Tuy nhiên, sự kiện ghi dấu mối quan hệ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với Singapore nói riêng và với các nước trong cộng đồng quốc tế nói chung trong giai đoạn này là vào tháng 7/1960, Bộ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Tp Hồ Chí Minh-2012
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN QUANG HƯỞNG
QUAN HỆ VĂN HÓA, GIÁO DỤC
VIỆT NAM – SINGAPORE
NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XXI
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quan hệ quốc tế
Mã số:60.31.40
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS.Đặng Xuân Kháng
Tp Hồ Chí Minh-2012
Trang 3MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 5
Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUAN HỆ VIỆT NAM – SINGAPORE 11
1.1 Khái quát Quan hệ Việt Nam – Singapore trước năm 1976 11
1.2 Quan hệ Việt Nam – Singapore từ 1976 đến những năm cuối thế kỷ XX 18
1.2.1 Bối cảnh lịch sử 18
1.2.2 Quan hệ chính trị ngoại giao 20
1.2.3 Quan hệ kinh tế 27
1.2.4 Quan hệ văn hóa, giáo dục 29
Tiểu kết 32
Chương 2: QUAN HỆ VĂN HÓA GIÁO DỤC VIỆT NAM – SINGAPORE ĐẦU THẾ KỶ XXI 35
2.1 Bối cảnh quốc tế và khu vực 35
2.2 Quan hệ Việt Nam – Singapore đầu thế kỷ XXI 37
2.3 Quan hệ Văn hóa giáo dục Việt Nam – Singapore 47
2.3.1 Các cơ chế hợp tác về văn hóa giáo dục Việt Nam – Singapore 47
2.3.2 Hợp tác về Giáo dục Việt Nam – Singapore 48
2.3.3 Hợp tác về Văn hoá Việt Nam – Singapore 57
2.4 Các lĩnh vực hợp tác khác 64
Tiểu kết 66
Chương 3: TRIỂN VỌNG QUAN HỆ VĂN HÓA GIÁO DỤC VIỆT NAM – SINGAPORE 70
3.1 Triển vọng quan hệ Việt Nam – Singapore 70
3.2 Triển vọng quan hệ văn hóa giáo dục Việt Nam – Singapore 73
KẾT LUẬN 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
PHỤ LỤC 87
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Lịch sử nhân loại, đặc biệt từ thời cận đại đến nay đã chứng minh rằng: Một đất nước muốn phát triển bền vững thì vấn đề hợp tác phải luôn luôn được coi trọng Quan hệ hợp tác không chỉ góp phần quan trọng vào sự phát triển mà còn góp phần thúc đẩy sự tiến bộ ở mỗi quốc gia Chính vì vậy, quan
hệ hợp tác với các nước khác luôn được ưu tiên trong kế hoạch phát triển của bất kỳ quốc gia nào
Từ ngày lập nước đến nay, Singapore đã có sự phát triển thần kỳ về mọi mặt, các lĩnh vực kinh tế, chính trị, ngoại giao, văn hóa giáo dục đều có những bước đột phá mạnh mẽ Bên cạnh đó, xu thế chung của thế giới và khu vực trong thời gian sắp tới vẫn là xu thế hòa bình, hợp tác cùng phát triển Vì vậy, đối với Singapore, việc đẩy mạnh hợp tác trong quan hệ quốc tế luôn luôn được chú trọng
Với Việt Nam, quốc gia trong cùng khu vực Đông Nam Á thì mục đích hợp tác còn xuất phát từ sự tương đồng về lịch sử văn hóa và quá trình đấu tranh giành độc lập của hai nước Sau những biến cố của thời cuộc, quan hệ Việt Nam - Singapore đã được cải thiện Từ những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ XX trở lại đây, hai nước còn có thêm những cơ hội để tăng cường sự tin cậy và hiểu biết lẫn nhau Ngay từ năm 1992 , Vụ hợp tác kỹ thuật thuộc
Bộ Ngoại Giao Singapore đã quản lý chương trình hợp tác Singapore (SCP)
Từ chương trình này, Singapore đã chia sẻ với các nước đang phát triển những kỹ năng công nghệ và hệ thống mà Singapore có kinh nghiệm rút ra từ thực tế phát triển của mình “Tuyên bố chung về khuôn khổ hợp tác toàn diện giữa hai nước trong thế kỷ XXI” được ký kết vào tháng 3 năm 2004, đã góp
Trang 5phần tăng thêm triển vọng của mối quan hệ hợp tác giữa hai nước Việt Nam - Singapore những năm đầu thế kỷ XXI
Với những lý do trên, chúng tôi quyết định chọn đề tài “Quan hệ văn hóa, giáo dục Việt Nam – Singapore những năm đầu thế kỷ XXI” làm đề tài luận văn tốt nghiệp lớp thạc sỹ Trong giới hạn nhận thức chủ quan và khuôn khổ có hạn của luận văn, chúng tôi chỉ mong rằng việc tìm hiểu bước đầu một cách có hệ thống, khoa học vấn đề quan hệ hợp tác giữa hai nước những năm đầu thế kỷ XXI đến nay
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Quan hệ Việt Nam – Singapore những năm đầu thế kỷ XXI đã trở
thành một trong những mối quan hệ chiến lược trong khu vực ASEAN của Việt Nam Vì vậy, đã có nhiều công trình nghiên cứu cũng như rất nhiều sách,
Trang 6báo và tạp chí đề cập đến mối quan hệ giữa hai nước Tuy nhiên, về vấn đề hợp tác trên lĩnh vực văn hóa – giáo dục vẫn chưa có một công trình nghiên cứu chuyên sâu nào
Quyển “XINGAPO - đặc thù và giải pháp” do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia ấn hành năm 2007 của PGS.TS Dương Văn Quảng đã phân tích bối cảnh, sự ra đời, quá trình phát triển và triển vọng của Singapore Có thể nói, đây là một trong những công trình nghiên cứu mang tính toàn diện về sự phát triển của đảo quốc Sư Tử Tác giả nhấn mạnh về những nỗ lực phi thường, những đặc thù riêng của quốc đảo nhỏ bé này Quyển sách này cũng đề cập đến chính sách đối ngoại của Singapore với các nước trong đó có Việt Nam Tuy vậy, vấn đề quan hệ Việt Nam – Singapore có được tác giả nhắc đến nhưng chưa tập trung, chỉ được đề cập trong những chương mục nhỏ của cuốn sách
“Lịch sử quan hệ Việt Nam – Singapore (1965 – 2005)” là công trình nghiên cứu của TS Phạm Thị Ngọc Thu Cuốn sách đã tái hiện một cách đầy
đủ và hệ thống lịch sử quan hệ giữa hai nước từ năm 1965 đến năm 2005, là
cơ sở lý luận khoa học cho công tác nghiên cứu và dự báo, góp phần đem đến những thông tin bổ ích xác đáng về quan hệ hai nước Tuy nhiên, cuốn sách cũng chưa phân tích và đi sâu vào vấn đề quan hệ Việt Nam – Singapore, chỉ giới hạn trong giai đoạn (1965 – 2005) chưa làm rõ được vấn đề cần nghiên cứu của đề tài do đặc thù về tính khái quát cao của công trình này
Sau đại hội lần thứ VI năm 1986, Đảng CSVN đã đề ra đường lối đối ngoại đổi mới, chuyển nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam Singapore là quốc gia sớm phát hiện ra sự đổi mới này và nhìn
Trang 7nhận đánh giá đúng tiềm năng của Việt Nam nên đã nhanh chóng liên kết hợp tác, để rồi tại diễn đàn kinh tế Davos, Thụy Sĩ, năm 1990, hai bên đã bàn về vấn đề hợp tác đã bị gián đoạn từ năm 1978 do việc đưa quân tình nguyện vào Campuchia của Việt Nam
Sau Hiệp định Paris về Campuchia được ký kết, thủ tướng Võ Văn Kiệt sang thăm chính thức Singapore tháng 11 năm 1991 đã chính thức mở ra thời kỳ mới, thời kỳ hợp tác toàn diện Từ đây đã xuất hiện nhiều bài báo và những cuốn sách của các tác giả trong và ngoài nước bàn về vấn đề hợp tác này, nhưng vấn đề quan hệ - hợp tác trong những năm đầu thế kỷ XXI chưa được
đề cập tới sâu và chỉnh thể
3 Giới hạn đề tài
Chúng tôi không có tham vọng tìm hiểu mọi vấn đề liên quan đến quan
hệ cũng như sự hợp tác giữa Việt Nam hay Singapore với các nước khác trong khu vực và trên thế giới Tên của đề tài chứa đựng vấn đề chúng tôi cần giải quyết
Về thời gian, đề tài chỉ giới hạn trong khoảng thời gian những năm đầu thế kỷ XXI Những sự kiện trước đó được coi là phần dẫn nhập của vấn đề
Về không gian, đề tài giới hạn trong quan hệ văn hóa giáo dục Việt Nam – Singapore những năm đầu thế kỷ XXI Tuy nhiên chúng tôi coi quan
hệ Việt Nam – Singapore là chủ thể của vấn đề, do đó các vấn đề khác như quan hệ với các nước trong khối, khu vực và thế giới… được giới hạn ở một mức độ nhất định
Trang 84 Phương pháp nghiên cứu
Trong suốt quá trình nghiên cứu, về mặt phương pháp luận, chúng tôi đứng trên quan điểm của Triết học Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh để phân tích và nhìn nhận đánh giá vấn đề
Phương pháp so sánh và những vấn đề về lý thuyết quan hệ quốc tế, thêm vào đó là các phương pháp khác như: Phân tích – tổng hợp, hệ thống, dự báo được sử dụng trong quá trình viết luận văn nhằm bổ trợ cho các phương pháp trên Phương pháp lịch sử nhằm tái hiện lại bức tranh sinh động quá trình hợp tác của Việt Nam – Singapore và sự đóng góp của mối quan hệ hợp tác trong sự phát triển ấy Sự phát triển qua các giai đoạn và các thời kỳ khác nhau thì việc thi hành các chính sách của mỗi nước về vấn đề hợp tác có khác nhau
5 Đóng góp của luận văn
Luận văn góp phần làm rõ vấn đề quan hệ văn hóa, giáo dục Việt Nam – Singapore trong những năm đầu thế kỷ XXI
Trên cơ sở đó chúng tôi rút ra một số nhận xét về quá trình hợp tác này
Trang 96 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1 khái quát chung về quan hệ Việt Nam – Singapore trong lịch
sử từ trước khi Việt Nam thống nhất đất nước Chương này sẽ phân tích khái quát quan hệ Việt Nam – Singapore dưới góc độ hai nhà nước với hai chế độ khác nhau
Chương 2 khái quát chung về quan hệ Việt Nam – Singapore sau khi Việt Nam thống nhất đất nước, dân tộc Việt Nam quy về một mối Đồng thời phân tích quan hệ Việt Nam những năm đầu thế kỷ XXI Nội dung chính của phần này là làm nổi bật quan hệ văn hoá giáo dục Việt Nam – Singapore giai đoạn đầu thế kỷ XXI
Chương 3 nêu ra triển vọng quan hệ kinh tế, chính trị Việt Nam – Singapore trong đó nhấn mạnh triển vọng văn hoá giáo dục Việt Nam – Singapore trong tương lai
Trang 10Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUAN HỆ VIỆT NAM –
SINGAPORE 1.1 Khái quát Quan hệ Việt Nam – Singapore trước năm 1976
Singapore là một nước phát triển mạnh với nền kinh tế thị trường tự do, trong đó nhà nước đóng vai trò chính Môi trường kinh doanh mở và không
có nham nhũng, giá cả ổn định và là một trong những nước thu nhập bình quân đầu người cao nhất thế giới Tuy là nước Công nghiệp mới (NIC) có nền kinh tế phát triển (thuộc nhóm phát triển nhất thế giới), là trung tâm thương mại và tài chính ở Đông Nam Á nhưng kinh tế gần như phụ thuộc hoàn toàn vào bên ngoài, nhất là các nền kinh tế Hoa Kỳ, Nhật Bản và các nước phương Tây khác
Với nguồn lợi thu được từ xuất khẩu hàng hóa điện tử, hóa chất và cung cấp dịch vụ, Singapore nhập khẩu tài nguyên thiên nhiên, sản phẩm thô
Do đó, Singapore được xem là trung tâm xuất nhập khẩu hoạt động theo phương thức: mua sản phẩm thô, tinh luyện và xuất khẩu trở lại, chẳng hạn như nhập khẩu dầu thô và tinh chế lại để xuất đi Với vị trí cảng biển chiến lược, Singapore trở thành trung tâm trung chuyển hàng hóa cạnh tranh hơn so với các nước lân cận Singapore là nước hàng đầu về sản xuất ổ đĩa máy tính điện tử và hàng bán dẫn Singapore còn là trung tâm lọc dầu và vận chuyển quá cảnh hàng đầu Châu Á Thị trường xuất khẩu và nhập khẩu chính của Singapore đều là các nước Malaysia, Hoa Kỳ, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan
Du lịch là một ngành kinh tế mũi nhọn ở Singapore và đất nước này cũng được xem là một thiên đường mua sắm của khách du lịch
Trang 11Singapore cũng được coi là nước đi đầu trong việc chuyển đổi sang nền kinh tế tri thức Singapore đang thực hiện kế hoạch đến năm 2018 sẽ trở thành một thành phố hàng đầu thế giới, một đầu mối của mạng lưới mới trong nền kinh tế toàn cầu và Châu Á và là một nền kinh tế đa dạng, nhạy bén trong kinh doanh.[49]
Hệ thống giao thông ở Singapore rất phát triển Chất lượng đường bộ của đảo quốc này được đánh giá là vào loại tốt nhất thế giới Giao thông tại Singapore được vận hành theo mô hình của Anh
Vào năm 2010, tổng dân số Singapore là 5,1 triệu người, trong đó có 3,2 triệu (64%) mang quốc tịch Singapore Số còn lại (36%) là cư dân định cư hoặc người làm việc ngước ngoài 2,9 triệu người (57%) được sinh ra tại Singapore trong khi số còn lại sinh ra tại nước ngoài
Tuổi trung bình của người Singapore là 73 và số thành viên trung bình trong gia đình là 3,5 người Năm 2010, tỉ lệ sinh nở là 1,1 trẻ em trên một phụ
nữ, thấp thứ ba trên thế giới và dưới tỉ lệ cần thiết 2,1 để giữ vững số dân Để giải quết vấn đề này, chính quyền Singapore đang khuyến khích những người nước ngoài tới định cư tại Singapore Một lượng lớn dân định cư giữ cho dân
số của Singapore không giảm quá nhanh
Khoảng 40% dân số là người nước ngoài Đây là tỉ lệ cao thứ sáu trên thế giới Chính quyền Singapore luôn khuyến khích người ngoại quốc đến đây làm việc mặc dù điều này đồng nghĩa với việc họ sẽ giữ một vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế quốc gia Biểu hiện có thể thấy là lao động nước ngoài chiếm đến 80% trong ngành công nghiệp xây dựng và 50% trong công nghiệp dịch vụ
Trang 12Về tôn giáo, Singapore là một quốc gia đa tôn giáo Theo thống kê, khoảng 51% dân số Singapore theo Phật giáo và Đạo giáo, 15% dân số (chủ yếu là người Hoa, người gốc Âu, và người Ân Độ) là tín đồ Đạo Cơ đốc Hồi giáo chiếm khoảng 14% dân số, chủ yếu tồn tại trong các cộng đồng người Mã Lai, người Ấn Độ theo Hồi giáo, và người Hồi (người Hoa theo Hồi giáo) Có khoảng 15% dân số Singapore tuyên bố họ không có tôn giáo Các tôn giáo khác không đáng kể
Việt Nam và Singapore là hai quốc gia cùng nằm trong khu vực Đông Nam Á nên giữa hai nước có những nét tương đồng như: cùng chung trong môi trường địa lí, khí hậu; cả hai đều nằm trong khu vực địa lý rất quan trọng
ở khu vực Châu Á về kinh tế, chính trị
Về mặt lịch sử, do trong những năm cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX cả Việt Nam và Singapore đều là những nước nghèo và là thuộc địa của các nước phương Tây (Việt Nam là thuộc địa của Pháp, Singapore là thuộc địa của Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh) Vì vậy, cả hai nước đều cùng đứng trong cuộc đấu tranh chung chống chủ nghĩa thực dân đế quốc phương Tây để tự giải phóng
Giai đoạn 1965 – 1973 quan hệ giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Singapore còn mờ nhạt và hầu như không đáng kể Đất nước Việt Nam bị chia làm 2 miền Nam – Bắc với hai chế độ chính trị hoàn toàn khác nhau nên mối quan hệ giữa Việt Nam và các nước rất phức tạp và ngược lại Các nước ngoài khối xã hội chủ nghĩa chủ yếu đặt quan hệ với Việt Nam Cộng hòa Trong khi đó, các nước trong khối Xã hội chủ nghĩa và trung lập lại nghiêng
về Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Mối quan hệ Việt Nam – Singapore cũng không phải là ngoại lệ, Singapore tuyên bố đi theo con đường trung lập Tuy
Trang 13nhiên, hoàn cảnh lịch sử buộc Singapore phải thi hành một chính sách ngoại giao thực dụng Mặc khác, Singapore đi theo con đường tư bản, chống Cộng nên các mối quan hệ về kinh tế chính trị, thương mại đầu tư chủ yếu tập trung vào Việt Nam Cộng hòa
Giai đoạn này, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng chưa thiết lập quan hệ ngoại giao với Singapore Tuy nhiên, sự kiện ghi dấu mối quan hệ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với Singapore nói riêng và với các nước trong cộng đồng quốc tế nói chung trong giai đoạn này là vào tháng 7/1960, Bộ trưởng Ngoại giao Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Phạm Văn Đồng gửi thư cho chính phủ của 21 nước Á – Phi, trong đó có Singapore và Malaysia, để kêu gọi Chính phủ các nước này tuân thủ đúng theo tinh thần của hội nghị Băng Đung ủng hộ nhân dân Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong cuộc đấu tranh đòi
Mỹ - Diệm phải tuân thủ đúng theo Hiệp định Geneva Đáp lại lời kêu gọi này, Thủ tướng Lý Quang Diệu đã trả lời: “Tất cả những người bạn của hòa bình thế giới đều hy vọng Việt Nam có thể tự do định đoạt lấy tương lai của mình mà không bị sự can thiệp của nước ngoài”[15] Thư phúc đáp của Thủ tướng Lý Quang Diệu hàm ý ngầm mong muốn nhân dân Việt Nam có thể giành được độc lập bằng chính cuộc cách mạng của mình và thông điệp “hòa bình” cũng được ông Lý Quang Diệu gửi gắm vào trong đó
Cùng năm đó, vào ngày 01/5/1960, nhân ngày Quốc tế Lao động tại Trung Quốc, phái đoàn của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã gặp gỡ với Đoàn Đại biểu Cộng hòa Singapore Hai bên không có bản hợp tác hay ghi nhớ nào được bàn thảo và ký kết Tuy nhiên, cuộc gặp gỡ này cũng mở ra những cơ hội cho quan hệ Việt Nam với Singapore trong tương lai
Trang 14Ngày 27/11/1971, khu vực hoàn bình, tự do và trung lập Đông Nam Á (ZOPFAN) được thành lập Trước đó, năm 1967 đã đánh dấu mốc quan trọng với sự ra đời của khối ASEAN với 5 nước khởi đầu là Indonesia, Malaysia, Thailan, Singapore, Philippines Sau đó, vào năm 1969, Thủ tướng Malaysia đưa ra khái niệm và lời kêu gọi thành lập một khu vực trung lập tại Đông Nam Á Các dữ kiện trên tuy không ảnh hưởng trực tiếp tới quan hệ giữa Việt Nam và Singapore nhưng về cơ bản các nước Đông Nam Á đã có những đường lối đối ngoại chung: từ chỗ hỗ trợ Mỹ, ủng hộ Mỹ can dự vào khu vực nay đã giảm dần sự phụ thuộc và giảm dần dính líu tới những rắc rối đang xảy
ra tại Việt Nam
Mối quan hệ giữa các nước ASEAN bước đầu tiên còn lỏng lẻo và chủ yếu phụ thuộc vào quan hệ của các nước lớn Tuy vậy, các nước trong khu vực ASEAN đã bắt đầu thăm dò khả năng phát triển ngoại giao và tăng cường hợp tác kinh tế - ngoại giao với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và phía Việt Nam Dân chủ Cộng hòa cũng hoàn toàn ủng hộ điều đó Phía Singapore ngày càng giảm bớt sự dính líu của mình tới chiến tranh Việt Nam nhưng vẫn chưa nhận được sự hưởng ứng tích cực từ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vì những nghi ngại về thái độ của Singapore cũng như thái độ của các nước ASEAN khác trong hoạt động của họ nhằm hỗ trợ cho sự tồn tại của chính quyền miền Nam Việt Nam
Như vậy, quan hệ chính trị - ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Singapore trong giai đoạn này còn nhiều hạn chế do các điều bên ngoài và nội tại bản thân 2 nước dẫn đến quan hệ ngoại giao Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
và Singapore gần như chưa phát triển được
Trang 15Khác với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Việt Nam Cộng hòa và Singapore giai đoạn này khá sôi động Năm 1954, Việt Nam Cộng hòa đặt cơ quan Lãnh sự tại Singapore, đến 1960 nâng cấp lên Tổng lãnh sự Năm 1963,
do tình hình thế giới và khu vực phức tạp cộng với việc Liên bang Malaysia được thành lập, Singapore xin gia nhập vào Liên bang Malaysia Năm 1965, Singapore tuyên bố tách ra khỏi Liên bang Malaysia trở thành nước Cộng hoà độc lập, bắt đầu thực hiện chính sách đối nội, đối ngoại không phụ thuộc Việt Nam Cộng hòa ngay lập tức công nhận Singapore Tuy nhiên, do Singapore mới tách ra, là một nước nhỏ và chịu sức ép từ nhiều phía nên Chính phủ Singapore đã thi hành chính sách đối ngoại thận trọng mang tính linh hoạt và thực dụng [13] Singapore giảm rắc rối cho chính mình bằng cách tách biệt vấn đề kinh tế và chính trị trong quan hệ giữa các nước láng giềng và các nước trong khu vực Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Việt Nam Cộng hòa là
ví dụ cụ thể cho chính sách đối ngoại này
Chính thái độ trung lập đã giúp Singapore hầu như không có mối quan
hệ ràng buộc nào với Việt Nam và mặc dù Việt Nam Cộng hòa đã đặt Tổng lãnh sự tại Singapore từ năm 1960 nhưng phía Singapore vẫn không có động thái gì về việc đặt cơ quan ngoại giao của mình ở Miền Nam Việt Nam
Dưới sức ép của Mỹ và tình hình thay đổi tại Miền Nam Việt Nam những năm 1970 cùng với lợi ích kinh tế từ Việt Nam Cộng hòa, Chính phủ Singapore ngỏ ý muốn mở cơ quan Đại diện thương mại tại Sài Gòn với “quy chế ngoại giao”, điều này thể hiện sự khéo léo trong chính sách đối ngoại của chính phủ Singapore, họ thể hiện đúng chính sách đối ngoại linh hoạt và thực dụng của mình Sự thay đổi chính sách này xảy ra sau khi Singapore nhận thấy sự hoà hoãn giữa Mỹ và Trung Quốc đặc biệt liên quan đến các lợi ích
Trang 16của Singapore tại khu vực này, mặt khác Singapore cũng muốn tranh thủ sự ủng hộ của Mỹ để phát triển kinh tế của mình
+ Về quan hệ kinh tế:
Mặc dù giai đoạn này quan hệ chính trị giữa Việt Nam Cộng hòa và Singapore chưa phát triển, Singapore luôn cố gắng né tránh các về vấn đề chính trị nhưng quan hệ kinh tế giữa hai nước vẫn liên tục giữ đà ổn định và tăng trưởng nhanh
Các mặt hàng chủ yếu trao đổi thương mại trong giai đoạn này là: cà phê, cao su, đồng vụn phế thải, hàng không, vận tải đường biển…
Bảng 1.1: Trao đổi thương mại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Singapore
Singapore
VNDCCH nhập từ Singapore
Trang 17Khác với Việt Nam Cộng hòa, cán cân thương mại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với Singapore không bị chênh lệch quá nhiều Tuy nhiên, còn quá ít trao đổi thương mại để đánh giá mức độ ảnh hưởng hay quan tâm đến nhau giữa hai nhà nước này Các mặt hàng trao đổi chủ yếu giai đoạn này bao gồm: lạc, đường, mật ong, cà phê, xi măng, sắt thanh và các dầu thảo mộc khác
Nhìn chung do tính chất phức tạp của tình hình thế giới và khu vực giai đoạn này nên quan hệ giữa Singapore và Việt Nam nói chung còn hạn chế Việc Việt Nam bị phân chia thành 2 chế độ chính trị khác nhau cũng gây khó khăn cho Singapore khi muốn tập trung phát triển quan hệ hợp tác ở một khu vực Bằng sự khéo léo của mình khi vận dụng chính sách đối ngoại linh hoạt
và thực dụng, Singapore đã có những bước đi đầu tiên đến cả hai khu vực của Việt Nam Tuy chưa đạt được mục tiêu như mong muốn nhưng mối quan hệ hợp tác này cũng đã thể hiện thiện chí và nhu cầu liên kết ngày càng cao của Singapore nói riêng và xu thế của khu vực và thế giới nói chung
1.2 Quan hệ Việt Nam – Singapore từ 1976 đến những năm cuối thế kỷ
XX
1.2.1 Bối cảnh lịch sử
Sau hơn hai thập kỷ chạy đua vũ trang đầy tốn kém và nguy hiểm, tình hình thế giới đã có những thay đổi căn bản khác trước Thế giới xuất hiện xu hướng hoà hoãn Đông – Tây với những cuộc thương lượng giữa hai nước đứng đầu hai cực là Liên Xô và Mỹ
Đông Đức và Tây Đức bắt đầu có những thoả hiệp về thiết lập mối quan hệ hợp tác, biến đối đầu căng thẳng thành hoà dịu và hợp tác trên cơ sở cùng có lợi Tương tự, Liên Xô và Mỹ cũng có những cuộc thương lượng nhằm hạn chế vũ khí chiến lược và chạy đua vũ trang Vào đầu những năm
Trang 181980, Tổng thống Mỹ Reagan và các thế lực phản động quốc tế lại tăng cường chính sách chạy đua vũ trang mạnh mẽ Tuy nhiên, vào cuối những năm 1980 đầu 1990 xu thế hoà hoãn lại được lặp lại Tháng 12/1989, tại cuộc gặp gỡ không chính thức ở Manta, Mỹ và Liên Xô đã cùng tuyên bố chấm dứt tình trạng chiến tranh lạnh kéo dài gần nửa thập kỷ
Tại khu vực ASEAN, việc Mỹ rút quân khỏi ba nước Đông Dương đã làm cho các nước ASEAN phải thay đổi chính sách đối ngoại sao cho phù hợp với tình hình mới Trước thắng lợi của ba nước Đông Dương, nhóm các nước ASEAN có xu thế co cụm lại với nhau và tìm cách đối phó với Đảng Cộng sản
Vấn đề Campuchia trở thành tâm điểm rắc rối, gây chia rẽ Việt Nam với các nước trong khối ASEAN Tình trạng này kéo dài 10 năm Đến năm
1989, khi Việt Nam tích cực đưa ra giải pháp giải quyết ổn thỏa vấn đề Campuchia thì lúc này mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước ASEAN mới thực sự được bình thường hoá Sự cải thiện trong mối quan hệ giữaASEAN
và các nước Đông Dương là nhân tố chính chi phối tình hình của khu vực nói chung và quan hệ Việt Nam – Singapore nói riêng trong giai đoạn này
Giai đoạn này, Việt Nam vừa giành lại được độc lập, chính thức đi theo con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội Trong khi đó, Singapore cũng đã thay đổi chính sánh đối ngoại của mình để tìm cách tăng cường, củng cố mối quan
hệ với Việt Nam và các nước khác Tình thế khiến cả Việt Nam và Singapore cùng tập trung xây dựng đất nước dẫn đến những thay đổi đáng chú ý về thời cuộc
Trang 191.2.2 Quan hệ chính trị ngoại giao
Ngày 1/8/1973, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chính thức thiết lập quan
hệ ngoại giao với Singapore Đây là bước ngoặt lịch sử trong quan hệ giữa hai nước kể từ khi thành lập Từ hai nước khác nhau về chế độ chính trị, chính sách đối ngoại và chưa thiết lập quan hệ ngoại giao thì kể từ đây quan hệ hai nước bắt đầu bước sang một trang mới Tuy nhiên, giai đoạn từ 1973-1975 do Việt Nam vẫn còn duy trì hai chính quyền và sự can thiệp của Mỹ vào Miền Nam Việt Nam nên mối quan hệ giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Singapore vẫn chưa thực sự diễn ra mạnh mẽ
Chiến thắng lịch sử 30/4/1975 là đấu mốc không thể quên đối với dân tộc Việt Nam Việt Nam hoàn toàn độc lập và giải phóng Dân tộc Việt Nam quy về một mối Tuy nhiên, Việt Nam lại phải đối mặt với rất nhiều khó khăn, thử thách vì các nước tư bản phương Tây lúc này ra sức thực hiện chính sách thù địch, bao vây, cấm vận kinh tế đối với Việt Nam Mặt khác, các nước xã hội chủ nghĩa anh em bắt đầu cắt dần viện trợ cho Việt Nam Đây thực sự là một thử thách không nhỏ và đứng trước thử thách này, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng đã đề ra nhiệm vụ đối ngoại của Chính phủ Việt Nam là “ra sức tranh thủ những điều kiện quốc tế thuận lợi để nhanh chóng hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế, phát triển văn hoá, khoa học kỹ thuật, củng cố quốc phòng, xây dựng cơ sở vật chất – kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội ở nước ta; đồng thời tiếp tục kề vai sát cánh với các nước xã hội chủ nghĩa anh em và tất cả các dân tộc trên thế giới đấu tranh
vì hoà bình, độc lập và chủ nghĩa xã hội”
Tháng 7/1976 Thứ trưởng Ngoại giao Phan Hiền đã có các cuộc tiếp xúc với các nhà lãnh đạo Singapore, khẳng định những nguyên tắc cơ bản của
Trang 20chính sách đối ngoại với khu vực của Việt Nam như: tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của nhau; cùng tồn tại hoà bình; không để lãnh thổ cho nước ngoài sử dụng; giải quyết các tranh chấp thông qua giả pháp thương lượng hòa bình; phát triển hợp tác khu vực… Những nguyên tắc này là cơ sở cho việc hiểu biết lẫn nhau, thức đẩy quan hệ giữa hai nước phát triển
Từ tháng 1/1978 – 10/1978 lần lượt diễn ra các chuyến thăm ngoại giao của Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Duy Trinh và Thủ tường Phạm Văn Đồng Sau các chuyến thăm này, hai bên đã ra tuyên bố chung về các nguyên tắc chỉ đạo quan hệ hợp tác cùng chung sống hoà bình giữa hai nước Ngoài ra, Việt Nam còn cử một số phái đoàn để triển khai các hoạt động hợp tác cụ thể và đón các đoàn doanh nghiệp Singapore đến Việt Nam Những cuộc tiếp xúc này đã mở ra giai đoạn mới trong quá trình phát triển quan hệ hợp tác giữa hai nước, góp phần thúc đẩy sự phát triển hơn nữa quan hệ giữa Việt Nam với các nước ASEAN nói chung và với Singapore nói riêng, tạo điều kiện cho các bên hiểu biết và tin tưởng lẫn nhau
Về phía chính quyền Singapore, họ vẫn đặt dấu hỏi lớn cho nhà nước
Việt Nam mới độc lập vì nhiều lý do Thứ nhất: việc Việt Nam đi theo con
đường xã hội chủ nghĩa và với lực lượng quân đội hùng mạnh bậc nhất Đông Nam Á lúc bấy giờ thì đó thực sự là mối đe doạ và quan tâm lớn đối với Singapore Đặc biệt, khi Việt Nam ký Hiệp ước thân thiện cùng hợp tác với Liên Xô 10/1978 đã làm dấy lên lo ngại rằng sự phát triển quan hệ Việt Nam
– Xô Viết chính là sự chạy đua của các thế lực lớn trong khu vực Thứ hai:
Mối quan hệ giữa Việt Nam – Singapore còn bị tác động mạnh bởi vấn đề Campuchia khi Việt Nam đáp ứng lời kêu gọi của nhân dân anh em Campuchia đem quân vào giải phóng Campuchia, lật đổ chế độ diệt chúng Pôn Pốt năm 1979
Trang 21Sự kiện Campuchia làm các nước ASEAN lo ngại, Việt Nam trở thành mối lo đối với các nước trong khu vực Thêm vào đó, các lời buộc tội và xúi giục của các nước phương Tây càng làm cho Việt Nam bị cô lập Mỹ và Trung Quốc cũng nhân sự kiện này gây sức ép lên Liên Hợp Quốc yêu cầu lên án hành động “xâm lược” của Việt Nam vào Campuchia nhằm biến vấn
đề Campuchia thành vấn đề quốc tế, làm nảy sinh những xung đột tại Đông Nam Á, từ đó họ có thể dễ dàng thực hiện can thiệp và khống chế các nước này
Sự kiện này cũng làm cho mối quan hệ giữa Việt Nam và Singapore trở nên phức tạp và căng thẳng Như đã đề cập bên trên, Singapore là nước thực hiện đường lối đối ngoại linh hoạt và thực dụng Là một quốc đảo nhỏ, Singapore ý thức được việc bảo vệ độc lập chủ quyền của nước mình, đồng thời trước sức ép từ các nước lớn như Mỹ, Trung Quốc, Singapore cũng cùng cộng đồng quốc tế tố cáo Việt Nam trước sự kiện này Phía Singapore lập luận rằng, Việt Nam đã đi ngược lại với chủ trương “không can thiệp lẫn nhau” của Singapore và các nước ASEAN Thực tế là các nước ASEAN đang
lo sợ rằng một nước cộng sản đang không ngừng lớn mạnh về mặt quân sự như Việt Nam sẽ đe doạ tới an ninh khu vực ASEAN nói chung và tới độc lập chủ quyền của mỗi quốc gia trong khu vực ASEAN nói riêng
Trước tình hình bất lợi, Việt Nam đã thay đổi chiến lược để phù hợp với điều kiện trong và ngoài nước lúc này Tháng 9/1982, Việt Nam bắt đầu từng bước thực hiện việc rút quân đội khỏi Campuchia Tháng 9/1989, việc này được hoàn thành giải quyết dứt điểm vấn đề Campuchia Việc này đã góp phần quan trọng khai thông mọi bế tắc trong quan hệ song phương và đa phương giữa Việt Nam và các nước trong khu vực, trong đó có quan hệ Việt Nam – Singapore
Trang 22Tháng 2/1990 tại diễn đàn kinh tế quốc tế ở Thuỵ Sỹ, phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Việt Nam Võ Văn Kiệt đã có cuộc gặp với Thủ tưởng Singapore Lý Quang Diệu Tại đây, hai bên đã trao đổi, thảo luận về mối quan hệ song phương giữa hai nước Việt Nam – Singapore và đi đến thỏa thuận nâng cấp quan hệ song phương giữa hai nước khi vấn đề Campuchia được giải quyết
Ngày 23/10/1991, Hiệp định hoà bình về Campuchia được ký kết tại Paris Ngay trong tháng 10/1991, Chính phủ Singapore đã tháo bỏ lệnh cấm vận kinh tế đối với Việt Nam Sự kiện này khép lại quá trình đối đầu căng thẳng giữa Việt Nam – Singapore trong gần 2 thập kỷ
Tháng 11/1991, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Võ Văn Kiệt sang thăm chính thức Singapore đánh dấu bước phát triển của mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước trong khu vực nói chung trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi, cùng tồn tại và mong muốn hoà bình Tháng 12/1991, Đại sứ quán Việt Nam tại Singapore được thiết lập Tháng 9/1992, Singapore cũng thiết lập Đại sứ quán tại Việt Nam
Ngay sau khi hai nước thiết lập quan hệ ngoại giao ở cấp cao nhất, hàng loạt sự kiện ngoại giao đã diễn ra ngay sau đó:
Tháng 1/1993, Bộ trưởng bộ Tài chính Hồ Tế sang thăm và làm việc tại Singapore Trong dịp này, Việt Nam và Singapore đã ký kết Hiệp định hợp tác trong quản lý và bảo vệ môi trường
Bộ trưởng Thương mại và Công nghiệp Singapore Lim Boon Heng, Bộ trưởng Bộ Môi trường Ahmnah Mattar thăm và làm việc tại Việt Nam (5/1993)
Trang 23Tháng 8/1993 Bộ trưởng Bộ Giáo dục Singapore Lee Yock Suan thăm
và làm việc với Bộ Giáo dục – Đào tạo Việt Nam, mở ra thời kỳ mới trong quan hệ hợp tác về giáo dục – đào tạo giữa hai nước
Đặc biệt, chuyến thăm của Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam Đỗ Mười (10/1993) là sự kiện nổi bật trong quan hệ giữa hai nước sau 20 năm chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao Tại buổi gặp mặt, hai bên đã trao đổi những quan điểm về các vấn đề quốc tế, vấn đề khu vực mà hai bên cùng quan tâm và về quan hệ hợp tác song phương giữa Việt Nam và Singapore
Về vấn đề Việt Nam chuẩn bị gia nhập ASEAN, Thủ tướng Goh Chok Tong nói: “Singapore thực sự vui mừng khi Việt Nam tham gia vào cộng đồng các nước Đông Nam Á”
Chuyến thăm chính thức Việt Nam lần đầu tiên của Thủ tưởng Singapore Goh Chok Tong tháng 3/1994 và chuyến thăm chính thức Singapore của Thủ tướng Võ Văn Kiệt tháng 5/1994 là những sự kiện đáng nhớ, đánh dấu bước phát triển không ngừng trong quan hệ giữa hai nước Hai bên cùng bàn thảo
về các lĩnh vực hai bên cùng quan tâm và khai thác Đó là việc thành lập các khu công nghệ Việt Nam – Singapore, việc xây dựng các kế hoạch hợp tác về
du lịch Phía Singapore cũng khẳng định sự ủng hộ của Singapore đối với việc Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN Cùng thời gian này, nhiều văn bản và Hiệp định giữa hai bên đã được ký kết như: Hiệp định hàng hải thương mại (16/4/1992), Hiệp định thương mại (24/9/1992), Hiệp định về khuyến khích bảo hộ và đầu tư (29/10/1992), Hiệp định về hợp tác trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ môi trường (14/5/1993), Hiệp định tránh đánh thuế hai lần (2/3/1994), Hiệp định về hợp tác du lịch (26/8/1994)
Trang 24Tháng 2/1995, Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm đã có chuyến thăm và làm việc với Bộ trưởng Bộ ngoại giao Singapore Trong dịp này, hai bên đã khẳng định việc tăng cường hợp tác song phương trong các lĩnh vực chính trị, kinh tế, thương mại Phía Singapore khẳng định sự ủng hộ hoàn toàn đối với việc Việt Nam trở thành thành viên thứ bảy của ASEAN
Ngày 28/7/1995, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ bảy của ASEAN Từ chỗ từng là đối thủ của các nước trong khu vực, Việt Nam nay
đã chính thức trở thành một thành viên của cộng đồng ASEAN, trở thành một nhân tố tích cực góp phần vào sự nghiệp bảo vệ hoà bình, hợp tác và phát triển trong khu vực Đông Nam Á Đây là kết quả thu được từ quá trình thực hiện đúng đắn đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam
Kể từ khi Việt Nam gia nhập ngôi nhà chung ASEAN, hợp tác giữa hai nhà nước Việt Nam – Singapore ngày càng được đẩy mạnh hơn thông qua các hoạt động của Chính phủ, các bộ, ngành chuyên môn của cả hai quốc gia như: Chuyến thăm của Phó Thủ Tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Singapore Tony Tan (11/1996); chuyến thăm của Bộ trưởng Bộ Ngoại giao và Luật pháp Singapore Jayakumar (8/1996); cuộc gặp gỡ không chính thức tại Jakarta giữa Thủ tướng Việt Nam Võ Văn Kiệt và Thủ tướng Singapore Goh Chok Tong bên lề Hội nghị cấp cao không chính thức các nước ASEAN; Tháng 8/1997, Đoàn đại biểu Ban Nội chính Trung ương Đảng Cộng Sản Việt Nam do đồng chí Phan Thế Hùng – Uỷ viên Trung ương Đảng đã có chuyến thăm, học hỏi
và nghiên cứu kinh nghiệm của Đảng Hành động Nhân dân Singapore trong lĩnh vực chống tham nhũng
Tháng 11/1997, Bộ trưởng cấp cao Lý Quang Diệu sang thăm và làm việc tại Việt Nam Trong chuyến thăm này, Bộ trưởng đã trao đổi với các nhà
Trang 25lãnh đạo Việt Nam về những kinh nghiệm của Singapore trong công cuộc phát triển kinh tế và tăng cường hơn nữa việc hợp tác với Việt Nam trong lĩnh vực kinh tế, thương mại
Trong bối cảnh khủng hoảng khu vực, tháng 3/1998, Chủ tịch nước Trần Đức Lương thăm chính thức Singapore Chuyến thăm nhằm tăng cường sự hợp tác giữa hai nước để cùng chia sẻ những kinh nghiệm vượt qua các cơn khủng hoảng Đây là chuyến thăm đầu tiên của Chủ tịch Trần Đức Lương sang Singapore Tháng 11/1998, Bộ trưởng cấp cao Lý Quang Diệu đã có chuyến thăm và làm việc tại Việt Nam để trao đổi về tình hình khủng hoảng kinh tế tài chính khu vực và tăng cường hợp tác kinh tế thương mại giữa hai nước
Ngày 17/4/2000, nhận lời mời của Phó Thủ tướng thường trực Nguyễn Tấn Dũng, Phó Thủ tướng Lý Hiển Long đã đến Hà Nội bắt đầu chuyến thăm chính thức Việt Nam Hai bên cùng trao đổi và nhất trí rằng hai bên cần tăng cường trao đổi các đoàn cấp cao, các bộ, ngành, tiếp xúc giữa các doanh nghiệp hai nước cũng như duy trì cơ chế hợp tác hiện hành và triển khai nhanh, có hiệu quả các thỏa thuận cấp cao, góp phần thiết thực vào việc củng
cố quan hệ hợp tác cùng có lợi giữa hai nước, đồng thời tìm hiểu nhiều lĩnh vực mới để mở rộng sự hợp tác hai nước vào đầu thế kỷ XXI
Tháng 9/2000, Tổng thống Cộng hoà Singapore Sellapan Rama Nathan
đã tiếp Chủ tịch Quốc hội Nông Đức Mạnh nhân dịp Chủ tịch sang dự kỳ họp thứ 21 Đại hội đồng AIPO tổ chức tại Singapore Tổng thống Sellapan Rama Nathan đánh giá cao sự phát triển tốt đẹp của quan hệ hai nước trong thời gian vừa qua và cho rằng hai nước cần có hỗ trợ hợp tác với nhau hơn nữa trong
Trang 26bối cảnh sự phát triển kinh tế không đồng đều giữa hai quốc gia, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
1.2.3 Quan hệ kinh tế
Sau những ngày tháng đấu tranh gian khổ và đẫm máu để giành được độc lập dân tộc, năm 1975 Việt Nam chính thức giành lại được quyền tự quyết cho dân tộc mình Nước Việt Nam quy về một mối Tuy nhiên, khó khăn vẫn chưa chấm dứt mà Việt Nam lúc này lại bước sang thời kỳ khó khăn mới: khó khăn vì bị bao vây và cấm vận bởi các nước phương Tây, các nước
xã hội chủ nghĩa anh em bắt đầu gây khó khăn và có những động thái hoà hoãn Đặc biệt, Trung Quốc tăng cường gây sức ép với Việt Nam một cách trực diện Cùng với những khó khăn ấy là “vấn đề Campuchia” Đây thực sự
là những thách thức lớn đối với các nhà lãnh đạo non trẻ Việt Nam
Quan hệ Việt Nam – Singapore cũng không nằm ngoài những khó khăn chung ấy nhưng xét riêng về lĩnh vực kinh tế, dù bị cấm vận nhưng việc trao đổi thương mại giữa Việt Nam và Singapore vẫn tiếp tục phát triển
Trong các năm từ 1975 – 1985, mặc dù bị cấm vận nhưng Singapore và Việt Nam vẫn duy trì mức trao đổi thương mại tương đối lớn Có thể nói Singapore là cây cầu nối giữa Việt Nam và cộng đồng quốc tế trong những năm bị bao vây cấm vận
Năm 1985, thương mại hai chiều Việt Nam – Singapore chiếm hơn 400 triệu USD, tương đương với Nhật Bản, gấp đôi Hồng Kông [13, tr.126] Các loại hàng hoá chủ yếu Singapore xuất sang Việt Nam bao gồm: máy móc, hoá chất, phân bón, sợi bông … Singapore nhập của Việt Nam các mặt hàng than, cao su, nông sản, hải sản, hàng thủ công mỹ nghệ… Tuy lượng giao dịch
Trang 27thương mại giữa hai nước chưa nhiều nhưng điều này vẫn có những đóng góp quan trọng đối với nền kinh tế Việt Nam bởi lúc này Việt Nam đang bị bao vây và cô lập về kinh tế
Cùng với Nhật Bản, Singapore giai đoạn này là một trong những nước đứng đầu về tỷ trọng buôn bán thương mại với Việt Nam Từ cuối năm 1985 đến đầu năm 1990, các nước phương Tây càng thắt chặt cấm vận đối với Việt Nam Ngay cả Singapore cũng thực hiện chính sách cấm vận đối với Việt Nam nên các số liệu về kinh tế, thương mại, đầu tư trong giai đoạn này không được các nước công bố Tuy vậy, theo Business Times số ra ngày 13/1/1992 thì đến năm 1990 Singapore đã trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam với tổng giá trị thương mại hai chiều đạt 812 triệu USD, vượt qua đối thủ cạnh tranh Nhật Bản là 794 triệu USD Các mặt hàng chủ yếu Singapore xuất sang Việt Nam bao gồm các sản phẩm hoá dầu, các thiết bị điện tử Việt Nam xuất sang Singapore các mặt hàng gồm gạo, bắp, đậu phộng, cà phê, cao
su, hải sản, dầu thô…
Thập niên 90 của thế kỷ 20 tiếp tục chứng kiến những triển vọng phát triển thương mại giữa Việt Nam – Singapore Đặc biệt, năm 1991, Chính phủ Singapore đã xoá bỏ lệnh cấm đầu tư vào Việt Nam Tháng 4/1992, hai nước
đã ký kết Hiệp định hàng hải về vận tải đường biển và thống nhất những quy chế có lợi nhất cho mỗi nước trong việc sử dụng hải cảng của nhau để phát triển thương mại.Với tư cách là thương cảng quốc tế quan trọng, việc Singapore mở rộng các ưu đãi với Việt Nam đã tạo điều kiện quan trọng nhất cho Việt Nam trong việc hội nhập vào thị trường thế giới Những ưu đãi này thúc đẩy ngoại thương giữa hai nước tăng lên một cách nhanh chóng, Singapore trở thành nước dẫn đầu về khối lượng buôn bán của các nước trong khu vực ASEAN với Việt Nam, Singapore thường xuyên chiếm 3/5 toàn bộ
Trang 28khối lượng buôn bán của các nước ASEAN với Việt Nam Năm 1993, Việt Nam xuất khẩu sang Singapore lượng hàng hoá có giá trị 568,932 SGD, nhập
từ Singapore lượng hàng hoá có giá trị 1.582,449 SGD
Bảng 1.2: Thương mại giữa Việt Nam - Singapore (1996 – 2000)
Nguồn: Cục phát triển thương mại Singapore các năm 1999 - 2001
Như vậy quan hệ kinh tế Việt Nam – Singapore giai đoạn này khá phát triển Các con số về trao đổi thương mại tuy không đáng kể so với Singapore nhưng lại tạo nên những tiền đề hết sức quan trọng cho nền kinh tế Việt Nam
Xu thế hoà bình, hợp tác, tăng cường đối thoại sau Chiến tranh lạnh cộng với vấn đề Campuchia đang được giải quyết thuận lợi hứa hẹn một bước phát triển mới trong quan hệ Việt Nam – Singapore trong thế kỷ XXI
1.2.4 Quan hệ văn hóa, giáo dục
Bên cạnh lĩnh vực kinh tế, chính trị, các mối quan hệ về văn hóa giáo dục giai đoạn này cũng được tập trung phát triển
+ Các cơ chế hợp tác văn hoá, giáo dục giai đoạn cuối thế kỷ XX
Tháng 2/1992, Bộ Giáo dục & Đào tạo Việt Nam chính thức gia nhập tổ chức Bộ trưởng Bộ Giáo dục các nước Đông Nam Á (SEAMEO)
Trang 29Ngày 26/8/1994, Việt Nam và Singapore ký kết bản Hiệp định hợp tác
Tháng 8/1997, thành lập Trung tâm đào tạo nhân lực kỹ thuật cao tại Bình Dương
Tháng 4/1998, hai bên cũng ký kết bản hợp tác về Văn hóa – Thông tin
+ Quan hệ văn hoá, giáo dục Việt Nam – Singapore
Nhằm đẩy mạnh công cuộc phát triển của đất nước, thoát khỏi tình trạng nghèo nàn lạc hậu, cũng như thoát khỏi sự cấm vận của các nước phương Tây, chính phủ Việt Nam đã tập trung tăng cường các mối quan hệ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực giáo dục đào tạo Tháng 2/1992 được Chính phủ cho phép, Bộ Giáo dục và Đào tạo chính thức gia nhập tổ chức Bộ trưởng Giáo dục các nước Đông Nam Á (SEAMEO) và tháng 7/1995 khi Việt Nam trở thành thành viên chính thức của ASEAN, Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng trở thành thành viên Tiểu ban Giáo dục của ASEAN (ASCOE)
Ngay sau khi hai nước bình thường hoá quan hệ vào đầu những năm 90 của thế kỷ XX, Singapore đã rất chú trọng đến hợp tác giáo dục và đào tạo với Việt Nam và Việt Nam cũng tham gia vào cả năm chương trình hợp tác giáo dục bao gồm:
Trang 301) Chương trình song phương
2) Chương trình Đào tạo với nước thứ ba (TCTP)
3) Sáng kiến hội nhập ASEAN (IAI)
4) Tham quan khảo cứu
5) Chương trình học bổng Singapore dành cho các nước ASEAN
Năm 1996, Khu Công nghiệp Việt Nam – Singapore được thành lập tại tỉnh Bình Dương (VSIP) Nhằm đào tạo nhân lực tại chỗ cho VSIP, Singapore
đã giúp Việt Nam thành lập Trung tâm Đào tạo Kỹ thuật Việt Nam – Singapore (VSTTC) trực thuộc VSIP Chương trình và nội dung đào tạo tại VSTTC gần giống với Viện giáo dục kỹ thuật ở Singapore (ITE) Hiệu quả đầu tư vào VSTTC là rất cao và phía Việt Nam mong muốn Singapore tiếp tục trợ giúp về tài chính và chuyên môn cho VSTTC
Các hoạt động hợp tác trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo giữa hai nhà nước đã thu được kết quả bước đầu đáng khích lệ Đó là một quyết sách đúng đắn góp phần củng cố xu thế hoà bình, ổn định và hợp tác khu vực, tạo môi trường thuận lợi cho công cuộc đổi mới đất nước Ngoài ra, đây cũng là một bước đi quan trọng trong tiến trình hội nhập quốc tế, giúp Việt Nam mở rộng mối quan hệ song phương với Singapore cũng như đối với các nước là các bên đối thoại của ASEAN Trong khuôn khổ hợp tác ASEAN kể từ năm
1996 đến năm 2000, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tiến hành tuyển chọn và gửi
đi đào tạo tại Singapore 79 học sinh Trung học phổ thông Số học bổng dành cho bậc đại học cũng được tăng cường Thực hiện Chương trình hành động
Hà Nội với cam kết hỗ trợ các nước thành viên trong giai đoạn khó khăn, kể
từ năm học 1999 - 2000, chính phủ Singapore đã dành 30 suất học bổng đào
Trang 31tạo đại học cho các nước ASEAN Theo chương trình này, trong các năm học
1999 - 2000, 2000 - 2001, Singapore đã tiếp nhận nhiều sinh viên Việt Nam sang học tập tại Đại học Quốc gia Singapore và Đại học Công nghệ Nanyang Riêng Đại học Công nghệ Nanyang, vào năm học 2000-2001 đã chính thức tiếp nhận 14 sinh viên của trường Đại học Bách khoa Hà Nội và Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh [10]
Tháng 4 năm 1998, Bộ trưởng Bộ Văn hoá Thông tin Việt Nam Nguyễn Khoa Điềm thăm và làm việc tại Singapore Trong chuyến thăm này, Bộ trưởng Nguyễn Khoa Điềm cùng Bộ trưởng Bộ Thông tin - Nghệ thuật George Yeo đã ký kết văn bản ghi nhớ về vấn đề hợp tác văn hoá thông tin giữa hai nước (MOU) Theo đó, hai nước sẽ tăng cường hợp tác trên các lĩnh vực văn hoá; trao đổi sách báo, tài liệu văn hoá, nghệ thuật, lịch sử, phim ảnh, chương trình truyền hình, trao đổi các đoàn nghệ thuật, triển lãm văn hoá nghệ thuật, liên kết các trường đại học, viện nghiên cứu, các viện bảo tàng
Nhìn chung, quan hệ văn hoá giáo dục giữa Việt Nam – Singapore giai đoạn này đã có những bước tiến nhất định so với thời kỳ trước khi Việt Nam gia nhập ASEAN Hai bên cùng tái khẳng định quan hệ giữa Việt Nam – Singapore không chỉ dừng lại ở hợp tác về kinh tế, khoa học kỹ thuật mà còn đẩy mạnh ở các lĩnh vực khác như văn hoá xã hội, giáo dục… Mối quan hệ hợp tác này sẽ giúp Việt Nam vừa tiếp cận được nguồn vốn, công nghệ, vừa học hỏi thêm những kinh nghiệm của Singapore trong công cuộc xây dựng đất nước phát triển
Tiểu kết
Quan hệ Việt Nam – Singapore những năm cuối thế kỷ XX còn khá mờ nhạt, nhất là trước khi Việt Nam gia nhập ASEAN Sau khi hoàn toàn giải
Trang 32phóng, Việt Nam bị các nước phương Tây cấm vận về kinh tế và chính trị Việt Nam bị đẩy vào thế bị động và hoàn toàn bị cô lập Trước tình hình này, Việt Nam đã chủ động tìm hướng đi cho mình khi chỗ dựa tinh thần và vật chất là Liên Xô đã bị sụp đổ
Vấn đề biên giới Campuchia và chiến tranh biên giới Việt – Trung càng đẩy Việt Nam vào thế khó khăn Trong lúc này, Singapore và một số nước khác như Nhật Bản, Đài Loan có mối quan hệ khá chặt chẽ với Việt Nam, đặc biệt là Singapore Singapore được coi như cầu nối giữa hai chế độ xã hội khác nhau là xã hội chủ nghĩa (Việt Nam) và tư bản chủ nghĩa (Singapore là đồng minh thân cận của Mỹ)
Đặc biệt, mối quan hệ Việt Nam - Singapore càng khởi sắc khi Việt Nam gia nhập ASEAN, xoá tan mối nghi ngờ của các nước ASEAN, đặc biệt là các nước đồng minh thân cận với Mỹ Các chuyến thăm lần lượt diễn ra, cùng với
đó là các bản hiệp ước hữu nghị giữa hai quốc gia đã được ký kết Có thể nói, Singapore là một trong những nước đi đầu trong việc làm ăn buôn bán và đầu
tư vào Việt Nam ASEAN không chỉ có chức năng cầu nối mà còn là bậc thềm về thương mại đầu tư giúp Việt Nam bước ra khỏi mái nhà nghèo
Những bứt phá nhanh chóng trong nền kinh tế Singapore là bài học lớn không chỉ cho Việt Nam mà đối với cả các nước lớn trong khu vực trong đó
có Trung Quốc Trung Quốc đã nhiều lần cử các chuyên gia sang học hỏi kinh nghiệm thành công từ Singapore để vận dụng cho sự phát triển của đất nước mình Cùng với Nhật Bản, Singapore được coi là một trong những nước giàu nhất Châu Á, nước có mức sống trung bình cao và nền khoa học tri thức phát triển Ngoài các lĩnh vực hợp tác về kinh tế, thương mại, đầu tư thì lĩnh vực giáo dục - đào tạo cũng được coi là công cụ hữu hiệu mà Singapore vận dụng
Trang 33để hỗ trợ và rút ngắn khoảng cách giữa các nước trong khu vực Singapore có nền giáo dục hiện đại đạt đẳng cấp quốc tế Với ngôn ngữ sử dụng là tiếng Anh, và là nơi tập trung hàng ngàn trụ sở của các công ty và tập đoàn hùng mạnh trên khắp thế giới, được biết đến như một trong những trung tâm tài chính lớn bậc nhất châu Á, Singapore đang là điểm đến đắt giá của các nước trong khu vực
Trang 34Chương 2: QUAN HỆ VĂN HÓA GIÁO DỤC VIỆT NAM –
SINGAPORE ĐẦU THẾ KỶ XXI 2.1 Bối cảnh quốc tế và khu vực
Thứ nhất, đầu thế kỷ XXI chứng kiến sự tiến bộ vượt bậc của khoa học công nghệ Nếu như cuối thế kỷ XX được đánh dấu bằng cuộc chạy đua vũ trang khốc liệt trong Chiến tranh lạnh thì cuối thế kỷ XX đầu XXI lại chứng kiến những bước tiến vượt chưa từng thấy trong khoa học và công nghệ Tự động hoá bắt đầu len lỏi vào mọi mặt cuộc sống trên toàn cầu Khoảng cách giữa con người với con người được rút ngắn dần nhờ những tiến bộ của khoa học công nghệ Từ đó, xuất hiện một số quan điểm về một thế giới không khoảng cách - “thế giới phẳng”
Thứ hai, toàn cầu hoá trở thành xu thế chung trên toàn thế giới Các trung tâm kinh tế, khu vực kinh tế có quy mô khu vực hoặc toàn cầu ngày càng xuất hiện nhiều Thế giới có xu hướng trở thành một thể thống nhất có mối liên hệ chặt chẽ với nhau Kinh tế trở thành nhân tố quyết định sức mạnh của quốc gia và đóng vai trò quan trọng trong quan hệ quốc tế Xu thế toàn cầu hóa vừa là cơ hội cho các nước nghèo có khả năng tiếp cận vốn và công nghệ để đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế đất nước, đồng thời cũng là thách thức khiến nền kinh tế của họ có nguy cơ quá phụ thuộc vào các nền kinh tế lớn Toàn cầu hoá mở ra sân chơi công bằng cho các nước, giúp các nước đang phát triển có động lực hơn nữa trong việc tham gia vào hệ thống kinh tế toàn cầu Cùng với xu thế toàn cầu, xu thế liên kết khu vực cũng diễn
ra mạnh mẽ
Trang 35Thứ ba, thế giới lúc này xuất hiện rất nhiều bất ổn Xung đột tôn giáo, xung đột sắc tộc ngày càng diễn ra gay gắt ở nhiều nơi trên thế giới Nhân loại đứng trước những thách thức toàn cầu về môi trường, khí hậu, dân số, bệnh dịch… Ngoài ra chủ nghĩa khủng bố cũng ngày càng phức tạp và gây nhức nhối cho nhân loại
Thứ tư, vai trò của thế giới một cực do Mỹ đứng đầu dần mờ nhạt, các nền kinh tế mới như Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil, Nga, cùng với các nước và khu vực phát triển truyền thống Nhật Bản, EU… bắt đầu nổi lên, phát triển như bão Tất cả đang cùng tạo ra sân chơi lành mạnh hơn và sòng phẳng hơn
Thứ năm, vấn đề hạt nhân và vũ khí hạt nhân đang trở thành vấn đề điểm nóng hơn bao giờ hết Thế giới đang “nóng” dần lên khi các hoạt động hạt nhân của Triều Tiên, Iran đang thách thức nền hoà bình thế giới Ngoài ra, vấn đề Biển Đông cũng đang là tâm điểm chú ý của quốc tế trong thế kỷ XXI
Trong điều kiện tình hình thế giới và khu vực như vậy, mối quan hệ Việt Nam – Singapore cũng ít nhiều bị ảnh hưởng Thái độ ứng xử tương đồng trong các vấn đề quốc tế đã tăng cường sự gắn bó trong mối quan hệ hai nước Việt Nam và Singapore cùng ở khu vực Châu Á nên đều chịu sự cạnh tranh từ các nền kinh tế lớn như Trung Quốc, Nhật Bản Việc tuyên bố chủ quyền biển của Trung Quốc tại khu vực Biển Đông cũng vô tình đẩy quan hệ Việt Nam – Singapore lại gần nhau hơn vì cả hai nước đều lên án hành động này của Trung Quốc Ngoài ra, do cùng nằm trong khối các nước không nghiên cứu
và sử dụng vũ khí hạt nhân, Việt Nam và Singapore đều lên án mạnh mẽ các hành động sử dụng hạt nhân đe doạ nền hoà bình thế giới Ngoài ra, Việt Nam
và Singapore cũng tích cực tham gia vào các hoạt động an ninh phi truyền thống như vấn đề khủng bố, vấn đề môi trường…
Trang 362.2 Quan hệ Việt Nam – Singapore đầu thế kỷ XXI
Chiến tranh lạnh kết thúc, quá trình toàn cầu hóa và hội nhập khu vực trở thành một trong những xu thế cơ bản trong quan hệ quốc tế vào lúc này Trong bối cảnh mới đó, cả Việt Nam và Singapore đều nhận thấy được một khả năng tập hợp lực lượng mới đang hình thành giữa các nước trong khu vực nhằm đối phó với những thách thức mới Tình hình thay đồi, sự khác biệt trong nhận thức về khu vực và thế giới giữa các nước ASEAN cũ và ba nước Đông Dương Việt Nam, Lào, Campuchia dần dần được thu hẹp Câu nói nổi tiếng của thủ tướng Thái Lan “biến Đông Dương từ chiến trường thành thị trường” đã trở thành phương châm hành động của cả hai phía
Tháng 7 năm 1995, Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong quan hệ quốc tế ở khu vực Đông Nam Á
Sự kiện này không chỉ xóa bỏ sự nghi kỵ giữa Việt Nam và các nước ASEAN
cũ, mà nhất là nó còn chứng tỏ sự thay đổi cơ bản về tính chất của quan hệ quốc tế trong thời kỳ sau Chiến tranh lạnh Lợi ích dân tộc và sự gần gũi về địa l ý đã giúp cho các nước vượt qua những khác biệt để cùng phát huy vai trò và lợi thế của một tổ chức khu vực trong quan hệ với các nước khác, đặc biệt với các nước lớn
Việc ASEAN mở rộng và bao gồm cả 10 nước trong khu vực năm 1998
là minh chứng cho sự thay đổi hoàn toàn tư duy về quan hệ quốc tế Lối lập luận theo bạn thù và nặng về ý thức hệ đã nhường chỗ cho tư duy mới về tập hợp lực lượng Đó là các nước trong khu vực, mặc dù có sự khác biệt về hệ thống chính trị và xã hội, vẫn có thể tập hợp nhau lại trong một cơ chế khu vực vì lợi ích của mỗi nước và đồng thời vì lợi ích của cả hiệp hội
Trang 37Thế kỷ XXI, tiến trình toàn cầu hóa và hội nhập ngày càng diễn ra nhanh chóng Singapore là nước chủ trương đẩy nhanh quá trình liên kết ASEAN vừa vì lợi ích riêng vừa muốn giữ được vai trò chủ đạo của ASEAN trong quan hệ quốc tế tại khu vực Về phần mình, Việt Nam cũng thấy hội nhập khu vực là ưu tiên hàng đầu trong “đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển” và “chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế Việt Nam là bạn, đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hội nhập quốc tế và khu vực” Trong bối cảnh đó, hai nước càng tăng cường việc trao đổi đoàn cấp cao và các bộ Ngoại giao, Công an và Quốc phòng; quan hệ hai nước ngày càng phát triển toàn diện cả về chiều rộng lẫn chiều sâu theo tinh thần cùng có lợi và vì lợi ích chung của cả ASEAN
Việc hai nước quyết định miễn thị thực cho công dân của nhau vào tháng 12 năm 2003 mang một ý nghĩa chính trị to lớn không những tác động đến các nước trong khu vực, mà cả các nước khác quan tâm đến Đông Nam
Á Đồng thời quyết định này cũng góp phần thúc đẩy mạnh mẽ quan hệ kinh
tế và du lịch giữa hai nước
Bắt đầu từ năm 2003, hai nước tiến hành tham khảo thường niên cấp thứ trưởng ngoại giao Đặc biệt, trong chuyến thăm và làm việc của Thủ tướng Phan Văn Khải vào tháng 3 năm 2004, hai Bộ trưởng Ngoại giao đã thay mặt chính phủ hai nước k ý kết “Tuyên bố chung về khuôn khổ hợp tác toàn diện trong thế kỷ 21” Văn kiện quan trọng này trở thành cơ sở pháp l ý
và chính trị quan trọng tạo điều kiện thuận lợi cho việc thúc đẩy quan hệ hữu nghị và hợp tác nhiều mặt giữa hai nước trong những thập kỷ đầu của thế kỷ XXI
Trang 38Từ ngày 26 đến ngày 28/9/2011, chuyến thăm cấp Nhà nước tới Singapore của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và phu nhân khẳng định chính sách nhất quán của Việt Nam trong việc tăng cường quan hệ hữu nghị và hợp tác nhiều mặt với các nước trong khu vực, trong đó có Singapore Đặc biệt, trong chuyến thăm lần này, hai bên đã kiểm điểm và định hướng cho việc phát triển quan hệ hợp tác toàn diện hai nước từ chính trị, kinh tế, thương mại, đầu tư, quốc phòng, an ninh cho tới giáo dục đào tạo, công nghệ thông tin… trên cơ sở Hiệp định khung về kết nối hai nền kinh tế
Chuyến thăm của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang tới Singapore diễn
ra trong bối cảnh hết sức thuận lợi do quan hệ hữu nghị và hợp tác toàn diện giữa hai nước Việt Nam và Singapore lúc này đang trên đà phát triển mạnh
mẽ Singapore luôn là đối tác thương mại và đầu tư hàng đầu của Việt Nam với kim ngạch xuất nhập khẩu hai chiều đạt 6,2 tỷ USD trong năm 2010
Ngày 23/4/2012 Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã hội kiến với Tổng thống Singapore Tony Tan Keng Yam khi ông đang có chuyến thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam Tại buổi hội kiến này, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhiệt liệt chào mừng Tổng thống Tony Tan Keng Yam sang thăm Việt Nam và cho rằng chuyến thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam của Tổng thống Tony Tan Keng Yam sẽ là dấu mốc quan trọng, góp phần thúc đẩy mối quan hệ hữu nghị, hợp tác nhiều mặt giữa hai nước Việt Nam và Singapore
Theo Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, tiềm năng hợp tác giữa hai nước còn rất lớn, đặc biệt hai nước có nhiều điểm tương đồng có thể bổ trợ cho nhau để hợp tác, phát triển cùng có lợi; mong muốn hai nước tiếp tục nỗ lực
để thúc đẩy mạnh mẽ hơn nữa các hoạt động hợp tác trên các lĩnh vực, trong
Trang 39đó có thực hiện tốt các nội dung của Hiệp định kết nối hai nền kinh tế Việt Nam – Singapore
Bên cạnh việc đẩy mạnh các hoạt động hợp tác về kinh tế, thương mại, đầu tư, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng nhấn mạnh, hai bên cần quan tâm hơn nữa tới đẩy mạnh hợp tác về giáo dục-đào tạo, an ninh quốc phòng; ủng
hộ lẫn nhau trên các diễn đàn khu vực và quốc tế; hợp tác chặt chẽ trong đàm phán Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương; đẩy mạnh trao đổi phái đoàn các cấp cũng như thúc đẩy giao lưu văn hóa giữa nhân dân hai nước nhằm tăng cường tình đoàn kết hữu nghị và sự hiểu biết lẫn nhau giữa hai nhà nước, hai dân tộc Việt Nam và Singapore
Tổng thống Tony Tan Keng Yam cho biết các doanh nghiệp của Singapore luôn coi Việt Nam là điểm đến hấp dẫn, Tổng thống Tony Tan Keng Yam mong muốn Chính phủ Việt Nam tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp của Singapore hợp tác đầu tư lâu dài tại Việt Nam và là đối tác tin cậy của Việt Nam, nhất là ở những lĩnh vực thế mạnh của Singapore
Tổng thống Tony Tan Keng Yam cũng khẳng định Singapore sẽ hợp tác chặt chẽ với Việt Nam nói riêng, với các nước ASEAN nói chung trong gìn giữ hòa bình, ổn định và tự do hàng hải ở Biển Đông, đồng thời khẳng định Singapore ủng hộ việc giải quyết các tranh chấp ở Biển Đông bằng biện pháp hòa bình
Thách thức lớn nhất không chỉ đối với quan hệ Việt Nam - Singapore
mà trong cả quan hệ giữa các nước ASEAN là phải biết kết hợp hài hòa , hợp
l ý và hào hiệp giữa lợi ích dân tộc và lợi ích của cả Hiệp hội, của các thành viên khác trước những cám dỗ và sức ép từ bên ngoài, nhất là từ các nước lớn
Tư tưởng “mạnh ai nấy quan hệ” với các nước ngoài khối có nguy cơ gây chia
Trang 40rẽ và làm suy yếu ASEAN và nếu không cảnh giác có thể làm mất đi vai trò chủ đạo của Hiệp hội trong quan hệ quốc tế ở khu vực Đẩy nhanh tiến trình hội nhập ASEAN là điều cần thiết, nhưng tư tưởng “phá rào”, “đánh lẻ” dù xuất phát từ nước nào trong khối thì chỉ là có lợi trước mắt, còn về lâu dài sẽ làm xói mòn lòng tin của các nước khác đối với Hiệp hội Ngược lại, bất kỳ hành động trì hoãn, làm chậm tiến trình hội nhập của cả Hiệp hội sẽ làm mất thời cơ và ảnh hưởng đến lợi ích của cả khối
Về kinh tế
Việt nam được xác định là thị trường lâu dài cả về đầu tư và thương mại của Singapore vì Việt Nam được đánh giá là nước có môi trường kinh doanh ngày càng thuận lợi, nền kinh tế tăng trưởng cao và đều đặn trong một đất nước ổn định cả về chính trị và xã hội
Vì vậy, Singapore khuyến khích các công ty của họ sớm vào Việt Nam
và tìm cơ hội kinh doanh lâu dài trong những lĩnh vực mà họ có lợi thế cạnh tranh và Việt Nam có nhu cầu phát triển Phía Việt Nam cũng tính đến đặc thù quan hệ giữa hai nước và dành ưu tiên cho những dự án đầu tư có hiệu quả từ phía Singapore, dựa trên lợi ích của hai bên và phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế lâu dài của Việt Nam
Từ tư tưởng chỉ đạo trên, kể từ đầu thập niên 90 đến nay, Singapore luôn là một trong những nhà đầu tư nước ngoài và là bạn hàng lớn nhất của Việt Nam Đầu tư trực tiếp (FDI) của Singapore vào Việt Nam có nhiều nét đặc trưng, khác với các đối tác khác Thứ nhất là đa số các dự án đều có quy
mô và vốn lớn Điều này chứng tỏ các công ty Singapore muốn làm ăn lâu dài ở Việt Nam Thứ hai là định hướng đầu tư của Singapore khá rõ ràng khi
đi từ dịch vụ du lịch, khách sạn sang sản xuất và sau đó, chú trọng nhiều đến