định tầm quan trọng cũng như vai trò đặc biệt của cộng đồng, góp phần khẳng định đường lối lãnh đạo và chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2i
MỤC LỤC
MỤC LỤC i
BẢNG CHỮ VIẾT TẮT iii
LỜI CẢM ƠN v
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6
5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu 6
6 Bố cục của luận văn 8
Chương 1: Khái quát về quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ và quá trình hình thành cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ 9
1.1 Khái quát về mối quan hệ Việt Nam - Hòa Kỳ 9
1.1.1 Giai đoạn từ 1975 trở về trước 9
1.1.2 Giai đoạn 1975 - 1995 10
1.1.3 Giai đoạn từ 1995 đến nay 12
1.2 Lịch sử hình thành của cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ 18
1.2.1 Quá trình hình thành 18
1.2.2 Hiện trạng của cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ 20
1.3 Đặc điểm của cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ 21
1.3.1 Về thành phần chủng tộc 22
1.3.2 Về tôn giáo, tín ngưỡng 22
1.3.3 Về kinh tế 22
1.3.4 Về văn hoá 26
1.3.5 Về chính trị 31
1.4 Tiểu kết: 33
Chương 2: Vài trò của cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ đối với mối quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ 35
2.1 Chính sách của chính phủ Việt Nam và chính phủ Hoa Kỳ đối với cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ 35
2.1.1 Chính sách của Chính phủ Việt Nam đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài 35
2.1.2 Chính sách của chính phủ Hoa Kỳ đối với cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ 41
2.2 Vai trò của cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ trên các lĩnh vực chính trị - ngoại giao, kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học - kỹ thuật 46
Trang 3ii
2.2.1 Trên lĩnh vực chính trị - ngoại giao 47
2.2.2 Trên lĩnh vực kinh tế - đầu tư, viện trợ nhân đạo 50
2.2.3 Trên các lĩnh vực văn hoá - xã hội, giáo dục, khoa học - kỹ thuật 57
2.3 Những mặt hạn chế của cộng đồng 61
2.3.1 Đối với Hoa Kỳ 62
2.3.2 Đối với quê hương Việt Nam và quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ 64
2.4 Tiểu kết 67
Chương 3: Một số biện pháp nhằm phát huy vai trò của cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ đối với mối quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ 69
3.1 Đánh giá vai trò của cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ 69
3.1.1 Mặt tích cực và nguyên nhân 69
3.1.2 Mặt hạn chế và nguyên nhân 71
3.2 Đối với chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam 73
3.2.1 Về cơ chế và chính sách 74
3.2.2 Về thông tin và tuyên truyền 76
3.2.3 Về tổ chức thực hiện 76
3.3 Đối với chính sách của chính phủ Hoa Kỳ 77
3.3.1 Đảm bảo sự công bằng cho cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ 77
3.3.2 Coi cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ như là cầu nối trong quan hệ song phương 78
3.4 Đối với cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ 79
3.4.1 Tổ chức cộng đồng 79
3.4.2 Đa dạng hóa các nội dung hoạt động 80
KẾT LUẬN 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 87
PHỤ LỤC 95
PHỤ LỤC 1 : Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài 95
PHỤ LỤC 2 : Danh sách các thành phố của Mỹ có đông người gốc Việt 104
PHỤ LỤC 3 : Một số hình ảnh về cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ và quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ 108
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Ngày 11/7/1995, Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton tuyên bố chính thức bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam Tháng 8/1995, Việt Nam và Hoa Kỳ khai trương Đại sứ quán tại Washington và Hà Nội, đánh dấu một mốc lịch sử trong quan hệ ngoại giao giữa hai nước đã từng là kẻ thù trong chiến tranh Kể từ đó cho tới nay, quan hệ giữa Viêt Nam và Hoa Kỳ trên tất cả các lĩnh vực như buôn bán, đầu tư, ngoại giao, văn hóa… đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể Chỉ trong vòng 15 năm (1995 - 2010), quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ đã có những bước tiến quan trọng Đây là kết quả của những nỗ lực không ngừng của Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam Hiện nay, Hoa Kỳ và Việt Nam vẫn đang tiếp tục xây dựng, củng cố và phát triển hơn nữa quan hệ ngoại giao giữa hai nước vì lợi ích chung của nhân dân hai nước Trong nỗ lực chung của nhân dân Việt Nam, đóng góp vào sự phát triển của mối quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ, chúng ta không thể không kể đến những đóng góp và vai trò quan trọng của cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ đối với mối quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ Vậy, cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ được hình thành và phát triển như thế nào? Họ
đã có những đóng góp như thế nào cho mối quan hệ giữa Việt Nam, quê cha đất tổ của
họ và Hoa Kỳ, nơi họ đang sinh sống và làm việc? Để phát huy hơn nữa vai trò của cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ đối với việc duy trì và phát triển hơn nữa mối quan
hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, chính phủ Việt Nam và bản thân cộng đồng cần phải làm gì? Giải quyết được những vấn đề nêu trên có vai trò rất quan trọng đối với việc tiếp tục thúc đẩy và phát huy vai trò của cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ đối với sự phát triển của quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ trong tương lai Do đó, việc nghiên cứu về vai trò của cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ đối với mối quan hệ Việt Nam và Hoa Kỳ là một việc làm có ý nghĩa hết sức to lớn ở nhiều phương diện khác nhau
Về phương diện lịch sử, việc nghiên cứu về vai trò của cộng đồng người Việt Nam tại Hoa Kỳ đối với mối quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ sẽ góp phần nêu bật và khẳng
Trang 5định tầm quan trọng cũng như vai trò đặc biệt của cộng đồng, góp phần khẳng định đường lối lãnh đạo và chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài nói chung và cộng đồng người Việt Nam ở Hoa Kỳ nói riêng, đồng thời giúp chúng ta hiểu được những thành tựu trong công tác vận động Việt Kiều của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn phát triển mới hiện nay
Về phương diện thực tiễn, việc nghiên cứu này sẽ góp phần vào việc củng cố và tăng cường hơn nữa sự hiểu biết, tin cậy giữa cộng đồng người Việt ở trong nước và cộng đồng người Việt ở nước ngoài, đặc biệt là với cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ
Xuất phát từ những lý do trên đây, tôi đã mạnh dạn chọn vấn đề “Vai trò của cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ đối với mối quan hệ Việt Nam và Hoa Kỳ” làm đề tài cho luận văn Thạc sĩ Quan hệ Quốc tế của mình
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài hiện có khoảng gần 3 triệu người, đang sinh sống ở hơn 90 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới1
Trong số cộng đồng
người Việt Nam ở nước ngoài, tiêu biểu nhất phải kể đến cộng đồng người Việt Nam ở
Hoa Kỳ vì họ là cộng đồng người Việt Nam đông đảo nhất sống ngoài lãnh thổ Việt
với khoảng 1.3 triệu người2
(khoảng một nửa số người Việt Nam ở nước ngoài) Cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ được hình thành và phát triển trong khoảng trên 30 trở lại đây kể từ sau sự kiện sụp đổ của nguỵ quyền Sài Gòn Nghiên cứu về cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ và vai trò của họ đối với mối quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ là một đề tài rất mới và đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu nào về chủ đề này Ở Việt Nam nghiên cứu về cộng đồng này chỉ được đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp trong một số ấn phẩm như: “Hồ sơ văn hóa Mỹ” của Hữu Ngọc (NXB Thế giới, 2006); “Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ hướng về phía trước” của Nguyễn Mại (NXB Tri
2
Sđd, tr 20
Trang 6Thức, 2008); “Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ 1995 - 2005” của Trần Nam Tiến (Viện Phát triển Bền vững vùng Nam Bộ, 2008); “Người Việt Nam ở nước ngoài” và “Người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ có Việt Kiều” của Trần Trọng Đăng Đàn (NXB Chính trị Quốc gia, 1997 và 2005); “Người Việt ở Mỹ” của Thông tấn xã Việt Nam (Tài liệu tham khảo đặc biệt, ngày 29/04/2005); “Luật nhập cư của Mỹ và người Việt Nam nhập cư ở Mỹ” của Đỗ Thị Diệu Ngọc (Tạp chí Châu Mỹ ngày nay, số 03 - 2006); “Người làm cầu nối giao thương Việt Mỹ” của Thanh Mai (Tạp chí Quê hương,
số Xuân 2009); “Những người Việt thành đạt tại Mỹ” của Nguyễn Ngọc Chính (Tạp chí Việt Mỹ, số 33 -2010), “Hợp lực giữa doanh nghiệp trong nước và Việt Kiều để đưa hàng vào Mỹ” của Vĩnh Nguyên (Tạp chí Thương mại, số 25 - 2005); “Đầu tư của Việt Kiều - những tín hiệu vui” của Kim Dung (Tạp chí Tài chính - Ngân hàng, số 272
- 2005); “Phát huy tiềm năng tri thức người Việt Nam ở nước ngoài vào sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế” của Nguyễn Thanh Sơn (Tạp chí Cộng sản, số 795 - tháng 1/2009); “Tiềm lực Việt Kiều chưa được khai thác hiệu quả” của Trịnh Thị Thu Hà (Tạp chí Châu Mỹ ngày nay, số 03 - 2009)… Đáng chú ý có bài “Vài trò tích cực của cộng đồng người Việt tại Mỹ đối với quan hệ Việt – Mỹ” của Trần Bách Hiếu (Tạp chí Châu Mỹ ngày nay, số 11-2009) Bài viết này đã đi sâu phân tích và đánh giá khá toàn diện về vài trò của cộng đồng người Việt tại Mỹ đối với mối quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ Cụ thể tác giả đã chỉ ra vai trò quan trọng của cộng động người Việt đối với từng chủ thể cụ thể là đối với Mỹ, đối với Việt Nam và cuối cùng là đối với quan hệ Việt – Mỹ Đây là bài viết có nội dung tương đối sát với nội dung đề tài luận văn Cần phải nói rằng trong luận văn của mình, tôi đã có những
kế thừa đáng kể từ bài nghiên cứu này Tóm lại, các nội dung về cộng đồng người Việt
ở Hoa Kỳ được trình bày trong các ấn phẩm trên đây tập trung vào các vấn đề liên quan đến lịch sử hình thành và phát triển, hiện trạng, đời sống văn hoá, tinh thần cũng như các hoạt động nghề nghiệp của cộng đồng Tuy nhiên, phần lớn các bài viết chỉ dừng lại ở mức độ cung cấp tư liệu và giới hạn về thời gian nghiên cứu nên chưa mang tính cập nhật đối với các vấn đề đang tiếp tục diễn ra và cần được tiếp tục nghiên cứu
Trang 7Ở nước ngoài, nghiên cứu về cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ và vai trò của cộng đồng đối với mối quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ chủ yếu do các học giả ở Hoa Kỳ - phần đông là Việt Kiều, thực hiện Các nghiên cứu này tuy không nhiều và cũng chỉ gián tiếp đề cập đến chủ đề của luận văn nhưng cũng cho ta một cái nhìn tổng thể về cộng đồng Một số nghiên cứu tiêu biểu như “Vietnamese in America” của Lori Coleman (NXB Lerner Publications, 2004); “Vietnamese Americans - We are American” của Margaret C Hall (NXB Heinemann Library, 2003); “The New American, the Vietnamese Americans” của Hien Duc Do (NXB Greenwood Press, 1999); “Vietnamese American Diaspora Philanthropy to Vietnam” của Mark Sidel (Paper prepared for Philanthropic and Global Equity Initiative, Harvard University, 2007); “Diaspora Giving: An Agent of Change in Asia Pacific Communities? Vietnam” của Truong Thi Kim Chuyen, Ivan Small và Diep Vuong (Asia Pacific Philanthropy Consortium, Manila, 2008); “The Amerasians from Vietnam: A California Study” của Chung Hoang Chuong và Le Van (Southeast Asia Community Resource Center, 1994) Các học giả nước ngoài và Việt kiều chủ yếu tập trung vào nghiên cứu quá trình hình thành, đời sống của cộng đồng, những đóng góp, giúp đỡ của
họ cho quê hương thông qua các hoạt động trợ giúp nhân đạo, gửi kiều hối Những nghiên cứu của các học giả này khẳng định tầm quan trọng cũng như sự lớn mạnh của cộng đồng cả về lượng và chất, về tiềm lực và vai trò kinh tế, cầu nối hợp tác giữa Việt Nam và Hoa Kỳ trong những năm trở lại đây Đây được xem là những tài liệu quan trọng giúp chúng ta tiếp cận được với quan điểm cũng như đánh giá từ phía người Mỹ
và người Mỹ gốc Việt về cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ và vai trò của họ đối với việc kết nối Việt Nam với Hoa Kỳ
Nhìn chung, qua việc tiếp cận các nguồn tài liệu, chúng tôi nhận thấy, ở Việt Nam chưa có một công trình nào nghiên cứu tập trung hoặc chuyên sâu về cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ và vai trò cũng như những đóng góp của họ đối với mối quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ Trên cơ sở kế thừa những công trình đã có cũng như những công trình mà tôi chưa có điều kiện đưa vào phần tài liệu tham khảo do khuôn khổ có hạn
Trang 8của luận văn, người viết cố gắng phát triển thêm những gì tiếp cận được để hoàn tất luận văn này
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của việc nghiên cứu Vai trò của của cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ
đối với mối quan hệ Việt Nam và Hoa Kỳ là nhằm tái hiện một bức tranh toàn cảnh về
cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ, những đặc tính căn bản của cộng đồng trong quá trình lịch sử từ khi hình thành đến nay và vai trò của họ đối với với mối quan hệ Việt Nam và Hoa Kỳ ở một số lĩnh vực cụ thể như chính trị, kinh tế, văn hoá, giáo dục, trên
cơ sở tập hợp, hệ thống hoá và trình bày các sự kiện về hoạt động cũng như những đóng góp của cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ một cách khoa học, có chọn lọc và phân tích Luận văn cũng nghiên cứu và tìm hiểu những tác động tích cực và tiêu cực của cộng đồng này đối với quá trình bình thường hóa giữa Việt Nam và Hoa Kỳ và trong quan hệ giữa hai nước trong thời kỳ hai nước có quan hệ phát triển và bài học nào cần lưu ý và điểm mạnh nào cần phát huy trong chính sách của Việt Nam nhằm tranh thủ những đóng góp của cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ trong giai đoạn sắp tới Qua đó, luận văn có thể cung cấp một nguồn tư liệu hữu ích cho độc giả, học giả và các nhà nghiên cứu có quan tâm đến công tác nghiên cứu về cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài nói chung và cộng đồng người Việt Nam ở Hoa Kỳ nói riêng, cũng như vai trò
và đóng góp của họ đối với việc thúc đẩy mối quan hệ giữa Việt Nam và quê hương thứ hai của họ, Hoa Kỳ
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn tập trung tìm hiểu về lịch sử hình thành cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ, những đặc điểm nổi bật của cộng đồng, các chính sách của chính phủ Việt Nam và Hoa Kỳ đối với cộng đồng, vai trò, vị thế của họ trong xã hội Hoa Kỳ, vai trò và những đóng góp của họ đối tiến trình phát triển mối quan hệ song phương Việt Nam - Hoa Kỳ trên các lĩnh vực như chính trị - ngoại giao, kinh tế, văn hóa, giáo dục, khoa học kỹ thuật Một số mặt hạn chế của cộng đồng cũng sẽ được luận văn chỉ ra và từ đó luận văn đưa ra các biện pháp nhằm phát huy huy hơn nữa vai trò của cộng đồng đối với mối quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ
Trang 94 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vai trò của cộng đồng người Việt tại Hoa
Kỳ đối với quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ
hương Việt Nam và Hoa Kỳ
5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu
Trong quá trình thực hiện luận văn này, người viết sử dụng hai phương pháp chính là phương pháp lịch sử và phương pháp lô-gíc để giải quyết những vấn đề do đề tài đặt ra Bên cạnh đó, người viết còn sử dụng các phương pháp liên ngành khác như
Trang 10nghiên cứu quan hệ quốc tế, thống kê, so sánh, phân tích và tổng hợp để phân tích các
sự kiện một cách khoa học và có hệ thống
Tất cả các phương pháp trên đều được thực hiện trên nền tảng cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
Những nguồn tài liệu được sử dụng trong luận văn bao gồm:
Nguồn tài liệu quan trọng và mang tính chính thống là các văn kiện của Đảng và Nhà nước về đối ngoại, về cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, về quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ Nguồn tài liệu này được khai thác và sử dụng triệt để để phục vụ cho luận văn Đặc biệt, người viết cũng chú ý đến những nhận định của những bài viết, bài phát biểu các tham luận ở các hội nghị hội thảo quốc tế, các cuộc trả lời phỏng vấn báo chí của các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước có liên quan đến cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài nói chung và cộng đồng người Việt Nam ở Hoa Kỳ nói riêng, vai trò và đóng góp của họ đối với việc phát triển mối quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ Tuy những bài phát biểu, trả lời phỏng vấn hoàn toàn không phải là công trình nghiên cứu, nhưng ở một khía cạnh nào đó đếu thể hiện rõ quan điểm và đánh giá của Đảng và Nhà nước ta về cộng đồng người Việt Nam ở Hoa Kỳ và vai trò quan trọng của họ
Nguồn tài liệu thứ hai là các công trình nghiên cứu từ các trung tâm nghiên cứu trong và ngoài nước về cộng đồng người Việt nói chung và cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ nói riêng và những đóng góp của họ trong sự phát triển mối quan hệ Việt Nam
- Hoa Kỳ trên các lĩnh vực chính trị, ngoại giao, kinh tế, văn hoá giáo dục đặc biệt là các nghiên cứu từ đầu những năm 1990 đến nay Nguồn tài liệu này được các nhà nghiên cứu sử dụng, thể hiện trong các cuốn sách tham khảo, luận án, luận văn, những công trình nghiên cứu, những bài báo khoa học, những bài báo trên các tạp chí chuyên ngành Thông qua nguồn tài liệu này chúng ta có thể có một cách nhìn đầy đủ và toàn diện hơn về vấn đề đang được nghiên cứu
Nguồn tài liệu thứ ba là các loại báo chí cả trong và ngoài nước, mạng internet với những bài viết phản ánh trực tiếp ở từng thời điểm các sự kiện liên quan đến hoạt động của cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ cũng như sự ủng hộ cho mối quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ của họ
Trang 116 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, phần nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ và quá trình hình thành cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ Chương này cho chúng ta một cái nhìn khái quát về quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ và về cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ ở các khía cạnh như lịch sử hình thành, cũng như đặc điểm của cộng đồng
Chương 2: Vai trò của cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ đối với mối quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ Đây chính là phần nội dung cơ bản của luận văn, giúp chúng ta thấy được vai trò và những đóng góp của cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ đối với việc làm cầu nối, duy trì và phát triển mối quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ trên tất cả các lĩnh vực như chính trị - ngoại giao, kinh tế, văn hoá, giáo dục, khoa học - kỹ thuật Ngoài
ra, chương 2 cũng chỉ ra một số mặt hạn chế của cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ, cũng như những chính sách của Việt Nam và Hoa Kỳ đối với cộng đồng người Việt ở Hoa
Kỳ
Chương 3: Chương 3 đưa ra một số biện pháp đối với cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ, đối với chính phủ Việt Nam và chính phủ Hoa Kỳ nhằm giúp phát huy vai trò của cộng đồng cũng như kêu gọi cộng đồng đóng góp nhiều hơn nữa cho việc thúc đẩy mối quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ
Trang 12Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ QUAN HỆ VIỆT NAM – HOA KỲ VÀ QUÁ TRÌNH HÌNH
THÀNH CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT Ở HOA KỲ
1.1 Khái quát về mối quan hệ Việt Nam - Hòa Kỳ
1.1.1 Giai đoạn từ 1975 trở về trước
Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ đã manh nha từ thế kỷ 19, năm 1832, khi Edmund Robert, đặc phái viên của tổng thống Hoa Kỳ, Andrew Jackson (1829 - 1837), được giao nhiệm vụ đến đàm phán và ký kết một Hiệp ước thương mại với Nam Kỳ Dưới thời vua Tự Đức, năm 1873, Bùi Viện được cử sang Hoa Kỳ nhằm đề nghị Hoa Kỳ giúp đỡ Việt Nam đánh đuổi thực dân Pháp xâm lược Tuy nhiên, vì những lý do lịch
sử mà cả hai cuộc viếng thăm nêu trên đều không đạt được mục đích như mong đợi
Dù vậy, đây cũng có thể được xem là những tiếp xúc ngoại giao đầu tiên giữa Việt Nam và Hoa Kỳ
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, Hoa Kỳ trở thành một cường quốc, có vai trò chi phối các nước tư bản khác trên thế giới Thấy được điều đó, Đảng, Chính phủ ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã triệt để tranh thủ ảnh hưởng của Hoa Kỳ đối với các nước tư bản khác trong việc công nhận về mặt ngoại giao đối với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Cụ thể, thời kỳ Cách mạng tháng Tám – 1945, Hồ Chủ Tịch đã 8 lần gửi thông điệp, thư, điện cho Tống thống, Ngoại trưởng và Chính phủ Hoa Kỳ tha thiết đề nghị Hoa Kỳ công nhận nền độc lập của Việt Nam và ngăn chặn cuộc chiến tranh xâm lược trở lại của Pháp ở Đông Dương Đây được xem là cơ hội đặc biệt thuận lợi cho phía Việt Nam chủ động tạo nên để mở ra một trang mới trong quan hệ giữa hai nước Nhưng tiếc thay, do nhiều nguyên nhân khác nhau mà phía Hoa Kỳ đã cự tuyệt các đề nghị đầy thiện chí và hợp tình hợp lý của phía Việt Nam
Sau một thời gian dài đứng đằng sau Pháp trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, năm 1954, trước thất bại của Pháp, Hoa Kỳ đã từng bước thay chân Pháp và phát động một cuộc chiến tranh mới ở Việt Nam và Đông Dương với quy mô lớn hơn và mức độ ác liệt hơn Cuộc chiến tranh này kéo dài 21 năm ròng từ 1954 đến 1975 Đây
Trang 13thực sự là một cuộc chiến tranh tốn kém và bi thảm vì – như McNamara đã tổng kết –
“chúng ta đã mất 58.000 người cả nam lẫn nữ, nền kinh tế của chúng ta bị tàn phá bởi những chi phí cao và bất hợp lý cho cuộc chiến tranh trong nhiều năm liền; và sự thống nhất chính trị của xã hội của chúng ta bị tan nát và hàng thập kỷ sau vẫn không khôi phục nổi”3
Thực tế, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã nhiều lần bày tỏ lòng yêu chuộng hòa bình để giải quyết vấn đề chiến tranh Đông Dương, song chính phủ Hoa Kỳ, qua năm đời tổng thống khác nhau, thay vì đáp lại thiện chí của phía Việt Nam, đã tiến hành hàng loạt các chiến lược chiến tranh thực dân kiểu mới ở chiến trường Việt Nam như chiến tranh đơn phương, chiến tranh đặc biệt, chiến tranh cục bộ và Việt Nam hóa chiến tranh nhằm chinh phục Việt Nam bằng sức mạnh Đây chính là sự tiếp tục chính sách thù địch truyền thống của Hoa Kỳ đối với cách mạng Việt Nam, nhưng các chiến lược của Mỹ đều bị quân và dân ta đập tan, và
Mỹ đã tất yếu phải nhận thất bại
1.1.2 Giai đoạn 1975 - 1995
Sau khi miền Nam Việt Nam hoàn toàn giải phóng (30/4/1975), đất nước Việt Nam thống nhất, độc lập, có chủ quyền đi lên chủ nghĩa xã hội đã một lần nữa thể hiện thiện chí hòa giải của mình và mong muốn bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ và tạo những tiền đề, điều kiện vô cùng thuận lợi để phía Hoa Kỳ có thể nhanh chóng bình thường hóa quan hệ với Việt Nam Thiện chí này được Thủ tướng Phạm Văn Đồng tuyên bố lại trong kỳ họp quốc hội vào tháng 7/1975 rằng Việt Nam mong muốn bình thường hóa quan hệ với Hoa Kỳ Đây có thể nói chính là những động thái đầu tiên thể hiện thiện chí hòa giải của Việt Nam Nhưng đáp lại thiện chí đó, Hòa Kỳ lại một lần nữa tiếp tục thi hành chính chính sách thù địch, gây khó khăn và cản trở quá trình bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam; và hơn thế nữa tiếp tục đẩy mạnh các hoạt động bao vây, cô lập và cấm vận chống một nhà nước Việt Nam độc lập, thống nhất, có chủ quyền
3
Robert S McNamara (1995), Nhìn lại quá khứ: Tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam, Hồ Chí Hạnh
dịch, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 313
Trang 14Ngay sau ngày 30/04/1975, Hoa Kỳ đã tuyên bố, không thiết lập quan hệ ngoại giao với nước Việt Nam thống nhất; mở rộng phạm vi áp đặt lệnh cấm vấn đối với miền bắc Việt Nam từ năm 1964 ra toàn bộ lãnh thổ Việt Nam; phong tỏa toàn bộ tài sản trị giá khoảng 70 – 75 triệu đô la Mỹ của chính quyền ngụy quyền Sài Gòn tại Mỹ
Từ năm 1978, cho rằng “Việt Nam xâm lược Campuchia”, Hoa Kỳ đòi Việt Nam rút quân khỏi Campuchia Mọi liên hệ trực tiếp Việt Nam – Hoa Kỳ lại bị đình trệ
và trở nên căng thẳng Hoa Kỳ thực hiện cấm vận quốc tế đối với nước ta, thông qua việc thi hành chính sách “siết chặt đinh ốc”, cùng với các thế lực phản động quốc tế đẩy mạnh hơn việc phong tỏa, cô lập, bao vây, cấm vận Việt Nam, gây thêm khó khăn cho Việt Nam khi vừa thoát ra khỏi chiến tranh, chưa kịp hàn gắn các vết thương do chiến tranh để lại
Sau sự kiện Việt Nam rút hết quân tình nguyện khỏi Campuchia và Hiệp định Paris về hòa bình ở Campuchia, được ký kết ngày 23/10/1991, với sự tham gia của cả Hoa Kỳ, Việt Nam và nhiều nước khác cùng Liên Hiệp Quốc, Hoa Kỳ đã thực hiện một số hành động thiện chí bước đầu nhằm bình thường hóa quan hệ với Việt Nam như: Tuyên bố hủy bỏ lệnh cấm du lịch có tổ chức vào Việt Nam, đồng thời cho phép
Cơ quan Phát triển Quốc tế Mỹ (USAID) được trực tiếp viện trợ nhân đạo cho Việt Nam (04/12/1991), tiếp theo là việc Hoa Kỳ công bố viện trợ cho Việt Nam 3 triệu đô
la Mỹ để đáp lại thiện chí của Việt Nam trong vấn đề POW/MIA; bãi bỏ tất cả hạn chế đối với các tổ chức phi chính phủ (NGO) vào Việt Nam và cho phép được xuất sang Việt Nam những hàng hóa thuộc khuôn khổ danh mục những hàng hóa đáp ứng các nhu cầu cơ bản của con người (29/04/1992)
Ngày 14/12/1992, tổng thống G Bush tuyên bố nới lỏng thêm lệnh cấm vận của Hoa Kỳ Theo đó các công ty và giới kinh doanh Hoa Kỳ được phép vào Việt Nam để thăm dò, tìm hiểu khả năng, điều kiện kinh doanh, ký kết các hợp đồng và mở văn phòng đại diện
Sau khi chính thức nhậm chức Tổng thống Hoa Kỳ vào tháng 1/1993 Ngày 03/02/1994, Tổng thống Bill Clinton đã tuyên bố chính thức bãi bỏ lệnh cấm vận thương mại đối với Việt Nam và đồng ý mở cơ quan liên lạc giữa hai nước Tuyên bố
Trang 15này được phía Việt Nam cũng như dư luận Mỹ và quốc tế hết sức hoan nghênh và ủng
hộ Đối với Hoa Kỳ đó là một quyết định phải trải qua một quá trình lâu dài mới có được, còn đối với nhân dân Việt Nam và thế giới một quyết định như vậy lẽ ra phải được công bố từ lâu
Ngày 11/07/1995, Tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton đã ra tuyên bố việc Hoa Kỳ chính thức bình thường hóa quan hệ với Việt Nam Đây là một quyết định quan trọng, phản ánh nguyện vọng của đông đảo các tầng lớp nhân dân Mỹ muốn khép lại quá khứ, chiến tranh, xây dựng mối quan hệ bình thường, hữu nghị và hợp tác với Việt Nam Quyết định này đã mở ra một kỷ nguyên mới trong quan hệ hợp tác giữa hai nước Việt Nam – Hoa Kỳ, kỷ nguyên của hợp tác và cùng phát triển
1.1.3 Giai đoạn từ 1995 đến nay
Việc Việt Nam và Hoa Kỳ tuyên bố bình thường hóa quan hệ ngoại giao tháng 7/1995 đã mở ra một thời kỳ mới để đẩy mạnh và phát triển các mối quan hệ trên nhiều lĩnh vực giữa hai nước bao gồm chính trị - ngoại giao, thương mại, đầu tư, văn hóa, giáo dục và nhiều lĩnh vực khác nữa
Trên lĩnh vực chính trị - ngoại giao
Trong 15 năm qua, kể từ ngày hai nước tuyên bố bình thường hóa và thiết lập quan hệ ngoại giao, lĩnh vực chính trị - ngoại giao có thể nói là lĩnh vực diễn ra các hoạt động sôi nổi nhất với hàng loạt các cuộc tiếp xúc và thăm viếng lẫn nhau giữa hai nước đã diễn ra, nhằm thúc đẩy quan hệ song phương lên những tầm cao mới Các chuyến viếng thăm của các nhà lãnh đạo cao cấp của Việt Nam đến Mỹ phải kể đến như đoàn của Phó Thủ tướng Nguyễn Mạnh Cầm (1998, 2000), Phó Thủ tướng Thường trực Nguyễn Tấn Dũng (2001), Phó Thủ tướng Vũ Khoan (2003), Thủ tướng Phan Văn Khải (6/2005), Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Gia Khiêm (3/2007); Chủ tịch Nguyễn Minh Triết (7/2007), Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng (6/2008) và nhiều đoàn cấp cao khác Phía Mỹ cũng cử nhiều đoàn cấp cao thăm Việt Nam: Ngoại trưởng W Christopher (1995); Cố vấn an ninh quốc gia A Lake (1996); Ngoại trưởng M Albright (1997); Bộ trưởng Quốc phòng W Cohen (2000); Tổng thống Bill Clinton (tháng 11/2000); Ngoại trưởng C Powell (2001); Chủ tịch Hạ viện
Trang 16D Hastert (tháng 4/2006); Bộ trưởng Quốc phòng D Rumsfeld (6/2006); Bộ trưởng Tài chính H Paulson (9/2006); Ngoại trưởng C Rice, Tổng thống G Bush (11/2006)
Tiêu biểu cho các hoạt động thăm viếng diễn ra sôi nổi là chuyến thăm chính thức của Tổng thống Hoa Kỳ, Bill Clinton đến Việt Nam vào tháng 11/2000 Đây là một sự kiện lớn trong lịch sử quan hệ Việt Nam và Hoa Kỳ nói chung và quan hệ chính trị - ngoại giao Việt Nam – Hoa Kỳ nói riêng Đây là chuyến thăm đầu tiên trong lịch
sử của một tổng thống Hoa Kỳ đương nhiệm đến nước Việt Nam độc lập và thống nhất Trong các cuộc gặp gỡ với tổng thống Bill Clinton, các nhà lãnh đạo của Việt Nam đều khẳng định quan điểm của Việt Nam, sẵn sàng “khép lại quá khứ để hướng đến tương lai” trong quan hệ với Hoa Kỳ và mong muốn xây dựng một mối quan hệ bình thường, hợp tác trên cơ sở hai bên cùng có lợi
Thành tựu nổi bật nhất trong quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ trên lĩnh vực chính trị
- ngoại giao, kể từ sau chuyến thăm chính thức Việt Nam của tổng thống Bill Clinton, chính là chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ của Thủ tướng Việt Nam, Phan Văn Khải từ ngày 19 đến ngày 24/06/2005 Đây chính là chuyến thăm Hoa Kỳ đầu tiên của người đứng đầu chính phủ Việt Nam đúng vào dịp hai nước đang kỷ niệm 10 năm ngày bình thường hóa quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ Trong thời gian thăm và làm việc tại Hoa Kỳ, bên cạnh cuộc hội đàm với tổng thống George W Bush tại Nhà Trắng, Thủ tướng Phan Văn Khải còn có nhiều hoạt động hết sức ý nghĩa khác như tiếp xúc, gặp gỡ cộng đồng doanh nghiệp Mỹ, diễn thuyết tại Đại học Harvard, tiếp xúc với cộng đồng người Việt hiện đang làm ăn, sinh sống và học tập tại Hoa Kỳ, thăm các gia đình Việt Kiều Đây
là hành động thực sự có ý nghĩa quan trọng thể hiện tấm lòng cũng như sự quan tâm của cá nhân Thủ tướng cũng như của chính phủ Việt Nam đối với kiều bào Việt Nam hiện đang sinh sống và học tập tại Hoa Kỳ
Trong các năm 2006, 2007 và 2008, các nhà lãnh đạo hai nước cũng tiến hành liên tiếp các chuyến thăm chính thức khác như Tổng thống George W Bush đến Việt Nam tháng 11/2006, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết tới Hoa Kỳ tháng 6/2007 và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thăm Hoa Kỳ tháng 6/2008 Các chuyến thăm liên tiếp
Trang 17với mật độ dày đặc chính là minh chứng cho sự phát triển và hợp tác tốt đẹp trong quan
hệ chính trị và ngoại giao giữa hai nước Việt Nam và Hoa Kỳ
Trên lĩnh vực thương mại và đầu tư
Việc bình thường hóa quan hệ ngoại giao Việt Nam – Hoa Kỳ (11/07/1995) đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển toàn diện các mối quan hệ Việt Nam – Hoa
Kỳ, trong đó có các mối quan hệ về thương mại và đầu tư
Về thương mại: Quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Hoa Kỳ được nối lại từ
khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1995 Trong năm 1995, Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kỳ gần 200 triệu đô la Mỹ và nhập khẩu từ Hoa Kỳ khoảng hơn 150 triệu đô la Mỹ; tổng kim ngạch buôn bán giữa hai nước đạt 452 triệu đô la Mỹ4 Đến năm 1999 tổng kim ngạch buôn bán hàng hóa (hai chiều) của Hoa Kỳ với Việt Nam có tăng lên đạt 900 triệu đô la Mỹ, trong đó xuất khẩu của Hoa Kỳ sang Việt Nam là 291 triệu đô la Mỹ5 Nhìn chung, thời điểm trước khi Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ (ký ngày 12/07/2000) có hiệu lực, thị trường Hoa Kỳ chỉ chiếm khoảng 7% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam Điều này cho thấy kim ngạch buôn bán hai chiều giữa Việt Nam và Hoa Kỳ còn rất nhỏ bé, chưa tương xứng với tiềm năng của hai nước
Sau khi Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ có hiệu lực (10/12/2001), quan hệ buôn bán giữa hai nước đã có những bước phát triển nhảy vọt, đặc biệt là ở lĩnh vực xuất khẩu từ Việt Nam sang Hoa Kỳ Theo Niên giám thống kế của Việt Nam năm 2009, khối lượng hàng hóa của Việt Nam vào Mỹ đã gia tăng khoảng 69 lần trong giai đoạn 1995 – 2008, từ mức 170 triệu đô la Mỹ lên khoảng 11,8 tỷ đô la Mỹ, và tốc
độ tăng trung bình năm là 41% Khối lượng hàng hóa Việt Nam nhập khẩu từ Mỹ cũng
có sự gia tăng mạnh mẽ Trong giai đoạn này nhập khẩu của Việt Nam từ Mỹ tăng khoảng 20 lần trong giai đoạn 1995-1998, từ mức 130 triệu đô la lên mức 2,63 tỷ đô la,
và tốc độ tăng trung bình hàng năm là 32,5%
4
Nguyễn Hữu Cát, Lê Thu Hằng (1995), “Quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam – Mỹ: thuận lợi và khó khăn”,
Tạp chí Châu Mỹ ngày nay, số 4, tr 40-45
5
Nguyễn Anh Tuấn (2001), Quan hệ kinh tế của Mỹ và Nhật Bản với Việt Nam từ 1995 đến nay, NXB Chính trị
Quốc gia, Hà Nội, tr 62
Trang 18Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ trên thực tế như là một động lực thực sự cho thương mại giữa hai quốc gia và quan hệ buôn bán đã có những bước đột phá với sự gia tăng khối lượng hàng hóa trao đổi giữa hai nước một cách nhanh chóng
Sự gia tăng mạnh mẽ của xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường Hoa Kỳ chứng tỏ Việt Nam hoàn toàn có lợi thế cạnh tranh trên thị trường này và thị trường Hoa Kỳ là một thị trường đầy tiềm năng cho Việt Nam
Về đầu tư: Sau khi Hoa Kỳ bỏ cấm vận đối với Việt Nam, về nguyên tắc là tạo
điều kiện thuận lợi cho các công ty và doanh nhân Hoa Kỳ đầu tư, kinh doanh buôn bán ở Việt Nam Nhưng trên thực tế, điều này vẫn còn phụ thuộc vào nhiều điều kiện
và các yếu tố khác, mà trước hết là việc bình thường hóa quan hệ ngoại giao giữa hai nước Chính vì vậy mà đầu tư của Hoa Kỳ vào Việt Nam từ sau khi bỏ cấm vận (2/1994), tuy đã có bước tăng so với trước, nhưng vẫn còn rất chậm
Ngay sau khi tổng thống Hoa Kỳ Bill Clinton tuyên bố Hoa Kỳ và Việt Nam thiết lập quan hệ ngoại giao vào ngày 11/07/1995, nhịp độ đầu tư của các công ty Hoa
Kỳ vào Việt Nam đã tăng lên rất nhanh Tính đến tháng 8/1995 số vốn đầu tư của Hoa
Kỳ vào Việt Nam là 701 triệu đô la, trong 42 dự án khác nhau và đứng hàng thứ 7 trong danh sách các quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam6
Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ là một hiệp định thương mại toàn diện nhất mà Việt Nam từng ký kết Đầu tư là một phần quan trọng trong hiệp định Theo số liệu thống kê của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, số vốn đầu tư của Hoa Kỳ vào Việt Nam từ 1998 đến 2004 chỉ là 1,3 tỷ đô la Mỹ Tuy nhiên, nếu thống kê số vốn đầu tư trực tiếp từ Hoa Kỳ và cả số vốn đầu tư trực tiếp từ các công ty con của Hoa Kỳ ở nước ngoài (tức là đầu tư qua nước thứ 3) thì số vốn đầu tư trực tiếp vào Việt Nam của Hoa
Kỳ lên tới 2,6 tỷ đô la Mỹ, và Hoa Kỳ đứng đầu trong số các quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam Theo số liệu thống kê của Việt Nam, năm 2009 Hoa Kỳ tiếp tục
là đối tác đầu tư trực tiếp nước ngoài hàng đầu tại Việt Nam, vượt xa các đối tác đầu tư nước ngoài truyền thống như Hàn Quốc, Singapore, với tổng số vốn đăng ký được cấp
6
Nguyễn Hữu Cát, Lê Thu Hằng (1995), “Quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam – Mỹ: thuận lợi và khó khăn”,
Tạp chí Châu Mỹ ngày nay, số 4, tr 44
Trang 19phép lên tới 9,8 tỷ đô la Mỹ, chiếm 45% tổng số vốn đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam
Đầu tư trực tiếp nước ngoài của Hoa Kỳ thời gian qua đã góp phần quan trọng trong việc bổ sung nguồn vốn, đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển xã hội và phát triển kinh tế Bên cạnh đó các nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài từ Hoa Kỳ vào Việt Nam còn góp phần không nhỏ vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu lao động, nâng cao năng lực sản xuất
Trên lĩnh vực giáo dục và đào tạo
Quan hệ hợp tác trên lĩnh vực giáo dục và đào tạo giữa Việt Nam và Hoa Kỳ không ngừng được mở rộng và nâng cao Hai bên đã thỏa thuận và ký kết nhiều văn bản về hợp tác thực thi quỹ giáo dục dành cho Việt Nam Càng ngày càng có nhiều du học sinh và sinh viên Việt Nam đến học tập tại các trường của Hoa Kỳ Hàng năm quỹ học bổng Fulbright và Quỹ Giáo dục Việt Nam của Hoa Kỳ đã tài trợ cho hơn 100 sinh viên Việt Nam theo học cao học tại Hoa Kỳ, đặc biệt là các ngành khoc học và công nghệ Chương trình Fulbright tại Việt Nam là chương trình lớn nhất ở châu Á Đồng thời cũng không ít sinh viên và giáo sư Mỹ đến Việt Nam theo các chương trình trao đổi giáo dục của các quỹ này
Đại sứ đương nhiệm của Hoa Kỳ tại Việt Nam, ông Michael Michalak, khi mới đến nhậm chức đã từng tuyên bố, một trong những ưu tiên hàng đầu của ông là tăng gấp đôi số sinh viên Việt Nam sang học tập tại Mỹ Và cho đến nay kết quả thực tế đã vượt hơn mong đợi Theo ông Michael Michalak, số sinh viên Việt Nam sang Hoa Kỳ
du học đã tăng gấp 3 lần trong 3 năm qua và hiện con số đó là 13.000 sinh viên Việt Nam hiện đứng thứ 8 xét về số sinh viên đang theo học ở Mỹ7
Con số này không chỉ nói nên việc có thêm nhiều sinh viên Việt Nam đang được hưởng các cơ hội học tập tuyệt vời tại Mỹ mà còn thể hiện việc tăng cường dài hạn mối quan hệ song phương giữa hai nước Việt Nam và Hoa Kỳ
7
Nguyễn Ngọc Trường (2010), Quan hệ Việt-Mỹ cần những bứt phá mới, Báo Tổ quốc:
http://www.toquoc.gov.vn/Thongtin/Y-Kien-Binh-Luan/Quan-He-Viet-My-Can-Nhung-But-Pha-Moi.html
Trang 20Ngoài ra, trên hàng loạt các lĩnh vực hợp tác khác như an ninh quốc phòng, khoa học công nghệ, y tế, văn hóa, xã hội, viện trợ nhân đạo…, cho đến nay, Việt Nam
và Hoa Kỳ cũng đã triển khai và gặt hái được những thành công nhất định Những thành công đó chính là những mắt xích quan trọng góp phần làm nên sự thành công chung của mối quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ trong suốt thời gian kể từ khi hai nước bình thường hóa quan hệ cho đến nay
Tóm lại, xem xét mối quan hệ Việt Nam Hoa Kỳ, chúng ta có thể đưa ra một vài nhận xét như sau:
Thứ nhất, quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ là một mối quan hệ có tính đặc thù riêng
so với quan hệ giữa Việt Nam với các nước khác, với nhiều biến cố lịch sử, trải qua nhiều thăng trầm, xét về phương diện lịch sử, đây là mối quan hệ giữa hai quốc gia
“cựu thù” Để có được mối quan hệ như ngày nay, Chính phủ, nhân dân và lãnh đạo hai nước đã phải nỗ lực không ngừng nghỉ trong một thời gian dài với nhiều cuộc tiếp xúc, gặp gỡ, trao đổi và đàm phán, trải qua nhiều đời Tổng thống Mỹ để từ những kẻ thù trong chiến tranh thành những đối tác thời bình
Thứ hai, quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ chắc chắn sẽ đi theo chiều hướng khác tốt đẹp hơn nếu cả hai không bỏ lỡ những cơ hội thúc đẩy quan hệ bang giao song phương diễn ra trong lịch sử Chắc hẳn chúng ta sẽ đặt ra nhiều điều “giá như” khi lý giải về mối quan hệ này, giá như sau cách mạng tháng 8/1945, Hoa Kỳ đồng ý với đề nghị của chủ tịch Hồ Chí Minh, công nhận nền độc lập của Việt Nam và ngăn chặn cuộc chiến tranh xâm lược trở lại của Pháp ở Đông Dương, giá như Hoa Kỳ đồng ý ký vào Hiệp định Genève, giá như Hoa Kỳ không đưa quân tham chiến tại Việt Nam Nếu quả thật những điều “giá như” kia được thực hiện thì chắc chắn cả Việt Nam và Hoa Kỳ đã không phải mất một khoảng thời gian dài như vậy mới xây dựng được mối quan hệ như ngày nay
Thứ ba, rõ ràng là mối quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ trên tất cả các lĩnh vực đang ngày càng phát triển Tuy chặng đường phía trước còn khó khăn, nhưng sự phát triển của quan hệ hai nước trong thời gian vừa qua cho thấy mối quan hệ này là một nhu cầu khách quan, đáp ứng nguyện vọng của Chính phủ và nhân dân hai nước, góp phần vào
Trang 21việc xây dựng mối quan hệ bình đẳng, hoà bình, mang lại lợi ích cho cả hai bên, đồng thời góp phần vào việc xây dựng sự phồn thịnh, hoà bình trên phạm vi toàn cầu Quan
hệ Việt Nam - Hoa Kỳ có được những bước phát triển tốt đẹp như hiện nay là nhờ sự
nỗ lực lớn của cả hai bên trong đó có phần đóng góp không nhỏ của cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ
1.2 Lịch sử hình thành của cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ8
1.2.1 Quá trình hình thành
Cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ9
là những người có nguồn gốc dân tộc Việt đã
và đang định cư tại Hoa Kỳ Cộng đồng này bao gồm cả những người vẫn còn mang quốc tịch Việt Nam hoặc những người đã có quốc tịch Hoa Kỳ, họ còn được gọi là người Mỹ gốc Việt (Vietnamese American) hay Việt kiều Mỹ Sự hình thành cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ là một quá trình kéo dài nhiều trong nhiều năm Tuy nhiên, chúng ta có thể chia thành ba đợt nhập cư
Đợt nhập cư ồ ạt lần thứ nhất diễn ra ngay sau khi chính quyền Sài Gòn (cũ)
sụp đổ và miền Nam hoàn toàn giải phóng ngày 30/04/1975 với khoảng 125 nghìn đến
130 nghìn người, phần lớn là những người có quan hệ thân thiết với Mỹ và nguỵ quyền Sài Gòn, có trình độ tay nghề và học vấn cao Họ được vận chuyển bằng máy bay đến các căn cứ của Mỹ ở Philppines, Đảo Wakes và Guam rồi từ đó chuyển đến các trại tị nạn ở California, Arkansas, Florida và Pennsylvania để học tập và làm quen với văn hoá Mỹ trong sau tháng trước khi được đưa đi định cư ở các miền của nước Mỹ Tuy nhiên, chỉ sau một thời gian ngắn, những gia đình bị ly tán đã tìm cách đoàn tụ với nhau và hầu hết tập trung về California và Texas
Đợt nhập cư thứ hai (còn gọi đợt di cư của các “thuyền nhân” 10
Thuyền nhân (boat people), thuật ngữ dùng để chỉ những người nhập cư bất hợp pháp hoặc những người tị nạn
xuất cư bằng thuyền theo từng nhóm gồm nhiều người Thuật ngữ này được sử dụng từ cuối thập niên 1970 khi một số lượng lớn người tị nạn rời khỏi Việt Nam bằng cách này sau khi chính quyền Việt Nam Cộng hòa sụp đổ
Trang 22Việt Nam bất hợp pháp, đến các nước và vùng lãnh thổ trong khu vực như Thái Lan, Malaysia, Philippines, Hồng Kông Họ bị đưa vào các trại tị nạn, sau đó được chuyển tiếp sang các nước thứ ba Trong số này, khoảng 291 nghìn người đã được nhập cư vào
Mỹ trong khoảng từ năm 1978 đến 1984, tiếp theo đó, 205 nghìn người được Mỹ cho hưởng quy chế tị nạn từ năm 1979 - 1981 (xem bảng 1.1) Tại thời điểm sau chiến tranh, nhiều biện pháp được đưa ra để kiểm soát dân số miền Nam và cải tạo xã hội chủ nghĩa ở miền nam cũng như những biện pháp áp dụng đối với người gốc Hoa đã khiến rất nhiều người vượt biên ra đi Phần lớn những người này vượt biên đợt này có trình
độ học vấn cũng như địa vị xã hội thấp hơn những người ra đi ở đợt thứ nhất
Đợt nhập cư thứ ba bùng lên vào giai đoạn cuối những năm 1980 đến năm
1999 Trong giai đoạn này, mỗi năm trung bình có khoảng 22 ngàn người được nhập
cư vào Mỹ, thời điểm cao điểm là 1993 - 1995 có trên 30 ngàn người/năm
172,820
0 50,000
Bảng 1.1: Dòng người Việt Nam nhập cư vào Mỹ (bao gồm cả tị nạn) 1951-2000
Nguồn: Phòng Thống kê Nhập cư, Bộ An ninh Nội địa, Niên giám Thống kê Nhập cư 2003, tháng 9/2004, bảng 2, trang 14.
Trang 23Tổng cộng đã có khoảng 362 ngàn người đi theo “Chương trình ra đi có trật tự” (Orderly Departure Program - ODP), kết thúc năm 1994 và khoảng 190 ngàn sỹ quan, binh lính chính quyền Sài Gòn cũ cùng thân nhân và gia đình đi theo “Chương trình đoàn tụ gia đình” (Humanitarian Operation - HO) được nhập cư vào Mỹ “Chương trình đoàn tụ con lai” (Amerasian Homecoming Program) cũng đưa được 84 ngàn người gồm trẻ lai và người nuôi dưỡng sang Mỹ định cư 11
Thời gian gần đây, số lượng người Việt đến Mỹ định cư vẫn tiếp tục gia tăng nhưng mục đích ban đầu của việc đến Mỹ đã có phần thay đổi Phần đông họ là những người đi du học rồi ở lại sinh sống và làm việc hoặc kết hôn với người Mỹ
1.2.2 Hiện trạng của cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ
Theo thống kê dân số đến năm 2000 (US Census 2000) có 1.122.258 người Mỹ gốc Việt, không kể người Việt lai hoặc những người tự nhận mình thuộc nhiều hơn một chủng tộc, hoặc là người Việt dân tộc thiểu số chẳng hạn như người Thượng, Thái, Mường, Hoa, Chàm Cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ chiếm một nửa dân số Việt kiều trên toàn thế giới Người Việt hiện có mặt trên toàn bộ 50 bang của Hoa Kỳ và nhiều nhất ở các bang như California (484.023 người), Texas (134.961 người), Washington (46.149 người) và bang ít nhất là Wyoming với chỉ 128 người Xét theo vùng, người Việt sinh sống đông nhất tại các bang miền Tây với 564.424 người, tiếp theo là các bang miền Nam với 335.679 người, kế tiếp là các bang miền Bắc với 115.487 người và cuối cùng là các bang miền Trung Tây với 106.938 người Tính trên đơn vị cầp quận thì, quận Cam (Orange County), thuộc bang California, có số dân Việt cao nhất với 135.548 người Quận Cam nổi tiếng với “Tiểu Sài Gòn” (Little Sài Gòn), nơi có dân số Việt đông, thương mại và dịch vụ phát triển với hơn 2.500 cơ sở kinh doanh và doanh nghiệp và ngày càng có đủ điều kiện để sinh hoạt như một đơn vị kinh
tế độc lập tại địa phương Tình trạng này cho đến nay chưa thấy ở những trung tâm người Việt khác ở Hoa Kỳ và trên thế giới Ngoài ra, hàng loạt các thành phố khác cũng có tỷ lệ cư dân gốc Việt cao như San Jose: 965.000 người, chiếm 9% tổng dân số
Trang 24thành phố, sống tập trung trong một khu vực của thành phố, Westminster với 27.109 (chiếm hơn 30,7% tổng số dân; Garden Grove 35.406 (chiếm 21.4% tổng số dân); Anaheim: 10.025 (chiếm hơn 3% tổng số dân); Fountain Valley: 7.088 (chiếm 12,8% tổng số dân); Irvine: 4.414 (chiếm 8% dân số thành phố), Santa Ana: 19.226 (chiếm 5,6
% dân số thành phố)12
Qua số liệu trên chúng ta có thể nhận thấy, trong số hơn 1 triệu người Việt ở Hoa Kỳ thì gần một nửa trong số họ sinh sống tại bang California Phần còn lại sống thành từng cụm hoặc rải rác ở các bang khác trên toàn lãnh thổ Hoa Kỳ
Ngườì Việt Nam không phải là nhóm cộng đồng nhập cư sớm nhất và đông nhất vào Hoa Kỳ nhưng được coi là cộng đồng thành công nhanh chóng nhất Trong vòng hơn 30 năm, kể từ ngày cộng đồng được hình thành với số đông trên đất Hoa Kỳ, một môi trường xa lạ về ngôn ngữ, văn hoá giờ đây cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ đã dần hoà nhập vào xã hội Hoa Kỳ và khẳng định được vị thế nhất định trong đời sống kinh tế và xã hội Mỹ Nhiều người Mỹ gốc Việt đã gặt hái được những thành công nhất định trên đất Mỹ và hiện đang công tác, học tập hay nắm giữ các vị trí quan trọng trong các tập đoàn lớn, các trường đại học danh tiếng hay cơ quan hàng đầu của Hoa Kỳ như:
Cơ quan Hàng không Vũ trụ Mỹ (NASA), Boeing, Microsoft, Đại học Harvard, Đại học Stanford, Đại học California, ở Berkeley Theo đánh giá của người Mỹ, ở một môi trường cạnh tranh khắc nghiệt như Mỹ thì sự thành công của cộng đồng người Việt
là một điều đáng khâm phục
1.3 Đặc điểm của cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ
Cộng đồng người Việt tại Hoa Kỳ là nhóm chủng tộc mới được hình thành trong
xã hội Mỹ, với sự gia tăng nhanh chóng về số lượng kể từ đợt nhập cư ồ ạt đầu tiên năm 1975 Tính đến năm 2005, họ là cộng đồng dân tộc gốc Á lớn thứ tư tại Hoa Kỳ, sau người Mỹ gốc Hoa (2.882.257 người), người Mỹ gốc Ấn (2.319.222 người) và người Mỹ gốc Philippines (2.282.872 người)13
và xếp trên Triều Tiên (1.246.240
Trang 25người) và Nhật Bản (833.761 người) Xét về độ tuổi, cộng đồng người Việt khá trẻ, 54% dưới 35 tuổi, chỉ có 6% từ 64 tuổi trở lên Phần lớn giới trẻ Việt kiều ở Mỹ sinh ra sau chiến tranh, không mấy quan tâm đến quá khứ của thế hệ ông bà, cha mẹ họ trước đây 36,5% dân số dưới 25 tuổi Khoảng 543 ngàn người sinh ra ở Mỹ, chiếm 35,7%
Tỉ lệ nam nữ tương đối cân bằng trong cộng đồng, nhưng ở độ tuổi dưới 1, nam chiếm 52,1%, hơn nữ 4,2%, còn từ 18 tuổi trở lên thì nữ nhiều hơn nam khoảng 1% - 2%14
1.3.2 Về tôn giáo, tín ngưỡng
Đa số người Việt theo đạo Phật, khoảng 28% theo đạo Thiên Chúa, trong đó chủ yếu là Cơ Đốc giáo Mức độ nhiệt tình trong các hoạt động tôn giáo cũng đã giảm nhiều trong thời gian qua theo trào lưu chung của xã hội Mỹ Số người không theo đạo hoặc ít tham gia các hoạt động tôn giáo khá đông và ngày càng gia tăng Tuy vậy, ở nhiều cộng đồng người Việt, nhất là những địa phương nghèo như các bang vùng Vịnh Mexico, các tổ chức tôn giáo đóng vai trò khá quan trọng trong việc giúp đỡ những người khó khăn, như trong trường hợp cơn bão Katrina ở bang New Orleans năm 2005 Ngoài ra, 8.000 người Thượng ở Mỹ đều là tín đồ của đạo Tin Lành và mức độ nhiệt tình tôn giáo của họ khá cao, tuy nhiên, do nhiều hạn chế về điều kiện dân trí, kinh tế nên họ chưa gây ảnh hưởng trong cộng đồng người Việt nói chung
Trang 26Trong khoảng 10 – 15 năm sau làn sóng nhập cư ồ ạt đầu tiên, tình hình kinh tế của cộng đồng người Việt ở Mỹ rất khó khăn, một phần vì hoàn cảnh khốn khó của người nhập cư, một phần vì kinh tế Mỹ bị suy thoái Sau đó kinh tế Mỹ tăng trưởng mạnh vào thập niên 90 của thế kỷ trước, cộng đồng người Việt được coi là một trong những cộng đồng châu Á thành công nhất trong kinh doanh Theo số liệu của Cục Điều tra Dân số Mỹ, từ 1990 đến 2000, thu nhập hình quân hộ gia đình tăng gần gấp đôi, lên đến 47 ngàn USD/năm, cao hơn mức trung bình của Mỹ gần 5.000 USD Tỷ lệ người nghèo giảm 10%, còn 14.3% Đến năm 2005, thu nhập bình quân của mỗi hộ gia đình tăng thêm 7.000 USD, đạt 54.227 USD/năm, kém hơn mức bình quân của hộ gia đình
Mỹ 1.600 USD, tỷ lệ hộ nghèo vẫn ở mức 14,1%, cao hơn mức trung bình của người
Mỹ là 0,8%15
Một điều đáng lưu ý là tỷ lệ hộ người Việt Nam nhận trợ cấp xã hội thường xuyên cao hơn mức trung bình ở Mỹ (xem bảng 1.2) Tỷ lệ này không phản ánh chính xác mức độ nghèo khổ của người Việt, bởi vì cộng đồng người Việt thường có nhiều mưu mẹo để hưởng trợ cấp xã hội và có đội ngũ luật sư người Việt rất giỏi chuyên tư vấn về lĩnh vực này Điều này khiến một số người Mỹ có thái độ khó chịu, thậm chí căm tức người Việt, đặc biệt là những đối tượng phải dựa vào trợ cấp xã hội như người
da đen, vì họ cho rằng người Việt “láu cá” lấy mất phần của họ
Bảng 1.2: Mức độ phụ thuộc của người Việt vào hệ thống phúc lợi xã hội Mỹ
Tỷ lệ hộ nhận phiều trợ cấp lương thực (food stamp) 8,0% 8,8%
Nguồn: Số liệu Điều tra cộng đồng Mỹ 2005, Cục Thống kê Dân số Mỹ
Trang 27Tổng thu nhập của toàn bộ cộng đồng người Việt ở Mỹ năm 2005 là 31 tỉ USD
Có khoảng 481 ngàn người làm việc toàn bộ thời gian với mức lương trung bình hàng năm là 48.760 USD cho nam và 39.227 USD cho nữ Điều này cho thấy là bất bình đẳng giới trong thu nhập là khá cao
Khoảng 49% trong tổng số hơn 1,6 triệu người Việt có việc làm Tỷ lệ thất nghiệp là 6,7%, thấp hơn mức trung bình của người Mỹ là 0,2% Số người phục vụ trong quân đội Mỹ tính đến năm 2005 khoảng 2.300 người, chiếm 0,2% số người trong
độ tuổi lao động, thấp hơn 0.1% so với mức trung bình của người Mỹ 0,9% người Việt (70.640 người) làm việc cho cơ quan chính quyền Mỹ ở các cấp Một tỷ lệ lớn (29,9%) lao động Việt kiều làm trong những ngành thu nhập cao là quản lý, bác sĩ, luật sư nhưng con số này vẫn thấp so với mức trung bình của Mỹ kà 34,1% Số người làm việc trong lĩnh vực dịch vụ là 24,6%, sản xuất, vận tải và khuân vác, vận chuyển là 20,6% (Bảng 1.3)
Khá nhiều người Việt đã khẳng định được năng lực của mình trong các ngành khoa học và kinh tế mũi nhọn như cơ khí chế tạo, tin học viễn thông, vũ trụ, y học, sinh học, quản lý kinh tế, chứng khoán Vào thời điểm cao điểm, có trên một vạn chuyên gia, kỹ sư tin học và kỹ thuật viên cao cấp làm việc tại Thung lũng Silicon, chiếm đến 1/7 dân số người Việt ở đây NASA cũng đã ghi lại nhiều dấu ấn của các nhà khoa học gốc Việt Dù chưa có thống kê chính thức nhưng ước tính có thể lên đến vài trăm nhà khoa học Việt đang làm việc tại đây Chỉ riêng Trung tâm nghiên cứu Ames của NASA
ở bang California, hiện đã có khoảng 100 chuyên gia người Việt16
Tuy nhiên, đa số người Việt làm nghề nông lâm, thợ thủ công, buôn bán, công nhân lắp ráp, sửa chữa, dịch vụ hoặc chế biến Một số đã thành lập được doanh nghiệp riêng quy mô gia đình Năm 2003, các doanh nghiệp do Việt kiều làm chủ đã trả 1,1 tỷ USD tiền lương cho 97 ngàn nhân viên với doanh thu là 9,3 tỷ USD17
Campi, Alicia, From Refugees to American: Thirty Years of Vietnamese Immigration to the United States,
Immigration Center, http://www.ailf.org/ipc/refugeestoamericans.asp, tải về ngày 25/09/2008
Trang 28năm 2006, có 147.081 cơ sở kinh doanh do người Việt làm chủ với tổng doanh thu là 15,7 tỷ USD, chủ yếu là các cơ sở nhỏ và buôn bán nhỏ
Hiện có ba tỷ phú đô la Việt kiều là ông Trung Dũng, người sáng lập ông ty phần mềm Fogbreak, ông Trần Đình Trường, chủ khách sạn Carter ở thành phố New York và ông Huỳnh Phi Dũng, một thương gia; có gần 20 triệu phú với số vốn từ vài chục triệu đến vài trăm triệu USD, trong đó nổi bật là ông Bill Nguyễn với gần 800 triệu USD, được tạp chí Forbes xếp thứ 40 trong danh sách những người giàu nhất nước Mỹ dưới 40 tuổi
Bảng 1.3: Cơ cấu nghề nghiệp của Việt kiều
Mỹ Sai số Việt kiều Sai số
Số người làm việc trong lĩnh vực dân sự từ 16
Sản xuất, vận tải và khuân vác vận chuyển 13,0% +/-0,1 20,6% +/-1,0 NGHỀ CỤ THỂ
Nông, lâm, ngư nghiệp, săn bắn và khai tác
Trang 29Ở Mỹ có hai nghề đặc trưng cho cộng đồng người Việt là nghề sơn sửa móng tay (làm nail) và đánh bắt tôm Theo Capi (2005), doanh số nghề sơn sửa móng tay ở
Mỹ năm 2003 là 6 tỷ USD và không ngừng gia tăng Tạp chí Nails Magazine phải công nhận người Việt đã định nghĩa lại nghề này, giúp tạo ra tăng trưởng mạnh về số lượng cửa hiệu và doanh thu, đồng thời hạ giá thành khiến bất kỳ ai từ các em gái đến những người phụ nữ lao động cũng có thể sử dụng dịch vụ này Người Việt chiếm 37% lực lượng lao động làm nail được cấp phép trên toàn nước Mỹ Con số này ở bang California là 80%18 Con số thực tế còn có thể cao hơn nhiều, vì nhiều chủ tiệm nail người Việt thường thuê các lao động chui làm việc và trả thù lao bằng tiền mặt
Một doanh nhân Việt kiều tiêu biểu trong lĩnh vực này là ông Charlie Tôn, ở Baton Rouge, Louisiana Ông sở hữu trên 700 tiệm nail, mỗi năm mở thêm 125 tiệm mới trên toàn nước Mỹ, với vốn đầu tư 50 ngàn USD mỗi tiệm, ông có tổng tài sản trên
35 triệu USD Tuy nhiên, gần đây có những cảnh báo về tính không bền vững của ngành này Theo giáo sư Ngô Thanh Nhàn của Đại học New York, thì việc tự do cạnh tranh, giảm giá đã đưa đến thất bát và hàng ngàn lao động trong kỹ nghệ làm móng sẽ
bị mất việc, tình hình kinh tế sẽ tồi tệ hơn19
Nghề thứ hai khiến người Việt nổi tiếng là đánh bắt hải sản, đặc biệt là tôm Mặc dù chỉ chưa đầy 0,5% lực lượng lao động người Việt làm trong ngành này nhưng
ở nhiều nơi trong khu vực Vịnh Mexico (các bang Texas, Louisiana, Mississippi, Alabama và Florida), Việt kiều chiếm từ 45% đến 80% tổng giá trị sản lượng Khoảng 5.000 người Việt tham gia đánh bắt tôm tự nhiên trong vịnh, hàng trăm người khác làm nghề nuôi cá ngừ và cua bể trong đất liền ở khu vực này
1.3.4 Về văn hoá
Tuy có những cá nhân đạt nhiều thành tựu trong các lĩnh vực giáo dục, nghiên cứu khoa học và xã hội, trình độ học vấn của cộng đồng người Việt nói chung chưa phải ở mức cao Có đến 27,7% trong gần một triệu người từ 25 tuổi trở lên chưa tốt nghiệp trung học, trong khi đó con số trung bình của Mỹ là 15,% Số người này có
Trang 30nguồn gốc từ những làn sóng nhập cư về sau, chủ yếu là những người lao động trình độ thấp Ở các trình độ cao hơn, tỷ lệ người Việt đều thấp hơn mức trung bình của Mỹ, trừ bậc đại học thì tỷ lệ của người Việt là 18,2% so với mức trung bình 17,2% toàn quốc (Bảng 1.4)
Điều này có thể là do con em người Việt một khi đã đi học thì đa số học lên bậc đại học hoặc cao hơn Tỷ lệ tốt nghiệp đại học lớn hơn cả vì số người trong độ tuổi học xong đại học (từ 22-44 tuổi) chiếm tỷ lệ phần trăm khá lớn (Bảng 1.4) Ở nhóm tuổi 18-24 có bằng trung học nhưng chưa có bằng đại học chiếm tỷ lệ nhỏ hơn so với các
Bảng 1.4: Trình độ học vấn của Việt kiều so sánh với mặt bằng chung của Mỹ
Số dân từ 25 tuổi trở lên 188.950.759 +/-39.877 969.999 +/-25.646 Trình độ dưới tốt nghiệp trung học (lớp 12) 15,80% +/-0,1 27,70% +/-0,9 Tốt nghiệp trung học hoặc tương đương 29,60% +/-0,1 23,0% +/-0,9
Cao học hoặc chuyên nghiệp (bác sỹ, luật sư) 10,00% +/-0,1 7,30% +/-0,5
Nam, từ tốt nghiệp trung học trở lên 83,80% +/-0,1 77,30% +/-1,1
Nữ, từ tốt nghiệp trung học trở lên 84,60% +/-0,1 67,50% +/-0,1
Trang 31phổ thông và đại học đều cao hơn mặt bằng chung của nước Mỹ, đặc biệt là bậc đại học với 36,31% so với 27,76% (Bảng 1.5) Do vậy, trong tương lai, trình độ học vấn trung bình của cộng đồng người Việt sẽ được nâng cao
Bảng 1.5: Tỷ lệ đến trường của Việt kiều khá cao so với mặt bằng nước Mỹ
Giáo dục phổ thông (lớp l – 12) 270.819 49.119.874 93,69 93,08 Giáo dục đại học và sau đại học 145.897 18.068.826 36.31 27.76
bà con Việt kiều Trong thời gian gần đây, một số văn hóa phẩm trong nước đã được đông đảo người Việt ở Mỹ tiếp nhận, kênh truyền hình từ trong nước đã truyền tải kịp thời hình ảnh và sự kiện đến bà con Việt kiều, có tác động làm phong phú thêm đời sống tinh thần của người Việt
Tuy nhiên, một bộ phận không nhỏ người Việt có trình độ thấp, tự co cụm, tự khép mình lại, khả năng Anh ngữ kém Người Việt ở Mỹ có tỷ lệ kém khả năng Anh ngữ cao nhất trong nhóm người Mỹ gốc Á, lên đến 55,1% so với 47,6% người Trung
Trang 32Quốc và 48,9% người Hàn Quốc, mặc dù đã ở Mỹ một thời gian khá dài20 Với trình độ hạn chế về ngôn ngữ, không những quá trình hòa nhập của họ vào đời sống Mỹ tỏ ra rất khó khăn mà cơ hội xin việc làm của họ cũng bị hạn chế
Theo một nghiên cứu của Min Zhou thuộc Đại học California, ở Los Angeles và Carl L Bankston III thuộc Đại học Tulane về giới trẻ Việt Nam tại New Orleans năm
1994 và 2003, tỷ lệ kết bạn với người Mỹ da trằng và da đen là rất thấp, mặc dù có tăng lên theo thời gian (Bảng 1.6) Ngay giới trẻ mà còn ít hòa nhập như vậy thì người lớn tuổi còn khó khăn hơn nhiều trong quá trình này
Bảng 1.6: Xu hướng kết bạn với người da trắng và da den của thanh niên Việt
kiều theo nhóm hư hỏng và không hư hỏng
Nguồn: Min Zhou và Carl L Bankston III (2004): Delinquency and Acculturation in the
21 st Century: A Decade’s Change in a Vietnamese American Community, http://achievementseminars.com/seminar_series_2005_2006/readings/Zhou_Bankston_Del inquency_and_Acculturation_2004.pdf
20
Phạm Thành Sơn (2009), Thực trạng người Việt tại Hoa Kỳ, đăng trên 15-thuc-trang-nguoi-viet-tai-hoa-ky, tải về ngày 20/10/2009
Trang 33http://www.tuanvietnam.net/2009-10-Do hoàn cảnh lịch sử, nhiều trẻ em Việt Nam dù sinh ra ở Mỹ hay nhập cư đã trưởng thành trong môi trường kém thuận lợi hơn nhiều so với chúng bạn ở Mỹ Hoàn cảnh kinh tế khó khăn, gia đình ly tán, không có điều kiện học hành tử tế đã khiến nhiều trẻ em Việt Nam bị sa ngã và phạm tội Mặt khác, cộng đồng người Việt chưa chú ý giúp đỡ những đứa trẻ này Một giảng viên đại học ở California nhận xét; “Ngày xưa sinh viên Việt Nam luôn học giỏi nhất lớp Mỗi khi tôi thấy một cái tên Việt trong danh sách lớp, tôi biết ngay rằng người này sẽ trở thành ngôi sao Bây giờ không còn thế nữa Tôi vẫn có vài sinh viên học giỏi là người Việt, nhưng rất nhiều sinh viên Việt giờ đây học kém hơn những người khác Mà thật lạ, vì những em này đều sinh ra ở đây
và nói tiếng Anh thành thạo”21
Các băng nhóm tội phạm người Việt đang hoạt động tại những khu vực tập trung đông người Việt như California, mà nạn nhân của chúng phần lớn là những người Việt khá giả Hiện tượng bảo kê các cửa hàng ở Quận Cam khá phổ biến Đã có những cuộc đấu súng ác liệt giữa các băng nhóm này với cảnh sát như vụ cướp ở Sacramento năm 1992 Một số thành viên các băng nhóm này là người Việt gốc Hoa Rất có thể các băng nhóm này còn cấu kết với những nhóm chính trị người Việt quá khích để khủng bố, đe dọa, chèn ép các đối thủ chính trị trong cộng đồng, điển hình là
vụ tờ Việt Weekly, mà đỉnh cao là những cuộc biểu tình chống tờ báo này hồi tháng 7/2007
Một số thói xấu của người Việt đang phát triển như cờ bạc, rượu chè Hình thức đánh bạc chủ yếu là cá độ bóng đá Mỹ (môn thể thao phổ biến thứ hai ở Mỹ sau bóng chày) và tổ chức các sòng bạc chui để đánh bài tây
Một đặc điểm dễ nhận thấy là khoảng cách thế hệ ngày càng lớn trong cộng đồng người Việt Khoảng cách thế hệ không phải là điều khác thường trong xã hội, nhưng vấn đề đó trong cộng đồng người Việt ở Mỹ lại diễn ra ở mức độ sâu sắc hơn nhiều Đó là khoảng cách về ngôn ngữ Người lớn tuổi thì phần lớn chỉ biết tiếng Việt,
Trang 34rất kém tiếng Anh Giới trẻ thì ngược lại, nhiều người không nói được tiếng Việt, nhất
là những thế hệ sinh ra trên đất Mỹ
Một điều tra của tờ San Jose Mercury News tháng 7/2000 về cộng đồng gần 150.000 người Việt, sống ở khu vực Vịnh San Francisco gồm các thành phố San Francisco, San Jose, Oakland và các vùng ngoại ô cho thấy rằng khoảng cách ngôn ngữ rất lớn giữa thế hệ trẻ và thế hệ già (Bảng 1.7) Cũng theo khảo sát này, khoảng cách thế
hệ còn thể hiện rõ ở quan điểm chính trị, thái độ đối với quê nhà Việt Nam
Thế hệ trẻ người Việt ở Mỹ có xu hướng ngày càng ít nghe nhạc truyền thống Việt Nam, trong khi lại thích nghe nhạc rap, xỏ khuyên mũi, những dấu hiệu về sự hòa nhập vào cộng đồng Mỹ Khoảng cách thế hệ còn sâu sắc hơn do tốc độ hội nhập vào nền văn hóa Mỹ của hai thế hệ là khác nhau, người già thì chậm, người trẻ thì nhanh hơn nhiều
1.3.5 Về chính trị
So với các cộng đồng châu Á khác, tỷ lệ được nhập quốc tịch Mỹ của người Việt là cao nhất (71%), tạo thuận lợi cho người Việt trong việc tham gia đời sống chính trị ở địa phương và toàn liên bang Thời kỳ đầu, do nhiều người Việt phải rời bỏ quê hương, nên thường có tâm trạng chung là mặc cảm, bị bạc đãi, bị bỏ rơi ở Mỹ Nhưng
về sau, phần lớn người ra đi vì lý do kinh tế, nên mối quan tâm hàng đầu của họ là
Trang 35thích nghi với điều kiện mới để làm ăn và phát triển, những người này ít quan tâm đến chính trị Từ nửa cuối thập niên 90 của thế kỷ trước, cộng đồng người Việt đã tích cực tham gia vào đời sống chính trị địa phương Số người đi bầu trong các cuộc bầu cử địa phương ngày càng tăng
Về khuynh hướng đảng phái, giai đoạn đầu đa số người Việt trung thành với Đảng Cộng hòa, có lẽ do ảnh hưởng tư tưởng chống cộng của chính quyền Nixon Tuy vậy, dưới thời Bill Clinton, do Đảng Dân chủ mở rộng các chương trình xã hội có lợi cho người nghèo trong đó có người Việt, nên số người bầu cho Đảng này bắt đầu gia tăng
Các chính trị gia gốc Việt đã đạt được những thành công nhất định trong thời gian gần đây, nhất là ở khu vực Quận Cam và thung lũng Silicon, nơi tập trung đông người Việt Năm 1992, ông Toni Lâm là người Việt đầu tiên được bầu vào Hội đồng thành phố Westminster Ông Hubert Võ là dân biểu trong Nghị viện bang Texas thuộc Đảng Dân chủ Ông Trần Thái Văn giữ chức tương tự trong Nghị viện bang California,
là trợ lý lãnh đạo Đảng Cộng hoà Bà Janet Nguyễn là thành viên của Hội đồng Giám sát Quận Cam Ông Nguyễn Minh Châu được bầu vào Hội đồng Thành phố Garrett Park ở bang Maryland năm 1995
Một khó khăn đối với các chính khách gốc Việt là các phe phái chính trị người Việt cạnh tranh quyết liệt với nhau bằng nhiều thủ đoạn, khiến cho hiện tượng “chia phiếu” xả ra trong nhiều trương hợp và kết quả là “người ngoài” được hưởng lợi
Một số người Việt đã giữ chức vụ cao trong chính quyền như ông John Quốc Dương (Dương Việt Quốc) được Tổng thống G W Bush bổ nhiệm làm Giám đốc Chương trình về người Mỹ gốc Á và các Đảo Thái Bình Dương của Nhà Trắng; ông Việt Đinh (Đinh Đồng Phụng Việt) từng làm trợ lý Bộ trưởng Tư pháp (2001-2003) và được cho là kiến trúc sư của Đạo luật yêu nước chống khủng bố gây nhiều tranh cãi ở
Mỹ Giáo sư Wendy Dương từng được bổ nhiệm làm thẩm phán ở Texas và là người Việt đầu tiên làm thẩm phán ở Mỹ Trong lĩnh vực báo chí truyền thông cũng xuất hiện một số tên tuổi người Việt như nhà văn, nhà báo đạt nhiều giải thưởng Andrew Lâm, phát thanh viên truyền hình Thuý Vũ của CBS, Betty Nguyễn của CNN
Trang 36là nhóm có tỷ lệ người lai chủng tộc khác thấp nhất trong các nhóm người Mỹ gốc Á
Mỹ hiện là nơi mà kiều dân Việt Nam sinh sống tập trung với nhau nhiều nhất,
cố kế với nhau thành một cộng đồng So với các nhóm cộng đồng thiểu số khác, cộng
đồng người Việt là một cộng đồng trẻ, năng động, nhanh chóng hoà nhập và đại đa số
có ý định sẽ định cư ổn định lâu dài tại Mỹ Tuy nhiên, cộng đồng người Việt ở Mỹ là cộng đồng phức tạp về thành phần xã hội, xu hướng chính trị, nghề nghiệp, tôn giáo và đặc biệt là bị chi phối, phân hoá bởi sự khác biệt về địa vị xã hội, chính kiến và hoàn cảnh ra đi, khu vực cư trú Các đặc điểm trên làm cho tính liên kết, gắn bó trong cộng đồng không cao; cộng đồng sinh sống phân tán, sinh hoạt cộng đồng gặp nhiều khó khăn, việc duy trì tiếng Việt và giữ gìn bản sắc văn hoá dân tộc truyền thống cho thế hệ những người Việt trẻ ở Mỹ đang là một thách thức lớn đối với tương lai của cộng đồng Nếu nói về tinh thần cộng đồng của cộng đồng người Việt ở Mỹ thì “người Việt còn kém hơn người Hoa, người Đại Hàn, người Thái hoặc người Phi ở một điểm quan trọng: những người nước khác, khi tìm được một việc gì tốt ở một cơ quan, công sở nào , họ thường giúp những người đồng hương vào làm cùng Nhưng người Việt ta thường hay làm ngược lại: không muốn người Việt khác cũng có cơ hội tốt như mình; hoặc nếu có giúp ai thì cũng giúp người cùng bè phái chứ ít khi giúp vì họ cùng là người Việt”22
Trang 37chung thấp so với mức bình quân của người bản xứ (55% người Việt có cuộc sống ổn
định, nhưng nhiều người vẫn phải sống nhờ vào trợ cấp xã hội) Đại bộ phận sống dưới mức trung bình hay chủ yếu dựa vào các cửa hàng tạp hóa nhỏ, cửa hàng sơn sửa móng tay, cộng đồng này dần hòa nhập vào xã hội Mỹ và trong đời sống chính trị Mỹ, họ là một bộ phận dân cư mà các chính trị gia Mỹ vẫn cần phải tranh thủ sự ủng hộ23
Ở mọi lĩnh vực của đời sống xã hội như văn hóa, kinh tế, chính trị và xã hội, người Việt ở Mỹ đều có những cá nhân xuất chúng và nổi tiếng vì những thành công và đóng góp của mình cho xã hội và cho cộng đồng Chính họ là những người đã và đang góp phần vào việc tô điểm cho bức tranh chung về cộng đồng người Việt ở Mỹ nói riêng và cộng đồng người Việt hiện đang có mặt ở trên 90 quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn thế giới
23
Học viện Quan hệ Quốc tế (2003), Quan hệ của Mỹ với các nước lớn trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 400
Trang 38Chương 2 VAI TRÕ CỦA CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT Ở HOA KỲ ĐỐI VỚI
MỐI QUAN HỆ VIỆT NAM – HOA KỲ
2.1 Chính sách của chính phủ Việt Nam và chính phủ Hoa Kỳ đối với cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ
Kiều dân thường có mối liên hệ cũng như chịu sự chi phối và điều chỉnh bởi chính sách của cả hai chủ thể nhà nước Chủ thể thứ nhất là quê hương hay đất nước, nơi họ có nguồn gốc (home country) và chủ thể còn lại chính là nơi họ hiện đang định
cư hoặc làm việc hay học tập (host country) Cộng đồng người Việt Nam ở Mỹ cũng không đứng ngoài thực tế đó Vậy, chính phủ Việt Nam và chính phủ Hoa Kỳ đã áp dụng những chính sách như thế nào đối với cộng đồng người Việt? Chúng ta hãy đi tìm
lý giải cho câu hỏi trên
2.1.1 Chính sách của Chính phủ Việt Nam đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài
Trước hết phải khẳng định rằng Chính phủ Việt Nam không có chính sách riêng đối với cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ mà chỉ có chính sách chung đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài Thực tế, vấn đề “Việt Kiều” hay “Người Việt Nam ở nước ngoài” đã được Đảng và Nhà nước Việt Nam quan tâm từ lâu, bởi vì họ là một bộ phận không thể tách rời của dân tộc Việt Nam Chúng ta đã có Ban Việt kiều Trung ương (ngày nay là Ủy ban về Người Việt Nam ở nước ngoài), có Tạp chí Quê Hương,
có chương trình VTV4, có những chương trình phát thanh “dành cho đồng bào Việt Nam ở xa Tổ quốc”… Tuy nhiên, tiêu điểm cho chính sách của Việt Nam đối với kiều bào phải kể đến Nghị quyết hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương khóa IX về phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc: lấy mục tiêu giữ vững độc lập thống nhất Tổ quốc vì dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, làm điều tương đồng, xóa bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử về quá khứ, thành phần, giai cấp, xây dựng tinh thần cởi mở, hướng tới tương lai
Trang 39Trong những năm qua, Nhà nước đã rất chú trọng đến người Việt Nam ở nước ngoài, như ban hành Luật Đất đai sửa đổi, nghị định về phát hành công trái, về hành nghề y, dược tư nhân, quy chế khu công nghệ cao, quy chế khu kinh tế mở Chu Lai, quy định của Bộ Tài chính về ty lệ nắm giữ cổ phiếu của nhà đầu tư nước ngoài
Gần đây nhất là Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, công bố ngày 26/03/2004 Đây là văn kiện hết sức quan trọng thể hiện quan điểm đúng đắn của Đảng và Nhà nước Việt Nam về cộng đồng người Việt ở nước ngoài trong công cuộc xây dựng đất nước và hội nhập quốc tế của toàn thể dân tộc Việt Nam, là một biểu hiện cao cả của tinh thần hòa giải dân tộc Một trong những nội dung quan trọng của Nghị quyết đã khẳng định: “Người Việt Nam ở nước ngoài là
bộ phận không tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam, là nhân
tố quan trọng góp phần tăng cường quan hệ hợp tác hữu nghị giữa nước ta với các nước Nhà nước có trách nhiệm thảo luận với các nước hữu quan về khuôn khổ pháp lý
để đồng bào ổn định cuộc sống và bảo vệ quyền lợi chính đáng của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài theo luật pháp, công ước và thông lệ quốc tế”
Đảng và Nhà nước mong muốn, khuyến khích người Việt Nam ở nước ngoài hội nhập và thực hiện nghiêm chỉnh luật pháp nước sở tại, chăm lo xây dựng cuộc sống, làm ăn thành đạt, nêu cao tinh thần tự trọng và truyền thống dân tộc Việt Nam, đoàn kết đùm bọc, thương yêu, giúp đỡ lẫn nhau, giữ mối quan hệ gắn bó với gia đình
và quê hương, góp phần tăng cường quan hệ hợp tác hữu nghị giữa nước bà con đang sinh sống ở nước ngoài với nước nhà, tuỳ theo điều kiện và khả năng của mỗi người góp phần xây dựng quê hương đất nước, chủ động đấu tranh với các biểu hiện cố tình
đi ngược lại lợi ích chung của dân tộc24
Nói về việc bà con Việt Nam ở nước ngoài được hưởng lợi gì từ chính sách của Nhà nước Việt Nam, nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Dy Niên cho rằng chương trình hành động của Chính phủ trong chính sách đối với kiều bào nhằm: (1) Đưa ra các biện pháp, chính sách tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ đồng bào ổn định cuộc sống, hội nhập vào đới sống xã hội nước sở tại; (2) Tạo điều kiện thuận lợi cho
24
Xem thêm Nghị quyết 36 của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài ở phụ lục I
Trang 40người Việt Nam ở nước ngoài gắn bó hơn nữa với quê hương đất nước; (3) Phát huy tiềm năng tri thức, tiềm năng trong hợp tác kinh tế, đầu tư, kinh doanh của người Việt Nam nước ngoài
Trong từng lĩnh vực cụ thể, Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản pháp quy nhằm tạo điều kiện thuận lợi cũng như đáp ứng nguyện vọng của người Việt Nam ở nước ngoài Cụ thể là, đối với kiều bào muốn về thăm thân nhân, thăm quê hương và hồi hương về Việt nam sinh sống, ngày 17/8/2007, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định ban hành Quy chế miễn thị thực cho người Việt Nam mang hộ chiếu nước ngoài Quy chế này được áp dụng kể từ ngàu 01/9/2007 Quy chế mang một số nội dung như sau:
Đối tượng miễn thị thực là người Việt Nam (gồm người có quốc tịch Việt Nam
và gốc Việt Nam), mang hộ chiếu nước ngoài còn giá trị, nhập cảnh Việt Nam tạm trú trong thời gian 90 ngày và người nước ngoài là thân nhân của người Việt Nam mang
hộ chiếu nước ngoài
Điều kiện miễn thị thực là hộ chiều phải còn giá trị ít nhất là 6 tháng, có Giấy xác nhận miễn thị thực do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp và không thuộc diện “chưa được nhập cảnh Việt Nam” theo quy định của pháp luật Giấy xác nhận miễn thị thực có giá trị đến 5 năm, được dùng để xuất nhập cảnh nhiều lần Ngoài ra, người Việt Nam ở nước ngoại sẽ điều kiện để hồi hương về Việt Nam sinh sống nếu đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của pháp luật
Về đầu tư, Nhà nước ta bảo hộ, khuyến khích, đối xử bình đẳng, và tạo điều kiện
thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân đầu tư vào các lĩnh vực kinh tế, xã hội trên lãnh thổ Việt Nam theo pháp luật Việt Nam
Người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư trực tiếp về Việt Nam có quyền lựa chọn theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam hoặc Luật khuyến khích đầu tư trong nước, nhưng mỗi dự án đầu tư chỉ áp dụng một trong hai luật đó Nhà đầu tư là người Việt Nam định cư ở nước ngoài (Việt kiều) đầu tư theo Luật Khuyến khích đầu
tư trong nước nếu nếu đáp ứng đầy đủ các điều kiện theo quy định của Luật và các văn bản hướng dẫn thì sẽ được hưởng các biện pháp ưu đãi và miễn giảm thuế như các nhà