1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh qua hoạt động thực tiễn của Người (1945 – 1969

96 881 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 96
Dung lượng 0,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

PHẦN MỞ ĐẦU 1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Hồ Chí Minh là nhà cách mạng, nhà chính trị, nhà lãnh đạo quốc gia kiệt xuất của dân tộc.Trong nhiều năm liền Người kiêm cả Thủ tướng chính phủ và Bộ trư

Trang 1

PHONG CÁCH NGOẠI GIAO HỒ CHÍ MINH

QUA HOẠT ĐỘNG THỰC TIỄN CỦA NGƯỜI (1945 – 1969)

LUẬN VĂN THẠC SĨ

Hà Nội - 2013

Trang 2

PHONG CÁCH NGOẠI GIAO HỒ CHÍ MINH

QUA HOẠT ĐỘNG THỰC TIỄN CỦA NGƯỜI (1945 – 1969)

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 5

Chương 1: 13

CƠ SỞ HÌNH THÀNH PHONG CÁCH NGOẠI GIAO HỒ CHÍ MINH 13

1.1 Khái niệm phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh 13

1.2 Cơ sở hình thành phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh 14

1.2.1 Văn hóa Việt Nam và nền ngoại giao truyền thống 14

1.2.2 Ảnh hưởng từ văn hóa thế giới 19

1.2.3 Nhân tố chủ quan của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh 24

Chương 2 28

BIỂU HIỆN PHONG CÁCH NGOẠI GIAO HỒ CHÍ MINH 28

QUA CÁC HOẠT ĐỘNG THỰC TIỄN CỦA NGƯỜI (1945 – 1969) 28

2.1 Phong cách tư duy 28

2.1.1 Luôn kiên định mục tiêu vì lợi ích dân tộc kết hợp thực hiện nghĩa vụ quốc tế và đề cao tính chính nghĩa 28

2.1.2 Phong cách tư duy độc lập tự chủ 32

2.1.3 Sáng tạo trong hình thức đấu tranh ngoại giao 34

2.2 Phong cách hoạt động đối ngoại 38

2.2.1 Kết hợp lý lẽ và tình cảm 38

2.2.2 Kết hợp hài hòa văn hóa phương Đông và văn hóa phương Tây 43

2.2.3 Kết hợp và phát huy sức mạnh tổng hợp của quân sự, kinh tế, chính trị tạo sức mạnh cho ngoại giao 46

2.3 Phong cách ứng xử 50

2.3.1 Đối với các chính khách 50

2.3.2 Đối với báo giới và học giả 52

2.3.3 Đối với quần chúng nhân dân thế giới 57

2.4 Phong cách diễn đạt 59

Trang 4

2.4.1 Phong cách nói gần gũi, dễ cảm hóa và mang tính thuyết phục cao 59

2.4.2 Phong cách viết ngắn gọn, hàm súc và dễ hiểu 63

2.4.3 Phong cách diễn đạt phi ngôn ngữ 66

Chương 3 70

Ý NGHĨA PHONG CÁCH NGOẠI GIAO HỒ CHÍ MINH 70

VÀ VẬN DỤNG TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 70

3.1 Ý nghĩa phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh 70

3.1.1 Ý nghĩa lý luận 70

3.1.2 Ý nghĩa thực tiễn 71

3.2 Nội dung vận dụng phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay 73

3.2.1 Tính cấp thiết của vận dụng phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay 73

3.2.2 Nội dung vận dụng phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh trong thời kỳ hiện nay 77

3.3 Một số đề xuất nâng cao hiệu quả vận dụng phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh 86

KẾT LUẬN 88

TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

Hồ Chí Minh là nhà cách mạng, nhà chính trị, nhà lãnh đạo quốc gia kiệt xuất của dân tộc.Trong nhiều năm liền Người kiêm cả Thủ tướng chính phủ và Bộ trưởng ngoại giao nên đã dần hình thành một phong cách riêng.Phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh là sự kế thừa truyền thống ngoại giao của cha ông kết hợp với tinh hoa văn hóa thế giới và được rèn luyện qua thực tiễn ngoại giao.Trong công cuộc đấu tranh ngoại giao bảo vệ Tổ quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh vừa là người chỉ đạo về đường lối chiến lược sách lược đối ngoại, vừa trực tiếp tham gia các hoạt động ngoại giao, nhằm từng bước kiến tạo và mở rộng quan hệ quốc tế, tăng cường thế và lực của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa

Chính vì những đóng góp lớn lao đó mà ngày càng có nhiều nghiên cứu

về lãnh tụ Hồ Chí Minh Đặc biệt từ đại hội lần thứ VII của Đảng cộng sản Việt Nam xác định “Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làkim chỉ nam cho mọi hành động” thì việc nghiên cứu về Người càng thu hút nhiều học giả hơn Bên cạnh đó, phong trào học tập và làm theo tấm gương đạo đứcHồ Chí Minh đang lan rộng khắp các cơ quan đoàn thể và trong mỗi người dân Việt Nam Phong trào đã đi vào chiều sâu, phát triển theo chiều rộng và trở thành mạch ngầm lan tỏa khắp cộng đồng Phong trào vừa như một đợt sinh hoạt chính trị của toàn dân, vừa góp phần thay đổi nhận thức tư duy và rèn luyện tác phong hành động của mỗi công dân Việt Nam, tạo động lực cho sự phát triển và hiện đại hóa đất nước

Tình hình thế giới ngày càng có nhiều biến động, quan hệ đối ngoại Việt Nam đứng trước nhiều thời cơ nhưng cũng đầy thách thức lớn.Trong tình thế đó nhu cầu nghiên cứu, học tập phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh càng cần thiết hơn.Điều đó sẽ nâng cao nhận thức vận dụng vào hoạt động đối

Trang 6

ngoại thực tế, góp phần tạo nên những cách ứng xử linh hoạt và khéo léo nhằm chủ động nắm bắt thời cơ cũng như khắc phục những khó khăn trong quan hệ đối ngoại của Việt Nam hiệu quả hơn

Để góp phần vào việc nghiên cứu về Chủ tịch Hồ Chí Minh, đề tài

“Phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh qua hoạt động thực tiễn của Người (1945 – 1969)” đã được tác giả chọn nghiên cứu Hi vọng thông qua việc tìm hiểu những hoạt động ngoại giao của Người, phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh sẽ được phân tích cụ thể, cũng như có sự liên hệ với tình hình đối ngoại Việt Nam hiện nay Trên cơ sở đó, khẳng định ý nghĩa lớn lao những bài học kinh nghiệm từ đường lối ngoại giao và cách ứng xử với các nước của Người Đặc biệt nhấn mạnh rằng trước sau Người vẫn kiên định một phong cách hòa bình, đối thoại để giải quyết các vấn đề quốc tế

2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ

Từ trước đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về chủ tịch Hồ Chí Minh của đông đảo các học giả trong nước và nước ngoài.Các tác phẩm chủ yếu tập trung vào tư tưởng Hồ Chí Minh với cách mạng Việt Nam, với dân tộc và thời đại.Phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh chỉ là một phần nhỏ trong các công trình trên hoặc được đề cập trong những bài viết ngắn gọn mang tính khái quát mà không đi sâu vào đặc điểm cụ thể.Theo phó giáo sư Vũ Dương Huân “hiện nay đã có một số công trình nghiên cứu về tư tưởng ngọai giao

Hồ Chí Minh Tuy nhiên đó mới là những nghiên cứu bước đầu, hơn nữa các công trình nghiên cứu tập trung lý giải vấn đề độc lập tự chủ và đoàn kết quốc

tế, tư tưởng của Bác về một số vấn đề quốc tế, lịch sử ngoại giao Việt Nam và quá trình hoạt động quốc tế của Hồ chủ tịch….nghệ thuật và phong cách Hồ Chí Minh chưa được đề cập đáng kể” Phó giáo sư Vũ Dương Huân có rất nhiều công trình nghiên cứu về ngoại giao Hồ Chí Minh Trong đó cuốn sách

“Góp phần tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh về ngoại giao”, Nxb Thanh

Niên,2005có đề cập khái quát về nghệ thuật và phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh với các luận điểm như tư tưởng kiên định nguyên tắc, linh hoạt sách

Trang 7

lược, lợi dụng mâu thuẫn kẻ thù, kết hợp sức mạnh trong nước và sức mạnh quốc tế

Nguyên bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Dy Niên có đề cập về phong

cách ngoại giao Hồ Chí Minh trong những cuốn sách “Tưtưởng ngoại giao

Hồ Chí Minh”,Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, 2000; và trong cuốn “Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh thực hiện đường lối đối ngoại của Đảng trong giai đoạn mới”, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, 2002 Những cuốn sách này

đã đề cập một cách khái quát có tính hệ thống về phong cách tư duy, phong cách ứng xử, phong cách diễn đạt của Chủ tịch Hồ Chí Minh.Tuy nhiên trong công trình nghiên cứu này, phong cách ngoại giao chỉ là một phần nhỏ bên cạnh các vấn đề khác như tư tưởng, nghệ thuật và phương pháp ngoại giao

Giáo sư Vũ Dương Ninh cũng là một tác giả nghiên cứu sâu sắc về Chủ

tịch Hồ Chí Minh Cuốn sách “Việt Nam – thế giới và sự hội nhập”, Nxb Giáo

dục, 2007 bao gồm một số công trình tuyển chọn, đặc biệt trong đó là các nghiên cứu về tư tưởng Hồ Chí Minh với đoàn kết quốc tế Phong cách ngoại giao cũng được giáo sư đề cập “nói phong cách không có nghĩa là bó hẹp trong tác phong cử chỉ, không hạn chế trong nghi thức ngoại giao mà phải là

cái thần, cái tâm và sức thu hút đối với người đối thoại” [31, tr 33,34]

Giáo sư Đặng Xuân Kỳ có công trình nghiên cứu mang tên “Phương

pháp và phong cách Hồ Chí Minh”, Nxb Lý luận chính trị, 2004 Cuốn sách

đề cập đến hệ thống phong cách Hồ Chí Minh nhưng chưa đi sâu về phong cách ngoại giao của Người.Trong đó tác giả đưa ra nhiều dẫn chứng đặc sắc

về hoạt động đối ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Tác giả Mai Văn Bộ có công trình nghiên cứu “Tấn công ngoại giao và

tiếp xúc bí mật”, Nxb TP Hồ Chí Minh, 1989.Cuốn sách phân tích tấn công

ngoại giao kết hợp công khai với bí mật, chính trị với quân sự và ngoại giao trong kháng chiến chốngMỹ cứu nước dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Trang 8

Luận án tiến sĩ lịch sử của tác giả Nguyễn Trọng Hậu nghiên cứu về

“Hoạt động đối ngoại của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa thời kỳ 1945 –

1950” hoàn thành năm 2001 Luận án đề cập đến sự chỉ đạo và hoạt động của

Chủ tịch Hồ Chí Minh trong đối ngoại, đồng thời rút ra những đánh giá quan trọng về ngoại giao Hồ Chí Minh

Ngoài ra không thể không kể đến rất nhiều tác phẩm và những hồi ký của chính những đồng chí, học trò gần gũi với Chủ tịch, được Người chỉ giáo

Tiêu biểu như Đại tướng Võ Nguyên Giáp với rất nhiều công trình là “Những

năm tháng không thể nào quên”, Nxb Quân đội nhân dân, 1974; “Thế giới đổi thay nhưng tư tưởng Hồ Chí Minh sống mãi”,1991; “Tư tưởng Hồ Chí Minh

và con đường cách mạng Việt Nam”, Nxb Thanh niên,1995; “Tư tưởng Hồ Chí Minh quá trình hình thành và phát triển”, Nxb Sự thật…Các tác phẩm

của đồng chí Phạm Văn Đồng như “Hồ Chí Minh một con người một dân tộc

một thời đại một sự nghiệp”, Nxb Sự thật,1990; “Hồ Chí Minh và con người Việt Nam trên con đường dân giàu nước mạnh”, Nxb Chính trị quốc gia,

1993; “Những nhận thức cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh”, Nxb Chính trị

quốc gia, 1998…Tất cả những tác phẩm này những câu chuyện rất chân thực

về hoạt động đối ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh Những hoạt động ngoại giao này không chỉ thể hiện rõ tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh mà còn thể hiện một phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh rất độc đáo

Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ là nguồn cảm hứng của những cây bút Việt Nam mà còn là tâm điểm chú ý của đông đảo bạn bè thế giới Trong các tác giả nước ngoài, tiêu biểu là William.J Duiker, Wilfred Burchett, Patty, Stanley I Kutler,Jules Archer…

Trước hết phải kể đến nghị quyết của UNESCO về kỷ niệm 100 năm

sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Vị anh hùng dân tộc của Việt Nam và là một

nhà văn hóa lớn” (1990) Đây là sự tôn vinh của thế giới đối với Chủ tịch Hồ

Chí Minh, hơn nữa là đối với một người cộng sản đầu tiên được tổ chức quốc

tế này công nhận Nghị quyết khẳng định rõ công lao, sự nghiệp của Người

Trang 9

Giới trí thức và học giả Âu – Mỹ đánh giá khá cao nghiên cứucủa

William.J.Duiker “Ho Chi Minh – A life”, xuất bản năm 2000 Cuốn sách

được cho là công trình của tác giả nước ngoài nghiên cứu sâu rộng về con người và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh W.J.Duiker đi sâu vào sự tranh luận Hồ Chí Minh có là cộng sản không và cộng sản theo chính thống Mác – Lênin hay là một nhà ái quốc dân tộc, hiến thân cho cuộc giải phóng và thống nhất đất nước W.J.Duiker nhận định rằng Chủ tịch Hồ Chí Minh có căn rễ sâu đậm trong phong trào cộng sản quốc tế, nhưng ông luôn là một người theo chủ nghĩa dân tộc, cương quyết hiến thân cho nguyên lý dân tộc tự quyết

Cuốn “Why Vietnam”,Nxb Đà Nẵng,1995 của L.A.Patty viết về chính

quãng thời gian tác giả hoạt động ở Việt Nam và những cảm tưởng của ông trong mỗi cuộc tiếp xúc với Chủ tịch Hồ Chí Minh Cuốn sách thể hiện rất nhiều phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh, từ phong cách tư duy kiên định vì độc lập tự do của dân tộc, cho đến phong thái tự chủ bình tĩnh trong mọi tình huống, thể hiện những ấn tượng và niềm cảm phục của chính tác giả trước sự ứng xử khôn khéo của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn đầu độc lập dân tộc đầy thách thức

Ký giả nổi tiếng người Úc Wilfred Burchett – đã từng được ngoại trưởng Henri Kissinger nhờ làm trung gian liên lạc giữa Mỹ và Hà Nội Năm

1968 ông viết cuốn sách có tính tiên đoán “Vietnam Will Win” (Việt Nam sẽ thắng) và năm 1977, ông xuất bản cuốn“Grasshoppers and Elephants: Why

Vietnam Fell”(Châu chấu và Voi: Tại sao Việt Nam sụp đổ) Trong hai tác

phẩm này, ông viết về những gì đã tạo nên Hồ Chí Minh Theo đó không phải thuần túy chỉ là Mác, là Lênin hay Mao Trạch Đông mà chính là lịch sử 2000 năm chống ngoại xâm của Việt Nam đã tạo nên Hồ Chí Minh Qua đó, thấy tác giả đã hiểu về Việt Nam và về Hồ Chí Minh hơn nhiều người khác Theo ông, Chủ tịch Hồ Chí Minh là mẫu mực thu nhỏ của tất cả những con người Việt Nam dũng cảm, của sự chịu đựng vô tận và niềm tin mãnh liệt, cái gì có

Trang 10

trong con người Việt Nam thì đều có trong con người Hồ Chí Minh và theo tác giả dấu ấn của Hồ Chí Minh trên dân tộc Việt Nam thật sâu đậm

Các tác giả khác như John S Bowman trong cuốn “The Vietnam War

Almanac”, xuất bản năm 2005, Paul Joseph trong cuốn “Cracks in The Empire”, South End Press xuất bản năm 1981 …chủ yếu đi tìm hiểu xem

Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh có phải là người cộng sản không, tìm hiểu mối liên hệ giữa Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác hay với chính quyền Moscow

Trên đây là liệt kê một số tác phẩm tiêu biểu viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh trong rất nhiều những sách báo, tạp chí, hồi ký của học giả trong nước

và nước ngoài Nhiều tác giả là đồng chí, là học trò của Người hoặc là những giáo sư tiêu biểu có thời gian dài nghiên cứu về Người nên những công trình trên rất chân thực với nhiều câu chuyện ngoại giao về Chủ tịch Tuy nhiên nội dung các tác phẩm chủ yếu đi sâu nghiên cứu về tư tưởng ngoại giao Hồ Chí Minh, tập trung vào tư tưởng độc lập tự chủ và đoàn kết quốc tế của Người Bên cạnh đó các học giả nước ngoài tập trung tìm hiểu xem Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh có phải là người cộng sản hay không.Vì lý do phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh chỉ là một phần nhỏ trong các công trình nghiên cứu

trên nên tác giả luận văn “Phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh qua hoạt động

thực tiễn của Người (1945 – 1969)” muốn đi sâu nghiên cứu những biểu hiện

phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh như là một công trình riêng Đồng thời luận văn còn đề cập tới những bài học và kinh nghiệm được đúc rút từ phong cách ngoại giao của Người

3 MỤC ĐÍCH, NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU VÀ ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI

1 Mục đích

Mục đích chính của đề tài là thông qua việc phân tích các hoạt động thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đểlàm rõ những đặc điểm phong cách ngoại

Trang 11

giao của Người trong giai đoạn 1945 – 1969 Từ đó, rút ra những bài học và kinh nghiệm nhằm vận dụng phong cách ngoại giao của Người hiệu quả hơn

2 Nhiệm vụ

Để hoàn thành mục đích nghiên cứu trên, luận văn đề ra một số nhiệm vụ: Thứ nhất là làm rõ cơ sở hình thành phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh Thứ hai là trình bày một cách hệ thống, toàn diện phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh thể hiện trong hoạt động thực tiễn của Người

Thứ ba là góp phần nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh và chỉ ra khả năng vận dụng trong bối cảnh quan hệ đối ngoại của Việt Nam hiện nay

3 Đóng góp của đề tài

Là công trình nghiên cứu có hệ thống về phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh, góp phần vào nguồn tư liệu tham khảo về Người nhằm phục vụ cho đông đảo sinh viên cũng như những học giả Trên cơ sở đó, về mặt thực tiễn

đề tài tăng tính hiệu quả của phong trào học tập, làm theo tấm gương đạo đức

và phong cách Hồ Chí Minh

4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu là phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh qua các hoạt động thực tiễn của Người

Phạm vi nghiên cứu: Luận văn sẽ không tập trung nhiều vào những quan điểm, tư tưởng của Hồ Chí Minh, mà chỉ làm nổi bật một phong cách ngoại giao thông qua những câu chuyện kể về cách ứng xử của Người khi tham gia hoạt động đối ngoại

Thời gian nghiên cứu: Từ khi Người trở thành chủ tịch nước Việt Nam dân chủ công hòa (1945) cho tới khi Người mất (1969)

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp lịch sử, tổng hợp, logic khi nghiên cứu các hoạt động thực tiễn của Chủ tịch Hồ Chí Minh Các phương pháp giúp cho việc đánh giá các hoạt động đó một cách tổng thể, toàn diện, theotrình tự

Trang 12

thời gian và trong bối cảnh lịch sử cụ thể, có sự tương tác với các sự kiện khác Ngoài ra luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu quốc tế khi phân tích các vấn đề đối ngoại để làm rõ các luận điểm về quan hệ quốc tế của Người

6 NGUỒN TÀI LIỆU THAM KHẢO

Phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh là một bộ phận của tư tưởng Hồ Chí Minh, được đề cập nhiều trong các công trình nghiên cứu, các sách báo, tạp chí, tài liệu lịch sử Do đó đề tài nghiên cứu này sẽ sử dụng những nguồn tài liệu tham khảo:

Nguồn tài liệu gốc gồm: Các văn kiện Đảng Cộng sản Việt Nam, “Hồ Chí Minh toàn tập”, “Hồ Chí Minh biên niên sử”, các bài nói chuyện của Bác, hồi

ức hồi ký các nhà hoạt động quân sự, chính trị, văn hóa, xã hội, ngoại giao trong nước và quốc tế

Sách, những công trình nghiên cứu về Bác, báo và tạp chí

Các website bằng tiếng Việt và tiếng Anh

7 BỐ CỤC CỦA LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu gồm 3 chương: Chương 1: Cơ sở hình thành phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh

Chương 2: Biểu hiện phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh qua các hoạt động thực tiễn của Người (1945 – 1969)

Chương 3: Ý nghĩa phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh và vận dụng trong giai đoạn hiện nay

Trang 13

Chương 1:

CƠ SỞ HÌNH THÀNH PHONG CÁCH NGOẠI GIAO HỒ CHÍ MINH

1.1 Khái niệm phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh

Phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh được đặt ra khi nghiên cứu về hoạt động đối ngoại của Người; thể hiện qua tư liệu ngoại giao, những hồi ký, cảm tưởng của nhiều người trong quá trình làm việc hoặc tiếp xúc với chủ tịch Trước kia, người ta dùng khái niệm “tác phong” Sau này đặc biệt là từ đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986, khái niệm “phong cách” được

sử dụng ngày càng phổ biến và thay thế dần khái niệm “tác phong” Để hiểu

rõ về phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh, chúng ta sẽ phân tích các khái niệm: tác phong, phong cách và phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh Các khái niệm này sẽ là nền tảng, là phạm vi giúp chúng ta nghiên cứu về phong cách ngoại giao của Người đúng đắn và hiệu quả

Theo từ điển Tiếng Việt tác phong là “cách thức, lối làm việc và cách sống riêng của mỗi người” [40, tr 831]; còn phong cách là “dáng bộ, điệu bộ,

là văn phong, lối diễn ý về tư tưởng và tình cảm, là tác phong và cách thức làm việc” [40, tr 733].Như vậy phong cách là thể hiện nhân cách con người Nói về phong cách ngoại giao của Hồ Chí Minh, cố thủ tướng Phạm Văn Đồng phát biểu rằng “định nghĩa phong cách là con người với Hồ Chí Minh là rất đúng cũng như đối với mọi người khác, không chỉ đối với vĩ nhân mà đối với người nào cũng vậy Những tư tưởng lớn và tình cảm lớn luôn thể hiện một cách rõ nét trong phong cách của Hồ Chí Minh, trong mọi cử chỉ và hành động, trong ứng xử đối với công việc cực kỳ trọng đại của đất nước, của dân cũng như trong cuộc sống hàng ngày…, từ cách nói cách viết ở những giờ phút quan trọng bậc nhất cũng như trong những lúc bình thường” [8, tr 37] Còn theo phógiáo sư Vũ Dương Huân “phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh chính là những nét thể hiện trong hoạt động ngoại giao, trong tiếp xúc với đối tượng là người nước ngoài” [26, tr 176] Ông nhấn mạnh thêm “ngoại giao

Trang 14

gắn liền với phong cách ứng xử, ứng xử trong giao tiếp được biểu hiện bằng

cử chỉ, thái độ phong thái, phong độ và đặc biệt là ngôn ngữ của chủ thể đối với đối tượng và chủ thể đối với bản thân mình trong quan hệ với đối tượng Chính nhân cách lớn và cuộc đời oanh liệt của Hồ Chí Minh đã để lại phong cách ứng xử Hồ Chí Minh, phong cách ứng xử ở tầm nghệ thuật, gần như hoàn thiện, ứng xử có văn hóa” [26, tr 175]

Như vậy ta thấy phong cách là sản phẩm nhận thức và tư duy khoa học của con người, phản ánh hành vi ứng xử của con người với công việc và xã hội Do đó, phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh không phải là bẩm sinh, mà

nó phải trải qua một quá trình nhận thức và rèn luyện lâu dài của Người trong môi trường xã hội và ngoại giao Hiểu một cách cụ thể, phong cách ngoại giao

Hồ Chí Minh chính là nhân cách của Người, là phong thái ứng xử, là ngôn ngữđã trở thành nề nếp ổn định, được thể hiện trong các mặt hoạt động đối ngoại tạo nên những nét riêng biệt của Chủ tịch Hồ Chí Minh

1.2 Cơ sở hình thành phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh

1.2.1 Văn hóa Việt Nam và nền ngoại giao truyền thống

Muốn hiểu được sự hình thành phong cách ngoại giao của Người, phải tìm hiểu những tư tưởng – văn hóa của dân tộc đã góp phần hun đúc lên con người Hồ Chí Minh Dân tộc Việt Nam trải qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước đã tạo lập cho mình một nền văn hóa đậm đà bản sắc và cao quý

Trước hết đó là truyền thống yêu nước và ý chí bất khuất để dựng nước

và giữ nước Trải qua lịch sử hàng nghìn năm, từ Triệu, Đinh, Lý, Trần tới các triều đại về sau này, tinh thần yêu nước luôn được giữ vững và ngày càng giàu đẹp, trở thành truyền thống quý báu của dân tộc ta Chủ nghĩa yêu nước

là chuẩn mực đạo đức, đứng đầu bảng giá trị văn hóa – tinh thần Việt Nam.Đây cũng là một trong những tài sản có giá trị nhất trong hành trang của người thanh niên Nguyễn Ái Quốc lúc ra đi tìm đường cứu nước năm

Trang 15

1911.Đồng thời lòng yêu nước cũng là cơ sở xuất phát, là động lực cách mạng của Người

Trong các giá trị truyền thống của Việt Nam, tinh thần nhân nghĩa, đoàn kết, tương thân tương ái là những nét rất đặc sắc.Truyền thống này hình thành một lúc cùng với sự hình thành dân tộc, từ hoàn cảnh, yêu cầu đấu tranh với thiên nhiên và giặc ngoại xâm Người Việt Nam gắn bó với nhau trong tình làng nghĩa xóm Hồ Chí Minh đã kế thừa và phát triển ý nghĩa của chữ

“đồng” (đồng tình, đồng sức, đồng lòng, đồng minh) Người thường nhấn mạnh nhân dân ta từ lâu sống với nhau có nghĩa có tình.Tình nghĩa ấy được Người nâng lên cao đẹp hơn trở thành tình đồng bào, đồng chí, tình nghĩa năm châu bốn biển một nhà

Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh còn là hiện thân của tinh thần lạc quan trong văn hóa Việt Nam Trong khó khăn gian khổ, nhân dân ta vẫn luôn động viên nhau “chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo”.Tinh thần lạc quan đó có cơ sở

từ niềm tin vào sức mạnh của bản thân mình, tin vào sự tất thắng của chân lý

và chính nghĩa

Dân tộc Việt Nam là một dân tộc cần cù, dũng cảm, thông minh sáng tạo trong sản xuất và chiến đấu, đồng thời là dân tộc ham học hỏi, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại Do điều kiện địa lý có nhiều thuận lợi nên từ rất sớm dân tộc Việt Nam đã giao lưu với các nền văn hóa trên thế giới Nhân dân ta đã biết chọn lọc, tiếp thu và cải biến những cái hay cái đẹp của người khác thành giá trị riêng của mình Hồ Chí Minh là hình ảnh sinh động về tinh thần học hỏi đó

Bên cạnh văn hóa Việt Nam, truyền thống ngoại giao cũng ảnh hưởng sâu sắc tới phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh Nền ngoại giao Việt Nam được hình thành cùng với quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc.Trải qua các thời kỳ, không phải lúc nào quan hệ với các nước cũng hòa bình, mà ngược lại cũng trải qua rất nhiều những thăng trầm của những cuộc xung đột

vũ trang nhiều khi tới mức tàn khốc.Dù thế, chính sách ngoại giao của cha

Trang 16

ông đã không chỉ giữ yên được bờ cõi mà còn làm cho nước láng giềng phải

nể phục.Thành tựu của truyền thống ngoại giao này đã ảnh hưởng rất lớn tới nhà ngoại giao Hồ Chí Minh.Người luôn tiếp thu một cách tự nhiên tinh hoa của lịch sử dân tộc cũng như lịch sử ngoại giao Đồng thời trong quá trình hoạt động cách mạng của mình, chính Người đã làm giàu đẹp thêm những trang sử hào hùng cao đẹp và đầy khí phách đó

Để đánh giá về bất kỳ nền ngoại giao nào, chúng ta cần hiểu rõ về những đặc điểm địa chính trị cũng như hoàn cảnh lịch sử của quốc gia đó Đặc điểm nổi bật trong quan hệ Việt Nam – Trung Hoa là quan hệ giữa nước nhỏ Việt Nam có chung biên giới với một cường quốc lớn Phong kiến Trung Hoa với âm mưu bành trướng, tư tưởng bá quyền, luôn muốn biến Việt Nam thành một “khu đệm” trên con đường tràn xuống khu vực Đông Nam Á Các triều đại Trung Hoa thường xuyên đem quân đi thôn tính các nước và áp đặt nhiều điều lệ để buộc những nước nhỏ phải lệ thuộc vào họ Có đường biên giới chung với một đất nước như thế, Việt Nam luôn phải đối mặt với nguy cơ

bị xâm lược và bị lệ thuộc, đồng thời đòi hỏiphải có sách lược ngoại giao hợp

lý và khôn khéo

Nền ngoại giao Việt Nam là nền ngoại giao vì độc lập tự do của dân tộc, kiên trì đấu tranh cho các mục tiêu cơ bản của dân tộc Chính sách đối ngoại độc lập tự chủ là nguyên tắc nhất quán của tổ tiên ta, chi phối quan hệ ngoại giao của Việt Nam với các triều đại phong kiến Trung Hoa.Hơn thế nữa, chính sách đối ngoại độc lập tự chủ này được đặt trong một đất nước có nền văn hóa mang tính cộng đồng mà tiêu biểu nhất của nền văn hóa đó là lòng yêu nước Do đó, mỗi khi Trung Hoa kéo quân sang xâm lược thì nhân dân ta luôn đứng lên, kiên quyết bảo vệ Tổ quốc đến cùng Biết bao nhiêu cuộc khởi nghĩa nổ ra, minh chứng cho điều đó như khởi nghĩa của Triệu Thị Trinh, Lý Bí, Mai Thúc Loan…Chính lòng yêu nước đã làm giàu đẹp thêm truyền thống ngoại giao độc lập tự chủ, bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc

ta, mà sau này chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết là “dân tộc ta ai cũng có một

Trang 17

lòng nồng nàn yêu nước Đó là truyền thống quý báu của ta Từ xưa đến nay, mỗi khi Tổ quốc bị xâm lăng thì tinh thần ấy lại sôi nổi, nó kết lại thành một làn sóng vô cùng mạnh mẽ, to lớn, nó lướt qua mọi nguy hiểm khó khăn, nó nhấn chìm tất cả lũ bán nước và cướp nước” [18, tr 38]

Lòng yêu nước, tinh thần độc lập tự chủ ấy được thể hiện trong ý thức của các vua Việt Nam Các Vua luôn ý thức mình là một hoàng đế, coi mình ngang hàng với vua Trung Hoa trong việc trị nước, không chịu khuất phục để cho vua Trung Hoa can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia mình Sau khi đánh bại quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng năm 938, Ngô Quyền xây dựng thể chế của một vương triều độc lập, ông “bỏ danh hiệu tiết độ sứ, dứt khoát cắt đứt quan hệ lệ thuộc các vương triều phương Bắc” [3, tr 28]

Lịch sử cho thấy, cho dù chính sách ngoại giao dân tộc có là độc lập tự chủ thì trong mối quan hệ bất đối xứng với Trung Hoa, Việt Nam cần luôn có những ứng xử khôn khéo, phù hợp để tồn tại và phát triển Một trong những con đường hiệu quả là mềm dẻo và linh hoạt với những chính sách như giả danh thần phục, cầu phong Trung Hoa, trong xưng đế ngoài xưng vương.Chính sách “nhu” này nhằm không cho phong kiến phương Bắc kiếm

cớ xâm lược nước ta, đồng thời tránh tư tưởng gây lại chiến tranh để phục thù sau khi thua trận của phong kiến Trung Hoa Kế sách không hề làm tổn hại quyền lợi tối cao của dân tộc mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân xây dựng đất nước, ổn định cuộc sống, tránh nạn binh lửa liên miên, khôi phục quan hệ hòa hiếu giữa hai bên.Trong lịch triều hiến chương loại chí, Phan Huy Chú đã nói rằng “trong việc trị nước, hòa hiếu với nước láng giềng là việc lớn.Nước Việt ta có cả cõi đất phía Nam mà thông hiếu với Trung Hoa, tuy nhân dân dựng nước có quy mô riêng, nhưng ở trong thì xưng đế, mà đối ngoại thì xưng vương, vẫn chịu phong hiếu, xét lý thế lực phải như thế” [3, tr 275]

Vua Đinh Tiên Hoàng sau khi kế nghiệp nhà Ngô, xây dựng nghiệp Đế thay cho nghiệp Vương đã vận dụng đường lối ngoại giao mềm dẻo, cử con là

Trang 18

Nam Việt Vương Đinh Liễn đi sứ sang Tống đặt mối bang giao và đã thành công Vua Tống phong cho Đinh Tiên Hoàng làm Giao chỉ quân vương, thừa nhận nền độc lập tự chủ của Đại Cồ Việt.Đến thời nhà Lê, chính sách này vẫn được thực hiện “Lê Hoàn thực hiện chính sách vừa mềm dẻo vừa cứng rắn, mềm dẻo để giữ vững hòa hảo giữa hai nước, nhưng cứng rắn để hạn chế những thái độ hống hách, nước lớn của nhà Tống” [3, tr 35].Năm 987 vua Tống cho Lý Giác sang sứ Muốn để cho nhà Tống thấy nước ta là một nước văn hiến, nhiều nhân tài, Lê Hoàn cử nhà sư Đỗ Thuận đóng vai người chèo

đò tiếp sứ Qua thơ văn Lý Giác đã bộc lộ nhận thức là ngoài văn minh “Hoa Hạ” còn có văn minh Đại Việt biểu hiện trong hai câu thơ “ngoài trời lại có bóng soi nữa/ Sáng lặng khe đầm bóng nguyệt thâu” [3, tr 37].Như vậy nhờ tài giao tiếp văn hóa mà đất nước được tôn vinh

Đường lối ngoại giao hòa hiếu của dân tộc ta còn thể hiện rất rõ trong cách ứng xử của Lý Thường Kiệt khi đánh Tống Dù chiến thắng nhưng Lý Thường Kiệt vẫn chủ động đặt vấn đề điều đình mở cho địch lối rút trong danh dự Lối ứng xử này tiếp tục được thực hiện trong triều nhà Trần khi ba lần đánh thắng quân Nguyên Mông hay của Lê Lợi và Nguyễn Trãi sau khi đánh tan 10 vạn quân Minh tại Chi Lăng Trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1418 – 1427), nhà ngoại giao Nguyễn Trãi đã tích cực thực hiện việc “đánh vào lòng địch” với hai hình thức chủ yếu: “dụ hàng các tướng lĩnh, binh sĩ địch và ngụy quân ở các thành Thực hiện hòa đàm, khi thì để hòa tạm thời với địch để bảo toàn lực lượng, khi ưu thế đã nghiêng về nghĩa quân thì dùng

lý lẽ để buộc địch chấm dứt chiến tranh, rút quân về nước” [3, tr 122].Những bức thư của Nguyễn Trãi gửi cho quân địch dù cách viết khác nhau nhưng chung một điều cơ bản là thư nào cũng sáng ngời chính nghĩa của dân tộc và tràn đầy tình yêu nước nồng nàn Từ trong thư toát lên một tinh thần tự hào dân tộc, một khí thế chiến đấu kiên cường để bảo vệ nền độc lập tự do của Tổ quốc, một sức mạnh hùng biện áp đảo địch, một tấm gương nhân ái tuyệt vời thu phục lòng người, lôi cuốn người đi theo lẽ phải và chính nghĩa Thư nào

Trang 19

ông cũng mở ra những lối thoát cho địch, ông nêu rõ chính sách khoan hồng, không giết kẻ đầu hàng và thái độ đối xử tử tế, âncần của quân dân ta với tù binh.Có thể thấy hòa bình, hòa hiếu là nét đặc sắc của nền ngoại giao truyền thống.Dù luôn đối mặt với nhiều cuộc chiến tranh tàn khốc, nhưng nhân dân

ta luôn giàu lòng nhân ái, trọng đạo lý, nghĩa tình, không gây hận thù, kết thúc chiến tranh vẫn muốn “sửa hòa hiếu cho hai nước tắt muôn đời chiến tranh”

Như vậy nền ngoại giao Việt Nam truyền thống mang đặc điểm coi trọng hòa hiếu mềm dẻo trong ứng xử nhưng vẫn kiên định mục tiêu vì độc lập tự chủ của dân tộc.Phong cách của nhà ngoại giao đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa cũng toát lên điều này Từ truyền thống hòa hiếu, Người phát triển thành tư tưởng ngoại giao hòa bình; từ truyền thống "trong xưng đế ngoài xưng vương", Người phát triển thành tư tưởng "dĩ bất biến, ứng vạn biến"; từ truyền thông nhân văn, Người phát triển thành tư tưởng ngoại giao chính nghĩa nhân đạo Như vậy, cội nguồn phong cách ngoại giao

Hồ Chí Minh một phần mang dấu ấn của truyền thống ngoại giao dân tộc

1.2.2 Ảnh hưởng từ văn hóa thế giới

Hồ Chí Minh là con người kết hợp hài hòa văn hóa phương Đông và văn hóa phương Tây Từ nhỏ Người đã hấp thụ một nền Quốc học và Hán học khá vững vàng Khi ra nước ngoài, Người có thể viết văn Anh và văn Pháp sắc sảo như một nhà báo phương Tây, nhưng khi có nhu cầu tự bạch thì Người làm thơ bằng chữ Hán Đó là kết quả của một đời không ngừng học tập

và tiếp thu văn hóa nhân loại Tinh thần học hỏi của người luôn xuất phát từ bản lĩnh giữ gìn bản sắc văn hóa truyền thống, trên cơ sở đó tiếp thu có chọn lọc cái hay của người, làm phong phú vốn văn hóa của mình mà vẫn giữ được tinh thần thuần túy Việt Nam

Nguyễn Ái Quốc sinh trưởng trong một gia đình nhà nho yêu nước, thân phụ là một nhà nho cấp tiến Do đó, Nguyễn Ái Quốc đã sớm tiếp thu tư tưởng của nho giáo Nho giáo là một hệ thống tư tưởng đạo đức và luân lý, là chuẩn mực định hướng nhân cách con người.Điểm nổi bật của Nho giáo đó là

Trang 20

triết lý hành động, tư tưởng nhập thế hành đạo giúp đời Đó là tư tưởng về một xã hội bình trị, tức là một xã hội an ninh, hòa mục, một thế giới đại đồng;

là triết lý nhân sinh: tu thân dưỡng tính, chủ trương từ thiên tử đến thứ dân, ai cũng phải lấy tu thân làm gốc Nho giáo chủ trương gốc của thiên hạ ở nước, gốc của nước ở nhà, gốc của nhà ở mỗi người.Mỗi người nỗ lực tu dưỡng đạo đức thì nhà sẽ êm ấm, từ đó đất nước sẽ bình trị.Đất nước bình trị không chỉ nói về mặt chính trị mà nói cả về mặt văn hóa xã hội.Tinh thần tu thân trong nho giáo này thể hiện rất rõ trong lối sống hàng ngày của Người, từ lúc cách mạng chưa thành công cho tới cả khi Bác trở thành nguyên thủ quốc gia.Có lẽ nhân dân Việt Nam và nhân dân thế giới kính trọng Người từ chính cái ý thức

tu thân này, và rộng hơn là kính trọng nhân cách chính trị của Bác

Một ảnh hưởng lớn của Nho giáo trong Hồ Chí Minh đó là ý thức kết hợp giữa đạo đức và chính trị Khổng Tử chủ trương cải tạo xã hội bằng đạo đức và coi đạo là con đường đúng đắn để xây dựng quan hệ lành mạnh, tốt đẹp Nói đến đạo là nói đến nhân và nghĩa.Nhân nghĩa theo cách hiểu thông thường thì nhân là lòng thương người, nghĩa là dạ thủy chung, mọi đức khác đều từ nhân mà ra, cũng như muôn vật trên trời dưới đất đều do âm dương nhu cương mà ra Nhân cao hơn các đức khác, người có nhân là người có cung, khoan, tín, mẫn, huệ.Cung là khiêm tốn, biết tôn trọng người và tôn trọng công việc không tỏ ra coi thường người khác, không kiêu ngạo.Khoan là biết rộng, tín là nói sao làm vậy.Mẫn là nhanh nhẹn không lề mề, ỷ lại Và theo Khổng Tử, đó là đức mục của người cầm quyền trong quan hệ với dân, làm được năm điều đó dân sẽ tin, dễ sai khiến Nhân như vậy phải đòi hỏi xuất phát từ lòng thương người, từ sự tôn trọng của con người mà làm việc có hiệu quả.Ngoài ra nhân còn bao gồm các đức là lễ, nghĩa, trí, tín.Như vậy đức nhân trong nho giáo không chỉ là thương người mà thực chất là đạo làm người.Nhân bao gồm nhiều tiêu chuẩn đạo đức nên một người có tiêu chuẩn khác mà không có nhân thì không gọi là người có đạo đức được

Trang 21

Hồ Chí Minh đã khai thác lựa chọn những yếu tố tích cực của Nho giáo phục vụ cho công cuộc cách mạng của dân tộc, ẩn trong quan điểm về chính trị của Người là tư tưởng về đạo đức Có lẽ trên thế giới cũng ít có một nhà chính trị nào lại quan tâm đến vấn đề đạo đức như Hồ Chí Minh, bởi một điều đơn giản là mối quan hệ giữa chính trị và đạo đức rất khó dung hòa do nói đến chính trị nghĩa là nói đến quyền uy Tuy nhiên, ai cũng có thể dễ dàng nhận thấy sự hòa hợp giữa chính trị và đạo đức trong con người Hồ Chí Minh Phải chăng có được điều này là do ảnh hưởng của những tư tưởng Nho giáo của Khổng Tử cũng như từ nền văn hóa dân tộc

Phật giáo vào Việt Nam rất sớm, và có ảnh hưởng sâu sắc trong đời sống con người Việt Nam Ngay cả khi Nho giáo trở thành quốc giáo thì Phật giáo vẫn ảnh hưởng rất lớn, từ tư tưởng, văn hóa, phong tục tập quán đến hành động ứng xử trong lối sống của người Việt Phật giáo mang tư tưởng từ

bi bác ái, cứu nạn cứu khổ với tình yêu thương tới cả thiên nhiên vạn vật.Bên cạnh đó Phật giáo mang tư tưởng hướng thiện, hướng con người tu thân có đạo đức, có lối sống trong sạch Phật giáo còn chứa đựng triết lý bình đẳng, bác ái, đề cao lao động, chống lười biếng Phật giáo vào Việt Nam kết hợp với chủ nghĩa yêu nước, tinh thần đấu tranh bất khuất chống ngoại xâm đã hình thành nên thiền phái Trúc Lâm Việt Nam, chủ trương gắn bó với đời sống nhân dân, tham gia vào cộng đồng, cùng nhân dân đấu tranh chống giặc ngoại xâm Hồ Chí Minh là người thấm nhuần hơn ai hết tinh thần đó Người gắn bó

và gần gũi với nhân dân, hiếm có một vị lãnh tụ nào lại gần gũi nhân dân như thế, Người vui cùng niềm vui của nhân dân, trăn trở canh cánh cùng nỗi lo của đồng bào mình Và suốt cuộc đời Người cũng là hi sinh tất thảy chỉ vì

"đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành"

Ngoài ra còn có thể tìm thấy nhiều trích dẫn khác của các nhà tư tưởng phương Đông như Lão Tử, Mặc Tử trong các bài nói, bài viết của Hồ Chí Minh.Cũng như sau này, khi đã trở thành người Macxit, Người vẫn tìm hiểu

Trang 22

thêm chủ nghĩa Tam dân của Tôn Trung Sơn và thấy trong đó những điều phù hợp với hoàn cảnh nước mình

Bên cạnh thấm nhuần tư tưởng phương Đông, Người còn hấp thụ nhiều

tư tưởng phương Tây.Ngay từ khi còn học ở trường tiểu học Đông Ba rồi vào trường quốc học Huế, Hồ Chí Minh đã làm quen với nền văn hóa Pháp.Đặc biệt Người rất ham mê môn lịch sử, và say sưa tìm hiểu cuộc đại cách mạng Pháp 1789 Hồ Chí Minh được tiếp xúc trực tiếp với tác phẩm của các nhà tư tưởng khai sáng như tinh thần pháp luật của Môngtexkiơ, khế ước xã hội của Rutxo Tư tưởng dân chủ của các nhà khai sáng đã có ảnh hưởng lớn tới tư tưởng của Người Hồ Chí Minh hình thành được phong cách dân chủ của mình từ trong cuộc sống thực tiễn, sinh hoạt khoa học ở câu lạc bộ Faubourg, trong sinh hoạt chính trị của Đảng xã hội Pháp Như vậy nhờ sự thông minh,

óc quan sát, ham học hỏi và được rèn luyện trong phong trào công nhân Pháp, trên hành trình cứu nước, Hồ Chí Minh đã biết làm giàu trí tuệ mình bằng văn hóa Đông và Tây, từ tầm cao tri thức của nhân loại mà suy nghĩ và lựa chọn,

kế thừa và đổi mới, vận dụng và phát triển

Ảnh hưởng quan trọng tới Hồ Chí Minh là chủ nghĩa Mác - Lênin Nhờ

có thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí Minh đã hấp thụ và chuyển hóa được những nhân tố tích cực và tiến bộ của truyền thống dân tộc cũng như của tư tưởng – văn hóa nhân loại để tạo nên hệ thống tư tưởng của mình phù hợp với xu thế vận động của lịch sử Triết học giúp Hồ Chí Minh hình thành thế giới quan, phương pháp biện chứng, nhân sinh quan khoa học, cách mạng, thấy được những quy luật vận động phát triển của thế giới và xã hội loài người Người quan sát, phân tích, tổng kết một cách độc lập tự chủ và sáng tạo; không rơi vào sao chép, giáo điều, rập khuôn; tiếp thu và vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin một cách sáng tạo, phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện cụ thể của Việt Nam Kinh tế chính trị học vạch rõ các quan hệ xã hội được hình thành phát triển gắn với quá trình sản xuất, thấy được bản chất bóc lột của chủ nghĩa tư bản đối với công nhân, xóa bỏ bóc lột

Trang 23

gắn liền với xóa bỏ quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa và sự chuyển biến tất yếu của xã hội loài người từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa cộng sản Chủ nghĩa xã hội khoa học vạch ra quy luật phát sinh, hình thành, phát triển của hình thái kinh tế xã hội cộng sản chủ nghĩa; những điều kiện, tiền đề, nguyên tắc, con đường, học thức, phương pháp của giai cấp công nhân, nhân dân lao động để thực hiện sự chuyển biến xã hội từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội, cộng sản Như vậy, Hồ Chí Minh đã tiếp thu lý luận Mác - Lênin theo phương pháp nhận thức mácxít, cốt nắm lấy cái tinh thần, cái bản chất chứ không tự trói buộc trong cái vỏ ngôn từ Người vận dụng lập trường, quan điểm và phương pháp của chủ nghĩa Mác - Lênin để tự tìm ra những chủ trương, giải pháp, đối sách phù hợp với từng hoàn cảnh cụ thể, từng thời kỳ

cụ thể của cách mạng Việt Nam chứ không đi tìm những kết luận có sẵn trong sách vở kinh điển Chủ nghĩa Mác - Lê Nin với bản chất cách mạng và khoa học của nó giúp Người chuyển biến từ chủ nghĩa yêu nước gắn chặt với chủ nghĩa quốc tế, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, thấy vai trò của quần chúng nhân dân, sứ mệnh lịch sử của giai cấp công nhân, liên minh công nông trí thức và vai trò lãnh đạo của đảng cộng sản trong cách mạng giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người, bảo đảm thắng lợi cho chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản

Hồ Chí Minh từng nói "học thuyết của Khổng Tử có ưu điểm của nó là

sự tu dưỡng đạo đức cá nhân, tôn giáo Giê-su có ưu điểm của nó là lòng nhân

ái cao cả Chủ nghĩa Mác có ưu điểm là phương pháp làm việc biện chứng.Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có ưu điểm là chính sách của nó phù hợp với điều kiện nước ta Khổng Tử, Giê- su, Mác, Tôn Dật Tiên chẳng đã có những điểm chung đó sao? Họ đều muốn mưu cầu hạnh phúc cho loài người, mưu cầu phúc lợi cho xã hội, nếu hôm nay họ còn sống trên đời này, nếu họ họp lại một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chung sống với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết Tôi cố gắng làm người học trò nhỏ của các vị ấy"[35, tr 19] Qua đó, có thể nói rằng Nho giáo, Phật giáo, chủ nghĩa của

Trang 24

Tôn, văn hóa phương Tây, chủ nghĩa Mác - Lê Nin đều ảnh hưởng rất sâu sắc tới con người Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh, giống như ba nguồn gốc hình thành học thuyết Mác là triết học Đức, kinh tế học Anh và chủ nghĩa xã hội Pháp vậy

1.2.3 Nhân tố chủ quan của Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh

Các yếu tố trên đều rất quan trọng, góp phần hình thành phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh.Tuy nhiên yếu tố quan trọng hơn cả thuộc về phẩm chất cá nhân của Người Bởi những yếu tố như truyền thống văn hóa, ngoại giao dân tộc, hay kế thừa văn hóa thế giới đều đến với nhiều người cùng thời với Hồ Chí Minh, nhưng chỉ có Người mới phát huy được những điều kiện đó

để tạo nên thành công Có được điều này phải kể đến nhân tố chủ quan thuộc

về phẩm chất cá nhân của Người

Cốt cách và phẩm chất cá nhân của Chủ tịch Hồ Chí Minh được hình thành từ chính quê hương và gia đình của Người Người sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước, gần gũi với nhân dân Thân phụ của Người là cụ phó bảng Nguyễn Sinh Sắc - một nhà nho cấp tiến, có lòng yêu nước thương dân sâu sắc, có ý chí kiên cường vượt qua gian khổ khó khăn, đặc biệt là tư tưởng thương dân và chủ trương lấy dân làm hậu thuẫn cho mọi cải cách chính trị -

xã hội đã ảnh hưởng lớn tới sự hình thành nhân cách của Nguyễn Tất Thành

Quê hương của Chủ tịch Hồ Chí Minh là mảnh đất Nghệ Tĩnh nghèo, nhưng giàu lòng yêu nước và truyền thống cách mạng Mới 6 tuổi, Nguyễn Tất Thành được đắm mình trong phong trào Cần Vương Khí thế hào hùng xen lẫn bi hùng của phong trào yêu nước này đã tác động sâu sắc tới tâm hồn non trẻ nhưng đầy nhạy cảm của Nguyễn Sinh Cung.Người lớn lên trong bối cảnh mà các phong trào yêu nước do các bậc cách mạng tiền bối khởi xướng

nổ ra khắp nơi như phong trào Đông Du do Phan Bội Châu lãnh đạo, phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục do Lương Văn Can, Nguyễn Quyền lãnh đạo, phong trào Duy Tân do Phan Châu Trinh lãnh đạo, cuộc khởi nghĩa Yên Thế

do Hoàng Hoa Thám là thủ lĩnh.Lớn lên trong phong trào cách mạng ấy,

Trang 25

Nguyễn Ái Quốc luôn đau đáu khát vọng tìm ra con đường cứu nước cho dân tộc thoát khỏi cảnh lầm than

Phẩm chất tiêu biểu thứ hai ở nhân cách Hồ Chí Minh là chí hướng, nhân sinh quan, thế giới quan khoa học, lý tưởng sống, niềm tin sâu sắc vào

sự nghiệp cứu dân, cứu nước, sự nghiệp cách mạng của nhân dân Việt Nam

và nhân dân lao động toàn thế giới Chí hướng ấy, niềm tin ấy bộc lộ ngay khi Người ra đi tìm đường cứu nước cho đến khi Người từ biệt chúng ta trở về cõi vĩnh hằng Trong suốt cả cuộc đời, dù ở đâu, trong hoàn cảnh nào, ở vị trí nào, Hồ Chí Minh luôn có cách nhìn, quan niệm đúng đắn sáng tạo, biện chứng về sự vật, hiện tượng, con người, nhất là những vấn đề có liên quan đến sự nghiệp cách mạng Hồ Chí Minh, trong suốt cả cuộc đời, đã sống và hoạt động đâu phải cho riêng mình mà cho mọi người, cho tất cả những người cần lao trên thế giới Lý tưởng sống của Người là lí tưởng cách mạng, sống vì hạnh phúc, ấm no, vì nền độc lập, tự do cho dân cho nước.Tư tưởng “Không

có gì quý hơn độc lập, tự do” dẫn đến một cách tự nhiên ý chí tự lập, tự cường Tinh thần độc lập tự chủ, sáng tạo trong đường lối cũng như trong thực tiễn đấu tranh cách mạng, không ỷ lại trông chờ bên ngoài, không rập khuôn sao chép Con đường, chí hướng, lý tưởng sống, niềm tin của Hồ Chí Minh là cứu nước và giải phóng dân tộc gắn liền với con đường cách mạng vô sản, gắn liền với sự nghiệp đi lên chủ nghĩa xã hội Vì vậy, Hồ Chí Minh không chỉ là người anh hùng dân tộc vĩ đại mà còn là một nhà lãnh đạo cách mạng vô sản, một nhà chính trị lỗi lạc, tiêu biểu của thời đại

Chủ nghĩa yêu nước kết hợp với việc tiếp thu những tinh hoa của nền văn hóa Việt Nam và văn hóa nhân loại cùng với điều kiện thực tiễn của Việt Nam những năm đầu thế kỉ XX là những tiền đề cơ bản để Hồ Chí Minh đến với chủ nghĩa Mác - Lênin Từ đó cách mạng Việt Nam đi theo một hướng mới, trở thành một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới Giáo sư Vũ Dương Ninh nhận xét “một trong những điểm mới và khác của Hồ Chí Minh

Trang 26

so với các nhà yêu nước tiền bối là Người đã đưa cách mạng Việt Nam vào quỹ đạo thế giới và trở thành một bộ phận của cách mạng thế giới”[31,tr.108] Cuộc hành trình sang phương Tây đã mở rộng tầm nhìn của Người, nâng cao nhận thức của Người với thế giới Thân phận người dân nô lệ mất nước cùng với cuộc sống lao động vất vả đã tạo cho Người một cách nhìn nhân văn Người đi đến một kết luận quan trọng “ở đâu cũng có hai hạng người, người bóc lột và người bị bóc lột.Kết luận này có ý nghĩa xóa bỏ những thành kiến chủng tộc da trắng, da vàng, đồng thời tìm thấy bầu bạn trong những người lao động ở ngay những nước đế quốc” [31, tr 110] Điều quan trọng nhất khi nói về con đường cách mạng Hồ Chí Minh chính là độc lập tự do và chủ nghĩa xã hội Đây là lý tưởng, là mục tiêu của Người Câu nói của Người khi trả lời bộ trưởng bộ thuộc địa Pháp Anbe Xarô cho thấy rõ mục tiêu cách mạng kiên định của Người “cái mà tôi cần nhất trên đời là: Đồng bào tôi được

tự do, Tổ quốc tôi được độc lập” [12, tr 146] Đấu tranh giành độc lập tự do

là nghĩa vụ thiêng liêng nhất, là lẽ sống và luôn thống nhất từ trong suy nghĩ tới hành động của Người

Trong những phẩm chất tạo nên nhân cách ở Hồ Chí Minh là tầm vóc

và hiểu biết cao về lý luận cách mạng; khả năng vận dụng lý luận vào thực tiễn một cách sáng tạo là một phẩm chất cơ bản và cốt lõi Đó là kết quả của việc tiếp thu những tinh hoa của văn hóa dân tộc và nhân loại Người thường căn dặn mọi người (nhất là người cộng sản) không nên chỉ biết học thuộc lòng chủ nghĩa Mác - Lênin mà phải nghiên cứu kĩ, hiểu khái quát và sâu sắc Đặc biệt, học chủ nghĩa Mác - Lênin là để vận dụng sáng tạo vào điều kiện cách mạng cụ thể của Việt Nam, của mỗi nước Ngoài học ở trường, ở sách vở, còn cần phải học lẫn nhau và học nhân dân Không ai khác, chính Người là một nhà cách mạng, một nhà hoạt động chính trị mẫu mực về tự học, học đi đôi với hành, lí luận gắn liền với thực tiễn cuộc sống và thực tiễn cách mạng Nhân cách Hồ Chí Minh còn là nhân cách mà trong đó chứa đựng sức mạnh

và ý chí, nghị lực, khát vọng phi thường.Ý chí ấy, sức mạnh ấy đã thực hiện,

Trang 27

tạo ra sự quyết tâm cao của hàng triệu triệu con người Việt Nam và nhân loại tiến bộ trong đấu tranh cách mạng.Ý chí ấy, sức mạnh ấy đã làm cho kẻ thù phải kính nể Người Ý chí ấy là kết quả của sự rèn luyện, tu dưỡng không ngừng với phương châm của Người mà không phải chỉ có riêng Hồ Chí Minh,

mà bất cứ ai nếu cố gắng vẫn làm được, thực hiện được

Tiểu kết:

Như vậy phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh có nguồn gốc từ văn hóa Việt Nam và nền ngoại giao truyền thống, đồng thời ảnh hưởng từ văn hóa thế giới.Điều quan trọng nhất góp phần hình thành nên phong cách ngoại giao của Người là phẩm chất và cốt cách bẩm sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh.Đó là lòng yêu nước nồng nàn, kết hợp với tư chất thông minh và tư duy độc lập, được rèn luyện hun đúc trong phong trào cộng sản và phong trào cách mạng thế giới Nhân cách Hồ Chí Minh là nhân cách một con người rất người, một người Việt Nam rất Việt Nam Đúng là “dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch” theo đúng nghĩa sâu sắc, đậm đặc và rất nhất quán một nhân cách Hồ Chí Minh, rất Việt Nam Những gì là lý luận, là khoa học, là uyên bác, là thâm thúy đều thể hiện ở Hồ Chí Minh Đó chính là sự hòa quyện, sự kết đọng của sự thông tuệ dân gian; tế nhị và mộc mạc của tinh hoa văn hóa Việt Nam, của văn hóaphương Đông và văn hóa phương Tây; vừa dân tộc, vừa quốc tế Đặc điểm nổi bật ấy tạo nên phong cách ngoại giao rất độc đáo của Chủ tịch Hồ Chí Minh không trộn lẫn vào đâu được

Trang 28

Chương 2 BIỂU HIỆN PHONG CÁCH NGOẠI GIAO HỒ CHÍ MINH

QUA CÁC HOẠT ĐỘNG THỰC TIỄN CỦA NGƯỜI (1945 – 1969)

2.1 Phong cách tư duy

2.1.1 Luôn kiên định mục tiêu vì lợi ích dân tộc kết hợp thực hiện nghĩa

vụ quốc tế và đề cao tính chính nghĩa

Nói đến phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh là nói đến một điều “bất biến” đó là lợi ích dân tộc.Đây luôn là mục đích tối thượng của Người, quyết định và chi phối các mặt hoạt động Lợi ích dân tộc cũng luôn thống nhất từ trong suy nghĩ tới hành động của Người, bởi có một chân lý rằng “không có

gì quý hơn độc lập tự do” Tuy nhiên cái cao quý hơn, cái đáng phục hơn khi nói về phong cách tư duy của người cộng sản Hồ Chí Minh đó là Người không chỉ hành động vì mục tiêu độc lập cho riêng dân tộc mình, mà còn kết hợp thực hiện nghĩa vụ quốc tế và đề cao tính chính nghĩa Lợi ích dân tộc và đoàn kết quốc tế tuy là hai nhưng lại thống nhất là một, vừa là nhiệm vụ quốc gia nhưng vừa là nghĩa vụ quốc tế.Khi củng cố độc lập dân tộc thì sẽ góp phần đoàn kết quốc tế, và đoàn kết quốc tế thì lại tạo điều kiện để giữ gìn độc lập dân tộc Đó vừa là con người, vừa là nét riêng của chủ tịch Hồ Chí Minh

mà ta rất khó có thể tìm thấy ở một vị chủ tịch nào khác trên thế giới, nó trở thành phong cách tư duy riêng mang tên Hồ Chí Minh

Ngay từ khi còn là một cậu học trò nhỏ, Nguyễn Sinh Cung đã trăn trở

về vận mệnh dân tộc và đâu là con đường giải phóng dân tộc khỏi ách lầm than Lòng yêu nước và khát vọng tìm hiểu những chữ “Tự do – Bình đẳng – Bác ái” đã thôi thúc chàng thanh niên trẻ Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước Trong ba mươi năm bôn ba, không lúc nào Người ngừng nghĩ về dân tộc Việt Nam, chưa bao giờ Người đòi hỏi gì cho riêng mình.“Ở Pháp lúc

đó, Hồ Chí Minh dùng hơn 200 bút danh để đấu tranh chính trị Hồ Chí Minh

Trang 29

chưa bao giờ rời bỏ mục tiêu của mình đó là đem lại cho dân tộc mình, trong

đó có những người thân của mình, sự tự do, nhân phẩm và quyền được làm chủ” [45] - D.De MisCault, tổng biên tập tạp chí triển vọng Việt Nam – Pháp nhận xét Giáo sư Vũ Dương Ninh thì tổng kết “nhìn lại 50 năm hoạt động tính từ bản yêu sách của nhân dân An Nam (1919) đến di chúc (1969), các hoạt động quốc tế của Hồ Chí Minh đều nhằm vào mục tiêu cao cả độc lập tự

do Đó là nguyên tắc cơ bản nhất, là điều bất di bất dịch” [31, tr.18] Trong những ngày đầu độc lập, với vai trò là bộ trưởng ngoại giao, Người phải đấu tranh với thực dân Pháp và Tàu Tưởng Cuộc đấu tranh này là ví dụ điển hình cho thấy Người kiên định mục tiêu độc lập dân tộc như thế nào Khi Tàu Tưởng kéo vào miền bắc Việt Nam để giải giáp quân Nhật, Hồ Chí Minh đã hết sức nhân nhượng Tưởng nhiều việc như chấp nhận cho chúng tiêu tiền quan kim mất giá, cung cấp lương thực cho chúng Song Người kiên quyết không để quân Tưởng can thiệp vào chính quyền, nhằm giữ vững thế hợp pháp của chính quyền Ngay cả chuyện cung cấp lương thực, Hồ Chủ tịch cũng giữ sự cân bằng giữa nhân nhượng đối thủ và đảm bảo lợi ích dân tộc Đòi thêm gạo không được, một viên tướng của Lư Hán và Tiêu Văn đã to tiếng hăm dọa “không có gạo thì sẽ dùng vũ lực” Hồ Chí Minh rất bình tĩnh trả lời đầy kiên quyết “ông muốn làm gì cũng được Nhưng tôi không thể cho ông gạo nhiều hơn khi nhân dân tôi còn đang chết đói” [28, tr 46] Tay này sau đó phải im miệng

Trong đấu tranh với Pháp, Hồ Chí Minh cũng giữ vững các vấn đề về nguyên tắc là độc lập thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.Thời kỳ 1945-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Chính phủ lâm thời trải qua rất nhiều cuộc đàm phán quan trọng với Pháp.Trong đó, vấn đề mấu chốt và gay cấn nhất là Việt Nam đòi Pháp công nhận Việt Nam là một quốc gia độc lập Trước sau, Pháp vẫn không chấp nhận điều này, Chính phủ Hồ Chí Minh phải

ký hiệp định sơ bộ 6 tháng 3 và tạm ước 14 tháng 9 với sự thừa nhận của Pháp rằng Việt Nam là một quốc gia tự do có chính phủ, có nghị viện và quân

Trang 30

đội riêng Chính sách “hòa để tiến” này cũng vì mục đích tranh thủ khả năng

có lợi nhất cho nền độc lập Đó là sự nhân nhượng có nguyên tắc của Hồ Chí Minh, để tránh cho nhân dân một cuộc đấu tranh với nhiều kẻ thù cùng một lúc, đồng thời để nhân dân có thời gian chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài dành độc lập hoàn toàn Đúng như chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói “mục đích bất di bất dịch của ta vẫn là hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ Nguyên tắc của ta thì phải vững chắc, nhưng sách lược của ta thì linh hoạt” [18,tr.319]

Như đã nói ở trên, chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ kiên trì mục tiêu lợi ích dân tộc cho riêng quốc gia mình, mà luôn song hành cùng phong trào cách mạng thế giới và đề cao tính chính nghĩa Trước 1945, các hoạt động của Người gắn liền với phong trào đấu tranh của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên toàn thế giới, là một bộ phận của cách mạng Đông Dương và quốc tế cộng sản Ngay khi tuyên ngôn độc lập, trong bản thông cáo về chính sách đối ngoại đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa đã nêu Việt Nam hợp tác thân thiện với các nước Đồng minh và các dân tộc láng giềng Trung Hoa, Khơ me và Lào Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp,

dù gặp nhiều khó khăn, Hồ Chí Minh vẫn chỉ đạo nhân dân ta kiên trì đường lối ngoại giao hòa bình, vận động nhân dân tiến bộ trên thế giới ủng hộ cuộc kháng chiến chính nghĩa của nhân dân Việt Nam, xây dựng mặt trận đoàn kết chặt chẽ với ba nước Đông Dương chống kẻ thù chung, tăng cường quan hệ ngoại giao với Liên Xô, Trung Quốc Người luôn đoàn kết quốc tế vững chắc với ba lực lượng là phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, phong trào giải phóng dân tộc và phong trào hòa bình thế giới, đặc biệt là phong trào chống chiến tranh của nhân dân các nước đế quốc đang xâm lược Việt Nam Người

đã khẳng định nghĩa vụ quốc tế của cách mạng Việt Nam “nhân dân ta chiến đấu hi sinh chẳng những vì tự do độc lập riêng của mình mà còn vì tự do độc lập chung của các dân tộc và hòa bình trên thế giới” [13, tr 367], “ta quyết chiến quyết thắng miền Nam chẳng những là vì nhiệm vụ của ta mà còn vì

Trang 31

nghĩa vụ của ta đối với cách mạng thế giới” [13, tr 394] Chủ tịch Hồ Chí Minh giải đáp nhiều câu hỏi lớn được đặt ra trước các dân tộc đang đấu tranh giành độc lập “Mỹ lấy chiến trường miền Nam làm thí điểm về chiến thuật, trang bị, vũ khí Nếu ở miền Nam nó thắng thì nó dùng cách ấy để ăn cướp các dân tộc khác Nếu chúng ta thắng ở miền Nam tức là chúng ta đã đè được lực lượng xâm lược của Mỹ, đó là ta góp phần vào cách mạng thế giới” [13,

tr 394], “phải tăng cường đoàn kết hữu nghị với tất cả các nước xã hội chủ nghĩa, tăng cường hữu nghị với các dân tộc bị áp bức, với nhân dân thế giới vì

lợi ích của hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội” [11, tr 190]

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng luôn bày tỏ lòng kính trọng của mình với nhân dân Mỹ, đó là những người thông minh, yêu hòa bình và dân chủ.Nhưng lính

Mỹ lại bị đưa đến Việt Nam để giết người và để bị giết Người đồng cảm với nỗi đau của cha mẹ họ và nhấn mạnh rằng nhân dân Việt Nam sẵn sàng hoan nghênh người Mỹ, nhưng là trong tư cách những kỹ sư, những nhà khoa học, những người yêu chuộng hòa bình chứ không phải là trong tư cách những người lính Hồ Chí Minh nói “các ông hãy tin tôi khi tôi nói rằng tôi sẽ rất sung sướng được đón tiếp tổng thống Mỹ đến đây một cách hòa bình Chúng tôi chìa bàn tay hữu nghị ra với bất kỳ quốc gia nào thừa nhận Việt Nam là một nước tự do và độc lập” [15, tr 199].Có thể nói trong quan hệ quốc tế Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nêu cao nhân đạo và chính nghĩa.Ngay cả khi phải tiến hành một cuộc đấu tranh một mất một còn với thực dân để dành độc lập dân tộc, Người luôn tìm kiếm mọi cơ hội đối thoại, đàm phán để có thể tránh một cuộc chiến bạo lực và phi nghĩa Ngọn cờ độc lập dân tộc được giương cao, tính chính nghĩa ngày càng sáng tỏ, phù hợp với xu thế chung của cách mạng

và nguyện vọng của đa số nhân dân thế giới “Chính vì thế mà xuất hiện mối quan hệ qua lại rất biện chứng mục tiêu độc lập dân tộc ngày càng được nhân dân thế giới đồng tình ủng hộ và sự đồng tình ủng hộ đó đã góp phần đưa cuộc đấu tranh vì độc lập- tự do đến thắng lợi hoàn toàn” [31, tr 19]

Trang 32

Qua những dẫn chứng trên có thể thấy phong cách tư duy của Hồ Chí Minh luôn kiên định những điều đó là độc lập dân tộc, hòa bình cho nhân dân, đoàn kết với phong trào cách mạng thế giới, nỗ lực vì hòa bình và tình hữu nghị giữa các dân tộc và luôn đề cao tính chính nghĩa Tư duy ngoại giao này không chỉ bắt nguồn từ truyền thống ngoại giao hòa hiếu của cha ông mà còn phù hợp với xu thế và ước muốn của nhân loại, và chính đường lối này đã tạo nên sức mạnh lớn hơn bởi có sự kết hợp giữa dân tộc và thời đại.Xin trích lời của ông H.Boumedien, Chủ tịch hội đồng bộ trưởng Algerie khi đọc lễ tang

Hồ Chí Minh để khẳng định thêm một lần nữa rằng Hồ Chí Minh luôn kiên định mục tiêu vì lợi ích dân tộc kết hợp với lợi ích quốc tế và đề cao tính chính nghĩa Ông H.Boumedien nói “Người mất đi là thế giới thứ ba mất một con người dũng cảm, vì cuộc đời chiến đấu của Người cũng là cuộc chiến đấu của tất cả các dân tộc bị áp bức châu Phi, của Palestine, của Việt Nam, của châu Á để dành lại phẩm cách và danh dự” [44, tr 33]

Ngay từ đầu, chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra chính sách đối ngoại độc lập tự chủ Để có được điều đó, trước tiên là phải có tư duy và phương pháp độc lập, khoa học trong việc phân tích, nhận thức thời cuộc, tỉnh táo để thấy chuẩn xác thời cơ và thách thức, đâu là xu hướng chủ yếu của quan hệ quốc tế

và chính sách của các nước trong từng thời kỳ; chủ động và tự quyết trong việc xác định đúng vị trí, vai trò, lợi ích của Việt Nam trong quan hệ quốc tế nhất là vào những khúc quanh co của diễn biến cục diện thế giới Giai đoạn

1945 -1946 là giai đoạn đầy khó khăn của nước Việt Nam non trẻ.Trên cương

Trang 33

vị là người đứng đầu nhà nước, Hồ Chí Minh phải đối mặt với muôn vàn vấn

đề về cả đối nội và đối ngoại Trong hoàn cảnh phải đối mặt cùng lúc với nhiều kẻ thù (20 vạn quân Tưởng ở phía Bắc, 2,6 vạn quân Anh ở phía Nam, quân Nhật thì chưa được giải giáp và vẫn còn trên đất nước cùng với nhiều lính Pháp) Trước hoàn cảnh “ngàn cân treo sợi tóc” ấy, chủ tịch Hồ Chí Minh

đã bình tĩnh sáng suốt đánh giá tình hình và khéo léo khai thác lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ địch để tạm thời tránh được cuộc chiến tranh cho nhân dân và có thời gian xây dựng củng cố chính quyền non trẻ cũng như cùng nhân dân chuẩn bị cho cuộc kháng chiến lâu dài mà Người biết khó có thể tránh khỏi Đó là ví dụ điển hình cho thấy rõ phong cách tư duy độc lập của Người

Năm 1949 khi trả lời các phóng viên nước ngoài về vấn đề Việt Nam

có nhận được sự giúp đỡ của nước ngoài hay không, Hồ Chí Minh nói “thắng lợi của Việt Nam sẽ là độc lập và thống nhất thực sự.Chúng tôi bao giờ cũng trông ở sức mình.Chúng tôi không sợ ai cả Không nước nào có thể thống trị được chúng tôi”[16,tr 1328] Nói chuyện với hội nghị ngoại giao lần thứ ba năm 1964, Bác căn dặn “các nhà ngoại giao nước ta cần nắm cái gốc, các điểm mấu chốt về chính trị, quân sự, kinh tế, nội chính, ngoại giao của ta là tự lực cánh sinh Phải hiểu thấu đáo vấn đề này, không thì sẽ siêu vẹo đấy”[11,

tr 14] Trong bất kỳ hoàn cảnh nào, dù là bĩ cực nhất, Người vẫn luôn giữ được phong thái độc lập và tự chủ cho mình, từ tư duy tới hành động

Và cũng chính tư duy độc lập tự chủ đã giúp Hồ Chí Minh cùng Đảng

ta chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam đi giữa hai ngọn sóng Xô - Trung trong thập kỷ 60 Trong bối cảnh các nước xã hội chủ nghĩa chia rẽ, việc giữ được tinh thần độc lập tự chủ là điều vô cùng khó khăn bởi đây là sự đối địch của hai nước xã hội chủ nghĩa lớn, vốn là đồng minh chiến lược của cách mạng Việt Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng với Đảng đã xác định nhiệm vụ

là tham gia cuộc đấu tranh bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lê nin

và chủ nghĩa quốc tế vô sản Đảng ta không nghiêng về bên này hay bên

Trang 34

kiamà tìm cách phát huy yếu tố tích cực của mỗi bên, giảm bớt sự bất đồng góp vào sự nghiệp đoàn kết quốc tế Bác rất coi trọng đoàn kết Xô - Trung, không đồng tình với một số việc làm thái quá của ban lãnh đạo Liên Xô, nhưng khi phía Trung Quốc đi quá mức, Bác đã khôn khéo tỏ thái độ không tán thành, giữ vững chính kiến của mình và tiến hành đấu tranh, hành động theo đường lối của Đảng ta đề ra chứ không phải là một chiều theo Trung Quốc hoặc Liên Xô Với Bác tôn trọng vai trò nước lớn và giữ gìn tình hữu nghị của Trung Quốc trong quan hệ với Việt Nam không có nghĩa là nhắm mắt làm theo, từ bỏ lợi ích chính đáng của dân tộc Không bao giờ Bác từ bỏ nguyên tắc độc lập tự chủ và tỏ ra sợ hãi.Nhờ lập trường độc lập tự chủ này

mà các nước xã hội chủ nghĩa và các Đảng cộng sản đều biểu thị sự đồng tình ủng hộ Việt Nam và chi viện có hiệu quả cho cuộc kháng chiến của ta.Đây là thắng lợi của đường lối độc lập tự chủ mà chủ tịch Hồ Chí Minh là người đề

ra

GS.Becna Dam, trường đại học Passau cộng hòa Liên bang Đức hoàn toàn có lý khi chỉ ra rằng “so với Tan Malaka (nhà quốc tế chủ nghĩa Indonesia),Hồ Chí Minh thiết thực hơn và nhận thức sâu sắc hơn về thời cơ cách mạng Nếu Xucácnô là người truyền giáo khi tiến hành cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Indonesia thì Hồ Chí Minh là người tổ chức, lãnh đạo cách mạng tháng Tám năm 1945 ở Việt Nam So với Aungxan (nhà cách mạng Miến Điện) thì Hồ Chí Minh khôn ngoan nhưng hành động thận trọng hơn” [16 ] Có thể nói chính phong cách tư duy của Hồ Chí Minh - một phong cách độc lập, thiết thực gắn với thực tiễn đất nước và thời đại của Người, đã khiến cho Người nổi bật hơn những nhà cách mạng đương thời đó

2.1.3 Sáng tạo trong hình thức đấu tranh ngoại giao

Hồ Chí Minh là nhà ngoại giao đầy sáng tạo Chính mục đích cách mạng rõ ràng, kết hợp với trí tuệ minh triết, và tư duy độc lập trong đánh giá tình hình đã giúp Người có cái nhìn bao quát về tình hình chính trị trong nước

và quốc tế, từ đó đưa ra được những hình thức đấu tranh ngoại giao đầy sáng

Trang 35

tạo và hiệu quả Hình thức đấu tranh ngoại giao của Người là một mặt trận được triển khai theo nhiều hướng, nhiều phương diện nhằm tạo dựng mặt trận đoàn kết nhân dân toàn thế giới ủng hộ cuộc kháng chiến của nhân dân Việt Nam Câu nói “dĩ bất biến, ứng vạn biến” mà Người dặn cụ Huỳnh Thúc Kháng trước khi sang Pháp năm 1946 đã thể hiện rõ sự linh hoạt sáng tạo trong đấu tranh ngoại giao của Người

Trong những ngày đầu độc lập nhiệm vụ đối ngoại của Đảng ta là làm sao duy trì được hòa bình càng lâu càng tốt trên phần lớn đất nước Là người đứng mũi chịu sào, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trương không chỉ đơn thuần là hòa hoãnđể tránh đối đầu với nhiều kẻ thù cùng một lúc mà còn phải biết sống chung với kẻ thù để kiềm chế chúng Đây là sự vận dụng linh hoạt sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê nin về tranh thủ khả năng hòa hoãn với kẻ thù, là sự thỏa hiệp có nguyên tắc trong hoạt động đối ngoại của Bác Hồ và Đảng ta trong 15 tháng (23/9/1945 đến 19/12/1946) Lúc thì tạm hòa hoãn với Tưởng để rảnh tay đối phó với thực dân Pháp, lúc thì tạm hòa hoãn với Pháp để đuổi Tưởng

ra khỏi nước ta mà không dùng đến biện pháp chiến tranh Chủ tịch Hồ Chí Minh còn triệt để lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù, phân hóa và cô lập chúng đến cao độ Trong kháng chiến chống Pháp, Hồ Chí Minh đã khôn khéo vận dụng mâu thuẫn giữa phái chủ chiến Đắc giăng liơ và phái chủ hòa

Lơ Clec, mâu thuẫn giữa Pháp và Tưởng, lợi dụng mâu thuẫn giữa lực lượng Lưỡng Quảng do Lư Hán cầm đầu và phái Trung ương do Chu Phúc Thành chỉ huy, triển khai thuận lợi chính sách hòa hoãn với Tưởng Trong kháng chiến chống Mỹ, Bác và Đảng đã lợi dụng mâu thuẫn giữa các phe phái, đảng

ở Mỹ, giữa Pháp và Mỹ, giữa Mỹ và bè lũ tay sai Sài Gòn để triển khai biện pháp đấu tranh ngoại giao có lợi cho cách mạng Tổng Bí thư Lê Duẩn viết

“những biện pháp cực kỳ sáng suốt đó đã ghi vào lịch sử cách mạng nước ta như một mẫu mực tuyệt vời của sách lược Lê-nin-nít về lợi dụng mâu thuẫn

trong hàng ngũ kẻ địch và sự nhân nhượng có nguyên tắc” [5, tr 31]

Trang 36

Xuất phát từ tư tưởng mong muốn hòa bình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đấu tranh ngoại giao bằng nhiều con đường Trong hai cuộc kháng chiến, với

hy vọng thức tỉnh lương tri của những người trong bộ máy điều hành của đối phương, Người trực tiếp gửi thư tới các chính giới Pháp và Mỹ Theo thống

kê chưa đầy đủ về các thư, điện báo, diễn văn, bài trả lời phỏng vấn…thì trong những năm kháng chiến chống Pháp, Người đã viết 30 tài liệu gửi chính phủ và nhân dân Pháp, tập trung nhất là vào những năm 1945 – 1947 là 24 bản, tức là trước và sau khi bùng nổ cuộc kháng chiến toàn quốc, kể cả thời gian Người sang Pháp Nội dung cơ bản là khẳng định quyền độc lập hoàn toàn của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và thiện chí hòa bình của Việt Nam Trong thư gửi ông Bi đôn – lãnh tụ gia tôn giáo, ông Lêông Blum – lãnh tụ đảng xã hội Pháp, và ông Tô Rê – lãnh tụ đảng cộng sản Pháp, Người nói “tôi có thể đảm bảo với các ngài rằng nếu nước Pháp chịu thừa nhận nền độc lập của Việt Nam, dân chúng Việt Nam sẽ hết sức hòa hảo với nước Pháp Trái lại thế, dân chúng Việt Nam quyết rỏ đến giọt máu cuối cùng để

bảo vệ sự nghiệp tự do” [15, tr 106]

Bên cạnh hình thức ngoại giao nhà nước, Hồ Chí Minh còn rất sáng tạo với hình thức ngoại giao nhân dân Bởi theo Hồ Chí Minh ngoại giao không chỉ là việc riêng của “các đại sứ quán, tổng lãnh sự quán là những cơ quan chuyên môn phụ trách, mà còn là các tổ chức khác như ngoại thương, văn hóa, thanh niên, phụ nữ, công đoàn cũng đều làm ngoại giao cả” [30, tr 168].Người luôn tận dụng mọi cơ hội để có những cuộc tiếp xúc bên lề với nhân dân thế giới, làm cho nhân dân thế giới hiểu rõ về Việt Nam, về cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân ta, tập hợp các lực lượng ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam

Mặc dù Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tuyên bố độc lập từ 1945 nhưng không có nước nào công nhận Việt Nam Cho đến 1949 khi cách mạng Trung Quốc thành công và tình hình có nhiều biến động, Hồ Chí Minh đã sáng suốt khi quyết định chuyến đi băng rừng sang Trung Quốc vào đầu năm 1950 rồi

Trang 37

đến Liên Xô Trong tình thế Việt Nam bị bao vây cô lập thì chuyến đi ngoại giao này đã mang lại những thắng lợi lớn cho cách mạng Việt Nam Bước đi ngoại giao 1950 này đã đưa Việt Nam vượt khỏi tình trạng cách biệt với thế giới bên ngoài, làm cho các nước hiểu rõ thực chất vấn đề chiến tranh Đông Dương và tính chính nghĩa của cách mạng Việt Nam Nhờ đó dấy lên phong trào ủng hộ Việt Nam ngày càng lan rộng trên thế giới Sự viện trợ của Trung Quốc và Liên Xô khi đó có giá trị rất lớn với cách mạng nước ta

Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng là con người tiêu biểu cho phong cách ngoại giao “tâm công” rất độc đáo Phong cách ngoại giao của Người luôn đề cao lòng nhân ái, thái độ chân thành, biết cảm thông và chia sẻ, xóa bỏ được ranh giới và tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ của nhân dân các nước đế quốc đang tiến hành chiến tranh ở Việt Nam Trong bối cảnh thực dân Pháp đang cố tình gây chiến, chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “chúng tôi muốn hòa bình ngay để máu người Pháp và người Việt ngừng chảy.Những dòng máu đỏ chúng tôi đều quý như nhau” [15, tr 310] Và với nhân dân Mỹ, người nhiều lần khẳng định “chúng tôi phân biệt rõ ràng đế quốc Mỹ là kẻ thù

và nhân dân Mỹ là người bạn của nhân dân Việt Nam” [23, tr.270 ] Ít có vị lãnh tụ nào trên thế giới trong khi đang lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc chiến tranh chính nghĩa để bảo vệ độc lập tự do của Tổ quốc mình, lại vẫn luôn bày tỏ sự cảm thông với nhân dân các nước ở phía bên kia chiến tuyến Trong các bức thư gửi nhân dân Mỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn bày tỏ Người không lên án bản thân những người lính Mỹ bị đưa sang Việt Nam vì

họ cũng như các binh lính thuộc địa trước kia chẳng qua là công cụ của nhà cầm quyền Vì vậy, Người nói “chẳng những chúng tôi đau xót vì đồng bào miền Nam chúng tôi phải gian khổ, hi sinh, mà chúng tôi cũng thương xót các

bà mẹ và các người vợ Mỹ đã mất con, mất chồng trong cuộc chiến tranh phi nghĩa ở Việt Nam do bọn quân phiệt Mỹ tiến hành” [23, tr 271] Tiếng nói chính nghĩa của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được đông đảo các tầng lớp nhân dân Mỹ đồng tình và chính họ đã tạo nên những làn sóng đấu tranh liên tục

Trang 38

chống chính quyền Mỹ đòi chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam Chủ tịch Hồ Chí Minh nói “nhân dân Mỹ đánh từ trong đánh ra, nhân dân ta đánh từ ngoài đánh vào.Hai bên giáp công mạnh mẽ thì đế quốc Mỹ nhất định sẽ thua, nhân dân Việt Nam nhất định sẽ thắng Đó sẽ là thắng lợi vẻ vang của mặt trận tấn công hai nước, mà cũng là thắng lợi chung của nhân dân yêu chuộng hòa

bình, chính nghĩa” [23, tr 524]

Sáng tạo là vận dụng đúng quy luật chung cho phù hợp với cái riêng, cái đặc thù Đồng thời sáng tạo cũng là tìm tòi, đề xuất những cái mới để có thể trả lời được những đòi hỏi của cuộc sống đặt ra Cái mới cái sáng tạo của Bác là phù hợp với quy luật khách quan của cách mạng Việt Nam, đồng thời phù hợp với quy luật chung của phát triển xã hội loài người

2.2 Phong cách hoạt động đối ngoại

Phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh được thể hiện chủ yếu qua hành động bởi về cơ bản Người là một nhà hiền triết hành động.Nét đặc sắc của Người là nói ít làm nhiều, có làm được mới nói, có khi làm mà không nói Do

đó cần tìm hiểu phong cách ngoại giao Hồ Chí Minh thông qua các hoạt động đối ngoại của Người, trong từng việc làm và cách làm ngoại giao của Người

Là một nhà văn hóa lớn, phong cách hoạt động ngoại giao Hồ Chí Minh là sự kết hợp hài hòa của các nhân tố văn hóa phương Đông và phương Tây, của nhiều lĩnh vực, của lý lẽ và tình cảm

2.2.1 Kết hợp lý lẽ và tình cảm

Trong ngày đầu độc lập, trước nhân dân toàn thế giới mà đối tượng chính là đế quốc Mỹ và Pháp, Hồ Chí Minh đã dùng lý lẽ của chính kẻ thù để khẳng định quyền tự do độc lập không chỉ cả của dân tộc mình mà còn của tất

cả các dân tộc trên toàn thế giới “tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hóa đã cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc ( )Suy rộng ra câu ấy có nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và

Trang 39

quyền tự do” [15, tr 9] Cái “suy rộng ra” của Bác là cái được lấy từ chính cái luận cứ và lý lẽ “lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn độc lập 1776 của nước Mỹ” nhưng đó lại là sự bổ sung rất trí tuệ của Bác Từ một chân lý đã biết, đã được công nhận, suy ra một chân lý tương tự, có chung logic bên trong Đây

là một đóng góp to lớn cho phong trào đấu tranh cách mạng toàn thế giới “với cuộc đời của dân tộc mình và cuộc đời của biết bao dân tộc bị đọa đầy khác, Bác đã đưa ra một sự bổ sung vĩ đại, góp phần xóa bỏ một vết nhơ nhục nhã

trong lịch sử loài người” [39, tr 160]

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dùng hệ thống lý lẽ của sự thật để để bác bỏ luận điệu của đế quốc thực dân cũng như tố cáo tội ác của chúng trước dư luận quốc tế.Sức mạnh của sự thật bao giờ cũng đồng thời là sức mạnh của chính nghĩa.Tùy đối tượng, Hồ Chí Minh tìm những điểm tương đồng để khơi dậy tình hữu ái và tinh thần hợp tác giúp đỡ lẫn nhau Người dùng lý lẽ kết hợp với tình cảm để ràng buộc họ, nếu họ không thực sự ủng hộ thì cũng đứng trung lập, không công khai chống lại ta Sau cách mạng tháng Tám, quân đội Tưởng Giới Thạch hàng ngày hàng giờ khiêu khích, tạo cớ để lật đổ chính quyền cách mạng, Hồ Chí Minh vẫn kiên nhẫn, bình tĩnh đấu tranh thuyết phục các tướng tá của Tưởng Giới Thạch bằng lẽ phải Hồ Chí Minh đề cao tinh thần kháng Nhật của nhân dân Trung Quốc, quan hệ truyền thống lâu đời giữa nhân dân hai nước, nêu khẩu hiệu “Hoa – Việt thân thiện”, tổ chức các hội hữu nghị Việt – Hoa Đồng thời chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc lại tuyên

bố của Tưởng Giới Thạch về việc “Việt Nam sẽ được tự trị để dần dần đi tới độc lập” để ràng buộc họ Người nêu rõ “xem thế đủ thấy nước bạn Trung Hoa chúng ta từ chính giới, quân giới cho chí dân chúng đều nhiệt liệt đồng tình và viện trợ nền độc lập của chúng ta Rất mong sự giúp đỡ bằng tinh thần

đó sẽ mang lại cho chúng ta sự giúp đỡ bằng vật chất thiết thực hơn nữa”[15,

tr 129]

Sự kết hợp giữa lý lẽ và tình cảm, giữa tiếng nói của trí tuệ và tiếng nói của trái tim trong phong cách Hồ Chí Minh tiếp tục được thể hiện trong hoạt

Trang 40

động đấu tranh của Người những năm sau đó Trước kẻ thù Người luôn giữ vững nguyên tắc độc lập tự do của dân tộc, đồng thời luôn đề cao nguyên tắc đạo lý chính nghĩa và nhân nghĩa trong quan hệ quốc tế, bảo vệ hòa bình và chống chiến tranh xâm lược Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu cao lẽ phải, lòng mong muốn hợp tác hòa bình với nước Pháp trên cơ sở độc lập của Việt Nam

và tôn trọng những quyền lợi kinh tế, văn hóa của nước Pháp ở Đông Dương Điều đó đã thuyết phục được không ít những người Pháp có đầu óc cởi mở Leon Blum, cựu thủ tướng Pháp sau nhiều lần tiếp xúc với Hồ Chí Minh ở Pháp, đã ủng hộ tiến trình thương lượng hòa bình để đạt được sự hợp tác với Việt Nam Ông tuyên bố “muốn giữ vững ảnh hưởng văn minh, chính trị và văn hóa Pháp, muốn giữ gìn lợi ích vật chất của người Pháp ở Việt Nam thì

có một phương pháp và chỉ một phương pháp mà thôi Phương pháp đó tức là hợp tác thật thà trên nền tảng độc lập, tức là lòng tin nhau và nghĩa thân

thiện” [16, tr 5]

Từ những năm đầu hoạt động cách mạng, bằng nhận thức và lý luận thực tiễn cuộc sống, Hồ Chí Minh đã phân biệt rõ rệt bọn thực dân Pháp tàn

ác và nhân dân Pháp yêu chuộng công lý Ngay sau khi độc lập, Hồ Chí Minh

đã thể hiện rõ thái độ của chính phủ dân chủ cộng hòa trong thư gửi những người Pháp ở Đông Dương “chúng tôi không thù gì dân tộc Pháp (…) Sự chiến đấu của chúng tôi không nhằm đánh vào nước Pháp, cũng không nhằm đánh vào người Pháp lương thiện mà chỉ chống lại sự thống trị tàn bạo ở Đông Dương của chủ nghĩa thực dân Pháp” [15, tr 72] Đã nhiều lần Người chỉ ra tình cảnh bần cùng của người dân thuộc địa và của người dân lao động chính quốc để từ đó thấy mối đồng cảm sâu sắc và khả năng đoàn kết giữa hai lực lượng trong cuộc chiến đấu chung chống chủ nghĩa đế quốc, giải phóng người lao động, chống phân biệt chủng tộc Trong thời gian sang thăm Pháp năm 1946, Người có nhiều dịp tiếp xúc với các tầng lớp nhân dân Pháp Người làm cho họ hiểu nguyện vọng chân chính của nhân dân Việt Nam, khơi gợi nỗi thương cảm chung của các bà mẹ Pháp và Việt khi chồng con họ phải

Ngày đăng: 23/03/2015, 13:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
9. Võ Nguyên Giáp(1997),Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam, Nxb CTQG, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư tưởng Hồ Chí Minh và con đường cách mạng Việt Nam
Tác giả: Võ Nguyên Giáp
Nhà XB: Nxb CTQG
Năm: 1997
1. Ban chấp hành TW Đảng, báo cáo tại hội nghị lần thứ sáu khóa II, ngày 15 tháng 7 năm 1954 Khác
2. Bộ ngoại giao (2001), Ngoại giao Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
3. Nguyễn Lương Bích (1996), Lịch sử ngoại giao Việt Nam các thời trước, Nxb Quân đội nhân dân Khác
4. Nguyễn Đình Bin (2002), Ngoại giao Việt Nam 1945 – 2000, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Khác
5. Lê Duẩn (1980), Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, tiến lên giành thắng lợi mới, Nxb Sự thật Khác
6. Đảng Cộng sản Việt Na(2001), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 14 (1953), Nxb CTQG, Hà Nội Khác
7. Phạm Văn Đồng (1990), Hồ Chí Minh một con người một dân tộc một thời đại, một sự nghiệp, Nxb Sự thật Khác
8. Phạm Văn Đồng (1998), Những nhận thức cơ bản về tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội Khác
10. Võ Nguyên Giáp(1993), Tư tưởng Hồ Chí Minh quá trình hình thành và phát triển, Nxb Sự thật Khác
11. Học viện quan hệ quốc tế (1994), Bác Hồ nói về ngoại giao,Nxb Hà Nội Khác
12. Hồ Chí Minh biên niên sử (1994), tập 1, Nxb Thông tin lý luận Khác
13. Hồ Chí Minh toàn tập (2000), tập 2, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
14. Hồ Chí Minh toàn tập (2000), tập 3, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
15. Hồ Chí Minh toàn tập (2000), tập 4, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
16. Hồ Chí Minh toàn tập (2000), tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
17. Hồ Chí Minh toàn tập (2000), tập 6, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
18. Hồ Chí Minh toàn tập (2000), tập 7, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
19. Hồ Chí Minh toàn tập (2000), tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác
20. Hồ Chí Minh toàn tập (2000), tập 9, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w