Qua tình hình người nước ngoài xin nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi trong những năm vừa qua, một vấn đề có tính cấp thiết được đặt ra đối với Việt Nam là cần nghiên cứu, tham gia các Cô
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
BÙI THỊ NGA
THỰC TRẠNG VÀ TRIỂN VỌNG CỦA VIỆT NAM TRONG GIA NHẬP VÀ THỰC THI CÔNG ƢỚC LAHAY NĂM 1993 VỀ BẢO VỆ TRẺ EM VÀ HỢP TÁC TRONG LĨNH VỰC NUÔI CON NUÔI QUỐC TẾ
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Hà Nội – 2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
BÙI THỊ NGA
THỰC TRẠNG VÀ TRIỂN VỌNG CỦA VIỆT NAM TRONG GIA NHẬP VÀ THỰC THI CÔNG ƯỚC LAHAY NĂM 1993 VỀ BẢO VỆ TRẺ EM VÀ HỢP TÁC TRONG
LĨNH VỰC NUÔI CON NUÔI QUỐC TẾ
chuyên ngành: Quan hệ quốc tế
Mã số: 60.31.40
Luận văn Thạc sĩ
Người hướng dẫn khoa học:
PGS - TS HOÀNG PHƯỚC HIỆP
Hà Nội - 2012
Trang 3MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 5
Chương 1: NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CÔNG ƯỚC LAHAY NĂM 1993 VỀ BẢO VỆ TRẺ EM VÀ HỢP TÁC TRONG LĨNH VỰC NUÔI CON NUÔI QUÔC TẾ VÀ THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH NUÔI CON NUÔI TRÊN THẾ GIỚI 11
1.1 Tổng quan về quá trình xây dựng và thông qua Công ước Lahay năm 1993 về Bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế 1.1.1 Sự cần thiết phải xây dựng Công ước Lahay năm 1993 11
1.1.2 Những thoả thuận quốc tế liên quan đến nuôi con nuôi quốc tế 13 13 1.1.3 Quá trình đàm phán và thông qua Công ước Lahay năm 1993 17
1.2 Những nội dung cơ bản của Công ước Lahay năm 1993 về Bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế 19
1.2.1 Cấu trúc tổng quát của Công ước Lahay năm 1993 19
1.2.2 Những nội dung cơ bản của Công ước Lahay năm 1993 21
1.2.3 Đánh giá mức độ tương thích giữa Công ước Lahay năm 1993 với pháp luật Việt Nam về nuôi con nuôi 24
1.3 Thực tiễn quốc tế trong việc cho- nhận con nuôi quốc tế 26
1.3.1 Thực tiễn quốc tế về cho- nhận con nuôi quốc tế hiện nay 26
1.3.1.1 Tình hình nuôi con nuôi ở các nước nhận 28
1.3.1.2 Tình hình nuôi con nuôi ở các nước gốc 32
1.3.1.3 Xu hướng nuôi con nuôi quốc tế những năm gần đây 33
1.3.2 Thực tiễn thực thi Công ước Lahay năm 1993 ở một số nước 36
1.3.2.1 Thực tiễn thực thi Công ước Lahay năm 1993 ở Rumani 36
1.3.2.2 Thực tiễn thực thi Công ước Lahay năm 1993 ở Mỹ 38
Tiểu kết chương 1 41
Trang 4Chương 2: THỰC TIỄN NUÔI CON NUÔI QUỐC TẾ Ở VIỆT NAM VÀ
SỰ CẦN THIẾT GIA NHẬP CÔNG ƯỚC LAHAY NĂM 1993 VỀ BẢO
VỆ TRẺ EM VÀ HỢP TÁC TRONG LĨNH VỰC NUÔI CON NUÔI
QUÔC TẾ 44
2.1 Tổng quan thực tiễn nuôi con nuôi quốc tế ở Việt Nam thời gian qua 44
2.1.1 Sự tác động của các nhân tố nước ngoài vàohoạt động nuôi con nuôi quốc tế ở Việt Nam 45
2.1.1.1 Xây dựng cơ chế nuôi con nuôi quốc tế 46
2.1.1.2 Điều phối giữa các nước nhận 48
2.1.1.3 Các thỏa thuận song phương 49
2.1.1.4 Giám sát con nuôi đối với các nước nhận nuôi 51
2.1.2 Hoạt động của các cơ quan con nuôi ở Việt Nam 52
2.1.3 Các vấn đề tài chính 53
2.2 Sự cần thiết việc Việt Nam gia nhập Công ước Lahay năm 1993 về Bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế 56
2.2.1 Các văn kiện của Đảng và Nhà nước về vấn đề gia nhập Công ước Lahay năm 1993 56
2.2.2 Khung pháp luật hiện hành của Việt Nam trong việc điều chỉnh nuôi con nuôi quốc tế 60
2.2.3 Ý nghĩa thực tiễn khi Việt Nam tham gia công ước 61
2.3 Những hạn chế, bất cập khi Việt Nam gia nhập Công ước Lahay năm 1993 64
2.3.1 Những bất cập về mặt thể chế 64
2.3.2 Những hạn chế về công tác tổ chức 67
2.3.3 Những hạn chế, bất cập khác 68
Tiểu kết chương 2 70 Chương 3 : NHỮNG KHÓ KHĂN, BẤT CẬP TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT CHO NGƯỜI NƯỚC NGOÀI NHẬN TRẺ EM VIỆT NAM LÀM
Trang 5CON NUÔI TRƯỚC YÊU CẦU THỰC THI CÔNG ƯỚC LAHAY- TRIỂN
VỌNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI VIỆT NAM TRONG THỰC THI CÓ
HIỆU QUẢ CÔNG ƯỚC LAHAY NĂM 1933 72
3.1 Những khó khăn, bất cập trong việc giải quyết cho người nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi trước yêu cầu gia nhập Công ước Lahay năm 1993 72
3.1.1 Về chức năng, quyền hạn của Cơ quan Trung ương về Con nuôi quốc tế 72
3.1.2 Nhận thức của cộng đồng và chính quyền địa phương về vấn đề nuôi con nuôi 74
3.1.3 Vấn đề con nuôi chưa được xã hội hóa ở Việt Nam 75
3.1.4 Hiện tượng môi giới, trung gian bất hợp pháp trong việc cho- nhận con nuôi 75
3.1.5 Thái độ của các nước thành viên khi Việt Nam gia nhập và thực thi Công ước Lahay năm 1993 77
3.2 Triển vọng của Việt Nam trong thực thi có hiệu quả Công ước Lahay năm 1993 77
3.3 Những giải pháp của Việt Nam trong việc thực thi có hiệu quả Công ước Lahay năm 1993 79
3.3.1 Cần phải hoàn thiện cơ chế minh bạch 79
3.3.2 Giải pháp về công tác tổ chức 79
3.3.3 Giải pháp về hợp tác quốc tế 83
Tiểu kết chương 3 83
KẾT LUẬN 86
TÀI LIỆU THAM KHẢO 89
PHỤ LỤC, BẢNG BIỂU 97
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU Bảng 1.1 Số lượng trẻ em được nhận nuôi tại các nước nhận nuôi (2001-2008) 97 102
Trang 6Bảng 1.2 Số lượng trẻ em được nhận nuôi tại 5 quôc gia nhận nuôi chính
Bảng 1.5 Số lượng trẻ em Nga được cho đi làm con nuôi (2003-2010) 101
Bảng 2.1 Số lượng con nuôi Việt Nam đến các nước nhận nuôi
(2002-2008) 102 10 Biểu đồ 1.1 Xu hướng dòng chảy con nuôi tới 23 nước nhận chính
(1998-2009) 103 10 Biểu đồ 1.2 Con nuôi đến từ 4 quốc gia cho con nuôi chính 104 11 Biểu đồ 1.3 Con nuôi vào Mỹ (1970-2000) 105 11
Biểu đồ 1.5 Lượng con nuôi vào Mỹ (1990-2005) 107 11 Biểu đồ 1.6 Lượng con nuôi vào Pháp và Thụy Điển (1975-2005) 107 11 Biểu đồ 1.7 Con nuôi vào Mỹ từ bốn quốc gia cho con nuôi chính
(1990-2005) 108 11114 Biểu đồ 1.8 Số lượng con nuôi quốc tế được nhận (1970-2011) 109 11115 Biểu đồ 2.1 Lượng con nuôi Việt Nam đến các nước (2002-2008) 110 11
LỜI MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết nghiên cứu đề tài
Trang 7Nuôi con nuôi là hiện tượng xã hội xảy ra ở các quốc gia và được cộng đồng quốc tế quan tâm đặc biệt Bên cạnh ý nghĩa tạo mái ấm gia đình cho trẻ
em, việc nuôi con nuôi còn góp phần đáp ứng nhu cầu chính đáng của những gia đình nhận con nuôi, nhất là những cặp vợ chồng vô sinh, hiếm con; phụ nữ có hoàn cảnh khó khăn, sống đơn thân Chính vì vậy, vấn đề nuôi con nuôi được nhiều quốc gia trên thế giới quan tâm, thực hiện Tuy mỗi nước có những quy định khác nhau về trình tự, thủ tục giải quyết việc nuôi con nuôi, nhưng đều có chung một mục đích đó là nhằm đảm bảo lợi ích tốt nhất cho trẻ em
Ở nước ta, nuôi con nuôi là một vấn đề mang tính nhân đạo, được Đảng
và Nhà nước quan tâm sâu sắc Trong hoàn cảnh đất nước còn phải chịu nhiều di chứng nặng nề của chiến tranh, điều kiện kinh tế- xã hội còn nhiều khó khăn, mức thu nhập của nhân dân còn thấp, nhiều trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, đặc biệt cần có mái ấm gia đình, thì vấn đề nuôi con nuôi càng trở nên cấp thiết
trong đời sống xã hội
Kể từ khi Nhà nước và nhân dân Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, quan hệ quốc tế ngày càng được mở rộng, giao lưu về mọi mặt giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài ngày càng phát triển, thì các mối quan
hệ về hôn nhân và gia đình của công dân Việt Nam với người nước ngoài, trong
đó có các quan hệ nuôi con nuôi, đã và đang trở thành một hiện tượng xã hội thu hút sự quan tâm của nhiều người, cả ở trong và ngoài nước Trong bối cảnh
đó, việc người nước ngoài xin nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi đã và đang đặt ra nhiều vấn đề cần phải tiếp tục được nghiên cứu, hoàn thiện, không chỉ về pháp luật mà còn cả quan hệ ngoại giao Qua tình hình người nước ngoài xin nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi trong những năm vừa qua, một vấn đề có tính cấp thiết được đặt ra đối với Việt Nam là cần nghiên cứu, tham gia các Công ước quốc tế đa phương, ký kết các điều ước quốc tế song phương nhằm tạo ra một cơ chế hợp tác quốc tế chặt chẽ giữa Việt Nam với các nước liên quan
về lĩnh vực này, đảm bảo cho trẻ em được nhận làm con nuôi có đủ điều kiện được hưởng những gì tốt đẹp nhất, cũng như tạo thuận lợi hơn về mặt thủ tục
Trang 8cho cha mẹ nuôi trong lĩnh vực này Mặt khác cũng nhằm hạn chế đến mức tối
đa những hiện tượng tiêu cực có thể xảy ra trong lĩnh vực hết sức nhạy cảm này
Hiện nay Việt Nam đang đứng trước yêu cầu của công cuộc hội nhập, nhất là việc gia nhập và thực thi có hiệu quả Công ước Lahay 1993 về bảo vệ trẻ
em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế (dưới đây xin được gọi tắt là Công ước Lahay năm 1993) thì việc tìm hiểu nội dung Công ước Lahay năm
1993 cũng như thực trạng con nuôi quốc tế ở Việt Nam cũng như ở nước ngoài, làm hài hoà với thông lệ quốc tế về nuôi con nuôi là việc làm cấp bách Chính vì
mục đích như vậy tôi đã chọn đề tài “Thực trạng và triển vọng đối với Việt Nam
trong gia nhập và thực thi Công ước La Hay năm 1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế “, để thấy rõ những vấn đề bất cập
trong việc nuôi con nuôi quốc tế ở Việt Nam, qua đó có những giải pháp phù hợp trong quá trình Việt Nam gia nhập và thực thi hiệu quả Công ước Lahay năm 1993
2 Tình hình nghiên cứu và nguồn tài liệu
Trong tất cả các mối quan hệ nhân đạo, trẻ em luôn là đối tượng được quan tâm nhiều nhất, đặc biệt là vấn đề con nuôi Nuôi con nuôi là hiện tượng
có từ khá lâu nhưng nuôi con nuôi quốc tế thực sự chỉ được quan tâm kể từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai, chiến tranh Triều Tiên và Việt Nam Trên thế giới
đã có khá nhiều học giả và các nhà nghiên cứu đi sâu nghiên cứu các mối quan
hệ giữa việc cho – nhận con nuôi giữa các nước cũng như việc ảnh hưởng, tác động đối với bản thân trẻ em Các tác giả tiêu biểu có thể kể đến như Barbara Yngvesson, Rene Hoksbergen, Gabriela Marguez ….trong đó nổi bật có Giáo
sư Peter Selman Ông tham gia giảng dạy tại trường đại học Newcastle University từ năm 1968 và là Chủ nhiệm Khoa Chính trị xã hội (1994-1999) Ông về hưu sớm năm 2002, tuy nhiên vẫn tham gia nghiên cứu Những nghiên cứu của ông thường tập trung vào việc phân tích hành vi con người, vấn đề mang thai ở tuổi vị thành niên và hành vi của những bà mẹ trẻ Gần đây lĩnh vực ông nghiên cứu tập trung vào là vấn đề con nuôi quốc tế Hiện tại ông đang
là Chủ tịch Mạng lưới nuôi con nuôi quốc tế và là Ủy viên của Hiệp hội Anh
Trang 9quốc về Bảo trợ trẻ em và con nuôi Những tác phẩm tiêu biểu của ông trong
lĩnh vực này là Trends in Intercountry Adoption 1998-2004: Analysis of Data
from 20 Receiving Countries (2006); International Adoption: Research, Policy
and Practice (2009); Statistical Profile of Internantional Adoption in the
European Union … tập trung nghiên cứu và phân tích tình hình cho – nhận con
nuôi ở các khu vực và trên thế giới cũng như dự báo xu hướng cho- nhận con nuôi quốc tế trong tương lai
Tiêu biểu cho nữ giới phải nhắc đến Tiến sĩ Luật Elizabeth Bartholet
thuộc trrường Luật Harvard Một số bài viết liên quan đến vấn đề con nuôi của
bà là: Beyond Biology: The Politics of Adoption and Reproduction (1995);
International Adoption: Current Status and Future Prospects (1993); What‟s Wrong with Adoption Law? (1996)…Tác giả đã tham gia nghiên cứu sâu những
vấn đề liên quan đến con nuôi quốc tế từ năm 1985 và đã có những kinh nghiệm nhất định cũng như chỉ ra những luận điểm riêng của tác giả
Ở trong nước cũng có một vài chuyên gia, tác giả có nghiên cứu tới vấn
đề con nuôi, đó là TS Vũ Đức Long (Bộ tư pháp); TS Nguyễn Công Khanh (Bộ Tư pháp); ThS Nguyễn Hồng Bắc; TS Nguyễn Phương Lan (Trường Đại học Luật Hà Nội)….Tuy nhiên các chuyên gia này chủ yếu tập trung phân tích, nghiên cứu vấn đề con nuôi theo Luật học chứ chưa có mấy công trình đề cập đến vấn đề nuôi con nuôi quốc tế trong mối tương quan giữa quan hệ Việt Nam với các nước trên thế giới Với mong muốn vâ ̣n du ̣n g các kiến thức và công trình đã có, kế thừa trên cơ sở tổng hợp có cho ̣n lo ̣c các kết quả nghiên cứu đã công bố, tác giả cố gắng phát triển thêm để hoàn thành đề tài nghiên cứu này
Những nguồn tài liệu được sử dụng cho việc nghiên cứu của đề tài trong khoá luận bao gồm:
- Một số văn kiện, Luật của Quốc hội, nghị định của chính phủ liên quan đến các quy định về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài
- Một số nghiên cứu về tình hình hoạt động và xu hướng cho- nhận con nuôi trên thế giới và khu vưc, đặc biệt là các công trình nghiên cứu quan hệ cho – nhận con nuôi giữa Việt Nam với các nước nhận con nuôi lớn trên thế giới
Trang 10- Một số Hiệp định hợp tác về nuôi con nuôi giữa Việt Nam với các nước trên thế giới
- Các website thông tin và các website chuyên ngành về vấn đề con nuôi của Việt Nam và nước ngoài
3 Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu
Với tầm quan trọng của đề tài như đã nêu trên, tác giả thực hiện đề tài này
với mục tiêu tổng quan là nhằm góp phần tái hiện bức tranh toàn cảnh về thực
trạng, những vấn đề xung quanh việc cho - nhận con nuôi quốc tế trên cơ sở tập hợp, hệ thống hóa một cách khoa học, có chọn lọc và phân tích, qua đó tác giả thực hiện đề tài hy vọng sẽ giúp người đọc có thêm những thông tin về vấn đề này Đồng thời qua việc phân tích vấn đề đặt ra, tác giả sẽ đưa ra những đánh giá, nhận xét về những kết quả đã đạt được, những thuận lợi và thách thức cũng như một số kiến nghị, giải pháp đối với Việt Nam khi thực thi Công ước Lahay năm 1993 về nuôi con nuôi quốc tế
ý nghĩa của việc Việt Nam tham gia Công ước;
(iv) Đưa ra những mục tiêu, quan điểm, đánh giá những thuận lợi và khó khăn, những tác động mà Việt Nam gặp phải khi thực thi Công ước;
(v) Dự báo xu hướng dịch chuyển dòng cho- nhận con nuôi trên thế giới,
từ đó nhận định xu hướng nuôi con nuôi ở Việt Nam;
(vi) Đưa ra những kiến nghị, giải pháp phương hướng cụ thể để Việt Nam
có thể thực thi có hiệu quả Công ước về việc cho- nhận nuôi con nuôi quốc tế
Phạm vi nghiên cứu:
Trang 11- Về mặt không gian: luận văn đặt trọng tâm vào phân tích tình hình, xu hướng cho- nhận con nuôi trên thế giới, từ đó phân tích cụ thể thực trạng con nuôi quốc tế ở Việt Nam
- Về mặt thời gian: luận văn tập trung nghiên cứu tình hình cho- nhận con nuôi thế giới và ở Việt Nam từ giữa thập kỷ 1990s trở lại đây
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình triển khai Đề tài, các phương pháp nghiên cứu sau đây
(iii) Phương pháp so sánh, đối chiếu để thấy được những mặt được, chưa được của Công ước, những điểm chung và khác biệt trong mô hình tổ chức, phương thức hoạt động trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế giữa Việt Nam với các nước trong khu vực và thế giới, góp phần làm rõ quá trình phát triển của vấn
đề nghiên cứu trong một thời gian nhất định
xu hướng dòng chảy con nuôi trong thời gian tới
- Chương 2: Tổng hợp và phân tích thực trạng và tác động của việc nuôi con nuôi quốc tế ở Việt Nam để từ đó thấy được sự cần thiết gia nhập Công ước Lahay năm 1993
- Chương 3: Từ những phân tích, tổng hợp về tình hình cho - nhận con nuôi quốc tế trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng cùng với những
Trang 12nhận định về thách thức khi Việt Nam tham gia Công ước, từ đó đưa ra những giải pháp đối với Việt Nam trong việc thực thi có hiệu quả Công ước
Ngoài ra, còn có các Bảng, Biểu đồ và Phụ lục, Danh mục tài liệu tham khảo
Chương 1: NHỮNG NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA CÔNG ƯỚC LAHAY NĂM 1993 VỀ BẢO VỆ TRẺ EM VÀ HỢP TÁC TRONG LĨNH VỰC NUÔI CON NUÔI QUỐC TẾ VÀ THỰC TRẠNG TÌNH HÌNH NUÔI CON NUÔI TRÊN THẾ GIỚI
1.1 Tổng quan về quá trình xây dựng và thông qua Công ước Lahay năm 1993 về Bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế
1.1.1 Sự cần thiết phải xây dựng Công ước Lahay năm 1993 về Bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế
Trang 13Vấn đề nhận nuôi con quốc tế bắt đầu phát triển trên diện rộng vào cuối chiến tranh thế giới thứ II và bùng nổ sau chiến tranh Triều Tiên, do sự dư thừa trẻ mồ côi và trẻ được nhận nuôi Trong suốt những năm 1950s nhận con nuôi quốc tế trở nên phổ biến, đặc biệt là ở Mỹ [34] Ước tính có khoảng 15.000 trẻ
em nước ngoài được nhận nuôi vào Mỹ từ năm 1953 đến năm 1962, so sánh với 17.438 chỉ riêng trong năm 2008 [70]
Trong khi trước đây nuôi con nuôi quốc tế được coi như là một giải pháp giải quyết những hậu quả để lại của chiến tranh thì ngày nay nó thể hiện khoảng cách giữa những nước giàu và nghèo trên thế giới [63] Những nước nhận con nuôi thường là những nước phát triển và có tỉ lệ sinh con thấp, trong khi những nước cho con nuôi lại có tỉ lệ sinh đẻ cao và số trẻ em vô gia cư lớn Trong những thập niên gần đây, ở những nước công nghiệp phát triển nhu cầu nhận con nuôi nước ngoài tăng cao khi trẻ em nhận nuôi trong nước giảm Sự gia tăng này do nhiều yếu tố khác nhau như là việc sử dụng các biện pháp tránh thai, việc hợp pháp hóa cho phép phá thai hay ngày càng nhiều những cặp vợ chồng không muốn sinh con [55] Ngoài ra còn có các nguyên nhân khác như nghèo đói, chiến tranh, bất ổn xã hội, thiên tai, bạo hành, HIV/AIDS cũng là những lý do khiến nhiều gia đình cho con đi làm con nuôi
Tuy nhiên sự gia tăng mạnh mẽ số lượng trẻ em được nhận làm con nuôi quốc tế đã dẫn đến việc xuất hiện những hiện tượng “xuất khẩu ồ ạt” trẻ em từ một số nước nghèo đang phát triển sang một số nước giàu có phương tây qua trung gian của một số tổ chức và cá nhân Vấn đề con nuôi nước ngoài từ thuần túy mang tính chất nhân đạo đã biến thành một vấn đề mang tính xã hội phức tạp, bị lợi dụng trong nhiều trường hợp thành một hoạt động vụ lợi mà trong đó trẻ em bị coi là hàng hóa bị mua đi bán lại [15 Phần lớn việc nhận nuôi con quốc tế đã không được điều chỉnh cho đến khi xuất hiện những tiêu đề trên các phương tiện truyền thông đưa tin những câu chuyện buôn lậu trẻ em, đã tạo ra phản ứng chính trị Việc nhận nuôi con nuôi quốc tế không được chỉnh đốn có khả năng dẫn đến việc trẻ em bị đối xử như hàng hóa và những thực tiễn nhận nuôi con mang tính lạm dụng liên quan đến hành vi thị trường[51]
Trang 14Để giải quyết những vấn đề phát sinh trong nuôi con nuôi quốc tế, cụ thể
là việc cần phải đưa ra những chuẩn mực pháp lý có tính chất ràng buộc cùng một hệ thống giám sát để đảm bảo việc cho- nhận con nuôi mang đúng tính chất nhân đạo và đảm bảo có sự hợp tác chặt chẽ của các cơ quan có liên quan đến việc nuôi con nuôi, Hội nghị Lahay về Tư pháp quốc tế đã đề xuất “Công ước Lahay năm 1993 về Bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế” Công ước đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng cho các nước xây dựng một cơ chế pháp lý để quản lý việc cho nhận con nuôi với mục tiêu cuối cùng là tạo dựng một hệ thống pháp lý để ngăn chặn việc buôn bán và lạm dụng tình dục trẻ em [48] Với việc nhấn mạnh tầm quan trọng trong việc bảo vệ con nuôi, Công ước cũng chỉ rõ rằng ưu tiên hàng đầu của các nước là cho trẻ em đi làm con nuôi trong nước, cho trẻ đi làm con nuôi nước ngoài chỉ là phương sách cuối cùng Thực tế bản thân Công ước cũng chưa đảm bảo sẽ được thực thi có hiệu quả khi được đưa vào áp dụng[40] Kể từ khi soạn thảo Công ước thì một
số vấn đề nghiêm trọng đã trở nên rõ ràng khi nhiều quốc gia thiếu nguồn lực và
sự ủng hộ của chính phủ trong việc thiết lập và duy trì cơ quan có thẩm quyền trong việc nuôi con nuôi hay việc thiếu các biện pháp trừng phạt đối với các quốc gia vi phạm Công ước Tuy nhiên việc xây dựng Công ước Lahay năm
1993 vẫn là một bước tiến quan trọng hướng tới việc bảo vệ quyền lợi của trẻ
em cho đi làm con nuôi nước ngoài
1.1.2 Những thỏa thuận quốc tế liên quan đến nuôi con nuôi quốc tế
Từ cuối những năm 1940 đến cuối thập niên 1960, vấn đề nuôi con nuôi quốc tế được xem là một nỗ lực nhân đạo nhằm giải cứu các trẻ em mồ côi do hậu quả của Thế chiến thứ hai, chiến tranh Triều Tiên và ở mức thấp hơn là chiến tranh Việt Nam Trẻ em được cho đi làm con nuôi chủ yếu từ một số quốc gia, đặc biệt là Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc và Việt Nam và độ lớn dòng chảy nuôi con nuôi còn tương đối nhỏ [15] Từ những năm 70, số trẻ em tham gia vào quá trình cho nhận con nuôi gia tăng đáng kể, và nguồn gốc trẻ em cũng đa dạng hơn Khi việc nuôi con nuôi trở nên phổ biến, áp lực về hệ thống pháp luật và các vấn đề phát sinh từ xung đột phát luật cũng nảy sinh bởi vì hầu hết các luật
Trang 15nhận con nuôi hiện đại đã không quy định cụ thể cho- nhận con nuôi quốc tế Những trẻ em được cha mẹ nuôi là người nước ngoài có nguy cơ không có quốc tịch Hơn nữa còn thiếu các hướng dẫn rõ ràng xác định thẩm quyền của các cơ quan trong việc tham gia vào quá trình nhận con nuôi quốc tế [19]
Các sáng kiến đầu tiên về việc thiết lập các tiêu chuẩn quốc tế công nhận pháp lý việc nuôi con nuôi quốc tế được thực hiện đầu tiên vào năm 1960 Theo
đó, năm 1961, Công ước Liên Hợp Quốc về việc giảm thực trạng không quốc
tịch (United Nations Convention on the Reduction of Statelessness (1961)) [83]
đã ra đời bao gồm các quy định để ngăn chặn và giảm tình trạng trẻ em được
nhận làm con nuôi không có quốc tịch Sau đó năm 1965, Công ước về quyền
tài phán, luật áp dụng và công nhận các Nghị định liên quan đến nuôi con nuôi
(Convention on Jurisdiction, Applicable Law and Recognition of Decrees
Relating to Adoptions)[41] ra đời tại Hội nghị Lahay về tư pháp quốc tế (the
Hague Conference on International Private Law).1 Công ước này là một trong những công cụ đa phương đầu tiên thiết lập các quy định chung về thẩm quyền, luật pháp và tạo điều kiện cho việc công nhận các Nghị định liên quan đến việc nhận con nuôi Rõ ràng Công ước này đáng được lưu tâm, mặc dù thực tế là ba nước thành viên đã phê chuẩn nó là Áo, Thụy Sĩ và Anh, sau đó đều lên án nó,
ngụ ý rằng Công ước này không còn có tác dụng đối với họ nữa [55] Công ước
Châu Âu [23] về việc cho- nhận con nuôi có hiệu lực ba năm sau đó với mục
đích hài hòa hóa luật pháp, quy định và thực tiễn giữa các nước thành viên của Hội đồng châu Âu Những công ước này phần lớn dựa vào tình hình châu Âu những năm 1960 khi mà việc nhận nuôi con nuôi quốc tế được thực hiện trong khoảng cách địa lý tương đối ngắn và không có sự khác biệt lớn giữa các hệ thống kinh tế - xã hội, văn hóa và pháp luật của các nước trong khu vực
Trong thập niên 1980, quy mô việc nhận nuôi con nuôi quốc tế ngày càng tăng, kết hợp với nhận thức rằng hiện tại các văn bản pháp luật trong nước và
1 Hội nghị Lahay về tư pháp quốc tế (the Hague Conference on International Private Law) là một tổ chức liên chính phủ
có 47 quốc gia thành viên diễn ra cứ 3 năm một lần tại La Hay (Hà Lan)
Trang 16quốc tế chưa đủ, đưa đến một loạt các sáng kiến đa phương và song phương nhằm xác định các câu hỏi về luật pháp và quyền tài phán [31]
Năm 1986, tại Đại Hội Đồng Liên Hợp quốc, Tuyên bố của Liên Hợp
Quốc về các nguyên tắc xã hội và pháp lý liên quan đến việc bảo vệ và phúc lợi trẻ em, đặc biệt là việc bảo trợ, nuôi con nuôi trong nước và nước ngoài (United
Nations Declaration on Social and Legal Principles Relating to the Protection and Welfare of Children, with Special Reference to Foster Placement and Adoption Nationally and Internationally) đã được thông qua Đây là văn kiện quốc tế đầu tiên đề cập một cách tương đối toàn diện về nuôi con nuôi Tuyên bố khẳng định “Nếu như không thể thu xếp bảo trợ hay nhận nuôi trẻ em trong gia đình hay được chăm sóc phù hợp tại quốc gia gốc của các em thì việc các em làm con nuôi nước ngoài cần được xem như là một biện pháp thay thế để đảm bảo cho các em có một mái ấm gia đình”.
“Mục tiêu hàng đầu của việc nuôi con nuôi là đem lại cho những trẻ em không thể được cha mẹ đẻ chăm sóc có được một gia đình lâu bền”
Năm 1989, Ban Thường trực của Hội nghị Lahay về tư pháp quốc tế đã đưa ra những đề xuất, tiêu chuẩn bắt buộc cho việc nuôi con nuôi và thành lập
một hệ thống giám sát những tiêu chuẩn này Năm 1989, Công ước về quyền trẻ
em (United Nations Convention on the Rights of the Children) đã được soạn
thảo Ngày 20-11-1989, Công ước này đã được Đại hội đồng Liên hợp quốc
thông qua, có hiệu lực từ ngày 2-9-1990, là văn bản quốc tế đầu tiên đề cập toàn diện và luật pháp hóa các quyền của trẻ em Công ước công nhận sự dễ bị tổn thương của trẻ em và khẳng định tuổi thơ có quyền được hưởng sự chăm sóc và giúp đỡ đặc biệt Lời mở đầu và nhiều điều khoản đã nhấn mạnh tầm quan trọng của gia đình và nhu cầu thiết lập một môi trường tập trung vào sự lớn lên và phát triển của trẻ em [48]
Một trong những mục tiêu của Công ước này là phải đảm bảo các nguyên tắc bảo vệ lợi ích tốt nhất của trẻ em trở thành việc xem xét quan trọng nhất trong mọi quyết định liên quan đến việc nuôi con nuôi quốc tế
Trang 17Bốn năm sau, Công ước Lahay về Bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực
nuôi con nuôi quốc tế đã được thông qua tại Hội nghị Lahay về tư pháp quốc tế
với mục tiêu xác định tiêu chuẩn, biện pháp bảo vệ và thủ tục tòa án, cơ quan hành chính và các tổ chức con nuôi trung gian tham gia vào việc nhận con nuôi quốc tế
Trong số nhiều văn kiện về quyền trẻ em, “Tuyên bố của Liên Hợp Quốc
về các nguyên tắc xã hội và pháp lý liên quan đến việc bảo vệ và phúc lợi trẻ
em, đặc biệt là việc bảo trợ, nuôi con nuôi trong nước và nước ngoài”, “Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em và Công ước Lahay số 33 về bảo về trẻ
em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế” là những văn kiện quốc tế
cơ bản nhất và liên quan trực tiếp nhất đến vấn đề con nuôi nước ngoài[63]
Trong hệ thống pháp luật về quyền trẻ em còn có những công ước khác liên quan đến vấn đề con nuôi nước ngoài không do Liên hợp quốc thông qua song vẫn có giá trị pháp lý ràng buộc việc thực hiện với các quốc gia thành viên như các Công ước Lahay (the Hague conventions) Các công ước này được thông qua tại Hội nghị Lahay về tư pháp quốc tế Hội nghị Lahay đề cập nhiều vấn đề quốc tế và xây dựng các công ước khác nhau để giải quyết những vấn đề
mà đại biểu tham dự thấy quan trọng
Các công ước này có hiệu lực sau khi có một số quốc gia thành viên của Hội nghị Lahay ký, phê chuẩn hay gia nhập Công ước
Những Công ước Lahay liên quan đến vấn đề nuôi con nuôi nước ngoài gồm:
Công ước Lahay số 13 về quyền hạn pháp lý, luật pháp áp dụng và công nhận các sắc lệnh liên quan đến vấn đề con nuôi năm 1965;
Công ước Lahay số 28 về các khía cạnh dân sự của nạn bắt cóc trẻ
em quốc tế năm 1980;
Công ước Lahay số 33 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế;
Trang 18 Công ước Lahay số số 34 về quyền tài phán, luật áp dụng, công nhận, thực hiện và hợp tác về trách nhiệm của cha mẹ và các biện pháp bảo vệ trẻ em (1996)
Trong số 4 công ước này, Công ước Lahay số 33 về bảo vệ trẻ em và hợp tác giữa các nước về con nuôi nước ngoài năm 1993 có liên quan trực tiếp nhất Mục đích của Công ước là đảm bảo để vấn đề con nuôi nước ngoài được tiến hành vì lợi ích tốt nhất của trẻ em và tôn trọng các quyền cơ bản của trẻ em, thiết lập một hệ thống hợp tác giữa các quốc gia ký kết để đảm bảo ngăn ngừa việc bắt cóc, buôn bán trẻ em và các quốc gia ký kết công nhận việc nuôi con nuôi được tiến hành theo Công ước Nội dung cụ thể sẽ bàn ở phần sau
Từ năm 1990, Cộng đồng quốc tế đã quan tâm đến nạn buôn bán trẻ em qua việc lợi dụng vấn đề con nuôi nước ngoài Ủy ban của Liên Hợp Quốc về quyền con người đã bổ nhiệm một báo cáo viên đặc biệt chuyên trách theo dõi
và báo cáo về buôn bán trẻ em, mại dâm trẻ em và văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ
em trên phạm vi toàn thế giới, trong đó đặc biệt chú ý đến vấn đề buôn bán trẻ
em [51] Chương trình hành động năm 1994 của Hội nghị quốc tế về Dân số và Phát triển cũng đã kêu gọi các nước cho con nuôi phải có những biện pháp ngăn chặn việc cưỡng chế hoạt động con nuôi [74]
Liên Hợp quốc luôn tích cực trong việc khuyến khích các quốc gia thành viên phê chuẩn hay gia nhập Công ước về quyền trẻ em và Công ước Lahay năm
1993 về bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế Năm
2000, Nghị định thư bổ sung Công ước về quyền trẻ em về Buôn bán trẻ em, mại
dâm trẻ em và văn hóa phẩm khiêu dâm trẻ em (The United Nations Optional
Protocol to the Convention on the Rights of the Child on the Sale of Children,
Child Prostitution and Child Pornography) [58] đã được Liên Hợp Quốc thông
qua, ký kết và phê chuẩn tại Nghị quyết Đại hội đồng 54/263 ngày 25/5/2000
Ủy ban của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em nhấn mạnh sự cần thiết phải tăng cường hợp tác giữa các cơ quan, tổ chức khác nhau của Liên Hợp Quốc có thẩm quyền trong lĩnh vực này Ủy ban của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em cũng là
Trang 19tổ chức duy nhất cấp quốc tế theo dõi việc thực hiện các chuẩn mực quốc tế về vấn đề con nuôi nước ngoài.[60]
Rõ ràng, bảo vệ trẻ em, trong đó có việc phòng chống việc lạm dụng vấn
đề nuôi con nuôi nước ngoài đã và đang là mối quan tâm to lớn của cộng đồng quốc tế, đặc biệt là Liên Hợp Quốc và nhiều quốc gia thành viên của tổ chức quốc tế lớn nhất hành tinh này trong những năm qua với các chuẩn mực quốc tế (international standards) làm những cơ sở pháp lý quan trọng cho các tổ chức quốc tế, khu vực và các quốc gia tham khảo [68] Đó là các tuyên ngôn, tuyên
bố, công ước quốc tế và điều ước quốc tế song phương trực tiếp hay gián tiếp nêu ra những ý tưởng và nguyên tắc về vấn đề nuôi con nuôi thành một chế định của pháp luật quốc tế và quốc gia mà hầu hết các nước trên thế giới đã và đang tuân thủ ở các mức độ khác nhau
1.1.3 Quá trình đàm phán và thông qua Công ước Lahay năm 1993 về Bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế
Vào cuối những năm 80, Liên Hợp Quốc đã đề xướng những cuộc hội thảo đa phương nhằm phát triển một khung chuẩn về việc nhận con nuôi Vào năm 1989, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc đã chính thức thông qua Công ước về quyền của trẻ em, nhằm phân biệt việc buôn lậu trẻ em với việc nhận nuôi con nuôi hợp pháp Công ước này đã chính thức có hiệu lực vào ngày mùng 2 tháng
9 năm 1990[24].Theo như Công ước này, việc nuôi con nuôi quốc tế chỉ nên được chấp nhận trong trường hợp đứa trẻ không được chăm sóc trong điều kiện tốt nhất ở quốc gia đứa trẻ đang sinh sống, bao gồm cả hình thức chăm sóc trẻ
em tại các trại trẻ mồ côi hay chăm sóc từ thiện [21]
Tại phiên họp thứ 17, Công ước Lahay– được thông qua vào ngày 29 tháng 5 năm 1993 ở Hà Lan đã phát triển dựa trên những nguyên tắc chung của
Công ước về quyền trẻ em Công ước Lahay đã đi vào hiệu lực vào ngày mùng
1 tháng 5 năm 1995 Ngược lại với sự ưu tiên của Công ước về quyền trẻ em đối
với các giải pháp trong nước (thậm chí nếu điều đó có nghĩa là đứa trẻ được chăm sóc dưới hình thức chăm sóc con nuôi hay chăm sóc từ thiện), Công ước Lahay vẫn đang giữ chuẩn mực “mang lại lợi ích lớn nhất cho đứa trẻ”, đặt mục
Trang 20tiêu tạo điều kiện cho đứa trẻ được sống trong môi trường của 1 gia đình thực sự làm điều kiện tiên quyết, mà điều này có thể dễ dàng làm được trong 1 gia đình nhận con nuôi nước ngoài hơn là ở trại mồ côi trong nước “Công ước Lahay là thỏa thuận quốc tế quan trọng liên quan đến những điều kiện về việc nhận con nuôi xuyên quốc gia”[50]
Tính đến tháng 10/2010 Công ước Lahay đã có hiệu lực ở 81 nước thành viên và vùng lãnh thổ Việt Nam đã kí Công ước Lahay vào năm 1992 Vào tháng 7 năm 2010, Việt Nam đã trở thành thành viên chính thức của Công ước Lahay, chính thức có hiệu lực tại Việt Nam vào ngày mùng 1 tháng 11 năm
2011 Khi một quốc gia đã phê chuẩn Công ước Lahay thì quốc gia đó đã là quốc gia thành viên và được quyền áp dụng một cách hợp pháp các điều khoản của Công ước này vào hệ thống luật trong nước Tuy nhiên, việc ký kết Công ước Lahay không bắt buộc phải phê chuẩn Công ước Do đó việc phê chuẩn Công ước Lahay là một tầng nấc phát triển cao hơn trong việc tuân thủ các quy tắc pháp lý về nuôi con nuôi quốc tế mà quốc gia ký Công ước đó đã cam kết khi ký Công ước [52]
1.2 Những nội dung cơ bản của Công ƣớc Lahay năm 1993 về Bảo vệ trẻ em và Hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế
1.2.1 Cấu trúc tổng quát của Công ước Lahay năm 1993 về Bảo vệ trẻ
em và Hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế
Tại khoá họp lần thứ XVII Hội nghị La Hay (từ 10-29/05/1993) các đại biểu của sáu mươi tư (64) nước trong số đó có đại biểu Việt Nam (với tư cách là khách mời) đã nhất trí thông qua và ký Văn kiện cuối cùng bao gồm nội dung
Công ước với tên gọi chính thức là “Công ước La Hay về bảo vệ trẻ em và hợp
tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi giữa các nước “
Công ước gồm lời nói đầu, 7 chương, 48 điều, chủ yếu đưa ra khung pháp
Trang 21lý cho việc hợp tác giữa các quốc gia trong lĩnh vực nuôi con nuôi Tính đến tháng 10/2010 Công ước đã có 81 nước thành viên, trong đó nước cho trẻ em làm con nuôi chiếm khoảng 60% Một số nước trong khu vực như Trung Quốc, Thái Lan, Cămpuchia, Philipin, Ấn Độ… đều đã là thành viên của Công ước
Công ước bao gồm một số nội dung chủ yếu là: những nguyên tắc nuôi con nuôi; điều kiện nuôi con nuôi giữa các nước; Cơ quan Trung ương được chỉ định để thực thi Công ước; yêu cầu thủ tục giải quyết việc nuôi con nuôi; công nhận việc nuôi con nuôi và hệ quả pháp lý của nuôi con nuôi
Với mục tiêu cơ bản là bảo vệ trẻ em, nên những nguyên tắc của Công ước đều mang tính nhân đạo, hướng đến tôn trọng và bảo vệ các quyền của trẻ
em Công ước yêu cầu mọi chính sách, pháp luật quốc gia đều phải vì lợi ích tốt nhất của trẻ em; bảo đảm quyền ưu tiên của trẻ em là được cha mẹ đẻ chăm sóc; nếu vì lý do nào đó trẻ em không được cha mẹ đẻ chăm sóc, thì cơ quan, tổ chức trong nước có trách nhiệm xem xét tất cả những giải pháp khác nhau để trẻ em được chăm sóc, nuôi dưỡng tại quốc gia mình; nếu các giải pháp này không thực hiện được, thì có thể cho làm con nuôi (ưu tiên làm con nuôi trong nước, việc làm con nuôi ở nước ngoài chỉ là giải pháp thay thế cuối cùng); mọi hành vi thu lợi bất minh từ việc cho trẻ em làm con nuôi, lạm dụng và buôn bán trẻ em phải
bị xử lý nghiêm minh
Về điều kiện nuôi con nuôi giữa các nước, Công ước quy định trẻ em và cha mẹ nuôi phải thường trú tại các quốc gia thành viên khác nhau (không áp dụng khi trẻ em và cha mẹ nuôi cùng thường trú tại một quốc gia thành viên)
Về Cơ quan Trung ương, Công ước yêu cầu mỗi Nước ký kết phải chỉ định một Cơ quan Trung ương để thực hiện các nghĩa vụ do Công ước quy định (như cung cấp thông tin pháp luật về nuôi con nuôi, cung cấp số liệu thống kê và các biểu mẫu chuẩn về nuôi con nuôi, về tình hình thực hiện Công ước và loại
bỏ bất kỳ sự trở ngại nào đối với việc thực hiện Công ước)
Cơ quan Trung ương có thể thông qua cơ quan, tổ chức nước mình để thực hiện các nghĩa vụ khác (như ngăn ngừa những khoản thu bất hợp pháp liên quan đến nuôi con nuôi; thu nhập, lưu giữ và trao đổi thông tin; theo dõi, thúc
Trang 22đẩy thủ tục nuôi con nuôi; báo cáo đánh giá tổng kết, kinh nghiệm…)
Về thủ tục giải quyết việc nuôi con nuôi, Công ước nghiêm cấm người nhận con nuôi tiếp xúc với cha mẹ đẻ/ người trực tiếp nuôi dưỡng trẻ em trước khi bắt đầu các thủ tục nhận con nuôi; Nước nhận phải chịu trách nhiệm về việc người nhận con nuôi có đủ điều kiện theo pháp luật nước mình; Nước gốc chịu trách nhiệm trẻ em cho làm con nuôi phải có đủ điều kiện theo pháp luật nước mình
Về công nhận việc nuôi con nuôi, theo Công ước, quyết định về nuôi con nuôi của Nước ký kết này được mặc nhiên công nhận có giá trị pháp lý tại các Nước ký kết khác, sau khi được Cơ quan Trung ương xác nhận
Về hệ quả pháp lý của nuôi con nuôi, Công ước quy định việc nuôi con nuôi sẽ làm phát sinh quan hệ cha mẹ, con giữa cha mẹ nuôi và con nuôi; phát sinh trách nhiệm của cha mẹ nuôi đối với con nuôi; làm chấm dứt quan hệ pháp
lý giữa trẻ em và cha mẹ đẻ, nếu pháp luật của nước nơi thực hiện việc nuôi con nuôi có quy định (ngược lại, nếu pháp luật nơi thực hiện việc nuôi con nuôi không quy định, thì sau khi làm con nuôi, trẻ em vẫn giữ quan hệ pháp lý với cha mẹ đẻ)
1.2.1 Những nội dung cơ bản của Công ước Lahay năm 1993
Mục đích và phạm vi áp dụng Công ước
Công ước nhằm mục đích :
i Định ra những đảm bảo để việc nuôi con nuôi giữa các nước là vì lợi ích tốt nhất của đứa trẻ và tôn trọng các quyền cơ bản của trẻ em được pháp luật quốc tế công nhận đặc biệt trong Công ước của Liên Hợp Quốc ngày 20/11/1989
về quyền trẻ em
ii Thiết lập hệ thống hợp tác, thông qua cơ chế liên hệ giữa các nhà chức trách trung ương của Nước gốc và Nước nhận nhằm tôn trọng những đảm bảo trên và ngăn chặn việc bắt cóc, mua bán trẻ em
iii Đảm bảo việc nuôi con nuôi giữa các nước phù hợp với Công ước được công nhận có giá trị pháp lý tại các nước ký kết
Trang 23Như vậy, mục đích của Công ước là đảm bảo để vấn đề con nuôi nước ngoài được tiến hành vì lợi ích tốt nhất của trẻ em và tôn trọng các quyền cơ bản của trẻ em, thiết lập một hệ thống hợp tác giữa các quốc gia ký kết để đảm bảo ngăn ngừa việc bắt cóc, buôn bán trẻ em và các quốc gia ký kết công nhận việc nuôi con nuôi được tiến hành theo Công ước
Phạm vi của Công ước (Điều 2, 3)
i Có việc đưa đứa trẻ từ nước gốc (nước nơi đứa trẻ thường trú) đến thường trú tại nước nhận ( nước nơi cha mẹ hoặc người nuôi thường trú)
ii Công ước chỉ áp dụng đối với những trường hợp nuôi con nuôi tạo lập mối quan hệ cha mẹ và con lâu dài, từ đó làm phát sinh quan hệ cha mẹ và con
iii Trước khi đứa trẻ đủ mười tám tuổi phải có sự đồng ý cho tiến hành thủ tục nuôi con nuôi của Nhà chức trách trung ương hai nước
Những nguyên tắc cơ bản của Công ước
Những nguyên tắc cơ bản của Công ước Lahay về nuôi con nuôi được coi
là những quy định bắt buộc, có giá trị ràng buộc chung đối với tất cả các quốc gia thành viên Những nguyên tắc đó bao gồm:
i Tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của trẻ em; mọi chính sách, pháp luật đều phải vì lợi ích tốt nhất của trẻ em và thúc đẩy việc thực hiện quyền trẻ em;
ii Tôn trọng quyền ưu tiên đối với trẻ em là được cha mẹ đẻ chăm sóc; iii Nếu vì một lý do nào đó mà trẻ em không được cha mẹ đẻ chăm sóc, thì cơ quan, tổ chức có thẩm quyền phải có trách nhiệm bảo vệ trẻ em và xem xét tất cae những giải pháp khác nhau để trẻ em được chăm sóc, nuôi dưỡng tại quốc gia mình; nếu các giải pháp này không thực hiện được, thì có thể tìm kiếm giải pháp thay thế như nuôi con nuôi, giám hộ hoặc chăm sóc ở trung tâm bảo trợ xã hội;
iv Chỉ cho phép những người ngoài gia đình ruột thịt của trẻ em nhận trẻ em làm con nuôi, nếu không có khả năng tìm thấy một nơi ở phù hợp cho trẻ
em ngay từ gia đình gốc của mình;
v Việc nuôi con nuôi làm phát sinh đầy đủ quan hệ cha mẹ và con theo
Trang 24pháp luật;
vi Ưu tiên thu xếp cho trẻ em làm con nuôi trong nước; việc cho trẻ em làm con nuôi ở nước ngoài chỉ được coi là giải pháp cuối cùng, sau khi chắc chắn rằng, không thể tìm được gia đình thay thế cho trẻ em ngay tại nước mình;
vii Nghiêm cấm mọi việc thu lợi bất minh từ việc cho trẻ em làm con nuôi; mọi hành vi lạm dụng và buôn bán trẻ em phải bị xử lý nghiêm minh
Điều kiện nuôi con nuôi (đối với người xin nhận con nuôi và trẻ em được nhận làm con nuôi)
Theo Điều 2 của Công ước, thì Công ước được áp dụng khi trẻ em và cha
mẹ nuôi thường trú tại các nước khác nhau Công ước không áp dụng khi trẻ em
và cha mẹ nuôi cùng thường trú tại một quốc gia thành viên, cũng như cha mẹ nuôi thường trú ở một quốc gia không phải là thành viên Công ước
Công ước quy định việc nuôi con nuôi được áp dụng đối với trẻ em dưới
18 tuổi
Chỉ định Cơ quan Trung ương về con nuôi quốc tế
Công ước yêu cầu cả Nước nhận và Nước gốc phải chỉ định một cơ quan
ở trung ương có đủ thẩm quyền, làm đầu mối trong việc bảo đảm thực thi Công ước Việc chỉ định Cơ quan Trung ương về con nuôi quốc tế là bắt buộc Theo Điều 8, Điều 9, Cơ quan Trung ương về con nuôi quốc tế có nghĩa vụ áp dụng trực tiếp hoặc với sự giúp đỡ của các cơ quan Công quyền, tất cả các biện pháp thích hợp nhằm ngăn ngừa và xử lý việc thu lợi bất hợp pháp từ việc nuôi con nuôi, ngăn chặn tất cả các hành vi trái với mục đích của Công ước; thu thập, lưu giữ và trao đổi thông tin liên quan đến trẻ em và cha mẹ nuôi tương lai, nhằm thực hiện việc nuôi con nuôi; tạo điều kiện thuận lợi để thúc đẩy thủ tục cho nhận con nuôi; thúc đẩy việc phát triển ở quốc gia mình các dịch vụ tư vấn về nuôi con nuôi và sau khi nhận nuôi con nuôi; trao đổi các báo cáo đánh giá kinh nghiệm về lĩnh vực con nuôi nước ngoài
Tổ chức được ủy quyền
Công ước Lahay quy định các quốc gia thành viên có thể thành lập hoặc
cho phép tổ chức trong nước hoạt động trong lĩnh vực nuôi con nuôi (ghi là Tổ
Trang 25chức được ủy quyền) Tổ chức này có các nghĩa vự: hoạt động vì mục đích phi
lợi nhuận, không vụ lợi theo các điều kiện do pháp luật các nước hữu quan quy định, chịu sự lãnh đạo và điều hành của những người đủ tiêu chuẩn về đạo đức, được đào tạo hoặc có kinh nghiệm để làm việc trong lĩnh vực con nuôi quốc tế; chịu sự kiểm tra, giám sát của cơ quan có thẩm quyền (về cơ cấu, hoạt động và tình trạng tài chính); chỉ được hoạt động ở quốc gia thành viên khác, nếu được
cơ quan có thẩm quyền của cả hai quốc gia liên quan cho phép
Trình tự, thủ tục giải quyết việc nuôi con nuôi
Công ước đưa ra một quy trình mẫu về thủ tục giải quyết việc cho và nhận con nuôi theo chuẩn mực quốc tế, tăng cường bảo vệ quyền lợi của trẻ em, của cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi theo hướng đơn giản hóa các thủ tục hành chính và hạn chế tối đa các trường hợp trẻ em vô gia cư
Hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi
Một trong những hệ quả pháp lý quan trọng nhất của việc nuôi con nuôi (theo hình thức nuôi con nuôi trọn vẹn) là làm chấm dứt quan hệ pháp lý tồn tại trước đó giữa cha mẹ đẻ và trẻ em (theo điều c khoản 1 Điều 26 Công ước), nếu việc nuôi con nuôi có hệ quả như vậy tại nước nơi thực hiện việc nuôi con nuôi (Nước nhận) Mục đích của quy định này là nhằm đảm bảo rằng, trẻ em được nhận làm con nuôi phù hợp với quy định của Công ước sẽ có địa vị pháp lý và được bảo vệ như bất kỳ trẻ em nào khác trên lãnh địa của Nước nhận Tuy nhiên việc chấm dứt quan hệ pháp lý giữa cha mẹ đẻ và trẻ em cũng không phải là một giải pháp chắc chắn, vì pháp luật của các nước quy định rất khác nhau về vấn đề này
Vì thế, Điều 27 của Công ước cho phép chuyển đổi hình thức nuôi con nuôi Nước nhận sẽ áp dụng pháp luật của mình để cho phép chuyển đổi hình thức nuôi con nuôi Việc chuyển đổi này, cũng như hệ quả pháp lý của nó, sẽ được công nhận tại các quốc gia thành viên khác
1.2.3 Đánh giá mức độ tương thích giữa Công ước Lahay năm 1993 với pháp luật Việt Nam về nuôi con nuôi
Nội dung Công ước Lahay về cơ bản là tương thích với các quy định của
Trang 26pháp luật Việt Nam về nuôi con nuôi Tuy nhiên có một số điểm chưa tương thích, tương thích ở mức độ hạn chế hoặc chưa được quy định trong các văn bản pháp luật của Việt Nam Cụ thể là:
Về những nguyên tắc cơ bản của Công ước: Pháp luật Việt Nam hiện nay (Bộ Luật Dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Nghị định 68/2002/NĐ- CP và Nghị định 69/2006/ NĐ- CP…) cũng có những nguyên tắc, quy định nhìn chung là phù hợp với các nguyên tắc nêu trên của Công ước Lahay Nhưng xét về chi tiết, thì tinh thần của một số nguyên tắc của Công ước Lahay mới chỉ được thể hiện chung chung trong các văn bản pháp luật nước ta, chưa rõ ràng, cụ thể, đặc biệt chưa có đầy đủ các biện pháp để bảo đảm thực thi
Về điều kiện nuôi con nuôi: Các điều kiện đối với người xin nhận con nuôi và trẻ em được cho làm con nuôi theo pháp luật Việt Nam, có nhiều điểm phù hợp với Công ước Lahay Điểm khác nhau cơ bản là, pháp luật Việt Nam chỉ cho người nước ngoài nhận con nuôi là trẻ em từ 15 tuổi trở xuống (hoặc trẻ em trên 15 tuổi đến dưới 16 tuối, nếu là trẻ em tàn tật, mất năng lực hành vi dân sự)
Chỉ định Cơ quan Trung ương về con nuôi quốc tế: Căn cứ Nghị định 62/2003/NĐ-CP ngày 06/6/2003 của Chính phủ, ngày 05/8/2003 Bộ trưởng
Bộ Tư pháp ra quyết định số 337/QĐ-BTP thành lập Cục Con nuôi quốc tế
thuộc Bộ Tư pháp Cục con nuôi quốc tế hiện nay được coi là cơ quan Trung ương về con nuôi quốc tế của Việt Nam theo các hiệp định hợp tác song phương
về nuôi con nuôi giữa Việt Nam với các nước Tuy nhiên trong khuôn khổ Công ước Lahay và theo thông lệ của các nước, thì khi ký hoặc phê chuẩn Công ước, Việt Nam cần chỉ định một cơ quan Trung ương cấp Bộ và thông báo chính thức
về cơ quan này Theo dự kiến Bộ Tư pháp sẽ là Cơ quan Trung ương về con nuôi quốc tế của Việt Nam trong khuôn khổ Công ước Lahay (Cục Con nuôi quốc tế thuộc Bộ Tư pháp sẽ là đầu mối liên hệ của Cơ quan Trung ương)
Tổ chức được ủy quyền: Pháp luật Việt Nam hiện không có quy định cầm và cũng chưa cho phép thành lập tổ chức trong nước hoạt động trong
Trang 27lĩnh vực nuôi con nuôi Toàn bộ các công việc trong quá trình giải quyết con nuôi, cả trong và ngoài nước, hiện nay đều do các cơ quan nhà nước ở Trung ương và địa phương thực hiện
Trình tự, thủ tục giải quyết việc nuôi con nuôi: Chính phủ Việt Nam thấy rằng, về cơ bản, các quy định về trình tự, thủ tục giải quyết việc nuôi con nuôi theo Nghị định 68/2002/NĐ-CP (đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định 69/2006/NĐ-CP ngày 21/7/2006) và các văn bản hiện hành của Việt Nam không trái với các quy định của Công ước Lahay
Hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi: Pháp luật Việt Nam không quy định về các hình thức nuôi con nuôi (đơn giản và trọn vẹn), không quy định
về hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi là chấm dứt hay vẫn tồn tại quan hệ pháp lý giữa cha mẹ đẻ và trẻ em đã được cho làm con nuôi, cũng như không quy định về chuyển đổi hình thức nuôi con nuôi
1.3 Kinh nghiệm quốc tế trong việc cho - nhận con nuôi quốc tế
1.3.1 Thực tiễn quốc tế về cho- nhận con nuôi quốc tế hiện nay
Nuôi con nuôi quốc tế là một hiện tượng mang tính toàn cầu với đặc thù riêng của “từng nước”[45] Do đó cần nhấn mạnh thực tế rằng bài viết này được thực hiện vào thời điểm mà sau khi số lượng trẻ được cho làm con nuôi ở các nước nhận nuôi chính đã tăng tới mức cao nhất trong các năm ở thập kỷ 80 và
90, và sau đó hoặc là ổn định hoặc giảm xuống kể từ những năm đầu thế kỷ 21, trừ Ý [45](bảng 1.1) Cũng theo đánh giá của nhà nghiên cứu Peter Selman tại Đại học Newcastle, Anh thì thời kỳ 1999-2010 đã đánh dấu việc tăng giảm số lượng con nuôi trên toàn thế giới Năm 1999 có khoảng 33.000 trẻ em trên thế giới được cho- nhận làm con nuôi, đến năm 2004 đã có trên 45.000 trẻ em được cho nhận con nuôi Tuy nhiên đến năm 2009, số lượng trẻ em được cho nhận đã giảm xuống dưới 30.000, một
con số còn thấp hơn năm 1998 (xem Biểu đồ 1.8 ) [72]
Trang 28Trong bối cảnh quốc tế này, việc giữ nguyên hay giảm dần số lượng không thể là do giảm số lượng đơn ở nước nhận con nuôi – rõ ràng rằng số lượng cha mẹ nuôi tiềm năng trên toàn thế giới vẫn cao hơn rất nhiều so với số lượng trẻ được nhận làm con nuôi – nhưng ngày càng có nhiều nước cho con nuôi đưa ra nhiều hạn chế lâu dài hoặc tạm thời trong việc nuôi con nuôi quốc
tế Ví dụ, có nhiều nước cho con nuôi đang đặt ra các quy định hạn chế nghiêm ngặt hơn cho người nước ngoài mong muốn nhận con nuôi (sức khoẻ, độ tuổi v.v), đồng thời họ khuyến khích con nuôi trong nước và đã có một số thành công nhất định Tất cả những nhân tố này tạo ra tình huống nhu cầu nuôi con nuôi trên toàn thế giới lớn hơn nhiều so với số trẻ em có thể cho làm con nuôi Kết quả là các nước nhận nuôi và các cơ quan con nuôi thường phải cố gắng hơn để tìm các nước có trẻ nhỏ tuổi hơn được cho làm con nuôi Trong tình huống đặc biệt này, khi mà “cầu” vượt “cung” chắc chắn dẫn đến những biểu hiện không tốt
và mâu thuẫn lẫn với nhau Ở những nước mà hệ thống bảo trợ xã hội không tốt thì các gia đình bị áp lực phải cho con đi làm con nuôi Khi các thực tiễn đó trở nên quá thông dụng thì các nước cho con nuôi phải tiến hành các biện pháp ngăn chặn hoặc phải tăng thêm áp lực đối với nước nhận con nuôi [45]
Trang 29Vì vậy cần lưu ý tới bối cảnh chung khi bàn về những vấn đề liên quan đến quy định về nuôi con nuôi quốc tế tại một quốc gia như Việt Nam
Tính đến tháng 10-2010 đã có 81 nước và vùng lãnh thổ là thành viên của Công ước Lahay với 2 nhóm: nước nhận trẻ em làm con nuôi (Nước nhận) và nước cho trẻ em làm con nuôi (Nước gốc), trong đó các nước cho trẻ em làm
con nuôi chiếm đa số (khoảng 51/81 nước) (Phụ lục 1.1)
1.3.1.1 Tình hình cho - nhận con nuôi ở các Nước nhận
Trước chiến tranh thế giới thứ hai, những gia đình ở Mỹ, Canada, Úc và nhiều nước châu Âu nhận nuôi trẻ em chủ yếu đến từ Đức, Ý, Hy Lạp và phần nào từ Trung Quốc, Nhật Bản Trong thập kỷ 50, cuộc chiến tranh Triều Tiên đã góp phần tạo ra một thế hệ mới các trẻ em bị mồ côi hay bị bỏ rơi được đưa sang làm con nuôi ở phương Tây và Mỹ Nhiều trẻ em trong số này là trẻ em con lai
Mỹ (cha là lính Mỹ khi hết chiến tranh đã về nước).[81]
Đến những năm 60, trẻ em ở các nước thuộc thế giới thứ 3 trở thành con nuôi ở nhiều nước công nghiệp phát triển nhằm chia sẻ gánh nặng với các nước mới giành được độc lập hay đang trong quá trình phi thực dân hóa
Đến những năm gần đây, nhu cầu nhận con nuôi nước ngoài ở các nước phát triển cao hơn với lý do như vô sinh hay tâm lý ngại không muốn sinh con ở nhiều phụ nữ, xu hướng nuôi con của các bà mẹ độc thân cao hơn… Trong khi
tỷ lệ sinh đẻ giảm và số trẻ em có nhu cầu được nhận nuôi trong nước cũng giảm hẳn Sự gia tăng dân số nhanh chóng và việc thực hiện chính sách dân số- kế hoạch hóa gia đình ở các nước đang phát triển cũng góp phần làm tăng thêm vấn
đề con nuôi vốn dần được chấp nhận như một thực tế phổ biến rộng rãi ở nhiều
nước khác trên thế giới [56] (xem biểu đồ 1.2)
Hiện nay Mỹ là nước nhận nuôi con nuôi nước ngoài lớn nhất, chiếm khoảng nửa trong tổng số trẻ em làm con nuôi nước ngoài trên toàn thế giới Những cha mẹ người Mỹ bắt đầu nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôi chủ yếu
từ sau Chiến tranh Thế giới thứ 2 (1939-1945) Rất nhiều trẻ em được nhận nuôi
là trẻ em mồ côi từ Châu Âu và Nhật Bản, thêm vào đó là trẻ em bị bỏ rơi trong những cuộc nội chiến ở Hi Lạp (1946-1949), chiến tranh Triều Tiên ( 1950-
Trang 301953) và cuộc chiến tranh ở Việt Nam (1954- 1975) [39] Tuy nhiên, chiến tranh
và hậu quả của nó không phải là yếu tố duy nhất khiến các nước phải cho trẻ em nước mình đi làm con nuôi ở nước ngoài Nghèo đói và biến động xã hội là những yếu tố quan trọng khiến số lượng trẻ em từ Mỹ Latinh, Liên Xô cũ và Đông Âu vào Mỹ làm con nuôi tăng hơn hai mươi năm qua Ở Trung Quốc, những chính sách kiểm soát dân số của chính phủ góp phần làm tăng số lượng
bé gái sơ sinh bị bỏ rơi và số trẻ em tại các viện mồ côi ngày càng lớn, những yếu tố thuận lợi thúc đẩy các quyết định của chính phủ trong việc cho trẻ em nước này đi làm con nuôi ở nước khác [56] Trong khoảng thời gian 1993- 1997, các gia đình Mỹ nhận hơn 5 vạn trẻ em nước ngoài làm con nuôi với số lượng tăng hàng năm, từ 7.377 trong năm 1993 lên 13.620 trong năm 1997 Mặc dù
Mỹ nhận con nuôi từ >100 quốc gia nhưng gần ¾ số lượng trẻ em chủ yếu đến
từ 5 quốc gia chính, nhiều nhất từ Nga (10.042 em), Trung Quốc (10.177 em) và Hàn Quốc (8.406 em) [56] Cũng trong thời gian này có khoảng 500 trẻ em Mỹ (hầu hết là gốc châu Phi) lại đi làm con nuôi ở các nước công nghiệp phát triển phương tây khác Số lượng có thể cao hơn nhiều do ở Mỹ không kiểm soát số thị thực xuất cảnh Mỹ là nước nhận con nuôi người Nga nhiều nhất với 1,5 vạn trong năm 1992 và trong năm 1999 là 4.348 em.[69]
Từ năm 1971 đến 2001, Mỹ đã nhận nuôi 265,677 trẻ em từ các nước làm con nuôi [74]
Biểu đồ 2: Trong 3 thập kỷ (1971-2001) có hơn ¼ triệu trẻ em được
nhận nuôi ở Mỹ
Trang 31Chỉ tính riêng trong 11 năm (từ năm 1991 đến năm 2001), số lượng trẻ em con nuôi vào Mỹ đã tăng gấp đôi
Những nước nhận chính khác là Canada, Pháp, Italia, Hà Lan, Thụy Điển
và Thụy Sỹ Riêng ở Pháp, trong những năm 80 thông thường hàng năm nhận con nuôi trung bình 1.000 trẻ em nước ngoài thì trong năm 1998 con số này lên đến 4.000 Trong vòng 20 năm qua, số trẻ em châu Á chiếm trên 30% tổng số con nuôi tại Pháp, trong đó trẻ em Việt Nam chiếm số lượng lớn ( riêng trong năm 1998 có khoảng 1.300 trẻ em Việt Nam sang làm con nuôi) Cũng trong năm 1998, Pháp nhận khoảng 3000 trẻ em Colombia, 200 trẻ em Nga [72] Số trẻ em Pháp làm con nuôi trong nước chỉ chiếm khoảng 10% tổng số trẻ em làm
Trang 32con nuôi ở nước này Nhu cầu nhận con nuôi nước ngoài ở Đức đang gia tăng và trung bình cứ 20 người dân Đức có 1 người nhận con nuôi nước ngoài [80][Biểu đồ 1.8]
Song nếu tính theo số trẻ em được nhận nuôi theo đầu người thì Thụy Điển có tỷ lệ cao nhất Theo số liệu năm 1999 của Ủy ban quốc gia của Thụy Điển về con nuôi nước ngoài năm 1999 thì từ cuối thập kỷ 60 trở lại đây, Thụy Điển đã nhận nuôi khoảng gần 4 vạn trẻ em nước ngoài làm con nuôi [66][Biểu
đồ 1.6]
Ở Đức và Ý, số lượng trẻ em được nhận làm con nuôi quốc tế cũng khá lớn, với khoảng 2.000 con nuôi nước ngoài ở mỗi nước Các nước khác cũng nhận con nuôi với số lượng lớn như Canada, Hà Lan và Thụy Điển Trong những năm gần đây, các nước này đều nhận hơn 1.000 con nuôi nước ngoài mỗi năm Số còn lại 13 % số lượng con nuôi quốc tế, tương đương với 5.300 con nuôi, được phân bố tại 19 quốc gia chính tiếp nhận, sáu trong số đó nhận ít hơn
100 con nuôi mỗi năm [68]
Các số liệu về tuổi của con nuôi quốc tế đưa ra một bức tranh toàn cảnh khác Quốc gia có tỉ lệ con nuôi quốc tế dưới 5 tuổi cao nhất là Cyprus (192.4) Đan Mạch (124.4), Luxembua (106.9), Na Uy (137.6), Singapore (107.1), Tây Ban Nha (113.3) và Thụy Điển (136.8) cũng là những nước có tỉ lệ con nuôi quốc tế dưới 5 tuổi cao Ngược lại, các nước chủ yếu nhận con nuôi quốc tế như Canada, Pháp và Hoa Kỳ thí có số lượng nhận con nuôi quốc tế dưới 5 tuổi thấp hơn Các nước có tỷ lệ thấp nhất là Nhật Bản, Bồ Đào Nha và Vương quốc Anh
có tỉ lệ nhận con nuôi dưới 5 tuổi thấp, trung bình dưới 6 trẻ trên tỉ lệ 100.000 trẻ dưới năm tuổi [76]
Bên cạnh việc nhận con nuôi nước ngoài, số liệu trẻ em được cho làm con nuôi trong nước ở những nước nhận cũng rất khác nhau Theo số liệu từ Cục Con nuôi (Bộ Tư pháp) thì ở Canada, năm 2007 có khoảng 76.000 trẻ em đang sống tại các cơ sở bảo trợ xã hội, trong đó trên 20.000 trẻ em có cha/mẹ bị tước quyền và được nhận làm con nuôi tại Canada (người nước ngoài không thể xin những trẻ em này làm con nuôi)
Trang 33Ở Pháp, mỗi năm có khoảng 500 trẻ em từ các cơ sở nuôi dưỡng được các gia đình Pháp nhận làm con nuôi vầ số lượng này mới chỉ đáp ứng được khoảng 1/10 nhu cầu của công dân Pháp muốn nhận con nuôi [79]
Ở Ailen, mặc dù Ailen chỉ có gần 5 triệu dân, nhưng nhu cầu xin nhận con nuôi lại rất lớn, số lượng trẻ em trong nước được nhận làm con nuôi chỉ đáp ứng được khoảng 1/20 nhu cầu xin con nuôi của công dân nước này (mỗi năm có khoảng hơn 100 trẻ em làm con nuôi trong nước, so với 2000 hồ sơ của công dân Ailen muốn xin nhận con nuôi) [66]
Ở Hoa Kỳ, số trẻ em được nhận làm con nuôi trong nước nhiều hơn hẳn
số lượng con nuôi nước ngoài Hàng năm có khoảng 50.000 – 70.000 trẻ em được nhận làm con nuôi trong nước Năm 2008, Hoa Kỳ nhận 17.000 trẻ em nước ngoài làm con nuôi và trong 5 năm (2004-2008) Hoa Kỳ đã nhận 103.337 trẻ em nước ngoài làm con nuôi, nhiều hơn tất cả các nước khác cộng lại [66] Nhưng so với con nuôi trong nước thì số lượng trẻ em nước ngoài được nhận làm con nuôi tại Hoa Kỳ chỉ bằng 20% số trẻ em hàng năm được nhận làm con nuôi trong nước
1.3.1.2 Tình hình cho - nhận con nuôi có yếu tố nước ngoài ở các Nước gốc
Theo số liệu được cung cấp bởi các nước Gốc thì Trung Quốc và Liên bang Nga là hai nguồn cung cấp chính con nuôi quốc tế Trong năm 2001, 8600 trẻ em Trung Quốc và 5.800 trẻ em Nga đã được nhận nuôi bởi những cha mẹ là công dân nước ngoài[biểu đồ 1.2] Cùng với đó, số lượng trẻ em được nhận nuôi
từ hai nước này chiếm 35% tổng số trẻ em được nhận nuôi trên toàn thế giới Các nước có số lượng trẻ em nhận nuôi lớn khác là Bulgaria, Guatemala, Ấn Độ, Hàn Quốc, Ukraine và Việt Nam [biểu đồ 1.4] Trong những năm gần đây,
Trang 34hàng năm mỗi nước này có khoảng hơn 1000 trẻ em được cho làm con nuôi thông qua các cơ quan, tổ chức quốc tế [72]
Ở hầu hết các nước Gốc khác, những con số báo cáo trẻ em con nuôi quốc
tế đã thấp hơn Ít hơn 1.000 trẻ cho đi làm con nuôi được báo cáo hàng năm ở 62 quốc gia và 46 nước trong số đó có số trẻ em cho đi làm con nuôi hàng năm không vượt quá con số 100, như là Burkina Faso, Chile, Nicaragua và Indonesia [31]
Hầu hết các nước Gốc có số trẻ em cho đi làm con nuôi quốc tế lớn thường có tỉ lệ trẻ em dưới 5 tuổi cao Đó là trường hợp của Bulgaria, Guatemala, Kazakhstan, Triều Tiên, Liên bang Nga và Ukraine, những nước mà
có tỉ lệ trẻ em dưới năm tuổi từ 52 đến 181 trên 100.000 trẻ Ngoại lệ chính là Trung Quốc, quốc gia đứng đầu về số lượng cho con nuôi nhưng lại có tỉ lệ con nuôi dưới 5 tuổi trên 100.000 chỉ là 6 Ấn Độ và Việt Nam, mỗi nước cho đi khoảng 1.000 trẻ em mỗi năm, những năm gần đây tỉ lệ trẻ em cho đi làm con nuôi dưới 5 tuổi cũng giảm, ở Ấn Độ thấp hơn 1/100.000 và 11 / 100.000 tại Việt Nam
So sánh tỷ lệ trẻ em được cho làm con nuôi với tỉ lệ trẻ em được sinh ra (cứ 200 trẻ em được sinh ra thì có 01 trẻ em được cho làm con nuôi người nước ngoài), cho thấy kết quả khác nhau: cao nhất là Bungary trên 1,5%; thấp nhất là
Ấn Độ 0,04%; Việt Nam là 0,54% năm 2003.[2]
Tỷ lệ trẻ em làm con nuôi trong nước ở các nước gốc cũng khác nhau Ở Việt Nam từ năm 2003 đến 2008 có 17.000 trẻ em làm con nuôi trong nước, gần
6000 trẻ em làm con nuôi ở nước ngoài
Tuy nhiên, theo thống kê của Tổ chức dịch vụ xã hội quốc tế tại Gionevo (ISS), thì tình hình nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôi trên thế giới nhìn chung có xu hướng giảm trong những năm qua, nhưng việc giải quyết cho trẻ
em làm con nuôi người nước ngoài theo thủ tục của Công ước Lahay lại tăng lên
so với việc giải quyết cho trẻ em làm con nuôi ngoài thủ tục Công ước Số trẻ
em được nhận làm con nuôi quốc tế trên thế giới trong hai năm 2008-2009 như sau:
Trang 35- Năm 2008: trên thế giới có 22.883 trẻ em được nhận làm con nuôi quốc tế, trong đó có 29,2% được giải quyết theo thủ tục Công ước Lahay
- Năm 2009: trên thế giới có 16.767 trẻ em được nhận làm con nuôi quốc tế, trong đó có 37,2% được giải quyết theo thủ tục Công ước Lahay
- Nhóm 5 nước nhận nhiều con nuôi quốc tế nhất là Mỹ, Italia, Pháp, Tây Ban Nha và Canada Năm 2009: Mỹ nhận 12.753 trẻ em nước ngoài làm con nuôi; Italia nhận 3.964 trẻ em nước ngoài làm con nuôi; Pháp nhận 3.071 trẻ
em nước ngoài làm con nuôi; Tây Ban Nha nhận 2.990 trẻ em nước ngoài làm con nuôi và Canada nhận 1.600 trẻ em nước ngoài làm con nuôi Đây là 5 nước đứng đầu thế giới về việc nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôi từ năm 2000 đến năm 2009.[2]
1.3.1.3 Xu hướng nuôi con nuôi quốc tế những năm gần đây
Trong khoảng một thập niên trở lại đây (1999-2010) đã chứng kiến sự lên – xuống rõ rệt số lượng trẻ em được cho đi làm con nuôi quốc tế Nhìn vào bảng
số liệu ta có thể thấy rõ 1 sự sụt giảm số lượng trẻ em con nuôi kể từ năm 2004 quay về mốc năm 2001, tuy nhiên vẫn cao hơn những năm 90s
Bảng 1.3 [70] cho thấy xu hướng nhận con nuôi từ năm 1998 đến năm
2009 tại 23 nước Nhận và chỉ ra sự thay đổi số lượng tại 4 quốc gia nhận nuôi chính (sau Mỹ) Trong khoảng thời gian này Canada, Pháp và Ý chứng kiến 1 sự suy giảm đáng kể số lượng nhận con nuôi, trong khi đó một số nước khác lại có tăng nhanh, điển hình là Tây Ban Nha Từ năm 1998- 2004, số lượng con nuôi quốc tế tăng khoảng 42% nhưng sự gia tăng giữa các nước nhận chính có sự chênh lệch rõ Sau khi đạt mốc đỉnh năm 2004 với 42,298 trẻ em được nhận làm con nuôi thì con số này chỉ còn 28,594 trẻ vào năm 2009, giảm 37% trong vòng
6 năm Trong khi Ý và Canada tăng nhanh trong vòng 6 năm thì hầu hết các nước đều giảm Mặc dù vẫn đứng đầu trong số các nước Nhận về số lượng trẻ
em nhận làm con nuôi từ các nước Gốc trong năm 2009 nhưng Mỹ đã chứng kiến một sự sụt giảm đáng kể số lượng con nuôi, từ 22,884 xuống còn 11,780 (giảm gần một nửa)
Trang 36Cho đến thời điểm này, Trung Quốc, Nga, Guatemala và Ethiopia là những nước cung cấp nguồn con nuôi nhiều nhất thế giới Nhưng vì những lý do khác nhau, số lượng trẻ cho đi làm con nuôi quốc tế đã giảm mạnh trong thời gian qua Theo số liệu của UNICEF, tại Trung Quốc số trẻ được đưa ra nước ngoài đã giảm mạnh từ 14.500 năm 2005 xuống còn 5.967 năm 2008 (bảng 1.4) Những thay đổi trong các chính sách xã hội và kinh tế đã ảnh hưởng đến số lượng trẻ cho làm con nuôi Trước đây, do chính sách mỗi gia đình chỉ có một con, số trẻ sơ sinh gái được sinh ra ngoài ý muốn trở thành “trẻ mồ côi bất đắc dĩ” bị đưa ra nước ngoài rất nhiều (vì tâm lý chọn con trai ở Trung Quốc) Hiện nay, khi Chính phủ Trung Quốc điều chỉnh chính sách một con, cho phép một gia đình có điều kiện được sinh con thứ hai, khuyến khích xin con nuôi trong nước… số trẻ cho ra nước ngoài vì thế đã giảm mạnh [57]
Theo thống kê của giới chức Trung Quốc, năm 2008, số vụ xin con nuôi trong nước đã tăng hơn 37.000 vụ trong một năm Gần 50% trẻ em Trung Quốc được đưa sang Mỹ làm con nuôi đều có những nhu cầu đặc biệt như bị tim bẩm sinh, hở hàm ếch và một số dị tật bẩm sinh khác [67]… Một nửa trong số những trường hợp đặc biệt này thông qua “Chương trình trẻ chờ đợi” của Chính phủ Trung Quốc, qua đó nhằm tìm kiếm các gia đình có điều kiện giúp đỡ những đứa trẻ đang cần được chăm sóc y tế [56]
Trong khi đó tại Nga, năm 2004, người nước ngoài đã nhận nuôi 9.425 trẻ
em Nga và công dân Nga nhận nuôi khoảng 7.000 Nhưng đến năm 2008, chỉ có 4.413 trẻ em Nga được cho ra nước ngoài và các gia đình người Nga đã nhận nuôi đến 7.683 trẻ [71] Một trong những lý do chính cho sự sụt giảm các vụ xin con nuôi của người nước ngoài là các nhà làm luật Nga đã nỗ lực thúc đẩy các
vụ xin con nuôi trong nước Chính phủ Nga hiện nay còn thưởng cho mỗi gia đình nhận trẻ làm con nuôi 1.000 USD và một khoản trợ cấp nhỏ hàng tháng Theo chương trình do Thủ tướng Vladimir Putin khởi xướng từ năm 2006 khi ông là tổng thống, phụ nữ giờ đây có thể nhận đến hơn 10.000 USD cho việc nhận nuôi dưỡng đứa con nuôi thứ hai.[72] (xem bảng 8)
Trang 37Còn tại Guatemala, nơi có nguồn cung cấp trẻ em làm con nuôi lớn thứ hai trê thế giới, mỗi năm cho đi khoảng gần 5.000 đứa trẻ, tức là cứ 100 đứa trẻ sinh ra thì có 1 đứa được cho đi [50]
Trong những ngày cuối năm 2007, với hàng loạt các vụ bê bối liên quan đến đánh cắp trẻ em và ép buộc các bà mẹ bán con, những nhà làm luật Guatemala đã bổ sung thêm quy định mới, theo đó khuyến khích chính sách hướng đến “thành lập một gia đình” ở ngay trong nước, ưu tiên cho họ hàng trước khi chọn các gia đình nước ngoài [70] Và hiện nay các thủ tục nhận con nuôi cũng rất nhiêu khê nên ảnh hưởng đến quyền lợi của trẻ
Theo ước tính, hiện nay có khoảng 4.000 trẻ em đang sống trong các trại
mồ côi Guatemala hội đủ tiêu chuẩn được cho làm con nuôi trong các gia đình trong nước Nhưng chỉ có 253 trẻ đã được nhận nuôi vì từ lúc nộp đơn cho đến lúc được giải quyết ít nhất cũng vài năm [84] Những đứa trẻ cứ lớn lên và hiểu biết thêm, trong khi những bậc cha mẹ nuôi chỉ muốn nhận con khi còn là trẻ sơ sinh hoặc chỉ biết đi lẫm chẫm để tránh rắc rối về sau [50]
Trong khi các nước cho con nuôi khác có sự dao động lớn số lượng trẻ em cho đi làm conn nuôi thì Ethiopia là nước cho con nuôi duy nhất tăng dần đều theo các năm, đặc biệt có một số lượng lớn trẻ em vào Mỹ [53], nhất là sau sự kiện vợ chồng hai siêu sao điện ảnh Hollywood là Angelina Jolie và Brad Pitt nhận nuôi một bé gái Ethiopia
Rõ ràng Ethiopia đang là nước cho trẻ em đi làm con nuôi quốc tế ấn tượng nhất Với chưa đầy 500 trẻ em cho đi làm con nuôi năm 1998, gần 10 năm sau, năm 2007, con số này đã là 3,031 trẻ và đến năm 2009 là 4,564 Gần 80% trong số đó vào Mỹ, Tây Ban Nha và Ý [72]
Như vậy là sau một thập niên tăng trưởng đến năm 2004, tỉ lệ cho và nhận con nuôi quốc tế bắt đầu có dấu hiệu đi xuống, ngày càng ít trẻ em được cho đi làm con nuôi ở nước khác Liệu sự suy giảm này sẽ còn tiếp hay không thì chưa
ai có thể đoán được Có thể sẽ còn tiếp tục giảm trong những năm tới nhưng xu hướng nuôi con nuôi quốc tế vào thập niên thứ hai của thế kỷ 21 sẽ còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác
Trang 381.3.2 Thực tiễn thực thi Công ước Lahay năm 1993 ở một số nước
1.3.2.1 Thực tiễn thực thi Công ước Lahay năm 1993 ở Rumani
A Lịch sử nuôi con nuôi quốc tế ở Rumani
Rất ít các quốc gia trên thế giới mà trẻ mồ côi lại có tình cảnh bi thảm như
ở Rumani Trong suốt thời kỳ cầm quyền từ năm 1944, nhà độc tài Ceausescu đã buộc phụ nữ nước này đẻ năm đứa con, đồng thời cấm mọi việc kiểm soát sinh
đẻ và phá thai Kết quả là có hàng vạn đứa trẻ không mong muốn đã ra đời và bị
bỏ rơi tại các trại trẻ mồ côi trong lúc tình hình tham nhũng của nước này ngày càng lan rộng [61] Tính đến năm 1989 khi chế độ của Ceausescu bị lật đổ thì ước tính có khoảng 30,000 trẻ em Rumani được nhận nuôi ở nước ngoài, trong
đó có khoảng 8.300 trẻ em được người Mỹ nhận nuôi Tuy vậy vẫn có khoảng 40,000 đứa trẻ khác vẫn ở trong các trung tâm bảo trợ trẻ em hay các trại trẻ mồ côi [22] Sau khi vấp phải hàng loạt những chỉ trích từ cộng động quốc tế vì điều kiện sống tồi tàn của những trẻ em tại các trại trẻ mồ côi, thì chính quyền nước này, bằng nguồn đóng góp tài chính đáng kể từ chính phủ nước ngoài và các tổ chức phi chính phủ, đã tiến hành một loạt những hoạt động để cải thiện đời sống
của những trẻ em này
Tuy nhiên chính phủ nước này mới chỉ giải quyết được bề nổi của vấn đề chứ không giải quyết nguyên nhân cốt lõi Nghèo đói, thiếu sự quản lý và quan tâm của chính quyền cũng như thiếu một chính sách dài hạn để cải thiện đời sống của người dân là những nguyên nhân khiến đời sống của người dân Rumani nói chung và trẻ em mồ côi nói riêng trở nên nghiêm trọng [22] Theo báo cáo thống kê thì trong năm 1993, chỉ có 10,3% trẻ em Rumani được sống trong điều kiện tốt, trong khi đó có tới 56,6% sống ở mức nghèo khổ [61]
Sự sụp đổ của chế độ Ceausescu tại Rumani tháng 12/1989 với sự phơi bày hoàn cảnh tồi tệ ở những trại trẻ mồ côi với hàng nghìn trẻ em sống dở chết
dở đã khiến nước này mở cửa với vấn đề nuôi con nuôi quốc tế và gửi hàng nghìn trẻ em ra nước ngoài làm con nuôi [61] Đến cuối năm 2000, Rumani lại đóng cửa chính sách này khiến số lượng trẻ em được đưa ra nước ngoài giảm Nguồn lực và sự chú ý của các nước phương Tây đối với vấn đề của Rumani
Trang 39cũng phần nào cải thiện được tình hình tại các trại trẻ mồ côi, tuy nhiên vẫn có hàng nghìn trẻ em vẫn phải sống trong những trại trẻ mồ côi không đủ điều kiện Việc tạm ngừng các hoạt động nuôi con nuôi quốc tế đã châm ngòi cho một vài
vụ bê bối mua bán trẻ em trong đó những bà mẹ Rumani đã giao dịch trực tiếp với những người có nhu cầu nhận con nuôi Làn sóng phản đối nuôi con nuôi quốc tế đã tạo điều kiện để một loạt những bê bối kiểu này xảy ra, làm trì hoãn những cải cách trong hệ thống con nuôi Trong khi những nỗ lực để thực thi các biện pháp nhằm ngăn chặn nạn mua bán trẻ em là hợp lý thì những bước cải cách ở Rumani đã dẫn đến việc từ chối các gia đình nhận con nuôi trên cơ sở hàng nghìn trẻ em bị bỏ rơi tại các trại trẻ với lý do sẽ không có những hoạt động buôn bán trái phép nào với những cha mẹ đẻ của những em này [33]
Đến giữa những năm 1990s, tình hình nuôi con nuôi ở Rumani có một sự thay đổi bước ngoặt khi Rumani muốn trở thành một phần trong Liên minh Châu Âu Tuy nhiên để thực hiện được điều này thì Rumani phải đáp ứng được các yêu cầu của Liên minh Châu Âu, trong đó có việc yêu cầu Rumani phải công nhận nền dân chủ và quyền con người, mà việc cải thiện tình hình sống của trẻ em nước này được đặt lên hàng đầu [81]
Cuối cùng là, năm 1994 Rumani là một trong ba nước đầu tiên ký và phê chuẩn Công ước Lahay năm 1993 về Bảo vệ trẻ em và hợp tác trong lĩnh vực nuôi con nuôi quốc tế
B Thực tiễn thực thi Công ước Lahay năm 1993 ở Rumani
Năm 1997, chính phủ Rumani thành lập Cục Bảo vệ trẻ em (the Department for Child Protection- DCP) với mục tiêu xây dựng một kế hoạch toàn diện và rộng khắp cả nước đảm bảo quyền trẻ em sẽ được thực thi Khi chính quyền Rumani bắt đầu cải tổ vào năm 1997 thì có khoảng 98,872 trẻ em vẫn đang sống trong các trại trẻ mồ côi Một nửa trong số chúng biết cha mẹ đẻ nhưng đã không còn liên lạc ít nhất sáu tháng
Mặc dù đã xác định được mục tiêu nhưng thực hiện được lại rất khó khăn
Để có thể thực hiện được mục tiêu đã đề ra thì cần phải có một nguồn kinh phí
Trang 40lớn, trong khi đó chính quyền nước này lại không đồng ý đặt cải cách phúc lợi
xã hội cho trẻ em lên hàng ưu tiên
Một thực tế là Rumani là một trong những nước đầu tiên phê chuẩn Công ước, do đó DCP trở thành cơ quan trung ương về nuôi con nuôi của Rumani Tuy nhiên nước này lại lờ đi chức năng chinh của cơ quan này là cơ quan quyết định cuối cùng trong quá trình cho nhận con nuôi quốc tế, mà lại phân quyền về cho các trại trẻ mồ côi cũng như các viện bảo trợ trẻ em, làm mất sự kiểm soát ở địa phương [60] Do đó, khi Rumani tập trung đáp ứng yêu cầu của Liên minh châu Âu là đặt quyền trẻ em lên ưu tiên, nước này đã thất bại khi thực hiện các thủ tục nuôi con nuôi quốc tế Về cơ bản Rumani đã không coi trọng những nghĩa vụ mà nước này đã cam kết khi ký kết gia nhập Công ước
1.3.2.2 Thực tiễn thực thi Công ước Lahay năm 1993 ở Mỹ
A Khái quát vấn đề nuôi con nuôi ở Mỹ
Mỹ là quốc gia tiếp nhận gần một nửa số lượng con nuôi quốc tế Thực tế con nuôi quốc tế hầu như không tồn tại cho đến khi Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, khi những thành viên của lực lượng vũ trang Hoa Kỳ trở về nhà với những câu chuyện về những đứa trẻ mồ côi ở những quốc gia bị chiến tranh tàn phá như Đức, Italia, Hy Lạp và một phần châu Âu Những đứa trẻ này phần lớn
là da trắng và được người Mỹ sẵn sàng đón nhận
Nuôi con nuôi quốc tế thực sự được chấp nhận rộng rãi ở Mỹ sau chiến tranh Triều Tiên Chiến tranh Triều Tiên đã khiến nhiều trẻ em lai ra đời, kết quả của những ông bố là lính Mỹ và phụ nữ Triều Tiên Có khoảng 38,000 trẻ
em Hàn quốc được Mỹ nhận nuôi từ năm 1953-1981 [21]
Hiện nay phần lớn trẻ em nhận nuôi vào Mỹ chủ yếu là Trung Quốc Do chính sách một con của chính phủ Trung Quốc mà hàng năm có hàng nghìn đứa trẻ Trung Quốc, chủ yếu là bé gái bị bỏ lại các trại trẻ mồ côi Những tác động của Công ước Lahay đặc biệt có liên quan đến Mỹ vì sự tham gia sâu rộng của quốc gia này vào hoạt động thực tiễn nuôi con nuôi quốc tế
B Thực tiễn thực thi Công ước Lahay năm 1993 ở Mỹ