LỜI CAM ĐOAN Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, tôi đã hoàn thành luận văn thạc sĩ với đề tài: “Kỹ năng tìm việc làm của thanh niên khuyết tật vận động trong độ tuổi từ 18 đến 25
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-Đỗ Hồng Giang
KỸ NĂNG TÌM VIỆC LÀM CỦA THANH NIÊN KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG TRONG ĐỘ TUỔI TỪ 18 ĐẾN 25 Ở HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
Hà Nội – 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-Đỗ Hồng Giang
KỸ NĂNG TÌM VIỆC LÀM CỦA THANH NIÊN KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG TRONG ĐỘ TUỔI TỪ 18 ĐẾN 25 Ở HÀ NỘI
Chuyên ngành Tâm lý học
Mã số: 60 31 80
LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS Lê Thị Minh Loan
Hà Nội - 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Luận văn thạc sĩ với đề tài “Kỹ năng tìm việc làm của thanh niên khuyết tật vận động trong độ tuổi từ 18 đến 25 ở Hà Nội”- đã được hoàn
thành với nỗ lực của bản thân tác giả và sự quan tâm, giúp đỡ từ nhiều phía
Em xin cảm ơn cô giáo hướng dẫn, PGS TS Lê Thị Minh Loan đã nhiệt tình chỉ dẫn, giúp đỡ và động viên em trong quá trình thực hiện luận văn
Xin cảm ơn các bạn thanh niên khuyết tật đã tham gia trả lời phỏng vấn, chia sẻ nhiều thông tin giúp tôi hoàn thành nghiên cứu và luôn cổ vũ tinh thần cho tôi
Luận văn khó tránh khỏi thiếu sót, tác giả rất mong nhận được những ý kiến phản hồi và góp ý
Tác giả
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, tôi đã hoàn thành luận văn thạc sĩ
với đề tài: “Kỹ năng tìm việc làm của thanh niên khuyết tật vận động trong độ
tuổi từ 18 đến 25 ở Hà Nội”
Tôi xin cam đoan đề tài nghiên cứu là kết quả quá trình làm việc của tôi Những nội dung tham khảo được trích dẫn nguồn gốc tài liệu Kết quả nghiên cứu thực tiễn là do tôi trực tiếp tiến hành khảo sát và chưa được công bố ở bất cứ công trình khoa học nào
Tôi xin chịu trách nhiệm về mọi nội dung trong đề tài
Tác giả
Trang 5MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan 1
Mục lục 2
Danh mục các bảng số liệu 4
MỞ ĐẦU 6
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG TÌM VIỆC LÀM CỦA THANH NIÊN KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG 9
1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu kỹ năng tìm việc làm của thanh niên khuyết tật vận động 9
1.1.1 Nghiên cứu về kỹ năng, kỹ năng nghề nghiệp trên thế giới 9
1.1.2 Những nghiên cứu về kỹ năng, kỹ năng nghề nghiệp ở Việt Nam 11
1.1.3 Một số nghiên cứu về thanh niên khuyết tật dưới góc độ tâm lý học 15
1.2 Một số vấn đề lý luận chung về kỹ năng tìm việc làm của thanh niên khuyết tật vận động 19
1.2.1 Khái niệm kỹ năng 19
1.2.2 Khái niệm thanh niên khuyết tật vận động 24
1.2.3 Khái niệm việc làm và quá trình tìm việc làm 37
1.2.4 Kỹ năng tìm việc làm của thanh niên khuyết tật vận động 41
Chương 2 TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 51
2.1 Tổ chức nghiên cứu 51
2.1.1 Vài nét về nhóm khách thể nghiên cứu 51
2.1.2 Tổ chức nghiên cứu 53
2.2 Phương pháp nghiên cứu 53
2.2.1 Phương pháp nghiên cứu tài liệu 53
2.2.2 Phương pháp phỏng vấn sâu 53
2.2.3 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 54
2.2.4 Phương pháp trắc nghiệm 56
2.2.5 Phương pháp xử lý số liệu bằng phần mềm thống kê toán học 57
Trang 6Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN VỀ KỸ NĂNG TÌM VIỆC
LÀM CỦA THANH NIÊN CÓ KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG 58
3.1 Thực trạng nhận thức về ý nghĩa của kỹ năng tìm việc làm của thanh niên khuyết tật vận động 58
3.1.1 Nhận thức của thanh niên khuyết tật vận động về ý nghĩa của kỹ năng lập kế hoạch nghề nghiệp 58
3.1.2 Nhận thức của thanh niên khuyết tật vận động về ý nghĩa của kỹ năng tìm kiếm thông tin việc làm 60
3.1.3 Nhận thức của thanh niên khuyết tật vận động về ý nghĩa của kỹ năng chuẩn bị hồ sơ xin việc 62
3.1.4 Nhận thức của thanh niên khuyết tật vận động về ý nghĩa của kỹ năng giao tiếp với nhà tuyển dụng 63
3.1.5 Tổng hợp nhận thức của thanh niên khuyết tật vận động về ý nghĩa của kỹ năng tìm việc làm 65
3.2 Thực trạng kỹ năng tìm việc làm của thanh niên khuyết tật vận động 66 3.2.1 Kỹ năng lập kế hoạch nghề nghiệp 66
3.2.2 Kỹ năng tìm kiếm thông tin việc làm 69
3.2.3 Kỹ năng chuẩn bị hồ sơ xin việc 72
3.2.4 Kỹ năng giao tiếp với nhà tuyển dụng 74
3.2.5 Tổng hợp mức độ kỹ năng tìm việc làm của thanh niên khuyết tật vận động 76
3.3 Một số yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng tìm việc làm của thanh niên khuyết tật vận động 81
3.3.1 Ảnh hưởng của các yếu tố khách quan đến kỹ năng tìm việc làm 81
3.3.2 Ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan đến kỹ năng tìm việc làm 85
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 96
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
PHỤ LỤC 104
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG SỐ LIỆU
Bảng 1.1 Số trẻ em khuyết tật tham gia giáo dục hòa nhập và
Bảng 1.2 Trình độ học vấn và trình độ chuyên môn của người
Bảng 3.1 Mức độ nhận thức của thanh niên khuyết tật vận động
về ý nghĩa của kỹ năng lập kế hoạch nghề nghiệp
59
Bảng 3.2 Mức độ nhận thức của thanh niên khuyết tật vận động
về ý nghĩa của kỹ năng tìm kiếm thông tin việc làm
61
Bảng 3.3 Mức độ nhận thức của thanh niên khuyết tật vận động
về ý nghĩa của kỹ năng chuẩn bị hồ sơ xin việc
63
Bảng 3.4 Mức độ nhận thức của thanh niên khuyết tật vận động
về ý nghĩa của kỹ năng giao tiếp
64
Bảng 3.5 Mức độ nhận thức của thanh niên khuyết tật vận động
về ý nghĩa của kỹ năng tìm việc làm
66
Bảng 3.6 Thực trạng kỹ năng lập kế hoạch nghề nghiệp của
thanh niên khuyết tật vận động
67
Bảng 3.7 Thực trạng kỹ năng tìm kiếm thông tin việc làm của
thanh niên khuyết tật vận động
69
Bảng 3.8 Thực trạng kỹ năng chuẩn bị hồ sơ xin việc của thanh
niên khuyết tật vận động
72
Bảng 3.9 Thực trạng kỹ năng giao tiếp với nhà tuyển dụng của
thanh niên khuyết tật vận động
74
Bảng 3.10 Thực trạng kỹ năng kỹ năng tìm việc làm của thanh niên
khuyết tật vận động
77
Bảng 3.11 Xác suất thành công của thanh niên khuyết tật vận động
trong quá trình tìm kiếm việc làm
79
Bảng 3.12 So sánh mức độ kỹ năng tìm việc làm với xác suất thành
công của thanh niên khuyết tật vận động trong quá trình tìm kiếm việc làm
80
Bảng 3.13 Thực trạng tham gia các hình thức đào tạo kỹ năng tìm
việc làm
81
Bảng 3.14 So sánh điểm trung bình kỹ năng tìm việc làm của các
nhóm khách thể phân theo nguồn đào tạo kỹ năng tìm việc làm
83
Bảng 3.15 So sánh điểm trung bình kỹ năng tìm việc làm của các 84
Trang 8nhóm khách thể phân theo sự tham gia các tổ chức của người khuyết tật
Bảng 3.16 So sánh điểm trung bình kỹ năng tìm việc làm của các
nhóm khách thể phân theo mức độ lạc quan
85
Bảng 3.17 So sánh mức độ kỹ năng tìm việc làm với mức độ lạc
quan của thanh niên khuyết tật vận động
86
Bảng 3.18 Kết quả kiểm định hệ số tương quan giữa nhận thức và
kỹ năng tìm việc làm của thanh niên khuyết tật vận động
87
Bảng 3.19 Thực trạng kỹ năng và nhận thức của thanh niên khuyết
tật vận động về ý nghĩa của kỹ năng tìm việc làm
Bảng 3.22 So sánh điểm trung bình kỹ năng tìm việc làm của các
nhóm khách thể phân theo việc có ít nhất một động cơ mạnh hay không
90
Bảng 3.23 So sánh điểm trung bình kỹ năng tìm việc làm của các
nhóm khách thể phân theo trình độ học vấn
91
Bảng 3.24 So sánh điểm trung bình kỹ năng tìm việc làm của các
nhóm khách thể phân theo sự tham gia các hoạt động xã hội
92
Bảng 3.25 So sánh điểm trung bình kỹ năng tìm việc làm của các
nhóm khách thể phân theo sự tham gia hoạt động đi làm thêm
92
Bảng 3.26 Tổng hợp về các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng tìm việc
làm
94
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đời sống của người khuyết tật ở Việt Nam đang dần được cải thiện, sự hòa nhập và vai trò của họ cũng được nâng cao Nhiều người khuyết tật được đào tạo, có công ăn việc làm, tích cực lao động để không chỉ giảm bớt gánh nặng cho gia đình mà còn phát huy những phẩm chất, năng lực của bản thân, đóng góp cho cộng đồng Nhiều tổ chức, cơ quan và doanh nghiệp đã nhận thức được trách nhiệm xã hội trong vấn đề giải quyết việc làm cho người khuyết tật và thấy được tiềm năng đóng góp của người khuyết tật cho tổ chức của họ, những cơ hội việc làm cho người khuyết tật đã được mở ra ngày càng nhiều
Thế nhưng, nếu như người lao động khuyết tật không biết cách chủ động tìm kiếm và nắm lấy những cơ hội đó mà chỉ trông chờ vào lòng hảo tâm, tinh thần từ thiện của các nhà tuyển dụng thì cũng khó có thể có được một việc làm tốt, phù hợp với điều kiện và khả năng của mình, cũng như khó có cơ hội để phát triển bản thân
Kỹ năng tìm việc làm của người lao động đóng một vai trò quan trọng, không chỉ đối với người tìm việc, mà nó còn giúp cho nhà tuyển dụng nâng cao được hiệu quả tuyển dụng Đối với người khuyết tật, kỹ năng tìm việc làm lại càng có ý nghĩa đặc biệt bởi điều kiện sức khỏe và vẫn còn đó những rào cản về mặt xã hội làm cho cơ hội việc làm của họ bị hạn chế Gia nhập thị trường lao động vốn đã rất khó khăn với thanh niên trong độ tuổi từ 18 đến 25 - những người mới bước vào độ tuổi lao động- thì đối với thanh niên khuyết tật còn khó khăn hơn nhiều Bên cạnh những phẩm chất và năng lực chuyên môn cần phải có, họ cần có kỹ năng tìm kiếm việc làm tốt Nhiều người còn yếu về kỹ năng này nên dễ rơi vào tình trạng thất nghiệp, cuộc sống bấp bênh hoặc làm công việc không phù hợp năng lực, không phù hợp điều kiện sức khỏe
Cùng với thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng thì thủ đô là Hà Nội là một trong những nơi có nhiều cơ sở đào tạo, dạy nghề và có nhiều tổ chức, doanh nghiệp thu hút được một lực lượng đông đảo thanh niên khuyết tật về học tập, làm việc Trong
đó, khuyết tật vận động chiếm tỷ lệ lớn Người bị khuyết tật vận động nhìn chung
Trang 10có rất nhiều thuận lợi so với người khiếm thị, khiếm thính hay khuyết tật trí tuệ nhưng vấn đề tìm kiếm việc làm đối với họ cũng còn rất nhiều khó khăn
Trước thực tế đó, đề tài nghiên cứu được thực hiện nhằm tìm hiểu thực trạng
kỹ năng tìm việc làm của thanh niên khuyết tật vận động và đề xuất những giải pháp nhằm giúp họ nâng cao kỹ năng này Đồng thời đề tài cũng mong muốn đóng góp cho công tác nghiên cứu trong lĩnh vực tâm lý học lao động, tâm lý học hướng nghiệp và những nghiên cứu về người khuyết tật ở Việt Nam nói chung và tiếp tục nghiên cứu nội dung tương tự ở các nhóm người khuyết tật khác như khiếm thị, khiếm thính và về người khuyết tật ở các địa phương khác
2 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ thực trạng một số kỹ năng tìm việc làm cơ bản của thanh niên khuyết tật vận động trong độ tuổi từ 18 đến 25 Trên cơ sở đó đề xuất một số kiến nghị nhằm giúp thanh niên khuyết tật vận động phát triển kỹ năng, nâng cao hiệu quả của quá trình tìm việc
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
-Xây dựng các khái niệm cơ bản của đề tài: kỹ năng; kỹ năng tìm việc làm;
người khuyết tật; người khuyết tật vận động; thanh niên khuyết tật vận động; kỹ năng tìm việc làm của thanh niên khuyết tật vận động
-Làm rõ mức độ biểu hiện của một số kỹ năng tìm việc làm của thanh niên khuyết tật vận động
-Phân tích tác động của một số yếu tố chủ quan và khách quan tới thực trạng các kỹ năng này
-Đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao kỹ năng tìm việc làm của người khuyết tật vận động
4 Đối tƣợng nghiên cứu
Mức độ biểu hiện của một số kỹ năng tìm việc làm của thanh niên khuyết tật vận động ở Hà Nội
5 Khách thể nghiên cứu
Đề tài tiến hành nghiên cứu thực tiễn trên 108 thanh niên có các dạng khuyết
Trang 116 Phạm vi nghiên cứu
6.1 Giới hạn về nội dung nghiên cứu
Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu mức độ biểu hiện của bốn kỹ năng tìm việc làm
cơ bản là: -Kỹ năng lập kế hoạch nghề nghiệp
-Kỹ năng tìm kiếm thông tin việc làm
-Kỹ năng chuẩn bị hồ sơ xin việc
-Kỹ năng giao tiếp với nhà tuyển dụng
6.2 Giới hạn về khách thể nghiên cứu
Đề tài chỉ nghiên cứu nhóm thanh niên khuyết tật vận động đã và đang tìm kiếm việc làm, trong độ tuổi từ 18 đến 25
7 Giả thuyết nghiên cứu
Kỹ năng tìm việc làm của thanh niên khuyết tật vận động nói chung ở mức độ trung bình, trong đó kỹ năng giao tiếp với nhà tuyển dụng là tốt nhất, kỹ năng tìm kiếm thông tin việc làm là yếu nhất
Mức độ biểu hiện của kỹ năng tìm việc làm của thanh niên khuyết tật vận động chịu ảnh hưởng của cả các yếu tố khách quan và các yếu tố chủ quan Trong đó, một
số yếu tố khách quan cơ bản là: nguồn gốc đào tạo kỹ năng tìm việc làm; sự hỗ trợ của các tổ chức của người khuyết tật; và một số yếu tố chủ quan cơ bản là tính lạc quan; nhận thức về ý nghĩa của kỹ năng tìm việc làm
8 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu mà đề tài sử dụng là:
Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Phương pháp trắc nghiệm
Phương pháp phỏng vấn sâu
Phương pháp xử lý số liệu bằng phần mềm thống kê toán học
Trang 12Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG TÌM VIỆC LÀM CỦA THANH NIÊN
KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG 1.1 Sơ lược lịch sử nghiên cứu kỹ năng tìm việc làm của thanh niên khuyết tật vận động
1.1.1 Nghiên cứu về kỹ năng, kỹ năng nghề nghiệp trên thế giới
Vấn đề kỹ năng đã được các nhà tâm lý học trên thế giới nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau Khái quát lại, các công trình nghiên cứu kỹ năng có thể phân theo hai hướng nghiên cứu chính:
-Hướng thứ nhất: Những công trình nghiên cứu cơ bản về kỹ năng, kỹ xảo, mối quan hệ giữa kỹ năng và kỹ xảo, kỹ năng và năng lực, điều kiện hình thành kỹ năng, kỹ xảo trong hoạt động nói chung Tiêu biểu có các công trình của các tác giả
B.F.Lomov, E.N.Kabanova, N.D.Levitov, A.V.Petrovsky Chẳng hạn, khi nghiên cứu về kỹ năng và kỹ xảo, B.F.Lomov, E.N.Kabanova đã phân tích nội hàm của khái niệm kỹ năng, kỹ xảo và con đường hình thành chúng, nhấn mạnh điều kiện hình thành kỹ năng là những tri thức, kinh nghiệm của chủ thể hoạt động Theo họ, muốn hình thành kỹ năng trong một lĩnh vực hoạt động nào đó thì trước hết phải cung cấp kiến thức về hành động cho người học A.V.Petrovsky, Cruchetxki, N.D.Levitov thì cho rằng kỹ năng có hai loại: kỹ năng bậc thấp và kỹ năng bậc cao Các tác giả đi sâu nghiên cứu kỹ năng bậc cao của các hành động phức tạp, trong những điều kiện hành động không cố định Theo họ, kỹ xảo là thành phần của kỹ năng [29, tr 4]
-Hướng thứ hai: Những công trình nghiên cứu ứng dụng kỹ năng trong một
số lĩnh vực cụ thể như: kỹ năng trong lao động công nghiệp, kỹ năng sư phạm, kỹ năng trong hoạt động tổ chức, kỹ năng sống Ở hướng nghiên cứu này, các tác giả
đi sâu nghiên cứu ứng dụng kỹ năng trong những lĩnh vực cụ thể khác nhau để hình thành và phát triển được kỹ năng của con người trong những lĩnh vực đó Cụ thể ở các lĩnh vực như sau:
Những công trình nghiên cứu về kỹ năng lao động công nghiệp, về kỹ năng
Trang 13của người lao động trong quá trình hình thành kỹ năng, kỹ xảo Đại diện là các tác giả V.G.Loox, V.V.Tsebưseva, K.K.Platonov, E.A.Milerian Trong công trình nghiên cứu của mình, V.V.Tsebưseva đã trình bày rõ về kỹ năng, kỹ xảo, đưa ra các phương pháp hình thành kỹ năng Theo bà, kỹ năng với tư cách là khả năng (trình
độ được chuẩn bị) thực hiện một hành động nào đó dựa trên cơ sở những tri thức và
kỹ xảo được hoàn thiện dần trong quá trình hoạt động V.V.Tsebưseva đã nêu lên các điều kiện và các bước hình thành kỹ năng Bà đặc biệt nhấn mạnh vai trò tích cực của người học trong quá trình hình thành kỹ năng Bà đã chỉ ra "quá trình nhận thức trong học tập càng tích cực bao nhiêu, thì kỹ năng, kỹ xảo càng hình thành nhanh chóng và hoàn thiện hơn bấy nhiêu" Từ đó, bà quan niệm, trong quá trình huấn luyện, nhà giáo dục rút dần vai trò của mình để người học tự nắm lấy thì kỹ năng được hình thành nhanh chóng, ổn định hơn [29, tr 5]
Những nghiên cứu ứng dụng kỹ năng trong công tác hoạt động tổ chức Các
tác giả đã nghiên cứu hệ thống kỹ năng cần thiết giúp cho người làm công tác tổ chức đạt hiệu quả cao Đại diện là các tác giả: P.M.Kegensev, N.I.Mikheev, L.Umansky, A.I.Kinv P.M.Kegensev đã phân tích và đề xuất những yếu tố cơ bản của công tác tổ chức như mục đích, các kiểu tổ chức, các phương pháp tổ chức, những yêu cầu về phẩm chất của người làm công tác tổ chức Tất cả những yếu tố trên đều cần cho công tác tổ chức Nhưng để vận dụng vào tổ chức một hoạt động
cụ thể thì người làm công tác tổ chức cần phải biết nắm vững tri thức về lĩnh vực hoạt động cụ thể đó và phải có sự mềm dẻo, sáng tạo trong quá trình tổ chức mới đạt được N.I.Mikheev, L.Umansky, A.I.Kinv khi nghiên cứu về năng lực tổ chức coi kỹ năng tổ chức là yếu tố quan trọng của năng lực tổ chức Theo nhóm tác giả này, điều kiện hình thành kỹ năng tổ chức thông qua học tập và rèn luyện thường xuyên của người học [25, tr 12]
Những nghiên cứu ứng dụng kỹ năng trong hoạt động sư phạm nói chung, kỹ
năng của người giáo viên và kỹ năng của học sinh nói riêng Dựa trên cơ sở nghiên cứu đối tượng của hoạt động sư phạm là con người, là nhân cách của học sinh, các tác giả một mặt nghiên cứu hệ thống kỹ năng trong hoạt động dạy học của giáo viên, một mặt nghiên cứu các kỹ năng cần thiết trong quá trình hình thành nhân cách của học sinh
Trang 14Bên cạnh đó, các tác giả cũng làm rõ sự khác biệt giữa hệ thống kỹ năng trong hoạt động sư phạm và hệ thống kỹ năng trong hoạt động lao động và các hoạt động khác Đại diện tiêu biểu là G.X.Catchuc, N.A.Menchiuscaia, X.I.Kixegov, N.V.Cuzmina …
Các nghiên cứu ứng dụng kỹ năng trong lĩnh vực kỹ năng sống của các nhà
nghiên cứu hành vi, các chương trình giáo dục kỹ năng sống của các tổ chức như WHO, UNICEF, UNESCO Trong các nghiên cứu này, các tác giả hướng tới đưa
ra chương trình giáo dục các kỹ năng sống cụ thể với các nhóm đối tượng khác nhau nhằm trang bị cho họ những kỹ năng sống cơ bản, giúp ứng phó với một số vấn đề
cụ thể trong cuộc sống [29, tr 6]
Như vậy, dù xuất phát từ đối tượng của các lĩnh vực hoạt động khác nhau nhưng các hướng nghiên cứu kỹ năng ở các góc độ khác nhau không có gì mâu thuẫn Các tác giả đều thống nhất ở quan điểm: để hình thành kỹ năng thì cần có tri thức và sự rèn luyện tích cực của chủ thể hoạt động
1.1.2 Những nghiên cứu về kỹ năng, kỹ năng nghề nghiệp ở Việt Nam
Ở Việt Nam, vấn đề kỹ năng cũng đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu, đặc biệt là kỹ năng lao động, kỹ năng sư phạm, kỹ năng quản lý, kỹ năng tổ chức, dưới góc độ nghiên cứu lý luận cũng như nghiên cứu thực tiễn
Tác giả Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng (2007) trong cuốn
"Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm" đã chỉ ra sự hình thành kỹ năng phải dựa trên cơ sở kiến thức để từ đó giải quyết một nhiệm vụ cụ thể nào đó Các tác giả trên cũng chỉ ra yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành kỹ năng là do khả năng nhận dạng kiểu nhiệm vụ, kiểu bài tập [14, tr.118-121]
Tác giả Vũ Dũng (2008) phân biệt các khái niệm "Kỹ năng nhận thức", "Kỹ năng trí tuệ" và "Kỹ năng vận động" Theo ông, kỹ năng nhận thức là sự phản ánh một cách cảm tính và tự động những thuộc tính và những đặc điểm của đối tượng rất quen thuộc đã được tri giác nhiều lần trước đó Kỹ năng trí tuệ là phương thức và phương pháp có tính tự động hóa để giải quyết những nhiệm vụ trí tuệ mà chủ thể đã gặp trước đó Kỹ năng vận động là sự tác động có tính tự động hóa lên các khách thể bên ngoài nhờ những vận động đã được thực hiện nhiều lần trước đó để cải tạo khách
Trang 15thể Kỹ năng vận động là khả năng thực hiện những vận động mà không cần đến sự kiểm soát của ý thức và được hình thành bằng con đường luyện tập Kỹ năng vận động bao gồm kỹ năng nhận thức và kỹ năng trí tuệ Kỹ năng vận động điều khiển hai kỹ năng này trên cơ sở phản ánh có tính tự động hóa các sự vật, điều kiện và trật tự thực hiện các thao tác hành động hướng tới việc cải tạo hiện thực khách quan [10, tr 401]
Theo tác giả Phạm Tất Dong, có bốn giai đoạn hình thành kỹ năng Mỗi giai đoạn có những đặc điểm, đặc trưng và những yêu cầu nhất định:
-Giai đoạn thứ nhất: giai đoạn này được gọi là giai đoạn hình thành những kỹ năng sơ bộ Con người trước khi hành động phải nhận thức được hành động Dựa vào kỹ năng, kỹ xảo đã nắm được để tìm kiếm phương thức hoạt động Ở giai đoạn này hoạt động diễn ra theo phương thức "thử" và "sai"
-Giai đoạn thứ hai: con người có những tri thức về các phương thức thực hiện hoạt động và sử dụng được những kỹ xảo đã có Đây là giai đoạn hoạt động với những kỹ năng chưa thành thạo
-Giai đoạn thứ ba: con người có những kỹ năng chung, cần thiết cho mọi hoạt động khác nhau Đây là điều kiện không thể thiếu được để hình thành kỹ năng chuyên môn Trên cơ sở những kỹ năng chung, con người sẽ sử dụng một cách sáng tạo những tri thức và kỹ xảo cần thiết trong quá trình hoạt động Đây là giai đoạn phát triển cao
-Giai đoạn thứ tư: con người sử dụng một cách sáng tạo những kỹ năng khác nhau Đây là giai đoạn cao nhất của sự phát triển kỹ năng Ở trình độ này, con người
dễ dàng thực hiện công việc [25, tr 15]
Tác giả Phạm Thành Nghị nghiên cứu về kỹ năng học tập đã chỉ ra "kỹ năng
học tập là tập hợp những hành động học tập như phân tích, mô hình hóa, khái quát hóa các đối tượng nhận thức bằng cách vận dụng những tri thức, kinh nghiệm đã có
để đạt được những kết quả học tập một cách thành thục” Theo tác giả này, việc
thực hiện bất cứ kỹ năng nào cũng cần những cơ sở lý thuyết nhất định, điều quan trọng là phải phát hiện ra những thuộc tính và quan hệ vốn có trong nhiệm vụ, bài tập để thực hiện mục đích nhất định Sự vận dụng kiến thức để khám phá, biến đổi đối tượng chính ra tạo ra kỹ năng Như vậy, thực chất của việc hình thành kỹ năng
Trang 16là hình thành ở người học hệ thống các thao tác nhằm làm sáng tỏ những thông tin chứa đựng trong bài tập, nhiệm vụ và đối chiếu chúng với những hành động cụ thể
Do vậy, người dạy cần:
-Giúp người học đưa ra nhận xét về các yếu tố đã cho, yếu tố phải tìm và mối quan hệ giữa chúng
-Giúp người học hình thành mô hình khái quát để giải bài tập
-Giúp người học xác lập mối liên hệ giữa mô hình khái quát với các kiến thức tương ứng [24, tr.79]
Về những nghiên cứu thực tiễn, các tác giả Việt Nam cũng đã quan tâm nghiên cứu vấn đề kỹ năng trong nhiều lĩnh vực như giao tiếp và kỹ năng nghề nghiệp trong một số ngành nghề
Tác giả Lê Thị Thanh Thủy nghiên cứu về “Kỹ năng tư vấn của giảng viên ở
một số trường đại học”, đã chỉ ra mức độ thường xuyên trong việc sử dụng kỹ năng
tư vấn của giảng viên trong các lĩnh vực chính là phương pháp học tập; định hướng ngành học, nghề nghiệp; những vấn đề tâm lý và khó khăn trong cuộc sống về các điều kiện sinh hoạt, học tập ở trường đại học Những kỹ năng tư vấn được nghiên cứu trong đề tài này là: kỹ năng lắng nghe, kỹ năng thấu hiểu, kỹ năng đặt câu hỏi, kỹ năng cung cấp thông tin [18, tr 281]
Cùng hướng nghiên cứu này, tác giả Nguyễn Thị Hằng Phương đã nghiên
cứu về “Kỹ năng tư vấn của cố vấn học tập trong các trường đại học” Tuy nhiên,
trong đề tài này, kỹ năng tư vấn lại được nghiên cứu theo một cấu trúc khác, với các thành phần là kỹ năng thiết lập mối quan hệ với sinh viên, kỹ năng khai thác thông tin và kỹ năng lập kế hoạch hành động [18, tr 312]
Tác giả Đinh Thị Mai nghiên cứu về “Kỹ năng đối thoại của báo cáo viên cơ
sở trong tuyên truyền tư tưởng Hồ Chí Minh về đạo đức” nhằm phân tích các mặt
biểu hiện của kỹ năng đối thoại và đánh giá thực trạng mức độ thành thạo trong việc
sử dụng các kỹ năng này, thể hiện qua ba mặt biểu hiện là kỹ năng hỏi, kỹ năng tiếp nhận ý kiến của người được tuyên truyền và kỹ năng giải đáp ý kiến [18, tr 293]
Tác giả Trần Thị Thu Hằng khi nghiên cứu “Một số vấn đề tâm lý về kỹ năng
nghề cơ khí ô tô”, đã quan niệm “kỹ năng là sự thực hiện một hành động nào đó đạt
Trang 17kết quả, trên cơ sở vận dụng những tri thức, kinh nghiệm đã có phù hợp với những mục tiêu, điều kiện thực tế đã cho” và “kỹ năng nghề cơ khí ô tô là sự thực hiện một hành động nghề nào đó đạt kết quả, trên cơ sở vận dụng những tri thức, kinh nghiệm nghề nghiệp đã có phù hợp với những mục tiêu, điều kiện cụ thể.” Tác giả
chỉ ra các nhóm kỹ năng cơ bản của nghề cơ khí ô tô là: kỹ năng chuẩn bị (gồm: kỹ năng chuẩn bị phương tiện, thiết bị) và kỹ năng chuẩn bị vật tư, vật liệu), kỹ năng
thực hiện (gồm kỹ năng sử dụng phương tiện, thiết bị, kỹ năng thực hiện các thao
tác kỹ thuật và kỹ năng phối hợp công việc với các thành viên trong nhóm) và kỹ
năng kiểm tra và hoàn thiện công việc (gồm: kỹ năng kiểm tra và hoàn thiện chất
lượng sản phẩm và kỹ năng an toàn vệ sinh lao động) Các kỹ năng được đánh giá
theo ba tiêu chí gồm: tính chính xác (tính đúng đắn trong từng thao tác), tính thành
thạo (tốc độ thực hiện nhanh) và tính mềm dẻo, linh hoạt (khả năng thực hiện tốt
hành động trong điều kiện thay đổi) [18, tr 556 ]
Tác giả Trần Thị Thanh Tâm nghiên cứu về “Kỹ năng làm việc nhóm trong
học tập ở tuổi thiếu niên” đã nghiên cứu mức độ thường xuyên trong việc sử dụng
và mức độ thành thạo của các nhóm kỹ năng ở học sinh trung học cơ sở, bao gồm
kỹ năng lắng nghe tích cực, kỹ năng trình bày mạch lạc vấn đề, kỹ năng điều khiển, điều chỉnh hành vi và cảm xúc của mình và người khác Tác giả còn nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố giáo dục từ gia đình và nhà trường đến việc hình thành các kỹ năng làm việc nhóm của học sinh [29, tr 114]
Về kỹ năng tìm việc làm, tuy những năm gần đây đã có rất nhiều tài liệu được phát hành, nhưng đại đa số là những tài liệu tập huấn, rất ít các công trình
nghiên cứu khoa học Một trong số các nghiên cứu về đề tài này là “Giải pháp nâng
cao kỹ năng tìm việc làm của sinh viên Đại học Kinh tế Quốc dân” của nhóm tác
giả Lê Phương Mai, Lê Thị Thêm và Nguyễn Thị Hoài Thu Đề tài đã xây dựng được một hệ thống các tiêu chí đánh giá kỹ năng tìm việc làm, phản ánh thực trạng
kỹ năng tìm việc làm và các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ năng này ở sinh viên Đại học Kinh tế Quốc dân Tuy nhiên, đề tài này lại nghiên cứu dưới góc độ kinh tế học, với khái niệm trọng tâm là khái niệm việc làm, đề cập nhiều đến các yếu tố của thị trường lao động, sự tiến bộ của công nghệ, môi trường giáo dục đại học ở Việt Nam
Trang 18và công tác đào tạo của trường Đại học Kinh tế Quốc dân, phương pháp nghiên cứu lại chỉ sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi [22, tr 5]
Nhìn chung, ở Việt Nam, các công trình nghiên cứu về kỹ năng hiện nay chủ yếu tập trung vào kỹ năng giao tiếp và kỹ năng nghề nghiệp ở các đối tượng khách thể khác nhau Các nghiên cứu về kỹ năng tìm việc làm còn khá ít ỏi, đặc biệt là kỹ năng tìm việc làm của người khuyết tật chưa được nghiên cứu Chính vì vậy, chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu này
1.1.3 Một số nghiên cứu về thanh niên khuyết tật dưới góc độ tâm lý học
Để có được những thông tin, dữ liệu về người khuyết tật, bên cạnh hệ thống số liệu thống kê tại các cấp, các ngành thì những nghiên cứu khoa học là rất cần thiết Trong khi các số liệu thống kê, khảo sát có thể đưa ra những phân tích, nhận định khái quát về nhiều vấn đề của người khuyết tật thì những nghiên cứu khoa học sẽ cung cấp những bằng chứng sinh động, thuyết phục về từng vấn đề riêng biệt, làm
cơ sở cho những chính sách hỗ trợ cụ thể Theo Ủy ban Y tế Hà Lan - Việt Nam, nhìn chung, ở Việt Nam cũng như trên thế giới, các nghiên cứu về người khuyết tật phần lớn là nghiên cứu định lượng, các nghiên cứu định tính còn rất hạn chế [39, tr 4] Việc phát triển các hướng nghiên cứu định tính, trong đó có nghiên cứu tâm lý học là hết sức cần thiết Thông qua những nghiên cứu này, chúng ta có thể thu thập được những thông tin sâu sắc hơn về các lĩnh vực cuộc sống của người khuyết tật, đặc biệt là hiểu được những vấn đề liên quan đến đời sống tinh thần, thái độ và nhu cầu của họ để nâng cao hiệu quả công tác hỗ trợ
Trên thực tế ở Việt Nam cũng đã bước đầu phát triển các nghiên cứu về đời sống tâm lý người khuyết tật nhưng phần lớn xuất phát từ các nhà nghiên cứu chuyên nghiệp hoặc không chuyên hoạt động trong lĩnh vực y tế và công tác xã hội Trong quá trình thực hiện nghiên cứu này, tác giả đã tìm được một số trong các công trình nghiên cứu đó
Nghiên cứu "Tình yêu và đời sống hôn nhân từ góc nhìn của phụ nữ khuyết
tật" của tác giả Nguyễn Hồng Hà và Đỗ Thanh Toàn năm 2006 được thực hiện theo
phương pháp phỏng vấn sâu và nghiên cứu trường hợp nhằm tìm hiểu nhận thức,
Trang 19của những người thân của họ (chồng, người yêu, cha mẹ) về vấn đề này Đa số phụ
nữ khuyết tật trong nghiên cứu có tâm lý mặc cảm, tự ti trong tình yêu và tự định kiến, cho rằng hôn nhân là một điều xa vời với người khuyết tật, đặc biệt là phụ nữ khuyết tật Họ thường không bày tỏ tình cảm của mình và cũng cảm thấy khó khăn khi đón nhận tình cảm của người khác Một số chị đã lập gia đình, kể cả với người chồng không khuyết tật vẫn cảm thấy không tự tin, lo sợ mình là gánh nặng cho chồng, lo lắng về việc sinh con và nuôi dạy con, sợ con cũng bị khuyết tật Chồng
và người yêu của những phụ nữ này cũng phải trải qua nhiều khó khăn tâm lý của bản thân và những rào cản từ phía gia đình, xã hội, có những người đàn ông vượt qua được và quyết định kết hôn nhưng đa số trường hợp họ không vượt qua được Một số phụ nữ khuyết tật lựa chọn làm bà mẹ đơn thân với mong muốn có đứa con làm chỗ dựa sau này Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng các bậc cha mẹ có con gái bị khuyết tật thường ít quan tâm giáo dục cho con về giới tính cũng như vai trò của một người phụ nữ trong gia đình tương lai Các cha mẹ hầu như chỉ quan tâm chăm sóc, cải thiện về sức khỏe, về việc làm cho con chứ không mong đợi về tình yêu và hôn nhân cho con gái mình Điều này đã làm tăng sự mặc cảm, tự ti cho trẻ em gái
và phụ nữ khuyết tật ngay từ nhỏ Tuy nhiên, cũng có một số trường hợp phụ nữ khuyết tật lập gia đình và có được một gia đình hạnh phúc với người chồng khuyết tật hoặc không khuyết tật [39, tr 13]
Nghiên cứu "Nhận thức về sức khỏe sinh sản và xâm hại tình dục của trẻ vị
thành niên khuyết tật tại Trung tâm Phục hồi Chức năng cho Trẻ Khuyết tật- Thụy
An, Ba Vì, Hà Tây" do tác giả Tạ Hải Giang và Nguyễn Thị Lý thực hiện năm 2006
Mục tiêu của nghiên cứu này là tìm hiểu thực trạng nhận thức của trẻ vị thành niên khuyết tật, đặc biệt là các em gái về sức khỏe sinh sản, xâm hại tình dục, ảnh hưởng của việc giáo dục từ phía Trung tâm, gia đình và các nguồn thông tin khác đến nhận thức của trẻ về vấn đề này Nghiên cứu chỉ ra rằng, các trẻ khuyết tật ở đây nói chung đã có kiến thức cơ bản về giới tính như sự khác biệt cơ thể về giới, những thay đổi cơ thể trong tuổi dậy thì, tuy nhiên nhận thức về tình dục an toàn và xâm hại tình dục còn rất hạn chế Việc giáo dục giới tính cho trẻ khuyết tật chưa thực sự được quan tâm và cũng gặp nhiều khó khăn do đặc thù khuyết tật của trẻ (khiếm
Trang 20thính, khiếm thị, khuyết tật trí tuệ) Những tài liệu giáo dục giới tính cho trẻ khuyết tật còn rất thiếu Cũng như nhiều vị thành niên không khuyết tật, các em khuyết tật
ở đây tự tìm hiểu về các vấn đề giới tính, tình dục qua mạng internet và như vậy sẽ rất dễ tiếp nhận những thông tin lệch lạc, không lành mạnh, ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống của các em Kết quả nghiên cứu cho thấy việc giáo dục giới tính, chăm sóc sức khỏe sinh sản cho vị thành niên khuyết tật còn đang là một nhu cầu cấp thiết cần được ngành y tế, giáo dục và lao động xã hội quan tâm đặc biệt để các em không bị thiệt thòi so với bạn bè cùng trang lứa không khuyết tật [39, tr 171]
Nghiên cứu "Nhu cầu việc làm của thanh niên khuyết tật trên địa bàn Hà Nội"
của tác giả Phạm Thị Ngân, năm 2010 Mục đích của nghiên cứu này là phản ánh
thực trạng nhu cầu về việc làm của thanh niên khuyết tật, chỉ ra những đặc trưng của nhu cầu này ở thanh niên khuyết tật, từ đó đề xuất một số kiến nghị về việc làm cho thanh niên khuyết tật tại địa bàn Hà Nội Qua quá trình nghiên cứu, tác giả đã rút ra một số kết luận như sau:
Nhu cầu việc làm của thanh niên khuyết tật trên địa bàn Hà Nội là rất lớn, là nhu cầu quan trọng bậc nhất trong các nhu cầu hiện nay của họ Đa số thanh niên khuyết tật đều nhận thức được sự cần thiết của sự làm việc đối với người khuyết tật Họ muốn được làm việc, được sống tự lập bằng công sức lao động của mình, được giao lưu, giao tiếp, để trợ giúp gia đình và đóng góp cho xã hội
Phần lớn thanh niên khuyết tật hiện nay có mong muốn làm công việc cụ thể, mang tính thực tế, gắn với điều kiện hoàn cảnh, tình trạng sức khỏe của họ Nhìn chung, thanh niên khuyết tật mong muốn về thái độ của mọi người ở nơi làm việc với mình là: hòa đồng, bình đẳng, giúp đỡ, tôn trọng, thân thiện, cởi mở…
Nhìn chung thanh niên khuyết tật hiện nay đều làm các công việc tương đối phù hợp với hoàn cảnh khuyết tật của mình Đa số người khuyết tật chỉ cảm thấy hài lòng ở mức độ nhất định với công việc hiện nay của mình
Trung bình mức thu nhập của thanh niên khuyết tật trên địa bàn Hà Nội hiện nay
là rất thấp so với điều kiện kinh tế xã hội Thanh niên khuyết tật rất khó khăn trong việc đảm bảo cuộc sống và những chi phí cá nhân cho mình
Trang 21Đa số thanh niên khuyết tật đều có những hành động tích cực để kiếm việc làm cho mình, họ đã biết huy động nhiều nguồn lực khác nhau, đặc biệt là từ những người cùng hoàn cảnh, sự trợ giúp của gia đình và xã hội
Nhìn chung, thanh niên khuyết tật còn gặp nhiều khó khăn trong công việc Những khó khăn đó chủ yếu là về sức khỏe, trình độ văn hóa, tay nghề và sự kỳ thị, bất bình đẳng của xã hội trong việc nhìn nhận và tuyển dụng người khuyết tật vào làm việc Những mong muốn, đề nghị của thanh niên khuyết tật vận động vẫn tập trung đi sâu vào những vẫn đề giúp đỡ học nghề, hướng nghiệp và khắc phục những thiếu hụt do điều kiện sức khỏe để làm việc một cách tốt nhất [23, tr 110]
Nghiên cứu "Nhu cầu, năng lực học nghề và tìm kiếm việc làm của nữ thanh
niên khuyết tật- Nghiên cứu trường hợp tại tỉnh Vĩnh Phúc" do tác giả Bùi Kim Chi
chủ trì, năm 2006 Đề tài đã tìm hiểu nhu cầu và năng lực tìm kiếm việc làm của nữ thanh niên khuyết tật, các yếu tố ảnh hưởng tới nhu cầu và năng lực tìm kiếm việc làm và đề xuất những biện pháp giúp họ đáp ứng nhu cầu việc làm, phát huy khả năng của bản thân và đóng góp cho gia đình, xã hội Kết quả nghiên cứu cho thấy nhu cầu về học nghề và việc làm của nữ thanh niên khuyết tật ở đây chủ yếu tập trung vào các ngành nghề như mây tre đan, may mặc, da giày Họ có nhu cầu làm việc với nhiều mục đích khác nhau như tự nuôi sống bản thân, hỗ trợ gia đình, có thêm các mối quan hệ giao tiếp xã hội, giảm bớt mặc cảm tự ti Tuy nhiên cũng có một số ít trường hợp lại không có nhu cầu học nghề và tìm việc làm do ngại giao tiếp, ngại đi lại chỉ mong muốn ở nhà phụ giúp các công việc nội trợ trong gia đình hoặc buôn bán nhỏ tại nhà Số lượng nữ thanh niên khuyết tật được học nghề
và tìm được việc làm không nhiều, do nhiều nguyên nhân như: địa phương chưa tổ chức được nhiều hoạt động dạy nghề ưu tiên cho người khuyết tật, địa điểm học nghề và nơi làm việc xa gây khó khăn cho người khuyết tật Việc tham gia Hội phụ
nữ ở địa phương giúp tăng cơ hội học nghề và tìm việc làm cho nữ thanh niên khuyết tật Nữ thanh niên khiếm thị có cơ hội học nghề và tìm việc làm cao hơn những khuyết tật khác do hoạt động hiệu quả của Hội người Mù Nghiên cứu chỉ ra một số yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề học nghề và tìm kiếm việc làm của nữ thanh niên khuyết tật: tâm lý mặc cảm, tự ti của bản thân người khuyết tật; trình độ học
Trang 22vấn thấp; chưa tiếp cận thông tin, thái độ của gia đình thiếu tin tưởng vào khả năng của con em, từ phía các doanh nghiệp, từ phía cộng đồng vẫn còn thiếu quan tâm và tồn tại những quan niệm tiêu cực về nhận lao động là người khuyết tật Các tác giả
đi đến kết luận là nhu cầu tìm kiếm việc làm của nữ thanh niên khuyết tật cao nhưng
họ không có đủ năng lực để tự mình tiếp cận cơ hội học nghề và tìm kiếm việc làm Mong đợi của nữ thanh niên khuyết tật và gia đình là người khuyết tật được tạo cơ hội việc làm bình đẳng hơn, phát triển những khóa đào tạo nghề và cơ sở sản xuất dành riêng cho người khuyết tật [39, tr 37]
Qua phương pháp phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm, nghiên cứu này đã cung cấp nhiều thông tin rất cụ thể, sinh động và hữu ích cho công tác hỗ trợ người khuyết tật tìm việc làm Tuy nhiên nghiên cứu mới chỉ xem xét năng lực tìm việc làm của nhóm khách thể dựa vào việc hiện tại họ đang có việc làm hay không, đã từng thành công hay thất bại khi tìm việc làm trong quá khứ và triển vọng tìm việc làm trong tương lai ra sao Đề tài chưa xây dựng được các tiêu chí đánh giá về năng lực tìm việc làm Khách thể nghiên cứu được xem xét là những người thụ động chờ cơ hội việc làm do các cơ quan đoàn thể giới thiệu Kỹ năng tìm việc làm chưa được đề cập đến ở nghiên cứu này
Tóm lại, các nghiên cứu về người khuyết tật dưới góc độ tâm lý học còn ít và chủ yếu đi vào nghiên cứu về nhận thức và nhu cầu xoay quanh một số vấn đề đời sống và việc làm của người khuyết tật Vấn đề kỹ năng tìm việc làm của người khuyết tật nói chung và kỹ năng tìm việc làm của người khuyết tật vận động nói riêng, chưa được nghiên cứu Chính vì vậy, chúng tôi quyết định chọn đề tài nghiên cứu này
1.2 Một số vấn đề lý luận chung về kỹ năng tìm việc làm của thanh niên khuyết tật vận động
1.2.1 Khái niệm kỹ năng
Trang 23do something well”, (dịch nghĩa: “khả năng (do được huấn luyện và thực hành) để
làm tốt một việc nào đó" [42; pg 589]
Từ điển Tiếng Việt định nghĩa "Kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến
thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế" [27, tr 520]
Dưới góc độ tâm lý học, có thể khái quát thành hai luồng tư tưởng là quan niệm coi kỹ năng là mặt kỹ thuật của hành động và quan niệm coi kỹ năng là mặt năng lực của con người:
-Hướng quan niệm coi kỹ năng là mặt kỹ thuật của hành động
Theo quan niệm này, kỹ năng là phương thức hành động đã được con người nắm vững Có nghĩa là con người có tri thức về một hành động nào đó, là con người nắm được các tri thức về cách thức tiến hành hành động đó và thực hiện hành động đúng yêu cầu của nó Với quan niệm này, các tác giả không đề cập đến vấn đề kết quả của hành động Bởi họ quan niệm thực hiện đúng kỹ thuật hành động thì chắc chắn mang lại kết quả nhất định Còn kết quả cao hay thấp thì còn tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác trong năng lực của chủ thể
Một số tác giả theo hướng quan niệm này có thể kể đến như
A.V.Covaliov coi kỹ năng là phương thức hành động thích hợp với mục đích
và những điều kiện hành động Ông không đề cập đến kết quả hành động Theo ông,
kết quả hành động phụ thuộc vào năng lực con người chứ không phải đơn giản nắm được các cách thức hành động thì mang lại kết quả tương ứng
Theo V.A.Cruchetki, Kỹ năng là phương thức thực hiện hành động đã được
con người nắm vững." Theo ông, chỉ cần nắm vững được phương thức hành động
thì con người đã có kỹ năng, không cần tính tới kết quả của hành động
Tác giả Trần Trọng Thủy coi kỹ năng là mặt kỹ thuật của hành động Con người nắm được các hành động tức là có kỹ thuật hành động và có kỹ năng [25, tr 18]
-Hướng quan niệm coi kỹ năng là mặt năng lực của con người
Theo quan niệm này, kỹ năng thể hiện ở năng lực thực hiện một hành động
có kết quả với chất lượng cần thiết trong điều kiện xác định Các tác giả này quan niệm không chỉ đơn thuần là mặt kỹ thuật của hành động mà còn là biểu hiện của
Trang 24năng lực Họ chú ý đến kết quả của hành động để khẳng định chủ thể hành động có
kỹ năng hay không
Một số tác giả theo hướng quan niệm này là:
N.D.Levitov, ông xem xét kỹ năng gắn liền với kết quả hành động và cho rằng, kỹ năng là sự thực hiện có kế hoạch một hoạt động phức tạp bằng cách lựa chọn và áp dụng những cách thức đúng đắn có tính đến những điều kiện nhất định Ông nhấn mạnh, muốn hình thành kỹ năng, con người cần không chỉ nắm lý thuyết
về hành động mà còn phải biết vận dụng vào thực tế [25, tr 18]
B.Ph.Lomov nhận định: "Kỹ năng không chỉ bao gồm những hành động vận
động mà cả những hành động trí tuệ Hành động có kỹ năng là những hành động với trí tuệ, độc lập trong kế hoạch, quá trình làm việc, tìm thấy trong mỗi trường hợp cụ thể các phương pháp hành động hợp lý.” [20, tr 343]
Paul Hersey, Ken Blanc Hard quan niệm: "Kỹ năng là khả năng sử dụng tri
thức, các phương pháp, kỹ thuật và thiết bị cho việc thực hiện những nhiệm vụ nhất định có được từ kinh nghiệm, giáo dục và đào tạo." [29, tr 10]
Trong "Từ điển Tâm lý học" do Vũ Dũng chủ biên: "Kỹ năng là năng lực vận
dụng có kết quả tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng." [9, tr 131]
Theo tác giả Phạm Thành Nghị (2011), "kỹ năng là khả năng vận dụng kiến
thức để giải quyết một nhiệm vụ cụ thể." [24, tr 78]
Theo các tác giả Phạm Tất Dong, Nguyễn Hải Khoát và Nguyễn Quang Uẩn (1995),
"Kỹ năng là một hệ thống các hành động thể lực và trí tuệ, các biện pháp và cách thức
mà nhờ đó, một dạng hoạt động nào đó được thực hiện và đạt tới mục đích đề ra."
Kỹ năng không đồng nhất với kiến thức Bất kỳ một kỹ năng nào cũng đều đòi hỏi phải có sự hiểu biết, có kiến thức nhất định Song không phải kiến thức nào cũng có sự liên hệ với một kỹ năng tương ứng Ví dụ như kiến thức lịch sử Kiến thức biểu hiện chủ yếu trong các phán đoán và lập luận trong đó phản ánh đúng đắn hiện thực Còn kỹ năng biểu hiện rõ nét trong các hành động thể chất hoặc trí tuệ
Kỹ năng thuộc về hoạt động thực tế và sự vận dụng kiến thức Thiếu kiến thức thì không thể hình thành được kỹ năng
Trang 25Kỹ năng cần phải tương ứng với dự định của bản thân Bất kỳ một kỹ năng nào cũng đòi hỏi sự đầy đủ, sự đúng đắn nhất định của các thao tác riêng lẻ [6, tr 105]
Về thực chất, quan niệm coi kỹ năng là mặt năng lực của con người không phủ nhận quan niệm coi kỹ năng là mặt kỹ thuật của hành động, mà chỉ là mở rộng thêm thành phần cấu trúc của kỹ năng, đặc biệt là các yếu tố định tính như tinh thần, tri thức, khả năng trí tuệ Trong cuộc sống, điều kiện hành động không phải là ổn định trong mọi trường hợp Do vậy, khi thực hành động chủ thể phải tùy hoàn cảnh, mục đích mà sử dụng các thao tác cho phù hợp
Từ các quan niệm trên, chúng tôi đưa ra cách hiểu về khái niệm kỹ năng trong
đề tài nghiên cứu này như sau:
Kỹ năng là khả năng vận dụng tri thức, kinh nghiệm để thực hiện có kết quả hành động hay hoạt động trong lĩnh vực nhất định
Trong cách hiểu này có ba vấn đề cốt lõi của khái niệm kỹ năng là:
-Kỹ năng thể hiện trình độ tư duy và hành động của cá nhân trong lĩnh vực
hoạt động cụ thể Kỹ năng gắn liền với việc thực hiện hoạt động đạt hiệu quả cao -Nói đến kỹ năng, bao giờ cũng phải là kỹ năng về một lĩnh vực hoạt động chuyên biệt nào đó
-Kỹ năng có được do học tập và rèn luyện chứ không phải là yếu tố bẩm sinh
1.2.1.2 Các mức độ kỹ năng
Theo quan niệm của K.K.Platonov và G.G.Golubev thì kỹ năng có 5 mức độ
từ thấp đến cao như sau:
-Kỹ năng sơ đẳng: Con người ý thức được mục đích hành động và tìm kiếm cách thức thực hiện hành động dựa trên vốn hiểu biết và kỹ xảo sinh hoạt đời thường, hành động được thực hiện bằng cách "thử" và "sai"
-Biết cách làm nhưng không đầy đủ: Có hiểu biết về phương thức thực hiện hành động, sử dụng được các kỹ năng, kỹ xảo sơ đẳng, nhưng chưa đầy đủ hoặc chưa được luyện tập thường xuyên trong hoạt động cụ thể
-Có kỹ năng chung: Có hàng loạt kỹ năng nhưng còn mang tính chất đơn lẻ Chúng cần thiết cho các hoạt động khác nhau
Trang 26-Các kỹ năng phát triển cao: Sử dụng sáng tạo vốn hiểu biết các kỹ xảo đã
có, ý thức được không chỉ mục đích hành động mà còn cả động cơ, lựa chọn cách thức đạt được mục đích
-Các kỹ năng liên kết với nhau thành hệ thống: một số trở thành kỹ xảo cho phép chủ thể thực hiện hành động rút gọn, vừa tiết kiệm thao tác, vừa giải quyết các hành động tương tự có tính sáng tạo cao [29; tr, 14]
Tác giả Nguyễn Thị Hạnh Ngọc trong luận văn thạc sĩ Tâm lý học lại nêu ra quan niệm kỹ năng gồm có hai mức độ là chưa thành thạo và thành thạo Ở mức độ chưa thành thạo, cá nhân chưa biết thực hiện hoặc có thực hiện nhưng chưa nhuần nhuyễn các thao tác Đến mức độ thành thạo thì cá nhân thực hiện một cách nhuần nhuyễn, chính xác các thao tác và có kết quả hành động tốt [25, tr 22]
Theo quan niệm của các tác giả Nguyễn Thiện Thắng thì kỹ năng gồm có bốn mức độ: -Bắt chước: Quan sát, lặp lại hành động mẫu
-Thao tác: Ở mức độ cao hơn, chủ thể thực hiện hành động theo sự hướng dẫn bằng lời, chứ không còn bằng hành động mẫu nữa
-Hành động chuẩn xác: Mức độ thực hiện đúng, chuẩn xác hành động mà không cần quan sát mẫu hoặc nghe lời người khác hướng dẫn nữa
Nó đòi hỏi sự nỗ lực của chủ thể hành động
-Hành động tự nhiên: Mức độ thuần thục cao, thao tác mà không cần sự cố gắng nhiều về thể lực cũng như trí lực [25, tr 21]
Từ những quan niệm trên, chúng tôi chia kỹ năng thành ba mức độ sau:
-Kỹ năng ở mức độ thấp: Các cá nhân chưa nắm được hoặc chưa nắm vững
các tri thức về phương thức thực hiện hành động Việc vận dụng tri thức vào hành động thực tiễn diễn ra lúng túng, còn nhiều sai sót, hiệu quả thấp hoặc thậm chí không có hiệu quả
-Kỹ năng ở mức độ trung bình: Cá nhân nắm được tri thức về phương thức hành
động nhưng quá trình vận dụng còn một số sai sót, hành động ít tính linh hoạt trong những điều kiện thay đổi, có thể đạt hiệu quả cao nhưng chưa ổn định
-Kỹ năng ở mức độ cao: Cá nhân đã nắm vững tri thức về phương thức hành
động Tri thức về phương thức hành động được vận dụng một cách thuần thục, linh
Trang 27hoạt, mềm dẻo mang tính sáng tạo trong những tình huống khác nhau Hiệu quả hoạt động cao và ổn định Đến đây, có thể nói, cá nhân đã làm chủ được hoạt động của mình, biến những điều lĩnh hội được từ bên ngoài thành cái của mình
1.2.2 Khái niệm thanh niên khuyết tật vận động
1.2.2.1 Quan niệm về người khuyết tật và người khuyết tật vận động trên thế giới
và ở Việt Nam
a Quan niệm về người khuyết tật và người khuyết tật vận động trên thế giới
Có rất nhiều quan niệm và cách định nghĩa khác nhau về khái niệm "khuyết tật" và "người khuyết tật" nhưng tựu chung lại là hai hướng tiếp cận chính dưới góc
độ y tế (mô hình cá nhân) và góc độ hòa nhập xã hội (mô hình xã hội) Theo mô hình cá nhân, một người bị coi là khuyết tật là do sự suy giảm các chức năng về thể chất, tinh thần của bản thân, người đó có thể khắc phục các khó khăn này bằng việc điều trị y khoa hoặc sử dụng các dụng cụ y tế hỗ trợ Trong khi đó, mô hình xã hội lại xem xét một cá nhân có bị khuyết tật hay không dựa vào khả năng tham gia các hoạt động của cá nhân đó trong môi trường xã hội Cả hai cách tiếp cận này đều có những ưu nhược điểm nhất định Mô hình cá nhân hữu ích trong lĩnh vực y tế, phục hồi chức năng và phúc lợi xã hội Còn mô hình xã hội lại là công cụ quan trọng để giải quyết các nguyên nhân gốc rễ của việc phân biệt đối xử và những bất lợi mà người khuyết tật gặp phải do bị tách biệt khỏi cuộc sống cộng đồng Nhìn chung, các nhà nghiên cứu thống nhất rằng khái niệm "người khuyết tật"- cơ sở xác định ai
sẽ được công nhận là người khuyết tật, phụ thuộc rất nhiều vào mục tiêu mà luật pháp hoặc các chính sách xã hội theo đuổi, do đó, không có một khái niệm chung nào về khuyết tật có thể áp dụng cho tất cả các trường hợp [31, tr 16]
Trước đây, cách định nghĩa theo mô hình cá nhân thường đi kèm với những con số lượng hóa về tình trạng suy giảm sức khỏe của một người, vì vậy, thường được sử dụng phổ biến hơn Ngày nay, hầu hết các nước trên thế giới đều đưa ra định nghĩa về khuyết tật trên cơ sở kết hợp cả hai mô hình cá nhân và xã hội
Chẳng hạn như Bộ luật Xã hội ở Đức định nghĩa "người khuyết tật là người có
các chức năng về thể lực, trí lực, hoặc tâm lý tiến triển không bình thường so với
Trang 28người cùng độ tuổi trong thời gian trên 6 tháng và sự không bình thường này là nguyên nhân dẫn đến việc họ bị hạn chế tham gia vào cuộc sống xã hội."
Ở Ấn Độ, Luật Người khuyết tật (1995) định nghĩa "khuyết tật bao gồm tình
trạng bị mù, nghe kém, lành bệnh phong, suy giảm khả năng vận động, chậm phát triển trí tuệ, bệnh tâm thần" và "người khuyết tật là một người bất kỳ một khuyết tật nào không dưới 40% theo xác nhận của một cơ quan y tế có thẩm quyền." [31, tr 18]
Hệ thống Phân loại Quốc tế về Khiếm khuyết, Khuyết tật và Tàn tật (ICIDH)
do Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) ban hành năm 1980 đã có sự phân biệt về mức độ: -Khiếm khuyết (Impairment): Sự suy giảm về sức khỏe liên quan đến cơ thể con người, sự mất mát hoặc bất thường, có nguồn gốc sinh lý hay giải phẫu
-Khuyết tật (Disability): Là bất kỳ sự hạn chế về năng lực hoặc mất chức năng nào bắt nguồn từ sự khiếm khuyết làm ngăn cản việc thực hiện một hoạt động trong khoảng thời gian được coi là bình thường đối với một con người
-Tàn phế (Handicapped): Là tình thế bất lợi xuất phát từ sự khiếm khuyết hoặc khuyết tật làm cản trở việc thực hiện một vai trò được coi là bình thường đối với con người về tuổi tác, giới tính và các yếu tố xã hội và văn hóa [33, tr 5]
Năm 2001, WHO ban hành tài liệu "Phân loại Quốc tế về Chức năng, Khuyết tật
và Sức khỏe" (ICF) thể hiện một bước tiến mới theo xu hướng nhìn vào trung tâm của
vấn đề, nhấn mạnh vào những tiềm năng, khả năng của con người chứ không phải những khiếm khuyết và bất lợi của họ Từ trục nghiên cứu "Khiếm khuyết"- "Khuyết tật"- "Tàn phế" như năm 1980 đã chuyển sang "Khiếm khuyết"- "Hoạt động"- "Sự tham gia" Vấn đề khuyết tật được xem xét xoay quanh ba khía cạnh chính:
-Khiếm khuyết (Impairment): Sự bất thường của cơ thể
-Hạn chế hoạt động (Activity Limitation): Khó khăn khi thực hiện các hoạt động trong đời sống sinh hoạt hàng ngày
-Hạn chế tham gia (Participation Restriction): Khó khăn trong hòa nhập xã hội
do môi trường vật chất, thái độ và những rào cản văn hóa [43, tr 178]
Hệ thống phân loại này chỉ ra các dạng khuyết tật gồm có:
-Suy giảm khả năng vận động (Mobility disabilities): mất tay, chân, khiếm khuyết ở tay, chân, liệt cơ, liệt tủy sống, liệt não
Trang 29-Khiếm thị (Blind)
-Khiếm thính, câm (Deaf, Mute)
-Suy giảm khả năng học tập, khuyết tật trí tuệ (Learning disabilities) -Rối loạn hành vi (Behaviour disorders) do bệnh tâm thần hoặc các bệnh thần kinh, các rối loạn tâm lý
b Quan niệm về người khuyết tật và người khuyết tật vận động ở Việt Nam
Trong tiếng Việt, chúng ta có nhiều từ ngữ để chỉ người khuyết tật như "người
khuyết tật", "người tàn tật", "tật nguyền", "tàn phế" và các từ để chỉ từng dạng
khuyết tật cụ thể như: "mù", "khiếm thị", "câm", "điếc", "khiếm thính", "khuyết tật
ngôn ngữ", "què", "liệt", "khuyết tật vận động" Cách sử dụng các từ ngữ có thể
gây ra những tác động tích cực hoặc tiêu cực cho người khuyết tật bởi chúng thể hiện thái độ xã hội và vì vậy có thể vô hình làm giảm nhẹ hoặc làm nặng thêm tình trạng khuyết tật của họ Việc dịch các thuật ngữ quốc tế sang tiếng Việt cũng không phải là một vấn đề đơn giản Ví dụ, trước đây, trong tiếng Anh, người khuyết tật
thường được gọi bằng các thuật ngữ như "the handicapped", "the disabled" hay
"disabled people" tuy đều có thể dịch nghĩa là "người khuyết tật" nhưng với sắc thái
ý nghĩa thể hiện sự phân biệt đối với "normal people" (người bình thường) Cách gọi này hàm ý người khuyết tật là "không bình thường" Hiện nay các thuật ngữ này dần được thay thế bằng "people with disabilities" (dịch là “người khuyết tật”) và cùng với đó, "người bình thường" được thay bằng "people without disabilities"
(dịch là: “người không khuyết tật”) nhằm mục đích thể hiện tinh thần hòa nhập, thái
độ tôn trọng hơn, coi người khuyết tật cũng bình đẳng như mọi người khác, chỉ có điều là họ có khiếm khuyết về mặt sức khỏe thể chất hoặc trí tuệ
Trang 30Theo tác giả Lê Văn Phú (2004), “Người khuyết tật là người không bình thường
về sức khoẻ do các khuyết tật gây nên, làm huỷ hoại hay rối loạn các chức năng của
cơ thể dẫn đến những khó khăn trong đời sống và cần được xã hội quan tâm giúp đỡ Người khuyết tật là người bị mất hoàn toàn hay một phần khả năng, điều kiện để tự kiểm soát hành vi của mình, tự phục vụ mình, học tập và lao động” [28, tr 89]
Theo Luật Người khuyết tật do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 17 tháng 6 năm 2010, có hiệu lực từ
ngày 1 tháng 1 năm 2011 thì: “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc
nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn.”
Nghị định 28/2012/NĐ-CP ban hành ngày 10/4/2012 quy định về các dạng khuyết tật (Điều 2- Chương I):
1 Khuyết tật vận động là tình trạng giảm hoặc mất chức năng cử động đầu,
cổ, chân, tay, thân mình dẫn đến hạn chế trong vận động, di chuyển
2 Khuyết tật nghe, nói là tình trạng giảm hoặc mất chức năng nghe, nói hoặc
cả nghe và nói, phát âm thành tiếng và câu rõ ràng dẫn đến hạn chế trong giao tiếp, trao đổi thông tin bằng lời nói
3 Khuyết tật nhìn là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhìn và cảm nhận ánh sáng, màu sắc, hình ảnh, sự vật trong điều kiện ánh sáng và môi trường bình thường
4 Khuyết tật thần kinh, tâm thần là tình trạng rối loạn tri giác, trí nhớ, cảm xúc, kiểm soát hành vi, suy nghĩ và có biểu hiện với những lời nói, hành động bất thường
5 Khuyết tật trí tuệ là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhận thức, tư duy biểu hiện bằng việc chậm hoặc không thể suy nghĩ, phân tích về sự vật, hiện tượng, giải quyết sự việc
6 Khuyết tật khác là tình trạng giảm hoặc mất những chức năng cơ thể khiến cho hoạt động lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn mà không thuộc các trường hợp được quy định tại các Khoản 1, 2, 3, 4 và 5 Điều này
Từ những quan niệm trên, trong đề tài này, chúng tôi đưa ra cách hiểu về người khuyết tật và người khuyết tật vận động như sau:
Trang 31 Người khuyết tật là người bị mất hoặc dị thường về cấu trúc cơ thể hoặc
chức năng về tâm lý và thể chất, chẳng hạn như mất chân, mất tay, suy giảm thị giác, thính giác, chậm phát triển trí tuệ làm giảm hoặc mất khả năng thực hiện các hoạt động tâm lý, thể chất trong các điều kiện bình thường
Người khuyết tật vận động là người có bất thường về cấu tạo cơ thể và hoạt
động ở chân, tay, cột sống, hệ cơ, xương, khớp, thần kinh vận động… làm suy giảm khả năng vận động, hoạt động cơ học và di chuyển cơ thể một cách bình thường
c Vài nét về tình hình người khuyết tật và khuyết tật vận động trên thế giới và ở Việt Nam
*Tình hình người khuyết tật và người khuyết tật vận động trên thế giới:
Khoảng 10% dân số thế giới có khiếm khuyết về thể chất, cảm giác, trí tuệ hoặc tâm thần dưới các hình thức khác nhau Quốc gia nào cũng có người khuyết tật và hơn 2/3 số người khuyết tật trên thế giới sống tại các nước đang phát triển Mối liên
hệ giữa khuyết tật, nghèo đói và tình trạng bị cô lập với xã hội là thực tế phổ biến ở tất cả các quốc gia Việc từ chối các cơ hội việc làm công bằng cho người khuyết tật chính là một trong những nguyên nhân gốc rễ dẫn đến sự nghèo đói và tình trạng phân biệt đối xử với người khuyết tật Hậu quả là tỷ lệ không có việc làm ở người khuyết tật cao hơn những người khác Kể cả khi họ có việc làm thì đó cũng thường là những công việc thuộc thị trường lao động không chính thức, với những vị trí đòi hỏi
kỹ năng thấp và do đó, thu nhập thấp, có ít hoặc không có cơ hội thăng tiến [31, tr 1] Theo Ngân hàng Thế giới (WB, 2010), 20% trong những người nghèo nhất thế giới
là người khuyết tật và họ chính là người thiệt thòi nhất trong cộng đồng [43, tr 87] Theo Tổ chức Lao động Quốc tế ILO, có gần 300 triệu phụ nữ và trẻ em gái trên toàn cầu bị khuyết tật và gần 70% trong số họ sống ở các vùng nông thôn Ở nhiều nước nghèo, phụ nữ có nguy cơ bị khuyết tật cao hơn đàn ông do bất bình đẳng giới, phụ nữ thường phải làm việc trong điều kiện lao động không đảm bảo an toàn, không được chăm sóc sức khỏe, và bị bạo hành Ở một số nước, phụ nữ khuyết tật có tỷ lệ tử vong cao hơn nam giới khuyết tật Phụ nữ khuyết tật là đối tượng chịu nhiều thiệt thòi
do hai lần phân biệt đối xử về giới tính và khuyết tật Chỉ có khoảng 25% phụ nữ khuyết tật có việc làm [43, tr 87]
Trang 32Theo Ủy ban Kinh tế Xã hội khu vực Châu Á- Thái Bình Dương (ESCAP) của Liên Hợp Quốc, năm 2012, có 650 triệu người khuyết tật sinh sống ở khu vực này [42,
tr 2] Cũng theo Ủy ban này, dưới 10% trẻ em và thanh thiếu niên khuyết tật trong khu vực được đến trường (trong khi con số này ở trẻ em và thanh thiếu niên không khuyết tật là 70%) 160 triệu người khuyết tật (tương đương hơn 40%) trong khu vực sống trong đói nghèo và không được hưởng các hỗ trợ về kinh tế xã hội Khoảng 25% dân số của toàn khu vực có người thân trong gia đình bị khuyết tật [43, tr 28]
Các văn bản do Liên Hợp Quốc và các tổ chức thành viên ban hành (đặc biệt là
IlO và WHO), trong đó quan trọng nhất là Quy định của Liên Hợp Quốc về tạo cơ
hội bình đẳng cho người khuyết tật (năm 1993) và Công ước Quốc tế về Người khuyết tật (năm 2006) đã tạo cơ sở cho các quốc gia thay đổi luật pháp và các chính
sách xã hội của mình nhằm nâng cao hiệu quả công tác hỗ trợ người khuyết tật theo hướng tiếp cận quyền con người của người khuyết tật, đảm bảo các quyền của người khuyết tật và giúp họ nâng cao vị thế của mình, chứ không chỉ là đối tượng của phúc lợi xã hội Nhiều quốc gia đã ban hành những bộ luật dành riêng cho người khuyết tật [31, tr 26]
Việt Nam đã ký Công ước Quốc tế về Quyền của Người Khuyết tật ngày
22/10/2007 và cùng với đó là cam kết về điều chỉnh luật pháp cũng như các chính
sách xã hội Luật Người khuyết tật được thông qua ngày 17/06/2010 và có hiệu lực
từ ngày 01/01/2011 thay thế cho Pháp lệnh về Người tàn tật, năm 1998 là một bước
đi quan trọng của Chính phủ Việt Nam trong hoạt động hỗ trợ người khuyết tật
*Tình hình người khuyết tật và người khuyết tật vận động ở Việt Nam
Thống kê tổng quát về người khuyết tật:
Theo số liệu từ cuộc tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009, cả nước
có 12,1 triệu lượt người bị khuyết tật (trong đó một bộ phận người có từ 2 loại khuyết
tật trở lên), chiếm 15,5% dân số từ 5 tuổi trở lên Trong đó khuyết tật về thị giác có 3,9 triệu lượt người (chiếm 33%), khuyết tật về thính giác có 2,5 triệu lượt người (chiếm 20%), khuyết tật về vận động có 2,9 triệu lượt người (chiếm 24%), khuyết tật
về trí tuệ có 2,8 triệu lượt người (chiếm 23%) Nếu nghiên cứu những người có ít
nhất một trong bốn loại khuyết tật nêu trên (thị giác, thính giác, vận động, trí tuệ), thì
Trang 33cả nước có 6,1 triệu người khuyết tật từ 5 tuổi trở lên (chiếm 7,8% dân số từ 5 tuổi trở lên) [1, tr 6] Về giới tính, nữ giới chiếm 36,5% tổng số người khuyết tật [39, tr 13]
Về độ tuổi, gần 70% người khuyết tật nằm trong độ tuổi từ lao động [39, tr 37]
Các mặt đời sống của người khuyết tật:
Theo Điều tra tình hình thực hiện pháp luật người tàn tật tại 11 tỉnh (thành phố) năm 2009 của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, khoảng 75% hộ gia đình
có người khuyết tật sống ở khu vực nông thôn và 32,5% thuộc diện nghèo [2, tr 8]
Về lĩnh vực giáo dục cho trẻ em khuyết tật, theo Báo cáo Tình hình thực hiện
chính sách đối với người khuyết tật Việt Nam năm 2010 của Ban Điều phối các hoạt động hỗ trợ người khuyết tật Việt Nam (NCCD), ba loại hình giáo dục dành cho người khuyết tật (giáo dục hòa nhập, giáo dục chuyên biệt, giáo dục bán hòa nhập) đã được phát triển với nhiều thành tựu đáng kể
Bảng 1.1: Số trẻ em khuyết tật tham gia giáo dục hòa nhập và chuyên biệt
Năm học Số trẻ em khuyết tật
tham gia giáo dục hòa nhập
Số trẻ em khuyết tật tham gia giáo dục chuyên biệt
2004 – 2005 230.000 (24% số trẻ khuyết tật) Chưa có số liệu
2006 – 2007 Chưa có số liệu 9.000
2007 – 2008 290.000 (28% số trẻ khuyết tật) Chưa có số liệu
(Nguồn: Ban Điều phối các hoạt động hỗ trợ người khuyết tật Việt Nam) [2, tr 18]
Tuy nhiên, bên cạnh các thành tựu, hoạt động giáo dục cho trẻ khuyết tật vẫn còn nhiều hạn chế Theo báo cáo của Viện Khoa học Giáo dục năm 2007 về công tác giáo dục trẻ khuyết tật, có đến 55,5% trẻ em gái và 39,1% trẻ em trai khuyết tật chưa từng được đến trường Năm học 2007 - 2008 chỉ có 28% trẻ khuyết tật được đi học và chủ yếu là bậc mầm non và tiểu học Bên cạnh đó, tình trạng trẻ khuyết tật
bỏ học cũng là vấn đề đáng quan tâm, có đến 33% trẻ khuyết tật bỏ học Mạng lưới các cơ sở giáo dục chuyên biệt còn mỏng so với nhu cầu thực tế và mới chỉ tập trung ở một số thành phố lớn [2, tr 18]
Về lĩnh vực giáo dục và đào tạo nghề, tạo việc làm cho người khuyết tật, theo
số liệu của Tổng cục Dạy nghề, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội năm 2010,
Trang 34mỗi năm khoảng 9000 người Người khuyết tật được hưởng nhiều hỗ trợ về học phí, học bổng, điều kiện ăn ở đi lại, được hỗ trợ vốn kinh doanh, giới thiệu việc làm Tuy nhiên việc đào tạo nghề mới chỉ tập trung ở một số ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, mỹ nghệ như may mặc, thêu ren, đan lát, làm các sản phẩm lưu niệm [2, tr 20] Toàn quốc có hơn 400 cơ sở sản xuất kinh doanh của người khuyết tật, thu hút khoảng 20.000 lao động khuyết tật Cả nước có 150 trung tâm giới thiệu việc làm có tham gia dạy nghề và giới thiệu việc làm cho người khuyết tật [39, tr 37]
Kết quả cuộc điều tra mẫu tại 11 tỉnh (thành phố) năm 2009 của Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội năm 2009 cho thấy một thực tế đáng lo ngại là đa số người khuyết tật có trình độ học vấn thấp và chưa qua đào tạo nghề.
Bảng 1.2: Trình độ học vấn và trình độ chuyên môn của người khuyết tật
(Nguồn: Ban điều phối các hoạt động hỗ trợ người khuyết tật Việt Nam) [2, tr 9]
Về các tổ chức tự lực của người khuyết tật,
Tổ chức tự lực của người khuyết tật là tổ chức được điều hành bởi những người khuyết tật tự nguyện giúp những người cùng hoàn cảnh trong cộng đồng để họ có được tinh thần tự nguyện và ý chí tự lực tương trợ Mục tiêu của các tổ chức này là:
Trang 35-Tạo môi trường cho những người khuyết tật đồng cảnh giao lưu chia sẻ, giúp nhau xóa bỏ mặc cảm
-Là nơi người khuyết tật chia sẻ thông tin, phổ biến kiến thức
-Là cầu nối cho các chương trình hỗ trợ tiếp cận được người khuyết tật
-Tạo nên tiếng nói chung của người khuyết tật khi làm việc với các cơ quan đoàn thể và các tổ chức xã hội
Các tổ chức này là những địa chỉ đáng tin cậy của người khuyết tật, nơi họ được chia sẻ, trao đổi thông tin, kiến thức, khẳng định bản thân và đóng góp vào sự phát triển chung của xã hội [39, tr 215]
Các tổ chức tự lực của người khuyết tật có nhiều mô hình tồn tại như "Hội",
"Câu lạc bộ", "Nhóm" Cả nước có hơn 100 tổ chức tự lực của người khuyết tật, từ cấp quốc gia đến cấp quận, huyện, thị xã ở nhiều tỉnh, thành phố [5, tr 3]
* Người khuyết tật trên địa bàn thành phố Hà Nội
Theo Sở Lao động thương binh và xã hội thành phố Hà Nội, trong số liệu thống kê
phục vụ “Kế hoạch trợ giúp người khuyết tật Thành phố Hà Nội giai đoạn
2009-2013” của Ủy ban Nhân dân (UBND) Thành phố Hà Nội, tính đến tháng 5 năm 2009,
toàn thành phố có gần 90.000 người khuyết tật (chiếm 1,4% dân số), trong đó: nữ giới chiếm 45%, về độ tuổi, người cao tuổi từ 60 tuổi trở lên chiếm 28,5%, trẻ em dưới 16 tuổi chiếm 9% và lực lượng trong độ tuổi lao động chiếm 62,5%
- Về dạng tật: khuyết tật vận động có hơn 34.000 người chiếm 38%, khuyết tật về
thần kinh, trí tuệ có 36.300 người chiếm 40%, khiếm thị có 11.400 người chiếm 13%, khiếm thính có 8.200 người chiếm 9%, dị hình có 5.900 người, chiếm 7%
- Trình độ học vấn: gần 30.000 người mù chữ chiếm 33%; gần 15.000 người chưa
tốt nghiệp tiểu học chiếm 17%, số người đã hoàn thành phổ cập giáo dục gần 23.000 tốt nghiệp tiểu học chiếm 26,%, số người đã tốt nghiệp trung học cơ sở là 14.300 chiếm 16% , số người đã tốt nghiệp trung học phổ thông là 5.400 người, chiếm 6%, số người đã tốt nghiệp hệ trung học chuyên nghiệp là gần 800 người, chiếm 0.88%, số người đã tốt nghiệp cao đẳng, đại học là 1.400, chiếm 1,6% Như vậy, trình độ học vấn của người khuyết tật nói chung còn thấp, tỷ lệ người có trình độ từ trung học phổ thông trở lên rất thấp
Trang 36- Số người còn khả năng lao động: khoảng 19.500 người, chiếm 22%
- Tình trạng việc làm: Số người có việc làm là 11.700 người chiếm 13% tổng số
người khuyết tật, số người khuyết tật còn khả năng lao động chưa có việc làm là 13.900 người chiếm 15%
Hội Người Khuyết tật (NKT) Thành phố Hà Nội được UBND Thành phố Hà Nội ra quyết định thành lập ngày 16/01/2006 Đến năm 2012, Hội NKT Hà Nội có
46 tổ chức thành viên với tổng số gần 6000 hội viên, bao gồm: 24 Hội NKT cấp quận, huyện được Chủ tịch UBND TP Hà Nội ký quyết định cho phép thành lập, 68 Chi hội NKT cấp xã, phường được Hội NKT quận huyện thành lập và đi vào hoạt động; 3 Trung Tâm dạy nghề và hỗ trợ người khuyết tật; 19 Câu lạc bộ, Nhóm thành viên (Nguồn: Báo cáo Tổng kết công tác Hội NKT Hà Nội, nhiệm kỳ 2009-
2012, http://dphanoi.org.vn)
1.2.2.2 Thanh niên khuyết tật vận động
a Khái niệm thanh niên khuyết tật vận động
Thanh niên làm một khái niệm mang tính tương đối, phụ thuộc các quan điểm nghiên cứu cũng như những khác biệt trong sự phát triển cá nhân của mỗi người
Tổ chức Y tế Thế giới WHO quy định lứa tuổi thanh niên là từ 15 đến 24 [36, tr.5] Ở Việt Nam, trong “Luật Thanh niên” ban hành năm 2005, thanh niên là người
từ đủ 16 cho tới 30 tuổi [37, tr 5] Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh cũng quy định tuổi đối với Đoàn viên là từ 15 đến 30 tuổi
Trong tâm lý học, đặc biệt là tâm lý học phát triển, quan niệm của các tác giả về lứa tuổi thanh niên cũng khá đa dạng Chẳng hạn như theo tác giả Vũ Thị Nho và Nguyễn Quang Uẩn, tuổi thanh niên là lứa tuổi từ 18 đến 24, 25 tuổi, trên 25 tuổi gọi
là người trưởng thành [35, tr 56] Tác giả Nguyễn Văn Đồng lại quan niệm thanh niên là lứa tuổi tính từ tuổi dậy thì đến 20 tuổi, từ 20 tuổi trở lên là người trưởng thành [7, tr 15] Theo quan niệm của tác giả này thì việc bắt đầu lứa tuổi thanh niên của một người là từ khi người đó dậy thì và không có một mốc chung cho mọi người Nhìn chung, tuy quan niệm khác nhau nhưng các nhà tâm lý đều thống nhất rằng việc xác định mốc bắt đầu và kết thúc của mỗi lứa tuổi không cố định với những con số một cách máy móc Bởi sự phát triển sinh lý, tâm lý và nhân cách con
Trang 37người là sự tác động qua lại của nhiều yếu tố chứ không phụ thuộc vào con số tuổi đời Quan niệm phổ biến trong tâm lý học về tuổi thanh niên thường là khoảng từ
18, 19 đến 24, 25 tuổi Đây là lứa tuổi mà con người đi vào hoàn thiện việc phát triển thể chất và tâm lý dần dần trưởng thành và đi vào ổn định Các vai trò xã hội
có sự thay đổi từ người phụ thuộc sang hoạt động sống tự lập, hoạt động chủ đạo chuyển biến từ học tập sang làm việc
Trong đề tài này, thanh niên khuyết tật vận động được nghiên cứu là những
người trong độ tuổi từ 18 đến 25 có bất thường về cấu tạo cơ thể và hoạt động ở chân, tay, cột sống, hệ cơ, xương, khớp, thần kinh vận động… làm suy giảm khả
năng vận động, hoạt động cơ học và di chuyển cơ thể một cách bình thường
b Một số đặc điểm tâm lý của thanh niên khuyết tật vận động
Ở nước ta, hiện chưa có nhiều công trình nghiên cứu chuyên biệt về tâm lý người khuyết tật được xuất bản một cách chính thức, vấn đề tâm lý của người khuyết tật cũng thường chỉ được đề cập một cách sơ lược, ngắn gọn trong các tài liệu của ngành công tác xã hội Từ các tài liệu tiếp cận được, chúng tôi đưa ra một
số đặc điểm tâm lý của thanh niên khuyết tật vận động như sau:
Ở lứa tuổi 25, nhìn chung sự phát triển thể chất đã đi vào ổn định, thanh niên khuyết tật vận động (không xét trường hợp đa khuyết tật) tuy hạn chế về thể lực nhưng có sự phát triển bình thường về giác quan và trí tuệ, tạo điều kiện cho sự phát triển đời sống tinh thần, tâm lý tình cảm phong phú
-Sự phát triển động cơ học tập, lao động
Động cơ học tập, lao động của thanh niên khuyết tật vận động bị chi phối bởi nhiều nguyên nhân khác nhau, như yếu tố tâm lý cá nhân (hứng thú, niềm tin, lý tưởng sống ), điều kiện khuyết tật cụ thể của bản thân, hoàn cảnh, những yêu cầu của gia đình… Động cơ học tập, lao động đúng đắn, cao đẹp có sức mạnh lớn là động lực vươn lên cho thanh niên khuyết tật
Nhiều người khuyết tật vận động có tinh thần ham học và khá thông minh, nhạy bén trong việc tiếp thu các kiến thức, họ thể hiện sự tích cực trong học tập của mình và tích luỹ được lượng tri thức vượt xa nhiều bạn khác, cho dù đó là học tập ở đại học, cao đẳng hay hoạt động học nghề và các hình thức tự học tập,
Trang 38tớch lũy kiến thức khỏc Họ thường cú mong muốn đ-ợc thể hiện mình và có những
đóng góp cho xã hội
- Sự thớch nghi với cuộc sống và hoạt động mới
Cuộc sống sinh hoạt, học tập và lao động của thanh niờn cú nhiều nột cơ bản khỏc với lứa tuổi học sinh, đặc biệt là những thanh niờn khuyết tật phải sống
xa nhà, đối mặt với nhiều khú khăn trong cuộc sống hàng ngày và nhiều vấn đề đời sống xó hội Mụi trường học tập ở đại học, cao đẳng mang tớnh chất chuyờn ngành cao, lượng kiến thức rộng lớn, đũi hỏi tớnh tớch cực năng động Mụi trường lao động lại đũi hỏi tớnh kỷ luật, tinh thần trỏch nhiệm, những kỹ năng lao động chuyờn nghiệp, khả năng chịu đựng sự vất vả đặc thự của từng loại nghề nghiệp… Thanh niờn khuyết tật phải giải quyết nhiều mõu thuẫn như mõu thuẫn giữa những mong muốn, nhu cầu, ước mơ với khả năng đỏp ứng trong điều kiện thực tế, mẫu thuẫn giữa yờu cầu phải đầu tư nhiều thời gian cho học tập, lao động với việc dành thời gian cho cỏc cụng việc khỏc như việc nhà, hoạt động xó hội, giao lưu bạn
bố, đặc biệt là luụn luụn phải tỡm cỏch khắc phục những khú khăn, bất tiện trong cuộc sống do hạn chế về thể chất gõy ra Do sự thiếu hụt về thể chất dẫn đến những cản trở
trong sinh hoạt, lao động nờn người khuyết tật dễ bị ức chế, dẫn đến bi quan, chỏn
nản, tự ti, hay cỏu gắt, núng nảy, thường trốn trỏnh và sợ hói khi thực hiện cỏc hoạt
động mang tớnh cộng đồng như giao lưu gặp gỡ ở chỗ đụng người Tuy nhiờn, họ lại thường cú tớnh kiờn trỡ cao, giàu ý chớ và nghị lực Họ muốn được mọi người xem họ bỡnh thường như những người khỏc và khụng cú sự khỏc biệt với xung quanh
-Về đời sống xỳc cảm, tỡnh cảm của thanh niờn khuyết tật vận động
Do hạn chế về thể chất và những rào cản tõm lý- xó hội nờn thanh niờn khuyết tật ớt cú điều kiện tham gia cỏc hoạt động giao lưu, nhưng ở họ vẫn cú nhu cầu đ-ợc trao đổi, trò chuyện và giao tiếp th-ờng xuyên Thậm chớ, ở một số người, nhu cầu đú là rất lớn, cú thể gọi là tỡnh trạng “đúi giao tiếp”, đặc biệt là những người khuyết tật nặng, hầu như chỉ sống trong nhà Tuy giao tiếp là một nhu cầu lớn nhưng một bộ phận người khuyết tật cũn cú tõm lý tư ti nờn họ hay e ngại tiếp xỳc,
ớt chủ động giao tiếp
Trang 39Thanh niên khuyết tật vận động thường là những người sống nội tâm, rất nhạy
cảm và tế nhị, họ dễ thông cảm với những khó khăn của người khác hơn là những
người không khuyết tật Bởi vậy họ có thể hoạt động rất hiệu quả trong các nhóm tự
giúp Họ sẵn sàng chia sẻ giúp nhau vượt qua khó khăn bệnh tật và hoàn cảnh sống
để thích nghi tốt hơn và vươn lên [13, tr 12]
Tình bạn, tình yêu cũng là một vấn đề đặc biệt quan trọng trong đời sống xúc cảm, tình cảm của thanh niên khuyết tật Khi mang những yếu tố tích cực, trong sáng, lành mạnh, các loại tình cảm này làm phong phú thêm tâm hồn, nhân cách của mỗi người, giúp họ hoàn thiện bản thân và có nhiều nghị lực để vươn lên trong cuộc sống Tuy nhiên, thanh niên khuyết tật còn gặp rất nhiều khó khăn trong tình yêu, xuất phát từ những rào cản xã hội cũng như tâm lý mặc cảm, tự ti của bản thân Theo tác giả Đỗ Hồng Giang, thanh niên khuyết tật vận động gặp phải nhiều khó khăn tâm lý, trong đó nổi bật là:
Mặc cảm ngoại hình, với một số biểu hiện như: nghĩ về khiếm khuyết hàng
ngày; soi gương thường xuyên hoặc ngược lại rất ghét soi gương; tránh bất kỳ tình huống nào mà họ cảm thấy khiếm khuyết của mình bị chú ý, trong trường hợp nặng
nó có thể khiến họ không bao giờ rời khỏi nhà; phiền muộn, lo âu và ở một số trường hợp có ý nghĩ tự sát; hay so sánh mình với người khác; tránh xuất hiện nơi đông người; quan tâm quá mức đến việc sử dụng quần áo, trang điểm hoặc các cách khác một cách quá mức để che đi phần “thiếu sót”
Ám ảnh sợ xã hội, đa phần thanh niên khuyết tật vận động tuy không mắc "ám
ảnh sợ xã hội" ở mức độ bệnh lý nặng nhưng cũng thường ít nhiều có các biểu hiện
né tránh một số tình huống xã hội như: nói chuyện trước đám đông; làm việc khi ai
đó đang nhìn mình; gặp người lạ; đến những nơi công cộng
Suy nghĩ bi quan, là cách nhìn nhận, đánh giá về bản thân, người khác và các sự
vật, hiện tượng theo chiều hướng tiêu cực Từ đó có thể dẫn đến những trạng thái cảm xúc tiêu cực như buồn rầu, chán nản, lo âu, sợ hãi, tuyệt vọng và hành vi kém thích nghi như buông xuôi hoặc chống đối Cũng như nhiều người khuyết tật khác, thanh niên khuyết tật vận động thường lo lắng, bi quan về các vấn đề như sức khỏe, tuổi thọ của bản thân, vấn đề việc làm, hôn nhân gia đình, lúc về già không có người chăm
Trang 40sóc Những vấn đề này có thể trở thành mối bận tâm thường trực gây ra tâm trạng nặng nề, căng thẳng, ảnh hưởng tới sức khỏe thể chất và đời sống sinh hoạt
Phủ nhận bản thân, ở một số thanh niên khuyết tật vận động còn xuất hiện sự
phủ nhận bản thân, không muốn thừa nhận mình là người khuyết tật, không muốn đối diện với hoàn cảnh của bản thân Họ có thể có những biểu hiện như không muốn gặp những người cũng là khuyết tật, không muốn tham gia vào các tổ chức của người khuyết tật, các chương trình hỗ trợ người khuyết tật, thường có ý nghĩ
"giá như mình không bị khuyết tật thì sẽ " Một số người chia sẻ rằng họ cảm thấy
bị tổn thương khi gặp những người giống mình, điều đó nhắc nhở họ về khuyết tật
mà họ đang muốn quên đi Họ muốn tham gia vào các hoạt động của người bình thường chứ không phải dành cho người khuyết tật [18, tr 518]
Khái quát lại, có thể rút ra một số vấn đề chính về tâm lý thanh niên khuyết tật vận động là: đời sống tâm lý của người khuyết tật khá phức tạp, ở họ dễ nảy sinh những cảm xúc, suy nghĩ tiêu cực và những tổn thương tâm lý, sự đấu tranh nội tâm… nhưng họ cũng thường là những có ý chí, nghị lực vươn lên trong cuộc sống
Nhìn chung, tâm lý của thanh niên khuyết tật vận động là một hướng nghiên cứu cần được quan tâm để nâng cao hơn nữa hiệu quả của công tác hỗ trợ người khuyết tật
1.2.3 Khái niệm việc làm và quá trình tìm việc làm
1.2.3.1 Khái niệm việc làm
Theo quan điểm của các ngành khoa học khác nhau như kinh tế học, chính trị học, xã hội học khái niệm việc làm có thể được định nghĩa theo nhiều cách Các quốc gia cũng có những quan điểm khác nhau về vấn đề việc làm Tổ chức Lao
động Quốc tế (ILO) đưa ra định nghĩa: "việc làm là những hoạt động lao động được
trả công bằng tiền hoặc hiện vật" [18, tr 424] Tương tự như vậy, từ điển Tiếng
Việt cũng định nghĩa "Việc làm là công việc được giao cho làm và được trả công"
[27, tr 1115] Đây là cách hiểu rất rộng về việc làm, tuy nhiên, với cách hiểu này thì sẽ không có sự phân biệt giữa việc làm chính đáng, được pháp luật bảo hộ và xã hội công nhận với việc làm phi pháp, bị xã hội lên án Ở các quốc gia khác nhau, pháp luật cũng có những quy định khác nhau về những việc làm hợp pháp và bất hợp pháp Chẳng hạn như ở Việt Nam, mại dâm là một nghề bị cấm nhưng ở một số