1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quan hệ giữa Trung Quốc với các nước Trung Á những năm đầu thế kỷ XXI

108 675 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

đó, quan hệ này không ngừng được tăng cường trên tất cả các mặt: chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa, xã hội… Nghiên cứu mối quan hệ giữa Trung Quốc và các nước Trung Á để thấy được vị

Trang 1

1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN VĂN NAM

QUAN HỆ TRUNG QUỐC VỚI CÁC NƯỚC TRUNG Á

NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ 21

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Chuyên ngành: Quan hệ Quốc tế

Trang 2

2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN VĂN NAM

QUAN HỆ TRUNG QUỐC VỚI CÁC NƯỚC TRUNG Á

NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ 21

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quan hệ Quốc tế

Mã số: 60.31.02.06

Trang 3

MỤC LỤC

MỤC LỤC 1

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN 5

MỞ ĐẦU 6

1 Lý do chọn đề tài 6

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 7

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 12

5 Phương pháp nghiên cứu 12

6 Cấu trúc của luận văn 12

NỘI DUNG 14

CHƯƠNG 1: BỐI CẢNH TÌNH HÌNH THẾ GIỚI VÀ KHU VỰC NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XXI TÁC ĐỘNG TỚI QUAN HỆ TRUNG QUỐC VỚI CÁC NƯỚC TRUNG Á 14

1.1 Khái quát quan hệ giữa Trung Quốc với các nước Trung Á những năm đầu thế kỷ XXI 14

1.2 Bối cảnh quốc tế và khu vực tác động tới quan hệ của Trung Quốc với các nước Trung Á 15

1.2.1 Tình hình thế giới 15

1.2.2 Tình hình các nước Trung Á 20

1.2.3 Trung Quốc 24

CHƯƠNG 2: QUAN HỆ TRUNG QUỐC VỚI CÁC NƯỚC TRUNG Á TRÊN CÁC LĨNH VỰC 28

2.1 Về chính trị 28

2.1.1 Sự cần thiết hợp tác song phương 29

2.1.2 Nguyên tắc phát triển quan hệ Trung Quốc với các nước Trung Á 32

2.1.3 Trao đổi đoàn giữa Trung Quốc và các nước Trung Á 36

2.2 Về kinh tế 42

2.2.1 Hợp tác nhằm thúc đẩy kinh tế song phương phát triển 42

2.2.2 Thương mại mậu dịch song phương 46

Trang 4

2.2.3 Hợp tác kỹ thuật giữa hai bên 53

2.3 Về quân sự, an ninh 56

2.4 Về giao lưu văn hoá 59

2.5 Quan hệ Trung Quốc- Trung Á trong Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO) 61

2.5.1 Hợp tác kinh tế 62

2.5.2 Hợp tác an ninh 66

2.5.3 Hợp tác giao lưu văn hoá 68

CHƯƠNG 3: HỢP TÁC NĂNG LƯỢNG GIỮA TRUNG QUỐC VỚI CÁC NƯỚC TRUNG Á 71

3.1 Trung Quốc với nhu cầu năng lượng liên tục tăng 71

3.2 Hợp tác năng lượng giữa Trung Quốc với các nước Trung Á 73

3.2.1 Tầm quan trọng của hợp tác năng lượng song phương 73

3.2.2 Tình hình hợp tác năng lượng song phương 75

3.2.3 Những thuận lợi và khó khăn trong hợp tác năng lượng giữa Trung Quốc và các nước Trung Á 80

CHƯƠNG 4: ĐÁNH GIÁ VÀ TRIỂN VỌNG QUAN Hệ TRUNG QUỐC VÀ CÁC NƯỚC TRUNG Á 88

4.1 Những thuận lợi và khó khăn trong quan hệ giữa Trung Quốc với các nước Trung Á 88

4.1.1 Thuận lợi 88

4.1.2 Khó khăn 91

4.2 Triển vọng quan hệ Trung Quốc các nước Trung Á 98

4.3 Tác động của quan hệ giữa Trung Quốc và các nước Trung Á tới môi trường thế giới và khu vực 95

4.3.1 Đối với khu vực 95

4.3.2 Đối với thế giới 96

KẾT LUẬN 102

TÀI LIỆU THAM KHẢO 104

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

ASEAN Association of Southeast Asian Nations

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

EU European Union

Liên minh châu Âu

GDP Gross Domestic Product

Tổng sản phẩm kinh tế quốc nội

LHQ United Nations

Liên Hiệp Quốc

NATO North Atlantic Treaty Organization

Khối Hiệp ước quân sự Bắc Đại Tây Dương

NMD National Missile Defense

Hệ thống phòng thủ tên lửa quốc gia

SCO Shanghai Cooperation Organization

Tổ chức Hợp tác Thượng Hải

SNG Содружество Независимых Государств

Cộng đồng các quốc gia độc lập

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Những năm đầu thế kỷ XXI, tình hình thế giới có những thay đổi hết sức nhanh chóng, trật tự thế giới đa cực đang hình thành rõ rệt, trong đó Trung quốc trỗi dậy và nổi lên như một siêu cường Tốc độ tăng trưởng kinh tế liên tục hai con số của Trung Quốc trong hai thập kỷ qua đã đưa nền kinh tế Trung Quốc vượt qua Nhật Bản và trở thành nền kinh tế đứng thứ hai thế giới Để tiếp tục duy trì tốc độ phát triển nhanh chóng của mình, Trung Quốc cần môi trường hòa bình, ổn định, đặc biệt là môi trường xung quanh Trung Quốc, do đó, Trung Quốc đã thực hiện chính sách ngoại giao láng giềng hết sức linh hoạt, lôi kéo các nước xung quanh bằng sợi dây kinh tế, chính trị, quân sự và văn hóa Trung Á bao gồm 5 nước là: Kazakhstan, Tajikistan, Kyrgyzstan, Uzberkistan và Turmenistan Về mặt địa lý, Trung Quốc là láng giềng gần gũi của các quốc gia này, trong đó, Trung Quốc có đường biên giới chung lên đến hơn 3300 km với Kazakhstan, Tajikistan, Kyrgyzstan Dọc hai bên đường biên giới chung này có các dân tộc thiểu số của Trung Quốc và các nước Trung Á sinh sống đan xen Trung Á là khu vực nằm giữa hai châu lục Á, Âu, chính là con đường giao thông thương mại huyết mạch Đông, Tây thời cổ đại – Con đường Tơ lụa Sau khi Liên Xô giải thể, các nước Trung Á trở thành các quốc gia độc lập, chấn hưng và phát triển kinh tế đất nước, nhanh chóng hội nhập vào cộng đồng quốc tế Trung Á là khu vực được ưu đãi nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, được coi là “rốn dầu” của thế giới Tuy nhiên, sau khi độc lập, các nước này phải đối mặt với rất nhiều nhân tố bất ổn định, đó là chủ nghĩa ly khai, chủ nghĩa tôn giáo cực đoan và chủ nghĩa khủng bố

Là quốc gia có hệ thống đường biên giới dài tiếp giáp với các nước Trung Á giàu tài nguyên, Trung Quốc rất quan tâm tới khu vực đặc thù này Năm 1992, các quốc gia Trung Á sau khi tách ra khỏi Liên bang Xô Viết và trở thành những quốc gia độc lập, Trung Quốc đã nhanh chóng thiết lập quan hệ ngoại giao với lần lượt các nước Uzberkistan, Kazakhstan, Tajikistan, Kyrgyzstan và Turmenistan Kể từ

Trang 7

đó, quan hệ này không ngừng được tăng cường trên tất cả các mặt: chính trị, kinh tế, quân sự, văn hóa, xã hội…

Nghiên cứu mối quan hệ giữa Trung Quốc và các nước Trung Á để thấy được vị trí và vai trò của các nước này trong sự ổn định và phát triển của Trung Quốc, cũng như vai trò của Trung Quốc trong quá trình chấn hưng đất nước, duy trì hòa bình ổn định và hội nhập ngày càng sâu hơn vào cộng đồng quốc tế của các quốc gia Trung Á Mối quan hệ này còn có ảnh hưởng, tác động nhất định tới môi trường an ninh khu vực cũng như trên thế giới Bàn về quan hệ Trung Quốc – Các nước Trung Á đã có những công trình nghiên cứu tại Việt Nam, Trung Quốc cũng như trên thế giới, đề cập trên một số lĩnh vực trong quan hệ này, tuy nhiên, chưa có một công trình nào đi sâu vào nghiên cứu một cách toàn diện về quan hệ Trung Quốc – Trung Á, đặc biệt là từ những năm đầu thế kỷ XXI đến nay Vì vậy, tôi đã lựa chọn đề tài “Quan hệ Trung Quốc với các nước Trung Á những năm đầu thế kỷ XXI” làm luận văn cao học cho mình Hy vọng đề tài đóng góp được một phần nhất định vào nghiên cứu quan hệ giữa Trung Quốc và các nước Trung Á những thập niên đầu thế kỷ XXI

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Trung Quốc là một nước lớn đang “trỗi dậy”, vì vậy mọi động thái của Trung Quốc luôn nhận được sự quan tâm của giới học giả trên thế giới, trong đó có vấn đề quan hệ đối ngoại của Trung Quốc, do đó, quan hệ giữa Trung Quốc và các nước Trung Á cũng dành được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu của Việt Nam, Trung Quốc và thế giới

Tài liệu tiếng Việt

Tại Việt Nam, có nhiều tác phẩm viết về Trung Quốc như: Khi Trung Quốc

làm thay đổi thế giới, Nguyễn Huy Cố & Lê Huy Thìn NXB Thế giới, 2006; Trung Quốc những chiến lược lớn, Hồ An Cương, NXB Thông tấn, 2003; Những sách lược làm thay đổi Trung Quốc, Trương Hiểu Hà, NXB Văn hóa thông tin, 2005; Trung Quốc cải cách mở cửa: những bài học kinh nghiệm, Nguyễn Văn Hồng,

NXB Thế giới, 2003; Sự trỗi dậy hòa bình của Trung Quốc: cơ hội hay thách thức,

Trang 8

Nguyễn Văn Lập, Thông tấn xã Việt Nam, 2006; Trung Quốc - Nhìn lại một chặng

đường phát triển, JUN MA, NXB Trẻ, 2002; Tập bài giảng môn Quan hệ quốc tế ở Châu Á - Thái Bình Dương, Phạm Quang Minh, 2006; Trung Quốc trỗi dậy hoà bình, Giang Tây Nguyên & Hạ Lập Bình, NXB Quân đội nhân dân, 2007; Trung Quốc trước ngã ba đường, Peter Nolan, NXB Chính trị quốc gia, 2005… Trong đó,

tiêu biểu có những tác phẩm sau đây:

- Trung Quốc 10 năm đầu thế kỷ XXI – Những vấn đề lý luận và thực tiễn nổi bật, Đỗ Tiến Sâm, Nghiên cứu Trung Quốc, số 7 năm 2010 Bài viết đã trình bày và

phân tích một số vấn đề nổi bật về Chủ nghĩa xã hội và xây dựng chủ nghĩa xã hội cùng với thử nghiệm cải cách ở một số địa phương Trung Quốc

- Cuốn sách Ngoại giao Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa 20 năm đầu thế kỷ

XXI do Lê Văn Mỹ chủ biên, Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa, năm 2011 Cuốn

sách đề cập đến những vấn đề nổi bật trong quan hệ giữa Trung Quốc với các quốc

gia Trung Á 10 năm đầu thế kỷ XXI và đưa ra những dự báo

- Cuốn sách Ngoại giao Trung Quốc trong quá trình trỗi dậy và những vấn

đề đặt ra cho Việt Nam do Lê Văn Mỹ chủ biên, Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa,

năm 2013, đã phản ánh về tình hình ngoại giao của Trung Quốc 10 năm đầu thế kỷ XXI đảm bảo cho sự “trỗi dậy” của Trung Quốc như thế nào, đồng thời đề cập đến việc Trung Quốc ráo riết triển khai ngoại giao năng lượng đối với các nước và khu vực có nhiều nguồn tài nguyên, trong đó có các quốc gia khu vực Trung Á

- Cuốn sách Trung Quốc những năm đầu thế kỷ XXI của tác giả Đỗ Tiến Sâm

và M L Titarenko, NXB Từ điển Bách Khoa năm 2009 đã phân tích những khía cạnh cơ bản của đường lối cải cách mở cửa của Trung Quốc, xem xét, đánh giá những giai đoạn, những vấn đề quan trọng nhất của sự chuyển đổi cơ cấu chính trị

và xã hội, nền kinh tế, chính sách đối nội và đối ngoại của Nhà nước Trung Quốc Cung cấp cho người đọc tình hình sâu rộng và toàn diện về những vấn đề then chốt

và những triển vọng của công cuộc hiện đại hóa của Trung Quốc, đồng thời chỉ ra kinh nghiệm của Trung Quốc trong giải quyết những vấn đề mới xuất hiện của nước này

Trang 9

- Chính sách ngoại giao năng lượng của Trung Quốc đối với các nước Trung

Á những năm đầu thế kỷ XXI, đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Biển Đông ngày

08/2/2012 của tác giả Lê Tuấn Thanh, đã khẳng định Dầu lửa đã, đang và sẽ trở

thành câu chuyện quan trọng hàng đầu liên quan đến an ninh và phát triển của Trung Quốc Trung Quốc tích cực thúc đẩy triển khai chính sách ngoại giao năng lượng rộng khắp các châu lục nhằm phục vụ nhu cầu năng lượng ngày càng cao Tác giả cũng đưa ra những dẫn chứng cụ thể để chứng minh và cuối cùng rút ra kết luận chính sách ngoại giao năng lượng của Trung Quốc tại khu vực Trung Á sẽ vẫn được triển khai mạnh mẽ thông qua các biện pháp như nước này đang áp dụng hiện nay, hơn thế nữa, sẽ ngày càng ráo riết hơn, cứng rắn hơn

Tài liệu tiếng nước ngoài

- Quan hệ hữu nghị giữa Trung Quốc với Trung Á, năm 2011, Hồ Chấn Hoa,

Đại học Dân tộc Trung ương Trung Quốc, tác giả đã đưa ra những đánh giá, phân tích tổng hợp quan hệ giữa Trung Quốc và các nước Trung Á qua các thời kỳ khác nhau, từ thời cổ đại, thời kỳ Cách mạng Tân Hợi đến sau khi các nước Trung Á tách

ra khỏi Liên Xô để trở thành các quốc gia độc lập và những năm đầu thế kỷ XXI, trên các phương diện kinh tế, chính trị, quân sự, ngoại giao, văn hóa xã hội Trong cuốn sách của mình, tác giả chủ yếu đi sâu vào ca ngợi mối quan hệ gắn bó và ngày càng chặt chẽ giữa Trung Quốc và các nước Trung Á, đồng thời đưa ra các giải pháp để thúc đẩy mối quan hệ tốt đẹp này

- Chiến lược Trung Á của Trung Quốc từ sau Sự kiện 11/9, năm 2006, Triệu

Quốc Lực, Viện Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Diên Biên, Trung Quốc đã phân tích nhân tố Trung Quốc có ảnh hưởng như thế nào tới lợi ích của các nước Trung Á, từ đó là rõ những vấn đề cụ thể trong chiến lược Trung Á của Trung Quốc, đặc biệt trên các lĩnh vực: môi trường an ninh, chiến lược ngoại giao, hợp tác kinh tế mà mũi nhọn là các hợp đồng năng lượng

- Hợp tác năng lượng giữa Trung Quốc và các nước Trung Á, năm 2009, của

tác giả Bành Văn Tuyển, Đại học Tế Nam Trung Quốc đã đi sâu vào vấn đề hợp tác năng lượng giữa Trung Quốc và các nước Trung Á Tác giả đã nêu ra thực trạng

Trang 10

hợp tác song phương, những nhân tố bên trong và bên ngoài tác động tới mối quan

hệ hợp tác này, đồng thời, đưa ra những nhận xét, kiến nghị về triển vọng hợp tác, các biện pháp thúc đẩy quan hệ hợp tác năng lượng giữa hai bên

- Tình hình Trung Á sau Chiến tranh Lạnh và quan hệ hợp tác giữa Trung

Quốc với các nước Trung Á, năm 2005 của tác giả A Nhĩ Man, Đại học Cát Lâm

Trung Quốc đã nêu vị trí chiến lược của Trung Á trên bản đồ thế giới, Trung Á với vai trò là cầu nối đông tây, khu vực tiếp giáp giữa hai châu lục Á, Âu, là con đường

tơ lụa cổ đại Tác giả cũng nêu ra chiến lược Trung Á của các cường quốc như Mỹ, Nga và Trung Quốc Đánh giá và triển vọng quan hệ Trung Quốc và các nước Trung Á trong tương lai, đặc biệt nhấn mạnh hợp tác giữa hai bên thông qua cơ chế

Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO)

- Hợp tác an ninh, quân sự giữa Trung Quốc và các nước Trung Á sau Chiến

tranh Lạnh, năm 2009, Trần Kỳ Tường, Viện Quan hệ quốc tế, Học viện Ngoại giao

Trung Quốc Tác giả tập trung nghiên cứu về môi trường an ninh khu vực và hợp tác quân sự giữa Trung Quốc và các nước Trung Á sau Chiến tranh Lạnh Tác giả cho rằng, thực chất của hợp tác quân sự an ninh song phương để duy trì ổn định tình hình khu vực và phát triển nền kinh tế tất cả các nước Tác giả cũng dự báo về xu thế phát triển hợp tác quân sự an ninh song phương và đưa ra đánh giá những nhân

tố thuận lợi, khó khăn trong phát triển mối quan hệ này

- Chiến lược năng lượng từ các nước Trung Á của Trung Quốc, năm 2009,

Trương Tân Hoa, Đại học Tân Cương Trung Quốc đã tập trung phân tích về cơn khát năng lượng của các cường quốc trên thế giới trong đó có Trung Quốc, nêu lên thực trạng tranh giành ảnh hưởng của các nước lớn ở khu vực, bên cạnh đó tác giả cũng đưa ra chiến lược của Trung Quốc tại khu vực này để tối đa hóa lợi ích, đó chính là tăng cường xây dựng quan hệ láng giềng hữu nghị, xây dựng các đường ống dẫn dầu, giành các hợp đồng năng lượng, duy trì ổn định tình hình khu vực, nhấn mạnh hợp tác thông qua tổ chức Hợp tác tác Thượng Hải

- Ngoài ra còn các tài liệu tham khảo bằng tiếng Anh như:

Trang 11

Central Asia at the End of the Tratrisition của tác giả Boris Rumen, đăng

trên tạp chí New York: Armonk N.Y M.E Sharpe, năm 2005; America ’s

Information Edge của tác giả Joseph S Nye và William Owens, đăng trên tạp chí

Foreing Affairs, March/April 1996; China’s Energy Security and Geo-Economic

Interest in Central Asia, của tác giả Liyan Hu, Ter-Shing Cheng đăng trên tạp

chí Central European Journal of International & Security Studies, Metropolitan

University Prague, Volume 2, Issue 2 (11/2008); Central Asia’s Pipelines: Field of

Dreams and Reality của tác giả Edward C Chow and Leigh E Handrix được đăng

trên tạp chí The National Bureau of Asian Research (9/2010); One step forward,

two step back? The Realities of a Rising China and Implications for Russia’s Energy Ambitions của Igor Danchenco, Erica Downs đăng trên tạp chí Fiona

Hill Foreign Policy at Brookings (8/2010).… đều có những nhận định, phân tích về tình hình địa chính trị các nước Trung Á

Bên cạnh đó còn có nguồn tài liệu từ TTXVN, Tài liệu Tham khảo đặc biệt của Bộ Ngoại giao và các trang báo mạng uy tín như: Nhân dân, Quân đội, Lao động, Tạp chí Nghiên cứu Biển Đông… với nhiều bài viết về quan hệ Trung Quốc - Trung Á Thông qua các nguồn tài liệu tin cậy, quan trọng, xác thực này, mối quan

hệ giữa Trung Quốc và các nước Trung Á được phản ánh, đề cập vừa khái quát, sinh động vừa cụ thể Đặc trưng của loại tài liệu này là đi sâu vào những sự kiện thường nhật, thời sự “nóng hổi” nhất về chính sách đối nội, đối ngoại, tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của Trung Quốc và các quốc gia Trung Á Đây chính là nguồn tài liệu tham khảo quý giá cho việc hoàn thành Luận văn này

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Về không gian, luận văn đề cập tới quan hệ Trung Quốc với các quốc gia khu vực Trung Á, đặc biệt là chính sách sách ngoại giao láng giềng của Trung Quốc với các quốc gia khu vực này Trung Á theo nghĩa rộng được Liên Hợp Quốc công nhận bao gồm vị trí địa lý của các nước: Afghanistan, Tây Trung Quốc, Bắc Ấn Độ, Đông Bắc Iran, Mông Cổ, Pakistan, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikistan, Turmenistan và Uzberkistan “Các quốc gia Trung Á” mà đề tài nghiên cứu bao

Trang 12

gồm năm quốc gia là Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikistan, Turmenistan và Uzberkistan bởi những quốc gia này đều là những nước thuộc Liên Xô cũ, là láng giềng của Trung Quốc, có ảnh hưởng trực tiếp tới sự ổn định và an ninh khu vực Tây bắc Trung Quốc

Về thời gian nghiên cứu, đề tài giới hạn mối quan hệ giữa Trung Quốc và các nước khu vực Trung Á từ những năm đầu thế kỷ XXI đến nay

Về mặt nội dung, luận văn nghiên cứu quan hệ Trung Quốc – các quốc gia khu vực Trung Á trên tất cả các lĩnh vực như kinh tế, thương mại, chính trị, ngoại giao, an ninh quân sự Nhận định, đánh giá của tác giả trong triển vọng quan hệ hai bên, những tác động của mối quan hệ này đối với khu vực và thế giới

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích: Phân tích, làm rõ mối quan hệ và sự phát triển của mối quan hệ giữa Trung Quốc với các nước Trung Á những năm đầu thế kỷ 21, từ đó rút ra được

vị trí địa chính trị quan trọng của khu vực Trung Á đối với Trung Quốc

- Nhiệm vụ: Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn Phân tích, làm nổi bật sự phát triển, sự thay đổi của mối quan hệ này Đánh giá kết quả mối quan hệ, rút ra tác động của mối quan hệ này đối với khu vực và thế giới, đồng thời đưa ra triển vọng

mối quan hệ

5 Phương pháp nghiên cứu

Do đề tài luận văn có đề cập tới mối quan hệ giữa Trung Quốc với các quốc gia khu vực Trung Á trong một giai đoạn nhất định nên phương pháp nghiên cứu được sử dụng chủ yếu ở đây là các phương pháp nghiên cứu quốc tế

Ngoài ra, đề tài được viết dựa trên phương pháp lịch sử, phương pháp phân tích, so sánh, logic, tổng hợp, kiểm tra, đánh giá tư liệu, hệ thống hóa nhằm rút ra những nhận định có tính tổng hợp, khái quát phục vụ cho nghiên cứu được chi tiết, xác thực hơn

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia thành 4 chương, trình bày theo thứ tự sau:

Trang 13

Chương 1: Bối cảnh tình hình thế giới và khu vực những năm đầu thế kỷ XXI tác động tới quan hệ của Trung Quốc với các nước Trung Á

Khái quát tình hình chung của thế giới và khu vực những năm đầu thế kỷ XXI và những tác động tới quan hệ giữa Trung Quốc với các quốc gia khu vực Trung Á Làm rõ vị trí địa chiến lược của khu vực Trung Á đối với Trung Quốc

Chương 2: Quan hệ Trung Quốc với các nước Trung Á trên các lĩnh vực Chương này nêu cụ thể quan hệ giữa Trung Quốc với các quốc gia khu vực Trung Á trên các phương diện: kinh tế, chính trị, quân sự và giao lưu văn hoá, từ đó làm nổi bật chính sách ngoại giao láng giềng của Trung Quốc với các quốc gia khu vực này Đặc biệt đi sâu vào trình bày hợp tác giữa Trung Quốc với các quốc gia khu vực Trung Á thông qua tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO)

Chương 3: Hợp tác năng lượng giữa Trung Quốc với các nước Trung Á Trung Quốc trong quá trình “trỗi dậy” mạnh mẽ của mình có nhu cầu năng lượng rất lớn, mà các quốc gia Trung Á ngoài vị trí địa chiến lược nằm ở cửa ngõ phía Tây Trung Quốc, còn là khu vực giàu tài nguyên, cung cấp năng lượng mà Trung Quốc rất cần đến Nội dung chương này, tác giả đi sâu vào nghiên cứu hợp tác năng lượng giữa Trung Quốc với các quốc gia khu vực Trung Á, những thuận lợi, khó khăn mà hai bên phải đối mặt trong quá trình hợp tác

Chương 4: Đánh giá và triển vọng quan hệ Trung Quốc và các nước Trung Á Chương này đưa ra những đánh giá về quan hệ giữa Trung Quốc và các nước Trung Á, những thuận lợi và khó khăn trong quan hệ giữa hai bên Những ảnh hưởng của quan hệ này tới khu vực và thế giới, đồng thời dự báo về triển vọng quan

hệ Trung Quốc và các nước Trung Á trong những năm tiếp theo

Trang 14

NỘI DUNG CHƯƠNG 1 BỐI CẢNH TÌNH HÌNH THẾ GIỚI VÀ KHU VỰC

NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XXI TÁC ĐỘNG TỚI QUAN HỆ

TRUNG QUỐC VỚI CÁC NƯỚC TRUNG Á

1 1 Khái quát quan hệ giữa Trung Quốc với các nước Trung Á những năm đầu thế kỷ XXI

Năm nước Trung Á bao gồm: Kazakhstan, Tajikistan, Kyrgyzstan, Uzberkistan và Turmenistan Về mặt địa lý, Trung Quốc là láng giềng gần gũi của các quốc gia này, trong đó, Trung Quốc có đường biên giới chung lên đến hơn 3300

km với Kazakhstan, Tajikistan, Kyrgyzstan Dọc hai bên đường biên giới chung này có các dân tộc thiểu số của Trung Quốc và các nước Trung Á sinh sống đan xen Trung Á là khu vực nằm giữa hai châu lục Á, Âu, chính là con đường giao thông thương mại huyết mạch Đông, Tây thời cổ đại – Con đường Tơ lụa Vị trí địa

lý quyết định các nước Trung Á đều nằm sâu trong lục địa, không có cảng biển Sau khi Liên Xô giải thể, các nước Trung Á trở thành các quốc gia độc lập, chấn hưng

và phát triển kinh tế đất nước, nhanh chóng hội nhập vào cộng đồng quốc tế Khu vực Trung Á là khu vực được ưu đãi nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, được coi là “rốn dầu” của thế giới Tuy nhiên, sau khi độc lập, các nước này phải đối mặt với rất nhiều nhân tố bất ổn định, đó là chủ nghĩa ly khai, chủ nghĩa tôn giáo cực đoan và chủ nghĩa khủng bố

Sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, tình hình quốc tế có những thay đổi to lớn, nhìn một cách tổng thể, xu thế đó có lợi cho sự phát triển quan hệ của Trung Quốc với các nước Trung Á

Trước hết, với sự tan rã của hai Cực đối đầu, hòa bình, hợp tác và phát triển trở thành tiếng nói chung của cộng đồng quốc tế Việc giải quyết xung đột và mâu thuẫn bằng biện pháp đàm phán chứ không phải dùng sức mạnh vũ lực trở thành nguyên tắc phổ biến trong cộng đồng quốc tế Đồng thời, các nước đều đặt lợi ích quốc gia lên hàng đầu, điều này rất có lợi trong việc giải quyết các công tác ngoại

Trang 15

giao của những nước mới độc lập như các quốc gia Trung Á Hai là, quan hệ giữa Trung Quốc với các nước Mỹ, Nhật, EU đã có bước cải thiện rõ nét, đặc biệt là quan hệ đối tác chiến lược với Nga không ngừng được làm sâu sắc hóa, khiến cho quan hệ giữa Trung Quốc với các nước Trung Á thêm phần thuận lợi, tạo môi trường thông thoáng để hai bên xây dựng quan hệ láng giềng hữu nghị lên một tầm cao mới Ba là, để hội nhập vào trào lưu toàn cầu hóa kinh tế, các quốc gia đều cần

nỗ lực xây dựng quan hệ quốc tế lành mạnh, tranh thủ mọi cơ hội để phát triển kinh

tế trong nước Trung Quốc và các quốc gia Trung Á có điểm chung là đều là những nước đang trên con đường mở cửa cải cách, nỗ lực phát triển kinh tế đất nước, cải thiện đời sống nhân dân Trong xu thế phát triển tổng thể, Trung Quốc và các nước Trung Á tìm được tiếng nói chung Bốn là, trong bối cảnh tình hình thế giới phát triển theo hướng đa cực, rất nhiều quốc gia mong muốn xây dựng một trật tự kinh tế chính trị quốc tế mới một cách công bằng, hợp lý Đây chính là cơ hội thúc đẩy quan hệ Trung Quốc và các nước Trung Á phát triển cùng có lợi Vì vậy, sự thay đổi nhanh chóng của tình hình quốc tế có lợi cho phát triển quan hệ giữa Trung Quốc với các nước Trung Á.①

1.2 Bối cảnh quốc tế và khu vực tác động tới quan hệ của Trung Quốc với các nước Trung Á

1.2.1 Tình hình thế giới

Trong những năm đầu thế kỷ XXI, xu hướng nổi trội của môi trường an ninh

- chính trị quốc tế là duy trì ổn định, thúc đẩy hợp tác, kiềm chế xung đột Các nước lớn có nhiều nỗ lực tham gia giải quyết các vấn đề quốc tế; các khu vực và các nước nhỏ đẩy mạnh hợp tác và hội nhập Do vậy, chiến tranh, xung đột quân sự được kiềm chế, ngăn chặn; tiến trình giải quyết các điểm nóng trên thế giới bằng giải pháp hòa bình đạt được một số tiến bộ; hợp tác bảo vệ an ninh phi truyền thống tiếp tục được mở rộng

Tuy vậy, tình hình thế giới vẫn tiềm ẩn các nguy cơ mất ổn định, chủ yếu do các nước lớn, các trung tâm quyền lực đẩy mạnh cạnh tranh chiến lược, can thiệp

Bích Quân Độ, “Trung Quốc và Trung Á”, NXB Văn Hiến Khoa học xã hội, năm 1999, trang 51

Trang 16

vào công việc nội bộ của các nước khác Trong khi Mỹ phát động cuộc chiến ở

Nam Á và Trung Đông dưới chiêu bài “chống khủng bố” để thu hẹp không gian

chiến lược của các đối thủ tiềm tàng, các nước lớn khác như Nga, Trung Quốc, Ấn

Độ tăng cường hợp tác chiến lược, đẩy mạnh tập hợp lực lượng nhằm thúc đẩy sự hình thành trật tự thế giới đa cực, phá vỡ mô hình thế giới đơn cực do Mỹ thiết lập

sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc Các cuộc “cách mạng màu sắc” liên tiếp nổ ra

tại các nước cộng hòa thuộc không gian hậu Xô-viết là một điển hình cho sự can thiệp của phương Tây vào không gian hậu Xô-viết nhằm cô lập, làm suy yếu Nga Bên cạnh xu hướng toàn cầu hóa tiếp tục tác động sâu sắc, toàn diện đến tình hình của các nước và khu vực, sự chi phối của các cường quốc đối với quan hệ quốc tế

vẫn rất rõ nét:

a Mỹ

Chính quyền Mỹ triển khai các biện pháp đơn phương nhằm củng cố vị thế

“bá chủ toàn cầu” Sau khi lên nắm quyền (2000), Tổng thống Mỹ G Bush đã đẩy mạnh các biện pháp quân sự, đối ngoại nhằm khẳng định địa vị siêu cường của Mỹ Ngay sau khi xảy ra vụ khủng bố tấn công nước Mỹ ngày 11/09/2001, Chính quyền Bush lập tức sử dụng chiêu bài “chống chủ nghĩa khủng bố” phát động cuộc chiến chống khủng bố trên phạm vi toàn cầu, toan tính với sức mạnh quân sự vượt trội sẽ giành được thắng lợi trong cuộc chiến này, qua đó gia tăng ảnh hưởng và lợi ích chiến lược, tăng cường kiềm chế các đối thủ của Mỹ tại các khu vực trọng điểm trên thế giới; đồng thời Mỹ triệt để lợi dụng vấn đề “dân chủ, nhân quyền”, ra sức thúc đẩy “diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ” nhằm lật đổ chế độ ở các nước mà Mỹ kết tội là “thù địch” để phục vụ lợi ích của Mỹ Sau khi tiến hành hai cuộc chiến ở Afghanistan (2001) và Iraq (2003), kích động một loạt cuộc “cách mạng màu sắc” ở không gian hậu Xô-viết như Gruzia, Ukraina, Kyrgyzstan, Uzbekistan, kích động phong trào “dân chủ hóa” ở khu vực Trung Đông với mục tiêu hàng đầu là lật đổ các chế độ chống Mỹ ở Iran và Syria, Tổng thống Bush tuyên bố “Nước Mỹ vẫn ở trong tình trạng chiến tranh”, nhấn mạnh “cuộc chiến này còn hơn cả xung đột vũ trang, vì nó là cuộc chiến mang tính quyết định về hệ tư tưởng và an ninh của nước

Trang 17

Mỹ” Mỹ tăng mạnh ngân sách quốc phòng (năm 2007 là 448 tỷ USD; năm 2008

là 648 tỷ USD), thử nghiệm vũ khí mới, thúc đẩy chạy đua vũ trang, tìm cách mở rộng hiện diện quân sự trên toàn thế giới…

Mỹ thúc đẩy các biện pháp nhằm tăng cường khả năng kiềm chế các nước đối thủ tiềm tàng, trước hết là Trung Quốc (Trung Quốc) và Nga Mỹ xác định liên minh Mỹ - Nhật là yếu tố quan trọng hàng đầu trong chính sách kiềm chế, uy hiếp Trung Quốc Mỹ đã ký với Nhật Bản “Hiệp định Bảo mật tình báo quân sự”, đẩy nhanh tiến độ bố trí hệ thống phòng thủ tên lửa PC-3 tại Nhật, thông qua “Mục tiêu chiến lược chung năm 2007”, thúc đẩy “Quan hệ đối tác toàn cầu” giữa NATO với Nhật, nỗ lực đưa Úc vào liên minh tay ba Nhật - Mỹ - Úc; gia tăng hợp tác quân sự với Ấn Độ, bán vũ khí hiện đại cho Đài Loan; lôi kéo các nước Đông Nam Á vào hợp tác an ninh, quân sự; duy trì “mặt trận chống khủng bố thứ hai” để tạo vành đai bao vây, kiềm chế Trung Quốc Mỹ đưa nhiều yêu cầu với Trung Quốc trong vấn đề thương mại; đưa Trung Quốc vào danh sách “Các quốc gia cần quan tâm đặc biệt về tôn giáo”; chỉ trích Trung Quốc tăng cường tiềm lực quốc phòng… Ngày 17/10/2007, Tổng thống G Bush đã trao “Huy chương Vàng Quốc hội” cho Đạt Lai Lạt ma - “lãnh tụ tinh thần Tây Tạng” của lực lượng chống Chính phủ Trung Quốc, giữa lúc Đảng Cộng sản Trung Quốc tiến hành Đại hội 17②

Mỹ thực hiện chính sách mới chống lại Nga, nhằm thu hẹp không gian chiến lược của Nga, tăng cường sức mạnh quân sự áp sát Nga, tạo điều kiện cho các lực lượng thân phương Tây tại Nga và các nước thuộc SNG thúc đẩy “cách mạng màu sắc” Mỹ đẩy mạnh triển khai các biện pháp chiến lược: Thúc đẩy ý đồ kết nạp các nước thành viên SNG vào NATO; cải tổ các cơ cấu, liên kết các lực lượng thân Mỹ

và xây dựng các trục địa chính trị mới ở khu vực để chống Nga (hậu thuẫn cho các hoạt động của Tổ chức GUAAM, gồm Gruzia, Ukraina, Armenia, Azerbaijan và Moldova); đẩy nhanh kế hoạch xây dựng các căn cứ quân sự ở một số nước Đông

Âu, Baltic (Latvia, Litva và Estonis) và Kazkav; xúc tiến triển khai kế hoạch xây

Trang 18

dựng hệ thống NMD tại một số nước Đông Nam châu Âu như Ba Lan và Cộng hòa Séc, nhằm hình thành thế gọng kìm Đông - Tây chế ngự các loại vũ khí hiện đại của Nga①

b Nga

Trên cơ sở những thành tựu quan trọng về ổn định chính trị và phát triển kinh

tế, Liên bang Nga tăng cường tiềm lực quốc phòng, củng cố quan hệ an ninh - quân

sự với các nước, nỗ lực tập hợp lực lượng nhằm kiềm chế Mỹ và phương Tây Chính quyền Nga đẩy mạnh các chương trình cải cách chính trị, kinh tế, quân sự nhằm tạo thế và lực mới cho đất nước, với mục tiêu khôi phục vị thế cường quốc thế giới, trở thành một cực quan trọng trong thế giới đa cực mà Nga và các nước mới nổi đang nỗ lực thiết lập Trước việc Chính quyền Mỹ gia tăng các biện pháp, thủ đoạn chống phá Nga, Nga đã đáp trả quyết liệt thông qua các biện pháp: Phản đối các kế hoạch thiết lập hệ thống NMD của Mỹ ở Trung Âu; tuyên bố rút khỏi Hiệp ước về các lực lượng vũ trang thông thường ở châu Âu (CFE); nâng cao tiềm lực và sức mạnh quân sự; đẩy mạnh hợp tác chiến lược với các nước lớn, trước hết

là với Trung Quốc, Ấn Độ; tham gia tích cực vào giải quyết các vấn đề quốc tế và khu vực; tăng cường vị thế và sức mạnh của SCO, hướng xây dựng SCO thành một

tổ chức an ninh - quân sự mạnh để đối trọng với NATO của Mỹ và phương Tây; đẩy mạnh phát triển tiềm lực kinh tế, quân sự; triệt để sử dụng con bài “khí đốt” và

“Nga kiều” duy trì ảnh hưởng tại không gian hậu Xô-viết; đẩy mạnh quan hệ với các nước bạn bè truyền thống trên thế giới, đặc biệt là sử dụng mọi nguồn lực để chi phối các nước thuộc Liên Xô cũ vốn là sân sau của Nga, trong đó có các nước Trung Á②

c Liên minh châu Âu (EU)

EU có những thay đổi về chính sách sau khi thế hệ lãnh đạo mới lên nắm quyền ở Đức, Pháp, Anh Nội bộ EU bị phân hóa về tiến trình mở rộng EU, kế

Trang 19

hoạch triển khai NMD tại châu Âu của Mỹ, chính sách đối với Iraq, Iran, Afghanistan và Trung Đông Quan hệ EU - Mỹ được cải thiện, do chính sách thân

Mỹ của các nhà lãnh đạo mới của EU Tuy nhiên, quan hệ giữa EU và Mỹ đã nảy sinh một số bất đồng về cuộc chiến ở Iraq (Đức, Pháp cùng Nga phản đối việc Mỹ đơn phương phát động cuộc chiến Iraq, phớt lờ vai trò của Hội đồng Bảo an LHQ

và dư luận quốc tế) Quan hệ EU - Nga suy giảm, các bất đồng trong các vấn đề về năng lượng, dân chủ, kinh tế và quân sự có xu hướng gia tăng Phương Tây tiếp tục phối hợp với Mỹ trong chiến lược bao vây, kiềm chế Nga (ủng hộ các cuộc “cách mạng màu sắc” tại không gian hậu Xô-viết, kết nạp các quốc gia thuộc khu vực Đông Âu vào NATO và cho phép quân đội các nước này tham gia liên quân giúp

Mỹ bình ổn tình hình ở Iraq và Afghanistan sau chiến tranh

d Nhật Bản

Nhật Bản tăng cường quan hệ với Mỹ và các quốc gia chủ chốt ở châu Âu, trọng tâm là NATO; điều chỉnh quan hệ với Trung Quốc theo hướng “mềm dẻo” hơn; tiếp tục mở rộng ảnh hưởng tại Đông Nam Á, Trung Á và Trung Đông; ký hiệp ước an ninh với Úc Từ ngày 09/01/2007, Nhật Bản nâng cấp Cục Phòng vệ thành Bộ Quốc phòng① Nhật Bản đã thành lập Ủy ban An ninh quốc gia do Thủ tướng làm Chủ tịch để hoạch định chiến lược ngoại giao, quốc phòng - an ninh, năng lượng, viện trợ ODA và xử lý những vấn đề cấp bách khác Chính quyền Nhật Bản đẩy nhanh tiến trình sửa đổi Hiến pháp, trọng tâm là Điều 9, nhằm thực hiện mục tiêu trở thành “quốc gia bình thường” có sức mạnh chính trị và quân sự tương xứng với sức mạnh kinh tế Quốc hội Nhật đã thông qua Luật trưng cầu dân ý về sửa đổi Hiến pháp Sau khi trở thành Thủ tướng mới của Nhật Bản (25/09/2007), ông Fucuda đã công bố chính sách đối nội và đối ngoại của Nhật Bản, trong đó cam kết tiếp tục tiến hành các cuộc thảo luận về sửa đổi Hiến pháp, tìm kiếm bộ luật cho phép Nhật Bản triển khai quân đội ra bên ngoài lãnh thổ; tiếp tục duy trì liên minh

an ninh Nhật - Mỹ, thúc đẩy cải cách LHQ và thúc đẩy việc thành lập Cộng đồng Đông Á… Nhật Bản tích cực ủng hộ chủ trương của Mỹ trong việc thiết lập các liên

Nhật Bản thành lập Bộ Quốc phòng, Quoc-phong.html

Trang 20

http://www.tienphong.vn/the-gioi/72476/Nhat-Ban-thanh-lap-Bo-minh “tay ba, tay tư” ở khu vực Bên cạnh đó, Nhật Bản đã ký Hiệp ước an ninh chung với Úc (3/2007), tham gia cuộc đối thoại “3 bên” (Mỹ-Nhật-Úc) cấp Thứ trưởng (02/07/2007) Trong chuyến thăm Ấn Độ (XXI/08/2007), Thủ tướng Nhật Bản đã mời Ấn Độ tham gia vào “vòng cung tự do và thịnh vượng” bao gồm 4 bên Mỹ- Nhật-Úc-Ấn① Đối với các nước Trung Á, Nhật Bản tích cực thúc đẩy quan hệ với các nước này Ngày 16/7/2014, tại thủ đô Bishkek của Kyrgyzstan đã diễn ra cuộc Đối thoại lần thứ năm giữa Nhật Bản và 5 nước Trung Á Hai bên đã ký thỏa thuận hợp tác 10 năm, trên nhiều lĩnh vực như: kiểm soát biên giới, trao đổi lập trường về tình hình khu vực và quốc tế, đặc biệt hợp tác trong lĩnh vực nông nghiệp Trước đó, các cuộc Đối thoại giữa Nhật Bản và các nước Trung Á được tổ chức vào năm 2004 tại Astanan, năm 2006 tại Tokyo, năm 2010 tại Tashkent và năm 2012 tại Tokyo ②

1.2.2 Tình hình các nước Trung Á

Sau khi các nước Trung Á độc lập phải đối mặt với ba nhiệm vụ lớn, đó là củng cố nền chính trị và duy trì ổn định đất nước, đẩy nhanh hội nhập kinh tế để phát triển kinh tế đất nước và nâng cao vị thế đất nước mình trên trường quốc tế Hiện nay, các nước Trung Á bước vào giai đoạn bước ngoặt, đồng thời, trong bối cảnh tình hình thế giới thay đổi nhanh chóng, tình hình các nước ở khu vực Trung Á cũng có những biến động sâu sắc

Các nước Trung Á đang trong giai đoạn bước ngoặt, chuyển đổi mô hình Sau hơn 20 năm phát triển kể từ khi độc lập, nhìn một cách tổng thể, các nước Trung Á có nền chính trị tương đối ổn định, kinh tế đã hồi phục và đang tăng trưởng, tình hình an ninh có những chuyển biến tốt

Trước hết, về mặt chính trị đã xây dựng chế độ chính trị dân chủ đa đảng với người đứng đầu là tổng thống Sau khi Liên Xô tan rã, các nước Trung Á đã loại bỏ

mô hình phát triển Chủ nghĩa xã hội của Liên Xô, đặt ra Hiến pháp quốc gia tam

Trang 21

quyền phân lập, quy định rõ về mặt chính trị xây dựng quốc gia dân chủ, thực hiện nguyên tắc tam quyền phân lập, thực hiện chế độ tổng tuyển cử toàn dân Tổng thống có quyền lực rất lớn, Quốc hội không thể hạn chế được quyền lực mà còn bổ sung quyền lực cho Tổng thống Thể chế này đã bảo đảm cho tình hình cơ bản ổn định ở các nước Trung Á (ngoại trừ Kyrgyzstan xảy ra nội chiến trong 5 năm từ

2000 - 2005) Đương nhiên, nền chính trị ở các nước Trung Á cũng vẫn tồn tại mốt

số nhân tố không xác định, thể chế chính trị vẫn tương đối yếu Các hoạt động chống đối chính phủ vẫn diễn ra dưới sự cổ xúy của các nước phương Tây

Về mặt kinh tế, các nước Trung Á đã thoát khỏi khó khăn, bắt đầu bước vào giai đoạn phục hồi, phát triển

Sau khi Liên Xô tan rã, nền kinh tế các nước cộng hòa khu vực Trung Á tách

ra từ Liên bang Xô Viết đều gặp rất nhiều khó khăn, tình trạng chung là: vật giá tăng cao, khả năng sản xuất của nền kinh tế cực kỳ thấp kém, đời sống nhân dân hết sức cực khổ Đối mặt với tình hình trên, các nước đều tích cực thực hiện cải cách nỗ lực thực hiện nền kinh tế thị trường, tiến hành phi quốc hữu hóa, tư nhân hóa các tài sản quốc hữu trước đó, xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần với chủ thể là các doanh nghiệp tư nhân Trải qua hơn 20 năm cải cách, về cơ bản các nước đã loại bỏ được thể chế kinh tế tập trung bao cấp, bước đầu hình thành nên khung kinh tế thị trường, nền kinh tế đã có bước hồi phục và tăng trưởng Hiện nay, các nước Trung

Á đều đặt ra các mục tiêu phát triển kinh tế ngắn hạn, trung hạn, lên kế hoạch sử dụng ưu thế về nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, phát triển sản xuất, kìm chế lạm phát, chuyển nền kinh tế sang xuất khẩu, thực hiện tăng trưởng kinh tế ổn định Ví dụ như, Kazakhstan đã đề ra chiến lược “Dùng dầu khí để chấn hưng đất nước”, trọng điểm là phát triển ngành công nghiệp dầu và khí tự nhiên, đồng thời tích cực phát triển ngành công nghiệp khai khoáng và luyện kim Đứng trước tình hình nền kinh tế có những chuyển biến tốt, các nước Trung Á đều cảm thấy tràn đầy

tự tin về phát triển nền kinh tế nước mình trong tương lai Một số nước đã đề ra kế hoạch phát triển kinh tế xã hội trong 15 đến 20 năm tiếp theo Kazakhstan đặt ra, đến năm 2015, tổng sản phẩm quốc nội đất nước phải đạt mức cao gấp 3,5 lần so

Trang 22

với năm 2000 Turmenistan đặt ra mục tiêu tổng giá trị sản phẩm quốc nội năm

2020 sẽ cao gấp 27,4 lần, giá trị sản xuất ngành công nghiệp cao hơn 25,3 lần, giá trị nông nghiệp cao hơn 16,7 lần so với năm 2000 Nước có nền kinh tế yếu kém nhất là Tajikistan đã đề ra trong Cương yếu phát triển đến năm 2015 của nước này

là tổng giá trị sản phẩm quốc nội đến năm 2015 sẽ cao hơn 4,4 lần, giá trị sản phẩm công nghiệp cao hơn 4,2 lần và giá trị sản phẩm nông nghiệp cao hơn 2,2 lần so với năm 2000.①

Trong đó, nhìn cụ thể vào tình hình các nước có thể thấy, viễn cảnh trở thành quốc gia sản xuất năng lượng rất tươi sáng, thể hiện rõ qua các nước như Kazakhstan, Turmenistan Tuy nhiên, việc phục hồi kinh tế của các nước Trung Á vẫn còn tương đối chậm, trong cơ cấu kinh tế còn tồn tại rất nhiều vấn đề, nền kinh

tế thiếu vốn đầu tư để có thể trở thành nền kinh tế phát triển còn phải trải qua một chặng đường dài tiếp theo

Tình hình an ninh các nước Trung Á đã có những bước chuyển biến tốt, tuy nhiên vẫn tồn tại rất nhiều mối đe dọa tiềm tàng

Sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, do rất nhiều vấn đề nội tại trong các nước Trung Á như: vấn đề tranh chấp lãnh thổ, biên giới, mâu thuẫn tôn giáo, hoạt động mạnh mẽ của “Ba thế lực” (chủ nghĩa ly khai, chủ nghĩa khủng bố và chủ nghĩa hồi giáo cực đoan), vấn đề an ninh ở khu vực Trung Á trở nên rất căng thẳng và cấp bách, khu vực này rơi vào tình trạng xung đột vũ trang Sau sự kiện 11/9, tình hình

an ninh ở khu vực Trung Á có những bước thay đổi rất sâu sắc Ảnh hưởng trực tiếp đến từ Afghanistan đã bị ngăn chặn, các thế lực chủ nghĩa cực đoan vốn tồn tại ở khu vực này đã bị giáng những đòn nặng nề nên phải tản mát ra các khu vực xung quanh để tìm chỗ dung thân, các nước Trung Á kể từ khi độc lập vốn chìm trong mối đe dọa mất an ninh suốt thời gian dài thì nay tình hình đã được cải thiện Tuy nhiên, khu vực Trung Á vẫn không có được sự yên bình, mà vẫn chứa đựng rất nhiều nhân tố bất ổn định Trước tiên, các thế lực bên ngoài như Mỹ, Nga, Trung Quốc, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ, Pakistan, Iran dần xâm nhập vào khu vực Trung Á, sử

Thẩm Phố, “Tình hình hiện nay của 5 nước Trung Á và các vấn đề có liên quan”, Tạp chí Nghiên cứu các vấn đề quốc tế Trung Quốc, số 3, năm 2001

Trang 23

dụng các biện pháp khác nhau để giành ảnh hưởng nhằm thu về lợi ích lớn nhất cho mình, điều đó mang đến những tiềm ẩn rủi ro về an ninh đối với các nước Trung Á Sau sự kiện 11/9, Mỹ mượn lý do chống khủng bố đã xây dựng căn cứ quân sự ở các nước Trung Á như: Tajikistan, Uzberkistan, tăng cường ảnh hưởng với các nước này Bản thân Nga vẫn coi các nước Trung Á trong phạm vi chi phối là sân sau của mình, không ngừng thúc đẩy quan hệ với các nước Trung Á Ấn Độ cũng tăng cường quan hệ với các nước Trung Á, nước này còn xây dựng căn cứ không quân ở nước ngoài đầu tiên tại Trung Á Các nước khác như Iran, Thổ Nhĩ Kỳ, Pakistan cũng lợi dụng văn hóa, tôn giáo, và sự gần gũi về điều kiện địa lý để gia tăng ảnh hưởng của mình Các nước trong Liên minh Châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc… cũng rất coi trọng khu vực này, nên các nước này đã tiến hành đầu tư quy

mô vào Trung Á Có thể thấy, Trung Á đứng trước tình thế bị “quần hùng tranh đoạt”, ảnh hưởng tới tình hình an ninh của chính các nước thuộc khu vực này Bên cạnh đó, trong nội bộ các nước Trung Á cũng tồn tại những vấn đề rất nghiêm trọng Các vấn đề toàn cầu như: buôn thuốc phiện, buôn lậu vũ khí, ô nhiễm phế thải phóng xạ, ô nhiễm không khí… khiến cho an ninh tại khu vực Trung Á gặp rất nhiều trở ngại Các vấn đề khác như tham nhũng trong chính quyền các nước Trung

Á, phân hóa giàu nghèo, tình trạng bất công trong xã hội… khiến nội bộ các nước Trung Á phải đối mặt với những mối đe dọa to lớn Ngay chính bản thân giữa các nước Trung Á vẫn còn tồn tại mâu thuẫn, tranh chấp xung quanh vấn đề biên giới lãnh thổ, nguồn nước, năng lượng và xung đột sắc tộc

Nói tóm lại, trong những năm đầu thế kỷ XXI, các nước Trung Á có bước phát triển trên các phương diện kinh tế, chính trị, an ninh, tuy nhiên, trong các nước này vẫn còn những nhân tố bất ổn nhất định Có thể nói, cục diện kinh tế chính trị khu vực Trung Á đang trong giai đoạn quá độ, kinh tế khu vực đang bước vào thời

kỳ hội nhập với kinh tế quốc tế Xác lập được cục diện kinh tế chính là cơ sở để hoàn thành thời kỳ quá độ chính trị, mà tình hình an ninh có thể nói chính là một trong những tiền đề quan trọng hình thành nên trật tự kinh tế chính trị của khu vực Trung Á

Trang 24

1.2.3 Trung Quốc

Trung Quốc tiếp tục thực hiện sự nghiệp “Đại chấn hưng Trung Hoa” với mục tiêu đưa Trung Quốc trở lại vị trí hàng đầu thế giới (như thời nhà Đường) Để thực hiện mục tiêu này, Trung Quốc tiếp tục gia tăng tiềm lực kinh tế, quân sự và thực hiện chính sách đối ngoại tích cực chủ động, tham gia rộng rãi vào các vấn đề quốc tế, khu vực Đại hội lần thứ XVII Đảng Cộng sản Trung Quốc (10/2007) đã đưa quan điểm “phát triển khoa học” vào Điều lệ Đảng; nâng mục tiêu xây dựng toàn diện xã hội khá giả vào năm 2020 cao hơn so với Đại hội XVI Đại hội nhấn mạnh phương châm “nước giàu, quân mạnh”, phát triển kinh tế đi đôi với tăng cường tiềm lực quân sự; lấy quan điểm “phát triển khoa học” làm phương châm chỉ đạo xây dựng quốc phòng và quân đội… Về đối ngoại, Trung Quốc đưa ra chủ trương “phát triển hòa bình”, “thế giới hài hòa”, khẳng định không thay đổi chiến lược mở cửa cùng có lợi, cùng thắng và tích cực tham gia các công việc quốc tế, nhằm thiết lập vị thế mới của Trung Quốc trên vũ đài quốc tế, gia tăng khả năng cạnh tranh chiến lược với Mỹ tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương

Về kinh tế, Trung Quốc luôn duy trì phát triển kinh tế với tốc độ cao, trước năm 2010 là hơn 10%/năm, từ năm 2011 đến nay tuy có giảm bớt nhưng vẫn ở mức rất cao, khoảng 7%/năm, tuy nhiên, nền kinh tế Trung Quốc vẫn tiềm ẩn rất nhiều nguy có khó lượng và nếu tốc độ tăng trưởng giảm xuống dưới 7%/ năm thì sẽ dẫn tới bất ổn chính trị, xã hội Trong một bài phát biểu tại một hội nghị quan trọng ngày 23/7/2012, nguyên Tổng Bí thư Trung Quốc Hồ Cẩm Đào đã khẳng định:

“Tổng hợp phân tích tình hình trong nước và quốc tế hiện nay, chúng ta đang có những thuận lợi, cơ hội chưa từng có, đồng thời cũng phải đối mặt với thách thức chưa từng có Sự phát triển của nước ta vẫn trong thời kỳ cơ hội, thách thức đan xen chiến lược quan trọng…” ① Những năm gần đây, để đối phó với việc giảm sút về tốc độ phát triển kinh tế, Trung Quốc đã thực thi một loạt các biện pháp điều chỉnh

Hồ Cẩm Đào, “Phấn đấu tiến lên trên con đường vĩ đại của Chủ nghĩa Xã hội đặc sắc Trung Quốc” Phát biểu tại Hội nghị Nghiên cứu chuyên đề của lãnh đạo cấp cao toàn quốc họp tại Bắc Kinh, Nhân dân Nhật báo, ngày 23/7/2012

Trang 25

chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ và tung ra gói kích thích mới Khó khăn rất lớn của Trung Quốc đó là sự sụt giảm nhu cầu thế giới với hàng hóa Trung Quốc trong khi quá trình chuyển sang tiêu dùng trong nước còn gặp nhiều khó khăn và phải trải quan thời gian tương đối dài, mà kinh tế Trung Quốc vốn dựa chủ yếu vào xuất khẩu Tuy nhiên, Trung Quốc đã tích lũy được kinh nghiệm phong phú, tích lũy được lượng tài chính dồi dào, nhất là lượng dự trữ ngoại tệ khổng lồ (trên 3.200

tỷ USD) đủ để Trung Quốc tiếp tục phát triển nhanh chóng và ổn định trong thời gian tới Bên cạnh đó, khó khăn về nguồn cung năng lượng cũng là bài toán mà Trung Quốc phải giải quyết Trong điều kiện cạnh tranh địa chính trị ngày càng gay gắt giữa các cường quốc, nhất là vấn đề tranh giành nguồn cung năng lượng và nguyên liệu từ Trung Đông, Châu Phi diễn ra gay gắt giữa Trung Quốc với Mỹ và các nước Châu Âu Cạnh tranh kinh tế biển, chủ yếu là khai thác dầu khí và các nguồn tài nguyên khác ở khu vực Thái Bình Dương cũng khiến cho tình hình quốc

tế và khu vực thêm phần căng thẳng, phức tạp

Trên phương diện chính trị, xã hội, ở Trung Quốc đang tồn tại nhiều vấn đề

và chứa đựng nhiều nguy cơ xung đột dân tộc, tôn giáo, giai tầng xã hội và cả trong bản thân nội bộ Đảng Cộng sản Trung Quốc Nguyên Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào đã phát biểu: “luôn đặt cải cách thể chế chính trị vào vị trí quan trọng hàng đầu trong cải cách và phát triển, kiên quyết thúc đẩy và đã giành được những chuyển biến to lớn, quan trọng.”① Tuy nhiên, thực trạng xã hội Trung Quốc còn nhiều vấn

đề như: kinh tế phát triển nhưng phân phối không công bằng, tình trạng tham ô, tham nhũng, lộng quyền, xa rời quần chúng của giới chức sắc đã làm suy giảm lòng tin của quần chúng với Đảng Cộng sản Trung Quốc và chính quyền

Trung Quốc đẩy mạnh hiện đại hóa lực lượng vũ trang, liên tục tăng ngân sách quốc phòng nhằm “rút ngắn khoảng cách chênh lệch” về vũ khí chính xác so với các nước tiên tiến Mở rộng đối ngoại quân sự, tích cực tham gia các cuộc diễn

Hồ Cẩm Đào, “Phấn đấu tiến lên trên con đường vĩ đại của Chủ nghĩa Xã hội đặc sắc Trung Quốc” Phát biểu tại Hội nghị Nghiên cứu chuyên đề của lãnh đạo cấp cao toàn quốc họp tại Bắc Kinh, Nhân dân Nhật báo, ngày 23/7/2012

Trang 26

tập song phương và đa phương Tiếp tục cải thiện quan hệ quân sự với các nước, kể

cả với Mỹ, đồng thời tích cực tham gia các cuộc diễn tập với Mỹ, Ấn độ, Philipines, Thái Lan, nhất là với Nga và các nước thuộc SCO Trước việc Trung Quốc không ngừng phát triển sức mạnh quân sự, Nhật Bản và Đài Loan đã tăng cường hợp tác quân sự với Mỹ, mua vũ khí hiện đại để đối phó với “Mối đe dọa Trung Quốc”

Trung Quốc tiếp tục thực hiện chính sách đối ngoại tích cực chủ động, tham gia rộng rãi vào các vấn đề quốc tế và khu vực nhằm khẳng định vị thế cường quốc của mình Theo đó: (1) Vừa cải thiện quan hệ, vừa gia tăng cạnh tranh với Mỹ và Nhật Bản Tiếp tục trao đổi, giao lưu quân sự với Mỹ và Nhật Bản, nhưng kiên quyết phản đối các nước này sử dụng vấn đề Đài Loan, thương mại… để can thiệp vào công việc nội bộ của Trung Quốc; thực hiện “trả đũa” Mỹ trong vấn đề thương mại; (2) Thúc đẩy cải thiện quan hệ với các nước láng giềng nhằm mở rộng ảnh hưởng ở khu vực Trong đó, đặc biệt coi trọng thúc đẩy quan hệ với Nga và các nước SCO, Ấn Độ, ASEAN

Với các nước Trung Á, Trung Á nằm án ngữ con đường huyết mạch từ Đông sang Tây, được thành lập từ hàng nghìn năm trước với tên gọi nổi tiếng “Con đường

tơ lụa” Bằng con đường “vàng” này mà việc giao lưu thông thương hàng hóa của các nhà buôn quốc tế từ vùng Mãn Châu (Trung Quốc) tới Ấn Độ và khu vực Tiểu

Á diễn ra từ rất sớm, trở nên vô cùng tấp nập từ đầu Công nguyên

Các nước Trung Á càng trở nên quan trọng hơn với Trung Quốc khi mà cách đây không lâu người ta thăm dò và ước tính nguồn tài nguyên dự trữ dầu mỏ và khí đốt phong phú, chỉ đứng sau khu vực Trung Đông được coi là “rốn dầu” của thế giới

Là quốc gia có hệ thống đường biên giới dài tiếp giáp với các nước Trung Á, Trung Quốc không thể “làm ngơ” trước khu vực giàu tài nguyên thiên nhiên này Sau khi nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa thành lập (1/10/1949) Trung Quốc đã đặt quan hệ ngoại giao với khu vực này Năm 1992, sau khi tách ra khỏi Liên bang

Xô Viết, trở thành những quốc gia độc lập, Trung Quốc đã lần lượt thiết lập quan hệ ngoại giao với các nước Uzberkistan, Kazakhstan, Tajikistan, Kyrgyzstan và

Trang 27

Turmenistan Kể từ đó, quan hệ này không ngừng được tăng cường trên tất cả các mặt

Tiểu kết:

Tình hình thế giới những năm đầu thế kỷ XXI có những biến đổi to lớn và nhanh chóng, trong đó, Trung Quốc đang “trỗi dậy” và đã trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới Tuy nhiên, Trung Quốc đang phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thách thức Các nước Trung Á với vị thế địa chiến lược của mình nằm trong chiến lược ngoại giao láng giềng của Trung Quốc rất được Trung Quốc chú ý thúc đẩy quan hệ Việc phát triển quan hệ với các nước Trung Á sẽ giúp Trung Quốc giải quyết được nhiều vấn đề, vừa gia tăng ảnh hưởng đối với khu vực, nâng cao vị thế của Trung Quốc, đặc biệt là bảo đảm an ninh khu vực phía Tây Bắc, đồng thời, bổ sung nguồn cung cấp năng lượng tương đối lớn giúp phía tây Trung Quốc phát triển kinh tế

Trang 28

CHƯƠNG 2 QUAN HỆ TRUNG QUỐC VỚI CÁC NƯỚC TRUNG Á

có nguồn năng lượng dồi dào có thể đáp ứng một phần nhu cầu của nước này Quan

hệ giữa Trung Quốc và các nước Trung Á được thể hiện đầy đủ trên tất cả các khía cạnh chính trị, kinh tế, quân sự an ninh và văn hóa

2.1 Về chính trị

Ngày 25 tháng 12, năm 1991, ngay sau khi Tổng thống Liên Xô Gorbachyov tuyên bố từ chức, Liên bang Xô Viết giải thể, Trung Quốc đã chính thức lên tiếng thừa nhận các quốc gia: Kazakhstan, Kyrgyzstan, Uzberkistan, Tajikistan, và Turmenistan là quốc gia độc lập Từ ngày 02 đến ngày 06 tháng 01 năm 1992, Trung Quốc lần lượt đặt quan hệ ngoại giao cấp đại sứ với các nước Uzberkistan, Kazakhstan, Tajikistan, Kyrgyzstan và Turmenistan Có thể nói, Trung Quốc là một trong những quốc gia đầu tiên công nhận độc lập và đặt quan hệ ngoại giao với các nước Trung Á Trung Quốc và các nước Trung Á tích cực duy trì trao đổi các cuộc thăm viếng, tổ chức hội nghị, giao lưu giữa các đảng, các ban ngành, đoàn thể một cách thường xuyên, độ tin cậy chính trị giữa hai bên không ngừng được củng cố và nâng lên Việc giao lưu hợp tác trên lĩnh vực chính trị giữa Trung Quốc và các nước Trung Á chính là cơ sở và tiền đề để mối quan hệ này hợp tác và phát triển tốt đẹp

Trang 29

2.1.1 Sự cần thiết hợp tác song phương

Việc Trung Quốc và các nước Trung Á phát triển quan hệ hợp tác là nhu cầu bức thiết và có ý nghĩa chiến lược mang tính sâu rộng đối với cả hai bên Có thể thấy rõ quan hệ đối ngoại của Trung Quốc và các nước Trung Á được quyết định bởi những nhân tố dưới đây:

Nhìn từ góc độ địa chính trị, trước hết Trung Quốc tiếp giáp các nước Trung

Á, hai bên có đường biên giới chung lên đến hơn 3300 km Trung Quốc có chung đường biên giới với Kazakhstan, Tajikistan và Kyrgyzstan, là láng giềng với Uzberkistan và Turmenistan Hai là, Trung Á là khu vực nằm giữa hai châu lục Á,

Âu, chính là con đường giao thông thương mại huyết mạch Đông Tây thời cổ đại – Con đường tơ lụa Đồng thời, các nước Trung Á đều là các quốc gia nằm sâu trong lục địa, không có cảng biển, trong thời đại toàn cầu hóa kinh tế ngày nay, việc xây dựng quan hệ kinh tế đối ngoại rộng rãi chính là nhu cầu bức thiết của các quốc gia Trung Á Để có thể hướng ra được Thái Bình Dương và hướng tới các thị trường kinh tế sôi động ở Châu Á, Trung Quốc chính là con đường giao thông của các nước Trung Á ①

Sau khi độc lập, các nước Trung Á đều có mong muốn biến khu vực này trở thành “nhịp cầu”, tái hiện lại “Con đường tơ lụa” năm xưa Trước mắt, các nước Trung Á đang nỗ lực lên kế hoạch trở thành cầu nối giữa phía Đông của Châu Âu với với phía Tây của Trung Quốc Vì vậy, vị trí địa chính trị đã quyết định quan hệ gắn bó giữa Trung Quốc với các nước Trung Á trong việc cùng nhau xây dựng con đường giao thông vận tải và kinh tế khu vực, quan hệ này giúp cả hai bên đều có lợi

Nhìn từ góc độ chính trị, sau khi độc lập, các nước Trung Á đều đứng trước nhiệm vụ hết sức nặng nề: củng cố quốc gia độc lập, chấn hưng và phát triển kinh tế đất nước, nhanh chóng hội nhập vào cộng đồng quốc tế Còn Trung Quốc, từ sau khi tiến hành cải cách và mở cửa, kinh tế phát triển nhanh chóng, tất cả các phương

Tôn Trang Chí, “Quan hệ đối ngoại của năm quốc gia Trung Á”, NXB Thế giới đương đại, năm 1999, trang 190

Trang 30

diện khác đều phát triển một cách ổn định Các nước Trung Á và Trung Quốc đều

nỗ lực xây dựng đất nước và nâng cao đời sống nhân dân Do đó, các nước đều mong muốn có môi trường khu vực và quốc tế ổn định lâu dài để cùng nhau phát triển kinh tế Trung Quốc với vai trò là nước lớn nhất Châu Á, thành viên thường trực Hội đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc, vì vậy nước này đóng vai trò quan trọng trong cộng đồng quốc tế Các nước Trung Á với vị trí địa lý được ưu đãi nhiều tài nguyên thiên nhiên nên đóng vai trò quan trọng trong tình hình thế giới hiện đại Trong chính sách đối ngoại, Trung Quốc rất chú trọng quan hệ đối ngoại với các nước xung quanh Các nước Trung Á với vị trí địa lý là láng giềng của Trung Quốc nên được Trung Quốc đặc biệt quan tâm Như vậy, đối với cả Trung Quốc và các nước Trung Á, việc phát triển quan hệ đối ngoại tốt đẹp là chính sách được cả hai bên hết sức coi trọng.①

Nhìn từ góc độ kinh tế, ngoài ưu thế về địa chính trị, kinh tế giữa Trung Quốc và các nước Trung Á còn có vai trò bổ sung cho nhau, hợp tác kinh tế có tiềm năng to lớn Hiện nay, Trung Quốc phát triển kinh tế với tốc độ nhanh chóng, sức ảnh hưởng của Trung Quốc đối với các nước xung quanh, trong đó có cả các nước Trung Á ngày càng lớn hơn, Trung Quốc là đối tác thương mại, là nhà đầu tư, là nước viện trợ vô cùng quan trọng của các nước Trung Á, Trung Quốc cũng là thị trường rộng lớn của các nguồn tài nguyên khoáng sản, năng lượng của các nước Trung Á, là cửa khẩu quan trọng trong tuyến giao thông vận tải của các nước Trung

Á Cùng với sự phát triển nhanh chóng của Trung Quốc, nhu cầu năng lượng ngày càng lớn hơn, khu vực Trung Á là khu vực với nguồn tài nguyên thiên nhiên khoáng sản năng lượng phong phú, việc hợp tác năng lượng với Trung Quốc ngày càng chặt chẽ hơn, Trung Á đã trở thành một trong những khu vực cung cấp năng lượng chủ yếu cho vùng phía Tây của Trung Quốc Trung Quốc đang thực hiện chiến lược

“Đại khai phá miền Tây”, việc hợp tác kinh tế với khu vực Trung Á giúp mở rộng không gian phát triển kinh tế của Trung Quốc, đặc biệt là ở khu vực Tân Cương

Bích Quân Độ, Quảng Trường, “Trung Quốc và Trung Á”, NXB Văn Hiến Khoa học xã hội, năm 1999, trang 54

Trang 31

Đồng thời, trong xu thế toàn cầu hóa kinh tế ngày nay, các nước Trung Á có thể thông qua hợp tác kinh tế với Trung Quốc và các quốc gia khác để hội nhập vào trào lưu quốc tế

Nhìn từ góc độ tôn giáo dân tộc, ở khu vực Tân Cương, Trung Quốc có các tộc người thiểu số như tộc người Duy Ngô Nhĩ, tộc người Kazakhstan, tộc người Uzberkistan, tộc người Tajikistan, tộc người Erke Zi,… Đây chính là những tộc người ở khu vực Trung Á vượt biên giới sang định cư Cũng giống như vậy, ở khu vực Trung Á cũng sinh sống tộc người Đông Can, đây chính là tộc người Hồi của Trung Quốc từ thời nhà Thanh Những tộc người đang sinh sống ở biên giới hai bên đều có ngôn ngữ, văn hóa, lịch sử, thậm chí là quan hệ huyết thống.①

Việc phát triển của Trung Quốc với quan hệ láng giềng với các nước Trung Á đóng vai trò hết sức quan trọng đối với các dân tộc sống ở gần khu vực này, đặc biệt có ý nghĩa đối với

sự ổn định của khu vực Tân Cương, Trung Quốc

Nhìn từ góc độ an ninh, Trung Quốc và các nước Trung Á có rất nhiều lợi ích và mối quan tâm chung Trước hết, sau khi độc lập, các nước Trung Á đứng trước những vấn đề hết sức phức tạp như mâu thuẫn nội bộ, quan hệ trong ngoài…, tình hình an ninh khu vực cũng bị đe dọa bởi các nhân tố bất ổn định Sự ổn định của khu vực Trung Á ảnh hưởng rất lớn tới sự ổn định của khu vực phía Tây Trung Quốc, do đó, Trung Quốc hết sức coi trọng quan hệ hợp tác về mặt an ninh với các nước Trung Á này, sự ra đời của Tổ chức Hợp tác Thượng Hải chính là bắt nguồn

từ việc hợp tác để giải quyết các vấn đề liên quan tới lĩnh vực an ninh của các nước thành viên Thứ hai, Trung Quốc có đường biên giới chung với các nước Kazakhstan, Tajikistan và Kyrgyzstan, sau 9 năm đàm phán, hai bên đã giải quyết xong vấn đề biên giới đồng thời đặt ra cơ chế để thực hiện và bảo vệ đường biên giới An ninh và ổn định biên giới là lợi ích chung của cả Trung Quốc và 3 nước láng giềng Trung Á Ba là, sau khi độc lập, các nước Trung Á thường xuyên bị đe dọa bởi “Ba thế lực”: chủ nghĩa ly khai, chủ nghĩa tôn giáo cực đoan và chủ nghĩa

Tôn Trang Chí, “Quan hệ đối ngoại của năm quốc gia Trung Á”, NXB Thế giới đương đại, năm 1999, trang 191

Trang 32

khủng bố, Ba thế lực này cũng đe dọa tới an ninh khu vực Tây bắc của Trung Quốc Trung Quốc cần hợp tác lâu dài với các nước Trung Á để đập tan ba lực lượng này, duy trì môi trường ổn định khu vực Bốn là, Trung Quốc luôn muốn kìm chế lực lượng Hồi giáo Đông Turkestan gọi tắt là “Đông đột” hoạt động ở Tân Cương, chống chia cắt quốc gia, duy trì an ninh khu vực phía Tây là lợi ích quan trọng trên phương diện an ninh của Trung Quốc Trung Á là địa bàn hoạt động quan trọng ở nước ngoài của lực lượng “Đông Đột”, do đó, để kìm chế và đập tan lực lượng này, Trung Quốc cần hợp tác lâu dài với các nước Trung Á

2.1.2 Nguyên tắc phát triển quan hệ Trung Quốc với các nước Trung Á

Các nước Trung Á do có nhiều tương đồng trên các phương diện: lịch sử, tôn giáo dân tộc, ngôn ngữ văn hóa, phong tục tập quán… Do đó, chính sách đối ngoại của các nước này với nước ngoài cũng có rất nhiều điểm tương đồng Tuy nhiên, do vị trí địa lý, tình hình kinh tế chính trị trong nước khác nhau khiến cho các nước này cũng có những đặc điểm riêng trong chính sách đối ngoại của mình.①

Sau khi độc lập, trong Hiến pháp của năm nước Trung Á đều nêu rõ nguyên tắc cơ bản trong chính sách đối ngoại Những nguyên tắc này bao gồm: “Các nước có chủ quyền bình đẳng, trên cơ sở quan tâm tối đa tới lợi ích của nhau, lợi ích dân tộc và lợi ích quốc gia là cao nhất; Hợp tác với các nước một cách chân thành trên cơ sở tôn trọng lợi ích toàn dân, không phân biệt chế độ chính trị, hình thái ý thức xã hội hay tín ngưỡng tôn giáo; Không sử dụng vũ lực hoặc dùng sức mạnh quân sự để uy hiếp lẫn nhau, không xâm phạm biên giới quốc gia khác, không can thiệp công việc nội bộ quốc gia khác, giải quyết các vấn đề quốc tế trên nguyên tắc hòa bình; Hợp tác bình đẳng, phát triển quan hệ đối ngoại trên cơ sở vừa hợp tác song phương, vừa hợp tác đa phương, tôn trọng luật pháp quốc tế Các nước đều nhấn mạnh, mỗi nước đều là một chủ thể có đầy đủ quyền lợi trong quan hệ quốc tế, độc lập tự chủ, thực hiện ngoại giao độc lập, sẵn sàng phát triển quan hệ với tất cả các nước trên thế

Triệu Thường Khánh, “Khái quát chung năm nước Trung Á”, NXB Nhật báo kinh tế, năm 1999, Trang

279

Trang 33

giới.” Các nước Trung Á đã xây dựng quan hệ đối ngoại với các nước khác trên thế giới trong đó có cả Trung Quốc trên cơ sở những nguyên tắc này

Mỗi nước Trung Á có những đặc điểm riêng về vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, thực lực quốc gia, vì vậy định vị vị trí của mỗi nước trên trường quốc tế cũng không giống nhau, do đó quan điểm đối ngoại, chiến lược ngoại giao cũng có những điểm khác biệt Trong các nước Trung Á, Kazakhstan là nước có diện tích lớn nhất, tài nguyên thiên nhiên phong phú, thực lực quốc gia tương đối mạnh Sau khi độc lập, Kazakhstan rất tích cực hoạt động ngoại giao với các nước Cộng hòa thuộc Liên Xô cũ và Trung Quốc, công tác ngoại giao cũng thu được nhiều kết quả Kazakhstan thực hiện phương châm ngoại giao đa phương, ngoại giao với tư duy đột phá khỏi khu vực, tranh thủ mọi cơ hội để có tiếng nói trong các hoạt động của khu vực và trên trường quốc tế Uzberkistan lại là nước có dân số đông nhất, đây là nước nằm ở chính giữa khu vực Trung Á, có đường biên giới tiếp giáp với tất cả các nước Trung Á khác, về mặt lịch sử, Uzberkistan từng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa và nối liền giao thông của khu vực Trung Á Uzberkistan cũng là nước có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, có sơ sở hạ tầng kinh tế và trình độ khoa học kỹ thuật tương đối phát triển trong khu vực Do đó, Uzberkistan đang nỗ lực trở thành nước có ảnh hưởng lớn trong khu vực, xây dựng hình tượng nước lớn của khu vực Trên cơ sở nguyên tắc ngoại giao đa phương, Uzberkistan coi trọng hàng đầu quan hệ ngoại giao với các nước láng giềng, đặc biệt coi trọng việc hợp tác kinh tế với các nước khác trong khu vực Kyrgyzstan là nước có diện tích lãnh thổ tương đối nhỏ, dân số ít nhất, và quốc lực tương đối yếu trong số năm nước Trung Á Kyrgyzstan thực hiện chính sách ngoại giao hòa bình trung lập Sau khi tách khỏi Liên Xô, Kyrgyzstan vẫn không thể thoát khỏi khó khăn về kinh tế, do đó, trên cơ

sở chính sách ngoại giao đa phương có trọng tâm trọng điểm, Kyrgyzstan muốn thoát khỏi tình trạng khó khăn về kinh tế, tìm kiếm nguồn viện trợ, thu hút vốn đầu

tư từ nước ngoài, đây chính là một trong những đặc điểm của chính sách ngoại giao Kyrgyzstan Nước có diện tích nhỏ nhất Trung Á là Tajikistan, sau khi tách khỏi

Triệu Thường Khánh, “Những thay đổi lớn trong 10 năm”, NXB Phương Đông, năm 2003, trang 333

Trang 34

Liên Xô, tình trạng nội chiến liên tục và vấn đề mất bất ổn an ninh đã ảnh hưởng nghiêm trọng tới việc phát triển kinh tế và ổn định đất nước Hiện nay, Tajikistan là một trong những quốc gia nghèo nhất Trung Á và cả trên thế giới, do đó, chính sách ngoại giao của nước này là chính sách ngoại giao đa phương với trọng tâm là duy trì

an ninh và ổn định đất nước Turmenistan là quốc gia nằm ở Tây Nam của Trung Á với nguồn tài nguyên dầu mỏ và khí thiên nhiên phong phú, nguồn tài nguyên này mang lại cuộc sống ấm no cho người dân đồng thời khiến quốc gia này trở thành một trong những nước được các nước lớn chú ý Sau khi độc lập, Turmenistan tích cực thực hiện chính sách đối ngoại trung lập, phương châm đối ngoại của Turmenistan là tập trung phát triển kinh tế, quan điểm chính trị trung lập① Nguyên tắc đối ngoại là trung lập và mở cửa

Do quan hệ đặc biệt về mặt lịch sử giữa các nước Trung Á với Nga, quan hệ gắn bó mật thiết với các nước thuộc Liên Xô cũ, sau khi độc lập, các nước này mong muốn phát triển kinh tế đất nước, muốn thu hút nguồn đầu tư và khoa học công nghệ của các nước phát triển phương Tây, thêm vào đó, các nước này lại chịu ảnh hưởng to lớn của Đạo Islam, vì vậy đối với các nước Trung Á mà nói, Trung Quốc không chiếm vị trí quan trọng nhất trong địa chính trị của các nước này Cũng giống như vậy, trong chiến lược địa chính trị của Trung Quốc, các nước Trung Á cũng không phải ở vị trí quan trọng nhất Tuy nhiên, điều này hoàn toàn không ảnh hưởng gì tới việc phát triển quan hệ hai bên giữa Trung Quốc và các nước Trung Á

Có thể thấy, giữa Trung Quốc và các nước Trung Á, mỗi bên đều chiếm vị trí hết sức quan trọng trong chiến lược ngoại giao của bên kia

Quan điểm cơ bản của các nước Trung Á trong phát triển mối quan hệ với Trung Quốc là: “Duy trì quan hệ láng giềng hữu nghị, mở rộng hợp tác kinh tế, tranh thủ vị thế trên trường quốc tế và ảnh hưởng của Trung Quốc để giành được sự ủng hộ, cân bằng ảnh hưởng của Nga và giới Islam, bảo đảm hòa bình, an ninh của quốc gia và khu vực” Phương châm chủ yếu trong chính sách của các nước Trung

Á với Trung Quốc có thể khái quát bằng những nội dung dưới đây:

Triệu Thường Khánh, “Trung Á và vùng Caucasus ”, NXB Phương Đông, năm 2003, trang 335

Trang 35

“Một là, ủng hộ năm nguyên tắc cùng chung sống hòa bình, đặc biệt là trong điều kiện đãi ngộ lẫn nhau bình đẳng, tích cực phát triển quan hệ láng giềng hữu nghị với Trung Quốc, trong quan hệ đối ngoại, coi Trung Quốc là một trong những đối tác ưu tiên Lãnh đạo năm nước Trung Á ủng hộ Trung Quốc về mặt nguyên tắc trong cách nhìn các vấn đề trong nước và quốc tế, cho rằng phát triển quan hệ với Trung Quốc là phù hợp với lợi ích cơ bản của nhân dân hai bên, có lợi cho hòa bình,

ổn định và phát triển ở châu Á

Hai là, tích cực thúc đẩy phát triển hợp tác kinh tế thương mại, đặc biệt coi trọng việc tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của Trung Quốc trong khai thác tài nguyên thiên nhiên, điều chỉnh cơ cấu kinh tế và làm cầu nối cho lục địa Á, Âu, sẵn sàng hợp tác với Trung Quốc trên các phương diện: kinh tế thương mại, năng lượng, khoa học kỹ thuật, nông nghiệp…, hy vọng hợp tác kinh tế không ngừng được mở rộng

Ba là, xác định rõ lập trường ủng hộ quan điểm thống nhất một Trung Quốc, chống hoạt động chia cắt dân tộc, đồng thời cũng hy vọng sự ủng hộ tương tự của Trung Quốc đối với các nước Trung Á trong việc củng cố độc lập, chủ quyền đất nước Lãnh đạo các nước Trung Á bày tỏ, tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Trung Quốc, ủng hộ chính sách dân tộc của Trung Quốc, chống chủ nghĩa ly khai, đồng thời cảm kích trước việc chính phủ Trung Quốc ủng hộ năm nước Trung Á duy trì chủ quyền độc lập quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, phát triển và củng cố kinh tế dân tộc, bảo đảm ổn định chính trị trong nước

Bốn là, nỗ lực tìm kiếm sự bảo đảm an ninh từ Trung Quốc, trên phương diện này thể hiện rõ nhất sự cố gắng của ba nước có chung đường biên giới với Trung Quốc là Kazakhstan, Tajikistan và Kyrgyzstan, tích cực triển khai hợp tác trong lĩnh vực quân sự an ninh với Trung Quốc

Năm là, trong các sự vụ quốc tế, mong muốn sự đồng thuận và ủng hộ từ Trung Quốc, nhấn mạnh, cơ sở phát triển quan hệ đối tác với Trung Quốc là hai bên

có lập trường giống nhau trên một loạt vấn đề trong quá trình phát triển.”①

Triệu Thường Khánh, “Trung Á và vùng Caucasus ”, NXB Phương Đông, năm 2003, trang 371

Trang 36

Trung Quốc cũng hết sức coi trọng quan hệ với các nước Trung Á Ngày 5 tháng 7 năm 1996, chủ tịch Trung Quốc Giang Trạch Dân đã phát biểu trong chuyến thăm Kazakhstan: Trung Quốc và các nước Trung Á có đường biên giới chung lên đến hơn 3000 km Hai bên chúng ta có rất nhiều điểm chung cũng như lợi ích chung Trung Quốc sẵn sàng hợp tác với Kazakhstan cũng như các nước Trung

Á khác, chúng ta hãy cùng nhau hợp tác hữu nghị, cùng nhau xây dựng tương lai Chúng tôi hy vọng rằng hai bên sẽ thực sự tin cậy lẫn nhau, chung sống hữu nghị, mãi mãi là láng giềng tốt, bạn bè tốt, đối tác tốt

2.1.3 Trao đổi đoàn giữa Trung Quốc và các nước Trung Á

Quan hệ giữa Trung Quốc và các nước Trung Á kể từ khi các nước này trở thành các quốc gia độc lập phát triển tương đối thuận lợi Các cuộc thăm viếng lẫn nhau giữa hai bên diễn ra khá thường xuyên trên tất cả các cấp, các ngành như các cuộc thăm viếng của chính phủ, các chính đảng, các ban ngành, các địa phương, tổ chức các hội nghị… Thông qua các cuộc thăm viếng trao đổi đoàn, quan hệ giữa Trung Quốc với các nước Trung Á ngày càng được tăng cường, không ngừng củng

cố và tạo điều kiện tốt nhất trong hợp tác trên các lĩnh vực kinh tế, an ninh, văn hóa…

2.1.3.1 Lãnh đạo Trung Quốc tới thăm các nước Trung Á

Chủ tịch nước Trung Quốc Giang Trạch Dân đã tới thăm các nước Trung Á vào các thời điểm tháng 7 năm 1996, tháng 7 năm 1998, tháng 8 năm 1999… Hai bên đã ký kết nhiều văn bản quan trọng thúc đẩy hợp tác giữa Trung Quốc với các nước Trung Á, trên tất cả các mặt: Kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quân sự…①

Từ ngày 03 đến ngày 05 tháng 7 năm 2000, Chủ tịch Trung Quốc Giang Trạch Dân đã có cuộc gặp với lãnh đạo “Năm nước Tổ chức hợp tác Thượng Hải” tại thủ đô Dushanbe của Tajikistan đồng thời tiến hành chuyến thăm chính thức Tajikistan Trong lần viếng thăm này, hai nước đã ký Tuyên bố chung về quan hệ hợp tác láng giềng hữu nghị trong thế kỷ XXI, Hiệp định về biên giới chung giữa hai nước, Hiệp định về hợp tác khoa học kỹ thuật kinh tế giữa chính phủ hai nước,

, ② Chính sách ngoại giao mới của Trung Quốc, trang Nghiên cứu quốc tế, ngày 30/5/2013

Trang 37

Hiệp định về hợp tác giữa Viện Kiểm sát nhân dân tối cao Trung Quốc với Viện Kiểm sát tối cao Tajikistan Tại đây, Chủ tịch Giang Trạch Dân cũng đã hội kiến với Tổng thống Kazakhstan, Tổng thống Kyrgystan và Tổng thống Uzberkistan (với vai trò là quan sát viên) Từ ngày 05 đến ngày 07 tháng 7, chủ tịch Trung Quốc Giang Trạch Dân nhận lời mời đã tới thăm chính thức Tusmenistan Hai nước đã ký tuyên bố chung, ký kết Hiệp định Trung Quốc cho Tusmenistan vay vốn ưu đãi và Bản ghi nhớ hợp tác trong lĩnh vực dầu khí giữa hai nước ①

Tháng 6 năm 2002, Chủ tịch Trung Quốc Giang Trạch Dân tới Alma-Ata để tham dự Hội nghị thượng đỉnh tăng cường hợp tác và tín nhiệm lẫn nhau, tại đây, ông đã cuộc gặp với tổng thống Kazakhstan Nazarbayev Ngày 7 tháng 6, chủ tịch Trung Quốc đã gặp gỡ và hội đàm các tổng thống Nazarbayev, Tổng thống Rakhmonov, Tổng thống Karimov tại St Petersburg bên lề hội nghị Tổ chức hợp tác Thượng Hải

Tháng 7 năm 2002, Phó chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào đã tiến hành chuyến thăm chính thức Kazakhstan, hai bên đã ký kết “Hiệp định hợp tác kỹ thuật kinh tế Trung Quốc - Kazakhstan”

Tháng 6 năm 2003, chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào mới nhậm chức đã lần đầu tiên tiến hành chuyến thăm chính thức Kazakhstan

Tháng 6 năm 2004, chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào tiến hành viếng thăm chính thức Uzberkistan, hai nước đã ký kết Tuyên bố chung về tăng cường hợp tác phát triển quan hệ đối tác giữa hai nước Sau chuyến thăm, ông Hồ Cẩm Đào đã tới tham dự Hội nghị tổ chức hợp tác Thượng Hải tại Tashkent Cũng tại hội nghị này ông Hồ Cẩm Đào đã có cuộc hội đàm với lãnh đạo các nước Kazakhstan, Tajikistan, Kyrgystan

Tháng 7 năm 2005, Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào tới thăm Kazakhstan, hai bên đã quyết định nâng quan hệ giữa hai nước lên mức quan hệ đối tác chiến lược, đây là một dấu mốc mới trong quan hệ giữa hai nước này

Trang 38

Tháng 6 năm 2006, Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào đã tham dự Hội nghị thượng đỉnh tăng cường tín nhiệm ở Châu Á, lần thứ hai, tổ chức tại Alma-Ata

Tháng 8 năm 2007, Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào tới thăm chính thức Kyrgystan, hai bên đã ký kết các Hiệp định nhằm làm sâu sắc hơn quan hệ hữu nghị hợp tác giữa hai nước

Tháng 8 năm 2008, Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào tới thăm chính thức Turmenistan Hai nước đã ký những văn bản nhằm tăng cường mở rộng hợp tác trên các lĩnh vực thương mại mậu dịch, năng lượng, văn hóa…

Tháng 12 năm 2009, Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào tới thăm chính thức Kazakhstan, đồng thời tham dự buổi lễ thông đường ống dẫn khí thiên nhiên Kazakhstan – Trung Quốc Cũng trong tháng này, ông Hồ Cẩm Đào còn gặp mặt các Tổng thống Nazarbayev, Tổng thống Rakhmonov, Tổng thống Karimov trong buổi lễ thông đường dẫn khí thiên nhiên Trung Quốc – Trung Á

Tháng 6 năm 2010, ông Hồ Cẩm Đào tiến hành chuyến thăm chính thức tới Uzberkistan, Kazakhstan, đồng thời tham dự Hội nghị Tổ chức Hợp tác Thượng Hải lần thứ 10

Từ ngày 03/9 đến ngày 13/9/2013, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đã đi thăm chính thức 4 nước Turkmenistan, Kazakhstan, Uzbekistan và Kyrgyzstan Mục đích chuyến thăm là nhằm thể hiện rõ lập trường chính sách đối ngoại của Ban lãnh đạo mới ở Trung Quốc đối với khu vực Trung Á, tăng cường quan hệ giữa Trung Quốc với các nước đến thăm, nhất là trong lĩnh vực kinh tế - thương mại và

an ninh

Ngoài ra, còn rất nhiều cuộc viếng thăm tới Trung Á của các lãnh đạo khác của Trung Quốc như Thủ tướng Quốc vụ viện Trung Quốc Chu Dung Cơ, Ôn Gia Bảo, Phó Thủ tướng Quốc Vụ viện Trung Quốc Tiền Kỳ Thâm, Ngô Nghĩa, chuyến thăm của các Bộ trưởng và cán bộ thuộc Chính phủ Trung Quốc Tần suất các cuộc viếng thăm giữa hai bên đã cho thấy rõ quan hệ ngày càng nồng ấm hơn giữa Trung Quốc với các nước Trung Á

Trang 39

2.1.3.2 Đoàn lãnh đạo cấp cao các nước Trung Á tới thăm Trung Quốc

(1) Lãnh đạo Kazakhstan viếng thăm Trung Quốc

Ngay từ tháng 7 năm 1991, Tổng thống Kazakhstan Nazarbayev đã tới thăm Trung Quốc theo lời mời Sau đó, tổng thống Nazarbayev còn đến thăm chính thức Trung Quốc trên vai trò Tổng thống vào tháng 10/1993, tháng 9/1995, tháng 11/1999, cùng Trung Quốc ký kết nhiều văn bản quan trọng tăng cường hợp tác giữa hai nước trên tất cả các lĩnh vực

Tháng 6/2001, tổng thống Nazarbayev sau khi tham dự Hội nghị Tổ chức Hợp tác Thượng Hải đã tới thăm Hồng Kông Tháng 12/2002, ông Nazarbayev viếng thăm chính thức Trung Quốc, hai bên đã ký kết Văn bản hợp tác láng giềng hữu nghị Trung Quốc – Kazakhstan, Hiệp định hợp tác giữa chính phủ hai nước về chống chủ nghĩa khủng bố, chủ nghĩa ly khai và chủ nghĩa cực đoan Hai bên còn

ký kết văn bản về hợp tác quốc phòng ①

Tháng 5/2004, tổng thống Nazarbayev tới thăm chính thức Trung Quốc Hai bên đã ký Tuyên bố chung hợp tác giữa hai nước Trong lần viếng thăm này, ông Nazarbayev cũng đã tới thăm khu tự trị Ô Lỗ Mộc Tề của Trung Quốc Tháng 9, tổng thống Nazarbayev tới thăm khu tự trị Tân Cương trong một chuyến công tác Tháng 6 năm 2006, tổng thống Nazarbayev tới Trung Quốc để tham gia Hội nghị

Tổ chức hợp tác Thượng Hải, tại đây, ông đã có cuộc gặp với Chủ tịch nước Trung Quốc Hồ Cẩm Đào Tháng 12, Tổng thống Nazarbayev tới thăm chính thức Trung Quốc, hai bên đã ký các văn kiện hợp tác như “Chiến lược hợp tác Trung Quốc – Kazakhstan trong thế kỷ XXI”, “Kế hoạch hợp tác phát triển kinh tế Trung Quốc – Kazakhstan”… Tháng 8 năm 2008, Tổng thống Nazarbayev tới Trung Quốc tham

dự lễ khai mạc Á vận hội Bắc Kinh, tại đây ông đã có cuộc gặp với Chủ tịch Hồ Cẩm Đào Tháng 4 năm 2009, Tổng thống Nazarbayev tới thăm chính thức Trung Quốc và tham dự Diễn đàn Châu Á Bác Ngao, hai bên đã ký một loạt các văn kiện hợp tác Tháng 2 năm 2011, tổng thống Nazarbayev tới thăm Trung Quốc, hai bên

đã ký “Tuyên bố chung Trung Quốc - Kazakhstan”

Tổng thống Nazarbayev thăm trung quốc 02 /896322.html

Trang 40

www.voatiengviet.com/content/china-kazakhstan-Ngày 06/4/2013, Tổng thống Nazarbayev đã tới thăm Trung Quốc và có cuộc hội đàm với Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình Ông Nazarbayev tới để tham dự Diễn đàn châu Á Bác Ngao (BFA) được tổ chức ta ̣i tỉnh Hải Nam, miền Nam Trung Quốc Hai lãnh đạo đã khẳng định tiếp tục hợp tác để cùng phát triển quan hệ đối tác chiến lược toàn diện vững mạnh, ổn định lâu dài

Bên cạnh đó, rất nhiều lãnh đạo cao cấp khác của Kazakhstan cũng tới thăm Trung Quốc trong đó có Thủ tướng chính phủ, Ngoại trưởng Kazakhstan…

(2) Lãnh đạo Kyrgyzstan tới thăm Trung Quốc

Tổng thống Kyrgyzstan Akayev tới viếng thăm Trung Quốc lần đầu tiên vào tháng 5 năm 1992, sau đó là tháng 4 năm 1998 Hai bên đã ký kết nhiều văn kiện quan trọng đánh dấu sự hợp tác giữa hai bên Tháng 6 năm 2002, Tổng thống Akayev có chuyến công tác tới Trung Quốc, hai bên đã ký kết Hiệp định hợp tác láng giềng hữu nghị, đặt ra cơ sở pháp lý cho phát triển quan hệ hai nước trong thế

kỷ mới Ngoài ra, hai nước cũng đã đàm phán phân định xong đường biên giới giữa hai bên, tạo điều kiện cho sự phát triển quan hệ hai nước Tháng 6 năm 2006, Tổng thống Bakiyev tới Trung Quốc tham dự Hội nghị Tổ chức hợp tác Thượng Hải, hai bên đã ký kết một loạt các tuyên bố chung và các văn bản quan trọng khác Những năm gần đây, lãnh đạo Kyrgyzstan trong các cuộc họp cấp cao Tổ chức Hợp tác Thượng Hải đều tới thăm và hội kiến với lãnh đạo cấp cao Trung Quốc như tháng 6 năm 2009, tháng 11 năm 2011…

Ngoài ra còn rất nhiều cuộc viếng thăm cấp cao khác của lãnh đạo Kyrgyzstan như Thủ tướng chính phủ, Bộ trưởng Ngoại giao… tới thăm Trung Quốc

(3) Các cuộc viếng thăm của lãnh đạo Tajikistan tới Trung Quốc

Tháng 3 năm 1993, tổng thống Tajikistan Rakhmonov lần đầu tiên tới thăm chính thức Trung Quốc Sau đó là các cuộc viếng thăm vào tháng 9 năm 1996, tháng 8 năm 1999… Hai bên đã ký nhiều Hiệp định, văn bản tăng cường hợp tác Tháng 5 năm 2002, Tổng thống Rakhmonov tới Trung Quốc làm việc, hai bên đã ký kết Tuyên bố chung, các văn kiện về bổ sung hợp tác trong lĩnh vực khai thác tài

Ngày đăng: 23/03/2015, 13:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Huy Cố & Lê Huy Thìn (2006), Khi Trung Quốc làm thay đổi thế giới, NXB Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khi Trung Quốc làm thay đổi thế giới
Tác giả: Nguyễn Huy Cố & Lê Huy Thìn
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2006
2. Hồ An Cương (2003), Trung Quốc những chiến lược lớn, NXB Thông tấn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc những chiến lược lớn
Tác giả: Hồ An Cương
Nhà XB: NXB Thông tấn
Năm: 2003
3. Trương Hiểu Hà (2005), Những sách lược làm thay đổi Trung Quốc, NXB Văn hóa thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những sách lược làm thay đổi Trung Quốc
Tác giả: Trương Hiểu Hà
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
Năm: 2005
4. Nguyễn Văn Hồng (2003), Trung Quốc cải cách mở cửa: những bài học kinh nghiệm, NXB Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc cải cách mở cửa: những bài học kinh nghiệm
Tác giả: Nguyễn Văn Hồng
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2003
6. Thế giới sau Chiến tranh Lạnh (2006), NXB Quân đội nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới sau Chiến tranh Lạnh
Tác giả: Thế giới sau Chiến tranh Lạnh
Nhà XB: NXB Quân đội nhân dân
Năm: 2006
7. Nguyễn Văn Lập (biên soạn), Sự trỗi dậy hòa bình của Trung Quốc: cơ hội hay thách thức, Thông tấn xã Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự trỗi dậy hòa bình của Trung Quốc: cơ hội hay thách thức
8. JUN MA (2002), Trung Quốc - Nhìn lại một chặng đường phát triển, NXB Trẻ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc - Nhìn lại một chặng đường phát triển
Tác giả: JUN MA
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 2002
10. Lê Văn Mỹ (2007), Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa: Ngoại giao trong bối cảnh quốc tế mới, NXB Khoa học - xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa: Ngoại giao trong bối cảnh quốc tế mới
Tác giả: Lê Văn Mỹ
Nhà XB: NXB Khoa học - xã hội
Năm: 2007
11. Lê Văn Mỹ (2009), Ngoại giao Cộng hòa nhân dân Trung Hoa 30 năm cải cách mở cửa (1978-2008), NXB Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngoại giao Cộng hòa nhân dân Trung Hoa 30 năm cải cách mở cửa (1978-2008)
Tác giả: Lê Văn Mỹ
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2009
12. Giang Tây Nguyên & Hạ Lập Bình (2007), Trung Quốc trỗi dậy hoà bình, NXB Quân đội nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc trỗi dậy hoà bình
Tác giả: Giang Tây Nguyên & Hạ Lập Bình
Nhà XB: NXB Quân đội nhân dân
Năm: 2007
13. Peter Nolan (2005), Trung Quốc trước ngã ba đường, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc trước ngã ba đường
Tác giả: Peter Nolan
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2005
14. Đỗ Tiến Sâm (2007), Báo cáo phát triển Trung Quốc: tình hình và triển vọng, NXB Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo phát triển Trung Quốc: tình hình và triển vọng
Tác giả: Đỗ Tiến Sâm
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2007
15. Đỗ Tiến Sâm & M.L.Titarenko (2009), Trung Quốc những năm đầu thế kỷ hai mươi mốt, NXB Từ điển Bách Khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc những năm đầu thế kỷ hai mươi mốt
Tác giả: Đỗ Tiến Sâm & M.L.Titarenko
Nhà XB: NXB Từ điển Bách Khoa
Năm: 2009
16. Nghê Kiện Trung (2001), Trung Quốc trên bàn cân, NXB Chính trị Quốc gia.Tạp chí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc trên bàn cân
Tác giả: Nghê Kiện Trung
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia. Tạp chí
Năm: 2001
17. Thời Ân Hồng (2004), Chiến lược đối ngoại lâu dài của Trung Quốc, Các vấn đề quốc tế (tài liệu tham khảo đặc biệt),tr.34-42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các vấn đề quốc tế (tài liệu tham khảo đặc biệt)
Tác giả: Thời Ân Hồng
Năm: 2004
18. Mạnh Tường Thanh (2002), Chiến lược an ninh đối ngoại và vai trò quốc tế của Trung Quốc, Các vấn đề quốc tế (tài liệu tham khảo đặc biệt), tr.13-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các vấn đề quốc tế (tài liệu tham khảo đặc biệt)
Tác giả: Mạnh Tường Thanh
Năm: 2002
19. Chính sách ngoại giao độc tài mới của Trung Quốc, Các vấn đề quốc tế (tài liệu tham khảo đặc biệt), 11/2008, tr.1-21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các vấn đề quốc tế (tài liệu tham khảo đặc biệt)
20. Trung Quốc muốn gì: ý đồ tương lai của một cường quốc đang nổi lên, Các vấn đề quốc tế (tài liệu tham khảo đặc biệt), 12/2007, tr.1-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các vấn đề quốc tế (tài liệu tham khảo đặc biệt)
21. Hơn 50 năm đường lối ngoại giao Trung Quốc, Các vấn đề quốc tế (tài liệu tham khảo đặc biệt), 7/2008, tr.48-62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các vấn đề quốc tế (tài liệu tham khảo đặc biệt)
22. Chiến lược ngoại giao hòa bình phát triển của Trung Quốc, Các vấn đề quốc tế (tài liệu tham khảo đặc biệt), 4/2006, tr.24-38 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các vấn đề quốc tế (tài liệu tham khảo đặc biệt)

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  2.1:  Bảng  tổng  kim  ngạch  xuất  nhập  khẩu  giữa  Trung  Quốc  và  các  nước Trung Á từ năm 1992 – 2010  ① - Quan hệ giữa Trung Quốc với các nước Trung Á những năm đầu thế kỷ XXI
ng 2.1: Bảng tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Trung Quốc và các nước Trung Á từ năm 1992 – 2010 ① (Trang 47)
Bảng  2.2:  Bảng  thương  mại  mậu  dịch  song  phương  Trung  Quốc  –  Kazakhstan ① - Quan hệ giữa Trung Quốc với các nước Trung Á những năm đầu thế kỷ XXI
ng 2.2: Bảng thương mại mậu dịch song phương Trung Quốc – Kazakhstan ① (Trang 48)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w