thiết, phù hợp để làm được những công việc phức tạp ở mức
độ nhất định, nhất là mức độ phức tạp về kỹ thuật và công nghệ, đồng thời có
Trang 24khả năng thích ứng với sự biến đổi nhanh chóng của kỹ thuật và công nghệ
trong thực tế sản xuất kinh doanh [6]
Theo thống kê của Tổng cục dạy nghề - Bộ Lao động - Thương binh và
Xã hội năm 2008 hiện nay có khoảng 200 nghề và nếu như xếp theo nhóm nghề (như cách phân loại của A Klimov) chúng thuộc 4 nhóm đầu, trong đó
nhóm nghề thợ và người - kỹ thuật chiếm tỷ lệ cao nhất Nếu phân loại theo
yêu cầu của nghề thì những nghề thực hành là những nghề thuộc nhóm thứ hai là nhóm thợ (công nhân) đòi hỏi người làm nghề này phải có yêu cầu như:
có tác phong công nghiệp, tư duy, khéo tay, sự cẩn thận, sức khỏe tốt Tuy nhiên bên cạnh đó có những nghề thực hành nhưng không phải thợ ví dụ: nghề kế toán, chế biến món ăn, pha chế đồ uống, nghề bar, nghề thiết kế đồ
họa, ý tá, dược tá [21]
Hiện nay các trường nghề chủ yếu đào tạo những nghề thuộc nhóm thợ (công nhân) như: thợ rèn, thợ xây, thợ sửa chữa ô tô, cấp thoát nước, hàn, điện, lái xe, lái máy xúc cho đến các nghề thuộc nhóm khác như: hướng dẫn viên du lịch, chế biến món ăn, nghiệp vụ nhà hàng, lưu trú, điều dưỡng thuộc nhóm tiếp xúc con người; hay nghề kế toán, văn thư lưu trữ thuộc nghề đặc biệt (dấu hiệu, con số) Có thể nói nhu cầu thị trường như thế nào thì các trường nghề đều có những loại hình đào tạo các nghề đáp ứng nhu cầu của thị trường [21]
Có nhiều loại hình đào tạo nghề: các cơ sở đào tạo nghề của nhà nước, loại hình đào tạo nghề của nhà nước phối hợp với tư nhân, các trường dạy
nghề của tư nhân, liên doanh, các doanh nghiệp Nếu các loại hình đào tạo
nghề theo tính khoa học, hàn lâm chú trọng vào lý thuyết và phát triển tư duy cho sinh viên thì các trường dạy nghề chú trọng đến đào tạo thực hành, cung cấp cho các em các kiến thức và thực tế đi vào sản xuất các em học sinh, sinh viên tốt nghiệp các trường nghề có thể trở thành những công nhân có tay nghề, trực tiếp tự tạo việc làm hoặc đi vào sản xuất ngay, không gây lãng phí cho xã hội [9]
Trang 25Một xã hội muốn tốn tại cần phải có đội ngũ lao động trực tiếp sản xuất đông đảo, tay nghề cao, sản xuất ra các sản phẩm đạt chất lượng theo yêu cầu
Vì thế với đất nước đang phát triển như ở nước ta, số người trong độ tuổi lao động chiểm tỷ lệ lớn nếu như không có sự phân luồng, định hướng của nhà nước đa phần số lượng học sinh tốt nghiệp THPT thường lựa chọn thi vào đại học thay vì học nghề, như vậy mới lâm vào cảnh thừa thấy thiếu thợ như hiện nay trong cơ cấu lao động ở nước ta
1.2.3 Dự định chọn nghề
Mỗi nghề nghiệp trong xã hội đều có những yêu cầu nhất định về năng lực và phẩm chất tâm lý đối với người lao động Mỗi nghề đều lao động theo những hình thái nhất định tạo ra những sản phẩm riêng, đều
có một vị trí, một tương lai phát triển nhất định trong tiến trình phát triển lịch sử xã hội loài người
Cá nhân là một con người cụ thể sống trong những mối quan hệ xã hội nhất định, ghóp phần thúc đẩy xã hội đó là quyền lợi, là trách nhiệm của mỗi người Trong bài luận “Những suy nghĩ của một thanh niên trong khi chọn nghề” Mác đã viết: “Cân nhắc cẩn thận vấn đề này, đó là trách nhiệm đầu tiên của một thanh niên bước vào đời và không muốn coi những việc quan trọng nhất của mình là ngẫu nhiên” [18]
Nhà văn hóa nổi tiếng của Việt Nam – Bác sĩ, nhà tâm lý học Nguyễn Khắc Viện thì cho rằng: “Chọn nghề không nên chỉ căn cứ vào sở thích hay nguyện vọng Sở thích (dù là thích đến tột đỉnh) cũng chưa hẳn là sở trường đích thực Mặt khác, nếu có sở thích mà chỉ nuôi dưỡng nó bằng sự đam mê chứ không bằng sự dày công luyện tập và chí thú học hỏi, thì sớm muộn sở thích đó cũng sẽ bị giã từ” [28]
Vì thế việc lựa chọn nghề nghiệp là vấn đề rất quan trọng của một đời người, trước khi đi đến những quyết định chọn nghề thì mỗi học sinh luôn có những mong muốn, những mong muốn có ý thức ấy khi trở thành có ý thức
và tạo thành hành động phù hợp cái đã vạch ra và hướng đến chính là dự định của mỗi con người
Trang 26Các nhà tâm lý học cho rằng: “Dự định là mong muốn có ý thức hoàn
thành hành động phù hợp với chương trình đã vạch ra, hướng tới việc đạt được kết quả đã định”
Theo chúng tôi: dự định chọn nghề là mong muốn có ý thức hướng tới quyết định lựa chọn nghề phù hợp với ý định cá nhân
1.2.4 Học sinh và những đặc điểm tâm sinh lý của học sinh lớp 12
Học sinh lớp 12 ở các trường THPT hiện nay ở độ tuổi 17-18 tuổi, các
em đang ở vào thời kỳ đầu tuổi thanh niên hay còn gọi là thanh niên mới lớn Đây là thời kỳ có sự thay đổi về cả yếu tố sinh lý và tâm lý ở các em
* Sự biến đổi về sinh lý
Ở tuổi này các em đạt được sự trưởng thành về mặt thể lực: sự gia tăng
về chiều cao và cân nặng đặc biệt ở các em nam Sự phát triển của hệ thần kinh có những thay đổi quan trọng do cấu trúc bên trong của não phức tạp và các chức năng của não phát triển Đây là thời kỳ quá trình nhận thức diễn ra mạnh mẽ, do quá trình tri giác đã đạt đến mức cao, quá trình ghi nhớ chủ định cũng phát triển, hơn nữa đây là thời gian cuối của những năm học cấp 3 vì thế hoạt động học tập đang đi vào giai đoạn kết thúc, động cơ học tập thời gian này của các em đang được xác định một cách cụ thể Các em học sinh lớp 12
có khả năng tư duy lý luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập sáng tạo trong những đối tượng quen biết đã được học ở trường Tư duy các em chặt chẽ hơn, có căn cứ và nhất quán hơn Đồng thời tính phê phán của tư duy cũng phát triển Những đặc điểm đó tạo điều kiện cho học sinh lớn thực hiện các thao tác tư duy toán học phức tạp, phân tích nội dung cơ bản của khái niệm trừu tượng và nắm được mối quan hệ nhân quả trong tự nhiên và xã hội Đây
là cơ sở hình thành thế giới quan phong phú ở các em [12]
Tuy nhiên hệ thần kinh hoạt động mạnh nhưng quá trình hưng phấn và
ức chế chưa cân bằng, do đó thời kỳ này các em có những suy nghĩ sôi nổi, bồng bột, thích khám phá những cái mới và tò mò, chưa chú ý phát huy hết năng lực độc lập suy nghĩ của bản thân, còn kết luận vội vàng theo cảm tính
Trang 27* Sự phát triển về tâm lý
Đặc điểm nổi bật trong sự phát triển nhân cách của các em học sinh lớp
12 đó là sự phát triển của tự ý thức Đây là thời kỳ khả năng tự ý thức diễn ra mạnh mẽ, sôi nổi và có tính chất đặc thù riêng Các em có nhu cầu tìm hiểu, đánh giá và quyết định các công việc liên quan đến bản thân mình Do khả năng tự ý thức phát triển mà các em có thể tự đánh giá mọi mặt cuộc sống một cách sâu sắc hơn so với các em tuổi thiếu niên Các em thường có xu hướng cường điệu trong khi tự đánh giá Có thể các em đánh giá thấp cái tích cực, tập trung phê phán cái tiêu cực; hoặc là đánh giá quá cao nhân cách của mình - tỏ ra tự cao, tự coi thường người khác Do đó có thể dẫn đến những sai lầm khi tự đánh giá và quyết định một vấn đề nào đó ở các em Mặt khác ở tuổi này sự ảnh hưởng của bạn bè tới những quyết định của các em rất lớn, các em tuổi này thường thích khám phá những điều mới mẻ, có xu hướng làm theo bạn bè và đám đông [12]
Hoạt động lựa chọn nghề nghiệp đã trở thành công việc khẩn khiết của học sinh lớp 12 Các em hiểu rằng cuộc sống tương lai phụ thuộc vào chỗ, mình có biết lựa chọn nghề nghiệp một cách đúng đắn hay không Dù có vô tâm đến đâu, thì thanh niên mới cũng phải quan tâm, có suy nghĩ trong khi chọn nghề Việc quyết định một nghề nào đó ở nhiều em đã có căn cứ Nhiều
em biết so sánh đặc điểm riêng về thể chất, tâm lý, khả năng của mình với yêu cầu của nghề nghiệp, dù sự hiểu biết của các em về yêu cầu của nghề nghiệp
là chưa đầy đủ Hiện nay đa phần các em học sinh định hướng một cách phiến diện vào việc học tập ở đại học Đại đa số các em hướng vào các trường đại học hơn là học nghề Khi dự định các em không thành công thì sẽ ảnh hưởng đến tương lai của các em Do vậy ở tuổi này các em cần được tư vấn, định hướng một cách phù hợp về nghề nghiệp, có như vậy các em mới có được những quyết định đúng đắn cho tương lai của mình
Trang 281.3 Những vấn đề liên quan tới dự định chọn nghề của học sinh lớp 12
Lựa chọn nghề là “Sự thử nghiệm quyết định sẵn sàng đối với một hoạt
động có ích cho xã hội”
Bản chất của lựa chọn nghề là một quá trình tìm hiểu, đối chiếu giữa những đặc điểm về thể chất và tâm lý của cá nhân với những yêu cầu của hoạt động xã hội, trên cơ sở hình dung ra trước hoạt động lao động của cá nhân trong hiện tại và tương lai Kể từ đó cá nhân nhận biết nghề trong hoàn cảnh lựa chọn, con đường lao động, tìm thấy câu trả lời về vấn đề đặt ra với họ Nhưng thường về bản chất câu trả lời của họ không được ý thức một cách rõ ràng, vì vậy ở nhiều người hay có trạng thái lo lắng, tìm kiếm, thiếu tin tưởng, đôi khi có thể xảy ra hoảng loạn Một người nào đó có thể có sự phù hợp đối với nghề nghiệp, xác định được những yêu cầu của xã hội đối với nghề, dù trong thực tế họ không ý thức đầy đủ để giải quyết vấn đề của mình
Trong một số những trường hợp lựa chọn, xác định nghề nghiệp chưa được ý thức một cách đầy đủ, cũng có thể lựa chọn tốt trên cơ sở của quyết định và kinh nghiệm Nhưng trong thực tế không phải ai cũng lựa chọn nghề theo ý muốn, hiện tượng này rất phức tạp ngay cả khi có sự tham khảo những kinh nghiệm của gia đình, của bạn bè và của những người đi trước
Lựa chọn nghề của học sinh được thực hiện trên cơ sở các mối quan hệ
xã hội - nghề nghiệp - cá nhân Đặc trưng về mặt chất lượng của mỗi nghề phụ thuộc vào sự phát triển tương ứng của xã hội, của điều kiện tại chỗ, ảnh
Trang 29hưởng văn hóa của các nước khác Vì vậy cần giới thiệu cho học sinh những điều kiện tương ứng này, trong trường hợp ngược lại sẽ xảy ra sự ngăn cách mối quan hệ giữa xã hội và nghề
Hoạt động nghề nghiệp là một quá trình xã hội Khi lựa chọn nghề đặc điểm đó được biểu hiện rất rõ rệt Đôi khi học sinh có thể lựa chọn nghề không trên cơ sở nhu cầu và sự phân công xã hội Vì vậy cần có sự giúp đỡ của các nhà chuyên môn để học sinh kết hợp nhu cầu xã hội với hứng thú, nguyện vọng, năng lực của mình Yếu tố tiếp theo của sự phát triển những mối quan hệ này là sự phụ thuộc giữa cá nhân từ đặc trưng và những đặc điểm của nghề Quan hệ này biểu hiện tuỳ theo mức độ phù hợp giữa nhận thức, khả năng của cá nhân với giá trị và yêu cầu thực tế, khách quan của nghề Có nhiều học sinh thích theo đuổi một nghề nào đó nhưng lại phải thay đổi quyết định vì những điều kiện bản thân hoặc ngược lại
A E Gôlômstoc cho rằng: “Lựa chọn nghề có ý thức được dựa trên sự đối chiếu hiểu biết về lao động được lựa chọn với hiểu biết về chính bản thân mình Học sinh cần phải được chuẩn bị về mối quan hệ “cá nhân - nghề nghiệp”, chúng cần biết yêu cầu của hoạt động nghề nghiệp được đưa ra với người cán bộ và biết đánh giá đúng đắn kết quả hoạt động của mình cùng với tầm hiểu biết chính xác để thực hiện yêu cầu của nghề.” [23]
Quá trình quyết định lựa chọn nghề đồng thời là sự lựa chọn những khả năng có thể thực hiện được Quá trình này luôn luôn được bắt đầu từ sự ý thức
về nghề và sự tiếp nhận quyết định của học sinh trong mối quan hệ trực tiếp cộng với sự phát triển tự giác Đa số học sinh khi quyết định lựa chọn nghề, những kiến thức mà các em tiếp thu được trong quá trình học tập chưa có ý nghĩa lớn, kể cả những kiến thức và yêu cầu của nghề, yêu cầu của thị trường lao động hiện nay Do vậy, trong quá trình lựa chọn nghề, học sinh cần hiểu
về những nghề cụ thể trong xã hội và địa phương, những đặc điểm cơ bản về nghề mà các em lựa chọn, những đòi hỏi của nghề, kế hoạch kinh tế đối với
sự phát triển xã hội
Trang 30E A Klimov cho rằng: “Khi xem xét vấn đề lựa chọn nghề cần chú ý tới hai mặt gắn bó với nhau: Đó là đánh giá giá trị của nghề bằng chính học lực và những tác động khách quan ảnh hưởng tới sự chọn nghề” [15]
1.3.2 Nhận thức nghề và dự định chọn nghề
1.3.2.1 Khái niệm nhận thức nghề
Nhận thức là cơ sở của hoạt động và hành động, nhận thức là mặt cấu thành nên tâm lý con người Khi có nhận thức con người mới thu được những tri thức chân thực về thế giới khách quan Có tri thức con người có thể tiến hành hoạt động cải tạo thế giới có kết quả Dó đó chúng ta chỉ có dự định nảy sinh trên cở sở nhất định của nhận thức Vì thế khi nghiên cứu dự định chọn nghề chúng ta phải bàn đến tầm quan trọng của nhận thức nghề
Có thể nói nhận thức nghề, tình cảm nghề và hành động chọn nghề là
ba thành phần quan trọng tạo nên kết quả chọn nghề của học sinh Xuất phát
từ nhận thức nghề, có những tri thức về nghề, về những đòi hỏi khách quan của nghề với người làm nghề để có những đối chiếu xem cá nhân có phù hợp với nghề đó hay không Không phải học sinh nào cũng có những hiểu biết đầy
đủ về nghề để có quyết định chọn nghề phù hợp với sự hiểu biết đó
A Klimov đã chỉ ra 10 nguyên nhân dẫn đến sai lầm trong chọn nghề thì
có 3 nguyên nhân về nhận thức nghề Đó là không biết phân tích những năng lực
và động cơ của mình, không hiểu hoặc không đánh giá đúng mức những đặc điểm về thể lực, những đặc điểm cơ bản của mình khi chọn nghề, không hiểu những công việc cơ bản và trình độ của nó trong lúc chọn nghề [22, 23 ]
Tác giả Phạm Tất Dong đưa ra 8 nguyên nhân dẫn đến sự lựa chọn nghề sai lầm trong đó cũng đề cập 3 nguyên nhân về nhận thức nghề: 1 Bị hấp dẫn bởi vẻ bề ngoài của nghề, thiếu hiểu biết về nội dung lao động của nghề đó 2 Không đánh giá đúng năng lực lao động của bản thân nên lúng túng khi chọn nghề 3 Thiếu sự hiểu biết về thể lực và sức khỏe của bản thân, lại không đầy đủ thông tin về những chống chỉ định trong các nghề
Trang 31Tác giả Nguyễn Quý Hòa cũng nhận xét: Đa số học sinh tốt nghiệp PTTH trong khi quyết định lựa chọn ngành này hay ngành khác thường chưa
có những hiểu biết về cơ cầu các ngành học Học sinh chưa có được những thông tin cần thiết về kế hoạch tuyển sinh, về nhu cầu cán bộ các ngành và các vùng trong đất nước, cũng như không hiểu được đầy đủ các yêu cầu cụ thể, rõ ràng
Qua ý kiến của các tác giả cho thấy nhận thức nghề nghiệp có ảnh hưởng quan trọng đến lựa chọn nghề Nhận thức về nghề là cơ sở, là kim nam cho hành động chọn nghề Nhận thức về nghề càng sâu sắc và chín chắn bao nhiêu sẽ càng làm cho người ta khi đã chọn nghề trân trọng và tha thiết yêu nghề mình chọn bấy nhiêu Chính nhận thức sâu sắc đầy đủ về nghề sẽ hình thành nên tình cảm về nghề, sẽ là tiêu đề là điều kiện cơ bản giúp cho cá nhân sáng tạo trong nghề, đóng ghóp ngày càng nhiều cho xã hội Chọn nghề mà hiểu biết quá ít, thậm chí không hiểu biết một chút gì về nghề sẽ trở thành cản trở lớn cho hoạt động của cá nhân, tạo nên sự bi quan miễn cưỡng trong lao động, day dứt trong cuộc sống, nhiều khi dẫn đến tình trạng bỏ nghề vì không hoạt động có hiệu quả trong nghề mình định chọn
Như vậy nhận thức đúng đắn, đầy đủ và sâu sắc về nghề nghiệp sẽ có tác dụng thúc đẩy hành động chọn nghề của học sinh phù hợp với nguyện vọng, khả năng của mình giúp cho học sinh có nhu cầu nâng cao, hiểu biết về nghề ngày một phong phú hơn, sâu sắc hơn, hình thành nên tình cảm bền vững với nghề, tạo điều kiện để con người cống hiến hết sức mình cho lợi ích
xã hội và lợi ích bản thân
Trong sơ đồ “tam giác hướng nghiệp” của giáo sư K.K Platonop đã cho rằng công tác hướng nghiệp phải làm cho học sinh nhận thức rõ được 3 mặt sau: những yêu cầu đặc điểm của nghề nghiệp, những nhu cầu của xã hội đối với các ngành nghề, những đặc điểm nhân cách đặc biệt là năng lực của học sinh phù hợp với những yêu cầu của nghề
Trang 32Tuyên truyền nghề
Giáo dục nghề
Các nghề và yêu cầu
Tư vấn nghề Nhân cách và năng lực cá nhân Tuyển chọn
nghề nghiệp
Sơ đồ tam giác“hướng nghiệp và các hình thức hướng nghiệp
(K K Platơnop) [22, tr.80]
Nhìn vào tam giác hướng nghiệp này chúng ta có thể hiểu: Nhận thức
nghề nghiệp là quá trình phản ánh các đặc trưng, cơ bản của nghề, những yêu cầu xã hội đối với nghề nghiệp và những yêu cầu đòi hỏi về mặt sinh lý tâm lý đối với người làm nghề đó và cũng là sự phản ánh quá trình lao động trong lĩnh vực nghề nghiệp nhất định
Chúng tôi sẽ đi sâu nghiên cứu nhận thức nghề nghiệp của học sinh trong diện nghiên cứu trên các khía cạnh sau đây:
1.3.2.2 Nhận thức về những nhu cầu của xã hội đối với nghề nghiệp (Nhận thức về nhu cầu của thị trường lao động hiện nay)
Trong cơ chế thị trường hiện nay lao động được coi là một thứ hàng hóa Giá trị hàng hóa “sức lao động” phụ thuộc vào trình độ, khả năng về mọi mặt của con người được đào tạo Hiện nay còn tồn tại rất ít một số ngành có
sự phân công công tác, vì vậy người lao động cần tìm hiểu thị trường lao động, biết được nhu cầu thị trường lao động để từ đó có thể tìm một nghề phù hợp Vì khi sức lao động là thứ hàng hóa thì có nghĩa giữa cung và cầu cần có
Trang 33sự hài hòa với nhau, cung rất nhiều trong khi cầu không có thì sẽ dẫn đến thất nghiệp lan tràn, ngược lại nếu cầu nhiều mà cung không đủ dẫn đến thiếu trầm trọng nguồn nhân lực trong các ngành kinh tế
Thị trường lao động hiện nay cần nhiều lao động có chất lượng cao về khoa học kỹ thuật, đặc biệt là công nhân có tay nghề, giỏi ngoại ngữ, nhanh nhẹn, có khả năng thích ứng môi trường làm việc mới Giai đoạn gần đây nhà nước mở ra hàng loạt các sàn giao dịch việc làm, nhằm giúp cho các nhà tuyển dụng dễ dàng tiếp cận với người lao động Nhưng có một thực tế hiện nay là lao động là công nhân kỹ thuật có tay nghề thiếu trầm trọng trong khi
đa phần là lao động có bằng đại học nhưng lại không có khả năng làm được việc do đào tạo nặng về lý thuyết Vì thế các nhà tuyển dụng rất khó khăn khi tìm được nhân công phù hợp với công ty mình, hoặc có tìm được rất khó khăn hoặc mất nhiều chi phí cho đào tạo lại [6]
Vì thế cùng sự phát triển kinh tế, các ngành nghề được mở rộng dẫn đến thị trường lao động rất năng động, học sinh cần hiểu về các nghề trong xã hội, dự báo phát triển cũng như biến động các nghề trong tương lai Có nghĩa
là cần phải nắm được nhu cầu của thị trường lao động hiện nay cần gì? Có như vậy mới có thể kịp thời có những dự định lựa chọn nghề nghiệp cho phù hợp với bản thân và xã hội Có như vậy mới không lâm vào tình trạng thất nghiệp, hay phải di chuyển các ngành nghề khác gây lãng phí cho bản thân, gia đình và xã hội
1.3.2.3 Nhận thức về thế giới nghề nghiệp và những yêu cầu đặc trưng của nghề đối với người chọn nghề
Thế giới nghề nghiệp là khách thể nhận thức của học sinh Trước đây các em cho rằng chỉ khi lựa chọn các nghề thi tại các trường đại học mới cần
có sự tìm hiểu phù hợp năng lực học tập để không bị trượt Các thông tin các
em thường quan tâm như: tỷ lệ chọi, điểm đầu vào từng nghề còn các thông tin về việc học nghề đó ra làm gì, nghề đó có yêu cầu gì không? Có các cơ sở đào tạo nào các em chưa quan tâm nhiều lắm Nhưng hiện nay không chỉ thi
Trang 34vào các trường đại học cần thiết tìm hiểu các thông tin đó mà ngay cả các trường nghề cũng yêu cầu các em học sinh quan tâm, tìm hiểu các thông tin về yêu cầu đặc trưng của các nghề Hiện nay thế giới nghề nghiệp là rất rộng lớn, các em cần có những thông tin nhất định về nghề mình định học, thời gian đào tạo, những yêu cầu sơ đẳng của nghề đó như: về điều kiện sức khỏe, về tư duy, về những tri thức ban đầu về nghề nghiệp, những chống chỉ định trong nghề
Những yêu cầu của nghề đối với người làm nghề đó bao gồm nhiều mặt, trong phạm vi nghiên cứu của đề tài chúng tôi đề cập đến một số mặt cơ bản mà một em khi lựa chọn ngành nghề theo học cần nhận thức được đó là:
- Học sinh cần biết về những tri thức và kỹ năng cơ sở để học nghề đó Nếu không có vốn kiến thức ban đầu thì học sinh không thể có khả năng tiếp thu Chẳng hạn một người làm nghề chế biến món ăn thì cần có sự hiểu biết nhất định về kiến thức hóa học trong quá trình chế biến các món ăn không bị vi phạm Có sự hiểu biết nhất đinh về toán học (ít nhất là các phép toán cơ sở) để có thể lên thực đơn, tính toán giá thành sản phẩm Họ phải là người có sự nhạy cảm về mùi vị, có độ khướu giác tinh nhạy, có đôi bàn tay khéo léo, đôi khi có sự sáng tạo và tỷ mỷ, cẩn thận Hay một học sinh học nghề điện công nghiệp: biết cách sửa chữa, tháo lắp, vận hành hệ thống điện cần có kiến thức nhất định về lý, về mạch điện, yêu cầu nghề cần có sự cẩn thận, tỷ mỷ để an toàn trong sản xuất
- Nhận thức về các yêu cầu của nghề thể hiện ở chỗ học sinh phải biết được những phương tiện cần được sử dụng khi hoạt động trong nghề Các em có thể chưa cần hiểu những bộ phận chi tiết của phương tiện cần sử dụng trong nghề mà chỉ hiểu những nét đặc thù cơ bản nhất về nghề đó: chẳng hạn nghề hàn là nghề các em thường xuyên tiếp xúc với các công cụ máy móc, phương tiện làm việc ở đây có thể
là các que hàn, máy hàn Các em cần hiểu biết nhất định về các công việc chủ yếu của một nghề, có thể mô tả được sơ qua về nghề mình sắp theo học Như công việc một người thợ hàn, có rất nhiều kiểu hàn như: hàn TIG-MAG, hàn dây, hàn LEO và công việc chủ yếu của người thợ hàn là: đọc bản vẽ, chuẩn bị nhiên liệu, chuẩn
bị vật liệu, tiến hành các bước hàn
Trang 35- Một yêu cầu nữa trong nhận thức nghề là học sinh cần có những hiểu biết về độc hại nghề nghiệp, những yếu tố nguy hiểm khi làm việc trong nghề, tức là những mặt trái của nghề Nhờ có những hiểu biết đó học sinh tránh được những yếu tố không tốt có hại cho bản thân mình Chẳng hạn một người
bị bệnh tim, hay bệnh run tay thì không thể làm nghề hàn được
Khi nhận thức được những mặt trái của nghề thì người học sinh có thể khắc phục được tình trạng chán nghề, dẫn đến bỏ nghề Ví dụ, khi học sinh nào đó quyết định chọn nghề thăm dò địa chất nhưng chưa hiểu được công việc của nghề này phải đi suốt quanh năm ngày tháng ở những nơi heo hút, rừng thiêng, nước độc, thiếu thốn thì các em dễ tỏ ra chán nản và bỏ nghề
- Ngoài những yêu cầu mang tính đặc trưng cho mỗi nghề, thì học sinh phải nhận thức được tính thiết thực của nghề đối với xã hội Các em học sinh cần nắm bắt được những thông tin kịp thời về nghề nghiệp phải được biết được nhu cầu của xã hội với nghề nghiệp mình dự định chọn, tương lai nghề
đó ra sao? Bên cạnh đó cũng cần tìm hiểu những giá trị kinh tế mà nghề mình
dự định lựa chọn: như mức thu nhập của nghề định chọn như thế nào? So sánh mức bình quân xã hội ra sao? Nếu như nghề đó tuy mình có yêu thích bao nhiêu nhưng khó xin việc, không đảm bảo về mặt kinh tế đem lại cuộc sống đảm bảo cho ta thì ta có nên lựa chọn nghề đó hay không?
1.3.2.4 Nhận thức về những đặc điểm cá nhân với nghề
Cùng với việc tìm hiểu thị trường lao động, những yêu cầu của nghề thì việc hiểu biết chính bản thân mình, những đặc điểm tâm sinh lý cá nhân sẽ giúp cho học sinh lựa chọn một nghề nào đó phù hợp
Việc tìm hiểu và đánh giá khách quan những thuộc tính và phẩm chất tâm sinh lý của mình là một vấn đề khó đối với học sinh Bởi vì một mặt học sinh thiếu những tri thức tâm lý để có thể giúp cho học sinh tự đánh giá, mặt khác học sinh theo thường lệ không được dạy kỹ năng đánh giá những phẩm chất nhân cách của mình phù hợp với yêu cầu hoạt động nghề Thường thường ở học sinh hiểu biết sơ đẳng về năng lực, năng khiếu, nét tính cách, khí chất của mình một
Trang 36cách vừa đủ Chúng không biết trong chừng mực các đặc điểm tâm sinh lý có thể ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động nghề nghiệp và càng khó khăn hơn khi giải quyết vấn đề này trong thái độ của chính mình
Trong các nghiên cứu cho thấy, thường học sinh đánh giá quá cao hay ngược lại đánh giá quá thấp khả năng của mình Đa số đánh giá quá cao các phẩm chất cá nhân của mình Như vậy học sinh cần nhận thức đúng về những đặc điểm tâm sinh lý của bản thân - Những đặc điểm có liên quan đến yêu cầu của nghề đối với người lao động Nhằm tránh tình trạng học sinh tốt nghiệp ra trường có thị lực kém hoặc năng lực cảm giác không tốt, sức khỏe thiếu lại học cá nghề đỏi hỏi có sức khoẻ như nghề lái xe, lái tàu
Tóm lại: nói đến nhận thức nghề nghiệp của học sinh phải đề cập đến
cả ba mặt trên không chỉ nhận thức đầy đủ mặt này mà không tìm hiểu, có những tri thức về các mặt còn lại, giữa các mặt có liên quan với nhau và bổ sung cho nhau tạo thành tính trọn vẹn của nhận thức nghề Khi học sinh đã có đầy đủ những tri thức về nghề dự định chọn thì ở học sinh sẽ hình thành cảm xúc về nghề, tìm thấy cái hay, cái đẹp của nghề, tạo ra sự lôi cuốn của nghề đối với bản thân và giúp cho học sinh lựa chọn nghề công nghệ thực hành mà không lựa chọn nghề khác
1.3.2.5 Các mức độ nhận thức nghề nghiệp
Theo các nhà nghiên cứu hiện nay có 3 mức độ nhận thức nghề nghiệp
- Mức độ 1: Người chọn nghề có nhận thức đầy đủ mục đích, nội dung đào tạo nghề một cách rõ ràng chính xác
+ Họ đánh giá được nhu cầu của thị trường lao động đối với nghề mình chọn ở mức độ nào thông qua vị trí của nghề trong xã hội, khả năng phát triển của nghề, giá trị kinh tế mà nghề đem lại
+ Hiểu đúng các yêu cầu của nghề đối với cá nhân cả mặt tốt cũng như mặt trái của nghề
+ Tự đánh giá được những phẩm chất cá nhân mà nghề yêu cầu cũng như bản thân đã có về tính cách, hứng thú, năng lực và sức khoẻ
Trang 37+ Có những biểu hiện nhận thức tốt về nghề như thường xuyên nâng cao tri thức về nghề qua những việc làm cụ thể: như việc học thêm, bồi dưỡng tri thức khoa học làm nền tảng tương lai
+ Có động cơ chọn nghề xuất phát từ những yếu tố tâm lý bên trong
Ở mức độ 1 này chúng ta thấy nhận thức lý tính đã chiếm số lượng lớn
+ Nhận thức được những khó khăn và thuận lợi của nghề nhưng không chi tiết và đầy đủ như mức độ 1
+ Biết đánh giá các phẩm chất cá nhân mà nghề yêu cầu và bản thân có + Có những việc làm để nâng cao nhận thức nghề nhưng không thường xuyên
+ Có thể giải thích được mình chọn nghề là vì cái gì?
- Mức độ 3 (thấp nhất): những người thuộc mức độ này không có hiểu biết gì về nghề định chọn, có thể là sai hoặc quá sơ sài Họ không biết mục đích nội dung nghề đào tạo cái gì? nghề có vị trí ra sao trong xã hội, họ không
có những hoạt động nâng cao nhận thức nghề nghiệp, động cơ chọn nghề của
họ chủ yếu do yếu tố bên ngoài thúc đẩy, họ cũng không thể đánh giá các phẩm chất cá nhân của mình với nghề
1.3.3 Thái độ nghề và dự định chọn nghề
Theo giáo sư, tiến sĩ tâm lý học E.A.climop trong hai nguyên nhân dẫn đến sự chọn nghề không chính xác ngoài nguyên nhân thuộc về nhận thức nghề thì thái độ cũng ảnh hưởng rất lớn tới việc chọn nghề của mỗi người Vì thế khi nghiên cứu dự định chọn nghề của học sinh lớp 12 chúng ta phải quan tâm tới thái độ của học sinh với nghề định chọn
Trang 38“Thái độ” là một thuật ngữ được sử dụng thường xuyên trong tâm lý học, tuy nhiên mỗi người khi đưa ra khái niệm thái độ lại có quan niệm khác nhau
Một số tác giả quan niệm “thái độ” là sự sẵn sàng, ổn định của cá nhân
để phản ứng với một tình huống nào đó Thái độ vốn có xu hướng rõ rệt hình thành quy luật nhất quán phương thức xử thế của mỗi cá nhân [31]
Một số tác giả khác lại cho rằng: “thái độ” là trạng thái thần kinh và tâm
lý sẵn sàng được tạo nên trên cơ sở kinh nghiệm, nó có ảnh hưởng và điều khiển năng động đến những khách thể và tính huống gắn liền với cá nhân đó
Dù có nhiều quan niệm khác nhau nhưng có thể hiểu: thái độ là trạng thái tâm lý của cá nhân trước một tình huống nào, thái độ có ảnh hưởng rất quan trọng tới phương thức xử thế của mỗi người
Như vậy có thể hiểu thái độ đối với nghề là: tâm lý chủ thể trước một nghề
nào đó, thái độ với nghề chi phối rất lớn tới việc chọn nghề của mỗi cá nhân
Từ nhận thức nghề mà hình thành thái độ với nghề, tạo sự lôi cuốn của nghề đối với cá nhân khiến cá nhân chọn nghề này mà không chọn nghề khác Thái độ với nghề của mỗi cá nhân thể hiện ở: nguyện vọng nghề, hứng thú chọn nghề, năng lực nghề và động cơ chọn nghề
1.3.3.1 Nguyện vọng nghề và dự định chọn nghề
Trong quá trình sống và hoạt động con người không chỉ sống với hiện tại, thỏa mãn với hiện tại mà luôn hướng tới tương lai, ai cũng mong muốn đón chờ ở tương lai tốt đẹp Nguyện vọng được hiểu như là hiện tượng nào đó trong hiện thực khách quan mà tương lai sẽ vươn tới được nhằm thỏa mãn một hay một số nhu cầu nào đó của một hay nhiều người
Như vậy, nguyện vọng được xem là hình ảnh về cuộc sống tương lai thôi thúc con người tích cực hoạt động để thực hiện nó nhằm thỏa mãn nhu cầu Mà nhu cầu theo bản chất của nó luôn hướng tới tương lai chứ không phải về quá khứ Nguyện vọng xuất hiện như là kết quả tương lai của hoạt động, nó vạch ra phương hướng cho hoạt động, thôi thúc hoạt động của con người, nó chính là đối tượng của nhu cầu
Trang 39Trong cuộc sống nguyện vọng con người có nhiều mức độ khác nhau tuỳ thuộc vào mức độ ý thức của cá nhân, cá nhân càng ý thức đầy đủ rõ ràng
về hình ảnh tương lai mà hình ảnh này lại được xây dựng dựa trên cơ sở hiện
thực thì khả năng thực hiện nguyện vọng càng lớn Nguyện vọng có được thực hiện hay không còn phải có những điều kiện khách quan và chủ quan nhất định Để nguyện vọng được thực hiện con người phải ý thức được đầy đủ những điều kiện này, đồng thời con người phải tích cực hoạt động
Nguyện vọng nghề là sự xác định vị trí xã hội mà cá nhân mong muốn
vươn tới trên cơ sở nhu cầu và hứng thú của mình Nguyện vọng nghề nghiệp
không chỉ liên quan với nhu cầu hưởng thụ của cá nhân mà còn chịu sự chi phối của nhiều yếu tố khác Ví dụ: Sự hiểu biết sâu sắc của cá nhân về nội dung, về vai trò và ý nghĩa của nghề nghiệp, yêu cầu của hoạt động nghề nghiệp đối với cá nhân, đối với xã hội Mặt khác, sự hiểu biết sâu sắc đầy đủ
và chi tiết về thế giới lao động và đặc thù nghề nghiệp tạo điều kiện giúp cho
cá nhân đối chiếu, phân tích, so sánh những tiêu chuẩn của xã hội, của nghề nghiệp với năng lực và nhu cầu hứng thú của bản thân, từ đó hình thành nên nguyện vọng nghề nghiệp phù hợp Mức độ nguyện vọng nghề nghiệp của học sinh cao hay thấp còn phụ thuộc vào cả hoàn cảnh cụ thể khi lựa chọn nghề, dư luận xã hội về ngành nghề, sự đãi ngộ về ngành nghề và trình độ phát triển trí tuệ của mỗi cá nhân
1.3.3.2 Hứng thú và dự định chọn nghề
E.M Chevlov cho rằng: “Hứng thú là động lực quan trọng nhất trong việc nắm vững những tri thức, mở rộng học vấn làm giàu nội dung của đời sống tâm lý con người Thiếu hứng thú, hoặc hứng thú mờ nhạt, cuộc sống của con người sẽ trở nên ảm đạm và nghèo nàn Đối với con người như vậy thể hiện đặc trưng nhất ở họ là sự buồn chán”
Hứng thú đối với nghề nghiệp thể hiện thái độ của con người đối với một hoặc một số nghề xác định, biểu hiện thái độ của con người muốn làm quen tìm hiểu những nghề đó, là động lực thúc đẩy người ta chọn nghề và là nguồn gốc cơ bản của lòng yêu nghề, niềm vui nghề nghiệp
Trang 40N C Krupxkaila trong bài: “Lựa chọn nghề đã viết: chỉ khi nào nghề nghiệp tạo cho nó tâm hồn, khi ở con người có hứng thú tới công việc nó đang làm, khi nó bị cuốn hút vào công việc - chỉ khi đó nó có thể nâng cao tối
đa xu hướng hoạt động của mình, không kể đến sự mệt mỏi
Hứng thú nghề được biểu hiện trong ý thức về giá trị của nghề và sự cuốn hút cảm xúc đối với người đó, được biểu hiện trong sự sự say mê đối với quá trình lao động và học tập nhằm hoàn thiện, nâng cao trình độ học vấn chung và tay nghề của mình Bởi vậy việc phát triển hứng thú nghề có ý nghĩa
xã hội lớn lao
Hứng thú với nghề này hay nghề khác được đặc trưng bởi sư hiểu biết bản chất dấu hiệu của nghề, chỉ khi đó hứng thú của con người mới trở nên kiên định Chính vì vậy quá trình hình thành hứng thú nghề gắn liền với việc tạo nên những điều kiện để học sinh làm quen với mặt bản chất của nghề (đặc trưng lao động, nội dung lao động, điều kiện lao động )
Thành phần cơ bản của sự phát triển hứng thú là tính tích cực có ý thức đối với nghề Do đó nghiên cứu hứng thú nghề còn là kết quả của sự hình thành nhân cách Song hứng thú không phải lúc nào cũng phát triển theo chiều hướng tốt Không ít học sinh không đủ tình yêu lao động, nhiều em còn cho rằng không cần thiết phải tập trung vào một hành động cụ thể, không biết tiến hành công việc từ đầu tới cuối, thiếu hứng thú với nghề đã chọn
Hứng thú nghề nghiệp có tác dụng thúc đẩy con người tìm tòi sáng tạo trong lao động, đi sâu vào mọi hoạt động có liên quan tới nghề nghiệp mà mình yêu thích Hứng thú ghóp phần mở rộng tầm hiểu biết và tăng cường hiệu suất hoạt động của con người Hứng thú mang lại cho bản thân họ những khoái cảm trong hoạt động, do vậy hứng thú gắn liền với biểu hiện qua những xúc cảm và tình cảm của con người Khi người ta hứng thú và có tình yêu sẽ làm cho con người say sưa nhiệt tình trong công tác, sáng tạo và thu được những kết quả tốt đẹp trong hoạt động nghề
Sự lựa chọn nghề nghiệp là một trong những quyết định quan trọng nhất của cuộc sống con người, do vậy nếu ở con người hình thành nên những