1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của quan hệ chính trị - ngoại giao đến quan hệ kinh tế Việt Nam - Hoa Kỳ giai đoạn 1995 - 2010

112 829 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh đó, kiến nghị về một số giải pháp thúc đẩy sự tác động của quan hệ chính trị đến quan hệ kinh tế hai nước theo hướng tích cực sẽ góp phần vào việc cũng cố quan hệ giữa hai bên,

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

HỒ NGỌC VINH

TÁC ĐỘNG CỦA QUAN HỆ CHÍNH TRỊ - NGOẠI GIAO ĐẾN QUAN HỆ KINH TẾ VIỆT NAM - HOA KỲ GIAI ĐOẠN 1995 - 2010

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUAN HỆ QUỐC TẾ

Tp Hồ Chí Minh - 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

HỒ NGỌC VINH

TÁC ĐỘNG CỦA QUAN HỆ CHÍNH TRỊ - NGOẠI GIAO ĐẾN QUAN HỆ KINH TẾ VIỆT NAM - HOA KỲ GIAI ĐOẠN 1995 - 2010

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUAN HỆ QUỐC TẾ

MÃ SỐ: 60.31.40

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS TRẦN NAM TIẾN

Tp Hồ Chí Minh - 2013

Trang 3

MỤC LỤC



MỤC LỤC 1

LỜI CẢM ƠN 4

DẪN NHẬP 5

1 Lý do chọn đề tài 5

2 Mục tiêu nghiên cứu 6

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 10

5 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 10

6 Bố cục của đề tài 12

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về sự tác động của quan hệ chính trị đến quan hệ kinh tế Việt Nam – Hoa Kỳ 13

1.1 Cơ sở lý luận 13

1.1.1 Khái niệm về chính trị và quan hệ chính trị 13

1.1.2 Khái niệm kinh tế và quan hệ kinh tế 15

1.1.3 Các quan điểm khác nhau về mối quan hệ giữa chính trị và kinh tế 16

1.2 Cơ sở thực tiễn về sự tác động của quan hệ chính trị đến quan hệ kinh tế hai nước Việt Nam – Hoa Kỳ 24

1.2.1 Quá trình nhận thức mối quan hệ giữa chính trị và kinh tế ở Việt Nam 24

1.2.2 Chính sách của Việt Nam đối với Hoa Kỳ 27

1.2.3 Chính sách của Hoa Kỳ đối với Việt Nam 30

1.2.4 Khái quát về sự tác động của yếu tố chính trị đối với yếu tố kinh tế trong quan hệ song phương Việt Nam – Hoa Kỳ giai đoạn 1954 – 1994 32

Chương 2 Thực tiễn sự tác động của quan hệ chính trị đến quan hệ kinh tế Việt Nam - Hoa Kỳ giai đoạn 1995 - 2010 41

2.1 Tình hình thế giới và khu vực 41

2.2 Thực tiễn của sự tác động trong giai đoạn từ sau khi bình thường hóa quan hệ chính trị hai nước đến khi ký kết Hiệp định Thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ (1995 -2000) 44

Trang 4

2.3 Thực tiễn của sự tác động trong giai đoạn từ sau khi Hiệp định thương mại Việt

Mỹ được ký kết đến trước khi quy chế PNTR được trao cho Việt Nam (2001 –

2005) 53

2.4 Thực tiễn của sự tác động trong giai đoạn từ sau khi quy chế PNTR được trao cho Việt Nam đến cuối thập niên đầu thế kỷ XXI (2006 – 2010) 62

Chương 3 Sự tác động của quan hệ chính trị đến quan hệ kinh tế Việt Nam – Hoa Kỳ giai đoạn 1995 – 2010: đặc điểm và triển vọng 72

3.1 Đặc điểm 72

3.2 Triển vọng 75

3.2.1 Các nguyên tắc lựa chọn giải pháp 76

3.2.2 Công cụ xây dựng giải pháp 77

3.2.3 Các giải pháp được đề xuất 77

KẾT LUẬN 87

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 90

PHỤ LỤC 101

1 Niên biểu quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ giai đoạn 1995 -2010 101

2 Danh mục bảng biểu 103

Bảng 2.1.1 Kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam - Hoa Kỳ 103

giai đoạn 1992 – 1994 103

Bảng 2.1.2 Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam 104

sang Hoa Kỳ trong năm 1994 104

Bảng 2.1.3 Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của Việt Nam 104

từ Hoa Kỳ trong năm 1994 104

Bảng 2.1.4 So sánh đầu tư của Hoa Kỳ vào Việt Nam trong hai giai đoạn 105

trước và sau bãi bỏ cấm vận kinh tế năm 1994 105

Bảng 2.2.1 Đầu tư trực tiếp của Hoa Kỳ ở Việt Nam giai đoạn 1995 – 2000 105

Bảng 2.2.2 Tỷ trọng hoạt động thương mại với Hoa Kỳ 106

của Việt Nam giai đoạn 1995 – 2000 106

Bảng 2.3.1 Kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam - Hoa Kỳ 106

giai đoạn 2001 – 2005 106

Bảng 2.3.2 Thành phần hàng hóa Việt Nam xuất khẩu chính 107

sang Hoa Kỳ giai đoạn 1996-2000 107

Trang 5

Bảng 2.3.3 Nhóm mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam 107

sang Hoa Kỳ giai đoạn 2001-2005 107

Bảng 2.3.4 Vốn FDI thực hiện của Mỹ trước và sau BTA 108

Bảng 2.4.1 Kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam – Hoa Kỳ 109

giai đoạn 2006-2010 109

Bảng 2.4.2 Đầu tư của Mỹ vào VN được cấp phép trong giai đoạn 2006 -2010 109

Bảng 2.4.3 Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài được cấp giấy phép phân theo đối tác đầu tư chủ yếu (Luỹ kế các dự án còn hiệu lực đến ngày 31/12/2010) 110

Bảng 3.1.1 So sánh quan hệ kinh tế Việt – Mỹ qua 110

các giai đoạn từ 1954 đến nay 110

Trang 6

hệ chính trị đến quan hệ kinh tế hai nước

Trước năm 1995, tức là khi quan hệ chính trị chưa được bình thường hóa, quan hệ kinh tế hầu như không phát triển Nhưng kể từ khi hai nước chính thức tuyên bố bình thường hóa quan hệ ngoại giao, sau đó là việc ký kết hàng loạt văn kiện quan trọng như Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ (2000), Quy chế Quan hệ thương mại bình thường vĩnh viễn PNTR (2006) trao cho Việt Nam, hay việc Hoa

Kỳ xúc tiến ký kết với Việt Nam Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP)…thì sự giao lưu về thương mại, về đầu tư giữa hai nước phát triển nhanh chưa từng thấy, đạt nhiều thành tựu vượt bậc Song, vẫn còn nhiều hạn chế trong quan hệ chính trị hai nước tạo thành rào cản cho bước tiến của quan hệ kinh tế

Xuất phát từ những nhận định trên, việc nghiên cứu tác động của quan hệ chính trị đến quan hệ kinh tế hai nước trong giai đoạn từ 1995 đến 2010 là hết sức cần thiết, nó vừa mang ý nghĩa khoa học, vừa mang tính thực tiễn Về mặt khoa học, đề tài thể hiện quan hệ Việt – Mỹ ở góc độ đặc biệt, qua đó làm phong phú thêm nhận thức về quan hệ song phương này Về mặt thực tiễn: đề tài góp phần định hình rõ hơn sự thúc đẩy quan hệ giữa hai nước trong thời gian vừa qua, cũng

Trang 7

như nêu ra một số kiến nghị để kiện toàn hơn nữa vấn đề này trong thời gian sắp tới Như vậy, đề tài không những cho phép đánh giá được thực trạng quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ từ sau bình thường hóa đến nay (2010) trên cả hai phương diện chính trị

và kinh tế, mà còn đo lường được tác động của yếu tố chính trị đến yếu tố kinh tế trong quan hệ song phương này Bên cạnh đó, kiến nghị về một số giải pháp thúc đẩy sự tác động của quan hệ chính trị đến quan hệ kinh tế hai nước theo hướng tích cực sẽ góp phần vào việc cũng cố quan hệ giữa hai bên, đặc biệt là đưa quan hệ kinh

tế phát triển hơn xứng tầm với tiềm năng quan hệ hai nước

2 Mục tiêu nghiên cứu

Phản ánh một cách khách quan, khoa học và chân thực tiến trình quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ trên cả hai phương diện chính trị - kinh tế, và trong mối liên hệ song hành giữa chúng với nhau trong giai đoạn từ 1995 đến 2010 Trên cơ sở đó, xác định được thực trạng quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ trên cả hai lĩnh vực trên

Nghiên cứu, phân tích sự tác động của quan hệ chính trị đến quan hệ kinh tế hai nước theo hướng: xác định vai trò của quan hệ chính trị đối với quan hệ kinh tế trong từng thời kỳ; đồng thời chỉ ra đâu là mặt tích cực, đâu là mặt tiêu cực của sự tác động, cũng như hệ quả đối với quan hệ kinh tế Từ đó, chỉ ra được những đặc điểm của sự tác động này

Kiến nghị một số giải pháp nhằm thúc đẩy quan hệ chính trị phát triển theo hướng tạo ra tác động mang tính tích cực đến quan hệ kinh tế Việt Nam – Hoa Kỳ trong thời gian sắp tới; đóng góp thêm vào cơ sở lý luận và thực tiễn cho các nhà hoạch định chính sách đối ngoại, chính sách kinh tế Việt Nam

3 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ là quan hệ đặc biệt, từ lâu đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều học giả trong và ngoài nước Hiện có rất nhiều công trình nghiên cứu về quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ:

Ở trong nước, có thể kể đến các công trình nghiên cứu đã xuất bản thành sách như Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ: Thực trạng và triển vọng của Trần Nam Tiến (Nxb Thông tin và Truyển thông, 2010), Việt Nam – Hoa Kỳ: Quan hệ thương

Trang 8

mại và đầu tư của Nguyễn Thiết Sơn (Nxb Khoa học Xã hội, 2004); Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ hướng về phía trước của Nguyễn Mại chủ biên (Nxb Tri thức, 2008); Quan hệ kinh tế Việt Nam – Hoa Kỳ: Vấn đề, chính sách và xu hướng của Nguyễn Thiết Sơn chủ biên (Nxb Khoa học Xã hội, 2011); Quan hệ Việt – Mỹ thời

kỳ sau chiến tranh lạnh (1990 – 2010) của Lê Văn Quang (Nxb Đại học Quốc gia

TP HCM, 2005); Góp phần tìm hiểu lịch sử quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ của Phạm Xanh (Nxb Chính trị Quốc Gia, 2009)… Các công trình đều phân tích đánh giá quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ trên nhiều lĩnh vực

Cụ thể như các công trình của Nguyễn Thiết Sơn hoặc Nguyễn Thiết Sơn chủ biên cho phép tìm hiểu quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ trên lĩnh vực kinh tế, đặc biệt

là quan hệ thương mại và đầu tư Các số liệu mang tính cập nhật, đồng thời các giải pháp đề ra trong những công trình này cũng tập trung vào việc nâng cao hiệu quả quan hệ kinh tế hai nước Các nhóm giải pháp được chia ra cụ thể từ những điều cần thay đổi về mặt tư duy đến những biện pháp cần thực hiện trong thực tiễn Bên cạnh

đó, các giải pháp còn được phân chia theo tầm vi mô và vĩ mô Ngoài ra, những công trình này còn dự báo về triển vọng quan hệ kinh tế Việt Nam – Hoa Kỳ trong thời gian sắp tới Công trình của Phạm Xanh đã khắc họa quan hệ Việt Nam – Hoa

Kỳ từ thời T Jefferson làm Tổng thống Mỹ cho đến thập kỷ đầu của thế kỷ XXI, cũng như đề cập đến những cơ hội tốt đẹp đã bị bỏ lỡ cho việc phát triển quan hệ hai nước Ngoài ra công trình của Lê Văn Quang, của Trần Nam Tiến cũng phân tích sâu về sự phát triển quan hệ kinh tế Việt Nam – Hoa Kỳ từ đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX đến những năm đầu thế kỷ XXI Trong công trình về Quan hệ Việt – Mỹ thời kỳ sau chiến tranh lạnh của Lê Văn Quang, tác giả không chỉ trình bày diễn biến của quan hệ Việt – Mỹ giai đoạn 1990 - 2000 mà còn phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến quan hệ này, từ tình hình thế giới, khu vực, cho đến nhận thức của các bên… Công trình không những phân tích quan hệ chính trị song phương mà còn

đi sâu vào quan hệ kinh tế giữa hai nước Thêm vào đó, tác giả đã phân kỳ quan hệ Việt – Mỹ trong thời kỳ này làm 2 giai đoạn chính, đồng thời gợi ý một số nguyên tắc trong xử lý quan hệ Việt - Mỹ đối với Việt Nam Đối với công trình Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ: Thực trạng và triển vọng của Trần Nam Tiến, tác giả đã phân

Trang 9

tích cụ thể quan hệ này từ trước và sau 1995, nhưng chủ yếu tập trung vào giai đoạn

1995 – 2005 Trong đó, tác giải phân tích cụ thể bối cảnh chi phối quan hệ này, cũng như phân tích quan hệ Việt – Mỹ trên mọi lĩnh vực từ chính trị đến kinh tế, văn hóa, giáo dục… từ đó rút ra một số vấn đề còn tồn tại và nêu lên triển vọng của quan hệ này trong tương lai Đặc biệt công trình còn nêu lên những bài học kinh nghiệm sau 10 năm hai nước bình thường hóa quan hệ ngoại giao…

Ngoài ra, rất nhiều luận văn cao học cũng chọn viết về đề tài này như Quan

hệ chính trị Việt Nam – Hoa Kỳ giai đoạn 1995 – 2005 của Đoàn Ngọc Tuấn

(Trường đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội, 2010); Đầu tư của công ty

xuyên quốc gia Hoa Kỳ ở Việt Nam từ năm 1995 tới nay của Phạm Ngọc Sơn

(Trường đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội, 2009); Quan hệ Việt Nam -

Hoa Kỳ từ năm 1975 đến nay của Nguyễn Ngọc Trung (Trường đại học Khoa học

xã hội và nhân văn Hà Nội, 2009)… những bài viết đang trên báo, tạp chí khoa học nghiên về vấn đề nay cũng vô cùng phong phú, đa dạng có thể điểm qua như:

“Quan hệ Việt - Mỹ từ bình thường hóa đến hợp tác và phát triển” của Bùi Thành

Nam (Khoa học, Đại học Quốc gia Hà Nội, số 1 – 2006); “Tìm hiểu cuộc chiến Catfish của Mỹ chống cá Tra và cá Basa Việt Nam” của Nguyễn Hữu Dũng (Châu

Mỹ ngày nay, số 4 – 2002); “Việt Nam trong chính sách Đông Nam Á của Mỹ từ

đầu thế kỷ XXI đến nay” của Vũ Thị Thu Giang (Chính sách đối ngoại Hoa Kỳ,

Đại học Khoa học xã hội và nhân văn TP Hồ Chí Minh, 2010); “Hoạt động của các công ty xuyên quốc gia Mỹ tại Việt Nam” của Nguyễn Minh Long và Nguyễn Anh Thư (Châu Mỹ ngày nay, số 6 – 2001); “Quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ: hướng tới mối quan hệ chiến lược” của Cù Chí Lợi (Châu Mỹ ngày nay, số 8- 2010); “Quan

hệ kinh tế Việt Nam – Hoa Kỳ trong bối cảnh mới” của Nguyễn Ngọc Mạnh (Châu

Mỹ ngày nay, số 9 – 2009); “Chính sách kinh tế của Hoa Kỳ đối với Việt Nam” của Nguyễn Tuấn Minh (Châu Mỹ ngày nay, số 8 – 2009), “Triển vọng quan hệ kinh tế Việt Nam – Hoa Kỳ” của Nguyễn Ngọc Lan (Nghiên cứu Châu Phi và Trung Đông,

số 07(71) – 2011)… Tất cả đã phân tích và cập nhật thông tin về quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ trên mọi lĩnh vực từ kinh tế đến chính trị, quân sự … Có những bài viết còn mang tính dự báo về quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ trong tương lai như “Nghiên

Trang 10

cứu thiết lập khu vực mậu dịch tự do Việt Nam – Hoa Kỳ” của Lê Huy Khôi (Châu

Mỹ ngày nay, số 10 – 2009)

Ở ngoài nước, đề tài quan hệ Việt – Mỹ cũng được chú tâm nghiên cứu với

nhiều công trình như Vietnam and Its Relations With the U.S (Countries, Regional

Studies, Trading Blocks, Unions, World Organizations) do Edward C Mason biên

soạn (Nova Science Pub Inc., 2011); Invisible Enemies: The American War on

Vietnam, 1975-2000, của Edwin A Martini (University of Massachusetts Press,

USA, 2007); “The Vietnamese market and the United States: A matrix and historical analysis” của Han X Vo (Journal of International Business Research, Vol 4, No.1, 2005); “Beyond Normalization: A Winning Strategy for U.S Relations with Vietnam” của Richard D Fisher (Backgrounder Update, No.257, 1995)… Các công trình nghiên cứu này cũng tập trung nhấn mạnh vào quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ trên nhiều lĩnh vực khác nhau, có tác phẩm đi sâu vào hòn đá tảng trong quan hệ giữa hai nước như vấn đề “hội chứng Việt Nam”; có tác phẩm nghiên cứu quan hệ hai nước theo từng cấp độ quốc gia, khu vực và quốc tế; có tác phẩm đào sâu quan hệ hai nước trên bình diện kinh tế, phân tích lợi ích của việc tiếp cận thị trường Việt Nam, cũng như mục tiêu chiến lược của Hoa Kỳ khi thiết lập quan

hệ với Việt Nam…

Bên cạnh đó, hệ thống tư liệu điện tử thông qua các trang mạng của chính phủ hai bên hay các tổ chức uy tín như: trang mạng của Bộ Công thương Việt Nam (http://www.moit.gov.vn/); Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam (http://www.mpi.gov.vn/); Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ (http://www.state.gov/); Bộ Ngoại giao Việt Nam (http://www.mofa.gov.vn); Đại diện thương mại Mỹ (http://www.ustr.gov/); Đại sứ quán Hoa Kỳ tại Việt Nam (http://vietnamese.vietnam.usembassy.gov/); Tạp chí Vietnam Economic Times (http://vneconomy.vn); Tạp chí Vietnam Investment Review (http://www.vir.com.vn/) Cũng có những bài viết trực tiếp hoặc cung cấp kiến thức nền cho việc nghiên cứu quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ

Nhìn chung qua các nguồn tư liệu tìm hiểu và thu thập được, luận văn đã kế thừa những thành quả nghiên cứu đã đạt được, đồng thời tiếp cận nghiên cứu quan

Trang 11

hệ Việt Nam – Hoa Kỳ ở một khía cạnh mới nhằm đạt các mục tiêu nghiên cứu đã

đề ra ở trên

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng cụ thể của luận văn là sự tác động của quan hệ chính trị đối với quan hệ kinh tế Việt Nam – Hoa Kỳ Qua đó, luận văn đã khắc họa rõ nét: sự phát triển của quan hệ chính trị sẽ có ảnh hưởng như thế nào đến quan hệ kinh kế của hai nước qua từng thời kỳ cụ thể; từ đó, rút ra đặc điểm cũng như kiến nghị một số giải pháp nhằm điều hòa sự tác động ấy theo hướng tích cực trong thời gian tới

Về không gian nghiên cứu: luận văn chủ yếu tập trung vào nghiên cứu hai quốc gia Việt Nam và Hoa Kỳ Tuy nhiên, trong qua trình nghiên cứu, có một số vấn đề được mở rộng ra bình diện khu vực và thế giới

Về lĩnh vực nghiên cứu: do đây là một đề tài nghiên cứu về sự tác động của quan hệ chính trị đến quan hệ kinh tế, nên 2 lĩnh vực chính trị và kinh tế được đặt làm trọng tâm

Về thời gian nghiên cứu: giới hạn của đề tài tập trung vào giai đoạn 15 năm sau khi Việt Nam và Hoa Kỳ chính thức bình thường hóa quan hệ ngoại giao đến hết thập niên đầu của thế kỷ XXI (1995-2010) Giai đoạn này vừa mang tính cập nhật so với thời điểm hiện tại, vừa đủ độ dài để đánh giá sự tác động một cách toàn diện Tuy nhiên, đề tài cũng đề cập sơ qua về khoảng thời gian trước đó để các nhà nghiên cứu có cái nhìn về sự tác động ấy một cách đầy đủ hơn

5 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

Đề tài dựa trên phương pháp luận là chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử làm sở cho việc nghiên cứu sự tác động của quan hệ chính trị đến quan hệ kinh tế Việt Nam – Hoa Kỳ giai đoạn 1995 – 2010 Chỉ có phương pháp luận Marxist với hạt nhân là những quy luật chung nhất về sự vận động và phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy mới mang lại nhận thức đúng đắn, toàn diện về sự tác động của yếu tố chính trị đến yếu tố kinh tế trong quan hệ hai nước

Về phương pháp nghiên cứu, vì luận văn là đề tài chuyên về quan hệ quốc tế, nên phương pháp nghiên cứu quan hệ quốc tế sẽ được lựa chọn

Trang 12

Trước hết, phương pháp chủ yếu được sử dụng là: phương pháp hệ thống Phương pháp này giúp phân tích mối liên hệ bên trong vấn đề nghiên cứu như một khối thống nhất, một hệ thống hoàn chỉnh Mỗi hệ thống có thể được phân tích ở cấp độ quốc tế, khu vực hoặc quốc gia, có thể là hệ thống về chính trị, kinh tế, an minh, văn hóa xã hội… trong đó các lĩnh vực luôn có sự tác động qua lại lẫn nhau,

cả tích cực lẫn tiêu cực Trong đề tài này, phân tích hệ thống về sự tác động ở cấp

độ quốc gia (cụ thể là quan hệ giữa hai quốc gia với nhau) trên hai lĩnh vực kinh tế

và chính trị là cấp độ phân tích chủ yếu Ngoài ra đề tài cũng nghiên cứu những điều kiện tồn tại của các đơn vị trong hệ thống Điều này cho thấy rõ sự tồn tại và phát triển của một quốc gia cũng như các mối quan hệ của nó có liện hệ chặt chẽ và chịu sự tác động của hệ thống khu vực và thế giới trên mọi lĩnh vực

Bên cạnh đó, phương pháp hệ thống còn được kết hợp sử dụng với phương pháp phân tích chiến lược Phương pháp này áp dụng để xác định các mục tiêu chiến lược của các chủ thể trong quan hệ quốc tế dựa trên hệ thống chịnh trị, kinh tế

xã hội của các chủ thể đó Ngoài ra, phương pháp này còn giúp phân tích quan điểm chiến lược và các biện pháp chiến lược nhằm thực hiện những mục tiêu đã được thể chế hóa bằng những quan điểm chính thống được lựa chọn Như vậy, phương pháp này sẽ giúp thấy rõ bản chất của việc hoạch định và thực hiện chiến lược, cũng như tác động của chiến lược đó đến quan hệ song phương Nó giúp ta thấy được đặc điểm trong quan hệ quốc tế, các đặc điểm và mục tiêu thực hiện quan hệ quốc tế Sự phối hợp giữa hai phương pháp này cho thấy cơ sở để xác định lợi ích quốc gia và biện pháp chiến lược, từ đó xác định cơ hội và thách thức cho đất nước, nhằm lựa chọn đối tượng và chính sách ưu tiên cho việc hoạch định chiến lược của đất nước mình

Mặt khác, do đây còn là một vấn đề mang tính liên ngành nên đề tài còn vận dụng các phương pháp nghiên cứu liên ngành khác để đạt hiệu quả nghiên cứu cao nhất Có thể kể đến như: nhóm các phương pháp nghiên cứu kinh tế gồm: phương pháp phân tích thống kê (phương pháp so sánh, phương pháp thay thế liên hoàn, phương pháp liên hệ cân đối), phương pháp lịch sử và phương pháp logic, phương pháp diễn dịch và quy nạp, phương pháp phân tích và tổng hợp…

Trang 13

6 Bố cục của đề tài

Ngoài các phần Dẫn luận, Kết luận, Phụ lục và Danh mục tài liệu tham khảo;

luận văn với đề tài Tác động của quan hệ chính trị - ngoại giao đến quan hệ kinh tế

Việt Nam – Hoa Kỳ giai đoạn 1995 -2010 được hình thành với nội dung gồm 3

chương như sau:

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về sự tác động của quan hệ chính trị đến quan hệ kinh tế Việt Nam – Hoa Kỳ Chương này tập trung làm rõ các khái niệm có liên quan, đồng thời trình bày các lý luận khác nhau về vấn đề này; từ đó rút ra nhận xét và lựa chọn cở sở lý luận khách quan, khoa học và toàn diện nhất Đồng thời, chương này cũng trình bày những cơ sở về mặt thực tiễn cho sự tác động của quan hệ chính trị đến quan hệ kinh tế giữa hai bên

Chương 2 Thực tiễn sự tác động của quan hệ chính trị đến quan hệ kinh tế Việt Nam – Hoa Kỳ giai đoạn 1995 – 2010 Đây là chương trọng tâm của luận văn Chương này tổng hợp, phân tích, đánh giá sự tác động của quan hệ chính trị đến quan hệ kinh tế Việt Nam – Hoa Kỳ qua 3 phân đoạn chính Qua đó, những biểu hiện và khuynh hướng đặc trưng của sự tác động ấy được nhận ra

Chương 3 Sự tác động của quan hệ chính trị đến quan hệ kinh tế Việt Nam – Hoa Kỳ: đặc điểm và triển vọng Chương này rút ra những đặc trưng của sự tác động Đồng thời, nhận định về khuynh hướng của sự tác động trong thời gian tới Thêm vào đó, kiến nghị về những giải pháp nhằm thúc đẩy chiều hướng tác động tích cực, cũng như hạn chế mặt tiêu cực của sự tác động từ quan hệ chính trị đến quan hệ kinh tế hai nước cũng được nêu lên

Trang 14

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về sự tác động của quan hệ

chính trị đến quan hệ kinh tế Việt Nam – Hoa Kỳ



1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Khái niệm về chính trị và quan hệ chính trị

Từ “chính trị” có rất nhiều định nghĩa khác nhau Xét đến những quan niệm khác nhau về chính trị trước chủ nghĩa Marx:

Trước hết, ở phương Tây, chính trị trong tiếng Hy Lạp gọi là “Politica”, có gốc từ thuật ngữ “polis” (thành bang) Trong thời kỳ Hy Lạp cổ đại, người ta cho rằng chính trị là công việc của nhà nước Triết gia Aristotle (384 – 322 TCN) quan niệm rằng chính trị là khoa học kiến trúc xã hội, là khoa học lãnh đạo con người

Và, con người là “động vật chính trị” [45, tr.35] Còn Plato (428 – 437 TCN) thì cho rằng chính trị là sự thống trị của trí tuệ tối cao, là nghệ thuật cai trị (cai trị bằng

sự thuyết phục chứ không phải bằng bạo lực) Hay nói cách khác, đó là một “nghệ thuật cung đình” [43, tr 30] Bước vào thời kỳ phục hưng, chính trị được quan niệm như “những hoạt động nhằm điều tiết hành động của những các nhân trong xã hội” [59, tr 10] Nhiệm vụ của nó là giúp hình thành một “khế ước” nhằm tạo ra khuôn khổ của một xã hội dân sự với hệ thống các quy định mà mọi người sống trong đó Trong thời kỳ này, có khi chính trị được ví như một “nhà hát” mà mỗi con người đều tham gia một vai diễn của chính mình Tấm kịch ấy tuy được đạo diễn về mặt tổng thể, nhưng mỗi nhân vật, trong quá trình “biểu diễn”, đều có thể có những ngẫu hứng của riêng mình

Trong giai đoạn đầu thế kỷ XX, triết gia người Đức Max Weber (1881 – 1961) định nghĩa rằng chính trị là khác vọng tham gia vào quyền lực, “sự phân chia quyền lực giữa các quốc gia, bên trong quốc gia, giữa các tập đoàn người trong một quốc gia” [59, tr 11] Mặt khác, các nhà khoa học Mỹ thì cho rằng chính trị không

gì khác hơn là một sự tìm kiếm các giải pháp nhằm thực hiện phân phối lợi ích

Ở phương Đông, trước hết là Trung Quốc cổ đại, tuy có nhiều hệ tương tưởng khác nhau, nhưng tất cả đều cho rằng chính trị được là sự sắp xếp, quản lý

Trang 15

làm sao để xã hội luôn ở trong khuông phép, trật tự, kỷ cương Các nhà tư tưởng kinh điển đều tìm cách thực hiện chính trị theo quan niệm ấy Khổng Tử (551 – 479 TCN) cho rằng chính trị là chính đạo, chính danh: “bất tại kỳ vị, bất mưu kỳ chính” [43, tr 78] Nghĩa là ai cũng phải làm tốt bổn phận của chính mình Bởi lẽ, theo Khổng Tử “danh không chính thì ngôn không thuận, ngôn không thuận thì việc bất thành, việc bất thành thì mọi điều lễ nhạc không gây lại được, không gây được lễ nhạc thì hình phạt sai trệt cả, hình phạt không đúng thì dân sẽ bó tay” [44, tr 44] Lão Tử (sống cùng thời với Khổng Tử) thì chủ trương “vô vi nhi trị” nghĩa là đem cái tự nhiên dể giúp một cách tự nhiên theo cách “ta không làm mà dân tự hóa, ta thức yên mà dân tự chính, tạ vô sự mà dân hộ giàu, ta ham muốn mà dân thật thà” [45, tr 35] Còn Hàn Phi Tử (280 -232 TCN) lại phủ nhận cả 2 tư tưởng của Nho Gia và Đạo gia Tư tưởng của ông về chính trị là sự kết hợp 3 nội dung: pháp, thế và thuật Đến thời cận đại, Tôn Trung Sơn đưa ra cách nhìn riêng của mình về chính trị trong chủ nghĩa Tam dân, theo đó chính trị là quản lý việc của dân chúng “Chính là việc của dân chúng, trị là quản lý” [59, tr 11] Về phía các nhà nghiên cứu Nhật Bản, họ cho rằng chính trị là hoạt động áp đạt quyền lực, thỏa mãn lợi ích

Chủ nghĩa Marx - Lenin ra đời với cách nhìn nhận toàn diện, đúng đắn về chính trị thông qua phép biện chứng duy vật của mình đã khắc phục những nhược điểm của các quan niệm trước nó Theo quan điểm của chủ nghĩa Marx – Lenin, chính trị là lợi ích, quan hệ lợi ích giữa các giai cấp Chính trị là sự tham gia của nhân dân vào công việc nhà nước Vấn đề cơ bản của chính trị là việc tổ chức chính quyền nhà nước Ngoài ra, chính trị chính là biểu hiện tập trung của kinh tế Nó vừa

là một khoa học, vừa là một nghệ thuật Xuất phát từ quan điểm ấy, các nhà khoa học Liên Xô đã định nghĩa chính trị như sau: “Chính trị theo nguyên nghĩa của nó là những công việc của nhà nước, là phạm vi hoạt động gắn với quan hệ giai cấp, dân tộc, và các nhóm xã hội khác nhau mà hạt nhân của nó là vấn đề giành, giữ và sử dụng quyền lực nhà nước” [1, tr 507]

Nói một cách tổng quát, chính trị là mối quan hệ giữa các giai cấp, dân tộc, quốc gia, các lực lượng xã hội trong việc giành, giữ và thực thi quyền lực chính trị,

mà tập trung ở quyền lực nhà nước” [60, tr 16] Suy rộng ra, quan hệ chính trị giữa

Trang 16

hai quốc gia chính là các hoạt động liên quan đến việc giành, giữ và thực thi quyền lực chính trị của quốc gia mình với quốc gia kia

1.1.2 Khái niệm kinh tế và quan hệ kinh tế

Tương tự như khái niệm về “chính trị”, phạm trù “kinh tế” với cách nhìn qua những lăng kính khách nhau cũng sẽ khác nhau, cho đến nay vẫn chưa có một định nghĩa thống nhất Dưới góc độ thỏa mãn nhu cầu của con người, thì kinh tế chính là hoạt động tạo ra của cải vật chất cho con người và xã hội Dưới góc độ quan hệ giữa con người với con người, kinh tế được xem là tổng hợp những quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của một hình thái kinh tế xã hội nhất định Theo quan niệm của kinh tế học (mà Adam Smith là cha đẻ với tác phẩm "An Inquiry into the Nature and Causes of the Wealth of Nations", ra đời năm 1776) thì kinh tế chính là hành vi của con người trong mối quan hệ giữa nhu cầu vô hạn với những nguồn lực

có hạn cần được lựa chọn để sử dụng Chính sự khan hiếm các nguồn lực luôn đặt loài người đứng trước sự lựa chọn, cách thức tiến hành các lựa chọn này, cũng như hậu quả của chúng Kinh tế học là khoa học của sự lựa chọn, nó nghiên cứu 3 vấn

đề cơ bản của kinh tế, đó là: sản xuất cái gì và bao nhiêu? Sản xuất cho ai? Sản xuất như thế nào?

Về phía các nhà nghiên cứu lịch sử kinh tế thì kinh tế được quan niệm là:

“tổng thể các ngành sản xuất và dịch vụ sản xuất của một nước, có liên quan với nhau bởi sự phân công lao động xã hội Kinh tế quốc dân bao gồm những ngành lao động, và sản xuất vật chất như công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải, thương mại, dịch vụ và các lĩnh vực lưu thông tiền tệ, tài chính, tín dụng phục vụ các ngành đó” [34, tr 9]

Theo quan điểm của chủ nghĩa Marx – Lenin, kinh tế là sự tổng hòa các quan

hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển nhất định của lực lượng sản xuất Quan

hệ sản xuất ấy bao gồm: quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất, quan hệ tổ chức, quản lý sản xuất, và quan hệ phân phối sản phẩm Như vậy, kinh tế là toàn bộ các quan hệ sản xuất và trao đổi của cải vật chất trong xã hội loài người Nó là một chuỗi liên tục từ khâu sản xuất, đến khâu phân phối, trao đổi, tiêu dùng của xã hội Từ đó, khái

Trang 17

niệm “quan hệ kinh tế giữa hai quốc gia” có thể được hiểu là “tổng thể các mối quan hệ kinh tế đối ngoại” [84, tr 5] của hai nước đó với nhau Nội dung của lĩnh vực kinh tế đối ngoại rất đa dạng, bao gồm: quan hệ ngoại thương (mua bán trao đổi hàng hóa vô hình, hữu hình); quan hệ dịch vụ quốc tế (du lịch quốc tế, giao thông vận tải, bảo hiểm quốc tế…); quan hệ đầu tư quốc tế (đầu tư trực tiếp, gián tiếp, tín dụng quốc tế); lĩnh vực tài chính quốc tế (vay nợ, thanh toán quốc tế); quan hệ trong lĩnh vực chuyển giao công nghệ…

1.1.3 Các quan điểm khác nhau về mối quan hệ giữa chính trị và kinh tế

Quan điểm của chủ nghĩa xã hội dân chủ

Tư tưởng này không những chỉ trích chủ nghĩa tư bản, mà giờ đây còn lên án

cả chủ nghĩa xã hội Những người ủng hộ quan điểm này tuyên bố đi theo con đường thứ 3, với một xã hội họ mong muốn xây dựng dựa trên nguyên tắc: “dân chủ chính trị, dân chủ kinh tế, dân chủ xã hội” [59, tr 15] Họ không đồng thuận với quan điểm của chủ nghĩa xã hội và cho rằng đó là một xã hội được xây dựng với hệ thống chính quyền quan liêu, và đặc biệt là có sự khác biệt trong quan hệ phân phối (do có đặc quyền đặc lợi) Quan điểm của chủ nghĩa xã hội dân chủ khẳng định rằng chủ nghĩa xã hội chính là kẻ thù của nền hòa bình dân chủ; và chuyên chính vô sản

sẽ “xóa bỏ mọi nền dân chủ” Về phía chủ nghĩa tư bản, họ cũng kịch liệt phê phán

tư tưởng này Họ cho rằng chủ nghĩa tư bản hàm chứa trong nó sự bất bình đẳng, bất công trong xã hội Bản chất của chủ nghĩa tư bản là sự bốc lột của số ít đối với

số đông, chỉ phục vụ lợi ích của thiểu số giàu có Sự bốc lột ấy phản ánh tính tiêu cực trong sự phát triển của xã hội tư bản Nó là căn nguyên của nhiều vấn đề xã hội như bạo lực, chiến tranh, đói nghèo…

Theo quan điểm này, dân chủ chính trị là nền tảng và là điều kiện tiên quyết của chủ nghĩa xã hội dân chủ Nếu không thực hiện điều kiện này thì sẽ không đạt được chủ nghĩa xã hội, không có tự do Chính dân chủ chính trị (nghĩa là đảm bảo mọi công dân đều có đầy đủ các quyền về mặt chính trị như: tự do ngôn luận, tự do lập hội, bầu cử phổ thông…) mới chính là nền tảng cho dân chủ kinh tế (nền kinh tế nằm dưới sự quản lý của toàn xã hội, sở hữu tư nhân vẫn được thừa nhận, song sở hữu xã hội nắm vai trò quan trọng) Kinh tế muốn phát triển thì phải có sự tham gia

Trang 18

quyết định của rộng rãi người lao động trong các quyết định về kinh tế Do vậy, trong mối quan hệ giữa kinh tế với chính trị, muốn thúc đẩy kinh tế phát triền thì: Nhà nước (nhất thiết phải là nhà nước đa nguyên) phải can thiệp sâu vào nền kinh tế

để xây dựng một nền kinh tế thị trường hỗn hợp theo mô hình của Keynes Mô hình kinh tế ấy, so với mô hình kinh tế tự do và kinh tế kế hoạch là dân chủ hơn và hiệu quả hơn Như vậy, tựu chung lại, khi bàn về quan hệ giữa chính trị và kinh tế thì chủ nghĩa xã hội dân chủ cho rằng: dân chủ chính trị là phải là nền tảng, là điều kiện mang tính “tiên quyết” thì mới có thể tiến tới một xã hội tốt đẹp hơn; và chính trị phải can thiệp sâu vào kinh tế, điều hành kinh tế thông qua quyền lực nhà nước thì nền kinh tế ấy mới hoạt động hiệu quả, xã hội ấy mới đi lên được xã hội dân chủ, tốt đẹp hơn

Quan điểm của chủ nghĩa tự do

Cội rễ sâu xa của tư tưởng này bắt nguồn từ khát vọng giải phóng con người khỏi thần quyền và tư tưởng tự do của các nhà triết học phương Tây thế thế kỷ XVII – XVIII; triết học cổ điển Đức; quan điểm triết học – chính trị Âu Mỹ thế kỷ thứ XIX Chủ nghĩa tự do không phải là một hệ tư tưởng nhất quán, mà có sự phát triển

đa dạng, phức tạp theo nhiều xu hướng khác nhau Quan điểm cơ bản của tư tưởng này, tựu chung lại là: tuyệt đối hóa tự do cá nhân và hạn chế sự can thiệp của nhà nước vào các hoạt động của cá nhân [78, tr 227] Họ cho rằng chính thị trường tự

do sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cao và thị trường tự do là công cụ để đoàn kết thế giới

Từ chỗ đề cao cá nhân, tư tưởng này đã xem tư hữu là điều kiện cần thiết và

đề cao nguyên tắc kinh tế thị trường Những người ủng hộ tư tưởng này cho rằng nhà nước không nên can thiệp vào hoạt động kinh doanh của cá nhân nói riêng, nền kinh tế nói chung, khuyến khích tự do cạnh tranh Hay nói cách khác, chính trị không nên can thiệp vào kinh tế, nên để kinh tế tự do vận hành Nhà nước chỉ nên dừng lại ở vai trò quan tòa, đảm bảo sự công bằng mà thôi (đảm bảo quyền tự do của cá nhân này không xâm phạm đến quyền tự do của cá nhân khác) Adam Smith chủ trương loại bỏ sự can thiệp của nhà nước vào các vấn đề kinh tế, vì với “bàn tay

Trang 19

vô hình”, thị trường tự do sẽ tự điều chỉnh chính nó và hoạt động có hiệu quả hơn thị trường bị kiểm soát

Song, bước sang thế kỷ XX, chủ nghĩa tự do là biến đổi thành chủ nghĩa tự

do mới J.Keynes lại tán đồng việc nhà nước can thiệp, điều tiết nền kinh tế; song, vẫn nhấn mạnh một nhà nước đa nguyên Đến những năm 70 của thế kỷ XX, một nhà chủ nghĩa tư do khác là F.Hayek lại chủ trương quay trở về lập trường ban đầu của tư tưởng này về một thị trường tự do hoạt động cùng với việc giảm vai trò của nhà nước trong sự can thiệp vào nền kinh tế Sự tự do hoạt động của thị trường không chỉ giúp điều tiết kinh tế, thương mại mà còn điều chỉnh các vấn đề lớn khác

về chính trị - xã hội Học thuyết của F.Hayek không phủ nhận vai trò của nhà nước, nhưng khẳng định sự can thiệp ấy chỉ dừng lại ở mức tối thiểu mà thôi

Có thể thấy, nội dung của chủ nghĩa tư do rất phức tạp, và việc phân định rạch ròi các trường phái của tư tưởng này không hề đơn giản Trong hơn hai thế kỷ hình thành và phát triển, chủ nghĩa tự do hiện đại nhấn mạnh vào yếu tố kinh tế trong mối quan hệ giữa chính trị với kinh tế Cho rằng kinh tế đóng vai trò quyết định Do vậy, khi giải quyết mối quan hệ giữa chính trị và kinh tế, quan điểm của chủ nghĩa tư do là: giảm thiểu “bàn tay hữu hình” của chính trị (thông qua nhà nước) tác động vào phát triển kinh tế”

Từ hai dòng quan điểm đối lập nhau vừa được phân tích ở trên, có thể thấy, tuy cách nhìn nhận và giải quyết vấn đề của chúng có tính hợp lý trong chừng mực nào đó, nhưng rõ ràng, cả hai tư tưởng đều rơi vào tình trạng tuyệt đối hóa một mặt của vấn đề, xem nhẹ mặt còn lại Cả hai hệ tư tưởng đều không xem xét hai yếu tố kinh tế - chính trị, trong mối quan hệ qua lại, tác động lẫn nhau, không thể tách rời Cho nên, cách đánh giá của những người theo quan điểm này mang tính chủ quan, duy ý chí (đối với chủ nghĩa xã hội dân chủ) – nghĩa là tuyệt đối hóa vai trò của chính trị; và rơi vào chủ nghĩa duy vật tầm thường (đối với chủ nghĩa tự do) – nghĩa

là tuyệt đối hóa vai trò của kinh tế Chủ nghĩa Marx – Lenin với phương pháp luận biện chứng duy vật đã nhìn nhận toàn diện vấn đề, và có quan điểm đúng đắn trong việc nhìn nhận về mối quan hệ giữa chính trị và kinh tế với nhau

Trang 20

Quan điểm của chủ nghĩa Marx – Lenin

Theo quan điểm này, quan hệ giữa kinh tế và chính trị là biểu hiện tập trung nhất giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng (với kinh tế là biểu hiện của cơ sở

hạ tầng, còn chính trị biểu hiện là kiến trúc thượng tầng) Trong đó, cơ sở hạ tầng tuy là yếu tố nền tảng, nhưng, kiến trúc thượng tầng cũng đóng vai trò quan trọng hàng đầu so vời cơ sở hạ tầng, và tác động trở lại cơ sở hạ tầng Lenin, trên cơ sở kế thừa và phát huy chủ nghĩa Marx, đã khẳng định “chính trị là sự biểu hiện tập trung của kinh tế” [104, tr.349], “chính trị là kinh tế được cô đọng lại” [105, tr 147] Như vậy, phải chăng chính trị là sự phản ánh của kinh tế, tạo ra một khuôn khổ hay một nền tảng vững chắc cho việc xây dựng “ngôi nhà” kinh tế Xét trong mối quan hệ giữa nội dung và hình thức, thì chính trị là một hình thức của kinh tế, và biểu hiện ở mức độ tập trung cao độ nhất Một trình độ phát triển kinh tế nhất định sẽ tương ứng với một trình độ phát triển nhất định về chính trị Và, cơ sở kinh tế như thế nào thì

cơ cấu thể chế chính trị cũng sẽ như thế đó để điều hòa kinh tế cho phù hợp

Khi bàn về sự tác động của chính trị đối với kinh tế, hay nói cách khác là vai trò của chính trị đối với kinh tế, Lenin khẳng định rằng: “Vấn đề hoàn toàn không phải chỉ có hoàn cảnh kinh tế mới là nguyên nhân, chỉ có nó là tích cực, còn tất cả những cái còn lại đều chỉ là hậu quả thụ động” [12, tr 271] “Chính trị không thể không chiếm vị trí hàng đầu so với kinh tế” [104, tr 349] Đây chính là vai trò quan trọng của chính trị đối với kinh tế Chính trị sẽ tác động trở lại kinh tế thông qua các thể chế của hệ thống chính trị, đặc biệt là nhà nước Thắng lợi của cách mạng chính trị tạo ra tiền đề cho những biến đổi về chất của kinh tế diễn ra tiếp theo Sự tác động trở lại của chính trị đối với kinh tế sẽ đi theo một trong hai khuynh hướng:

Nếu một nền chính trị đúng đắn, khoa học, vận dụng tổng hợp các quy luật khách quan, phù hợp với thực tiễn kinh tế ( nghĩa là phát huy mặt tích cực của quy luật này, nhằm hạn chế mặt tiêu cức của quy luật khác, đưa nền kinh tế theo đúng quỹ đạo nhằm phục vụ lợi ích của thể chế chính trị) thì sẽ thúc đẩy kinh tế phát triển, giải phóng sức sản xuất của xã hội, và làm kiện toàn các quan hệ xã hội Ngược lại, nếu chính trị sai lầm, phi khoa học, trì trệ thì tất yếu sẽ kìm hãm nền kinh tế Chính trị không đúng đắn, không giữ được ổn định, thì không có khả năng

Trang 21

lãnh đạo kinh tế Từ đó, nguy cơ khủng hoảng, mất ổn định kinh tế xã hội là khó tránh khỏi Chính trị nếu không hướng vào giải quyết các vấn đề kinh tế tồn tại thì

sẽ bị thay thế bằng một chính trị khác tiến bộ hơn Dù kinh tế có tiếp tục phát triển, thì trung tâm quyền lực cũng sẽ không còn nằm trong tay giai cấp thống trị đương thời Việc đó chỉ còn là vấn đề thời gian

Có thể nói, quan hệ giữa chính trị và kinh tế là quan hệ giữa quyền lực chính trị và kinh tế Đằng sau quan hệ chính trị là các quan hệ kinh tế, quan hệ lợi ích kinh

tế Quan hệ chính trị luôn hướng tới phát triển kinh tế nhằm bảo vệ chế độ chính trị

và lợi ích của giai cấp cầm quyền Giải quyết mối quan hệ này tức là quyết định mục tiêu và đường hướng phát triển của xã hội, của kinh tế Như vậy, thông qua quyền lực chính trị (thể hiện trên ba phương diện: đường lối, chính sách chính trị, tổ chức, thiết chế chính trị, chủ thể chính trị đối với kinh tế, chính trị thể hiện vai trò định hướng của mình, và cũng là động lực để phát triển kinh tế Chính trị giúp tạo ra một môi trường ổn định cho kinh tế vận động và phát triển Sự tác động của chính trị đối với kinh tế thể hiện ở chỗ: một là, tạo ra khuôn khổ , nền tảng vững chắc để kinh tế phát triển; hai là, xây dựng và thể chế hóa đường lối phát triển kinh tế; ba là, thông quan quyền lực chính trị, chính trị nói chung, nhà nước nói riêng có khả năng

dự báo về tương lai và xu thể phát triển của kinh tế, từ đó định hướng kinh tế đi theo đúng quý đạo, đảm bảo những mục tiêu chính trị đặt ra

Không dừng lại ở đó, chính trị còn tham gia kiểm soát chặt chẽ các vấn đề kinh tế như: sự luân chuyển của dòng vốn, các hoạt động tài chính tiền tệ, chính sách kinh tế đối ngoại, điều chỉnh cơ cấu kinh tế, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh tế… Khi xem xét giải quyết mối quan hệ giữa hai yếu tố này, cần đặt chúng trong mối quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau, và biến đổi không ngừng Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, cũng cần tránh cả 3 khuynh hướng:

Một là, tuyệt đối hóa vai trò của kinh tế đối với chính trị: vì như vậy sẽ rơi vào chủ nghĩa duy vật tầm thường, và về mặt thực tiễn, nền kinh tế sẽ thay đổi định hướng

Trang 22

Hai là, tuyệt đối hóa vai trò của chính trị đối với kinh tế: như vậy nền kinh tế không vận động và phát triển theo quy luật khách quan, mà mang tính chủ quan, duy ý chí

Ba là, đồng nhất chính trị và kinh tế Lúc ấy, chính trị trở nên cứng nhắc, giáo điều

Nếu phân tích và giải quyết được mối quan hệ này một cách thấu đáo thì nhất định sẽ tạo ra môi trường ổn định, giải phóng sức sản xuất và thúc đẩy kinh tế phát triển hơn nữa Khi kinh tế được đặt dưới sự tác động theo khuynh hướng tích cực của chính trị, đó sẽ là nền tảng vững chắc cho chính trị ngày càng mở rộng, và tiếp tục tác động sâu rộng đến kinh tế hơn nữa, giúp nó không ngừng tiến lên Tính biện chứng, toàn diện và đúng đắn trong quan điểm của chủ nghĩa Marx – Lenin trong việc nhìn nhận mối quan hệ giữa chính trị và kinh tế là ở chỗ đó

Tư tưởng Hồ Chí Minh

Quán triệt sâu sắc tinh thần chủ nghĩa Marx Lenin, đồng thời vận dụng và phát triển một cách sáng tạo vào trường hợp Việt Nam, Hồ Chí Minh có nhận thức khách quan, khoa học, đúng đắn và toàn diện về mối quan hệ giữa chính trị và kinh

tế Theo Hồ Chí Minh, nhiệm vụ hàng đầu của chính trị là làm sao tạo ra tác động

có lợi cho kinh tế Điều đó có nghĩa là: “Làm cho dân có ăn Làm cho dân có mặc Làm cho dân có chỗ ở Làm cho dân có học hành” [52, tr 152] Nghĩa là kinh tế và giải quyết vấn đề kinh tế là nhiệm vụ tiên quyết mà chính trị cần thực hiện

Hồ Chí Minh cho rằng chính trị có khả năng làm biến đổi xã hội theo quy luật phủ định, và như vậy, có khả năng biến đổi kinh tế Cơ cấu thể chế chính trị sẽ định hình cho cơ sở kinh tế phát triển phù hợp với nó Soi vào trường hợp cụ thể của Việt Nam, Người đã khẳng định rõ vai trò của chính trị đối với kinh tế: “Cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa là một cuộc biến đổi khó khăn nhất và sâu sắc nhất Chúng ta phải xây dựng một xã hội hoàn toàn mới, xưa nay chưa từng có trong lịch

sử dân tộc ta… Chúng ta phải thay đổi quan hệ sản xuất cũ, xóa bỏ giai cấp bốc lột, xây dựng quan hệ sản xuất mới không có bốc lột áp bức Muốn thế, chúng ta phải dần dần biến nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu thành một nước công nghiệp

Trang 23

Chúng ta phải dần dần tập thể hóa nông nghiệp Chúng ta phải tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với công thương nghiệp tư nhân, đối với thủ công nghiệp” [53, tr 493-494] Nói cách khác, chính trị đóng vai trò cải tạo kinh tế “Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiến dần từ chế độ dân chủ nhân dân lên chủ nghĩa xã hội bằng cách phát triển và cải tạo nền kinh tế quốc dân theo chủ nghĩa xã hội, biến nền kinh

tế lạc hậu thành một nền kinh tế xã hội chủ nghĩa với công nghiệp và nông nghiệp hiện đại, khoa học và kỹ thuật tiên tiến Chính sách kinh tế của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là không ngừng phát triển sản xuất để nâng cao mãi đời sống vật chất

và văn hóa của nhân dân” [54, tr 588] Như vậy, với tư tưởng Hồ Chí Minh, chính trị có vai trò quan trọng hàng đầu so với kinh tế Thông qua quyền lực chính trị, nền kinh tế cũ, nghèo nàn, lạc hậu và hàm chứa nhiều áp bức bất công có thể được xóa

bỏ và thay thế bằng một nền kinh tế mới tốt đẹp hơn, đảm bảo công bằng, dân chủ

và đời sống ấm no cho nhân dân Đây là nền kinh tế chưa từng có trong lịch sử mà chính trị có thể tạo ra được

Tuy không phủ nhận vai trò nền tảng của kinh tế đối với chính trị, nhưng với cái nhìn toàn diện và biện chứng của Hồ Chí Minh, chính trị thực sự có tính độc lập tương đối của nó, và giữ vai trò lãnh đạo kinh tế Hồ Chí Minh khẳng định: “phải nhớ là chính trị đi đầu, chính trị tốt thì sản xuất mới tốt được” [54, 400]; “muốn tiến

bộ, nông nghiệp cũng như mọi việc khác phải lấy chính trị làm đầu, tư tưởng phải thông suốt từ trên xuống dưới, từ trong Đảng ra nhân dân” [55, tr 61] “Để cải tạo

xã hội, một mặt phải cải tạo vật chất như tăng gia sản xuất, một mặt phải cải tạo tư tưởng Nếu không có tư tưởng xã hội chủ nghĩa thì không làm việc xã hội chủ nghĩa được” [54, tr 24] Cho nên, vai trò lãnh đạo của chính trị được Hồ Chí Minh khẳng định: “Tại sao nhân dân ta mấy nghìn năm lạc hậu, bị đàn áp bốc lột không làm sao được, mà nay cũng vẫn nhân dân Việt Nam lại làm cách mạng thành công, kháng chiến thắng lợi, xây dựng chủ nghĩa xã hội? Cũng là do có lãnh đạo, có chính trị Đấy là một điều rất rõ ràng, cho nên phải coi trọng công tác chính trị” [54, tr 400]

Cái mà Hồ Chí Minh đề cập ở đây không phải là chính trị sai lầm, phi khoa học mà là chính trị đúng đắn, khách quan, khoa học để thúc đẩy kinh tế, xã hội phát triển Người cho rằng: “Chính phủ phải thi hành một nền chính trị liêm khiết, như

Trang 24

cải thiện đời sống nhân dân, cứu tế thất nghiệp, sửa đổi chế độ xã hội, phát triển kinh tế, văn hóa… có như thế, dân chúng mới đoàn kết xung quanh chính phủ…” [52, tr 227]

Không chỉ dừng lại ở vai trò, khả năng làm biến đổi và lãnh đạo kinh tế, chính trị còn thực sự tập trung phát triển kinh tế Hồ Chí Minh đã chỉ ra rằng: “chủ nghĩa xã hội là làm sao cho nhân dân đủ ăn, đủ mặc, ngày càng sung sướng, ai nấy được đi học, ốm đâu có thuốc, già không lao động được thì nghĩ, những phong tục tạp quán không tốt dần dần được xóa bỏ… tóm lại, xã hội ngày càng tiến, vật chất ngày càng tăng, tinh thần ngày càng tốt Đó là chủ nghĩa xã hội” [55, tr 591] Nói cách khác, kinh tế chịu sự tác động tất yếu của chính trị, chính trị là sự biểu hiện cao độ của kinh tế; cho nên vai trò của hệ thống chính trị đối với sự phát triển, tăng trưởng kinh tế là đặc biệt quan trọng Có thể thấy tư tưởng Hồ Chí Minh thể hiện sự tiếp thu, kế thừa lý luận của chủ nghĩa Marx – Lenin và phát triển sáng tạo nó khi vận dụng vào hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam Từ những phân tích ở trên, Hồ Chí Minh quan niệm rằng trong mối quan hệ giữa chính trị và kinh tế, chính trị vẫn có tính độc lập tương đối của nó, và thông qua quyền lực nhà nước sẽ định hướng, tạo động lực và môi trường ổn định cho nền kinh tế phát triển

Qua những quan niệm khác nhau về quan hệ giữa chính trị và kinh tế vừa nêu, rõ ràng chỉ có lý luận của chủ nghĩa Marx – Lenin và tư tưởng Hồ Chí Minh là

có cái nhìn toàn diện và biện chứng nhất, thể hiện tính đúng đắn của vấn đề cần xem xét Chính trị có vai trò to lớn đối với kinh tế, mang tính định hướng và điều tiết nó Suy rộng ra, trong quan hệ giữa hai quốc gia, thì sự tác động của quan hệ chính trị đối với quan hệ kinh tế cũng không nằm ngoài quy luật này, nhất là trong thời đại toàn cầu hóa mọi mặt của đời sống quốc tế, đặc biệt là kinh tế hiện nay Nếu quan

hệ chính trị không phát triển nhằm tạo ra những tác động tích cực cho quan hệ kinh

tế thì quan hệ kinh tế chắc chắn sẽ bị kìm hãm, và dù có tiến lên, thì cũng chỉ là từng bước chậm chạp mà thôi Mặt khác, quan niệm về “sức mạnh quốc gia” hiện nay là một sự tổng hòa các sức mạnh về kinh tế, chính trị, an ninh; theo đó các yếu

tố này có liên hệ chạc chẽ với nhau, không thể tách rời Do vậy, với tính định hướng

và điều tiết của mình, hai quốc gia phải thúc đẩy quan hệ chính trị của mình làm sao

Trang 25

để vừa giữ vững định hướng chính trị, đảm bảo lợi ích quốc gia, vừa tạo ra một môi trường ổn định thúc đẩy sự phát triển của quan hệ kinh tế song phương Có như vậy, không những quan hệ kinh tế giữa hai nước có bước đột phá, mà sự phát triển về kinh tế xã hội, về sức mạnh quốc gia của bản thân mỗi nước cũng chứng kiến những bước ngoặc mới Điều này sẽ góp thêm những viên gạch vào nền tảng vững chắc cho sự mở rộng quan hệ song phương về chính trị hơn nữa Sự tác động của quan hệ chính trị đối với quan hệ kinh tế trong khuôn khổ quan hệ song phương giữa hai nước là ở chỗ đó

Xét trường hợp cụ thể là quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ, rõ rằng thực tiễn quan

hệ hai nước đã chứng minh tính đúng đắn của lý luận trên Trước khi bình thường hóa quan hệ, hầu như quan hệ kinh tế giữa hai nước ở trạng thái “đóng băng” Như vậy, quan hệ chính trị khi đi vào ngõ cụt sẽ tác động xấu đến quan hệ kinh tế, kìm hãm nó tiến lên Song từ sau 1995 đến nay, tức là khi quan hệ chính trị dần đi vào

ổn định, thì quan hệ kinh tế cũng phát triển không ngừng Quan hệ chính trị đã tạo

ra một môi trường thuận lợi, đồng thời định hướng cho quan hệ kinh tế tiến lên theo hướng phục vụ lợi ích quốc gia của hai bên Đằng sau những sự kiện chính trị bao giờ cũng có bóng dáng của lợi ích kinh tế Hoa Kỳ từ một chủ thể đối lập về chính trị trở thành đối tác kinh tế hàng đầu của Việt Nam Từ đó, hai nước lại xóa dần những khoảng trống trong việc hiểu biết lẫn nhau, dần tìm thấy tiếng nói chung trong nhiều vấn đề, và tạo điều kiện hơn nữa cho quan hệ kinh tế song phương đi vào chiều sâu, bền vững và ổn định Sự tác động của quan hệ chính trị đến quan hệ kinh tế hai nước, không gì khác chính là sự tác động trở lại mạnh mẽ của kiến trúc thượng tầng đối với sơ sở hạ tầng như đã phân tích ở trên

1.2 Cơ sở thực tiễn về sự tác động của quan hệ chính trị đến quan hệ kinh tế

hai nước Việt Nam – Hoa Kỳ

1.2.1 Quá trình nhận thức mối quan hệ giữa chính trị và kinh tế ở Việt Nam

Trước đổi mới, quan hệ giữa kinh tế và chính trị chưa được nhìn nhận một cách biện chứng và toàn diện “Tư tưởng chủ quan duy ý chí, say sưa với thắng lợi năm 1975, nôn nóng muốn muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội trong một thời gian ngắn

Trang 26

đã dẫn đến việc bố trí sai cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư, cộng với những khiếm khuyết của mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp bộc lộ ngày càng rõ, làm cho kinh tế - xã hội rơi vào trì trệ, khủng hoảng nghiêm trọng, nhân dân mất lòng tin, đời sống gặp nhiều khó khăn” [38, tr 8] Đó là vì chính trị không phản ánh đúng kinh tế, chính trị bị tuyệt đối hóa, dẫn đến định hướng sai lầm, kìm hãm kinh tế phát triển Điều này, xét theo quy luật khách quan, chính là sự tác động theo hướng tiêu cực của chính trị đối với kinh tế Đặc biệt, cuộc khủng hoảng tại Liên Xô và khối xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, cũng như những cải cách, mở cửa ở Trung Quốc là những bài học tham khảo sinh động cho đời sống kinh tế, chính trị

xã hội của Việt Nam

Trước tình hình ấy, Việt Nam buộc phải thực hiện một sự lựa chọn mang tính sống còn, đúng như câu nói nổi tiếng của cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã tuyên bố tại Đại hội Đảng toàn quốc lần VI năm 1986: “Đổi mới hay là chết” Chính nhờ sự quyết tâm và kịp thời đổi mới, sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân

đã được giữ vững, khắc phục những khó khăn thách thức và đạt nhiều thành tựu to lớn, góp phần thiết thực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc xã hội chủ nghĩa Quá trình ấy diễn ra từng bước một và thể hiện rõ trong các nghị quyết của Đảng và hoạt động của Chính phủ Nói một cách khác, từ tư tưởng chủ quan duy ý chí, nhìn đời bằng một màu hồng, Đại hội Đảng lần VI năm 1986 đã chuyển sang nhìn thẳng vào sự thật khách quan Từ chỗ nhận định thế giới đang sôi sục trong ba dòng thác cách mạng, Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị (Khóa VII) năm 1988 chuyển sang xem xét các xu thế như: “khả năng đẩy lùi chiến tranh thế giới tăng lên”, “xu thế ưu tiên phát triển kinh tế”, “kinh tế thế giới ngày càng quốc tế hóa”, “xu thế đấu tranh và hợp tác trong cùng tồn tại giữa các nước có chế độ khác nhau ngày càng phát triển” [74, tr 7]

Có thể nói, một sự đổi mới toàn diện đã diễn ra, mà trước hết là trong tư duy, cách nhìn nhận về thế giới, hay cụ thể hơn là cách nhìn nhận về mối quan hệ giữa chính trị và kinh tế Chính trị tập trung phát triển kinh tế, đưa đất nước ra khỏi khủng hoảng được đặt làm trọng tâm trong thời kỳ đầu đổi mới “Bước vào thời kỳ đổi mới, đứng trước yêu cầu cấp bách phải dưa nền kinh tế nhanh chóng vượt qua

Trang 27

khủng hoảng… đường lối mở rộng quan hệ đối ngoại và hội nhập quốc tế ngày càng được bổ sung, hoàn thiện và được thực hiện tích cực hơn Đại hội VI của Đảng (1986) mở ra một bước ngoặt trong quá trình hội nhập quốc tế của nước ta Xác định phương hướng và nội dung của quan hệ kinh tế đối ngoại trong thời kỳ mới, Đại hội đề ra chủ trương: đẩy mạnh xuất nhập khẩu, thống nhất quản lý ngoại hối, tranh thủ vốn, viện trợ và vay dài hạn, khuyến khích đầu tư trực tiếp nước ngoài, hợp tác quốc tế về xuất khẩu lao động, phát triển các dịch vụ du lịch, vận tải biển và hàng không quốc tế…” [47, tr 257-258]

Sau đó là một loạt các chủ trương đường lối hoạt động của Đảng và nhà nước được triển khai rốt ráo nhằm đẩy mạnh xây dựng và phát triển kinh tế: như sự ra đời của Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987, Nghị quyết Hội nghị TƯ 3 (khóa VII) ngày 29/06/1992 về chủ trương mở rộng quan hệ với các tổ chức quốc tế đặc biệt là WB, IMF, ADB, chủ trương “xây dựng nền kinh tế mở” và “đẩy nhanh quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới” của Đại hội Đảng lần VIII (1996)… Cho đến Đại hội X là việc “không chỉ nhấn mạnh tính chủ động, mà còn cả tính tích cực của nước ta trong hội nhập kinh tế quốc tế… Theo đó, hội nhập kinh tế quốc tế được xác định là yêu cầu khách quan, do đó phải chủ động, có lộ trình với bước đi tích cực, vững chắc, không chần chừ do dự, nhưng cũng không nóng vội, giản đơn” [29,

tr 2] Như vậy, nhiện vụ, vai trò của chính trị nói chung, đường lối đối ngoại nói riêng là phải làm sao tạo được tác động tích cực đối với kinh tế, đưa đất nước phát triển bền vững nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia

Từ sau đổi mới đến nay, vai trò định hướng, tác động trở lại kinh tế, quan hệ kinh tế của chính trị, quan hệ chính trị được Đảng và Nhà nước nhìn nhận, đánh giá một cách toàn diện, biện chứng Từ đó, những bước đi làm biến đổi chính trị, quan

hệ chính trị sao cho phản ánh đúng kinh tế đương đại, nhằm định hướng và tạo môi trường ổn định cho kinh tế phát triển theo đúng quỹ đạo, mục tiêu đi lên chủ nghĩa

xã hội đã được thực hiện

Trước Đại hội Đảng lần VI năm 1986, Nghị quyết 32 của Bộ Chính trị ra đời

đã thể hiện tư duy mới về tập hợp lực lượng của Việt Nam; hay nói cách khác, đó là

sự thể hiện tư duy mới về vai trò của quan hệ chính trị Nghị quyết chủ trương “chủ

Trang 28

động chuyển sang thời kỳ cùng tồn tại hòa bình, góp phần xây dựng Đông Nam Á thành một khu vực hòa bình, ổn định và hợp tác” [10, tr 6] Điều này thể hiện sự bắt kịp xu thế của thời đại lúc bấy giờ (Liên Xô và Hoa Kỳ đi vào thời kỳ hòa diệu, đàm phán giải quyết các điểm nóng) Sau đó là Đại hội VI với công cuộc đổi mới toàn diện; rồi Nghị quyết 13 của Bộ Chính trị (1988) – cở sở của chính sách đối ngoai đổi mới với sự khẳng định tiếp tục phương châm “chủ động chuyển cuộc đấu tranh từ trạng thái đối đầu hiện nay sang đấu tranh và hợp tác trong cùng tồn tại hòa bình” [74, tr 7]; Đại hội Đảng lần VII (1991) với chủ trương “Việt Nam muốn là bạn với tất cả các nước trong cộng đồng thế giới, phấn đầu vì hòa bình, độc lập và phát triển” [24, tr 149]; … đến sự khẳng định của Đại hội X (2006) – “Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực” [23, tr 112]; tất cả đã cho thấy tầm nhìn mới

về vai trò của chính trị, quan hệ chính trị Các yếu tố này phải được củng cố, phát triển nhằm tiếp tục “giữ vững môi trường hòa bình, tạo điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc đổi mới, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xậy dựng và bảo vệ tổ quốc” [23, tr 112] Sự tác động của chính trị, quan hệ chính trị đối với kinh tế, quan hệ kinh tế đã được nhận thức và thực hiện như vậy

Thực tế 20 năm đổi mới cùng với những thành tựu đạt được đã chứng minh tính đúng đắn, toàn diện và biện chứng của Đảng và Nhà nước trong việc xem xét quan hệ giữa chính trị và kinh tế (suy rộng ra là quan hệ chính trị và quan hệ kinh tế với các nước khác) Từ chỗ nhận định đúng đi đến giải quyết hợp lý quan hệ giữa chính trị và kinh tế đã tạo điều kiện cho kinh tế và quan hệ kinh tế của Việt Nam phát triển ổn định, từ đó chính trị và quan hệ chính trị của Việt Nam có bước tiến xa hơn, mở rộng hơn

1.2.2 Chính sách của Việt Nam đối với Hoa Kỳ

Trên cở sở nhận thức mối quan hệ giữa chính trị và kinh tế, cũng như sự tác động của chính trị đối với kinh tế như đã phân tích ở trên, Việt Nam (xét trong mối quan hệ song phương với Hoa Kỳ) đã có những chính sách phù hợp, và ngày càng

Trang 29

kiện toàn hơn để thúc đẩy quan hệ chính trị giữa hai nước phát triển hơn nữa, đi vào chiều sâu, ổn định và hợp tác, từ đó tạo ra tác động thuận lợi cho quan hệ kinh tế phát triển xứng tầm với tiềm năng của quan hệ song phương này, phục vụ lợi ích quốc gia, dân tộc và mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Cụ thể là:

Tư duy mới về tập hợp lực lượng của Việt Nam đề ra tại nghị quyết 32 của

Bộ Chính trị năm 1986 đã được cụ thể hóa bằng tư tưởng “thêm bạn – bớt thù” của Nghị quyết 13 Bộ Chính trị (1988), đặc biệt là chủ trương tiếp xúc với Mỹ để có bước đi mới trong quan hệ với nước lớn này Để khơi thông mối quan hệ với Hoa

Kỳ, Việt Nam đã có những động thái tích cực như giải quyết rốt ráo vấn đề Campuchia, không nêu vấn đề bồi thường chiến tranh, hợp tác với Mỹ trong vấn đề MIA, con lai, đoàn tụ gia đình trong chương trình ra đi có trật tự, tạo điều kiện cho các tổ chức phi chính phủ Mỹ mở văn phòng đại diện tại Việt Nam…Tuyên bố của Thủ tướng Võ Văn Kiệt đã khẳng định chính sách mới của Việt Nam đối với Hoa

Kỳ từ 1995 trở đi, đó là: “Việt Nam sẵn sàng cùng Chính phủ Hoa Kỳ thỏa thuận một khuôn khổ mới giữa hai nước trên cở sở bình đẳng, tôn trọng độc lập, chủ quyền, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, cùng có lợi và phù hợp với các nguyên tắc phổ biến của luật pháp quốc tế Tôi mong rằng chính phủ và nhân dân hai nước sẽ hợp tác có hiệu quả trong việc tiếp tục giải quyết các vấn đề nhân đạo do chiến tranh để lại ở cả hai bên, mở rộng quan hệ trên các lĩnh vực hai bên cùng quan tâm, trước hết là lĩnh vực kinh tế, thương mại, khoa học kỹ thuật… Chính phủ và nhân dân Việt Nam cho rằng, bước phát triển mới của quan hệ Việt Nam – Hoa Kỳ sẽ tạo điều kiện cho cộng đồng người Việt Nam ở Mỹ gần gũi hơn với đất nước Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam kêu gọi đồng bào Việt Nam tại Hoa Kỳ hãy đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau, phấn đấu cho một cuộc sống yên bình và thịnh vượng, góp phần phát triển mối quan hệ mới giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, chung sức với đồng bào trong nước xây dựng Tổ quốc Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh” [98, tr 36-37]

Như vậy, quan hệ chính trị với Hoa Kỳ thực sự được Việt Nam coi trọng và mong muốn phát triển Và như lời khẳng định của Thủ tướng Việt Nam, đó không chỉ đơn thuần là quan hệ giữa hai nhà nước, mà còn là quan hệ với cộng đồng người

Trang 30

Việt Nam đang sinh sống tại Hoa Kỳ Quan hệ chính trị tốt đẹp sẽ tạo ra môi trường

lý tưởng cho sư vận động, phát triển của các quan hệ khác, đặc biệt là “lĩnh vực kinh tế, thương mại” Chính sách đối ngoại của Việt Nam đối với Hoa Kỳ đã dựa trên nền tảng nhận thức về vai trò to lớn của chính trị đối với kinh tế

Thêm nữa, một loạt khẳng định của Việt Nam về phương châm hợp tác từ

“Việt Nam muốn là bạn” đến “Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước” trên tinh thần đôi bên cùng có lợi đã được liên tục khẳng định và kiên quyết thực hiện qua các kỳ Đại hội VII (1991), VIII (1996), IX (2001), X (2006) đã minh chứng cho thiện chí hợp tác của Việt Nam, một chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa,

đa dạng hóa với các nước trên thế giới, trong đó có Hoa Kỳ Hoa Kỳ có vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển của Việt Nam, bởi lẽ:

Trên phương diện chính trị, Hoa Kỳ là một siêu cường có sức ảnh hưởng lớn lớn nhất hiện nay Việc đẩy mạnh quan hệ với Hoa Kỳ, không những giúp Việt Nam hội nhập sâu hơn mà còn giúp Việt Nam thực hiện cân bằng tốt hơn trong quan hệ với các nước lớn, góp phần tạo ra môi trường hòa bình ổn định trong và ngoài nước

Trên phương diện kinh tế, Hoa Kỳ không những là thị trường khổng lồ không thể bỏ qua, là bàn đạp xâm nhập vào các thị trường khó tính khác, mà còn là nguồn cung dồi dào về dòng vốn đầu tư, về chuyển giao công nghệ, về chất xám… cái mà một quốc gia đang phát triển như Việt Nam rất cần hiện nay

Song, trong mối quan hệ với các nước lớn, kể cả Hoa Kỳ, Việt Nam vẫn nhận định rất rõ về vấn đề “đối tác” & “đối tượng” theo tinh thần của Nghị quyết

TƯ VIII (Khóa IX) năm 2003 Theo đó, quan hệ giữa Việt Nam và các nước lớn phải được thể hiện trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; và trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng không được để “rơi vào thế đối đầu, cô lập hoặc phụ thuộc” [4, tr.44]

Nhìn chung, quan hệ với Hoa Kỳ là một trong những trụ cột trong quan hệ đối ngoại của Việt Nam Việc thúc đẩy quan hệ chính trị với siêu cường duy nhất trên thế giới hiện nay sẽ giúp Việt Nam không những thúc đẩy quan hệ kinh tế hơn nữa với quốc gia này, mà còn giúp Việt Nam đẩy mạnh phát triển kinh tế trong

Trang 31

nước, góp phần thiết thực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Thêm vào đó, việc thúc đẩy quan hệ chính trị với Hoa Kỳ còn giúp tạo ra một môi trường ổn định, đảm bảo cho sự phát triển bền vững

1.2.3 Chính sách của Hoa Kỳ đối với Việt Nam

Việt Nam là một nước nhỏ, nhưng cũng có tầm quan trọng trong chính sách của Hoa Kỳ, đặc biệt là từ sau sự kiện 11/09 Trong quan hệ với Việt Nam, Hoa Kỳ thực hiện chính sách từng bước từ cấm vận đến nới lỏng cấm vận rồi mới bình thường hóa quan hệ Dù trong các giai đoạn khác nhau, các bước triển khai của Hoa

Kỳ là khác nhau, tuy nhiên mục tiêu chiến lược của Hoa Kỳ trong quan hệ với Việt Nam vẫn luôn kiên định là “thông qua việc phát triển quan hệ với Việt Nam, từng bước hướng Việt Nam đi theo con đường thị trường tự do, từ đó tạo sự chuyển biến

về chính trị ở Việt Nam” [109, tr 2]

Tù đầu thế kỷ XXI đến nay, Hoa Kỳ ngày càng coi trọng khu vực châu Á – Thái Bình Dương, và chuyển trọng tâm chiến lược sang khu vực này Hoa Kỳ cho rằng nơi đây hàm chứa nhiều nguy cơ thách thức lợi ích của mình, do đó cần phải

có những biện pháp thiết thực củng cố vai trò và sự hiện diện của Mỹ trong khu vực Điều này không nằm ngoài mục đích phục vụ chiến lược toàn cầu của Mỹ Việc thúc đẩy quan hệ với Việt Nam sẽ hỗ trợ hữu hiệu cho mục tiêu này Nếu quan

hệ tốt với Việt Nam, Hoa Kỳ vừa có thể kiềm chế các nước lớn trong khu vực mà trước hết là Trung Quốc [27, tr 38-39], vừa có thể sử dụng Việt Nam làm bàn đạp phát huy ảnh hưởng đối với cả Đông Dương, và trên cơ sở đó mở rộng ra toàn Đông Nam Á Mặt khác, Việt Nam là một trong những quốc gia đang lên tại khu vực, với tốc độ tăng trưởng cao, ổn định và liện tục qua nhiều năm, cùng môi trường kinh doanh hấp dẫn là một sức hút không thể bỏ qua của Hoa Kỳ Tổng thống Bill Clinton, trong tuyên bố bình thường hóa quan hệ với Việt Nam, đã phát biểu:

“Chúng ta sẽ bắt đầu bình thường hóa các quan hệ buôn bán của chúng ta với Việt Nam, là nước mà nền kinh tế của họ đang tự do hóa và hòa nhập vào nền kinh tế của khu vực châu Á – Thái Bình Dương” [99, tr 39]

Trang 32

Mặt khác, như đã phân tích ở trên, mục tiêu thực hiện “diễn biến hòa bình” ở Việt Nam vẫn mang tính chiến lược, không thay đổi trong chính sách của Hoa Kỳ đối với Việt Nam Cũng trong tuyên bố bình thường hóa quan hệ với Việt Nam, Tổng thống B Clinton nêu rõ: “Bằng việc giúp đưa Việt Nam hòa nhập cộng đồng các dân tộc, việc bình thường hóa còn phục vụ lợi ích của chúng ta trong việc phấn đấu cho một nước Việt Nam tự do và hòa bình ở châu Á ổn định và hòa bình… Tôi tin rằng việc bình thường hóa và tăng cường các cuộc tiếp xúc giữa người Mỹ và người Việt Nam sẽ thúc đẩy sự nghiệp tự do của Việt Nam như đã từng diễn ra ở Đông Âu và Liên Xô trước đây” [99, tr 39-40] Chủ trương “diễn biến hòa bình” ấy

sẽ được thực hiện thông qua các biện pháp: chi phối đầu tư, ngoại giao thân thiện và khoét sâu mâu thuẫn nội bộ [64, tr 105] Như vậy, vai trò của chính trị đối với kinh

tế trong quan hệ song phương với Việt Nam rất được coi trọng trong chính sách của Hoa Kỳ Quan hệ chính trị sẽ tạo đà cho những biến đổi kinh tế sâu xa, đưa kinh tế Việt Nam chuyển dần sang mô hình kinh tế thị trường tự do kiểu phương Tây dưới

sự cầm trịch của Mỹ Vô hình chung, Mỹ sẽ dễ dàng kiểm soát Việt Nam hơn về kinh tế, và dần tạo ra sự thay đổi căn bản về ý thức hệ

Từ sau sự kiện 11/09/2001, châu Á – Thái Bình Dương lại càng thu hút sự chú tâm của Hoa Kỳ Chính quyền Bush coi đây là một trong những mặt trận chống khủng bố của Mỹ trên phạm vi toàn cầu Việt Nam trong khu vực có một ý nghĩa chiến lược rất quan trọng đối với Hoa Kỳ Vì Việt Nam là một nước với dân số lớn thứ hai Đông Nam Á,với sự phát triển ổn định về mọi mặt, kinh tế, quân sự, văn hóa – xã hội… và tài nguyên thiên nhiên lớn Đồng thời, vị trí của Việt Nam trong các

tổ chức khu vực và quốc tế ngày càng được củng cố và phát triển Mặt khác, về địa chiến lược, Việt Nam có chung đường biên giới với Trung Quốc và vi trí cửa ngõ ra vào Đông Nam Á lục địa cũng như hải đảo Giới chức quốc phòng Mỹ rất coi trọng tiềm năng này Bài phát biểu của Tư lệnh các lực lượng Mỹ ở Thái Bình Dương có nêu: “Washington đang tìm cách thương lượng với Chính phủ Việt Nam để sử dụng hải cảng trong vịnh Cam Ranh yểm trợ cho các hoạt động của Mỹ trong vùng Đông Nam Á” [81, tr 1] Rõ ràng, điều này thể hiện mục tiêu kiềm chế ảnh hưởng của các nước lớn trong khu vực, đặc biệt là Trung Quốc, cũng như tham vọng khép kín

Trang 33

“vành nan hoa” của Mỹ trong khu vực Song song đó, trong việc theo đuổi mục tiêu mang tính chiến lược trong quan hệ với Việt Nam, Hoa Kỳ cho rằng cần phải can

dự và dính liếu tới Việt Nam bằng cách đưa Việt Nam vào quỹ đạo phát triển chung [87, tr 7] Thêm nữa, Hoa Kỳ cũng rất lưu tâm phát triển quan hệ kinh tế với Việt Nam, vì “Theo đánh giá của Hoa Kỳ, Việt Nam được coi là một trong số 10 thị trường lớn đang nổi lên” [88, tr 128]

Tựu chung lại, Chính sách của Hoa Kỳ đối với Việt Nam vẫn luôn mang tính hai mặt [85, tr 536] Một mặt là lợi dụng quan hệ với Việt Nam nhằm kiềm chế ảnh hưởng của Trung Quốc và các nước lớn khác, đảm bảo lợi ích và an ninh của Mỹ trong khu vực, cũng như lắp đầy khoảng trống quyền lực mà Mỹ đã bỏ lại từ sau

1975 Mặt khác, Hoa Kỳ không những tranh thủ thị trường Việt Nam cho hoạt động kinh doanh của mình, mà còn tiến hành “diễn biến hòa bình” Nói một cách khái quát hóa, Mỹ muốn lợi dụng quan hệ chính trị để gây ra biến đổi trong quan hệ kinh

tế (nghĩa là thúc đẩy quan hệ chính trị nhằm hướng Việt Nam theo mô hình kinh tế

tự do theo kiểu phương Tây), từ cơ sở kinh tế với các giá trị phương tây ấy nếu đạt được, tất yếu sẽ dẫn đến những biến đổi về mặt chính trị theo hướng “triệt tiêu mục tiêu và bản chất xã hội chủ nghĩa của Việt Nam” [3, tr 13]

1.2.4 Khái quát về sự tác động của yếu tố chính trị đối với yếu tố kinh tế trong

quan hệ song phương Việt Nam – Hoa Kỳ giai đoạn 1954 – 1994

“Chưa có lúc nào trong lịch sử quan hệ Việt – Mỹ từ thời T Jefferson thế kỷ thứ XVIII đến nay, quan hệ Việt – Mỹ lại trở nên đen tối và bi thảm như thời kỳ chiến tranh xâm lược của Mỹ ở Việt Nam (1954 – 1975)” [64, tr.22] Khi quan hệ chính trị giữa hai nước trở nên xấu đi, nó đã kìm hãm sự phát triển của quan hệ kinh

tế theo hướng rất tiêu cực Cụ thể là: sau Hiệp định Genève năm 1954, Mỹ nhảy vào thay chân Pháp xâm lược Việt Nam, trong danh sách các nước bị Mỹ cấm vận (dựa theo Đạo luật gia hạn các Hiệp định Thương mại năm 1951 và Biểu thuế quan năm 1962) đã liệt kê miền Bắc Việt Nam Thực chất, đây chính là “sản phẩm trực tiếp của chiến lược toàn cầu phản cách mạng của Hoa Kỳ trong khuôn khổ chiến tranh lạnh và trật tự thế giới hai cực Yalta” [64, tr 28] Chính sự đối đầu về chính trị đã

Trang 34

tác động xấu tới quan hệ kinh tế, đưa đến sự tuyệt giao giữa hai bên trong quan hệ này

Sau nhiều cố gắng của Việt Nam, Hiệp định Paris đã được ký kết tạo cơ sở cho việc bình thường hóa quan hệ hai nước; song, do chính sách thù địch từ phía

Mỹ, quan hệ song phương về chính trị vẫn không có những chuyển biến mới Do vậy, quan hệ kinh tế ngày càng lâm vào bế tắc hơn Năm 1974, Hoa Kỳ thông qua Đạo luật thương mại – bản sửa đổi bổ sung Jackson – Vanik ngăn cản các hoạt động thương mại và đầu tư với Việt Nam Và tiếp sau đó, khi miền nam Việt Nam hoàn toàn được giải phóng thì chính sách cấm vận mặc nhiên được mở rộng ra toàn Việt Nam Về mặt hình thức, đây là sự cấm vận về kinh tế đối với Việt Nam, song nó lại bắt nguồn từ quan hệ chính trị mà ra Tổng thống Mỹ J Ford đã khẳng định rằng:

“Tôi không hề nói chúng ta (Mỹ) sẽ tìm kiếm việc bình thường hóa các quan hệ hoặc thừa nhận Bắc Việt Nam” [31,tr 59] Có thể thấy, trong thời gian này, các

“cánh cửa để ngỏ” cho việc bình thường hóa quan hệ hai nước từ phía Mỹ chỉ là vỏ bọc bên ngoài mà thôi, còn thực tế, quan hệ chính trị giữa hai nước vẫn ở trạng thái

“đóng băng” và lệnh cấm vận vẫn tiếp tục Hay nói cách khác, “chính sách ngoại giao cấm vận chống Việt Nam có thể nói gọn là sự kéo dài một cuộc chiến tranh chưa từng được chính thức phát động, nhưng chưa từng được chính thức kết thúc” [49, tr 44]

Như vậy, trong suốt một thời gian dài đặc biệt là từ sau 1975 đến đầu thập niên 90, quan hệ kinh tế giữa hai nước gần như là con số 0 Điều này không nằm ngoài cái bóng của chính sách cấm vận của Mỹ Nói cách khác, đây là kết quả từ quan hệ chính trị rất xấu giữa hai nước Có thể nói, trong giai đoạn này sự tác động của quan hệ chính trị đối với quan hệ kinh tế là hoàn toàn theo hướng tiêu cực, không có lợi cho cả hai bên Mà nguyên nhân của điều này phần lớn bắt nguồn từ phía Hoa Kỳ “Người ta không thể giả sử và cũng không thể làm lại được lịch sử, nhưng nếu Hoa Kỳ tôn trọng Hiệp định Genève như đã tuyên bố, thí có thể họ đã có

“điểm dừng” và tránh được sự sa lầy…” – lời của cựu bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mac Namara [64, tr 21]

Trang 35

Bước sang thập kỷ 90, tầm quan trọng của kinh tế đối với sự phát triển của đất nước ngày càng được coi trọng, nhất là trong bối cảnh Việt Nam triển khai đường lối đối ngoại đổi mới qua các kỳ Đại hội Đảng lần VI (1986) và lần VII (1991), sát hợp với xu thế hòa bình hợp tác và phát triển trên toàn cầu Từ chỗ nhận thức rằng so với các nước đang phát triển khác, Việt Nam chưa có được quan hệ quốc tế hoàn toàn bình thường (đặc biệt là quan hệ với các nước lớn), yếu tố chính trị này sẽ kìm hãm kinh tế Việt Nam phát triển, ngăn cản quá trình hội nhập, phát triền bền vững của chính mình, Việt Nam đã định hướng khơi thông quan hệ chính trị với tất cả các chủ thể trong quan hệ quốc tế, đặc biệt là Hoa Kỳ để tạo đà cho quan hệ kinh tế bước sang trang mới “Việt Nam coi Mỹ là một nước lớn có vai trò rất quan trọng đối với tương lai hòa bình và phồn vinh của châu Á – Thái Bình Dương Việt Nam luôn mong muốn quan hệ với Mỹ được bình thường hóa không điều kiện vì lợi ích nhân dân hai nước, vì hòa bình ổn định, hợp tác của châu Á – Thái Bình Dương Đó là mục tiêu phấn đấu của Việt Nam” [11, tr 108]

Về phần Hoa Kỳ, với tư cách là một siêu cường tư bản chủ nghĩa thì càng không thể không nhận thức được xu thế chung của thế giới, và những lợi ích của kinh tế Hơn nữa, trong chính sách đối với Việt Nam thì kinh tế sẽ là một công cụ hữu hiệu cho việc thực hiện “diễn biến hòa bình” Ngoại trưởng Mỹ W Christopher cho rằng: “nhiều nước khác trên thế giới đang vượt Mỹ trong những cố gắng về thương mại ở Việt Nam… Chúng ta có thể giúp các ngành công nghiệp và kinh doanh Mỹ đuổi kịp bằng cách tiến nhanh hơn nữa trên con đường này” [80, tr.4]

Các xúc tiến, trao đổi chính trị trên cơ sở đó đã được hình thành nhằm tạo ra tác động có lợi hơn không những cho quan hệ kinh tế song phương, mà còn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế quốc dân của riêng mỗi nước Sau các cuộc tiếp xúc đầu tiên về ngoại giao quan trọng trong thời kỳ này như: cuộc gặp của Thứ trưởng Ngoại giao Lê Mai và Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ R Solomon; chuyến thăm

Mỹ của Ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch năm 1990, Bản lộ trình bốn giai đoạn cho việc bình thường hóa quan hệ với Việt Nam đã được Mỹ đưa ra năm 1991 Hiệu ứng lan tỏa của những bước tiến ngoại giao này đối với quan hệ kinh tế hai nước đã dần được hình thành Có thể kể đến như sau: Năm 1991, lệnh cấm vận du lịch có tổ

Trang 36

chức vào Việt Nam được nới lỏng, Cơ quan viện trợ quốc tế Mỹ (USAID) được phép viện trợ nhân đạo cho Việt Nam Bên cạnh đó, kiều hối chuyển từ Mỹ về Việt Nam cũng được phần nào khơi thông Công dân Mỹ khi vào Việt Nam có thể chi tiêu không quá 200 USD/ngày [50, tr 177], tức là gấp đôi so với mức trước năm

1991

Năm 1992, hai bên ký kết Hiệp định lập lại đường dây liên lạc viễn thông trực tiếp giữa Việt Nam và Hoa Kỳ Sau đó, các tổ chức phi chính phủ (NGO) được phép vào Việt Nam, và quan trọng hơn trong quan hệ kinh tế hai nước là các doanh nghiệp đã được xuất khẩu sang Việt Nam một số nhu yếu phẩm hằng ngày Ngoài

ra, tổng thống Bush cũng tuyên bố bước đầu cho phép các nhà kinh doanh Mỹ được vào Việt Nam thăm dò thị trường Tuy nhiên, mọi hợp đồng kinh doanh nếu được

ký kết cũng phải chờ khi lệnh cấm vận được bãi bỏ hoàn toàn mới được thực hiện Theo những nghiên cứu của CitiBank, có đến 75% trong tổng số 162 công ty Mỹ [64, tr 70] đang hoạt động tại châu Á – Thái Bình Dương được hỏi cho biết họ rất muốn làm ăn tại Việt Nam Như thế, từ một bầu không khí u ám trong quan hệ kinh

tế, chính sự thúc đẩy trong quan hệ chính trị đã có tác động tích cực lên quan hệ này, làm nó từng bước phát triển theo hướng tích cực hơn Rõ ràng, khi chính trị bắt đầu khởi sắc, tuy chỉ là bước đầu, nhưng cũng tạo ra những hướng tác động có lợi cho quan hệ kinh tế song phương

Tuy nhiên, cuộc đấu tranh trên mặt trận ngoại giao không phải là những gợn sóng êm ả mà lúc nào cũng đầy chông gai Chính sách của Hoa Kỳ trong quan hệ chính trị đối với Việt Nam luôn thể hiện tính hai mặt Suy cho cùng, đây là phương thức “vừa đấm vừa xoa” Một mặt thúc đẩy quan hệ kinh tế, song mặt khác, Hoa Kỳ lại có những động thái hướng trong quan hệ chính trị theo hướng kìm hãm quan hệ kinh tế song phương phát triển Điều này giúp tạo ra con bài để mặc cả với Việt Nam, ép Việt Nam “cải cách” theo ý đồ “diễn biến hòa bình” đã đề ra từ đầu Nếu mục tiêu trên thực hiện được thì: một là kinh tế Việt Nam sẽ bị chính trị biến đổi thành kinh tế thị trường theo mô hình phương Tây, từ đó dần tạo ra diễn biến trong

ý thức hệ; hai là kinh tế Việt Nam sẽ ngày càng lệ thuộc vào Mỹ hơn Do đó, chính trị sẽ làm kinh tế, quan hệ kinh tế của Việt Nam với Hoa Kỳ thay đổi căn bản Tiêu

Trang 37

biểu là việc Chính quyền Bush vẫn lợi dụng một số yếu tố như vấn đề hồi hương hài cốt lính Mỹ, vấn đề tiếp cận các thông tin liên quan đến POW/MIA để trì hoãn việc

bỏ lệnh cấm vận buôn bán với Việt Nam Đỉnh cao là tuyên bố gia hạn thêm lệnh cấm vận một năm nữa theo Điều luật bôn bán với kẻ thù (TWEA) được tổng thống

G Bush đưa ra vào năm 1992 Điều này đã dẫn tới việc quan hệ kinh tế giữa hai nước tiếp tục bị bịt kín thay vì khơi thông như mong đợi của cả hai bên Sự kiện này không những vấp phải sự phản đối từ phía Việt Nam, mà còn chính trong lòng nước

Mỹ

Song, một nghịch lý xảy ra là “lệnh cấm vận tự nó đã trở thành một trò cười khôi hài từ ít lâu này rồi Nhiều hàng tiêu dùng của Mỹ đã được bày bán khắp mọi nơi và một số công ty Mỹ đã tìm cách mở chi nhánh và hoạt động tại Việt Nam qua các đại lý của họ đăng ký tại các nước khác” [79, tr 16-17] Đồng thời, các quốc gia

dù là đồng minh của Mỹ cũng bất chấp lệnh cấm vận và sức ép của Mỹ để đi trước một bước trong quan hệ thương mại với Việt Nam Trong khi Mỹ chậm chân trong quan hệ kinh tế do sự kìm hãm của quan hệ chính trị song phương, thì theo thông tin của tờ Washington Post, tổng vốn đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam năm 1992

đã đạt 3 tỷ USD, tăng 1/3 lần so cùng kỳ năm trước, trong đó vốn đầu tư từ Đài Loan và Hong Kong chiếm đến 40% (đạt 1,2 tỷ USD) [64, tr.74] Ngay đến Nhật Bản năm 1992 cũng bắt đầu có những quan hệ tín dụng với Việt Nam với giá trị cho vay đạt 369 triệu USD cùng lãi suất thấp [64, tr 72] Cho nên, một chính sách tiêu cực hóa quan hệ chính trị song phương được Hoa Kỳ cố gắng theo đuổi lại vô tình tạo ra khả năng tụt hậu của Mỹ so với các đối thủ khác trong cuộc cạnh tranh xâm nhập thị trường Việt Nam

Thực tiễn quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đặt trong các quan hệ kinh tế với những chủ thể khác đã “tạo ra một áp lực để Mỹ bãi bỏ cấm vận về kinh

tế chống lại Việt Nam Giờ đây, chính Hoa Kỳ lại bị cô lập trong khi tìm cách duy trì các biện pháp chế tài chống lại một nước mà cựu thù của họ trước kia đã trở thành những nước bạn hàng và đầu tư quan trọng” [79, tr 16] Rõ ràng, quan hệ chính trị theo hướng tiêu cực nhằm kìm hãm quan hệ kinh tế đã không còn phù hợp với nhu cầu phát triển mới Do vậy quan hệ chính trị buộc phải thay đổi, từ chỗ kìm

Trang 38

hãm quan hệ kinh tế phát triển sang tạo ra môi trường thuận lợi, tạo ra động lực thúc đẩy quan hệ kinh tế tiến lên phía trước

Những chuyển biến mới mang tính tích cực trong quan hệ chính trị đã được khởi sắc khi Hoa Kỳ có tổng thống mới, cùng với việc Việt Nam cố gắng hơn trong việc xóa nhòa những ngăn trở trong quan hệ ngoại giao, cụ thể như tích cực hơn trong vấn đề vấn đề POW/MIA Đây là sự cố gắng của Việt Nam dù rất nhiều hài cốt của bộ đội Việt Nam vẫn chưa được tìm thấy điều này đã phần nào thúc đẩy quá trình bình thường hóa quan hệ Việt – Mỹ, mặc dù Việt Nam luôn kiên định quan điểm tách bạch rõ ràng giữa vấn đề nhân đạo và vấn đề chính trị Trợ lý Bộ trưởng Ngoại giao Mỹ về các vấn đề châu Á – Thái Bình Dương Winston Low cho rằng: “Việt Nam đã thừa nhận chính sách mở cửa thị trường, mở ra những triển vọng đầy hứa hẹn cho buôn bán và đầu tư … Cộng đồng kinh doanh Mỹ đang nóng lòng muốn tận dụng cơ hội này để cạnh tranh có hiệu quả với các nước khác” [80,

tr 4] Như vậy ngay cả Hoa Kỳ cũng nhận thấy rằng quan hệ chính trị, nếu tác động lên quan hệ kinh tế theo hướng tích cực thì sẽ phản ảnh đúng thực tiễn kinh tế khách quan, tạo ra động lực, môi trường tốt cho quan hệ kinh tế vươn lên tầm cao mới

Sự tác động theo hướng tích cực của quan hệ chính trị đối với quan hệ kinh

tế đã được manh nha khi năm 1993, Bank of America mở văn phòng đại diện tại Hà Nội, sau đó là nhiều công ty lớn khác của Mỹ như Vatico, Philip Morris, P Llar, IBM cũng nối gót theo sau Thêm vào đó, trong giai đoạn cuối năm 1993, Tổng thống Mỹ B Clinton tuyên bố nới lỏng lệnh cấm vận đối với Việt Nam và cho phép các doanh nghiệp Hoa Kỳ được đấu thầu các dự án ở Việt Nam do các thể chế tài chính quốc tế tài trợ Trong cuộc gặp giữa Thủ tướng Phan Văn Khải với Ngoại trưởng Mỹ W Christopher tại Washington năm 1993, “phía Mỹ tuyên bố giữa Hoa

Kỳ và Việt Nam đã không còn tình trạng chiến tranh, và Mỹ đã không còn coi Việt Nam là kẻ thù” [64, tr 81]

Và đỉnh cao của sự tác động từ quan hệ chính trị vào quan hệ kinh tế hai nước là sự kiện ngày 03/02/1994, Tổng thống Hoa Kỳ B Clinton tuyên bố chính thức bãi bỏ lệnh cấm vận thương mại đối với Việt Nam, và chấp thuận việc thành

Trang 39

lập cơ quan liên lạc giữa hai nước Sự kiện này có ý nghĩa về mặt kinh tế trong việc thúc đẩy sự phát triển quan hệ kinh tế Việt Nam – Hoa Kỳ Sau những cố gắng của quá trình đấu tranh chính trị không mệt mỏi, quan hệ kinh tế giữa hai nước đã có dấu hiệu được khơi thông Có thể nói, tuy mang ý nghĩa kinh tế, nhưng căn nguyên của sự kiện này là sự nhận thức và cố gắng khơi thông quan hệ với nhau trên bình diện chính trị từ cả hai bên Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm, trong bài phát biểu tại Hội châu Á, khẳng định: “Quan hệ giữa hai nước đã bước sang một giai đoạn mới Việt Nam và Mỹ không còn là kẻ thù của nhau, trái lại chúng ta đã

và đang từng bước mở rộng các lĩnh vực hợp tác phù hợp với lợi ích của nhân dân hai nước, vì hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực” [61, tr 320] Về mặt thực tiễn, sự kiện bãi bỏ cấm vận đã tác động tích cực đến quan hệ kinh tế Một phái đoàn của Bộ Thương mại Mỹ đã lập tức sang Việt Nam chuẩn bị cho việc phát triển quan hệ kinh tế hai nước

Về thương mại, từ chỗ hầu như không có quan hệ, thì những trao đổi thương mại chính thức đã bước đầu manh nha [Chi tiết xin xem Phụ lục 2: Bảng 2.1.1; Bảng 2.1.2; Bảng 2.1.3]

Như vậy chỉ sau một năm khi lệnh cấm vận được bãi bỏ, kim ngạch thương mại hai chiều đã tăng đáng kể (năm 2004 tăng đến trên 30 lần so với năm 1993) Song chiếm tỷ trọng chủ yếu vẫn là, kim ngạch nhập khẩu từ Hoa Kỳ Hay nói cách khác, quan hệ thương mại tuy có những bước tiến ban đầu, nhưng chưa xứng tầm với tiềm năng quan hệ hai nước Việt Nam trong giai đoạn này đang ở trong tình trạng nhập siêu so với Mỹ Một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên là

do Hoa Kỳ vẫn chưa dành cho Việt Nam Quy chế Tối huệ quốc (MFN) và chế độ Thuế quan ưu đãi phổ cập (GSP) Có thể nói, việc quan hệ chính trị chỉ có dấu hiệu tốt đẹp chứ chưa phát triển nhanh chóng đã làm quan hệ kinh tế vận động theo khuynh hướng tương tự

Trên một khía cạnh khác, quan hệ đầu tư giữa Việt Nam và Hoa Kỳ cũng chuyển động cùng chiều với quan hệ thương mại sau khi có sự tác động tích cực từ quan hệ chính trị hai nước [Chi tiết xin xem Phụ lục 2: Bảng 2.1.4]

Trang 40

Rõ ràng, trong suốt một thời gian dài gần như chuyển động tịnh tiến, quan

hệ đầu tư giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đã có bước nhảy vọt, chỉ trong một thời gian ngắn so với trước đó (tăng trưởng của giai đoạn 2 năm 1993-1994 so với giai đoạn 6 năm 1987-1993 lên đến 71,83 lần) Có thể nhận định rằng, khi quan hệ chính trị tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển của quan hệ kinh tế, thì quan hệ kinh tế tất yếu sẽ đi lên Thực tiễn quan hệ đầu tư cũng góp phần chứng minh sự tác động tích cực cúa quan hệ chính trị đến quan hệ kinh tế hai nước Song, một tồn tại cần xem xét là quan hệ đầu tư vẫn còn mang tính một chiều, do quan hệ chính trị vẫn chưa phát triển toàn diện Nó đã tạo ra một rào cản cho sự đi lên của quan hệ kinh tế Điều này cần được sớm khắc phục để quan hệ đầu tư hai nước chứng kiến một thời

kỳ mới theo hướng lạc quan hơn

Về các quan hệ kinh tế khác, nhìn chung cũng đã có sự phát triển theo hướng tích cực Điển hình như việc Việt Nam đã tích cực thúc đẩy quan hệ với Mỹ trong lĩnh vực tài chính quốc tế “Việc xử lý những tồn đọng về tài chính này là điều tất yếu phải làm trong quan hệ quốc tế nói chung (không chỉ riêng với Mỹ) khi chúng

ta thực hiện đường lối kinh tế đối ngoại của Đảng” [40] Về phần mình, Hoa Kỳ cũng có những động thái tích cực như việc thôi không ngăn cản các thể chế tài chính quốc tế và các quốc gia khác hỗ trợ Việt Nam trong việc xử lý các khoản nợ quá hạn trong khuôn khổ của Câu lạc bộ Paris Như vậy sau những chuyển biến tích cực của quan hệ chính trị, quan hệ kinh tế tài chính giữa hai bên, từ chỗ bế tắc, khi Hoa Kỳ và Việt Nam phong tỏa tài sản của nhau, đã tiến đến ánh sáng phía cuối đường hầm Sau quá trình đàm phán song phương, hai bên nhất trí như sau [40]:

 Về tiền và tài sản: Hòa Kỳ và Việt Nam chấm dứt việc phong tỏa tiền và tài sản của nhau Sau khi tính toán bù trừ, phía Hoa Kỳ đã trả ngay cho Việt Nam 158 triệu USD (phía Việt Nam đã nhận đủ khoản này) Các tài sản dưới dạng bất động sản như nhà đất cũng đã xử lý xong việc đổi, mua và trao trả

 Về các khoản nợ: hai bên nhất trí cơ cấu lại nợ, theo đó Việt Nam sẽ phải trả cho Hoa Kỳ cả số nợ gốc và lãi phát sinh tổng cộng 153 triệu USD trong vòng 25 năm, trong đó 16 năm đầu được trả với lãi suất ưu đãi là 3%/năm

Ngày đăng: 23/03/2015, 13:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
3. Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương (2005), Nhận dạng các quan điểm sai trái, thù địch, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận dạng các quan điểm sai trái, thù địch
Tác giả: Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương
Năm: 2005
4. Ban Tư tưởng – Văn Hóa Trung ương (2003), Tài liệu học tập Nghị quyết hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu học tập Nghị quyết hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa IX
Tác giả: Ban Tư tưởng – Văn Hóa Trung ương
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2003
5. Nguyễn Đình Bin (Chủ biên) (2002), Ngoại giao Việt Nam 1945 - 2000, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngoại giao Việt Nam 1945 - 2000
Tác giả: Nguyễn Đình Bin (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2002
7. Nguyễn Văn Bình (2009), “Quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ”, Châu Mỹ ngày nay, số 6, tr. 12-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ
Tác giả: Nguyễn Văn Bình
Năm: 2009
8. Nguyễn Thị Kim Chi (2009), “Chính sách thương mại của Hoa Kỳ đối với Việt Nam từ năm 2001 đến nay”, Châu Mỹ ngày nay, số 7, tr. 10-24 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách thương mại của Hoa Kỳ đối với Việt Nam từ năm 2001 đến nay”, "Châu Mỹ ngày nay
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Chi
Năm: 2009
9. “Chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ của Thủ tướng Phan Văn Khải và quan hệ Việt – Mỹ” (2005), Châu Mỹ ngày nay, số 6, tr. 61-65 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ của Thủ tướng Phan Văn Khải và quan hệ Việt – Mỹ” (2005), "Châu Mỹ ngày nay
Tác giả: “Chuyến thăm chính thức Hoa Kỳ của Thủ tướng Phan Văn Khải và quan hệ Việt – Mỹ”
Năm: 2005
10. Chu Văn Chúc, “Quá trình đổi mới tư duy đối ngoại và hình thành đường lối đối ngoại đổi mới”, Nghiên cứu Quốc tế, số 58, tr. 3-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình đổi mới tư duy đối ngoại và hình thành đường lối đối ngoại đổi mới”, "Nghiên cứu Quốc tế
11. Trần Quang Cơ (1995), “Hy vọng mới, lo toan mới”, Hội nhập quốc tế và giữ vững bản sắc, Nxb. Chính trị Quốc qia, Hà Nội, tr.108 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hy vọng mới, lo toan mới”, "Hội nhập quốc tế và giữ vững bản sắc
Tác giả: Trần Quang Cơ
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc qia
Năm: 1995
12. C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập (1999), Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội, t.39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập
Tác giả: C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 1999
13. Lê Văn Cương (2001), “Thế giới trong buổi bình minh của thế kỷ XXI: dự báo tình hình thế giới đến năm 2015”, Trật tự thế giới sau chiến tranh lạnh:Phân tích và dự báo, Viện Thông tin KHXH, Hà Nội, t.1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thế giới trong buổi bình minh của thế kỷ XXI: dự báo tình hình thế giới đến năm 2015”, "Trật tự thế giới sau chiến tranh lạnh: "Phân tích và dự báo
Tác giả: Lê Văn Cương
Năm: 2001
14. Đỗ Lộc Diệp (1998), “Bước tiến mới quan trọng trong quan hệ Mỹ - Việt Nam”, Châu Mỹ ngày nay, số 2, tr. 5-6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước tiến mới quan trọng trong quan hệ Mỹ - Việt Nam”, "Châu Mỹ ngày nay
Tác giả: Đỗ Lộc Diệp
Năm: 1998
15. Đỗ Lộc Diệp (2001), “Thượng viện Mỹ thông qua Hiệp định thương mại Việt – Mỹ”, Châu Mỹ ngày nay, số 8-10, tr.3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thượng viện Mỹ thông qua Hiệp định thương mại Việt – Mỹ”, "Châu Mỹ ngày nay
Tác giả: Đỗ Lộc Diệp
Năm: 2001
16. Nguyễn Hữu Dũng (2002), “Tìm hiểu cuộc chiến Catfish của Mỹ chống cá Tra và cá Basa Việt Nam”, Châu Mỹ ngày nay, số 4, tr. 25-32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu cuộc chiến Catfish của Mỹ chống cá Tra và cá Basa Việt Nam”, "Châu Mỹ ngày nay
Tác giả: Nguyễn Hữu Dũng
Năm: 2002
17. Nguyễn Thùy Dương (tổng hợp) (2010), “Obama và sự thay đổi nước Mỹ”, Châu Mỹ ngày nay, 4, tr. 65-68 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Obama và sự thay đổi nước Mỹ”, "Châu Mỹ ngày nay
Tác giả: Nguyễn Thùy Dương (tổng hợp)
Năm: 2010
18. Nguyễn Thùy Dương (tổng hợp) (2010), “Ý nghĩa chuyến thăm châu Á của Tổng thống Obama”, Châu Mỹ ngày nay, số 12, tr. 66-68 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ý nghĩa chuyến thăm châu Á của Tổng thống Obama”, "Châu Mỹ ngày nay
Tác giả: Nguyễn Thùy Dương (tổng hợp)
Năm: 2010
19. “Đại diện 21 tập đoàn công ty Mỹ thăm Việt Nam” (2006), Châu Mỹ ngày nay, số 03, tr.64-66 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại diện 21 tập đoàn công ty Mỹ thăm Việt Nam” (2006), "Châu Mỹ ngày nay
Tác giả: “Đại diện 21 tập đoàn công ty Mỹ thăm Việt Nam”
Năm: 2006
20. “Đàm phán song phương Việt – Mỹ và khả năng gia nhập WTO của Việt Nam trong năm 2006” (2006), Châu Mỹ ngày nay, số 5, tr. 67-68 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đàm phán song phương Việt – Mỹ và khả năng gia nhập WTO của Việt Nam trong năm 2006” (2006), "Châu Mỹ ngày nay
Tác giả: “Đàm phán song phương Việt – Mỹ và khả năng gia nhập WTO của Việt Nam trong năm 2006”
Năm: 2006
21. Vũ Quang Đản (Chủ biên) (2006), Một số vấn đề quan hệ quốc tế trong giai đoạn hiện nay, Nxb. Tổng hợp TP.HCM, TP.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề quan hệ quốc tế trong giai đoạn hiện nay
Tác giả: Vũ Quang Đản (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb. Tổng hợp TP.HCM
Năm: 2006
22. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 1996
23. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb. Chính trị Quốc gia
Năm: 2006

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1.2. Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam  sang Hoa Kỳ trong năm 1994 - Tác động của quan hệ chính trị - ngoại giao đến quan hệ kinh tế Việt Nam - Hoa Kỳ giai đoạn 1995 - 2010
Bảng 2.1.2. Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam sang Hoa Kỳ trong năm 1994 (Trang 105)
Bảng 2.1.3. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của Việt Nam  từ Hoa Kỳ trong năm 1994 - Tác động của quan hệ chính trị - ngoại giao đến quan hệ kinh tế Việt Nam - Hoa Kỳ giai đoạn 1995 - 2010
Bảng 2.1.3. Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của Việt Nam từ Hoa Kỳ trong năm 1994 (Trang 105)
Bảng 2.1.4. So sánh đầu tư của Hoa Kỳ vào Việt Nam trong hai giai đoạn  trước và sau bãi bỏ cấm vận kinh tế năm 1994 - Tác động của quan hệ chính trị - ngoại giao đến quan hệ kinh tế Việt Nam - Hoa Kỳ giai đoạn 1995 - 2010
Bảng 2.1.4. So sánh đầu tư của Hoa Kỳ vào Việt Nam trong hai giai đoạn trước và sau bãi bỏ cấm vận kinh tế năm 1994 (Trang 106)
Bảng 2.2.1. Đầu tư trực tiếp của Hoa Kỳ ở Việt Nam giai đoạn 1995 – 2000 - Tác động của quan hệ chính trị - ngoại giao đến quan hệ kinh tế Việt Nam - Hoa Kỳ giai đoạn 1995 - 2010
Bảng 2.2.1. Đầu tư trực tiếp của Hoa Kỳ ở Việt Nam giai đoạn 1995 – 2000 (Trang 106)
Bảng 2.3.1. Kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam - Hoa Kỳ  giai đoạn 2001 – 2005 - Tác động của quan hệ chính trị - ngoại giao đến quan hệ kinh tế Việt Nam - Hoa Kỳ giai đoạn 1995 - 2010
Bảng 2.3.1. Kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam - Hoa Kỳ giai đoạn 2001 – 2005 (Trang 107)
Bảng 2.3.3. Nhóm mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam  sang Hoa Kỳ giai đoạn 2001-2005 - Tác động của quan hệ chính trị - ngoại giao đến quan hệ kinh tế Việt Nam - Hoa Kỳ giai đoạn 1995 - 2010
Bảng 2.3.3. Nhóm mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam sang Hoa Kỳ giai đoạn 2001-2005 (Trang 108)
Bảng 2.3.2. Thành phần hàng hóa Việt Nam xuất khẩu chính  sang Hoa Kỳ giai đoạn 1996-2000 - Tác động của quan hệ chính trị - ngoại giao đến quan hệ kinh tế Việt Nam - Hoa Kỳ giai đoạn 1995 - 2010
Bảng 2.3.2. Thành phần hàng hóa Việt Nam xuất khẩu chính sang Hoa Kỳ giai đoạn 1996-2000 (Trang 108)
Bảng 2.3.4. Vốn FDI thực hiện của Mỹ trước và sau BTA - Tác động của quan hệ chính trị - ngoại giao đến quan hệ kinh tế Việt Nam - Hoa Kỳ giai đoạn 1995 - 2010
Bảng 2.3.4. Vốn FDI thực hiện của Mỹ trước và sau BTA (Trang 109)
Bảng 2.4.1. Kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam – Hoa Kỳ  giai đoạn 2006-2010 - Tác động của quan hệ chính trị - ngoại giao đến quan hệ kinh tế Việt Nam - Hoa Kỳ giai đoạn 1995 - 2010
Bảng 2.4.1. Kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam – Hoa Kỳ giai đoạn 2006-2010 (Trang 110)
Bảng 2.4.2. Đầu tư của Mỹ vào VN được cấp phép trong giai đoạn 2006 -2010 - Tác động của quan hệ chính trị - ngoại giao đến quan hệ kinh tế Việt Nam - Hoa Kỳ giai đoạn 1995 - 2010
Bảng 2.4.2. Đầu tư của Mỹ vào VN được cấp phép trong giai đoạn 2006 -2010 (Trang 110)
Bảng 2.4.3.  Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài được cấp giấy phép phân theo đối tác đầu tư  chủ yếu (Luỹ kế các dự án còn hiệu lực đến ngày 31/12/2010) - Tác động của quan hệ chính trị - ngoại giao đến quan hệ kinh tế Việt Nam - Hoa Kỳ giai đoạn 1995 - 2010
Bảng 2.4.3. Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài được cấp giấy phép phân theo đối tác đầu tư chủ yếu (Luỹ kế các dự án còn hiệu lực đến ngày 31/12/2010) (Trang 111)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w