1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nhân tố dầu lửa trong quan hệ giữa Mỹ với các quốc gia vùng vịnh Péc Xích sau chiến tranh lạnh.PDF

101 691 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 101
Dung lượng 1,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số nghiên cứu về chính sách dầu lửa và vấn đề an ninh dầu lửa của các quốc gia trên thế giới như Đề tài “Tổng quan năng lượng và chính sách năng lượng quốc gia giai đoạn đến năm 2010

Trang 1

1

MỤC LỤC

1.1.1 Dầu lửa với tư cách là nguồn năng lượng quan trọng 8

1.3 Vai trò của dầu lửa đối với an ninh của nước Mỹ 20

1.4 Vị trí chiến lược của các nước vùng Vịnh Pếc-xích 23

1.4.1 Khái quát về các nước vùng Vịnh Pếc-xích 23 1.4.2 Vị trí chiến lược của các quốc gia vùng Vịnh Pếc-xích đối với Mỹ trên lĩnh

CHƯƠNG 2: TẦM QUAN TRỌNG CỦA NHÂN TỐ DẦU LỬA TRONG

QUAN HỆ CỦA MỸ VỚI CÁC QUỐC GIA VÙNG VỊNH PẾC-XÍCH 29

2.1 Chính sách của Mỹ đối với các quốc gia vùng Vịnh Pếc - xích sau Chiến tranh lạnh 29

2.1.3 Yếu tố dầu lửa trong quan hệ Mỹ - Cô oét 41 2.1.4 Yếu tố dầu lửa trong quan hệ Mỹ - Ảrập Xê út 44 2.1.5 Yếu tố dầu lửa trong quan hệ Mỹ - Các Tiểu vương quốc Ả rập thống nhất 49

2.2 Đánh giá chính sách của Mỹ đối với các quốc gia vùng Vịnh Pếc-xích 55

Trang 2

3.1 Các nhân tố tác động đến quan hệ giữa Mỹ và các quốc gia vùng Vịnh

3.1.1 Xu hướng biến động của tình hình dầu lửa thế giới 72

3.1.2 Nhu cầu về dầu lửa của Mỹ ngày càng tăng 73

3.2 Sự điều chỉnh chính sách của Mỹ đối với các quốc gia vùng Vịnh Pếc-xích 80

Trang 3

3

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Năng lượng và vấn đề an ninh năng lượng đã trở thành một trong những yếu

tố tác động mạnh mẽ và sâu sắc đến đời sống quan hệ quốc tế Năng lượng - đặc biệt là dầu lửa có ảnh hưởng trực tiếp đến mọi mặt của đời sống xã hội, là một trong các yếu tố quyết định tốc độ và khả năng phát triển kinh tế, đảm bảo an ninh quốc phòng của một quốc gia, đặc biệt là các quốc gia lớn Dầu lửa còn là “quân cờ” quan trọng mà các nước sử dụng trong bàn cờ chiến lược thế giới Dầu lửa mang lại cho những quốc gia giàu nguồn tài nguyên này vị thế quan trọng và sức hấp dẫn lớn, nhưng đồng thời nó cũng là nguồn gốc của những cuộc xung đột quốc tế Nhiều cuộc chiến tranh trên thế giới đã xảy ra trong thời gian gần đây mà nguyên nhân sâu

xa bắt nguồn từ dầu lửa Vấn đề an ninh dầu lửa đang trở thành vấn đề quan tâm hàng đầu của các nước và có tác động mạnh mẽ tới quan hệ quốc tế

Mặc dù khoa học công nghệ đã phát triển vượt bậc và ngày càng có nhiều nguồn năng lượng khác thay thế như năng lượng nguyên tử, thủy năng, năng lượng mặt trời, năng lượng gió…nhưng dầu mỏ vẫn là một trong những nguồn năng lượng chủ đạo và ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống con người trong nhiều năm tới Nguồn tài nguyên thiên nhiên không phải là vô tận này đã, đang và sẽ trở thành tâm điểm cạnh tranh của các nước lớn trên hành tinh chúng ta Đó cũng là một nguyên nhân dẫn đến những điều chỉnh mạnh trong quan hệ giữa các nước lớn và các quốc gia giàu tài nguyên dầu mỏ trong thời gian qua Những điều chỉnh đó đã góp phần làm cho quan hệ quốc tế, đặc biệt là “ngoại giao năng lượng” trở nên sôi động hơn bao giờ hết

Đối với Mỹ, một quốc gia có nền kinh tế phát triển vào bậc nhất trên thế giới, một siêu cường trong quan hệ quốc tế hiện đại, thì vấn đề năng lượng càng cấp thiết Những chính sách, động thái của Mỹ tại các khu vực trên thế giới kể từ sau Chiến tranh lạnh dường như đều có “mùi dầu mỏ” Nhìn lại lịch sử phát triển trong quan hệ quốc tế của Mỹ đặc biệt là trong quan hệ với các nước vùng Vịnh Pếc-xich đều nổi lên một nhân tố bất biến và được xác định khá rõ ràng, đó là lợi ích quốc

Trang 4

Với những lý do trên, em quyết định lựa chọn:“Nhân tố dầu lửa trong quan

hệ cuả Mỹ với các quốc gia vùng Vịnh Pếc-xích sau chiến tranh lạnh” làm đề tài

cho Luận văn cao học chuyên ngành Quan hệ quốc tế của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Ở trong nước, dầu lửa hiện nay là một trong những chủ đề được nhiều học giả quan tâm Một số nghiên cứu về chính sách dầu lửa và vấn đề an ninh dầu lửa của các quốc gia trên thế giới như Đề tài “Tổng quan năng lượng và chính sách năng lượng quốc gia giai đoạn đến năm 2010 và 2020” (Bộ Công thương, Hà Nội, 2006), Luận văn Thạc sĩ “Vấn đề an ninh năng lượng ở Trung Quốc giai đoạn hiện nay” (Hà Thu Thảo - Học viện Quan hệ quốc tế, 2006), “Vấn đề an ninh năng lượng trong quan hệ quốc tế hiện nay”, tác giả Nguyễn Hải Anh (2006) đã phân tích, nghiên cứu diễn biến và tác động của vấn đề an ninh năng lượng trong quan hệ quốc tế Một số bài viết trên báo, tạp chí nghiên cứu cũng đề cập đến vấn đề dầu lửa Tác giả Nguyễn Anh Tuấn (Học viện Quan hệ quốc tế - Bộ Ngoại giao) có bài viết “An ninh dầu lửa: Vấn đề và giải pháp tại các nước Đông Nam Á” trên tạp chí Kinh tế thế giới số 121 năm 2006 Tác giả

Vũ Lê Thái Hoàng có bài viết “Chiến lược dầu mỏ của Trung Quốc và cuộc chạy đua dầu mỏ - khí đốt giữa Trung Quốc và Nhật Bản đầu thế kỷ XXI” trên tạp chí Nghiên cứu quốc tế số 59 năm 2004

Ở nước ngoài, có không ít công trình nghiên cứu về dầu lửa và an ninh dầu lửa của các nước lớn như Mỹ, Trung Quốc, Nga

Các công trình khoa học trên đã có nhiều đóng góp quan trọng vào việc làm

rõ tầm quan trọng chiến lược và tiềm năng dầu lửa vô cùng phong phú của các nước trên thế giới nói chung và của một số nước nói riêng Tuy nhiên, chưa có nhiều

Trang 5

5

công trình nghiên cứu về quan hệ của Mỹ đối với các quốc gia vùng Vịnh Pếc-xích

từ sau Chiến tranh lạnh Hy vọng đề tài của em sẽ đóng góp vào khoảng trống này

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài tập trung phân tích những diễn biến trong quan hệ của Mỹ với các quốc gia vùng Vịnh Pếc-xích dưới tác động của vấn đề dầu lửa trong giai đoạn từ sau Chiến tranh lạnh, qua đó, làm nổi bật tầm quan trọng của vấn đề dầu lửa trong quan

hệ kinh tế quốc tế Để đạt được mục đích nghiên cứu này, luận văn đề ra một số nhiệm vụ sau đây:

- Làm rõ vị trí, vai trò của dầu lửa trong quan hệ quốc tế và chiến lược của Mỹ đối với các quốc gia vùng Vịnh Pếc-xích

- Phân tích quá trình điều chỉnh chính sách dầu lửa của Mỹ ở khu vực và tác động của nó đến quan hệ của Mỹ đối với các quốc gia vùng Vịnh Pếc-xích

- Đánh giá kết quả, tác động và chính sách của Mỹ đối với các quốc gia vùng Vịnh Pếc-xích, đồng thời đưa ra dự báo về triển vọng trong quan hệ của Mỹ đối với khu vực này trong thời gian tới

Mỹ và khu vực này trong thời gian tới, tập trung chủ yếu vào dầu mỏ

- Thời gian: Đề tài tập trung đánh giá nhân tố dầu lửa trong chính sách đối với các nước vùng Vịnh Pếc-xích của Mỹ từ sau Chiến tranh lạnh (1989) đến hết thập niên đầu thế kỷ XXI

- Không gian: Luận văn sẽ tập trung nghiên cứu chính sách của Mỹ đối với các quốc gia Vịnh Pếc-xích, bao gồm các quốc gia có nguồn dầu lửa phong phú như: Iran, Irắc, Cô-oét, Arập Xê-út, Qatar, Baranh, Các Tiểu vương quốc Arập thống nhất và Ôman Nhưng do điều kiện thời gian và khó khăn trong việc tìm tài

Trang 6

6

liệu nên đề tài chỉ tập trung vào một số nước có trữ lượng dầu lửa lớn như: Iran, Irắc, Cô-ét, Arập Xê-út và Các tiểu vương quốc Arập thống nhất

5 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, trong quá trình nghiên cứu, là một đề tài quan hệ kinh tế quốc tế, quan điểm khi nghiên cứu là tuân thủ phương pháp nghiên cứu quan hệ quốc tế, quan hệ kinh tế, chính trị, thống kê để xử lý

số liệu Ngoài việc phân tích, đánh giá và dự báo những tác động của vấn đề dầu lửa trong chính sách của Mỹ đối với các nước vùng Vịnh Pếc-xích sau Chiến tranh lạnh Bên cạnh đó, tác giả kết hợp sử dụng phương pháp lôgic để lý giải nhân tố dầu lửa trong quan hệ giữa Mỹ và khu vực Vịnh Pếc-xích Ngoài ra, tác giả sử dụng các phương pháp trao đổi, thảo luận để tranh thủ ý kiến mang tính phản biện cho những nhận định, đánh giá của mình nhằm làm giảm bớt chủ quan trong quá trình nghiên cứu

6 Nguồn tài liệu

Để hoàn thành đề tài này, luận văn sử dụng các tài liệu sau đây:

- Các tuyên bố, phát biểu của các chính khách, các văn bản thỏa thuận, hiệp định giữa Mỹ và các nước trong khu vực;

- Các công trình đã được công bố liên quan đến chính sách đối ngoại của Mỹ

từ sau Chiến tranh lạnh nói chung và đối với khu vực Vịnh Pếc-xich nói riêng;

- Các đề tài nghiên cứu khoa học, các luận văn khoa học;

- Các bài viết trên các Tạp chí nghiên cứu như: Tạp chí Cộng sản, Báo nhân dân, Tuần báo Quốc tế, Tạp chí nghiên cứu Trung Đông và Châu Phi của Viện Nghiên cứu Trung Đông và Châu Phi, Thông tấn xã Việt Nam…

- Để bổ sung và cập nhật thông tin, đề tài mở rộng sử dụng một số tài liệu được đăng trên trang web của các cơ quan về năng lượng, viện nghiên cứu về quan

hệ quốc tế trên thế giới

7 Đóng góp và ý nghĩa thực tiễn của Luận văn

Sau khi hoàn thành mục tiêu nghiên cứu và những nhiệm vụ đề ra, luận văn

sẽ góp phần tìm hiểu về một vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt, đó là nhân tố dầu lửa trong quan hệ quốc tế và chiến lược phát triển của các quốc gia nói chung và

Trang 7

7

nhân tố dầu lửa trong chính sách của Mỹ đối các quốc gia vùng Vịnh Pếc-xích sau

Chiến tranh lạnh nói riêng Luận văn sẽ là tài liệu tham khảo cho các cơ quan và cá

nhân trong nghiên cứu, giảng dạy và học tập các vấn đề chính trị quốc tế

8 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục và tài liệu tham khảo, phụ lục, luận

văn được bố cục thành 3 chương Nội dung của các chương được kết cấu như sau:

Chương 1: Vấn đề dầu lửa trong quan hệ quốc tế

Chương 1 sẽ trình bày rõ tầm quan trọng của dầu lửa và an ninh dầu lửa, từ

đó phân tích tác động của dầu lửa tới quan hệ quốc tế hiện nay Đồng thời, Chương

1 cũng giới thiệu một cách khái quát quan điểm của Mỹ về vấn đề an ninh dầu lửa

và vị trí chiến lược của các quốc gia vùng Vịnh Pếc-xích

Chương 2: Tầm quan trọng của dầu lửa trong quan hệ của Mỹ với các

quốc gia vùng Vịnh Pếc-xích

Trong chương này Luận văn tập trung nghiên cứu quan hệ của Mỹ với các quốc

gia vùng Vịnh Pếc-xích từ sau Chiến tranh lạnh và hướng triển khai chính sách của Mỹ

đối với các quốc gia này Từ đó làm nổi bật vấn đề: dầu lửa là một trong những nhân tố

cơ bản quyết định chính sách của Mỹ đối với các quốc gia vùng Vịnh Pếc-xích

Chương 3: Triển vọng quan hệ giữa Mỹ và các quốc gia vùng Vịnh Pếc-xích

Chương này nêu và phân tích ngoài nhân tố dầu lửa còn có các nhân tố khác

tác động đến quan hệ giữa Mỹ và các quốc gia vùng Vịnh Pếc-xích, đưa ra triển vọng

trong quan hệ giữa Mỹ và các quốc gia vùng Vịnh Pếc-xích trong thời gian tới

Trang 8

8

CHƯƠNG 1

VẤN ĐỀ DẦU LỬA TRONG QUAN HỆ QUỐC TẾ 1.1 Tầm quan trọng của dầu lửa

1.1.1 Dầu lửa với tư cách là nguồn năng lượng quan trọng

Dầu lửa là nguồn năng lượng quan trọng không thể tái sinh Từ khi được phát hiện đến nay, dầu lửa đã đóng vai trò hết sức quan trọng đối với nền kinh tế, chính trị và an ninh trên thế giới Từ cuối thế kỷ XIX cho đến nay, dầu mỏ đều ít nhiều là tác nhân gây nên những cuộc tranh giành quyền lực, dẫn đến những cuộc đại khủng hoảng kinh tế thế giới và cuối cùng là hai cuộc chiến tranh thế giới

“Dầu lửa là ngành kinh doanh lớn và toàn diện nhất thế giới, ngành công nghiệp vĩ đại nhất Ngành kinh doanh này, đã mở rộng tới mọi đối tượng, từ các nhà khoan dầu, các ông chủ doanh nghiệp, tới các bộ máy doanh nghiệp và các công ty nhà nước Sự bành trướng của nó là hiện thân cho sự phát triển của thương mại, thị trường, chiến lược kinh doanh, những thay đổi về công nghệ của các nền kinh tế quốc gia và quốc tế” [13, tr.29] Đó là sự mô tả khá chính xác vóc dáng và bản chất của ngành công nghiệp dầu khí Từ địa vị chưa mấy được chú ý, dầu lửa với tư cách một nhân tố tạo nên sức mạnh quốc gia, đã khẳng định tầm quan trọng của nó

Đến nửa cuối thế kỷ XX, thế giới chứng kiến sự bứt phá và chiếm lĩnh vị trí thống soái của dầu lửa với nền công nghiệp và dịch vụ xã hội Những năm đầu của thế kỷ XXI đánh dấu sự vươn lên ngoạn mục của dầu lửa và khí đốt khi các quốc gia giàu nguồn tài nguyên này dường như đang có khả năng khuynh đảo ít nhất là một phần của thế giới văn minh bằng cách đóng hay mở các giếng dầu hoặc các đường ống dẫn khí Mấy năm nay, Iran vẫn bướng bỉnh với các nghị quyết của Liên hiệp quốc và các cường quốc Âu-Mỹ về vấn đề hạt nhân cũng dựa vào thế có trữ lượng dầu gần 20 tỷ tấn, chỉ đứng sau Arập Xê-út [13, tr.33] Vênêzuêla, một trong những nước có trữ lượng dầu lửa khổng lồ, cũng tỏ ra hết sức ngang ngạnh trong quan hệ với Mỹ Quan hệ Nga - Ukraina, Nga - Belarus lúc ấm lúc lạnh cũng vì khí đốt Có thể nói, sự tồn vong và phát triển của thế giới hiện nay phụ thuộc phần lớn vào các nguồn tài nguyên, chủ yếu là dầu lửa, khí đốt và than đá; trong đó dầu lửa

Trang 9

9

đóng vai trò chủ đạo Theo thống kê của các tổ chức nghiên cứu năng lượng thế giới, trữ lượng dầu được xác minh của toàn thế giới nằm trong khoảng từ 2050 cho đến 2390 tỷ thùng, tương đương từ 270 đến 323 tỷ tấn và đến bây giờ chúng ta đã

sử dụng khoảng 45 cho đến 70% trữ lượng đó Các nước Trung Đông đặc biệt là nhóm các quốc gia vùng Vịnh chiếm khoảng một nửa trữ lượng dầu xác minh của

thế giới, trong đó riêng Arập Xê-út chiếm một phần tư (xem bảng 1.1: Những quốc gia dầu khí lớn nhất thế giới)

Bảng 1.1: Những quốc gia dầu lửa lớn nhất trên thế giới

Số liệu tháng 01 & 09 năm 2010 (xem chú thích)

Tên quốc gia

Trữ lƣợng 1 Khai thác 2 Dự báo khai thác 3

10 9 thùng Baren/ngày 10

1 Nguồn: “Oil & Gas Journal, January, 2010”- Đánh giá trữ lượng tỷ (10 9 ) thùng dầu Baren

2 Nguồn: “US Energy Information Authority, September, 2010”- Khai thác triệu (10 6 ) thùng dầu Baren/ ngày

3 Nguồn “US Energy Information Authority, September, 2010”- Dự báo thời gian khai thác còn lại với các điều kiện và giả thiết là: “trữ lượng hiện có+ phát hiện mỏ dầu mới+công nghệ/mức khai thác hiện nay”

Trong khi đó, trữ lượng dầu ở các nước G7 khá khiêm tốn nếu không muốn nói

là quá ít Cho nên, điều dễ hiểu là Trung Đông, Trung Á là điểm nhạy cảm nhất, tiềm

ẩn những bất ổn về an ninh chính trị của thế giới Không ai có thể dự đoán được nguy

Trang 10

Thứ nhất là sự trỗi dậy và phát triển của chủ nghĩa tư bản và nền thương mại hiện đại Dầu mỏ là ngành kinh doanh lớn nhất thế giới, ngành công nghiệp vĩ đại nhất trong mấy thập kỷ cuối thế kỷ XIX Standard Oil, công ty kiểm soát toàn bộ ngành công nghiệp dầu lửa của Mỹ, là một trong những công ty đa quốc gia đầu tiên

và lớn nhất của thế giới Lịch sử dầu lửa đã chứng kiến sự ra đời của nhiều hợp đồng

và nhiều quyết định quan trọng - do các cá nhân, công ty và các quốc gia thực hiện Theo lời của một nhà tài phiệt thì “Dầu gần như đồng nghĩa với tiền” [13, tr 45]

Thứ hai, dầu mỏ liên quan mật thiết với các chiến lược quốc gia, quyền lực

và tình hình chính trị toàn cầu Tầm quan trọng của dầu, với tư cách là nhân tố tạo nên sức mạnh quốc gia đã được khẳng định trên các mặt trận của cuộc Chiến tranh thế giới lần I Dầu là tâm điểm của các diễn biến cũng như kết quả của cuộc Chiến tranh thế giới lần II ở cả vùng Viễn Đông và Châu Âu

Trong thế kỷ XX, dầu cùng với khí đốt tự nhiên đã “hạ bệ” ngôi vị nguồn năng lượng của thế giới công nghiệp của “ông vua than” Dầu cũng trở thành nền tảng của phong trào “ngoại ô hóa” rộng lớn thời kỳ hậu chiến, làm biến đổi cả phong cảnh đương thời và lối sống hiện đại của chúng ta

1.1.2 An ninh dầu lửa

Thuật ngữ “An ninh dầu lửa” mới được chính thức nhắc đến từ cuộc khủng hoảng năng lượng ở thập kỷ 70 của thế kỷ trước Ngày nay, khái niệm này mới được nói đến như là mối quan tâm hàng đầu đối với các quốc gia Khái niệm an ninh dầu lửa không chỉ đơn giản được định nghĩa là đảm bảo nguồn cung cấp dầu

mỏ như trước đây, mà được hiểu một cách toàn diện hơn là quá trình đảm bảo khả năng cung ứng dầu lửa với một mức giá hợp lý theo phương thức bền vững Giá cả

hợp lý tức là mức giá dựa trên quy luật thị trường cơ bản, có tính đến nhu cầu,

Trang 11

11

năng lực cung cấp và phương cách tiếp cận mà các quốc gia khác nhau sử dụng để giải quyết vấn đề Trong thời gian gần đây, đã có rất nhiều cuộc hội thảo được tổ chức để bàn về vấn đề an ninh dầu lửa Cũng đã có khá nhiều quan điểm, khái niệm và định nghĩa về an ninh dầu lửa được đưa ra

Trong cuộc hội thảo bàn về vấn đề “An ninh dầu lửa khu vực Châu Á- Thái Bình Dương: cạnh tranh hay hợp tác?” ngày 15/02/1999 tại Honolulu, Hawaii, Trung tâm nghiên cứu an ninh Châu Á - Thái Bình Dương đã đưa ra định nghĩa sau:

“An ninh dầu lửa có thể đạt được khi một quốc gia có khả năng giảm thiểu tới mức tối đa thiệt hại khi xảy ra sự gián đoạn nguồn cung cấp dầu lửa, khả năng tiếp cận dầu lửa đáng tin cậy với giá cả hợp lý hoặc theo thị trường, và tiêu thụ nguồn dầu lửa ít phá hủy môi trường hoặc đẩy mạnh phát triển bền vững” [28, tr 33]

Trong cuốn sách Energy Security Initiative, Nhà xuất bản Asian Pacific

Research Centre, 2003 có định nghĩa về an ninh dầu lửa:“An ninh dầu lửa là đảm bảo các nguồn cung cấp dầu lửa đầy đủ để duy trì sự tăng trưởng và phát triển nền kinh tế

và đảm bảo an ninh các nguồn cung cấp dầu lửa đầy đủ với mức giá ổn định và hợp lý

để duy trì và phát triển kinh tế” [28, tr 45] Cơ quan năng lượng quốc tế (IEA) định

nghĩa an ninh dầu lửa trước tiên là sự ổn định các nguồn cung cấp dầu lửa và khí đốt

Chương trình hỗ trợ quản lý trong lĩnh vực năng lượng (ESMAP) lại định nghĩa an ninh dầu lửa đề cập đến nhu cầu vĩ mô và vi mô của các nước đang phát

triển như sau: “Khả năng của một quốc gia có thể tối ưu hóa nguồn dầu lửa của mình và cung cấp các dịch vụ dầu lửa, khí đốt ở mức độ mong muốn, làm sao chúng có thể giữ vững được sự phát triển kinh tế và giảm nghèo” [28, tr.17]

Nhìn chung, các định nghĩa đều khẳng định: An ninh dầu lửa là đảm bảo duy trì nguồn dầu lửa cho sự tồn tại và phát triển của quốc gia, giữ ổn định giá

và việc tiếp cận nguồn dầu lửa một cách dễ dàng Bên cạnh đó, an ninh dầu lửa

còn có tính đặc thù vì nguồn cung, nhu cầu và chính sách của các nước không

giống nhau Đối với các nước xuất khẩu dầu (biểu đồ 1.2), giá dầu cao là động

lực tăng trưởng kinh tế thì an ninh dầu lửa đồng nghĩa với việc “bảo đảm nhu cầu” về xuất khẩu dầu lửa - nguồn thu chủ yếu của chính phủ các nước trên An

Trang 12

12

ninh dầu lửa có thể đạt được thông qua việc phát triển nền kinh tế khu vực và thị trường quốc tế [20, tr 17]

Mêhico 4% UAE 5% Nigeria

5%

Anh 5%

Irắc 5%

Vênêzuêla 6%

Iran 6%

LB Nga 7%

Nauy 7%

Arập Xê út

17%

Còn lại

33%

Biểu đồ 1.2: Các quốc gia xuất khẩu dầu lớn nhất thế giới

Chú thích: Nguồn [34], trong đó OPEC chiếm gần 40% khối lượng xuất khẩu của thị trường dầu mỏ Phần của các nước SNG (trong đó có LB Nga) chiếm 17% Tổng khối lượng xuất khẩu của thị trường dầu mỏ của cả thế giới là 1,9 tỷ tấn/năm

Thế kỷ XX chứng tỏ vai trò ngày càng quan trọng của “an ninh dầu lửa” do

(i) các nền kinh tế hiện đại xây dựng dựa trên dầu mỏ; (ii) sự nổi lên của 7 công ty dầu mỏ đa quốc gia trong tổng số 20 Tập đoàn xuyên quốc gia hùng mạnh nhất thế giới và (iii) bản chất của các cuộc xung đột, chiến tranh, đặc biệt ở Vịnh Pếc-xích

Các Tập đoàn và Công ty dầu lửa lớn trên thế giới như: Exxell-Mobill, Cheveron (Mỹ), Shell (Hà Lan), PTotal (Pháp), Shell (Anh), Petronas (Malaysia), Gazprom, Sinep (Nga)…Các nước này triệt để sử dụng dầu khí là một lợi thế để nâng cao địa

vị của mình và sẵn sàng sử dụng nó như một thứ vũ khí kinh tế sắc bén, hiệu quả Trước mắt, chính trị dầu lửa không phải liên quan tới vấn đề thế giới sẽ thiếu dầu

mà liên quan tới sự ra đời và ảnh hưởng ngày càng tăng của Tổ chức các nước xuất khẩu dầu lửa (OPEC) đối với các nền kinh tế thế giới, tình hình bất ổn kéo dài ở

Trang 13

13

“rốn dầu” Vịnh Pếc-xích và các cuộc xung đột, tranh chấp biên giới, lãnh thổ ở các khu vực hiện nay

Mỹ 26%

Nhật 11%

Hàn Quốc 6%

Đức 5%

Italia 5%

Pháp 4%

Còn lại

43%

Biểu đồ 1.3: Các quốc gia nhập khẩu dầu lớn nhất thế giới

Nguồn: http://www.superbroker.ru/issled/oil/exp.aspx Ngược lại, đối với các nước phải nhập khẩu dầu lớn như Mỹ, Nhật (biểu đồ 1.3), giá dầu cao ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế trong nước thì khái niệm an

ninh dầu lửa lại là khả năng điều chỉnh nhanh chóng sự phụ thuộc về dầu của nước này tại thị trường thế giới Mỹ cho rằng, an ninh dầu lửa là ngăn chặn bất cứ cuộc khủng hoảng (dầu lửa) nào tái diễn bằng cách duy trì nguồn cung ổn định, tăng cường quan hệ với các quốc gia sản xuất dầu, tăng hiệu quả và hiệu suất sử dụng dầu lửa, đa dạng hóa nguồn dầu lửa nhằm đảm bảo nguồn cung dầu lửa ổn định với giá cả chấp nhận được Với Nga, an ninh dầu lửa lại đồng nghĩa với quyền kiểm soát nhà nước đối với các nguồn dự trữ chiến lược và các đường ống dẫn dầu chính đảm bảo vận chuyển dầu ra thị trường quốc tế

Tóm lại, trong khi các nguồn tài nguyên không thể tái sinh ngày càng cạn kiệt

và những nguồn năng lượng khác chưa thể thay thế được vai trò chiến lược của dầu lửa đối với nền kinh tế thế giới, thì an ninh dầu lửa vẫn mang tính thời sự và cuộc chạy đua tìm kiếm dầu lửa, khí đốt sẽ ngày càng quyết liệt hơn trong thời gian tới

Trang 14

14

1.2 Tác động của dầu lửa đến quan hệ quốc tế

1.2.1 Tác động tích cực

1.2.1.1 Nhu cầu cấp thiết về dầu lửa đã tác động mạnh đến quan hệ quốc

tế, tạo ra những điều chỉnh quan trọng trong chính sách đối ngoại và ngoại giao của các quốc gia

Các nước lớn và các trung tâm quyền lực trên thế giới như Mỹ, Trung Quốc, Nga, Nhật Bản, EU, Ấn Độ đều tìm cách nắm giữ hoặc gây ảnh hưởng tối đa tại những khu vực giàu tài nguyên dầu lửa và khí đốt trên thế giới như Trung Đông,

Trung Á, Bắc Phi, Mỹ Latinh…

Thế giới chứng kiến một cuộc đua ngoại giao năng lượng “khốc liệt”, chưa từng có trong lịch sử, trong đó các nước đặt lợi ích quốc gia lên hàng đầu Sự ráo riết trong hoạt động ngoại giao giữa các nước có nhu cầu cao về năng lượng với các quốc gia dồi dào tiềm năng dầu lửa đã góp phần làm rõ hình hài của khái niệm

“ngoại giao năng lượng” hay “ngoại giao dầu lửa”

Những cuộc viếng thăm song phương của nguyên thủ các nước, đặc biệt là các nước lớn như Mỹ, Trung Quốc, Nhật Bản, Nga, Ấn Độ tới các khu vực có trữ lượng dầu lửa lớn làm cho đời sống chính trị thế giới trở nên nhộn nhịp hơn Nhằm tăng cường quan hệ, trong đó dầu lửa là mục tiêu chủ yếu Mỹ đã nỗ lực tối đa trong chiến lược an ninh dầu lửa, mở rộng quan hệ, liên kết dầu khí với Châu Phi, Trung

Á và đặc biệt là các quốc gia vùng Vịnh Pếc-xích; trong khi vẫn giữ vững sự gắn bó với các đối tác truyền thống ở Nga và ASEAN Có thể khẳng định rằng, vấn đề dầu lửa là một trong những ưu tiên trong chương trình nghị sự của các chuyến viếng thăm song phương cấp cao của các nước trên thế giới

1.2.1.2 Việc các nước, khu vực lôi kéo và tranh thủ các nước lớn tham gia vào các hoạt động, dự án khai thác dầu lửa đã góp phần tạo dựng sự đan xen về lợi ích và qua đó, ràng buộc các nước này vào các cam kết đối với hòa bình, ổn định và phát triển quan hệ hợp tác ở khu vực, cụ thể là hợp tác tăng lên trong nội

bộ khối ASEAN, trong cơ chế ASEAN+3 và rộng hơn có cả APEC Trung Quốc đã

cố gắng để tiếp cận, bàn bạc và thỏa thuận với khối ASEAN để giải quyết những bất

Trang 15

Đối với Mỹ, ngay từ thập niên 60 của thế kỷ 20, các công ty dầu lửa của Mỹ

đã có mặt tại Đông Nam Á, tham gia tích cực vào hoạt động thăm dò, khai thác và chế biến dầu khí ở đây Cho đến nay, 5 trong số 10 Tập đoàn dầu khí hàng dầu của

Mỹ đã có mặt tại khu vực với nhiều dự án khai thác và chế biến dầu

Việc Mỹ và các nước Phương Tây hợp tác với khu vực Vịnh Pếc-xích khai thác dầu mỏ ở các quốc gia này cũng đồng nghĩa với việc Mỹ phải có những trợ giúp về an ninh cho các quốc gia trên Bởi nếu tình hình kinh tế -chính trị -xã hội ở các quốc gia trên mà bất ổn, lợi ích kinh tế - chính trị của Washington ở các quốc gia này sẽ bị ảnh hưởng Sự kiện Irắc tấn công Cô-oét (8/1990) là minh chứng điển hình Cô-oét cùng với Arập Xê-út là 2 quốc gia cung cấp dầu mỏ hàng dầu cho Mỹ

Để bảo vệ lợi ích của mình, Mỹ cùng 27 nước đã mở chiến dịch “Bão táp sa mạc” tấn công Irắc (vào tháng 2/1991) buộc nước này phải rút khỏi Cô-oét Từ năm 1991 đến nay, để bảo vệ an ninh của Cô-oét cũng như lợi ích kinh tế của mình ở đây, Mỹ

đã sử dụng một lực lượng quân sự lớn đóng ở các căn cứ quân sự của nước này, đem lại sự ổn định an ninh cho Cô-oét

1.2.1.3 Việc đảm bảo an ninh dầu lửa đã góp phần hình thành những liên minh, những cặp quan hệ đối tác chiến lược và tập hợp lực lượng mới trên thế giới trong thời gian qua

Ngoài Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) ra đời từ năm 1960 với

sự tham gia của 5 quốc gia trên thế giới (nay là 11 thành viên), trong những năm qua, thế giới đã chứng kiến sự hình thành và ra đời của khá nhiều tổ chức, trong đó dầu lửa và khí đốt là nguyên nhân chính Ví dụ như sự ra đời của Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SCO) Những thành viên của SCO đều là những quốc gia có trữ lượng dầu khí dồi dào, đồng thời cũng là những nước có nhu cầu năng lượng hàng đầu thế

Trang 16

16

giới Sự xuất hiện của 4 quan sát viên Iran, Mông Cổ, Pakixtan, Ấn Độ tại Hội nghị Thượng đỉnh SCO lần thứ 6 tại Thượng Hải (6/2006) đã làm cho thế giới chú ý bởi nếu cộng tất cả trữ lượng của 6 nước thành viên và 4 nước quan sát viên thì SCO hiện đang nắm giữ 25% trữ lượng dầu lửa và khí đốt toàn thế giới Đây là một tỉ lệ hoàn toàn có thể làm cho tình hình cung - cầu năng lượng thế giới có những đột biến, tác động trực tiếp đến nền kinh tế thế giới

Ở khu vực Châu Âu, vấn đề dầu lửa cũng được các quốc gia tăng cường hợp tác liên kết Nga, quốc gia có trữ lượng dầu khí hàng đầu thế giới nhân cơ hội này cũng muốn gia tăng ảnh hưởng của mình với khu vực Dự án “Dòng chảy Phương Nam” của Nga dài 1500 km từ Caspi qua Nga, Uckraina, Biển Đen và sang Châu Âu “Dòng chảy Phương Bắc” từ Caspi qua Nga, Belarus sang Đức, Ba Lan Các quốc gia Châu Âu cũng hợp tác với các quốc gia Trung Á xây dựng tuyến đường ống dẫn khí “Gôbacô” dài 3000 km qua Azerbaijzan, Gruzia, Biển Đen, Thổ Nhĩ Kỳ và sang Châu Âu Tuyến đường này không qua Nga, với ý đồ ngăn chặn ảnh hưởng của Nga đối với Châu Âu và bản thân họ [25, tr.34]

Khu vực Nam Mỹ đã và đang chứng kiến sự vận động hình thành, lớn mạnh của cơ chế điều phối và hợp tác khu vực, trong đó dầu mỏ là trụ cột Đó là sáng kiến của Tổng thống Vênêzuêla, Hugo Chavez đề xuất thành lập khối Petro Caribe (cho các quốc gia vùng Caribe) và PetroSur (cho các quốc gia Nam Mỹ)

Sự gắn kết giữa các quốc gia Nam Mỹ còn được cũng cố chắc hơn qua dự án xây dựng tuyến đường ống dẫn dầu siêu trường từ Vênêzuêla đến Achentina, tạo thành một “vành đai khí đốt” ở Nam Mỹ [18, tr.56] Khu vực Mỹ La Tinh đã và đang hình thành một tập hợp lực lượng mới giữa các nước do lực lượng cánh tả nắm quyền: Cuba, Vênêzuêla, Braxin, Êcuađo, Chilê, Bôlivia, Pêru, Áchentina Lực lượng này ngày càng lớn mạnh và trực tiếp đe dọa lợi ích của Mỹ tại khu vực vốn một thời được coi là “sân sau” của nước này Điển hình nhất là việc ba nước Cuba, Vênêzuêla và Bôlivia đã ký “Hiệp định thương mại nhân dân” (TCP) (29/4/2006), trong đó dầu lửa là một trong những trụ cột hợp tác chính

Trang 17

để thúc đẩy hợp tác tư nhân và nhà nước trong việc sử dụng các nguồn năng lượng, đồng thời cam kết tạo điều kiện thuận lợi cho đầu tư và các ngành công nghiệp khí đốt và dầu lửa Các nước cũng cam kết sẽ thúc đẩy thực hiện Dự án đường ống dẫn khí liên ASEAN [3, tr.27] Ngoài ra, các Bộ trưởng cũng đồng ý tăng cường hợp tác với các đối tác Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc thông qua các dự án chung trong khuôn khổ chương trình hợp tác năng lượng ASEAN+3, với trọng tâm là hợp tác phát triển nguồn các nguồn năng lượng, nghiên cứu khả năng xây dựng các kho

dự trữ dầu mỏ, hợp tác chặt chẽ đảm bảo tính ổn định của thị trường dầu lửa và chuẩn bị phương án đối phó với trường hợp nguồn cung năng lượng bị gián đoạn Tháng 1/2007, các nguyên thủ tham dự Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ 12

đã ký Hiệp ước An ninh dầu lửa nhằm kêu gọi đầu tư vào năng lượng sạch, ngăn chặn hiệu ứng nhà kính và chú trọng tới vấn đề bảo vệ môi trường ở khu vực

Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) đã đưa vấn đề năng lượng đặc biệt là dầu lửa thành một trong những vấn đề cần được quan tâm hợp tác trong khuôn khổ những hoạt động của APEC “Sáng kiến an ninh năng lượng APEC” (AESI) đã được các nước thành viên thông qua từ năm 2000 với 4 nội dung chính: chia sẽ thông tin về tình hình dầu lửa; đảm bảo an ninh vận tải đường biển; chia sẽ thông tin trong các trường hợp khẩn cấp; đáp ứng trong các

Trang 18

18

trường hợp khẩn cấp về dầu lửa và các kế hoạch dài hạn APEC đã thành lập

“Nhóm công tác về năng lượng” để theo dõi và thúc đấy hợp tác năng lượng đặc biệt là dầu lửa trong khu vực Từ năm 1996 đến nay, APEC đã tổ chức 7 hội nghị

Bộ trưởng năng lượng để bàn về các biện pháp năng lượng trong khu vực

Một ví dụ nổi bật cho thấy vấn đề dầu lửa tác động đến an ninh quốc tế chính

là cuộc chiến tranh vùng Vịnh trong những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX Irắc thôn tính Cô-oét, mục đích cũng là để độc hưởng “dầu lửa trong vùng mỏ dầu” này

Mỹ đã tập hợp lực lượng quân sự của 27 quốc gia đến vùng Vịnh, phát động chiến dịch “Bão táp sa mạc” cũng chỉ với mục đích xác định địa vị bá chủ thế giới của mình sau Chiến tranh lạnh và bảo đảm cho sự an toàn trong việc cung ứng dầu lửa của Mỹ [36, tr.17] Ngoài ra, cuộc chiến trên hòn đảo nhỏ không bóng người ở biển Êgiê giữa Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ năm 1996, mâu thuẫn giữa Rumani và Ucraina trên đảo Rắn, cuộc chiến tranh biên giới triền miên giữa Êtiôpia và Ơritơria, vấn đề chủ quyền các quần đảo ở Biển Đông, vấn đề đảo Điều Ngư giữa Nhật Bản và Trung Quốc…tất cả đều phần nào xuất phát từ mục tiêu năng lượng

Từ sau Chiến tranh lạnh, cạnh tranh về năng lượng giữa các quốc gia ngày càng tăng, tiêu biểu là mối quan hệ giữa hai cường quốc là Mỹ và Trung Quốc Từ năm 2000, Trung Quốc đã có những bước đi chiến lược trong việc tiếp cận các nguồn dầu lửa của thế giới Tháng 12/2004, Trung Quốc đã đồng ý mua dầu lửa của Iran với mức giá 100 tỷ USD Hợp đồng hợp tác dầu khí Trung Quốc - Iran có thời hạn 25 năm Trung Quốc phát triển lực lượng hải quân, xây dựng tàu sân bay, cung cấp vốn xây dựng cảng Gwader tại Pakixtan và Sittwe ở Mianma, đồng thời thuê đảo Côcô của Mianma, đưa tàu ngầm đến biển Nhật Bản tháng 11/2004 [19, tr.18]

Trang 19

19

Ngay tại Châu Mỹ, Trung Quốc cũng đã có bước đi mạnh mẽ trong việc tiếp cận nguồn dầu lửa của Vênêzuêla, Mêhicô và từng bước tiếp cận các mỏ dầu của Canada Để đối phó với Trung Quốc, Mỹ buộc phải tính toán lại những bước đi chiến lược nhằm đảm bảo an ninh dầu lửa quốc gia Bộ Năng lượng Mỹ điều trần trước Quốc hội tháng 1/2006 cho rằng, việc khai thác tài nguyên trên thế giới của Trung Quốc có khả năng trở thành mối đe dọa với an ninh của Mỹ [21, tr.49] Trên thực tế, Mỹ đã tiến hành một số biện pháp để đối phó lại với chiến lược năng lượng của Trung Quốc: củng cố, tiếp cận và nắm giữ một số mỏ dầu quan trọng nhất của thế giới ở Trung Đông, Bắc Phi, Bắc Mỹ và Trung Á; đồng thời không ngừng mở rộng và bảo đảm an ninh hệ thống đường ống dẫn dầu trên thế giới Mỹ nhiều lần cảnh cáo Trung Quốc không nên quan hệ với các nước “có vấn đề” nhưng nhiều dầu lửa như Iran, Xuđăng, Vênêzuêla…Một số học giả thậm chí còn cho rằng, Mỹ đã chủ trương giữ giá dầu ở mức cao để đánh vào nền kinh tế Trung Quốc

Nỗ lực của các quốc gia đơn lẻ và những chiến dịch cạnh tranh ráo riết giữa các nước trong việc ký kết các hợp đồng mua bán dầu khí với các quốc gia cung cấp

đã gây ra không ít nghi kỵ lẫn nhau và làm dư luận quốc tế lo ngại

Tháng 12/2010, Nga -Trung Quốc ký hiệp định xây dựng đường ống dẫn dầu dài 3000 km từ Iacut (Nga) đến Đại Khánh (Trung Quốc) trị giá 30 tỷ USD Cuộc cạnh tranh giữa Trung Quốc và Nhật Bản trong việc ký hợp đồng xây dựng đường ống dẫn đầu tư Xibêri của Nga là một ví dụ Sau 2 năm cân nhắc, Nga đã quyết định bắt tay với Nhật Bản xây dựng đường ống dẫn dầu từ Xibêri đến thành phố cảng Nakhodka ở Viễn Đông thay vì đến Đại Khánh ở Trung Quốc Điều này dẫn đến những căng thẳng, nghi kỵ trong quan hệ giữa Trung Quốc-Nga bởi vì hợp đồng mua bán giữa Nga và Trung Quốc gần như đã hoàn tất [20, tr 73]

Vấn đề dầu lửa và an ninh dầu lửa giờ đây không chỉ đơn thuần dừng lại

ở góc độ song phương giữa bên mua và bên bán mà còn tác động đến bên thứ

ba Vụ tranh chấp về giá khí đốt giữa Nga và Ukraina đầu năm 2006 là một ví

dụ Tháng 1/2006, Nga đe dọa cắt lượng xuất khẩu khí đốt thiên nhiên của nước này sang Ukraina nhưng nó gây ra sự sụt giảm nguồn cung khí đốt thiên nhiên

Trang 20

20

của hầu hết các nước Châu Âu vì toàn bộ đường ống dẫn khí đốt của Nga cho Châu Âu đều chạy qua lãnh thổ Ukraina

1.2.2.2 Sự biến động giá dầu sẽ tác động lớn đến nền kinh tế của các quốc gia

Giá dầu tăng sẽ làm tăng lạm phát toàn cầu, tăng thất nghiệp và nghèo đói Giá dầu leo thang còn làm giảm tăng trưởng kinh tế của nhiều nước Nhiên liệu đầu vào tăng làm cho chi phí sản xuất tăng, các công ty sẽ phải tăng giá thành để đảm bào lợi nhuận, mà giá tăng là biểu hiện của lạm phát Giá dầu tăng mạnh từ năm

2007 tới năm 2008 mà đỉnh điểm tăng lên 147,47 USD/thùng là một trong những nguyên nhân khiến lạm phát trên thế giới tăng từ 4% vào năm 2007 lên 4,8% vào năm 2008 Tỷ lệ lạm phát tại các nền kinh tế phát triển cũng tăng từ 6,3% lên 7,4%, tại các nước Châu Phi tăng từ 7,2% vào năm 2007 lên tới 8,6% vào năm 2008 Giá dầu tăng khiến cho chi phí sản xuất tăng mạnh Các doanh nghiệp gặp khó khăn, vì vậy tất yếu phải giảm chi phí, sa thải công nhân Hàng nghìn người sẽ rơi vào thất nghiệp Trong khi các nước xuất khẩu dầu mỏ thu được nguồn lợi khổng lồ thì ở các nước khác, chi phí sinh hoạt đắt đỏ và thất nghiệp gia tăng, đẩy người lao động rơi vào cảnh bần hàn Kể từ cuối năm 2007, nền kinh tế Mỹ đã mất 1,9 triệu việc làm Tháng 12/2008, tỷ lệ thất nghiệp tại Mỹ là 6,7% tương đương với 10,3 triệu người, mức cao nhất trong vòng 15 năm qua [14, tr.57]

Dầu lửa đã, đang và sẽ tiếp tục tác động mạnh đến quan hệ quốc tế và chính trị thế giới Ngày càng xuất hiện những mối quan hệ chồng chéo, đan xen lẫn nhau giữa các quốc gia trên thế giới, trong đó đều tính đến nhân tố dầu lửa Đây là điều

mà các nước lớn quan tâm trong các thỏa hiệp giữa họ với nhau và giữa họ với các quốc gia có nguồn tài nguyên thiên nhiên quý giá này hoặc với những nước có vị trí địa - chính trị chiến lược trong việc bảo đảm an ninh vận tải dầu lửa trên thế giới

1.3 Vai trò của dầu lửa đối với an ninh của nước Mỹ

1.3.1 Tình hình sử dụng dầu lửa ở Mỹ

Trong những năm gần đây, Mỹ là quốc gia sản xuất dầu thô lớn thứ ba trên thế giới với sản lượng vào khoảng 5,1 triệu thùng/ngày Tuy nhiên, mỗi ngày, nước này vẫn phải nhập khẩu 13,7 triệu thùng dầu thô và các sản phẩm dầu lửa để

Trang 21

21

đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước Các sản phẩm dầu lửa mà Mỹ nhập khẩu bao gồm xăng, diesel, khí đốt, nhiên liệu phản lực, nguyên liệu cung cấp cho máy chế biến hóa chất, nhựa đường và các sản phẩm khác Khoảng hơn 50% dầu thô và các sản phẩm dầu lửa của Mỹ được nhập khẩu từ Châu Mỹ và 16% là từ các nước thuộc vùng Vịnh như Baranh, Irắc, Cô-oét, Qatar, Arập Xê-út và các nước thuộc Tiểu vương quốc Ả rập thống nhất Năm nhà cung cấp dầu thô và sản phẩm dầu lửa lớn nhất của Mỹ bao gồm Canada (17,2%), Mêhicô (12,3%), Ả rập Xê-út (10,7%), Vênêzuêla (10,4%) và Nigiêria (8,1%)

Mỹ là quốc gia sản xuất ra 19% lượng dầu lửa của thế giới nhưng lại tiêu thụ tới 25% Việc tiêu thụ dầu vẫn không dừng lại và đã tăng hơn 16% trong vòng 10 năm Nguyên nhân chính là lượng dầu tiêu thụ trong lĩnh vực giao thông Hai thập

kỷ qua, trong khi nhu cầu dầu trong các lĩnh vực công nghiệp, thương mại, hộ tiêu dùng hầu như không đổi thì nhu cầu dầu cho giao thông tăng vọt [12, tr.57] Theo

Bộ trưởng năng lượng Mỹ, nếu giá dầu tăng lên gấp hai lần, tổng sản phẩm quốc nội

Mỹ (GDP) sẽ giảm khoảng 2,5%; mỗi thùng dầu tăng giá 10 USD thì hàng năm Mỹ

sẽ thiệt hại 50 tỉ USD, tỷ lệ tăng trưởng kinh tế sẽ giảm 0,5%

Việc giá dầu tăng cao đẩy giá xăng tăng cao đã tác động trực tiếp đến đời sống của người dân Mỹ Trong tuyên bố về năng lượng vào ngày 18/6/2008 tại Nhà Trắng, tổng thống George W Bush cũng nhấn mạnh thực trạng sử dụng năng lượng của Mỹ:

“Với nhiều người dân Mỹ, hiện nay, không có mối quan tâm nào cấp thiết hơn giá xăng Tài xế, xe tải, nông dân và các doanh nghiệp nhỏ là những người bị tác động mạnh nhất Hầu hết người Mỹ đều tự lái xe đến nơi làm việc, đi siêu thị hay vận chuyển hàng hóa Họ cũng bị ảnh hưởng nặng nề Có thể nói, các hộ gia đình trên toàn quốc đang trông đợi một phản ứng từ Washington”[9, tr 67]

Như vậy, dầu lửa được xem là lợi ích sống còn của Mỹ Với vị trí là quốc gia nhập khẩu dầu lửa lớn nhất thế giới, thị trường dầu mỏ ở bất cứ khu vực nào bị xáo trộn đều có ảnh hưởng đến kinh tế Mỹ Chính dầu lửa là yếu tố dẫn dắt nhận thức trong hoạch định các chính sách của Mỹ, trong đó có sự điều chỉnh quan hệ của Mỹ đối với các quốc gia vùng Vịnh Pếc-xích

Trang 22

22

1.3.2 Quan điểm của Mỹ về an ninh dầu lửa

Đảm bảo về an ninh dầu lửa là một trong những chính sách quan trọng hàng đầu của các nước lớn, đặc biệt là Mỹ Là nền kinh tế số một, Mỹ đang nắm giữ khoảng 26% tổng GDP của cả thế giới Sự cần thiết phải duy trì một nền kinh tế hùng mạnh cũng như lực lượng quân đội tối tân và có khả năng tác chiến cao quyết định sự phụ thuộc của Mỹ vào dầu lửa Mỹ là quốc gia tiêu thụ dầu lửa lớn nhất thế giới Theo tính toán của các chuyên gia kinh tế Mỹ, để có 1 USD tăng trưởng thì nền kinh tế Mỹ phải tiêu thụ gấp 1,5% lần lượng dầu lửa so với Châu Âu và gấp 3 lần so với Nhật Bản Mỹ luôn phải chú ý đến việc đảm bảo an ninh năng lượng của

họ bởi theo dự đoán của các chuyên gia với mức tăng trưởng bình quân 1,5% mỗi năm, sự phụ thuộc năng lượng của Mỹ vào các nguồn dầu lửa nhập khẩu sẽ tăng từ

20 triệu thùng/ngày lên đến 27,9 triệu thùng/ngày vào năm 2025 [21, tr.74] Sự phụ thuộc quá lớn của nền kinh tế Mỹ vào nguồn dầu nhập khẩu là điều mà các nhà hoạch định chính sách Mỹ lo ngại

Trong thông điệp Liên bang của Mỹ năm 2008, Tổng thống George W Bush cảnh báo rằng nước Mỹ đang có nguy cơ “nghiện” dầu nhập khẩu Và hiện vẫn chưa có bất kỳ sự đồng thuận nào về các biện pháp nhằm thay đổi tình trạng này Điều này đòi hỏi cần có một chiến dịch gồm 4 giai đoạn Giai đoạn thứ nhất là coi

an ninh năng lượng là ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại của Mỹ, bằng cách duy trì uy tín của Mỹ với các nhà cung cấp năng lượng nước ngoài và xây dựng mối quan hệ chặt chẽ với các nước sản xuất năng lượng Giai đoạn thứ hai là khuyến khích việc khai thác và sản xuất các nguồn năng lượng nội địa (dầu mỏ, khí đốt) Giai đoạn thứ ba là thúc đẩy việc sản xuất điện để đáp ứng nhu cầu về điện ngày càng tăng của đất nước Thứ tư là ủng hộ sự phát triển các nguồn năng lượng thay thế Các mục tiêu của chiến lược này rõ ràng là để đảm bảo một sự cung cấp năng lượng ổn định cho nước Mỹ và hướng tới một tương lai trong đó nước Mỹ không bị phụ thuộc vào năng lượng nữa

Vào ngày 5/03/2008, Tổng thống George W Bush cũng có bài phát biểu tại “Hội nghị quốc tế về năng lượng tái sinh” tại Washington và thảo luận về tầm quan trọng của

Trang 23

23

công nghệ năng lượng thay thế, tái sinh đối với việc tăng cường an ninh năng lượng của

Mỹ “Chúng ta đã bị phụ thuộc vào dầu lửa, và khi nền kinh tế nước Mỹ phát triển thì nhu cầu về dầu lửa sẽ tăng Do đó, điều quan tâm của chúng ta là phải chấm dứt tình trạng phụ thuộc vào dầu lửa bởi vì nó có thể gây tổn hại đến an ninh quốc gia ”[10, tr 65]

Như vậy, đối với một siêu cường như Mỹ, việc đảm bảo nguồn cung cấp năng lượng là vấn đề then chốt để phát triển Đây chính là nguyên nhân giải thích cho nhiều động thái trong những năm gần đây của Mỹ, ví dụ như triển khai cuộc chiến tại Apghanistan (2001) và tại Irắc (2003)…Và đây, cũng được đánh giá là một trong những nguyên nhân giải thích vì sao từ sau sự kiện 11/9/2001, Mỹ tỏ ra quan tâm hơn đến khu vực Vịnh Pếc-xích

1.4 Vị trí chiến lược của các nước vùng Vịnh Pếc-xích

1.4.1 Khái quát về các nước vùng Vịnh Pếc-xích

Các quốc gia vùng Vịnh được thế giới biết đến với tư cách là một “khu vực phát triển kinh tế điển hình” của Trung Đông, tại đó những lợi thế về “tài nguyên dầu lửa” đã trở thành yếu tố đầu vào hiệu quả trong phát triển kinh tế Với những nỗ lực liên kết khu vực, các quốc gia Vịnh Pếc-xích đang hướng tới thành lập một thị trường chung thống nhất, hình thành một đồng tiền chung để có thể thúc đẩy sự thịnh vượng trong khối và thích ứng nhanh nhạy với những biến động kinh tế - chính trị toàn cầu

Bảng 1.4: Diện tích và dân số các quốc gia Vịnh Pếc-xích

Trang 24

24

Các quốc gia Vịnh Pếc-xích thuộc khu vực Trung Cận Đông bao gồm 8 nước trong đó có 6 nước thuộc Hội đồng hợp tác vùng Vịnh (GCC) là Baranh, Cô-oét, Ôman, Qatar, Arập Xê-út, Các Tiểu vương quốc Arập (UAE) và 2 nước

khác là Iran và Irắc (số liệu của Bảng 1.4)

Theo số liệu bảng 1.4, dân số khu vực vùng Vịnh Pếc-xích là khoảng hơn

132 triệu người, trong đó Iran là nước có dân số đông nhất, khoảng gần 70 triệu người; Baranh và Qatar là hai nước ít dân số nhất, Baranh có 698.585 người và Qatar 885.359 người Tỷ lệ tăng dân số của khu vực này bình quân là 1,9%/năm (năm 2005), trong đó có những nước tỷ lệ tăng dân số rất cao như Cô-oét (3,52%), Ôman (3,28%), Irắc (2,66%), nước có tỷ lệ tăng dân số thấp nhất là Iran (1,1%)

Nắm giữ nguồn tài nguyên quan trọng của thế giới, Vịnh Pếc-xích luôn

là một khu vực rất nhạy cảm Hầu hết các quốc gia lớn như Mỹ, EU, Nhật Bản, Trung Quốc đều phụ thuộc vào nguồn dầu lửa ở khu vực này Nhiều cuộc chiến tranh nổ ra ở vùng Vịnh là xuất phát từ sự tranh chấp về nguồn dầu mỏ và có sự can dự của các nước lớn Cho đến nay và còn tiếp tục nhiều năm nữa, dầu lửa ở vùng Vịnh vẫn là một vấn đề kinh tế-chính trị quan trọng và phức tạp mang tính khu vực và toàn cầu

Cùng với dầu lửa và khí đốt, các nước vùng Vịnh cũng chiếm một vị trí quan trọng trên bản đồ địa-kinh tế-chính trị thế giới Năm 2010, tổng sản lượng khai thác khí đốt của khu vực này đạt gần 395,8 tỷ m3 chiếm 14,7% sản lượng khai thác khí đốt trên toàn cầu

Theo đánh giá của OPEC năm 2010, sản xuất dầu lửa của các quốc gia Vịnh Pếc-xích đạt gần 27,210 triệu thùng/ngày, chiếm hơn 32% tổng sản lượng sản xuất hàng ngày của toàn thế giới, trong đó những nước sản xuất dầu lửa lớn nhất là Arập Xê-út (9,532 triệu thùng/ngày), Iran (3,967 triệu thùng/ngày), Cô-óet (2,559 triệu thùng/ ngày), UAE (2,485 triệu thùng/ngày), Irắc (2,2 triệu thùng/ngày) Năm 2010, trữ lượng dầu lửa của các quốc gia vùng Vịnh đạt 789,1 tỷ thùng, chiếm 66,5% trữ lượng

dầu mỏ trên toàn thế giới (Bảng 1.5) Những nước có trữ lượng dầu lửa lớn nhất Vịnh

Pếc-xích là Arập Xê-út (chiếm 22,1% trữ lượng của toàn thế giới), Iran (11,7%), Irắc (9,7%), Cô-oét (8,3%), UAE (8,2%) [70, pg.23]

Trang 25

Nguồn: BP Statistical Review of Energy, June 2010

Với nguồn tài nguyên phong phú, đặc biệt là trữ lượng dầu lửa và khí đốt chiếm 66% trữ lượng của thế giới, Vịnh Pếc-xích là miếng mồi ngon đối với các cường quốc lớn trên thế giới mà điển hình là Mỹ

1.4.2 Vị trí chiến lược của các quốc gia vùng Vịnh Pếc-xích đối với Mỹ trên lĩnh vực an ninh, chính trị

Vịnh Pếc - xích là khu vực có vị trí địa lý tiếp giáp với Châu Á và Châu Phi, giữa biển Địa Trung Hải và biển Ấn Độ Dương, chứa đựng một lượng lớn nguồn tài nguyên dầu mỏ quý giá của thế giới Vì thế, khu vực này luôn là điểm nóng và có một

vị trí chiến lược rất quan trọng trong nền chính trị và kinh tế thế giới, được nhiều cường quốc trên thế giới quan tâm trong đó có nước Mỹ Đối với Mỹ, tầm quan trọng của vịnh Pếc - xích “không chỉ vì quyền lợi về dầu lửa, mà đó còn là cửa ngõ đi vào Địa Trung Hải, vào Châu Phi, chỗ dựa của khối NATO, là vùng không chỉ liên quan đến các nước nhỏ ở đây mà còn liên quan tới cả tương lai chính trị của Châu Phi”

Trang 26

26

Trong thời kỳ Chiến tranh lạnh, các quốc gia vùng Vịnh cũng bị lôi cuốn vào cuộc đối đầu Xô-Mỹ Ngoài những tranh giành về lợi ích kinh tế đơn thuần (tập trung chủ yếu vào lĩnh vực dầu lửa), khu vực này cũng chứng kiến những cuộc đối đầu, tranh giành ảnh hưởng về chính trị, quân sự và lôi kéo các quốc gia trong vùng ngả theo mình của 2 phe Cuộc đối đầu 2 miền Nam - Bắc Yêmen trong suốt thời kỳ Chiến tranh lạnh giữa cộng hòa XHCN Nam Yêmen (do Liên Xô hậu thuẫn) và Cộng hòa Bắc Yêmen do Mỹ, Phương Tây hậu thuẫn kéo dài tới năm 1996

Nước Cộng hòa Irắc ra đời năm 1968 do Saddam Hussein lãnh đạo đã lật đổ vương triều phong kiến thân Mỹ ở Irắc, phá tan khối quân sự CENTO (khối Bát Đa) do

Mỹ, Anh, Pháp thiết lập năm 1954 để chống Liên Xô và khối XHCN Sau đó, chính quyền nước Cộng hòa Irắc ở Abubaka và Hussein đã thực thi chính sách ngoại giao, quân sự, kinh tế thân thiết với Liên Xô, đối đầu với Ixraen và Mỹ ở Trung Đông Điều này, làm cho tình hình Vịnh Pếc-xích rất căng thẳng và phức tạp

Ngày 15/02/1979, cuộc cách mạng Hồi giáo Iran thành công, nhà nước Cộng hòa Hồi giáo Iran ra đời Sự kiện này đã phá vỡ ý đồ của Mỹ muốn dựa vào vương quốc Hồi giáo Iran của vua Palevi chống Liên Xô, tranh giành ảnh hưởng của Liên Xô của khu vực này

Tháng 2/1979, Liên Xô đưa quân sang Apghanistan giúp nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Apghanistan của Apđenkarman và NajiBula chống Mỹ và Pakixtan Một lần nữa các quốc gia vùng Vịnh bị lôi cuốn vào cuộc đối đầu Xô-Mỹ Bởi việc Liên Xô đưa quân vào Apghanistan với ý đồ muốn thiết lập nhà nước XHCN ở sườn phía nam nước mình, phá vỡ ảnh hưởng của Mỹ ở đây Liên Xô không chỉ phải chống lại Mỹ, Pakixtan mà các lực lượng Hồi giáo cấp tiến trên thế giới trong đó lực lượng Hồi giáo ở Vịnh Pếc-xích đặc biệt ở Arập Xê-út, Baranh, Qatar…tham gia với Mỹ, chi tài chính, viện trợ kinh tế cho lực lượng đối lập ở Apghanistan chống Liên Xô [26, tr.43] Cuộc đối đầu giữa Liên Xô với Mỹ, Pakixtan, lực lượng Mujadilin ở Apghanistan được các quốc gia Hồi giáo thân Mỹ trên thế giới trong đó có các nước vùng Vịnh như Arập Xê-

út, Baranh…hậu thuẫn diễn ra rất quyết liệt suốt 10 năm (1979 - 1989) khi Liên Xô rút quân khỏi Apghanistan Tất cả những sự kiện trên đã cho thấy: trong thời kỳ Chiến

Trang 27

27

tranh lạnh, Vịnh Pếc-xích luôn thuộc khu vực có tầm chiến lược về an ninh, chính trị, kinh tế không chỉ của khu vực mà còn với thế giới Nó thực sự là nơi tranh giành ảnh hưởng của các cường quốc trên thế giới đặc biệt giữa Liên Xô và Mỹ

Sau khi Liên Xô sụp đổ (1991), chiến tranh lạnh kết thúc, tình hình an ninh, chính trị của các quốc gia vùng Vịnh không những không bớt đi tính căng thẳng, phức tạp vốn có từ trước, mà giờ đây khu vực này còn nảy sinh ra rất nhiều vấn đề chính trị-

an ninh phức tạp khác như: vấn đề hạt nhân Iran, cuộc chống khủng bố Al-Qaeda ở Irắc và Apghanistan; đường biển quốc tế vận chuyển dầu qua kênh đào Xuyê và eo biển Hormus; cuộc xung đột Ixraen - Palextin; vấn đề các lực lượng hồi giáo cực đoan

ở Palextin (JiHad, Hamas); sự bất ổn định ở Irắc; vấn đề người Cuốc ở Thổ Nhĩ Kì, Irắc, Xiri; vấn đề dân chủ, nhân quyền và kế hoạch “Đại Trung Đông” cải tạo Hồi giáo

ở Vịnh Pếc-xích của Mỹ Những vấn đề này không chỉ đe dọa tới hòa bình, ổn định, an ninh của khu vực mà còn có nguy cơ ảnh hưởng phức tạp và lâu dài tới tình hình an ninh - chính trị của thế giới

Tóm lại, từ các điểm phân tích trên đây cho thấy, các quốc gia vịnh Pếc-xích

có vị trí địa chiến lược quan trọng và là điểm tranh giành lợi ích của các nước lớn, trong đó có Mỹ với chiến lược toàn cầu hiện nay, Mỹ chủ trương thực hiện kế hoạch

“Đại Trung Đông” để tạo cơ sở cho tham vọng bá chủ toàn cầu của mình Những diễn biến về an ninh và chính trị khu vực này rất phức tạp dẫn đến tình hình chung của khu vực vẫn rất bất ổn Lợi ích chiến lược cũng như cục bộ của các nước lớn tại đây đan xen nhau và khó dung hòa

Trang 28

28

thương mại, quân sự, ngoại giao trong mấy thập niên gần đây đều gắn chặt hoặc có nguyên nhân trực tiếp từ vấn đề dầu lửa Việc Mỹ phát động cuộc chiến tranh xâm lược Irắc năm 1991 và năm 2003 là minh chứng sinh động cho nhận định trên Tình trạng này ngày càng rõ nét và căng thẳng hơn trong quan hệ quốc tế đầu thế kỷ XXI

Ngày nay trong quan hệ quốc tế, vấn đề dầu lửa còn được xác định là một

“con bài chiến lược” rất quan trọng trong chính sách đối ngoại của nhiều quốc gia Nhiều nước lấy việc đe dọa cắt hoặc hạn chế cung cấp nguồn dầu lửa, khí đốt để thể hiện quyền uy, sức mạnh của mình Nhiều nước coi dầu lửa là lợi thế

so sánh to lớn của quốc gia mình, để từ đó thể hiện tiếng nói và vị thế của mình trong các mối quan hệ song phương hoặc đa phương Nhờ tài nguyên dầu lửa, nhiều nước đã giàu lên nhanh chóng Nhưng cũng vì dầu lửa, nhiều nước đã trở thành điểm nóng xung đột, tranh chấp và chiến tranh

Trang 29

29

CHƯƠNG 2

TẦM QUAN TRỌNG CỦA NHÂN TỐ DẦU LỬA TRONG QUAN HỆ CỦA

MỸ VỚI CÁC QUỐC GIA VÙNG VỊNH PẾC-XÍCH 2.1 Chính sách của Mỹ đối với các quốc gia vùng Vịnh Pếc-xích sau Chiến tranh lạnh

Đối với các quốc gia vùng Vịnh, chính sách đối ngoại của Mỹ được cụ thể hóa đến từng quốc gia một Trong đó, Mỹ đã thay đổi chính sách đối với các quốc gia trong khu vực như Arập Xê-út, Ai Cập, Cô-oét…theo chiều hướng tích cực nhằm tạo cơ sở tốt cho cuộc chiến chống khủng bố và tấn công Irắc

Việc hoạch định chính sách đối ngoại của Mỹ ở vùng Vịnh sau Chiến tranh lạnh vẫn đảm bảo tính liên tục và duy trì những mục đích mà Washington

đề ra mặc dù gặp không ít khó khăn Chính sách của chính quyền mới cho đến

nay vẫn chưa có gì rõ nét mặc dù Tổng thống Bush tuyên bố “sẽ bảo vệ các quyền lợi của Mỹ tại Vịnh Pếc - xích và thúc đẩy hòa bình ở Trung Đông, cho dù

là bất kỳ một nền hòa bình nào trên cơ sở một Ixraen được đảm bảo về an ninh” [19, tr.25]

Từ khi xóa bỏ được Tổng thống Saddam Hussein năm 2003 cho đến nay, Mỹ lại tiếp tục thay đổi chính sách đối ngoại của mình bằng một phương án thực hiện mới Ngoại trừ trường hợp thực hiện một chính sách cứng rắn đối với vấn đề hạt nhân của Irắc, Washington chuyển sang kế hoạch bình định Vịnh Pếc-xích bằng lộ trình hòa bình

và kế hoạch kinh tế, trong đó lấy việc xây dựng khu vực mậu dịch tự do Mỹ -Trung Đông làm miếng mồi kinh tế để “dụ dỗ và xoa dịu” các nước thù địch với Mỹ trong khu vực này Ngày 9/5/2003, phát biểu trước tập thể giảng viên và sinh viên Trường Đại học Nam Carolina trong lễ tốt nghiệp, Tổng thống Bush cho rằng “sự sụp đổ của chính quyền Saddam Hussein đã đưa lại cơ hội lịch sử cho toàn bộ khu vực vùng Vịnh…Mỹ cần phải nắm bắt cơ hội này giúp các quốc gia vùng Vịnh Pếc-xích phát triển phồn vinh kinh tế và hòa bình vĩnh cửu, thúc đẩy kinh tế Trung Đông vào quỹ đạo tốt đẹp”[16, tr 74] Tuy nhiên, bản kế hoạch mới này của Mỹ chỉ nhận được sự phản ứng tích cực của Ixraen, còn hầu hết các nước còn lại đều tỏ ra nghi ngờ ý đồ của Mỹ

Trang 30

30

Chính sách dầu lửa của Mỹ đối với khu vực vùng Vịnh còn thể hiện qua hợp tác song phương giữa Mỹ với từng quốc gia trong khu vực Mục tiêu chiến lược của Mỹ là hỗ trợ các quốc gia Vịnh Pếc-xích về mặt kinh tế, thúc đẩy cải cách, dân chủ và qua đó tăng cường quan hệ song phương trên lĩnh vực khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên, đảm bảo nguồn cung ứng dầu lửa, khí đốt cho Mỹ

2.1.1 Yếu tố dầu lửa trong quan hệ Mỹ - Iran

Iran là một quốc gia nằm ở Vịnh Pếc-xích, có chung đường biên giới với Irắc

và là quốc gia có vị trí chiến lược nằm giữa Trung Đông và Trung Á Ngoài ra, Iran

là một quốc gia có trữ lượng dầu lửa rất lớn, ước tính lượng dầu lửa dự trữ của Iran đứng thứ hai trên thế giới Chính vì tầm quan trọng chiến lược của Iran và sự giàu

có về dầu lửa của nước này mà Iran luôn là tâm điểm của sự tranh giành ảnh hưởng giữa các cường quốc Liên Xô, Anh, Mỹ để có được những lợi ích thiết thực ở đây

Công nghiệp của Iran là lĩnh vực đạt được nhiều thành tựu phát triển nhất trong những năm gần đây Các ngành công nghiệp chủ yếu của Iran gồm: dầu lửa, hóa dầu, chế tạo kim loại, sản xuất vũ khí…Dầu lửa là ngành công nghiệp then chốt đối với sự phát triển kinh tế ở Iran, chiếm 80% tổng doanh thu xuất khẩu Iran là nhà sản xuất dầu lửa lớn thứ 2 của Tổ chức xuất khẩu dầu lửa thế giới (OPEC) và nắm giữ 10% sản lượng dự trữ dầu lửa thế giới Vào ngày 20/3/2006, Iran đã tham gia vào thị trường chứng khoán dầu lửa thế giới Đây là thị trường sôi động nhất và có nhiều cơ hội đầu tư mới cho các nhà đầu tư thế giới vào Iran, trong đó có Mỹ [13, tr 65]

Bảng 2.1: Tình hình xuất khẩu dầu lửa ở Iran (Đơn vị: USD)

năm 2010

Sản lượng dầu thô (triệu

Tổng kim ngạch xuất khẩu

dầu và khí gas (tỷ USD)

Trang 31

31

Bảng 2.1 cho thấy sản lượng khai thác dầu lửa ở Iran trong các năm qua đã có

sự gia tăng đáng kể (từ 3,2 triệu thùng/ngày năm 2006 lên 4,2 triệu thùng/ngày năm 2009) Trong 6 tháng đầu năm 2010, Iran đã khai thác được 2,8 triệu thùng/ngày, gần bằng tổng sản lượng khai thác cả năm 2009 Tổng kim ngạch xuất khẩu dầu lửa cũng

đã gia tăng mạnh từ 23 triệu USD đến 49,6 triệu USD Hơn nữa, ngoài việc gia tăng về sản lượng thì giá cả dầu lửa trên thế giới đã leo thang nhanh trong năm 2010 đạt 65,2 USD/ thùng, tăng 64,2% so với năm 2009 Cho nên dầu lửa đóng góp rất lớn cho quá trình phát triển ngành công nghiệp nói riêng và nền kinh tế Iran nói chung

Sự kiện ngày 11/9/2001 nước Mỹ bị mạng lưới khủng bố Al Qaeda tấn công đã làm cho chính quyền của Tổng thống G.W Bush có sự điều chỉnh trong chính sách đối ngoại của Mỹ đối với Iran Mỹ lợi dụng lý do chống khủng bố quốc tế đã phát động cuộc chiến tranh đầu tiên tại Apghanistan chống lại chế độ Taliban Cuộc chiến tranh tại Apghanistan do Mỹ lãnh đạo và chiến dịch chống chủ nghĩa khủng bố một lần nữa

là cơ hội có một không hai cho Iran và Mỹ cải thiện mối quan hệ Bởi Mỹ và Iran đều

có những lợi ích chung trong việc tiêu diệt lực lượng Taliban và Al Qaeda:

Đối với Iran: việc tiêu diệt lực lượng Taliban và Al Qaeda ở Apghanistan sẽ giải quyết cho Iran mối lo, sự trỗi dậy của lực lượng Hồi giáo cực đoan ở trong nước được Taliban hậu thuẫn

Hạn chế nạn buôn bán ma túy từ Apghanistan sang Iran và giải quyết được mối lo lực lượng Taliban sẽ tấn công Iran

Iran coi Taliban và Al Qaeda là lực lượng Hồi giáo khủng bố cực đoan, điều này tương đồng với quan điểm của Mỹ khi đánh giá Taliban

Đối với Mỹ: có điểm tương đồng là Mỹ coi Taliban và Al-Qaeda là lực lượng đã gây ra vụ khủng bố 11/9/2001 tại Mỹ Quy chúng là lực lượng Hồi giáo cực đoan cần phải tiêu diệt

Việc tiêu diệt lực lượng Taliban sẽ giúp nước Mỹ giải quyết được nạn buôn thuốc phiện từ Apghanistan sang thị trường Mỹ

Mặc dù có những điểm tương đồng trong cuộc chiến chống lại Taliban ở Apghanistan nhưng điều đó cũng không làm giảm bớt sự căng thẳng trong quan hệ

Trang 32

Mỹ phát động cuộc chiến tranh chống khủng bố và thậm chí chống cả các nguy cơ

đe dọa đến an ninh quốc gia Mỹ Lấy cớ này chính quyền G.W Bush tiếp tục thực hiện chính sách cấm vận và cô lập Iran trên trường quốc tế Tuy nhiên, chính quyền Bush đã có sự thay đổi trong cách tiếp cận đối với vấn đề Iran đó là sử dụng cộng đồng quốc tế, mà công cụ là IAEA và Liên hợp Quốc để đưa ra các căn cứ hợp pháp hóa cho việc lật đổ chính quyền Iran [23, tr 59]

Đối với Iran, lợi ích trước mắt và quyết định đó là sự tồn tại của chính quyền Hồi giáo kể từ khi cuộc Cách mạng Hồi giáo nổ ra năm 1979 làm thay đổi chế độ Iran Với những lợi thế của mình về dầu lửa, Iran luôn muốn khẳng định vị thế và vai trò trong khu vực Vịnh Pếc-xích Về lợi ích Iran không muốn để đất nước rơi vào tình trạng như chế độ Saddam Hussein bị lật đổ ở Irắc do Mỹ và liên quân thực hiện cuộc chiến tranh Hơn nữa, xung quanh Iran là các đồng minh thân cận của

Mỹ, sát biên giới là Ixraen- một quốc gia đồng minh chiến lược của Mỹ tại Trung Đông Chính vì những nguy cơ trước mắt và tiềm ẩn luôn ám ảnh sự tồn tại của chính quyền Iran dưới thời Tổng thống Khatami và Amedinejar, nên Iran quyết định theo đuổi chương trình hạt nhân của mình cho dù ban đầu đã có những động thái

“xuống nước” của mình trước sức ép dư luận quốc tế như IAEA, EU, Liên Hiệp Quốc nhằm đảm bảo sự tồn tại của chính quyền Đồng thời cũng là lý do để Iran mặc cả trong các vấn đề quốc tế với Mỹ và các nước khác

Trang 33

33

Thứ hai, trong quan điểm của một trong hai bên đều tìm cách buộc tội nhau

Về phía Mỹ, chính quyền nước này xác định và phản đối 5 lĩnh vực mà Iran đang theo đuổi Một là, nỗ lực theo đuổi vũ khí hạt nhân và vũ khí giết người hàng loạt của Iran; hai là, Iran có sự dính líu đến chủ nghĩa khủng bố quốc tế; ba là, Iran ủng

hộ các lực lượng chống đối nhằm phá hoại tiến trình hòa bình Trung Đông; bốn là, Iran là mối đe dọa và có các hoạt động lật đổ các quốc gia láng giềng trong khu vực; năm là, Iran là quốc gia vi phạm nhân quyền

Ngược lại, về phía Iran cũng đưa ra danh sách một loạt các vấn đề mà nước này cho rằng Mỹ đã và đang âm mưu tiêu diệt chính quyền Iran: Một là, trong quá khứ Mỹ

đã thông qua chương trình AJAX do CIA tổ chức lật đổ chế độ dân chủ Iran và khôi phục chế độ độc tài Shad lưu vong trước đó; hai là, cho đến nay Mỹ vẫn đóng băng các tài khoản của Iran kể từ khi cuộc cách mạng Hồi giáo xảy ra năm 1979; ba là, Mỹ tài trợ cho các tổ chức khủng bố chống lại Iran (như tổ chức MKO); bốn là, các công ty của Mỹ đã tài trợ cho Irắc các vũ khí, thiết bị hóa học trong cuộc chiến tranh Iran- Irắc những năm 1980; năm là, Mỹ đã bắn hạ máy bay 655 của Iran, làm chết nhiều dân thường; sáu là, Mỹ thực hiện lệnh cấm vận và gây áp lực về chính trị và kinh tế đối với Iran; bảy là, các máy bay do thám của Mỹ luôn vi phạm không phận của Iran từ năm 2003; tám là, Mỹ vu cáo Iran vi phạm nhân quyền

Từ năm 2003 đến năm 2011 do cuộc khủng hoảng hạt nhân Iran nên quan hệ

Mỹ và Iran luôn trong tình trạng căng thẳng Cuộc khủng hoảng hạt nhân Iran trở thành một trong những tiêu điểm trong chính sách đối ngoại của chính quyền Bush Chính sách của Mỹ đối với cuộc khủng hoảng hạt nhân Iran bao gồm các hoạt động cấm vận liên quan đến tài chính, các chương trình liên quan đến phổ biến vũ khí hạt nhân Chính quyền Bush đã giành sự ưu tiên đối với vấn đề ngăn chặn Iran sản xuất làm giàu uranium Do đó, chính quyền Bush và Obama luôn tìm cách sử dụng các biện pháp thuyết phục và trừng phạt đối với Iran nhằm mục đích làm cho Iran ngừng việc làm giàu uranium, đồng thời cam kết toàn diện rằng Iran theo đuổi một chương trình hạt nhân dân sự mà đã được IAEA thông qua và cho phép hoạt động

Trang 34

Xét về lợi ích dầu lửa, Mỹ là quốc gia tiêu thụ năng lượng lớn nhất trên thế giới và nhu cầu năng lượng trong tương lai của Mỹ tăng liên tục, do đó đòi hỏi Mỹ phải có biện pháp tìm kiếm các nguồn năng lượng trên thế giới phục vụ cho chính mình và cả các nước đối tác của Mỹ Theo số liệu của Bộ Năng lượng Mỹ, năm 2009

Mỹ tiêu thụ 25,5% lượng dầu và 26,9% lượng khí gas trên thế giới Trước cách mạng Hồi giáo các doanh nghiệp của Mỹ được hưởng rất nhiều từ việc hợp tác khai thác dầu tại Iran tuy nhiên cuộc cách mạng nổ ra khiến cho Mỹ cắt đứt quan hệ ngoại giao đồng thời cắt đứt quan hệ kinh tế với Iran Các chính quyền Mỹ (Bill Clinton, G W Bush) sử dụng các lệnh cấm vận không chỉ đối với các công ty trong nước mà còn với các công ty nước ngoài hợp tác với Iran khai thác dầu Lệnh cấm vận của Mỹ không chỉ nhằm làm kiệt quệ nền kinh tế Iran mà mặt khác Mỹ cũng không được hưởng những lợi ích từ việc cấm vận Iran đối với việc khai thác dầu mỏ

Những đánh giá về tình hình phát triển kinh tế của Iran những năm gần đây cho thấy Iran là một nước phát triển kinh tế chưa ổn định, nền kinh tế của Iran vẫn còn phụ thuộc nhiều vào dầu lửa Iran là một nước đã từng bước mở rộng quan hệ với thế giới nhưng do vấn đề hạt nhân nên quan hệ giữa Mỹ và Iran về phương diện chính trị - ngoại giao có nhiều căng thẳng liên quan đến hạt nhân của Iran

Trang 35

35

Nhân tố dẫn đến quan hệ Mỹ-Iran trong thời gian gần đây trở nên căng thẳng

là xuất phát từ lý do của Mỹ muốn thay đổi dân chủ ở Trung Đông Washington cho rằng Iran, Xiri, Libi thuộc những quốc gia không thân thiện với mình Mỹ cho rằng

sự tồn tại của những quốc gia này sẽ cản trở việc Mỹ thực hiện cải cách mang tính chất “dân chủ” với những chính thể Hồi giáo mà Washington cho là cấp tiến, bảo thủ, ủng hộ cho chủ nghĩa khủng bố Vì vậy, Mỹ xác định muốn thực hiện được kế hoạch Đại Trung Đông thì phải thay đổi dân chủ ở những quốc gia không thân thiện này

Trong khi đó Têhêran cho rằng, việc Mỹ đưa ra kế hoạch Đại Trung Đông hay chương trình hạt nhân chỉ là bức bình phong Còn nguyên nhân sâu xa, Mỹ muốn có sự thay đổi ở Iran chính là việc Washington muốn độc chiếm nguồn dầu

mỏ phong phú của quốc gia Hồi giáo nay

Để quan hệ Mỹ và Iran phát triển hơn nữa, trong thời gian tới chính phủ hai nước cần có những chính sách kinh tế phù hợp, tự do hóa thương mại và đầu tư (đặc biệt là dầu mỏ và nguồn năng lượng hạt nhân) trên tinh thần hợp tác, tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau Với những điều kiện sẵn có về tài nguyên thiên nhiên, cơ sở hạ tầng, cơ sở các ngành công nghiệp, nguồn nhân lực dồi dào và những chính sách cải cách, hy vọng quan hệ giữa Mỹ và Iran ngày càng trở nên tốt đẹp hơn

2.1.2 Yếu tố dầu lửa trong vấn đề Irắc

Sự kiện 11/9/2001 đánh dầu bước chuyển quan trọng trong chính sách của

Mỹ đối với Irắc Mối liên hệ giữa sự kiện 11/9 và cuộc chiến của Mỹ chống Irắc chỉ có thể được làm rõ khi nhìn lại lịch sử đương đại của mối quan hệ Mỹ - Irắc trong bối cảnh chiến lược Mỹ đối với vùng Vịnh Pếc-xích

Ngày 20/3/2003 đã đi vào lịch sử Irắc và lịch sử quan hệ quốc tế như một cái mốc đen tối và đầy cay đắng Một cuộc chiến tranh mà dường như mọi người đều nhìn thấy trước những bất lực, không ai có thể ngăn cản nổi Cộng đồng quốc tế, đặc biệt là các nước thành viên Hội đồng Bảo an Liên hiệp quốc (HĐBA/LHQ) như Pháp, Đức, Nga…đã lên tiếng mạnh mẽ phản đối chiến tranh và bản thân Irắc cũng

đã có nhiều nhân nhượng nhằm giải quyết hòa bình cuộc khủng hoảng Nhưng Mỹ, với thế và lực áp đảo vẫn kiến quyết phát động cuộc chiến tranh chống Irắc

Trang 36

36

Có lẽ vì Irắc nằm ở Vịnh Pếc-xích, là nơi gặp gỡ của 3 châu: Âu, Á, Phi và là nơi có kênh đào Xuy-ê nổi tiếng, mà nhiều đời Tổng thống Mỹ đã coi là “nền tảng sinh tồn của Mỹ, Châu Âu và NATO” Hơn nữa, đây còn là nơi vốn được mệnh danh là “rốn dầu của thế giới”

Sự kiện 11/9/2001, tuy có phần tác động tới uy tín, danh dự nước Mỹ, song

đó là cơ hội vàng cho Mỹ thực hiện ý đồ chiến lược của mình Sau khi loại được chính quyền Taliban ở Apghanistan, Mỹ đã nhanh chóng chĩa mũi nhọn chống khủng bố vào Irắc, có lẽ Irắc là mắt xích yếu nhất Theo đánh giá của Mỹ, sau chiến tranh vùng Vịnh lần thứ I, tiềm lực quân sự của Irắc bị giảm nhiều: vũ khí, các trang thiết bị quân sự cũ kỹ, lỗi thời, không được nâng cấp, bổ sung do bị cấm vận; hầu hết các vũ khí chiến lược đều bị phá hủy dưới sự giám sát nghiêm ngặt của các thanh tra viên LHQ Thậm chí, có ý kiến còn cho rằng tiềm lực quân sự của Irắc giờ đây chỉ bằng khoảng 40% so với cuộc chiến tranh lần trước

Trong khi đó, Mỹ lại có một thời gian dài đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, nhất là dưới thời Tổng thống Bill Clinton Với tiềm lực kinh tế, vũ khí và trang thiết

bị quân sự tối tân hiện đại, rõ ràng đây là thời cơ thuận lợi nhất để Mỹ có thể triển khai thực hiện mục tiêu chiến lược của mình nhằm: (1) Lật đổ chế độ của Saddam Hussein, dựng lên một chế độ thân Mỹ ở Irắc và “cải tạo” nước này theo giá trị quan điểm dân chủ kiểu Mỹ; (2) Giành được nguồn dầu mỏ của Irắc Nếu kiểm soát được nguồn dầu của Irắc, Mỹ sẽ “đa dạng” được nguồn dầu của mình Điều này sẽ giúp bảo đảm an ninh dầu lửa lâu dài cho Mỹ ; (3) Thử nghiệm học thuyết “đánh đòn phủ đầu” Đây là học thuyết đề cao phương thức “tấn công ngăn ngừa”, thay thế cho phương thức “răn đe” từng được áp dụng thành công trong Chiến tranh lạnh; (4) Tiếp tục khẳng định vị trí siêu cường số một và thực hiện “chủ nghĩa đơn phương”

Sau Chiến tranh lạnh, lợi dụng môi trường an ninh thế giới thay đổi, Mỹ đã liên tục có những hành động đơn phương, kể cả can thiệp quân sự ra bên ngoài Thắng lợi trong cuộc chiến tranh tại Kosovo (1999) và Apghanistan (2002) càng kích thích tham vọng bá quyền của Mỹ Do đó, trong vấn đề Irắc, tuy tôn trọng vai trò của đồng minh và LHQ nhưng khi thấy cần thiết Mỹ vẫn sẵn sàng hành động

Trang 37

kể cả nhân dân Mỹ Có thể nói dầu lửa là yếu tố then chốt, chiếm được nguồn tài nguyên dầu lửa này Mỹ sẽ dễ dàng vươn lên vị trí siêu cường

Thứ nhất, mục tiêu trực tiếp của Mỹ ở Irắc là loại bỏ chính quyền của Tổng thống Saddam Hussein, thay thế bằng một chính phủ thân Mỹ và chịu ảnh hưởng của Mỹ; loại

bỏ vũ khí hủy diệt hàng loạt và mối liên hệ với khủng bố có thể có của Irắc, xóa bỏ điều

mà Mỹ coi là “một mắt xích của chủ nghĩa khủng bố” Sự nhất trí tương đối trong nội bộ

Mỹ đã tạo thuận lợi cho xu hướng ủng hộ vai trò quyết định của chính quyền, chấp nhận hạn chế quyền tự do cá nhân, tăng chi phí quốc phòng, tán thành hoạt động can thiệp ra bên ngoài Yếu tố an ninh đóng vai trò quyết định trong việc Quốc hội Mỹ thông qua nghị quyết cho phép chính quyền Bush sử dụng vũ lực đối với Irắc[17, tr 79]

Yếu tố dầu lửa cũng đóng vai trò rất quan trọng Mỹ tiêu thụ 40% sản lượng dầu của thế giới Irắc có trữ lượng dầu lửa 112 tỷ thùng đang được khai thác, đứng thứ hai thế giới (sau Arập Xê út) và chiếm 10% trữ lượng dầu được tìm thấy của thế giới Nhiều vùng địa chất có dầu lửa rộng lớn nằm ở sa mạc phía Tây Irắc hoàn toàn chưa được khai thác Nguồn dầu lửa của Irắc có thể thỏa mãn nhu cầu nhập khẩu dầu lửa của Mỹ trong khoảng 100 năm [36, tr 54]

Thay đổi chế độ Hussein dọn đường cho Mỹ vận động HĐBA dỡ bỏ cấm vận Irắc và xây dựng lại đất nước này theo ý đồ của Mỹ Trước hết, Mỹ sẽ khôi phục ngành công nghiệp dầu mỏ và có thể kiểm soát nguồn năng lượng khổng lồ của Irắc Việc này giúp Mỹ giảm sự phụ thuộc và Arập Xê-út để bình ổn giá dầu thô trên thế giới, từ đó tạo điều kiện cho Mỹ thúc ép nước này và các nước xuất khẩu dầu khác trong khu vực cải cách chính trị - xã hội Đồng thời, khi một chế độ mới ở Irắc được thiết lập thì điều này có nghĩa là các hợp đồng kinh tế được chính quyền Saddam ký trước đây với nhiều nước sẽ không còn hiệu lực

Trang 38

38

Các mỏ dầu vốn được dành cho các công ty của Pháp, Đức, Nga v.v…nay có thể sẽ thuộc về Mỹ Bằng cách này từ chỗ không có phần ở Irắc, Mỹ sẽ gạt các nước khác ra để đặt ảnh hưởng toàn diện và độc tôn ở nước này Ngoài ra, chắc chắn chính phủ Irắc do Mỹ hậu thuẫn sẽ dành phần lớn công việc tái thiết đất nước cho các công ty của Mỹ và do vậy càng làm tổn hại đến lợi ích kinh tế của các nước có công ty đã làm

ăn lâu dài hoặc muốn làm ăn tại Irắc Ví dụ như Công ty hạ tầng Mahattan (Mỹ) đến tái thiết Irắc, vì nguồn tài chính hạn hẹp nên Irắc buộc phải bán dầu giá rẻ cho Mỹ

Thứ hai, với cuộc chiến tranh chống Irắc, Mỹ muốn sắp xếp lại bàn cờ chính trị- chiến lược ở vùng Vịnh bảo đảm lợi ích lâu dài về kinh tế, an ninh của Mỹ Nhằm mục đích đó, sau sự kiện 11/9 Mỹ càng thấy cần thiết phải xây dựng Vịnh Pếc-xích thành khu vực bao gồm những nước dân chủ thân Mỹ và hướng các cuộc xung đột khu vực đi theo những kịch bản do Mỹ chi phối Cuộc khủng hoảng Ixraen- Palextin kéo dài không có lối thoát là những bức xúc phải giải quyết đối với Mỹ

Lợi ích quan trọng của Mỹ ở vùng Vịnh là đảm bảo an ninh cho Ixraen, đồng minh quan trọng chủ chốt của Mỹ trong khu vực Chính quyền Bush tin rằng Mỹ chỉ

có thể kiểm soát được giải pháp Trung Đông nếu Mỹ khẳng định sức mạnh áp đảo,

đủ sức để ép cả Ixraen và Palextin đi vào giải pháp do Mỹ dàn dựng [40]

Chính quyền Bush cho rằng dưới sức ép dầu lửa, kết cục của chính quyền chống Mỹ ở Bagdad và mô hình thể chế dân chủ ở Irắc, các nước trong khu vực sẽ thay đổi theo hướng Mỹ muốn (đảm bảo cung cấp dầu ổn định, từ bỏ chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan và các hoạt động khủng bố, giảm ủng hộ cho Palextin, mở rộng dân chủ Phương Tây), nếu không sẽ trở thành mục tiêu “thay đổi chế độ” tiếp theo của

Mỹ Bằng việc lật đổ Saddam Hussein và xây dựng một mô hình dân chủ thân Mỹ,

hy vọng sẽ tạo một “hình mẫu” có tác động dây chuyền thay đổi cục diện chiến lược

về kinh tế, chính trị, xã hội ở khu vực có lợi cho Mỹ

Thứ ba, kiểm soát nguồn cung cấp dầu lửa ở Vịnh Pếc-xích, khu vực được coi

là “trung tâm an ninh dầu lửa thế giới”, là yêu cầu thiết yếu đối với Mỹ trong hai ba thập kỷ tới Từ sau Chiến tranh lạnh, các chính quyền Mỹ đều ngày càng tỏ ra hết sức

lo ngại về sự phụ thuộc ngày càng tăng của kinh tế Mỹ vào nhập khẩu dầu mỏ, đặc

Trang 39

39

biệt từ vùng Vịnh Hiện nay, Mỹ phải nhập 55% dầu mỏ phục vụ nhu cầu năng lượng

và đến 2020 tỷ trọng này là 65% và còn tiếp tục tăng lên Sự lệ thuộc này là gót chân A-sin của quyền lực Mỹ chừng nào Mỹ không kiểm soát được vùng Vịnh

Thứ tư, cuộc chiến tranh Irắc nằm trong chiến lược của chính quyền Bush hướng tới thiết lập một trật tự thế giới mới với vai trò siêu cường duy nhất của Mỹ, giảm vai trò của các nước lớn khác, của LHQ, các thể chế và luật pháp quốc tế, tạo tiền lệ thuận lợi để

Mỹ có thể xử lý các vấn đề an ninh, chính trị, kinh tế quốc tế và khu vực phục vụ lợi ích của Mỹ Cuộc chiến này là để thử nghiệm và triển khai bước đầu cho Chiến lược an ninh quốc gia mới đưa ra tháng 9/2002 Cuộc chiến ở Irắc cụ thể hóa hầu hết các hướng điều chỉnh chiến lược nêu trong chiến lược mới nói trên

Thứ năm, những động cơ và yêu cầu nội bộ Mỹ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong quyết định của chính quyền Bush, đặc biệt qua đây có thể lý giải được tại sao Mỹ quyết định đánh Irắc trong thời điểm hiện nay và muốn kết thúc sớm, bất chấp những bất lợi về ngoại giao, thương vong của lính Mỹ và dân thường, sự chống đối của dư luận thế giới

Trong bối cảnh chính quyền Bush gặp nhiều khó khăn nội bộ: kinh tế phục hồi chậm và không ổn định dù chính quyền đã dùng nhiều biện pháp mạnh; cuộc chiến Apghanistan không giành thắng lợi triệt để (không bắt hoặc giết Bin Lađen), không

đủ để kích thích kinh tế Mỹ tăng trưởng; uy tín lãnh đạo của Bush xuống thấp, đặc biệt là về điều hành kinh tế; phe dân chủ bắt đầu tăng chỉ trích về cả đối nội và đối ngoại…hơn lúc nào hết Bush cần một thách thức lớn về an ninh để tập hợp lực lượng, một thắng lợi đối ngoại quan trọng để nâng cao uy tín, và một liều thuốc đủ mạnh để giúp kinh tế Mỹ ra khỏi trì trệ và kích thích tăng trưởng, đảm bảo cho thắng lợi trong cuộc bầu cử 2004 Bài học của G Bush (cha) chiến thắng trong chiến tranh vùng Vịnh năm 1991 nhưng thất cử năm 1992 do không chú ý đầy đủ tới các vấn đề kinh tế

là điều ám ảnh mà Tổng thống G.W.Bush (con) không muốn lặp lại

Một thắng lợi nhanh ở Irắc có thể góp phần hết sức quan trọng giúp chính quyền Bush đạt được mục tiêu đối nội trên nhiều lĩnh vực Về chính trị nội bộ, những ý kiến bất đồng sẽ giảm, uy tín và quyền lực của Bush sẽ được củng cố,

Trang 40

40

thuận lợi cho việc thúc đẩy các chính sách khác Về kinh tế, thắng lợi nhanh sẽ hạn chế chi phí chiến tranh, ổn định lòng tin tiêu dùng, kích thích đầu tư, giảm giá dầu, các công ty Mỹ thu lợi trong tái thiết Irắc, qua đó kích thích kinh tế tăng trưởng mạnh trở lại và càng củng cố uy tín của chính quyền đảng Cộng hòa

Cuộc chiến Irắc - dù xét ở bất cứ góc độ nào - là một kết cục tồi tệ đối với tất

cả các bên liên quan Trong con mắt quốc tế nói chung và các nước đang phát triển nói riêng, uy tín của LHQ đã bị xói mòn nghiêm trọng do không đảm đương được trách nhiệm bảo đảm hòa bình, an ninh quốc tế và giải quyết xung đột một cách hòa bình Sự can thiệp quân sự của Mỹ không những chưa đem lại hòa bình và ổn định cho Irắc và Vịnh Pếc-xích mà còn là mục tiêu bị lên án gay gắt trong thế giới Arập

và Hồi giáo Không chỉ như vậy, cuộc chiến Irắc còn gây mất đoàn kết, chia rẽ trong nội bộ Mỹ và đẩy quan hệ xuyên Đại Tây Dương xuống đến mức thấp nhất trong nhiều thập kỷ qua Đối với Irắc, không chỉ với Tổng thống Saddam Hussein

và Đảng Baath bị truất quyền lãnh đạo, ách chiếm đóng và đô hộ của Mỹ còn là nỗi nhục nhã ê chề đối với cả dân tộc Irắc [26, tr 45]

Mỹ dự tính xây dựng một đất nước Irắc tự do và dân chủ theo kiểu Mỹ Một Irắc không có Saddam Hussein sẽ là đồng minh của Mỹ, nêu một tấm gương cho các nước Vịnh Pếc-xích cũng như cả thế giới Arập Nước nào theo Mỹ sẽ có hòa bình, thịnh vượng và tự do, còn kẻ nào chống Mỹ sẽ phải chịu hậu quả nặng nề [21, tr 29]

Hiện nay, Mỹ đang duy trì lực lượng 50.000 quân, lên kế hoạch thiết lập khoảng 14 căn cứ quân sự ở Irắc với ý đồ: (1) Duy trì nguyên trạng chính quyền thân

Mỹ ở Irắc Hỗ trợ cho chính quyền này đủ sức đứng vững trước nguy cơ của chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan ở Irắc Ngăn chặn sự trỗi dậy trở lại của lực lượng Đảng Baath cũ; (2) Việc duy trì lực lượng quân sự ở Irắc cho phép Mỹ có thể thuận lợi trong việc triển khai các hợp đồng khai thác dầu lửa, xây dựng hoặc tái thiết Irắc do các công ty Mỹ đảm nhận nhằm mục tiêu phục vụ cho lợi ích kinh tế của nước Mỹ

Chính sách của Mỹ hiện nay là khống chế chặt nguồn dầu mỏ của Irắc, bất

cứ quốc gia nào muốn ký kết những hợp đồng dầu lửa hoặc các hợp đồng kinh tế khác ở vùng Vịnh này đều phải thông qua và được sự đồng ý của Mỹ

Ngày đăng: 23/03/2015, 13:46

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Ngoại giao (2006), Đề tài “An ninh năng lượng trong quan hệ quốc tế khu vực Đông Nam Á đầu thế kỷ 21” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề tài “An ninh năng lượng trong quan hệ quốc tế khu vực Đông Nam Á đầu thế kỷ 21
Tác giả: Bộ Ngoại giao
Năm: 2006
2. Vương Dật Châu (2004), An ninh quốc tế trong thời đại toàn cầu hóa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: An ninh quốc tế trong thời đại toàn cầu hóa
Tác giả: Vương Dật Châu
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
3. Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA-2002), Phát triển bền vững và điện hạt nhân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển bền vững và điện hạt nhân
4. Lê Vinh Danh (2001), Chính sách công của Hoa Kỳ: Giai đoạn 1935-2001, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách công của Hoa Kỳ: Giai đoạn 1935-2001
Tác giả: Lê Vinh Danh
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2001
5. Đỗ Đức Định (Chủ biên) (2008), Trung Đông - Những vấn đề và xu hướng kinh tế- chính trị trong bối cảnh quốc tế mới, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Đông - Những vấn đề và xu hướng kinh tế- chính trị trong bối cảnh quốc tế mới
Tác giả: Đỗ Đức Định (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2008
6. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX), Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII, IX)
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2005
7. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2006
8. Lê Bá Thuyên (PGS) (1997), Hoa Kỳ cam kết và mở rộng: Chiến lược toàn cầu mới của Mỹ, Trung tâm nghiên cứu Bắc Mỹ, Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn quốc gia, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoa Kỳ cam kết và mở rộng: Chiến lược toàn cầu mới của Mỹ, Trung tâm nghiên cứu Bắc Mỹ
Tác giả: Lê Bá Thuyên (PGS)
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1997
9. Trần Ngọc Toản (GS.TS) & Nguyễn Đức Trí (PGS.TS) (Chủ biên) (2001), Công nghiệp dầu khí và nguồn nhân lực, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công nghiệp dầu khí và nguồn nhân lực
Tác giả: Trần Ngọc Toản (GS.TS) & Nguyễn Đức Trí (PGS.TS) (Chủ biên)
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2001
30. ESMAP, Energy Security: http://www.esmap.org/docs/energy%20security.pdf 31. Report of The US President on Energy (2/3/2001):http://www.whitehouse.gov/infocus/achievement/chap8.html Link
32. Website of The US Energy Information Administration EIA (22/6/2008): http://tonto.eia.doe.gov/energy_in_brief/foreign_oil_dependence.cfm Link
33. Report of The US President at the international alternative energy summit (5/3/2008): http://www.whitehouse.gov/news/releases/2008/03/20080305.html Link
34. Website of The US Energy Information Administration EIA (24/6/2008): http://eia.doe.gov/cabs/Russia/NaturalGas.html Link
35. Website of The US Department of energy (22/06/2008): http://doe.gov/energysources/oil.html Link
36. Website of The White House (20/6/2008): http://www.whitehouse.gov/news/releases/2008/06/20080618.html Link
42. Cổng thông tin điện tử của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam: http://www.petrovietnam.com.vn Link
43. Cổng thông tin điện tử của Tổ chức OPEC: http://www.opec.org/home/ Link
44. Thompson, Henry, U.S NATIONAL INTEREST IN THE MIDDLE EAST: http://www.auburn.edu Link
45. U.S MIDDLE EAST POLICY AND THE CURRENT TERRORIST SITUATIONS: http://www.angelfire.com Link
46. WHAT WAS THE RESULT OF THE OIL EMBARGO OF 1973: http://www.palestinefacts.org Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Những quốc gia dầu lửa lớn nhất trên thế giới - Nhân tố dầu lửa trong quan hệ giữa Mỹ với các quốc gia vùng vịnh Péc Xích sau chiến tranh lạnh.PDF
Bảng 1.1 Những quốc gia dầu lửa lớn nhất trên thế giới (Trang 9)
Bảng 1.4: Diện tích và dân số các quốc gia Vịnh Pếc-xích - Nhân tố dầu lửa trong quan hệ giữa Mỹ với các quốc gia vùng vịnh Péc Xích sau chiến tranh lạnh.PDF
Bảng 1.4 Diện tích và dân số các quốc gia Vịnh Pếc-xích (Trang 23)
Bảng 1.5: Trữ lƣợng dầu lửa của Trung Cận Đông năm 2010 (tỷ thùng) - Nhân tố dầu lửa trong quan hệ giữa Mỹ với các quốc gia vùng vịnh Péc Xích sau chiến tranh lạnh.PDF
Bảng 1.5 Trữ lƣợng dầu lửa của Trung Cận Đông năm 2010 (tỷ thùng) (Trang 25)
Bảng 2.1: Tình hình xuất khẩu dầu lửa ở Iran                       (Đơn vị: USD) - Nhân tố dầu lửa trong quan hệ giữa Mỹ với các quốc gia vùng vịnh Péc Xích sau chiến tranh lạnh.PDF
Bảng 2.1 Tình hình xuất khẩu dầu lửa ở Iran (Đơn vị: USD) (Trang 30)
Bảng 2.2: Sản lượng tiêu dùng và nhập khẩu của Mỹ       Đơn vị: triệu thùng/ngày - Nhân tố dầu lửa trong quan hệ giữa Mỹ với các quốc gia vùng vịnh Péc Xích sau chiến tranh lạnh.PDF
Bảng 2.2 Sản lượng tiêu dùng và nhập khẩu của Mỹ Đơn vị: triệu thùng/ngày (Trang 46)
Bảng 2.3: Kim ngạch thương mại Arập Xê út-Mỹ                 (Triệu: USD) - Nhân tố dầu lửa trong quan hệ giữa Mỹ với các quốc gia vùng vịnh Péc Xích sau chiến tranh lạnh.PDF
Bảng 2.3 Kim ngạch thương mại Arập Xê út-Mỹ (Triệu: USD) (Trang 47)
Bảng 2.5: Chính sách can thiệp của Mỹ vào các nước giai đoạn 1981-2010 - Nhân tố dầu lửa trong quan hệ giữa Mỹ với các quốc gia vùng vịnh Péc Xích sau chiến tranh lạnh.PDF
Bảng 2.5 Chính sách can thiệp của Mỹ vào các nước giai đoạn 1981-2010 (Trang 68)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w