1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hợp tác kinh tế Vịnh Bắc Bộ mở rộng và một số vấn đề đặt ra với Việt Nam

77 1K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

3 BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT ACFTA : Hiệp định thương mại tự do ASEAN-Trung Quốc ARF : Diễn đàn khu vực ASEAN ASEAN : Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á ASEAN+3 : Khuôn khổ hợp tác giữa AS

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Hà Nội – 2013

Trang 2

2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN QUỐC TRƯỜNG

HỢP TÁC KINH TẾ VỊNH BẮC BỘ MỞ RỘNG

VÀ MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA VỚI VIỆT NAM

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Quan hệ quốc tế

Mã số: 60 31 02 06

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Hoàng Khắc Nam

Hà Nội – 2013

Trang 3

1

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 5

Chương 1: KHÁI QUÁT VỀ HỢP TÁC KINH TẾ VỊNH BẮC BỘ MỞ RỘNG 10

1.1 Khái quát về Vịnh Bắc Bộ và phạm vi hợp tác kinh tế Vịnh Bắc Bộ mở rộng (VBBMR) 10

1.1.1.Vịnh Bắc Bộ 10

1.1.2 Khu vực hợp tác kinh tế VBBMR 11

1.2 Ý tưởng, mục tiêu và các nội dung hợp tác chủ yếu 11

1.2.1 Sự ra đời của ý tưởng hợp tác kinh tế VBBMR 11

1.2.2 Mục tiêu và những nội dung hợp tác chủ yếu 12

1.2.3 Các lĩnh vực hợp tác chủ yếu 16

1.3 Bối cảnh và quan hệ hợp tác giữa các nước trong khu vực 17

1.3.1 Bối cảnh chung 17

1.3.2 Quan hệ Trung Quốc – ASEAN 17

1.3.3 Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc 21

1.3.4 Quan hệ Việt Nam - ASEAN 23

1.4 Nhận định về cơ sở và triển vọng hợp tác 25

Chương 2: THỰC TRẠNG HỢP TÁC KINH TẾ VBBMR VÀ CƠ HỘI, THÁCH THỨC ĐỐI VỚI VIỆT NAM 28

2.1 Lộ trình và các chương trình hành động của Trung Quốc 28

2.1.1 Xây dựng Khu kinh tế Vịnh Bắc Bộ Quảng Tây 28

2.1.2 Mở rộng sự tham gia của các địa phương khác 32

2.1.3 Triển khai đồng bộ sáng kiến “một trục hai cánh” và đưa ra Lộ trình cùng 7 chương trình hợp tác cụ thể 34

2.2 Sự tham gia của Việt Nam 36

2.2.1 Quan điểm, chủ trương và một số chương trình hợp tác 36

Trang 4

2

2.2.2 Những cơ hội và thách thức đặt ra với Việt Nam 39

2.3 Sự tham gia của một số nước ASEAN 47

2.3.1 Quan điểm, thái độ của một số nước ASEAN 47

2.3.2 Một số công trình, dự án lớn đã và sẽ được triển khai tại các nước ASEAN 48

2.4 Dự báo triển vọng và các bước triển khai hợp tác của Trung Quốc 50

2.4.1 Về phương hướng triển khai hợp tác của Trung Quốc 50

2.4.2 Một số tác động đối với ASEAN 53

Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG HỢP TÁC CỦA VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ 55

3.1 Mục tiêu hợp tác 55

3.2.Các lĩnh vực hợp tác trọng tâm 55

3.3 Định hướng hợp tác trong các lĩnh vực chủ yếu đến năm 2020 56

3.3.1 Hợp tác xây dựng hạ tầng giao thông 56

3.3.2 Hợp tác về thương mại, thuận tiện hóa thông quan 57

3.3.3 Hợp tác về du lịch 57

3.3.4 Hợp tác phát triển nông nghiệp và chế biến nông - lâm - thủy sản 58

3.3.5 Hợp tác bảo vệ môi trường 58

3.3.6 Hợp tác phát triển công nghiệp và thu hút đầu tư nước ngoài 59

3.3.7 Hợp tác tài chính 60

3.4 Một số giải pháp và kiến nghị 60

3.4.1 Các giải pháp chủ yếu 60

3.4.2 Một số kiến nghị 63

KẾT LUẬN 66

TÀI LIỆU THAM KHẢO 69

Trang 5

3

BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT

ACFTA : Hiệp định thương mại tự do ASEAN-Trung Quốc

ARF : Diễn đàn khu vực ASEAN

ASEAN : Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

ASEAN+3 : Khuôn khổ hợp tác giữa ASEAN với 3 nước (Trung

Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc) CAFTA : Hiệp định thương mại tự do Trung Quốc – ASEAN

DOC : Tuyên bố chung về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông FTA : Hiệp định thương mại tự do

GMS : Chương trình hợp tác tiểu vùng Mê Kông mở rộng

MOU : Biên bản ghi nhớ

VBB : Vịnh Bắc Bộ

VBBMR : Vịnh Bắc Bộ mở rộng

Trang 6

4

DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU

Bảng 1: Giá trị thương mại giữa Trung Quốc và ASAEN năm 2010 20 Bảng 2: Trao đổi ngoại thương giữa Việt Nam với Trung Quốc 22 Bảng 3: Quan hệ hợp tác thương mại giữa Việt Nam với các nước

ASEAN tham gia hợp tác kinh tế VBBMR 25

Trang 7

5

MỞ ĐẦU

1.Mục đích, ý nghĩa của đề tài

Hợp tác kinh tế Vịnh Bắc Bộ mở rộng (VBBMR) là ý tưởng được lãnh đạo Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây của Trung Quốc đưa ra trong sáng kiến hợp tác phát triển “Một trục, hai cánh”, vào tháng 7 năm 2006 Theo đó,

“một trục” là Hành lang kinh tế từ Nam Ninh đến Singapore và “hai cánh” gồm hai khu vực là Vịnh Bắc Bộ mở rộng và Tiểu vùng sông Mê Kông mở rộng (GMS) Mặc dù VBB chỉ nằm giữa Việt Nam và Trung Quốc, song hợp tác kinh tế VBBMR xác định phạm vi hợp tác bao trùm cả một số tỉnh phía Nam, Tây Nam Trung Quốc và hầu hết các nước ASEAN như: Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Singapore

Trong mấy năm qua, kể từ khi ý tưởng hợp tác nêu trên nhận được sự tán đồng và ủng hộ của Chính phủ Trung Quốc, lãnh đạo các nước ASEAN, hợp tác kinh tế VBBMR đã được chuyển từ nhận thức chung sang hoạt động thực tiễn Phía Trung Quốc đã phê chuẩn Quy hoạch Khu kinh tế VBB Quảng Tây; đầu tư hàng trăm tỷ USD nâng cấp hạ tầng, phát triển các thành phố “đầu cầu” cho HLKT Nam Ninh – Singapore; phát triển các vành đai kinh tế, các khu công nghiệp, cảng biển quy mô lớn ở khu vực Quảng Tây; biến Quảng Tây thành

“cực tăng trưởng mới” của Trung Quốc Bên cạnh đó, Trung Quốc thông qua khuôn khổ hợp tác này lôi kéo ngày càng nhiều các nước ASEAN vào “quỹ đạo” ảnh hưởng của mình Trong khi đó, cho đến nay, Việt Nam và các nước ASEAN hầu như lúng túng, bị động trước các đề nghị hợp tác của Trung Quốc, thiếu thông tin, niềm tin và nguồn lực để hợp tác Tại Việt Nam hiện mới có rất ít công trình nghiên cứu về các vấn đề liên quan hợp tác kinh tế VBBMR

Thực tế nêu trên đang đặt ra những thách thức lớn với Việt Nam không chỉ về kinh tế, mà còn cả về an ninh, chính trị, đối ngoại, trong quan hệ với

Trang 8

6

Trung Quốc và ASEAN Đồng thời, đặt ra yêu cầu cấp thiết thiết phải tiến hành nghiên cứu hợp tác kinh tế VBBMR và ảnh hưởng của khuôn khổ hợp

tác này đối với nước ta Đề tài này nhằm đánh giá thực trạng, phân tích, dự

báo tác động của khuôn khổ hợp tác kinh tế VBBMR đối với Việt Nam trên các lĩnh vực kinh tế, an ninh, chính trị và đối ngoại Từ đó kiến nghị các giải pháp có tính khả thi nhằm giúp Việt Nam phát huy tối đa những tác động tích cực đồng thời giảm thiểu những tác động tiêu cực của khuôn khổ hợp tác kinh

tế này trong các lĩnh vực kể trên

2.Lịch sử nghiên cứu vấn đề

2.1.Tại Việt Nam

Trong khoảng 5 năm qua, tại Việt Nam đã có một số báo cáo, đề tài, đề

án khoa học của Viện KHXH Việt Nam, các bộ: Ngoại giao, Kế hoạch và Đầu tư, Công thương, Quốc phòng nghiên cứu về sáng kiến “Một trục hai cánh” của Trung Quốc, trong đó có đề cập đến hợp tác kinh tế VBBMR Cụ thể như:

- Đề tài khoa học cấp Bộ “Một trục hai cánh: Tác động tới Việt Nam”, nhóm tác giả thuộc Học Viện Ngoại giao, Chủ nhiệm Đề tài: Đặng Đình Quý, năm 2008

- “Đề án báo cáo Bộ Chính trị về sáng kiến Một trục hai cánh của Trung Quốc”, Bộ Ngoại giao, năm 2009

- Đề tài khoa học cấp Bộ “Tác động của chiến lược một trục hai cánh của Trung Quốc đối với sự phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam thời kỳ đến năm 2020”, nhóm tác giả Viện Chiến lược phát triển (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), Chủ nhiệm Đề tài: Phan Ngọc Mai Phương, năm 2009

- Đề án “Định hướng chính sách của Việt Nam của Việt Nam đến năm

2020, trong bối cảnh Trung Quốc tăng cường quan hệ với ASEAN”, nhóm tác giả Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Chủ nhiệm: Bùi Tất Thắng, năm 2010

Trang 9

7

- Ngoài ra, các cơ quan, đơn vị như: Bộ Quốc phòng, Bộ Công an; Bộ Giao thông vận tải, Bộ Ngoại giao, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam…đều có các báo cáo chuyên đề về hợp tác kinh tế VBBMR sau mỗi

kỳ Diễn đàn hợp tác kinh tế VBBMR diễn ra tại Quảng Tây, Trung Quốc

Tuy nhiên, các báo cáo, nghiên cứu nói trên mới chỉ dành một phần đề cập đến hợp tác kinh tế VBBMR, mà chưa có các phân tích, đánh giá thấu đáo

về tác động của khuôn khổ hợp tác này đối với Việt Nam Bên cạnh đó, nhiều công trình nghiên cứu nói trên ra đời từ năm 2009 trở về trước, chưa cập nhật tình hình, những diễn biến mới trong hợp tác kinh tế VBBMR, nên chưa đánh giá được toàn diện, chính xác về những tác động của hợp tác kinh tế VBBMR đối với Việt Nam; những vấn đề đặt ra với Việt Nam hiện nay

2.2.Tại Trung Quốc

Ở Trung Quốc hiện đã có nhiều công trình nghiên cứu về hợp tác kinh

tế VBBMR Một số công trình chủ yếu như:

- Cổ Tiểu Tùng chủ biên (2010), Báo cáohợp tác phát triển VBBMR,

NXB Văn hiến KHXH Trung Quốc

- Đỗ Bình (2011), Tiến vào Vịnh Bắc Bộ, NXB Văn hiến trung ương TQ

- Lã Dư Sinh chủ biên (2011), Báo cáo hợp tác phát triển VBBMR

2011, NXB Văn hiến KHXH Trung Quốc

-Văn phòng Ban quản lý quy hoạch và xây dựng Khu kinh tế VBB

Quảng Tây chủ biên và xuất bản (2010), Khái quát Khu kinh tế VBB Quảng Tây

-Viện KHXH Quảng Tây (2010), Kỷ yếu Diễn đàn các cơ quan tham

mưu hợp tác kinh tế VBBMR, tại Nam Ninh, Trung Quốc, tháng 6/2010

-Viện nghiên cứu phát triển VBB Quảng Tây (2010), Báo cáo tình

hình mở cửa, khai thác Khu kinh tế VBB Quảng Tây 2006-2010; NXB Văn

hiến KHXH Trung Quốc

Trang 10

8

-Viện nghiên cứu phát triển VBB Quảng Tây và Viện KHXH Quảng

Tây (2011), Báo cáo tình hình mở cửa, khai thác Khu kinh tế VBB Quảng Tây

2006-2010, NXB Văn hiến KHXH Trung Quốc

Tuy nhiên, các công trình này chủ yếu giới thiệu tình hình hợp tác của Trung Quốc; đánh giá tác động của khuôn khổ hợp tác này với Trung Quốc và ASEAN nói chung

2.3.Tại ASEAN và các nước khác

Tại các nước ASEAN và các nước khác, vấn đề này hợp tác kinh tế VBBMR chưa thật sự được quan tâm nghiên cứu, vì vậy đến nay chưa có công trình đáng kể nào nghiên cứu về vấn đề này

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Do hạn chế về thời gian và nguồn lực nên Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng hợp tác kinh tế VBBMR hiện nay, thái độ và việc triển khai hợp tác của các nước; đánh giá các tác động tích cực và tiêu cực chủ yếu của khuôn khổ hợp tác này với Việt Nam trên phương diện kinh tế, an ninh, đối ngoại; dự báo và đưa ra kiến nghị nhằm giúp Việt Nam tận dụng tối đa tác

động tích cực và giảm thiểu tác động tiêu cực của khuôn khổ hợp tác này

4.Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu, Đề tài sử dụng một số phương pháp nghiên cứu chuyên ngành, liên ngành, chủ yếu là: phương pháp tổng hợp và so sánh ; phương pháp phân tích hệ thống và phân tích thực tiễn ; phương pháp dự báo Các phương pháp nghiên cứu quốc tế khác được vận dụng ở mức độ khác nhau để tiếp cận và thực hiện nghiên cứu nội dung đề tài Ngoài ra, đề tài sử dụng một số lý thuyết để phân tích quan hệ kinh tế giữa Việt Nam và Trung Quốc trong khung khổ hợp tác kinh tế VBBMR, như lý thuyết địa kinh tế và địa chính trị, lý thuyết lợi thế cạnh tranh

Trang 11

9

5 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia thành ba phần:

- Chương 1: Khái quát về hợp tác kinh tế VBBMR

- Chương 2: Thực trạng hợp tác kinh tế VBBMR, cơ hội và thách thức đối với Việt Nam

- Chương 3: Định hướng hợp tác của Việt Nam và một số kiến nghị, giải pháp

Trang 12

10

Chương 1

KHÁI QUÁT VỀ HỢP TÁC KINH TẾ VỊNH BẮC BỘ MỞ RỘNG

1.1 Khái quát về Vịnh Bắc Bộ và phạm vi hợp tác kinh tế Vịnh Bắc

310 km (176 hải lý), nơi hẹp nhất là cửa vịnh khoảng 207,4 km (102 hải lý)

Vịnh Bắc Bộ thông ra Biển Đông qua 2 cửa: cửa chính ở phía Nam, từ đảo Cồn Cỏ (Quảng Trị, Việt Nam) tới mũi Ăng Ca (đảo Hải Nam, Trung

Quốc) rộng 207,4 km và cửa phía Bắc là eo biển Quỳnh Châu (nằm giữa bán đảo Lôi Châu và đảo Hải Nam, Trung Quốc) rộng 35,2 km

Vịnh Bắc Bộ tương đối nông, độ sâu trung bình chỉ 40 - 50 mét (chiếm hơn 60% diện tích đáy vịnh), nơi sâu nhất ở khu vực cửa Vịnh cũng không quá 100 mét Đáy vịnh tương đối bằng phẳng và thoải dần theo hướng Đông Nam Phần thềm lục địa của Việt Nam thuộc Vịnh Bắc Bộ rộng khoảng 60.000 km2, chiếm 48% diện tích toàn Vịnh Tại vùng biển phía Việt Nam có hơn 2.300 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó hầu hết tập trung ở khu vực ven bờ Quảng Ninh và Hải Phòng; phía Trung Quốc, ngoài đảo Hải Nam là đảo lớn nhất tiếp giáp Vịnh Bắc Bộ chỉ có một số ít đảo nhỏ ở phía Đông Bắc như Vị Châu, Tà Dương Đặc biệt phía Việt Nam có đảo Bạch Long Vỹ rộng khoảng 2,5 km2 nằm gần giữa vịnh (cách đất liền Việt Nam khoảng 110 km,

cách đảo Hải Nam Trung Quốc khoảng 130 km) và đảo Cồn Cỏ rộng khoảng

3 km2, cách Mũi Lay (Quảng Trị) khoảng 24 km Những đảo này có vị trí

Trang 13

11

chiến lược quan trọng về quốc phòng - an ninh, đồng thời là căn cứ hậu cần vững chắc để vươn ra khai thác biển khơi, phát triển kinh tế biển

1.1.2 Khu vực hợp tác kinh tế VBBMR

Phạm vi không gian hợp tác kinh tế VBBMR được xác định không thật

sự rõ ràng Ban đầu, khi Trung Quốc mới đưa ra sáng kiến hợp tác này, không gian hợp tác được xác định là một số tỉnh, thành phố phía nam của Trung Quốc và các nước ASEAN dọc theo Hành lang kinh tế Nam Ninh-Singapore, như: Việt Nam, Lào, Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Singapore và Brunei Tuy nhiên, trong quá trình triển khai hợp tác cũng như các Diễn đàn hợp tác kinh tế VBBMR, Trung Quốc đã mời thêm các nước Myanmar, Philippines tham gia Theo Lộ trình hợp tác kinh tế VBBMR mà Trung Quốc đưa ra tháng 7/2012, không gian hợp tác còn được mở rộng trong thời gian tới, với

sự tham gia của Hồng Kông, Ma Cao và Đài Loan

Theo tính toán của Nhóm chuyên gia hỗn hợp Trung Quốc và ASEAN, thì ngay ở thời điểm Trung Quốc bắt đầu thúc đẩy hợp tác kinh tế VBBMR, năm 2008, khu vực hợp tác kinh tế VBBMR đã có quy mô dân số 1,8 tỷ người; tổng GDP khoảng 5,7 nghìn tỷ USD và tổng kim ngạch xuất nhập khẩu 4,4, nghìn tỷ USD [1, tr.6]

1.2 Ý tưởng, mục tiêu và các nội dung hợp tác chủ yếu

1.2.1 Sự ra đời của ý tưởng hợp tác kinh tế VBBMR

Hợp tác kinh tế VBBMR diễn ra trong bối cảnh những năm gần đây Trung Quốc tập trung xây dựng điểm tăng trưởng mới Trung Quốc - ASEAN nhằm khai thác vai trò của Quảng Tây làm cầu nối (cả trên bộ và trên biển) trong giao lưu hợp tác giữa Trung Quốc và Đông Nam Á Với chiến

lược "Một trục hai cánh", Trung Quốc chủ trương hình thành hai mảng hợp tác lớn trong khu vực là hợp tác kinh tế trên biển (Hợp tác kinh tế xuyên Vịnh

Bắc Bộ) và hợp tác kinh tế trên bộ (Hợp tác tiểu vùng Mê Kông mở rộng và

Trang 14

12

Hành lang kinh tế Nam Ninh - Singapore) nhằm thúc đẩy hợp tác toàn diện

Trung Quốc - ASEAN

Tháng 7 năm 2006 tại Diễn đàn hợp tác kinh tế Vịnh Bắc Bộ lần thứ nhất tổ chức tại thành phố Nam Ninh (Trung Quốc), ông Lưu Kỳ Bảo, Bí thư Đảng Khu tự trị dân tộc Choang Quảng Tây lần đầu tiên đưa ra sáng kiến

một trục hai cánh (một trục là Hành lang kinh tế Nam Ninh - Singapore và hai

cánh là Hợp tác tiểu vùng Mê Kông mở rộng và Hợp tác kinh tế VBBMR)

Việc hình thành“Một trục hai cánh” sẽ lôi kéo sự tham gia của các nước

ASEAN Sáng kiến này đã nhanh chóng được Chính phủ Trung ương Trung Quốc phê chuẩn và ủng hộ, đồng thời các bộ, ngành và địa phương triển khai tích cực

1.2.2 Mục tiêu và những nội dung hợp tác chủ yếu

Mục tiêu chung

“Báo cáo nghiên cứu khả thi hợp tác kinh tế VBBMR”, do Nhóm chuyên gia hỗn hợp hợp tác kinh tế VBBMR gồm các chuyên gia của Trung Quốc và các nước ASEAN soạn thảo, đã thông qua tháng 9/2011 xác định mục tiêu chung của hợp tác kinh tế VBBMR là: Thiết lập một cơ chế hợp tác tiểu vùng, tạo đòn bẩy toàn diện cho hệ thống vận tải trên biển và duyên hải, tăng cường hợp tác cảng biển và tiếp vận, đẩy mạnh liên kết công nghiệp và phân công lao động, phát triển các ngành kinh doanh duyên hải, hợp tác phát triển tài nguyên biển, xúc tiến phát triển các thành phố ven biển, thiết lập các cụm cảng hỗ trợ lẫn nhau, các cụm công nghiệp và cụm thành phố với sự bổ sung mạnh mẽ và tính đa dạng, đồng thời đẩy nhanh việc phát triển bền vững kinh tế, xã hội trong khu vực [1 tr.11]

Mục tiêu riêng của Trung Quốc

Mục tiêu chính của Trung Quốc trong sáng kiến “Một trục hai cánh” nói chung và hợp tác kinh tế VBBMR nói riêng là:

Trang 15

13

- Về Chiến lược an ninh

+ Củng cố môi trường hòa bình, ổn định xung quanh, tạo vành đai an ninh ở phía Nam, tăng sự hiện diện, nâng cao vị thế nước lớn của Trung Quốc

ở Đông Nam Á

+ Ngăn chặn ảnh hưởng của các nước lớn, đặc biệt là Mỹ, Nhật ở khu vực này, nhất là trong bối cảnh Mỹ đẩy mạnh thực hiện chiến lược “trở lại châu Á” trong năm 2012

- Đối với Biển Đông

Trung Quốc muốn thông qua hợp tác kinh tế VBBMR để khẳng định chủ quyền, thúc đẩy hợp tác khai thác tài nguyên biển, mà trọng tâm là dầu khí, cụ thể hóa phương châm “Gác tranh chấp cùng khai thác”; ngăn cản quốc

tế hóa vấn đề biển Đông và sự can thiệp của các nước lớn, nhất là Mỹ, Nhật vào vấn đề Biển Đông

- Về kinh tế

+ Mở rộng không gian phát triển, thị trường tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ, nguồn cung cấp nguyên liệu, năng lượng, thu hút đầu tư, du lịch giành vị trí

có lợi nhất trong tiến trình liên kết kinh tế khu vực và tiểu vùng

+ Cụ thể hóa và tận dụng tối đa lợi ích hợp tác toàn diện Trung Quốc - ASEAN trong khung khổ Khu mậu dịch tự do Trung Quốc - ASEAN (CAFTA) Thúc đẩy hợp tác mang tính đa cấp, đáp ứng nhu cầu hợp tác của khu vực; tạo điều kiện để phát triển hạ tầng xuyên Á: đường biển trên Vịnh Bắc Bộ, Biển Đông và các tuyến đường bộ, đường sắt ven biển từ Hoa Nam xuống Singapore

Sáng kiến này phù hợp với Chiến lược quốc gia phát triển hướng Nam của Trung Quốc Trung Quốc coi Đông Nam Á và Nam Á là khu vực trọng

điểm thúc đẩy chính sách ngoại giao "láng giềng hoà mục, láng giềng cùng

giàu" và khu vực ổn định của Trung Quốc Tương thích với Chiến lược phát

Trang 16

14

triển hướng Nam, thúc đẩy hợp tác kinh tế Hoa Nam với Đông Nam Á Sáng kiến này do Quảng Tây đề xướng, nhưng vùng Tây Nam và Vịnh Bắc Bộ cũng là khu vực phát triển để hỗ trợ, tăng cường hợp tác kinh tế mậu dịch giữa khu vực miền Trung, miền Tây Trung Quốc với các nước ASEAN

Sáng kiến Một trục hai cánh nhằm khai thác vai trò của Quảng Tây trong giao lưu hợp tác giữa Trung Quốc và các nước Đông Nam Á Quảng Tây sẽ nối Trung Quốc với Đông Nam Á cả trên bộ và trên biển, cả mạng đường sắt hiện đại, đường cao tốc nối với mạng đường xuyên Á , được coi là cầu nối quan trọng nối liền tiểu vùng Mê Kông mở rộng với Tam giác phát triển Chu Giang Việc hình thành “một trục hai cánh” sẽ đưa hợp tác kinh tế Vịnh Bắc Bộ kéo dài từ Nam Ninh qua Việt Nam, Lào, Campuchia đến Thái Lan, Malaysia, Singapore và bao trùm, lan tỏa cả tới Indonesia, Philippines, Brunei và Myanmar

Trung Quốc cho rằng, không gian của Hành lang kinh tế qua các thành phố lớn Nam Ninh, Hà Nội, Viêng Chăn, Phnompenh, Bangkok, Kuala Lumpur, Singapore sẽ bổ sung tài nguyên, tăng cường sức sản xuất xuyên khu vực và phân công hợp tác, liên kết phát triển Các điểm tăng trưởng đầu mối dọc hành lang kinh tế từ Nam Ninh tới Singapore sẽ điều chỉnh nguồn kinh tế của toàn tuyến, hình thành dải tăng trưởng cao ven bờ Tây Thái Bình Dương Một trong những thế mạnh của vùng này là khả năng tạo lập con đường

từ Tây Nam ra biển, mà theo đánh giá của Trung Quốc thì khu vực Vịnh Bắc

Bộ thuộc Quảng Tây với chiều dài đường biển gần 700 km có thể mở 21 bến cảng với công suất bốc dỡ hàng trăm triệu tấn hàng hoá, trong đó có 5 cảng lớn là Bắc Hải, Phòng Thành, Khâm Châu, Thiết Sơn và Trân Châu Trung Quốc dự tính khi xây dựng xong tuyến đường sắt nối các tỉnh Vân Nam, Quý Châu, Tứ Xuyên với các cảng thuộc ven biển Quảng Tây, thì cự ly vận chuyển hàng hóa qua con đường này tới các cảng của Đông Nam Á, Châu

Trang 17

15

Phi, Châu Âu có thể tiết kiệm được từ 1/4 đến 1/3 chi phí so với trước đây Chính vì vậy một kế hoạch xây dựng hệ thống giao thông cả đường sắt, đường bộ, hàng không và đường biển của các tỉnh Tây Nam Trung Quốc,

trong đó lấy các bến cảng làm nòng cốt đã được triển khai (dự kiến sẽ thực

hiện trong vòng 10 năm) nhằm mục đích làm cho khu vực Quảng Tây thực

sự đảm nhiệm được chức năng là con đường ra biển của cả vùng Tây Nam Trung Quốc Khi đó Quảng Tây sẽ thực sự trở thành nút giao thông đường biển, đường bộ và đường không quan trọng nối liền Trung Quốc với Đông Nam Á

Vùng Vịnh Bắc Bộ đã được Chính phủ Trung Quốc rất chú ý Trung Quốc cho rằng Vịnh Bắc Bộ có địa thế quan trọng của toàn khu vực Tây Thái Bình Dương; cần tận dụng ảnh hưởng của các trung tâm phát triển như Tam giác phát triển Chu Giang, Đài Loan, Singapore , khai thác thế mạnh hợp tác của không gian biển để mở rộng hợp tác toàn diện Trung Quốc - ASEAN và vươn tới tầm hợp tác của cả khu vực Châu Á - Thái Bình Dương Vì vậy từ lâu Trung Quốc đã rất chú trọng phát triển vùng duyên hải Vịnh Bắc Bộ Ngay từ năm 1984, thành phố Bắc Hải và cảng Phòng Thành được Quốc

vụ viện Trung Quốc phê chuẩn là các thành phố mở cửa ven biển; đến năm

1988, quy định tương tự cũng đã được phê chuẩn cho các thành phố Khâm Châu, Quế Lâm và các huyện Hợp Phố, Tương Ngô của Phòng Thành Tháng 6/1992, thành phố Nam Ninh, thủ phủ của tỉnh Quảng Tây cũng được hưởng quy chế thành phố mở cửa ven biển; các thị trấn Đông Hưng, Bằng Tường đối diện với Việt Nam cũng trở thành thị trấn mở cửa ven biển

Bước sang thế kỷ mới, mặc dù tình hình thế giới, nhất là ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương có những diễn biến phức tạp, khó lường, nhưng Hữu nghị - Hợp tác - Phát triển vẫn là xu thế chính của mối quan hệ giữa các nước, trong đó: Phát triển là mục tiêu chung mà các nước cùng theo đuổi; hợp tác

Trang 18

du lịch và bảo vệ môi trường; (3) đào tạo nguồn nhân lực, giáo dục, y tế, phòng chống bệnh dịch

Về hợp tác xuyên quốc gia, trọng tâm là thiết kế và xây dựng mạng lưới hạ tầng khu vực bao gồm:

- Cảng biển: Xây dựng Ủy ban hợp tác cảng biển Vịnh Bắc Bộ, thông qua xây dựng mạng thông tin và hệ thống hợp tác cảng vụ để phát triển mạng cảng biển Vịnh Bắc Bộ

- Đường sắt: xây dựng hệ thống đường sắt Nam Ninh - Singapore, kết nối Hà Nội, TP Hồ Chí Minh, Phnompenh, Bangkok và Kuala Lumpur

- Đường bộ: xây dựng hệ thống đường cao tốc Nam Ninh - Singapore, kết nối Hà Nội, Viêng Chăn, Bangkok và Kuala Lumpur

- Đường không: mở cửa thị trường hàng không, tăng tuyến bay giữa các thành phố trong khu vực

Đến tháng 7/2012, Trung Quốc cụ thể hóa các lĩnh vực hợp tác bao gồm 7 chương trình cụ thể:

1 Chương trình hợp tác cảng biển và Logistic;

2 Chương trình hợp tác phát triển cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ;

3 Chương trình hợp tác nông nghiệp;

4 Chương trình thúc đẩy thương mại;

5 Chương trình thúc đẩy đầu tư;

Trang 19

17

6 Chương trình thúc đẩy tham gia của doanh nghiệp tư nhân vào hợp tác kinh tế VBBMR;

7 Chương trình xây dựng các cơ sở hợp tác kinh tế và thương mại VBBMR [2]

1.3 Bối cảnh và quan hệ hợp tác giữa các nước trong khu vực

1.3.1 Bối cảnh chung

Hơn mười năm qua, mặc dù tình hình thế giới có những diễn biến phức tạp, song xu thế liên kết kinh tế khu vực, toàn cầu hóa vẫn diễn ra mạnh mẽ Trung Quốc và các nước thuộc khu vực Đông Nam Á về cơ bản vẫn duy trì được sự ổn định và phát triển; các quan hệ hợp tác song phương và đa phương trong khu vực phát triển mạnh và ngày càng mở rộng

Từ năm 2002, tức sau một năm gia nhập WTO, Trung Quốc rất tích cực đẩy mạnh hợp tác kinh tế khu vực, đặc biệt với Việt Nam và các nước ASEAN Kết hợp với chính sách lớn về khai thác, phát triển miền Tây, Trung Quốc nỗ lực đầu tư, phát triển kinh tế Quảng Tây, nhằm hình thành “cực tăng trưởng mới”, biến Quảng Tây thành trung tâm kinh tế quan trọng, tạo cơ sở thúc đẩy hợp tác giữa Trung Quốc và ASEAN Việc Quảng Tây trở thành

“cực tăng trưởng mới” còn tạo tác động lan tỏa sang các tỉnh phía Tây khác Hợp tác kinh tế VBBMR được hình thành nằm trong bối cảnh này

Ý tưởng hợp tác kinh tế VBBMR còn được đưa ra trong bối cảnh hợp tác kinh tế Trung Quốc – ASEAN đã đi vào chiều sâu Kim ngạch đầu tư, thương mại song phương liên tục tăng mạnh Hai bên đã hoàn tất đàm phán Hiệp định đầu tư song phương (đã ký năm 2008) và đưa Hiệp định tự do thương mại song phương (CAFTA) chính thức đi vào hoạt động kể từ năm 2010…Trung Quốc cho rằng, khu vực VBB được liên kết bởi đường biển sẽ trở thành một cực tăng trưởng mới giúp mở rộng mối quan hệ hợp tác chiến lược Trung Quốc – ASEAN

1.3.2 Quan hệ Trung Quốc – ASEAN

Trung Quốc và các nước ASEAN là láng giềng gần gũi của nhau ,

có lịch sử giao lưu lâu đời Cùng với sự lớn mạnh của ASEAN và sự phát

Trang 20

18

triển nhanh chóng của Trung Quốc, quan hệ Trung Quốc - ASEAN đã phát triển mạnh trong những năm vừa qua, với các dấu mốc quan trọng như:

Về quan hệ chính trị, đối ngoại

- Từ năm 1991, Trung Quốc và ASEN bắt đầu xây dựng quan hệ đối thoại đến, đến năm 1997, hai bên đã ký kết Tuyên bố chung Trung Quốc - ASEAN hướng tới thế kỷ 21 (năm 1997), trong đó nêu những nguyên tắc chỉ đạo và hướng phát triển toàn diện, lâu dài trong quan hệ song phương Cùng với các cam kết chính trị, Trung Quốc và ASEAN cũng đã nỗ lực tìm kiếm các biện pháp, cơ chế hợp tác bảo đảm an ninh khu vực, nhất là giải quyết hoà bình các tranh chấp ở Biển Đông

- Cuối năm 2002 Trung Quốc và ASEAN đã xây dựng quan hệ đối tác

chiến lược, hợp tác toàn diện cùng hướng tới hoà bình và phồn vinh (Hiệp định

khung về Hợp tác kinh tế toàn diện Trung Quốc - ASEAN đã được Lãnh đạo cấp cao Trung Quốc và 10 quốc gia ASEAN ký kết ngày 04/11/2002) Hiệp định này đã

tạo công cụ pháp lý để thúc đẩy quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư giữa ASEAN

và Trung Quốc, đồng thời là nền tảng để thiết lập CAFTA vào năm 2010

- Một dấu ấn quan trọng nữa là năm 2003, hai bên đã ký Tuyên bố chung về quan hệ đối tác chiến lược Theo đó, nâng cấp quan hệ từ đối thoại chiến lược sang đối tác chiến lược với phương châm hợp tác toàn diện, mở cửa, trong đó tập trung vào các lĩnh vực: chính trị, kinh tế, xã hội, an ninh, hợp tác khu vực và quốc tế Tiếp đó, tại Hội nghị cấp cao ASEAN - Trung Quốc họp tại Viêng Chăn, tháng 11/2004, hai bên đã thông qua Chương trình hành động với các biện pháp chủ yếu nhằm thực hiện Tuyên bố chung về quan hệ đối tác chuyến lược

- Từ năm 2005 đến nay, tại các kỳ họp cấp cao Trung Quốc - ASEAN, lãnh đạo các bên tiếp tục khẳng định và đề xuất các biện pháp tăng cường hợp tác, xây dựng quan hệ đối tác chiến lược theo tinh thần của Tuyên bố chung

về quan hệ đối tác chiến lược ASEAN - Trung Quốc

Trang 21

19

Về hợp tác kinh tế

- Cùng với việc tăng cường quan hệ chính trị song phương, hai bên cũng đã tích cực xây dựng các khuôn khổ hợp tác kinh tế Trên cơ sở Hiệp định khung về Hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN - Trung Quốc, hai bên đã ký một loạt các Hiệp định quan trọng như: Hiệp định Thương mại hàng hóa và Hiệp định về cơ chế giải quyết tranh chấp (tháng 11/2004), Hiệp định Thương mại dịch vụ (1/2007), Hiệp định Đầu tư (8/2009), hoàn tất và thực hiện CAFTA Việc thực hiện CAFTA từ tháng 1/2010 có ý nghĩa rất lớn Với Trung Quốc, ASEAN rộng lớn có hơn 600 triệu dân nằm ngay sát Trung Quốc là thị trường thuận lợi để tiêu thụ hàng hoá của Trung Quốc, đồng thời là địa bàn đầu tư và cung cấp nguyên liệu lý tưởng cho các nhà sản xuất nước này Còn với ASEAN, việc thắt chặt quan hệ với Trung Quốc cũng giúp mỗi thành viên ASEAN tìm được cơ hội phát triển kinh tế của đất nước mình

- Kim ngạch thương mại giữa Trung Quốc và ASEAN đã tăng nhanh trong thập kỷ qua Trung Quốc đã trở thành đối tác thương mại lớn nhất của ASEAN vào năm 2009 Năm 2011, kim ngạch thương mại hai chiều giữa ASEAN và Trung Quốc tăng 20,9% so với năm 2010 Vào năm 2011, ASEAN trở thành đối tác thương mại lớn thứ ba của Trung Quốc và lần đầu tiên ASEAN xuất siêu sang Trung Quốc với tổng giá trị 11 tỷ USD Cũng trong năm này, đầu tư trực tiếp nước ngoài từ Trung Quốc vào ASEAN đã tăng một cách ấn tượng (hơn 100%) so với năm trước đó Tổng kim ngạch

đầu tư 2 chiều năm 2010 đã đạt 738 tỷ USD (vốn FDI từ ASEAN vào Trung

Quốc là 630 tỷ USD và từ Trung Quốc ra các nước ASEAN là 108 tỷ USD) và năm 2012, chỉ tính đến tháng 7, kim ngạch đầu tư song phương đã

đạt gần 100 tỷ USD Lượng khách du lịch giữa ASEAN và Trung Quốc năm

2010 đạt hơn 9 triệu người Ngoài ra, ASEAN và Trung Quốc còn tích cực thúc đẩy hợp tác trên nhiều lĩnh vực khác như hợp tác phát triển nông nghiệp, công nghệ thông tin, xây dựng cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải, phát triển nguồn nhân lực, văn hóa - xã hội, y tế cộng đồng, giao lưu nhân dân… Hai

Trang 22

Nguồn: Báo cáo nghiên cứu khả thi Hợp tác kinh tế VBBMR

bên cũng đã ký các biên bản ghi nhớ (MOU) và xây dựng các chương trình, chiến lược hợp tác trong từng lĩnh vực cụ thể

Bảng 1: Giá trị thương mại giữa Trung Quốc và ASAEN năm 2010

quyền quốc gia trên biển Việc Trung Quốc tuyên bố về “đường lưỡi bò” của nước này trên Biển Đông (chiếm gần 80% diện tích Biển Đông), đồng thời

tăng cường các hoạt động thăm dò, khai thác tài nguyên ở các khu vực ngoài

Trang 23

21

vùng biển chủ quyền của mình, cùng với những diễn biến phức tạp của các tội

phạm trên biển… đang làm gia tăng sự bất ổn định trong khu vực

1.3.3 Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc

Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng có nhiều nét tương đồng và có lịch sử quan hệ hữu nghị lâu đời Ngay sau khi nước CHND Trung Hoa ra đời, ngày 18/01/1950 hai nước đã chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao Trải qua những thăng trầm, bước sang thập kỷ 90 mối quan hệ Việt Nam

- Trung Quốc đã được khôi phục Việt Nam và Trung Quốc ký Thông cáo chung về việc chính thức bình thường hoá quan hệ hai nước (ngày 10/11/1991) Kể từ đây mối quan hệ hợp tác Việt Nam - Trung Quốc chuyển sang thời kỳ phát triển mới

Từ năm 1991 đến nay quan hệ Việt - Trung đã phát triển mạnh mẽ trên nhiều mặt, với nhiều dấu mốc quan trọng Hai nước đã ký kết khoảng 50 Hiệp định và gần 30 văn kiện khác ở cấp Nhà nước, đặt cơ sở pháp lý cho quan hệ hợp tác lâu dài Các cuộc gặp gỡ giữa lãnh đạo cấp cao hai nước được duy trì khá đều đặn Năm 1999, Lãnh đạo Đảng cấp cao hai nước xác định phương

châm hợp tác 16 chữ: "Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu

dài, hướng tới tương lai" Năm 2002, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung

Quốc Giang Trạch Dân đề xuất xây dựng mối quan hệ hai nước theo tinh thần

"4 tốt" là "Láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt" và đã được

lãnh đạo Việt Nam hưởng ứng tích cực Tháng 11/2006 Chính phủ hai nước

ký kết Hiệp định về phát triển sâu rộng quan hệ hợp tác kinh tế, thương mại song phương Việt Nam - Trung Quốc và Bản ghi nhớ về việc triển khai hợp

tác Hai hành lang, một vành đai kinh tế Việt - Trung (gồm Hành lang kinh tế

Côn Minh - Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng; Hành lang kinh tế Nam Ninh - Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh và Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ) Năm 2008, Lãnh đạo cấp cao hai Đảng Cộng sản Trung Quốc

và Việt Nam nhất trí xây dựng quan hệ “Đối tác hợp tác chiến lược toàn

Trang 24

22

diện”, mở ra kỷ nguyên mới cho quan hệ Việt - Trung Ngày 11/10/2011

Chính phủ hai nước đã ký kết Quy hoạch phát triển 5 năm hợp tác kinh tế, thương mại Việt - Trung, tạo cơ sở để thúc đẩy quan hệ hợp tác hữu nghị hai nước phát triển toàn diện trong thời gian tới [46]

* Về hợp tác thương mại: Thời gian qua quan hệ hợp tác thương mại

giữa Việt Nam với Trung Quốc phát triển mạnh mẽ Theo thống kê, kim ngạch mậu dịch song phương giữa Việt Nam và Trung Quốc năm 2000 mới đạt gần 2,5 tỷ USD, đến năm 2010 kim ngạch mậu dịch song phương giữa hai

nước (chưa kể đặc khu hành chính Hồng Kông) đạt 27,33 tỷ USD (Việt Nam:

7,31 tỷ USD; Trung Quốc: 20,02 tỷ USD); tăng 24,5 %/năm bình quân thời kỳ

2006 - 2010 Tổng kim ngạch hai chiều năm 2011 đạt 35,7 tỷ USD, tăng 30,7% so với năm 2010 trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt 11,1 tỷ USD, tăng 52,2% và nhập khẩu đạt 24,6 tỷ USD, tăng 22,8%

Tám tháng đầu năm 2012, kim ngạch thương mại song phương đã đạt

27 tỷ USD Trong chuyến thăm Việt Nam tháng 12/2011, Phó Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình đề nghị hai bên thúc đẩy hợp tác, xác định mục tiêu thương mại hai chiều đạt 60 tỉ USD vào năm 2015 Hiện nay Trung Quốc đang là một trong số 10 nước bạn hàng lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch xuất nhập khẩu chiếm hơn 16,8% tổng kim ngạch ngoại thương của Việt

Nam (xuất khẩu chiếm 10,12%; nhập khẩu chiếm 23,61%)

Bảng 2: Trao đổi ngoại thương giữa Việt Nam với Trung Quốc

Trang 25

23

* Về hợp tác đầu tư: Từ năm 2000 đến nay, đầu tư trực tiếp của Trung

Quốc tại Việt Nam có những chuyển biến rõ rệt, tăng nhanh cả về số lượng, quy mô và địa bàn đầu tư Tính đến đầu năm 2012, Trung Quốc có 842 dự

án đầu tư trực tiếp vào Việt Nam với tổng vốn đăng ký trên 4,3 tỷ USD, đứng thứ 14 trong tổng số 96 quốc gia, vùng lãnh thổ có đầu tư trực tiếp vào Việt Nam Trong khi đó, Việt Nam mới có 10 dự án đầu tư sang Trung Quốc với tổng vốn đăng ký là 13 triệu USD chủ yếu tập trung trong lĩnh vực dịch vụ

* Hợp tác về du lịch: Hai bên đã tích cực tham gia Chương trình hợp tác

phát triển du lịch trong khuôn khổ hai hành lang, một vành đai kinh tế Các công ty du lịch lữ hành của hai nước, nhất là của Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh với Quảng Tây (Trung Quốc) và gần đây với tỉnh Hải Nam đã phối hợp khá chặt chẽ nên lượng khách du lịch ngày càng tăng Năm 2005 số khách du lịch Trung Quốc vào Việt Nam đạt 717.400 lượt người và năm 2010 đạt 905.400 lượt người, chiếm 17,9% số khách quốc tế đến Việt Nam Năm 2011, số du khách Trung Quốc đến Việt Nam đã vượt mốc 100 nghìn lượt người và theo Tổng cụ Thống kê, trong 9 tháng đầu năm 2012, Trung Quốc vẫn là quốc gia dẫn đầu về lượng khách đến Việt Nam với 992 nghìn lượt người, tăng 1,3% so với cùng kỳ năm 2011

* Hợp tác trong các lĩnh vực khác: Hợp tác trong các lĩnh vực khác như

nông nghiệp, thủy sản, điều tra cơ bản, khoa học công nghệ, y tế, giáo dục đào tạo… giữa các địa phương thuộc khu vực Vịnh Bắc Bộ mở rộng cũng luôn được củng cố và phát triển

1.3.4 Quan hệ Việt Nam - ASEAN

Ngày 28/7/1995 Việt Nam mới chính thức gia nhập Hiệp hội các nước Đông Nam Á (ASEAN) Từ đó đến nay, Việt Nam đã nhanh chóng hội nhập

và khẳng định được vị trí, vai trò của mình trong tổ chức này Với những nỗ lực trong việc tham gia vào Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) và từng bước tiến nhanh, hội nhập vào Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN; Việt Nam đã góp

Trang 26

24

phần mở rộng và phát triển số thành viên ASEAN từ 7 nước lên 10 nước, tăng cường các quan hệ kinh tế thương mại, đầu tư và giao lưu phát triển văn hoá, thể thao với các nước ASEAN khác Việt Nam còn có nhiều nỗ lực góp phần tăng cường sự đoàn kết hợp tác giữa các nước ASEAN+3 (Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc) cũng như với Nga, Mỹ, Australia và một số tổ chức liên kết khu vực khác Đồng thời, đã đăng cai tổ chức thành công nhiều sự kiện lớn của ASEAN Năm 2010, với tư cách là Chủ tịch ASEAN Việt Nam

đã đưa ra những sáng kiến quan trọng nhằm thúc đẩy hợp tác ASEAN ngày càng đi vào thực chất và hiệu quả hơn, tiến tới xây dựng Cộng đồng ASEAN Ngoài việc nỗ lực trong các hoạt động chung, Việt Nam cũng luôn chú ý tăng cường hơn nữa các mối quan hệ hợp tác trong mọi lĩnh vực với các nước thành viên khác của ASEAN, trong đó sôi động nhất là lĩnh vực kinh tế Các chuyến thăn hữu nghị của Lãnh đạo cấp cao Việt Nam và các nước thành viên ASEAN được duy trì thường xuyên; hàng chục các hiệp định, các văn kiện hợp tác song phương giữa Việt Nam với mỗi nước được ký kết tạo nền tảng vững chắc cho việc thúc đẩy hợp tác toàn diện với các nước trong khu vực [10, tr.278-287]

* Về hợp tác thương mại:

Trong 10 năm qua, trao đổi thương mại giữa Việt Nam và ASEAN ngày càng tăng Thống kê của Hải quan những năm gần đây cho thấy các nước thành viên ASEAN luôn là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam với trị giá hàng hóa buôn bán hai chiều đạt mức tăng trưởng 13,5 %/năm giai đoạn 2006 - 2010 Nếu năm 2005, tổng kim ngạch hàng hóa trao đổi giữa Việt Nam và ASEAN chỉ đạt 14,91 tỷ USD thì năm 2010, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và ASAN đã đạt 24,5 tỷ USD ASEAN là thị trường xuất khẩu lớn thứ 3 của các doanh nghiệp Việt Nam, chỉ sau Hoa Kỳ và EU Còn về nhập khẩu thì ASEAN là đối tác thương mại lớn thứ 2 của Việt Nam, chỉ đứng sau Trung Quốc

Trang 27

25

Bảng 3: Quan hệ hợp tác thương mại giữa Việt Nam với các nước

ASEAN tham gia hợp tác kinh tế VBBMR

Đơn vị: Triệu USD

Nguồn: Niên giám thống kê từ năm 2005 đến 2010

* Về hợp tác đầu tư: Tính đến tháng 12/2010 các nước ASEAN đã đầu

tư vào Việt Nam 1.712 dự án với tổng số vốn đăng ký 51,5 tỷ USD, chiếm 13,7% số dự án và 26,5% tổng vốn FDI của Việt Nam; trong đó có 1.463 dự

án của các nước thuộc khu vực Vịnh Bắc Bộ mở rộng (Philippines, Indonesia,

Malaysia, Singapore, Brunei) với tổng số vốn đăng ký 45,53 tỷ USD, chiếm

11,7% số dự án và 23,4% tổng nguồn vốn FDI của Việt Nam

* Các lĩnh vực khác: Ngoài hợp tác thương mại và đầu tư, Việt Nam và

các nước thành viên ASEAN đang tích cực thực hiện các Hiệp định hợp tác trong nhiều lĩnh vực như: du lịch, công nghiệp, nông nghiệp và thủy sản, xây dựng hạ tầng, vận chuyển hàng hải, hàng không, thuế quan, an ninh quốc phòng, khoa học kỹ thuật, y tế, giáo dục đào tạo, bảo vệ môi trường… và đạt được nhiều thành tựu nổi bật

1.4 Nhận định về cơ sở và triển vọng hợp tác

- Các điều kiện tự nhiên về địa lý, diện tích, dân số…nêu trên đã tạo cơ

sở quan trọng cho việc triển khai thành công hợp tác kinh tế VBBMR Trong

Trang 28

26

đó, quy mô dân số và quy mô lớn của nền kinh tế khu vực sẽ mở ra không gian hợp tác rộng lớn; đồng thời tăng sức hấp dẫn đầu tư, thương mại cho khu vực này Chiều dài bờ biển trên lãnh thổ Trung Quốc, Việt Nam và khả năng phát triển các cảng nước sâu tạo cơ hội thúc đẩu liên kết và hướng ngoại cho các nền kinh tế Bên cạnh đó, sự gần gũi về địa lý giữa Trung Quốc, Việt Nam và các nước ASEAN sẽ tạo thuận lợi lớn để thúc đẩy kết nối giao thông

và kinh tế khu vực

- Sự khác biệt về tài nguyên và cấu trúc công nghiệp giữa Trung Quốc

và các nước ASEAN cũng sẽ mang lại lợi thể bổ sung, tạo ra “khoảng trống thị trường”, để thúc đẩy hợp tác giữa hai bên Các nước ASEAN có lợi thế về tài nguyên rừng, khoáng sản, nhiên liệu hóa thạch, nông nghiệp nhiệt đới với các sản phẩm cao su, dầu cọ…Trong khi Trung Quốc cần các nguyên liệu của ASEAN và nước này có thế mạnh về tài nguyên nước và sinh học, đất hiếm, các ngành điện tử , máy nông nghiệp, dệt may…

- Bối cảnh tình hình quốc tế, tình hình quan hệ hợp tác giữa Trung Quốc

và các nước ASEAN nêu trên về cơ bản là thuận lợi cho việc triển khai ý tưởng hợp tác kinh tế VBBMR thành hiện thực Việc quan hệ Trung Quốc – Việt Nam; Trung Quốc – ASEAN phát triển mạnh mẽ trong khoảng một thập

kỷ vừa qua cũng như việc các bên đã ký kết một loạt văn kiện hợp tác song phương quan trọng, đã tạo ra cơ sở pháp lý và một môi trường hòa bình, hữu nghị, bảo đảm hợp tác kinh tế VBBMR có thể thành công, mang lại lợi ích

kinh tế và thịnh vượng chung cho toàn khu vực

- Ý tưởng hợp tác kinh tế VBBMR ra đời xuất phát từ nhu cầu của phía Trung Quốc, song về cơ bản, khuôn khổ hợp tác này cũng phù hợp với nhu cầu thúc đẩy hợp tác kinh tế với Trung Quốc của các nước ASEAN, nhất là trong bối cảnh cả ASEAN và Trung Quốc đều phải vật lộn với khủng hoảng kinh tế kể từ năm 2008 và cần tăng cường thúc đẩy hợp tác kinh tế khu vực Khuôn khổ hợp tác này cũng đã được chính phủ Trung Quốc và các nước

Trang 29

cơ sở hạ tầng phụ trợ giữa các nước chưa đồng đều Sự khác biệt về hệ thống quản lý thuế, thủ tục hải quan cũng đang cản trở các hoạt động hợp tác thương mại, đầu tư giữa hai bên Ngoài ra, căng thẳng do tranh chấp lãnh thổ trên Biển Đông giữa Trung Quốc với một số nước ASEAN gần đây đang làm suy giảm lòng tin và cản trở tiến trình hợp tác kinh tế giữa Trung Quốc với ASEAN

Trang 30

28

Chương 2 THỰC TRẠNG HỢP TÁC KINH TẾ VBBMR VÀ CƠ HỘI,

THÁCH THỨC ĐỐI VỚI VIỆT NAM 2.1 Lộ trình và các chương trình hành động của Trung Quốc

2.1.1 Xây dựng Khu kinh tế Vịnh Bắc Bộ Quảng Tây

Quảng Tây là tỉnh ven biển Nam Trung Quốc thuộc vùng Vịnh Bắc Bộ, giáp với các tỉnh Quảng Ninh, Lạng Sơn, Cao Bằng của Việt Nam, có diện tích tự nhiên 236.700 km2, dân số khoảng 50 triệu người Hơn 10 năm trở lại đây, kinh tế của Quảng Tây phát triển nhanh chóng Năm 2010, GDP đạt gần

900 tỷ NDT, tăng bình quân 12,4 %/năm; GDP bình quân đầu người đạt 2.500 USD; Quảng Tây đứng đầu trong khu vực miền Tây Trung Quốc về ngoại thương, năm 2010 tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt hơn 18 tỷ USD Một trong những nhân tố quan trọng đóng góp vào tăng trưởng của Quảng Tây là kết quả hợp tác với ASEAN

Ngày 16/01/2008 Quốc vụ viện Trung Quốc đã phê chuẩn "Quy hoạch

phát triển Khu kinh tế Vịnh Bắc Bộ Quảng Tây", đưa Khu kinh tế này lên tầm

chiến lược quốc gia nhằm xây dựng khu vực này thành cơ sở trung chuyển hàng hoá, cơ sở mậu dịch, cơ sở chế tạo, trung tâm trao đổi thông tin chính trong hợp tác giữa Trung Quốc với ASEAN Phạm vi của Khu kinh tế này gồm thành phố Nam Ninh và 3 thành phố lớn ven biển là Phòng Thành, Khâm Châu và Bắc Hải với tổng diện tích 42.500 km2

(chiếm 17,9% diện tích tỉnh Quảng Tây), dân số 12,6 triệu người, trong đó dân số nội thành khoảng 4 triệu

người (dự kiến đến năm 2020 sẽ tăng lên 10 triệu người [42] Khu kinh tế

Vịnh Bắc Bộ Quảng Tây không chỉ có ưu thế về vị trí địa lý, là cửa ngõ tuyến đầu và đầu mối quan trọng thúc đẩy hợp tác toàn diện giữa Trung Quốc - ASEAN, mà còn có vị trí, vai trò chiến lược không thể thay thế trong hợp tác khu vực và quốc tế Vì vậy Chính phủ Trung Quốc coi Khu kinh tế Vịnh Bắc

Trang 31

29

Bộ Quảng Tây là một trong ba khu kinh tế hàng đầu, là "Khu hợp tác kinh tế

khu vực và quốc tế" quan trọng bậc nhất của Trung Quốc, có vai trò to lớn

trong chiến lược cải cách, mở cửa và trở thành khu vực hợp tác trọng điểm của Trung Quốc với các nước ASEAN

Theo đó, Trung Quốc đã và đang đẩy mạnh đầu tư phát triển khu vực này, tập trung vào xây dựng hệ thống cảng biển, đường cao tốc, các khu công nghiệp Dự kiến trong 5 năm tới triển khai 2.375 dự án, với tổng số vốn khoảng 300 tỷ USD Đến nay, Quảng Tây cũng đã được quy hoạch bài bản và đầu tư lớn để trở thành “đầu cầu” kết nối Trung Quốc với ASEAN, thông qua Hành lang kinh tế Nam Ninh - Singapore Cơ sở hạ tầng của Khu kinh tế Vịnh Bắc Bộ Quảng Tây đã được đầu tư xây dựng khá đồng bộ

Về cảng biển, Quảng Tây đã thông qua "Quy hoạch tổng thể cảng bi ển Vịnh Bắc Bộ Quảng Tây ", theo đó tại đây sẽ xây dựng 1.098 cầu cảng, trong

đó có 533 cầu cảng nước sâu và vừa với lượng hàng hóa thông qua năm 2010

đạt 100 triệu tấn; năm 2012 đạt 230 triệu tấn; năm 2020 là 300 triệu tấn và

năm 2030 sẽ đạt 500 triệu tấn Đến lúc đó, cụm cảng của Quảng Tây sẽ có thể phát huy vai trò khu vực nền tảng vận chuyển hàng hoá quốc tế và KKT Vịnh Bắc Bộ Quảng Tây sẽ thực sự là khu vực hạt nhân trong hợp tác khu vực VBBMR, trở thành tuyến đường chính nối liền Đại Tây Nam, thậm chí cả khu vực miền Tây Trung Quốc với ASEAN và thế giới Hiện nay tại khu kinh tế

đã có 3 cảng biển lớn là Phòng Thành, Khâm Châu và Bắc Hải với năng lực

thông qua hơn 100 triệu tấn/năm (Phòng Thành hơn 60 triệu tấn; Khâm

Châu: 30 triệu tấn, Bắc Hải hơn 15 triệu tấn), sức chứa container đạt 560.000

TEU, có thể tiếp nhận tàu trên 60.000 tấn, đã thực sự trở thành con đường chính ra biển của khu vực Đại Tây Nam Trung Quốc Năm 2008, khối lượng hàng hóa thông qua các cảng trên đã đạt 90,87 triệu tấn và năm 2009 đạt hơn

100 triệu tấn, vượt mục tiêu kế hoạch đề ra Để khai thác tổng hợp tài nguyên

Trang 32

30

cảng biển , ngày 14/2/2007 tỉnh Quảng Tây đã thành lâ ̣p Tâ ̣p đoàn cảng vu ̣ quốc tế Vi ̣nh Bắc Bô ̣ Quảng Tây Tâ ̣p đoàn này tổng hợp cổ phần quốc hữu của Công ty Cảng vụ Phòng Thành , Công ty Cảng biển Khâm Châu, Công ty Cảng biển Bắc Hải và Công ty Đường sắt ven biển Quảng Tây , thực hiê ̣n quy hoạch, xây dựng, kinh doanh và quản lý thống nhất đối với các cảng biển chủ yếu trong khu vực Vi ̣nh Bắc Bô ̣ Quảng Tây

Mạng lưới giao thông đường bộ tại Quảng Tây cũng được đầu tư phát

triển mạnh Đến nay, về cơ bản địa phương này đã xây dựng xong mạng lưới đường bộ trong toàn tỉnh với tổng chiều dài hơn 20.000 km, trong đó có hơn 7.000 km đường cao tốc nối Nam Ninh với các thành phố lớn trong và ngoài tỉnh kết nối với mạng đường cao tốc quốc gia Từ trung tâm là TP Nam Ninh, mạng lưới đường cao tốc đã kết nối liên thông với Bắc Kinh, Vân Nam, Quý Châu, cửa khẩu Hữu Nghị (giáp Việt Nam) và với mạng đường sắt trong cả nước Quảng Tây cũng đã xây dựng xong tuyến cao tốc dọc ven biển Vịnh Bắc Bộ dài hơn 500 km từ Phòng Thành - Khâm Châu - Bắc Hải đến bán đảo Lôi Châu Riêng đoạn từ Phòng Thành đến Đông Hưng (giáp Móng Cái) dài gần 50 km còn là đường cấp 1, sắp tới sẽ xây dựng thành cao tốc Đặc biệt, các tuyến đường sắt tốc độ cao 250 km/h từ Nam Ninh đến Quảng Châu, Nam Ninh đến Côn Minh cũng đang được xây dựng và theo kế hoạch có thể đưa vào sử dụng trong năm 2012 Khi đó, từ Nam Ninh đi Quảng Châu hoặc Côn Minh chỉ mất khoảng 3 giờ Cây cầu dài 50 km bắc qua biển Chu Hải - Hồng Kông - Ma Cao cũng đã được khởi công xây dựng; sau khi hoàn thành sẽ rút ngắn thời gian từ Hồng Kông đến Hữu Nghị Quan chỉ còn 8 giờ

Về công nghiệp, Trung Quốc đã quy hoạch Khu kinh tế VBB Quảng

Tây thành trung tâm công nghiệp với các ngành: nghiệp nặng, điện năng, lọc hóa dầu, hóa chất, sản xuất thép, kim loại mầu, cơ khí đóng tầu, sản xuất đường, giấy Trung Quốc đã di chuyển nhiều nhà máy công nghiệp nặng từ

Trang 33

31

ba tỉnh Đông Bắc và các tỉnh miến Trung, miền Đông về khu vực này Trong

Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm lần thứ 11 (2006 - 2010) vừa qua, Quảng Tây đã tập trung phát triển theo định hướng: xây dựng Nam Ninh thành trung tâm thương mại, chế tạo công nghệ cao; Bắc Hải là trung tâm công nghiệp chế biến nông sản, thuỷ hải sản; Khâm Châu phát triển ngành hoá dầu, chế tạo bột giấy; Phòng Thành là trung tâm trao đổi hàng hoá, phát triển ngành gang thép Mấy năm gần đây, mặc dù chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới nhưng Khu kinh tế Vịnh Bắc Bộ Quảng

Tây (gồm 4 Thành phố Nam Ninh, Phòng Thành, Khâm Châu, Bắc Hải) vẫn

phát triển rất nhanh, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân thời kỳ 2006 - 2010 đạt trên 15 %/năm, đã trở thành đầu tàu thúc đẩy kinh tế của Quảng Tây phát triển Tuy chỉ chiếm gần 1/5 diện tích và 1/4 dân số toàn tỉnh nhưng Khu kinh

tế này đã tạo ra hơn 1/3 tổng lượng kinh tế của tỉnh Năm 2010, GDP của Khu kinh tế đạt 295 tỷ NDT; kim ngạch xuất nhập khẩu đạt hơn 10 tỷ USD, chiếm 60% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của toàn Quảng Tây

Cơ cấu kinh tế của Khu kinh tế cũng chuyển dịch mạnh mẽ Năm 2000

cơ cấu giữa Nông nghiệp - Công nghiệp - Dịch vụ là 31,1% - 26,0% - 42,9%, đến năm 2010 là 13,5% - 38,7% - 46,8% Hiện nay Khu kinh tế Vịnh Bắc

Bộ Quảng Tây đang là trọng điểm thu hút đầu tư bên ngoài, đặc biệt là đầu tư nước ngoài Một số doanh nghiệp lớn trong số 500 doanh nghiệp hàng đầu thế giới đã đầu tư vào Khu kinh tế này với tổng số vốn đăng ký hơn 15 tỷ USD để xây dựng các công trình lớn như hoá dầu (16 triệu tấn/năm), điện lực (hơn 2.000 MW), sản xuất thép (10 triệu tấn/năm), sản xuất giấy (30 vạn tấn/năm) Trong đó: nhà máy lọc dầu Khâm Châu 10 triệu tấn/năm đã hoàn thành và bắt đầu đi vào hoạt động; nhà máy lọc dầu Sang San 6 triệu tấn/năm cũng sắp xây dựng xong Nhà máy nhiệt điện 1.400 MW đã đưa vào hoạt động 2 tổ máy từ năm 2008 và năm 2010 có thêm 2 tổ máy đi vào hoạt động;

Trang 34

32

nhà máy điện hạt nhân Khâm Châu cũng đã được khởi công xây dựng Hai Tập đoàn gang thép lớn của Trung Quốc là Vũ Hán, Liễu Châu đã đầu tư hơn 62,5 tỷ NDT vào Phòng Thành để phát triển sản xuất thép (dự kiến đến năm

2012 sản lượng đạt 20 triệu tấn, sau nâng lên 30 triệu tấn/năm); Tập đoàn tin học Fujikhang của Đài Loan cũng đang triển khai ở Bắc Hải với vốn đầu tư khoảng 4 tỷ USD [42, tr91-128]

2.1.2 Mở rộng sự tham gia của các địa phương khác

Cùng với việc tăng cường đầu tư phát triển để Quảng Tây trở thành

“cực tăng trưởng” mới và đi đầu trong hợp tác kinh tế VBBMR, chính phủ Trung Quốc gần đây đã tăng cường sự điều phối của trung ương, mở rộng thêm vai trò của các địa phương khác như Quảng Đông và Hải Nam, Vân Nam trong hợp tác kinh tế VBBMR Trong bản “Lộ trình hợp tác” đưa

ra tại Diễn đàn hợp tác kinh tế VBBMR lần thứ 7, năm 2012, Trung Quốc còn kiến nghị về lâu dài thêm Hồng Kông, Ma Cao, Đài Loan tham gia vào khuôn khổ hợp tác này

Tại các Diễn đàn hợp tác kinh tế VBBMR tổ chức thường niên ở Nam Ninh trong mấy năm gần đây, các địa phương Quảng Đông, Hải Nam, Vân Nam…đều đã chủ động và tích cực tham gia hơn Riêng Quảng Đông

có Thành phố cảng Khâm Châu nằm bên bờ phía Đông bán đảo Lôi

Châu (liên quan trực tiếp với khu vực Vịnh Bắc Bộ), là một cảng biển lớn của

Quảng Đông (quy mô hơn 100 triệu tấn/năm), đồng thời là cửa mở gần nhất của tỉnh Quảng Đông để mở ra Vịnh Bắc Bộ giao thương với các nước ASEAN và các khu vực Trung Cận Đông, châu Âu, châu Mỹ Vì vậy Khâm Châu đóng vai trò hết sức quan trọng đối với tỉnh Quảng Đông trong việc tham gia vào Hợp tác kinh tế VBBMR nói riêng và hợp tác kinh tế Trung Quốc - ASEAN nói chung

Trang 35

như du lịch, nông nghiệp sinh thái (cung cấp rau, quả cho Trung Quốc đại

lục), sản xuất ô tô, lọc hóa dầu, năng lượng, khai thác, nuôi trồng và chế biến

hải sản, vận tải biển…Đặc biệt Hải Nam có ưu thế nổi bật về du lịch nên ngành du lịch phát triển rất mạnh, đã và đang trở thành Trung tâm du lịch nghỉ dưỡng lớn của Trung Quốc cũng như của khu vực và thế giới

Hải Nam có tiềm năng, lợi thế lớn để tham gia hợp tác kinh

tế VBBMR nói riêng và với ASEAN nói chung Vì vậy, từ chỗ không mấy quan tâm đến hợp tác kinh tế VBBMR, hiện nay tỉnh Hải Nam ngày càng tích cực tham gia vào khuôn khổ hợp tác này Và, chính quyền trung ương Trung Quốc cũng đang gia tăng đầu tư phát triển, tạo cơ sở vũng mạnh để Hải Nam đẩy mạnh hợp tác kinh tế quốc tế Ngày 31/12/2009, Chính phủ Trung Quốc

đã chính thức ban hành “Ý kiến của Quốc vụ viện về thúc đẩy và phát triển

đảo du lịch quốc tế Hải Nam” Theo đó, hướng tới mục tiêu xây dựng Hải

Nam trở thành đảo du lịch lớn và hiện đại, đạt trình độ cao của du lịch quốc tế sau 5 năm tới Hạt nhân của chiến lược này là đầu tư phát triển du lịch, nhất là

du lịch nghỉ dưỡng và Hội nghị quốc tế, từ đó thúc đẩy phát triển các ngành dịch vụ khác; lấy du lịch làm đầu tàu lôi kéo sự phát triển kinh tế - xã hội của Hải Nam Đây cũng được coi là bước đột phá trong chuyển đổi mô hình phát triển kinh tế của Hải Nam trong thập kỷ tới Về kết cấu hạ tầng, từ năm 1991 đến nay, mỗi năm Chính phủ Trung Quốc đầu tư cho Hải Nam khoảng 2 tỷ

Trang 36

34

USD (từ năm 2008 bổ sung thêm mỗi năm 1 tỷ USD) để xây dựng, nâng cấp cơ sở

hạ tầng Nhờ vậy, cơ sở hạ tầng của Hải Nam đã từng bước được hoàn thiện; hệ thống đường cao tốc quanh đảo đã cơ bản hoàn thành Tại Hải Nam đã xây dựng 2 sân bay quốc tế là Hải Khẩu và Tam Á và một số cảng biển lớn phục vụ vận tải và

du lịch Cuối năm 2010, tuyến đường sắt cao tốc Bắc - Nam đã được hoàn thành

và đưa vào sử dụng, rút ngắn thời gian đi từ Hải Khẩu đến Tam Á chỉ còn 1,5 - 2 giờ Ngoài ra, Trung Quốc còn dành nhiều chính sách ưu đãi về tài chính, về thuế

và cơ chế chính sách thông thoáng khác cho Hải Nam để thu hút mạnh đầu tư vào phát triển tại đảo này, nhất là phát triển du lịch

Để xây dựng Hải Nam thành đảo du lịch quốc tế, Trung Quốc cũng đã

tập trung thực hiện các nhóm chính sách ưu đãi như: Một là, tăng cường đầu

tư phát triển và hoàn thiện cơ sở hạ tầng Trong thời kỳ 2010-2015, mỗi năm chính phủ trung ương đầu tư thêm cho Hải Nam 1 tỷ USD để phát triển cơ sở

hạ tầng Hai là, thực hiện một số chính sách ưu đãi và mở cửa như: cho phép

du khách nước ngoài được xin cấp visa tại chỗ sau khi đã vào Hải Nam; thực

hiện chính sách “bầu trời mở”, cho phép máy bay nhiều nước được vào Hải

Nam, không cần đối đẳng; xây dựng các khu mua sắm miễn thuế dành cho khách du lịch nước ngoài và dần mở rộng đối tượng mua sắm miễn thuế với

cả khách Trung Quốc đại lục, mục tiêu là sau 5 năm nữa, đưa Hải Nam bước

đầu trở thành trung tâm thương mại tầm cỡ quốc tế Ba là, chú trọng xây dựng

và bảo đảm môi trường sinh thái trong lành, xây dựng Hải Nam thành “đặc khu môi trường sinh thái”, tạo cơ sở thuận lợi cho thu hút đầu tư phát triển du lịch, nhất là loại hình du lịch nghỉ dưỡng và hội nghị quốc tế…

2.1.3 Triển khai đồng bộ sáng kiến “một trục hai cánh” và đưa ra

Lộ trình cùng 7 chương trình hợp tác cụ thể

Cùng với việc thúc đẩy hợp tác trong nước, gần đây Trung Quốc ngày càng chủ động, tích cực triển khai đồng bộ sáng kiến “Một trục hai cánh”,

Trang 37

35

trong đó, trọng tâm là hợp tác kinh tế VBBMR Ở tầm khu vực, Trung Quốc cũng đã đề nghị đưa cơ chế này vào khuôn khổ hợp tác ASEAN – Trung Quốc Tại Hội nghị thượng đỉnh ASEAN-Trung Quốc lần thứ 14 ở Bali, Indonesia ngày 18/11/2011, Trung Quốc đã đề xuất cùng hợp tác triển khai xây dựng Lộ trình hợp tác kinh tế VBBMR Bên cạnh đó, Chính phủ Trung Quốc cũng tích cực thúc đẩy hợp tác song phương với từng nước ASEAN để

hỗ trợ kênh đa phương Quảng Tây đã ký kết Hiệp định hợp tác kinh tế thương mại và hợp tác chuyên môn với nhiều nước ASEAN như Việt Nam, Indonesia, Philippines, Malaysia, Singapore

Nhằm thúc đẩy hợp tác kinh tế VBBMR, Trung Quốc cũng đã chủ trì tổ chức 7 kỳ Diễn đàn hợp tác kinh tế VBBMR liên tiếp hằng năm,

từ năm 2006 đến nay Nội dung các kỳ diễn đàn, nhất là hai kỳ gần đây, đang ngày càng đi vào thảo luận các chương trình hợp tác cụ thể như: hợp tác cảng biển; hợp tác tài chính, ngân hàng; xây dựng Khu hợp tác kinh tế xuyên biên giới; kết nghĩa giữa các thành phố Trung Quốc- ASEAN…Đồng thời, Trung Quốc cũng đã thành lập Nhóm chuyên gia hợp tác kinh tế VBBMR; vận động các nước ASEAN và đã thông qua báo cáo nghiên cứu khả thi hợp tác kinh tế VBBMR …

Tại Diễn đàn hợp tác kinh tế VBBMR tháng 7/2012, Trung Quốc đã đề xuất bản “Lộ trình hợp tác kinh tế VBBMR” và “7 chương trình hợp tác trong khuôn khổ hợp tác kinh tế VBBMR” Theo đó, bản Lộ trình đã xác định mục tiêu, nguyên tắc, mô hình và quy định về hợp tác kinh tế VBBMR; các lĩnh vực hợp tác chủ đạo; thiết lập chính sách và hệ thống pháp lý, hệ thống

hỗ trợ tài chính, để thúc đẩy hợp tác kinh tế VBBMR Trong khi đó, “7 chương trình hợp tác” đã xác định rõ các lĩnh vực hợp tác cụ thể gồm: Chương trình hợp tác cảng biển và Logistic; Chương trình hợp tác xây dựng

cơ sở hạ tầng giao thông đường bộ theo Hành lang kinh tế Nam Ninh –

Trang 38

36

Singapore; Chương trình hợp tác nông nghiệp; Chương trình thúc đẩy thương mại; Chương trình thúc đẩy đầu tư; Chương trình thúc đẩy tham gia của doanh nghiệp tư nhân vào hợp tác kinh tế VBBMR; Chương trình xây dựng các cơ sở hợp tác kinh tế và thương mại VBBMR Trong từng chương trình, lĩnh vực hợp tác, Trung Quốc đã đánh giá khá kỹ thực trạng hợp tác; xác định

ý tưởng hợp tác chủ đạo và mục tiêu hợp tác; điều kiện hợp tác, nội dung hợp tác; cách thức tiến hành và đề xuất một số dự án hợp tác cụ thể…

2.2 Sự tham gia của Việt Nam

2.2.1 Quan điểm, chủ trương và một số chương trình hợp tác

Quan điểm và chủ trương hợp tác

Nhìn chung Việt Nam và các nước ASEAN đã khá bị động trước những đề xuất về hợp tác kinh tế VBBMR của Trung Quốc Tuy nhiên, quan điểm và thái độ của các nước ASEAN cũng đã dần định hình và rõ ràng hơn sau 7 lần tham gia Diễn đàn hợp tác VBBMR và các hoạt động liên quan do phía Trung Quốc tổ chức Riêng Việt Nam, do ưu thế địa chính trị, vừa là nước có chủ quyền Vịnh Bắc Bộ, vừa là cầu nối giữa miền Tây Nam Trung Quốc với các nước ASEAN khác, nên Việt Nam là đối tác có vai trò quan trọng trong Hành lang kinh tế Nam Ninh- Singapore cũng như hợp tác kinh tế VBBMR nói chung

Qua 7 lần tham gia Diễn đàn hợp tác VBBMR với sáng kiến hợp tác kinh tế VBBMR của Trung Quốc, đến nay, Việt Nam đã xác định cần tích cực chủ động tham gia khuôn khổ hợp tác kinh tế tiểu vùng này, thông qua đó thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội, bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia; đồng thời đóng góp vào sự phát triển, ổn định chung của khu vực Các bộ, ngành của Việt Nam đã xây dựng một số Đề án về việc tham gia vào sáng kiến “Một trục hai cánh” của Trung Quốc

Ngày đăng: 23/03/2015, 13:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12-Hồ Châu, Nguyễn Hoàng Giáp, Nguyễn Thị Quế (2006), Khu vực mậu dịch tự do ASEAN-Trung Quốc, quá trình hình thành và triển vọng, NXB Lý luận chính trị Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khu vực mậu dịch tự do ASEAN-Trung Quốc, quá trình hình thành và triển vọng
Tác giả: Hồ Châu, Nguyễn Hoàng Giáp, Nguyễn Thị Quế
Nhà XB: NXB Lý luận chính trị
Năm: 2006
13-Miêu Thụ Bân, Hạ Phong, Xu thế lớn đảo du lịch quốc tế Hải Nam, NXB Văn hiến và KHXH Trung Quốc, các trang 129-137 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xu thế lớn đảo du lịch quốc tế Hải Nam
Nhà XB: NXB Văn hiến và KHXH Trung Quốc
14-Ngô Doãn Vịnh (2011), Đầu tư và phát triển, NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đầu tư và phát triển
Tác giả: Ngô Doãn Vịnh
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2011
17-Nguyễn Thu Mỹ (2008), Một số vấn đề cơ bản về hợp tác ASEAN+3, NXB Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề cơ bản về hợp tác ASEAN+3
Tác giả: Nguyễn Thu Mỹ
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội
Năm: 2008
18-Lê Mạnh Hùng (2010; 2011), Các bài phát biểu tại Diễn đàn hợp tác kinh tế VBBMR, năm 2010; 2011 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Các bài phát biểu tại Diễn đàn hợp tác kinh tế VBBMR
19- Phạm Văn Linh chủ biên (2010), Chiến lược biển Việt Nam; NXB Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chiến lược biển Việt Nam
Tác giả: Phạm Văn Linh chủ biên
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
Năm: 2010
20-Quỹ Hòa bình và phát triển Việt Nam (2011), Việt Nam và Biển Đông, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam và Biển Đông
Tác giả: Quỹ Hòa bình và phát triển Việt Nam
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2011
21-Trần Đình Thiên (2005), Liên kết kinh tế ASEAN-Vấn đề và triển vọng; NXB Thế giới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Liên kết kinh tế ASEAN-Vấn đề và triển vọng
Tác giả: Trần Đình Thiên
Nhà XB: NXB Thế giới
Năm: 2005
22-Thời báo Kinh tế Việt Nam, Làm ăn ở Trung Quốc ngày càng khó, số 6/7/2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làm ăn ở Trung Quốc ngày càng khó
23-Thông tấn xã Việt Nam (ngày 30/5/2007), Về kế hoạch hợp tác kinh tế xuyên VBB giữa Trung Quốc và ASEAN, Tài liệu tham khảo đặc biệt, số 092-TTX Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về kế hoạch hợp tác kinh tế xuyên VBB giữa Trung Quốc và ASEAN
24-Thông tấn xã Việt Nam (29/2/2008), Trung Quốc thúc đẩy Khu kinh tế VBB tỉnh Quảng Tây, Tài liệu tham khảo đặc biệt, số 047-TTX Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trung Quốc thúc đẩy Khu kinh tế VBB tỉnh Quảng Tây
25-Thông tấn xã Việt Nam (ngày 23/4/2008), Hợp tác VBBMR, Tài liệu tham khảo đặc biệt số 122-TTX, tr1- tr5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hợp tác VBBMR
26-Viện Chiến lược phát triển Bộ Kế hoạch và Đầu tư (các năm 2007- 2011), Báo cáo về tình hình Diễn đàn hợp tác kinh tế VBBMR (Tài liệu lưu hành nội bộ) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo về tình hình Diễn đàn hợp tác kinh tế VBBMR
28-Vũ Thị Bạch Tuyết, PGS – TS Nguyễn Tiến Thuận (2009), Giáo trình kinh tế quốc tế; NXB Tài Chính.2.Tài liệu tiếng Trung Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế quốc tế
Tác giả: Vũ Thị Bạch Tuyết, PGS – TS Nguyễn Tiến Thuận
Nhà XB: NXB Tài Chính. 2.Tài liệu tiếng Trung
Năm: 2009
29- Quy hoạch phát triển Khu kinh tế VBB Quảng Tây (Tài liệu tiếng Trung lưu hành nội bộ, do Ngân hàng Phát triển TQ cung cấp tháng 3/2011) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch phát triển Khu kinh tế VBB Quảng Tây
30-Cổ Tiểu Tùng chủ biên (2010), Báo cáo hợp tác phát triển VBBMR, NXB Văn hiến KHXH Trung Quốc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo hợp tác phát triển VBBMR
Tác giả: Cổ Tiểu Tùng chủ biên
Nhà XB: NXB Văn hiến KHXH Trung Quốc
Năm: 2010
31-Dược Côn (2010), Hứa Ninh Ninh – mối duyên với ASEAN; NXB Đường sắt Trung Quốc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hứa Ninh Ninh – mối duyên với ASEAN
Tác giả: Dược Côn
Nhà XB: NXB Đường sắt Trung Quốc
Năm: 2010
32- Đỗ Bình (2011), Tiến vào Vịnh Bắc Bộ, NXB Văn hiến trung ương Trung Quốc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến vào Vịnh Bắc Bộ
Tác giả: Đỗ Bình
Nhà XB: NXB Văn hiến trung ương Trung Quốc
Năm: 2011
33-Hạ Phong (2010), Xu thế lớn Đảo du lịch quốc tế Hải Nam, NXB Kinh tế Trung Quốc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xu thế lớn Đảo du lịch quốc tế Hải Nam
Tác giả: Hạ Phong
Nhà XB: NXB Kinh tế Trung Quốc
Năm: 2010
34-Lã Dư Sinh chủ biên (2011), Báo cáo hợp tác phát triển VBBMR 2011, NXB Văn hiến KHXH Trung Quốc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo hợp tác phát triển VBBMR 2011
Tác giả: Lã Dư Sinh chủ biên
Nhà XB: NXB Văn hiến KHXH Trung Quốc
Năm: 2011

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Giá trị thương mại giữa Trung Quốc và ASAEN năm 2010  Đơn vị: 1.000 USD - Hợp tác kinh tế Vịnh Bắc Bộ mở rộng và một số vấn đề đặt ra với Việt Nam
Bảng 1 Giá trị thương mại giữa Trung Quốc và ASAEN năm 2010 Đơn vị: 1.000 USD (Trang 22)
Bảng  3:   Quan  hệ  hợp  tác  thương  mại  giữa  Việt  Nam  với  các  nước - Hợp tác kinh tế Vịnh Bắc Bộ mở rộng và một số vấn đề đặt ra với Việt Nam
ng 3: Quan hệ hợp tác thương mại giữa Việt Nam với các nước (Trang 27)
Bảng 1: Lƣợng thông quan tại các cảng chính trong khu vực vịnh Bắc bộ  mở rộng năm 2011 - Hợp tác kinh tế Vịnh Bắc Bộ mở rộng và một số vấn đề đặt ra với Việt Nam
Bảng 1 Lƣợng thông quan tại các cảng chính trong khu vực vịnh Bắc bộ mở rộng năm 2011 (Trang 75)
Bảng 2: Hiện trạng của các tuyến đường xuyên biên giới của các quốc gia  Asean - Hợp tác kinh tế Vịnh Bắc Bộ mở rộng và một số vấn đề đặt ra với Việt Nam
Bảng 2 Hiện trạng của các tuyến đường xuyên biên giới của các quốc gia Asean (Trang 76)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w