1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vấn đề đói nghèo trong quan hệ quốc tế hiện nay

133 1,3K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 133
Dung lượng 1,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Giảm tỷ lệ đói nghèo, trong khi dân số thế giới không ngừng tăng lên- với mức ước tính là khoảng 3 tỷ người trong vòng 50 năm tới là một thách thức to lớn [18]." Đói nghèo là kết quả của

Trang 1

Đại học quốc gia hà nội

Tr-ờng Đại học khoa học Xã hội và nhân văn

- Khúc Diệu Huyền

Vấn đề đói nghèo trong quan

hệ quốc tế hiện nay

Luận văn thạc sĩ ngành Quốc Tế học

Hà Nội -2008

Trang 2

Đại học quốc gia hà nội

Tr-ờng Đại học khoa học Xã hội và nhân văn

- Khúc Diệu Huyền

Vấn đề đói nghèo trong quan hệ

quốc tế hiện nay

Chuyên ngành: Quan hệ quốc tế

Mã số: 60.31.40

Luận văn thạc sĩ ngành Quốc Tế học

Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: TS Hoàng Khắc Nam

Hà Nội -2008

Trang 3

Mục lục

Phần mở đầu 6

Ch-ơng 1: Khái quát về vấn đề đói nghèo 10

1.1 Vài nét về đói nghèo 10

1.1.1 Khái niệm đói nghèo 10

1.1.2 Phân loại đói nghèo 12

1.1.3 Chuẩn đói nghèo 15

1.2 Nguyên nhân đói nghèo 17

1.2.1 Các nguyên nhân tự nhiên 18

1.2.2 Các nguyên nhân nhân tạo 21

Ch-ơng 2 Thực trạng Vấn đề đói nghèo và tác động của nó đối với quan hệ Quốc Tế 28

2.1 Tình hình đói nghèo hiện nay 28

2.1.1 Tình hình đói nghèo trên thế giới 28

2.1.2 Tình hình đói nghèo tại Việt Nam 36

2.2 Tác động của vấn đề đói nghèo đối với Quan hệ quốc tế 38

2.2.1 Trong lĩnh vực an ninh - chính trị 38

2.2.2 Trong lĩnh vực kinh tế 43

2.2.3 Trong lĩnh vực xã hội và các vấn đề toàn cầu khác 51

Ch-ơng 3: Hợp tác quốc tế trong việc khắc phục nạn

đói nghèo 54

3.1 Các nỗ lực của các tổ chức quốc tế trong việc khắc phục nạn đói nghèo 54

3.2 Hợp tác giữa các quốc gia trong việc khắc phục nạn đói nghèo 81

3.3 Hợp tác của Việt Nam trong việc khắc phục nạn đói nghèo 92

Kết luận 100

Tài liệu tham khảo 105

Trang 4

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Liên minh Châu Phi

CPRGS Comprehensive Poverty Reduction and Growth

Strategy

Chiến lược Toàn diện về Tăng trưởng và Xóa đói giảm nghèo

CFS Committee of Food Security

Uỷ ban An ninh Lương thực

Liên minh Châu Âu

FAO Food and Agriculture Organization

Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc

FDI Foreign Direct Investment

Đầu tư trực tiếp nước ngoài

Nhóm 8 nước phát triển

GDP Gross Domestic Products

Tổng sản lượng quốc nội

GNI Gross National Income

Tổng Thu nhập Quốc nội

GNP Gross National Products

Tổng Sản lượng Quốc dân

Trang 5

HDI Human Development Index

Chỉ số phát triển con người

IBRD International Bank of Reconstruction and Development

Ngân hàng tái thiết và phát triển quốc tế

IDA International Development Associations

Tổ chức phát triển quóc tế

ILO Internation Labour Organization

Tổ chức Lao động Quốc tế

IMF International Monetary Fund

Quỹ Tiền tệ Quốc tế

INGO International Non-governmental Organizations

MDG Millennium Development Goals

Các mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ

NGO Non - governmental Organizations

Tổ chức phi Chính phủ

SAARC South Asian Assciation for Regional Cooperation

Hiệp hội hợp tác khu vực Nam Á

Trang 6

SPFS Special Programme for Food Security

Chương trình đặc biệt về an ninh lương thực

TCP Technical Cooperation Program

Chương trình hợp tác kỹ thuật

Liên hợp quốc

UNCTAD United Nations Conference on Trade and Development

Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển

UNESCO United Nations Educational, Scientific and Cultural

Organization

Tổ chức Văn hoá, Khoa học và Giáo dục Liên hợp Quốc

UNICEF The United Nations Children’s Fund

Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc

UNDP United Nations Development Program

Chương trình phát triển Liên hợp quốc

UNHCR United Nation's High Commissioner for Refugees

Cao uỷ Liên hợp quốc về người tị nạn

Ngân hàng Thế giới

WHO World Health Organization

Tổ chức Y tế Thế giới

WTO World Trade Organization

Tổ chức Thương mại Thế giới

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Mục đích và ý nghĩa của đề tài

Chúng ta đang sống trong một thế giới mất cân bằng, vừa giàu lại vừa nghèo "Dân số thế giới hiện có khoảng 6,5 tỷ người, 1 tỷ người trong số đó chiếm 80% thu nhập trong khi đa số còn lại (hơn 5 tỷ người) lại chỉ chiếm khoản thu nhập nhỏ nhoi, ít hơn 20% [19]." Thu nhập trung bình trong 20 nước giàu nhất gấp 37 lần mức trung bình của 20 nước nghèo nhất, và khoảng cách này đã tăng gấp đôi trong 40 năm qua "Khoảng 2,8 tỷ người tức là hơn một nửa dân số các nước đang phát triển- có mức sống chưa tới 2 USD/ngày 1,2 tỷ người trong

số đó có thu nhập dưới 1 USD/ngày Giảm tỷ lệ đói nghèo, trong khi dân số thế giới không ngừng tăng lên- với mức ước tính là khoảng 3 tỷ người trong vòng 50 năm tới là một thách thức to lớn [18]."

Đói nghèo là kết quả của các quá trình kinh tế, chính trị và xã hội tương tác với nhau Đói nghèo hiện được coi là thách thức lớn nhất mà nhân loại phải đối mặt trong thế kỷ 21 Tuy nhiên, các cố gắng trong xoá đói giảm nghèo vẫn chưa được coi trọng như nhiều vấn đề chính trị và kinh tế khác

Nghiên cứu về vấn đề đói nghèo trong quan hệ quốc tế hiện nay có ý nghĩa quan trọng cả về mặt khoa học lẫn trên thực tiễn

- Về mặt khoa học:

+ Thứ nhất, đề tài này tổng hợp lại một cách hệ thống những tư liệu về vấn

đề đói nghèo, luận văn đã cố gắng bước đầu tìm hiểu về vấn đề đói nghèo trên thế giới cũng như những đóng góp của hợp tác quốc tế trong xoá đói giảm nghèo + Thứ hai: luận văn là sự kết hợp và áp dụng những kiến thức đa ngành trong nghiên cứu quốc tế học vào một lĩnh vực cụ thể là tìm hiểu và phân tích vấn đề

Trang 9

đói nghèo dưới góc độ quốc tế và từ đó nghiên cứu tác động của vấn đề toàn cầu này trong quan hệ quốc tế

Đây chính là ý nghĩa khoa học của đề tài

- Về mặt thực tiễn:

Nghiên cứu về vấn đề đói nghèo và tác động của đói nghèo trong quan hệ quốc tế, tác giả mong muốn đưa ra một cái nhìn khái quát về vấn đề đói nghèo, thực trạng đói nghèo, tác động và hợp tác quốc tế trong giải quyết vấn đề đói nghèo Nghiên cứu về vấn đề toàn cầu này và tác động của nó trong quan hệ quốc tế góp phần bổ sung một cách nhìn mới về đói nghèo dưới góc độ quốc tế,

từ đó phân tích, tìm hiểu các yếu tố mang tính quốc tế của vấn đề này, đồng thời chỉ ra những tồn tại cần phải khắc phục Đói nghèo là vấn đề hiện đang tác động đến Việt Nam, tìm hiểu đói nghèo và tác động trong quan hệ quốc tế nhằm giúp tìm hiểu sâu hơn về tác động của vấn đề đối với Việt Nam Qua đó để khắc phục, khai thác những yếu tố tích cực trong quan hệ quốc tế nhằm phục vụ cho công cuộc xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam

Xuất phát từ những lý do trên, tôi quyết định chọn “Vấn đề đói nghèo trong quan hệ quốc tế hiện nay” làm đề tài luận văn tốt nghiệp

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Vấn đề đói nghèo là một vấn đề rất quan trọng nhưng chưa được nhiều người nghiên cứu và phân tích sâu dưới góc độ quốc tế Chỉ có một số các ấn phẩm từ các tổ chức quốc tế như Ngân hàng thế giới, Liên hợp quốc, Tổ chức Nông lương Thế giới hoặc các tổ chức phi chính phủ khác nghiên cứu về vấn đề này Tuy nhiên, phần lớn các ấn phẩm này chủ yếu phân tích hiện tượng đói nghèo, các phương hướng giải quyết, các chương trình xoá đói giảm nghèo và thành tựu đạt được mà chưa xét tới góc độ phân tích quốc tế Trong khuôn khổ

Trang 10

bài luận văn, người viết mong muốn có được một cái nhìn khái quát về vấn đề đói nghèo trên thế giới hiện nay đồng thời thấy được tác động của nó trong quan

hệ quốc tế

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tình hình đói nghèo trên thế giới và tác động của đói nghèo đối với quan hệ quốc tế

Đói nghèo không phải là hiện tượng mới mà đã có từ lâu trong lịch sử Bên cạnh đó đói nghèo cũng không phải là hiện tượng của riêng vùng nào đó mà là hiện tượng có tính phổ biến trên toàn thế giới Trong phạm vi của một bản khoá luận khi nghiên cứu về vấn đề này, người viết không đi sâu vào phân tích từng khía cạnh riêng biệt của đói nghèo trên từng vùng cụ thể mà chỉ nêu một cách khái quát tình hình vấn đề đói nghèo trên thế giới hiện nay Đồng thời, cung cấp những kiến thức cơ bản nhất về vấn đề đói nghèo Bài viết chỉ bước đầu phân tích, nhận xét về vấn đề đói nghèo, tác động trong quan hệ quốc tế lý giải chúng dựa trên bối cảnh quan hệ quốc tế cụ thể Từ đó đưa ra một cách tiếp cận mới vấn đề này cũng như tác động của nó trong quan hệ quốc tế

4 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, phụ lục, bài viết được cấu trúc thành ba chương:

- Chương 1: Khái quát về vấn đề đói nghèo Chương 1 giới thiệu những

nội dung cơ bản về đói nghèo như khái niệm, phân loại và các quan điểm khác nhau về đói nghèo Đồng thời, chương 1 cũng đưa ra các nguyên nhân của tình trạng đói nghèo mà cụ thể ở đây được chia thành hai nhóm nguyên nhân lớn: các nguyên nhân tự nhiên và các nguyên nhân nhân tạo

Trang 11

- Chương 2: Thực trạng Vấn đề đói nghèo và tác động của nó đối với quan hệ quốc tế Chương 2 tập trung phân tích về thực trạng tình hình đói nghèo

trên thế giới thông qua một số phương diện như: lương thực, nước, chỗ ở, giáo dục, y tế, thu nhập, việc làm Qua đó đưa ra những nhận định về thực trạng tình hình đói nghèo Tình hình đói nghèo tại Việt Nam cũng được đề cập đến qua một

số thông số cơ bản để có thể so sánh với thực trạng chung trên thế giới Bên cạnh

đó chương 2 phân tích các tác động của vấn đề đói nghèo đối với quan hệ quốc

tế trên các lĩnh vực an ninh chính trị, kinh tế, xã hội và các vấn đề toàn cầu khác

- Chương 3: Hợp tác quốc tế trong việc khắc phục nạn đói nghèo Chương 3

tìm hiểu các nỗ lực của các tổ chức quốc tế như Liên hợp quốc, hệ thống các tổ chức Liên hợp quốc, Ngân hàng Thế giới và các tổ chức Phi Chính phủ trong việc khắc phục nạn đói nghèo Hợp tác giữa các quốc gia trong việc khắc phục nạn đói nghèo được xem xét trên hai bình diện hợp tác Bắc – Nam và hợp tác Nam – Nam để thấy được nỗ lực của cả nước giàu và nước nghèo trong cuộc chiến chống đói nghèo Phần cuối của chương 3 là một vài nét về tình hình hợp tác quốc tế của Việt Nam trong việc khắc phục nạn đói nghèo, những nỗ lực và kết quả mà Việt Nam đã đạt được trong thời gian qua Qua đó người đọc có thể thấy được các nỗ lực mang tính quốc gia và quốc tế trong cuộc chiến chống đói nghèo được nhìn nhận một cách khách quan dưới góc độ quốc tế

Bên cạnh đó, bài viết còn đưa ra các bản phụ lục, với tư cách như một nguồn tài liệu tra cứu, về các số liệu, chỉ số về đói nghèo và các biểu bảng số liệu

Trang 12

CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ VẤN ĐỀ ĐÓI NGHÈO

1.1 Vài nét về đói nghèo

1.1.1 Khái niệm "Đói nghèo"

Khái niệm đói nghèo (poverty) là một khái niệm khá rộng với nhiều cách định nghĩa khác nhau Đối với mỗi người, mỗi cách tiếp cận, đói nghèo lại được thể hiện các khía cạnh rất riêng của nó Trong luận văn này, đói nghèo được hiểu là một từ chứ không phải hai từ vì đói và nghèo liên quan chặt chẽ đến nhau "Đói" hiện nay là tình trạng cao nhất của đói nghèo và là tiêu điểm của sự quan tâm quốc tế; còn "nghèo" là trạng thái vật chất gắn chủ yếu với cá nhân và

là đối tượng khắc phục của quốc gia Đói là biểu hiện cao nhất của nghèo, và ngược lại nghèo cũng là nguyên nhân dẫn đến đói Thuật ngữ "đói nghèo" được

sử dụng trong bài chính nhằm phản ánh mối quan hệ qua lại giữa "đói" và

"nghèo" Đói nghèo ngày càng được coi là vấn đề toàn cầu bởi tính cách nhân đạo và hậu quả quốc tế của nó

Khái niệm đói nghèo được thể hiện một cách khá đầy đủ theo nghĩa rộng

Theo định nghĩa của Ngân hàng Thế giới, Đói nghèo là tình trạng vô cùng thiếu thốn - do không có đủ nguồn lực đáp ứng các nhu cầu cá nhân cơ bản Nghèo thường đi kèm với đói Tình trạng đói nghèo cũng đồng nghĩa với không

có chỗ ở, nước sạch Đói nghèo cũng làm cho người ốm không thể đi khám bác

sĩ, người mù chữ không được đến trường, tình trạng thiếu công nhân lành nghề

và thất nghiệp phổ biến Đói nghèo cũng đồng nghĩa với việc lo sợ về tương lai, sống ngày nào biết ngày đấy Nghèo đói làm cho mọi người cảm thấy không có

Trang 13

động đến những yếu tố ảnh hưởng đến cuộc sống của họ Đói nghèo là điều không ai muốn [8, tr.11]

Đói nghèo kìm hãm sự phát triển của cộng đồng, quốc gia, gây ra những tổn thất về kinh tế, ảnh hưởng đến vị thế chính trị của quốc gia trên trường quốc

tế Đói nghèo dẫn đến khoảng cách về trình độ phát triển giữa các nước, gây tác động ảnh hưởng đến sự phát triển chung của thế giới Đói nghèo dẫn đến sự bất bình đẳng trong các mối quan hệ giàu-nghèo, dẫn đến những ảnh hưởng mang tính tiêu cực thậm chí cực đoan về chính trị và an ninh Sự bất lực của nhà nước

và cộng đồng trong việc triển khai những cơ chế nhằm giảm bớt hoặc hạn chế tối đa những rủi ro mà người nghèo gặp phải cũng là nguyên nhân gây ra nguy

cơ dễ bị tổn thương của người nghèo Có thể nói, đói nghèo được hiểu là tình trạng mà con người muốn thoát khỏi, muốn vượt qua để được hưởng các điều kiện cơ bản của cuộc sống

Chúng ta đang sống trong một thế giới mất cân bằng, vừa giàu lại vừa nghèo Để dễ hình dung, theo một nghiên cứu toàn diện của Viện nghiên cứu Kinh tế phát triển thế giới có trụ sở tại Helsinki, Phần Lan so sánh: "Sự mất bình đẳng này tương tự trong một nhóm mười người, có một người chiếm đến 99% chiếc bánh và chín người khác chia nhau 1% còn lại." Bất bình đẳng trong thu nhập giữa các nước trên thế giới đã tăng mạnh trong 20- 25 năm qua, mặt khác việc phân phối thu nhập không đồng đều lại đang làm chênh lệch giàu nghèo ngay trong bản thân những nước đó trở thành một vấn đề xã hội lớn [43]"

Theo báo cáo của Tổ chức Nông lương Thế giới (FAO) trung bình một ngày có khoảng 25.000 người chết vì đói nghèo 850 triệu người trên thế giới được xếp vào diện đói ăn, số người này nhiều hơn số dân của Mỹ, Canada và Liên minh Châu Âu Chỉ ở các nước đang phát triển, con số người đói đã lên tới

815 triệu người, 1/3 trong số đố sống ở khu vực Châu Phi cận Sahara "Tính đến tháng 3 năm 2005 của FAO, trên thế giới có 36 nước đang đối mặt với nạn

Trang 14

nghèo đói trong đó có 23 quốc gia Châu Phi, bảy quốc gia Châu Á/ Cận Đông,

năm quốc gia Châu Mỹ La Tinh và một quốc gia Châu Âu [43]

Tình trạng nghèo đói cũng thúc giục mọi người hành động vì người nghèo, đòi hỏi thay đổi thế giới để ngày càng có nhiều người có cái ăn, chỗ ở, được chăm sóc y tế, tiếp cận giáo dục, có khả năng chống lại bạo lực và có tiếng nói trong cộng đồng

1.1.2 Phân loại đói nghèo

Có nhiều cách phân loại đói nghèo khác nhau Căn cứ theo quy mô và thời gian tác động, người ta phân chia đói nghèo thành 4 loại cơ bản sau:

- Đói nghèo chu kỳ (Cyclical poverty): Là loại đói nghèo trong toàn bộ dân

cư nhưng diễn ra trong một thời gian hạn chế và có thể lặp đi lặp lại [19]

Cuộc đại suy thoái (Great Depression) trong những năm 1930 là một ví dụ tiêu biểu cho đói nghèo chu kỳ mà nguyên nhân chủ yếu là sự dao động trong chu kỳ kinh doanh, sự mất cân đối trong quan hệ cung cầu Đói nghèo chu kỳ được khắc phục bằng nhiều biện pháp khác nhau như trợ cấp thất nghiệp, thành lập quỹ bình ổn giá cả, dự trữ lương thực, xây dựng các chính sách tài chính, các quy định và nhiều chính sách khác nhằm kích thích nền kinh tế, tạo công ăn việc làm cho người thất nghiệp

- Đói nghèo tập thể (Collective poverty): Khác với đói nghèo chu kỳ

thường mang tính tạm thời, sự đói nghèo phổ biến hay đói nghèo tập thể liên quan đến sự thiếu thốn thường xuyên các phương tiện đảm bảo những nhu cầu

cơ bản Tình trạng này có thể là chung cho mức sống bình quân trong xã hội hoặc có thể tập trung vào một nhóm đối tượng lớn trong một xã hội thịnh vượng Đói nghèo tập thể diễn ra thường xuyên và thậm chí có thể truyền từ thế

hệ này sang thế hệ khác [19]

Ví dụ như tình trạng đói nghèo tập thể tương đối phổ biến và kéo dài ở nhiều nước Châu Á, Trung Đông và hầu hết Châu Phi, một phần lớn Nam Mỹ, Trung Mỹ Nguyên nhân của đói nghèo tập thể thường liên quan đến trình độ

Trang 15

tế, tăng GNP thông qua phát triển nông nghiệp hoặc công nghiệp hoá, giảm dân

số nhằm giảm gánh nặng cho xã hội

- Đói nghèo tập thể tập trung (Concentrated collective poverty): Chính là

đói nghèo tập thể nhưng khác với đói nghèo tập thể ở chỗ chỉ tập trung vào nhóm lớn của xã hội mà không phải chung cho toàn xã hội [19]

Đói nghèo tập thể tập trung cũng diễn ra trong nhiều nước công nghiệp hay các nước tương đối phát triển khác, thường tập trung ở dân cư sống tại các khu

ổ chuột trong thành phố, tại các vùng không có công nghiệp hoặc vùng cả công nghiệp và nông nghiệp đều kém hiệu quả Nguyên nhân thường do tình trạng phân hoá cao trong xã hội, những nhóm người này có địa vị kinh tế- xã hội thấp kém khiến cho họ không chỉ thiếu năng lực tiếp cận nguồn lương thực mà còn là nạn nhân của sự bất bình đẳng trong phân phối, thu nhập Nhóm người này thường có tỷ lệ tử vong cao, y tế nghèo nàn, trình độ giáo dục thấp, đại bộ phận thất nghiệp hoặc làm các công việc không cần kỹ năng và công việc mang tính không ổn định

- Đói nghèo điểm (Case poverty): Là hình thức đói nghèo giống với đói

nghèo tập thể ở tính tương đối bền vững nhưng lại khác ở sự phổ biến Đói nghèo điểm phản ánh sự thiếu khả năng của cá nhân hay gia đình để đảm bảo các nhu cầu tối thiểu thậm chí cả khi xã hội xung quanh là thịnh vượng

Đói nghèo điểm thường tập trung vào các đối tượng là những người già không nơi nương tựa, những người bị bệnh kinh niên, những người bị bệnh thần kinh, người mù, người gặp khó khăn về sức khỏe nhìn chung phần lớn họ không có khả năng lao động để đảm bảo cuộc sống Ngoài ra còn có một nhóm khác liên quan gồm những người có năng lực lao động bình thường nhưng vì nhiều lý do khác nhau mà trở nên đói nghèo như hoang phí, lười lao động, sa cơ

lỡ vận, đông con, hay mắc phải các tệ nạn xã hội (cờ bạc, nghiện hút) Giải pháp chung cho cả hai nhóm người đói nghèo điểm này thường là giáo dục, tạo công

ăn việc làm thích hợp, hay tạo nơi cư trú, giúp đỡ về kinh tế, và các biện pháp

Trang 16

Trong cách phân loại trên, đói nghèo chu kỳ khác với đói nghèo tập thể, đói nghèo tập thể tập trung và đói nghèo điểm ở chỗ chỉ diễn ra theo chu kỳ, còn

ba hình thức còn lại đều diễn ra lặp đi lặp lại và kéo dài liên tục về mặt thời gian Đói nghèo chu kỳ và đói nghèo tập thể lại khác với đói nghèo tập thể tập trung và đói nghèo điểm về không gian Bởi lẽ, nếu như đói nghèo chu kỳ và đói nghèo tập thể diễn ra trên một không gian rộng với số lượng người bị ảnh hưởng rất lớn thì đói nghèo tập thể tập trung và đói nghèo điểm chỉ diễn ra trong một không gian hẹp và ở một bộ phận dân cư nhất định

Bên cạnh cách phân loại trên, căn cứ vào cấp độ của đói nghèo người ta chia đói nghèo thành: đói nghèo tuyệt đối và đói nghèo tương đối

- Đói nghèo tuyệt đối: Đói nghèo ở mức độ tuyệt đối là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại Những người nghèo tuyệt đối là những người phải đấu tranh để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ, trong tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt quá sức tưởng tượng" Ngân hàng thế giới (World Bank) xem thu nhập 1 USD/ngày theo sức mua tương đương của địa phương so với đôla thế giới để thoả mãn như cầu sống như là chuẩn tổng quát cho nạn đói nghèo tuyệt đối

- Đói nghèo tương đối: Trong những xã hội được gọi là thịnh vượng, đói nghèo được định nghĩa dựa vào hoàn cảnh xã hội của cá nhân Đói nghèo tương đối có thể được xem như là việc cung cấp không đầy đủ các tiềm lực vật chất và phi vật chất cho những người thuộc về một số tầng lớp xã hội nhất định so với

sự sung túc của xã hội đó

1.1.3 Chuẩn đói nghèo

Hàng năm, vào ngày 17 tháng 10, cả thế giới tổ chức kỷ niệm Ngày Quốc

tế Xoá đói giảm nghèo để thể hiện sự quan tâm tới những người vẫn đang sống trong cảnh đói nghèo "Tình trạng nghèo khổ tồn tại trong mọi xã hội, kể cả ở những nước giàu nhất thế giới, ở đó hiện còn hơn 100 triệu người có mức thu nhập dưới mức nghèo khổ [48] Ngân Hàng Thế giới xem thu nhập 1 USD/ngày

Trang 17

nhu cầu sống như là chuẩn tổng quát cho nạn nghèo tuyệt đối Trong những bước sau đó, các trị ranh giới nghèo tuyệt đối cho từng địa phương hay từng vùng được xác định: từ 2 USD/ngày cho Châu Mỹ Latinh và Caribê đến 4 USD/ngày cho những nước Đông Âu; cho đến 14,40 USD/ngày cho những nước công nghiệp (UNDP 1997).

Trong chất lượng sống nói chung, người ta có nhiều chỉ số khác nhau để phản ánh và so sánh Có bốn hệ cơ bản:

- Thứ nhất là Cấp hạng kinh tế và xã hội (Economic and Social Rank) được

tính theo quốc gia và 11 biến số khác nhau (5 biến số liên quan đến sức khoẻ, 5 biến số liên quan đến giáo dục và biến số còn lại là GNP theo đầu người)

- Thứ hai là Chỉ số Chất lượng sống Vật chất (Physical Quality of Life Index- PQLI) dựa vào tỉ lệ tử vong trẻ em, tuổi thọ, và tỉ lệ biết chữ

- Thứ ba là Chỉ số tiến bộ xã hội (Index of Social Progress) gồm 44 chỉ số

liên quan đến y tế, giáo dục, phúc lợi, kinh tế, ổn định chính trị

- Thứ tư là Chỉ số phát triển con người (Human Development Index- HDI)

do Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc- UNDP đưa ra và gồm 3 thành phần chính: tuổi thọ (đo bằng sự kéo dài cuộc sống), tri thức (đo bằng tỉ lệ người trưởng thành biết chữ và số năm học tập) và tiêu chuẩn sống (đo bằng sức mua) Nhìn chung các hệ số khác nhau bởi vì quan niệm về những mối liên hệ giữa chúng khác nhau Hiện nay, chúng ta thường sử dụng Chỉ số phát triển con người - HDI vì HDI đang ngày càng có ý nghĩa với nền kinh tế tri thức (nền kinh tế có sự tăng trưởng dựa vào sản xuất và phân phối tri thức như một hàng hoá hoặc dịch vụ tri thức HDI nhận giá trị từ 0 đến 1 HDI càng gần 1 có nghĩa

là trình độ phát triển con người càng cao, trái lại càng gần 0 nghĩa là trình độ phát triển con người càng thấp [76]

Trong hơn 20 năm qua, quá trình đổi mới đã đạt được những thành tựu đáng kể trong việc tăng thu nhập và giảm đói nghèo ở Việt Nam Tuy nhiên, số người nghèo vẫn còn rất nhiều và giúp họ thoát nghèo là một trong những ưu

Trang 18

chuẩn đói nghèo, một loạt các chỉ tiêu về nghèo đói và phát triển xã hội đang được sử dụng ở Việt Nam:

- "Bộ Lao động- Thương binh- Xã hội dùng phương pháp dựa trên thu nhập hộ Các hộ được xếp vào diện nghèo nếu thu nhập đầu người của họ ở dưới mức chuẩn được xác định, mức này khác nhau giữa thành thị, nông thôn và miền núi Tỷ lệ nghèo được xác định bằng tỷ lệ dân số có thu nhập dưới ngưỡng nghèo

- Tổng cục Thống kê thì dựa vào cả thu nhập và chi tiêu theo đầu người để tính tỷ lệ nghèo Theo đó xác định ngưỡng tiêu dùng dựa trên chi phí cho một giỏ tiêu dùng bao gồm lương thực và phi lương thực, trong đó chi tiêu cho lương thực phải đủ đảm bảo 2.100 calo mỗi ngày cho một người Các hộ được coi là thuộc diện nghèo nếu mức thu nhập và chi tiêu không đủ để đảm bảo giỏ tiêu dùng này

- Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn tính chỉ số Phát triển con người (HDI) ở cấp tỉnh qua việc đo thành tựu của đất nước ở 3 khía cạnh phát triển của con người: tuổi thọ, tri thức và mức sống thoả đáng" [1]

Theo Quyết định số 143/2001/ QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 27/09/2001 phê duyệt "Chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo giai đoạn 2001-2005" Theo đó chuẩn đói không còn được đặt ra, do Việt Nam đã đạt mức dư thừa lương thực Chuẩn nghèo gồm 3 mức: Đối với nông thôn miền núi và hải đảo: dưới 80.000 đồng/người/tháng (tức 960.000 đồng/người/năm); Đối với nông thôn, đồng bằng: dưới 100.000 đồng/người/tháng (tức 1.200.000 đồng/người/năm); Đối với thành thị: dưới 150.000 đồng/người/tháng (tức 1.800.000 đồng/người/năm) Mức chuẩn nghèo này đã tăng khoảng 1,5 lần so với chuẩn nghèo được đặt ra trong giai đoạn trước đó, tuy nhiên mức này vẫn còn thấp hơn so với mức chuẩn của thế giới

Theo quyết định số 170/2005/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 08/07/2005 về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006-2010 thì

Trang 19

đồng/người/tháng (2.400.000 đồng/người năm) trở xuống là hộ nghèo, ở khu vực thành thị những hộ có thu nhập bình quân từ 260.000 đồng/người/tháng (dưới 3.120.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo

1.2 Nguyên nhân đói nghèo

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến đói nghèo, trong đó hạn hán, chiến tranh và nghèo nàn có lẽ là ba nguyên nhân phổ biến nhất Xét một cách tổng thể, nguyên nhân dẫn đến đói nghèo có thể chia thành hai nhóm chính: các nguyên nhân tự nhiên và các nguyên nhân do con người gây ra

1.2.1 Các nguyên nhân tự nhiên

Nguyên nhân tự nhiên là nguyên nhân lớn gây ra những tác hại không nhỏ

và là nguyên nhân trực tiếp gây nên nạn đói nghèo trên thế giới Nguyên nhân

tự nhiên là những hiện tượng tự nhiên mang tính lịch sử xảy ra trên nhiều vùng trên thế giới như hạn hán, mưa bão, lụt lội, nóng lạnh bất thường, núi lửa, sóng thần, bệnh tật của cây cối và động vật, sâu bệnh và côn trùng Những nguyên nhân tự nhiên có đặc điểm thường nằm ngoài khả năng kiểm soát và đoán định của con người và thường để lại những hậu quả gây tác động lớn đến sự phục hồi cuộc sống bình thường của con người tại những vùng đất mà nó tác động Bởi

lẽ, các hộ gia đình nghèo rất dễ bị tổn thương bởi những khó khăn hàng ngày và những biến động bất thường xảy ra đối với cá nhân, gia đình hay cộng đồng Do nguồn thu nhập của họ rất bấp bênh, khả năng tích luỹ kém nên họ khó có khả năng chống chọi với những biến cố xảy ra trong cuộc sống (mất mùa, mất việc làm, thiên tai, mất nguồn lao động, mất sức khoẻ ) Với khả năng kinh tế mong manh của các hộ gia đình nghèo trong khu vực nông thôn, những đột biến này

sẽ tạo ra những bất ổn lớn trong cuộc sống của họ

- Hạn hán: là nguyên nhân tự nhiên phổ biến nhất và là nguyên nhân chủ yếu gây nạn đói ở các vùng khô cằn Hạn hán đã đi vào lịch sử với những tác

Trang 20

cái chết và đe doạ mạng sống của khoảng 1,5 triệu người Hạn hán đe doạ gây

ra nạn đói cho 150 triệu người ở vùng tiểu Sahara [19] Hạn hán gây thiếu lương thực ở CHND Triều Tiên, thậm chí ngay cả các vùng mưa nhiều ở Việt Nam cũng xảy ra hạn hán Gần đây, vào năm 2004, một trận hạn hán gây mất mùa và thiệt hại nặng nề về vật nuôi tại Ethiopia, Eritrea, Somalia, Uganda và Kenya

Để khắc phục hậu quả của hạn hán, người ta cố gắng dùng thuỷ lợi để tưới tiêu

- Mưa bão, lụt lội: đây cũng là một nguyên nhân góp phần không nhỏ dẫn đến tình trạng đói nghèo trên thế giới trong lịch sử cũng như hiện nay Mưa bão, lụt lội hay xảy ra ở các vùng mưa nhiều, các vùng đồng bằng gần các con sông lớn nơi thường tập trung sản xuất lương thực Chính vì vậy đây là nguyên nhân quan trọng gây nên nạn đói ở chính các vùng sản xuất lương thực chính Mưa bão lũ lụt phá hoại mùa màng, chôn vùi thành quả của người lao động, phút chốc biến họ thành những người tay trắng, vô gia cư, gây nên những tác hại nghiêm trọng đến đời sống và quá trình ổn định đời sống của người dân Trong lịch sử, các nạn đói thường xuyên xảy ra ở Trung Quốc trước kia do vỡ đê sông Hoàng Hà hay nạn đói năm 1945 tại Việt Nam cũng có phần do vỡ đê, lụt lội gây ra Gần đây nhất là trận động đất và sóng thần xảy ra vào ngày 26 tháng 12 năm 2004 đã gây thiệt hại không nhỏ cho 12 nước ven biển Ấn Độ Dương, làm hơn 285.000 người thiệt mạng, đồng thời gây ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng sống và đời sống của khoảng 5 triệu người [43] Ngày nay, Việt Nam và nhiều nước trên thế giới vẫn phải hứng chịu không ít những tác động của thiên tai do mưa bão, lũ lụt hàng năm gây ra Tuy nhiên, do đã có các biện pháp nhằm hạn chế tác hại và ngăn ngừa bão lụt như trồng, giữ rừng đầu nguồn, xây dựng

đê điều, tác hại của thiên tai cũng đã giảm bớt phần nào

- Sâu bệnh và côn trùng: Đây cũng là một yếu tố ảnh hưởng không nhỏ tới sản xuất lương thực thực phẩm vì nó làm giảm năng suất của cây trồng "Hàng năm trên thế giới, côn trùng đã phá huỷ khoảng 33 triệu tấn lúa mì và lúa gạo nghĩa là bằng một lượng lương thực đủ để nuôi sống 150 triệu người trong một

Trang 21

một tốc độ lớn (20.000 trứng/m2) và thường tập trung thành đàn khổng lổ có thể dài tới 80km, tạo thành một đám mây cào cào phủ kín bầu trời Khi đàn cào cào

hạ cánh xuống đất sinh khối của nó có thể đạt tới 1.750 tấn/ha và mỗi ngày chúng có thể ngốn một lượng cây xanh có trọng lượng tương đương với trọng lượng cơ thể chúng, nên thường để lại một bãi hoang vu nơi chúng đáp xuống [71] Trong một thời gian dài, con người đã sử dụng nhiều loài thuốc bảo vệ thực vật để diệt trừ côn trùng Tuy ở giai đoạn đầu thuốc tỏ ra có hiệu quả rõ rệt nhưng càng về sau thì hiệu quả càng kém dần vì do sự phát sinh tính kháng ở một số loài dịch hại đối với nhiều loại thuốc Ngoài ra, việc sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật này còn gây ô nhiễm môi trường nước, đất và không khí gây ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến sức khoẻ con người

- Phân bố vùng lương thực và cây trồng không đều, diện tích đất sử dụng cho canh tác nông nghiệp chiếm tỉ lệ thấp Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến đói nghèo Nguyên nhân tự nhiên của hiện tượng này là do các vựa lúa chính bao giờ cũng tập trung ở vùng đồng bằng, chế độ thổ nhưỡng khác nhau cũng quy định các vùng cây trồng vật nuôi khác nhau Sự phân bố không đều có tác động làm cho sự phân phối trở nên khó khăn hơn, từ đó gây ra

sự đe doạ tới nguy cơ đói nghèo cho những vùng nông nghiệp kém phát triển Ngoài ra, "diện tích đất sử dụng cho canh tác nông nghiệp chiếm tỉ lệ rất thấp 51% diện tích của các lục địa không sử dụng cho nông nghiệp vì bị tuyết và băng hà bao phủ cùng với những vùng núi cao và sa mạc; 21% đất có khả năng canh tác nông nghiệp mà con người chưa có khả năng khai phá trong đó có 8% đất rừng mưa nhiệt đới và 20% đất khô thuộc vùng hoang mạc và bán hoang mạc, chỉ có khoảng 21% đất được con người đã và đang canh tác trong đó có 10% sử dụng cho chăn nuôi và 11% cho trồng trọt Tuy nhiên 21% diện tích đất canh tác này đang càng ngày càng bị thu hẹp dần vì bị suy thoái và trở nên hoang hoá hoặc bị chuyển thành đất phi nông nghiệp [71]." Như vậy để có đủ lương thực và thực phẩm nuôi sống nhân loại và có khả năng tránh được nguy

Trang 22

phải phục hồi lại đất trồng trọt bị suy thoái và hoang hoá Một số biện pháp cụ thể được đưa ra để khắc phục tình trạng này như: khai thác đất thuộc các vùng hoang mạc và bán hoang mạc, phục hồi đất canh tác đã bị hoang hoá, trồng cây lương thực thay thế cây công nghiệp

Nhìn chung, các nguồn tài nguyên tự nhiên càng ngày càng cạn kiệt và suy thoái, sự ô nhiễm môi trường càng ngày càng trầm trọng, bên cạnh đó nạn hạn hán và lũ lụt đã và đang xảy ra ở nhiều nơi trên thế giới, sự tấn công phá hoại của các loài dịch hại , đã ảnh hưởng tiêu cực đến sản lượng lương thực và thực phẩm của con người Đó là những nguyên nhân dẫn đến nguy cơ của nạn đói có

thể xảy ra cho nhân loại trong tương lai

1.2.2 Các nguyên nhân nhân tạo

Bên cạnh những nguyên nhân mang tính tự nhiên gây ra nạn đói nghèo, các nguyên nhân nhân tạo (là các các nguyên nhân kinh tế - chính trị, văn hoá, chiến tranh ) tức là những nguyên nhân do chính hành vi của con người gây ra

và hoàn toàn nằm trong sự kiểm soát của con người cũng đã góp phần không nhỏ trong việc gây ra tình trạng đói nghèo trên thế giới

- Quá tải dân số: là nguyên nhân cũng khá phổ biến và ngày càng trở thành quan trọng trong thời đại ngày nay Dân số thế giới đặc biệt tăng nhanh ở nửa sau của thế kỷ XX Vào giữa thế kỷ, tỷ lệ tăng dân số ở các nước đang phát triển

đã tăng tới mức chưa từng có vì tỷ lệ sinh không giảm trong khi tỷ lệ chết giảm

và tuổi thọ trung bình tăng, Trung Quốc và Ấn Độ là hai cường quốc về dân số

“Theo báo cáo dự đoán của Liên Hợp quốc cho biết vào năm 2050 dân số thế giới sẽ đạt mức 9,1 tỷ người, tăng 40% so với con số 6,5 tỷ người như hiện nay [50]” Quá tải dân số tạo ra sự thiếu hụt về lương thực Đặc biệt "dân số tăng nhiều nhất thuộc về những quốc gia nghèo nhất, những nước mà cơ sở vật chất còn quá nghèo nàn để chăm lo thoả mãn nhu cầu của những công dân mới và để đầu tư cho tương lai [13, tr.75]." Dân số tăng nhanh là nguyên nhân sâu xa và chủ yếu gây suy giảm môi trường sinh thái, tác động trực tiếp đến chất lượng

Trang 23

phát triển biến động không ngừng đặc biệt ở các nước đang phát triển, tạo gánh nặng cho xã hội làm tăng nguy cơ nợ nần và nghèo đói Dân số tăng tạo sức ép dân số trong từng vùng hoặc giữa các quốc gia với nhau tạo ra nguy cơ di cư quốc tế tăng, gây xáo trộn, bất ổn về xã hội, chính trị Quá tải về dân số ảnh hưởng tới sự hoàn thiện của các thế hệ tương lai của một bộ phận dân số mà bộ phận này chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong dân số thế giới Trẻ em sinh ra trong các gia đình nghèo đói sẽ lớn lên bằng khẩu phần đói, không được phát triển đầy đủ cả về thể lực lẫn trí tuệ, gây tác động kìm hãm tiến bộ xã hội

Trong lịch sử, hệ quả của sự quá tải về dân số đã được minh chứng qua nhiều nạn đói Ấn Độ gặp nạn đói thường xuyên từ thế kỷ XIV đến tận thế kỷ

XX là khoảng thời gian dân số nước này đã bắt đầu tăng nhanh, tiêu biểu phải

kể đến nạn đói Deccan (1702-1704) làm cho khoảng 2 triệu người chết Hay gần đây trong thế kỷ XX, vào năm 1967 là nạn đói nghiêm trọng ở Bihar, tuy nhiên với sự hỗ trợ của quốc tế nên đã giảm được phần nào thiệt hại về người Trung Quốc với nạn đói vào các năm 1876-1879 ở miền Bắc đã gây ra cái chết của khoảng 9 đến 13 triệu người; nạn đói năm 1928-1929 với hơn 3 triệu người chết đói Đứng trước nguy cơ nghiêm trọng của nạn đói có thể xảy ra, nhiều quốc gia

và nhất là những quốc gia chậm phát triển mà có tỉ lệ gia tăng dân số cao đã đưa quốc sách "dân số và kế hoạch hoá gia đình" lên hàng đầu nhằm tích cực hạn chế nguy cơ của nạn đói

- Chiến tranh: Chiến tranh là một trong những nguyên nhân do con người gây ra phổ biến nhất dẫn tới nạn đói Chiến tranh không chỉ phá hoại mùa màng

mà còn làm gián đoạn việc cung cấp lương thực, lương thực trong chiến tranh

có thể bị trưng thu, cướp đoạt, phá hoại hay bao vây phong toả Cùng với các nguyên nhân tự nhiên, chiến tranh đã góp phần gây ra nạn đói năm 1505 và

1586 ở Hungary, hay làm 500.000 người bị chết vì đói ở Nga vào năm 1600 Các cuộc chiến tranh trong thế kỷ XIX với chiến thuật phá hoại mùa màng và sự cung cấp lương thực của hai bên đã góp phần không nhỏ trong việc gây ra các

Trang 24

cuộc chiến tranh 1812 chống quân đội Napoleon đã không chỉ ngăn chặn việc cung cấp lương thực cần thiết cho quân đội Pháp mà còn làm chính người Nga vốn phụ thuộc vào đồng ruộng khi đó bị đói Nguyên nhân chiến tranh cùng với

sự bất ổn định đã làm ảnh hưởng tời hàng chục triệu người ở vùng Tiểu Sahara Lương thực lại được sử dụng như một vũ khí trong trường hợp Sudan và Ethiopia (sau này là Somalia), bởi lẽ theo như Shun Chetty của UNHCR: "Ai kiểm soát được đường sá thì sẽ kiểm soát được lương thực Ai kiểm soát được lương thực thì sẽ kiểm soát được nhân dân" Chính vì vậy, đó là lý do tại sao trong chiến tranh các bên đều quyết tâm giành giật các nguồn lương thực không chỉ để cung cấp cho bên mình mà còn để phong toả đối phương

Hiện nay, theo đánh giá của Uỷ ban An ninh Lương thực Thế giới (CFS) tại kỳ họp hàng năm lần thứ 33 diễn ra tại Rome, Italy: trong số 34 quốc gia hiện nay đang phải đối mặt với tình trạng khẩn cấp về lương thực thì có tới hơn một nửa số nước (18 nước) với nguyên nhân chủ yếu là do xung đột, nội chiến Xung đột và nội chiến đã ảnh hưởng trực tiếp tới sự ổn định của các nguồn cung cấp lương thực, tới sức khỏe cộng đồng trên quy mô rộng và cũng chính là nguyên nhân dẫn đến đói nghèo tại nhiều quốc gia trên thế giới [56]

- Phân phối không đều: Sự phân phối không đều các nguồn lực cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng giàu-nghèo, hay nói cách khác nghèo đói là một trong những hệ quả mà phân phối không đều đem lại Tình trạng phân phối không đều chủ yếu do năng suất và sản lượng khác nhau giữa các vùng, do chính sách kinh tế và chính trị Mức độ chênh lệch về đói nghèo cũng diễn ra hết sức khác nhau ngay ở cấp quốc gia, giữa các vùng, các nhóm chủng tộc và các giới Vì vậy, sự hợp tác quốc tế tốt là cấn thiết để góp phần hạn chế tác động của tình trạng này đối với đói nghèo

Năng suất và sản lượng khác nhau giữa các vùng: Mặc dù sản lượng lương thực sau Chiến tranh thế giới II đã tăng lên nhưng sự tăng lên theo đầu người không giống nhau ở các nơi Trong các nước phát triển, sản lượng lương thực

Trang 25

lượng nói chung Còn trong các nước đang phát triển, sản xuất lương thực theo đầu người tăng giảm không đều, thậm chí có nơi còn bị giảm Thậm chí ngay ở những nước thực hiện Cách mạng Xanh, dù có sản lượng lương thực tăng mạnh nhưng sự phân phối thường xuyên vẫn không đều Nguyên nhân quan trọng tạo nên sự khác nhau này là do tăng trưởng dân số khác nhau giữa các nước đang phát triển và các nước phát triển Dân số tăng nhiều nhất thuộc về những quốc gia nghèo nhất "Năm 1950, Châu Âu và Bắc Mỹ chiếm 22% dân số thế giới, năm 2025 số dân của họ sẽ không qúa 9% dân số thế giới Ngược lại, năm 1950

số dân Châu Phi chỉ bằng 9% dân số thế giới, đến năm 2025 tỷ lệ đó lên đến 19% [13 tr.75]" Ngoài ra, nguyên nhân về chính sách và quản lý cũng không kém phần quan trọng dẫn đến sự khác nhau này Sự can thiệp của con người với các ý đồ chính trị, kinh tế càng làm cho phân phối khó khăn hơn Đây chính là

lý do quan trọng tạo nên sự phân phối không đều, một cơ sở dẫn đến tình trạng nghèo đói

- Các nguyên nhân kinh tế dẫn đến tình trạng đói nghèo được thể hiện ở tác động của các chính sách kinh tế, chính sách đầu tư, quản lý, chính sách phát triển nông nghiệp, thương mại Bởi lẽ, nếu một quốc gia có một chính sách kinh tế thông thoáng, thương mại phát triển, nông nghiệp được đầu tư phù hợp

sẽ góp phần tạo cuộc sống với chất lượng sống cao hơn cho người dân, và như vậy đói nghèo cũng sẽ bị đẩy lùi Ngược lại, những chính sách sai lầm sẽ đẩy người dân, những người không trực tiếp đưa ra chính sách nhưng lại chính là những người chịu ảnh hưởng trực tiếp từ các hậu quả và tác động của các chính sách này Ví dụ việc áp dụng chính sách quản lý vĩ mô trong việc đô thị hoá làm giảm đất canh tác, công nghiệp hoá làm giảm người lao động trong khi nông nghiệp chưa được cải thiện Đô thị hoá dẫn đến sự quá tải về dân số ở các đô thị khi nông dân bị mất ruộng đổ ra thành phố kiếm kế sinh nhai Công nghiệp hoá lại dẫn đến tình trạng thất nghiệp gia tăng Đây là hai nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tình trạng đói nghèo

Trang 26

Một nền kinh tế mở tạo điều kiện thuận lợi cho chính sách xuất nhập khẩu

là một dấu hiệu cho sự phát triển Tuy nhiên, nếu chính sách xuất nhập khẩu không phù hợp lại gây ra những tác hại lớn Ví dụ như trường hợp nhiều chính phủ Châu Phi trong giai đoạn 1970-1990 đã thi hành chính sách giảm sự khuyến khích đối với sản xuất trong nước, tăng khuyến khích nhập khẩu lương thực Mục đích của các chính phủ này là nhằm thúc đẩy sự yên bình và ngăn chặn bạo loạn chính trị Tuy nhiên điều này không những làm giảm sự khuyến khích sản xuất của nông dân mà còn làm tăng dòng người đổ ra thành phố Chính vì vậy, chính sách của các nước phát triển là trợ giúp lương thực bằng giá trợ cấp đã không giải quyết được tình trạng lương thực của các quốc gia này mà còn gây tác hại tới sản xuất trong nước [20, tr 326]

Hay như chính sách tập trung hoá đất đai nông nghiệp cũng là một ví dụ điển hình Đây là một nguyên nhân kinh tế mang tính lịch sử Về mặt truyền thống, nền nông nghiệp ở các nước Thế giới thứ ba chủ yếu nhằm cung cấp lương thực cho cộng đồng địa phương Chính sách tập trung hoá đất đai nông nghiệp của chủ nghĩa thực dân đã phá vỡ mô hình nông nghiệp truyền thống và chuyển đổi sang mô hình nông ngiệp thương mại (tập trung đất đai thành các đồn điền lớn, tập trung vốn, áp dụng máy móc nhằm tạo ra khối lượng nông sản lớn) Chính sách này trên thực tế có tính tích cực cao nhưng trong chừng mực nào đó nó lại gián tiếp gây ra tình trạng đói nghèo hiện nay Bởi lẽ trong quá trình tập trung hoá nông nghiệp dẫn đến tình trạng đất đai tập trung trong tay một số ít chủ đất ngày càng giàu, và nông sản được sản xuất ra lại phục vụ chủ yếu cho các thị trường khác như thành phố và xuất khẩu Điều này đã dẫn đến tình trạng phân hoá giàu nghèo vì sự phân phối không công bằng, đồng thời gây nên tình trạng đói nghèo tại ngay chính địa phương sản xuất ra lương thực bởi lẽ người dân mất đất, đi làm thuê, bị bóc lột dẫn đến tình trạng nghèo đói

Ngoài ra còn nhiều nguyên nhân kinh tế khác như tính hấp dẫn của môi trường đầu tư, vị trí địa kinh tế của quốc gia, hay những chính sách về đất

Trang 27

- Các nguyên nhân chính trị dẫn đến tình trạng đói nghèo: Đó là sự can thiệp của giới cầm quyền vào việc phân phối lương thực đã dẫn đến tình trạng thiếu thốn lương thực vì nhiều lý do khác nhau như: phục vụ quân đội, sự bóc lột của giai cấp cầm quyền, hoặc sự kém năng lực trong chính sách sản xuất và quản lý việc phân phối Ngoài ra các nguyên nhân về sự khác biệt trong hệ tư tưởng chính trị dẫn đến chiến tranh xung đột cũng gián tiếp phần nào gây nên tình trạng đói nghèo

Một ví dụ điển hình là sự can thiệp của giới cầm quyền ở Đế quốc Roman dẫn đến sự thiếu thốn lương thực do giới cầm quyền không có khả năng hoặc không muốn chuyên chở lương thực tới các vùng bị đói Ngũ cốc là một hình thức của cải của Hoàng đế La Mã và được cất để dự trữ trong khi nhiều vùng thường xuyên bị đói: Roman đã bị nạn đói lớn vào năm 436 TCN dẫn đến việc hàng ngàn người đã phải chạy về vùng sông Tiber để tránh nạn đói Các nạn đói

ở Đông Âu (1500-1700) cũng mang tính chính trị do xu hướng chính trị của các nước này là muốn can thiệp và kiểm soát việc cung cấp lương thực từ đó dẫn đến phân phối không công bằng

Tâm lý của nền sản xuất nông nghiệp cũng ảnh hưởng không nhỏ tới các thể chế như không muốn san bớt quyền hành để tăng tính chủ động của nông dân, sự bảo thủ của các thể chế mâu thuẫn với nhu cầu chuyên nghiệp hoá của sản xuất nông nghiệp Sự kém năng lực chính trị trong sản xuất và quản lý phân phối: chính sách cải cách ruộng đất dễ gây những vấn đề chính trị dẫn đến sự mất an toàn trong đầu tư Ví dụ như thời hạn cho thuê đất ngắn khiến nông dân không yên tâm đầu tư và cải tiến khoa học kỹ thuật và như vậy không cải thiện được điều kiện cuộc sống

Sự xung đột trong quan hệ quốc tế cũng tác động không nhỏ Ví dụ như các biện pháp trừng phạt như cấm vận bao vây kinh tế, gây chiến tranh cũng là một nguyên nhân không nhỏ dẫn đến tình trạng đói nghèo Trường hợp Mỹ cấm vận bao vây kinh tế và gây chiến tranh tại Việt Nam, Cu Ba đã cho thấy rõ điều

Trang 28

- Ngoài các nguyên nhân nhân tạo, còn một số nguyên nhân khác trực tiếp hoặc gián tiếp dẫn đến tình trạng đói nghèo như: môi trường, giáo dục, tâm lý nông nghiệp, trình độ phát triển và ứng dụng khoa học kỹ thuật Cụ thể là sự tiếp cận tới nguồn lương thực không đều, nguyên nhân dinh dưỡng (sự thiếu

hiểu biết của bà mẹ trong việc nuôi con), chính sách y tế

Trang 29

Chương 2

THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ ĐÓI NGHÈO VÀ TÁC ĐỘNG CỦA NÓ

ĐỐI VỚI QUAN HỆ QUỐC TẾ 2.1 Tình hình đói nghèo hiện nay

2.1.1 Tình hình đói nghèo trên thế giới

Tình hình đói nghèo trên thế giới được đánh giá căn cứ qua một số tiêu chí chính sau đây: Lương thực (Không đủ lượng và dinh dưỡng); Nước (không đủ và thiếu vệ sinh); Chỗ ở (Không an toàn trước tác động thời tiết); Giáo dục (mù chữ, tỷ lệ đại học); Y tế (Không có các dịch vụ y tế tối thiểu); Thu nhập (Dưới 2 USD/người/ngày: nghèo vừa, dưới 1 USD/người/ngày: rất nghèo)

Bảng 2.1: Tình hình nghèo nàn trên thế giới

Tình hình nghèo nàn trên thế giới Tỷ lệ trong dân số

thế giới

Không có nhà hoặc sống trong những ngôi nhà

dưới tiêu chuẩn

Khoảng 1/2

Thu nhập dưới 2 USD/ngày (dưới 730 USD/năm Khoảng 1/2

Nguồn: Tập hợp theo Joshua S Goldstein, "International Relations", Longman, New York 1999, Trang 510-511

- Về lương thực: Thước đo tình trạng đói nghèo về lương thực được phân chia thành hai loại: Thiếu ăn về lượng, và thiếu ăn về chất Thiếu ăn về lượng

Trang 30

thường xuyên là tình trạng không dùng đủ lương thực bình quân trong mỗi năm

để duy trì trọng lượng cơ thể và hỗ trợ cho các hoạt động nhẹ Thiếu ăn về chất (thiếu dinh dưỡng) là không đủ đảm bảo lượng dinh dưỡng tối thiểu cần thiết để duy trì thể trạng bình thường

Tại các nước đang phát triển, hiện có hơn 1,2 tỷ người sống dưới mức chuẩn nghèo (ít hơn 1 USD/ngày) Trong nhóm người nghèo này, nhiều người không có đủ lương thực để cung cấp cho nhu cầu bản thân cũng như gia đình mình Kết quả là 815 triệu người tại các nước đang phát triển đang bị đói Họ tiêu thụ một lượng calo thấp hơn mức calo tối thiểu cần thiết cho sức khoẻ và tăng trưởng [83]

Trên thế giới, mỗi năm có hơn 9 triệu người chết vì đói và suy dinh dưỡng,

5 triệu trong số đó là trẻ em Hiện có khoảng 1,2 tỷ người đang đói (thiếu lượng calo và protein cần thiết), và khoảng từ 2 đến 3,5 tỷ người thiếu các vi chất dinh dưỡng cần thiết (vitamin và khoáng chất) [81] Tại các nước giàu, trung bình trong 100 đứa trẻ có chưa đến 1 trẻ không sống được đến 5 tuổi, trong khi tại các nước nghèo nhất con số này lại là 1/5 (20 đứa trẻ) Và trong khi tại các nước giàu

có chưa đến 5% trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng, thì tại các nước nghèo con số này lên tới 50% [9]

Trong Báo cáo về Triển vọng lương thực toàn cầu được công bố vào giữa tháng 6/2006, Tổ chức Nông Lương Liên Hợp quốc (FAO) đã cảnh báo rằng nhu cầu ngũ cốc trên thế giới đã vượt xa khả năng cung cấp và như vậy kho dự trữ lương thực toàn cầu sẽ giảm xuống mức thấp đáng lo ngại Nhiều nước trên thế giới đang đối mặt với tình trạng thiếu lương thực trầm trọng Hiện nay, lượng ngũ cốc được trao đổi và giao dịch trên thị trường thế giới được thực hiện sau khi đã cung cấp đủ cho nhu cầu nội địa của mỗi nước chỉ chiếm 10% tổng sản

Trang 31

lượng thu hoạch Theo FAO, hiện nay 40 nước (15 nước ở Châu Phi) thiếu lương thực trầm trọng Sản lượng ngũ cốc toàn cầu năm 2006 đạt hơn 2 tỷ tấn, sụt 1,6%

đã làm hàng trăm hàng ngàn người Iraq và Afganistan phải sơ tán, khiến an ninh lương thực ở các nước này càng thêm bất ổn Tại Châu Phi, có 15 nước đang gặp khó khăn về lương thực, trong đó riêng Somali đã có gần 2 triệu người thiếu ăn [31]”

Có thể nói lương thực đã và đang là một vấn đề được thế giới quan tâm, được nâng tầm quan trọng lên mức "An ninh lương thực" Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề lương thực đối với sự tồn tại và phát triển của nhân loại

Trang 32

trong tương lai, các quốc gia cùng chung sức hợp tác nhằm phát triển một nền nông nghiệp thế giới phát triển bền vững

- Về vấn đề nước sạch: Tiếp cận với nước sạch có ý nghĩa là nước đủ điều kiện vệ sinh và thường xuyên được cung cấp đủ Trên thực tế, khá nhiều người trong Thế giới thứ ba đã không có đủ sự tiếp cận này Tại nhiều vùng nông thôn,

cư dân phải đi xa vài dặm để lấy nước hàng ngày, nhu cầu về nước sạch là rất cấp thiết thậm chí ở những nơi có đủ nguồn nước nhưng lại thiếu điều kiện vệ sinh

Nước sạch là một nguồn tài nguyên đang ngày càng khan hiếm Nước bao phủ 75% bề mặt trái đất nhưng chỉ có 2,5% là nước ngọt Trong 2,5% số lượng nước ngọt này lại có đến 74% dưới dạng băng, phần còn lại chủ yếu nằm ở tầng nước ngầm dưới sâu trong lòng đất hay tích tụ dưới dạng sương mù hay độ ẩm, chỉ khoảng 0,3% lượng nước ngọt trên thế giới là có ở các sông, hồ Nhu cầu dùng nước ngày càng lớn Lượng nước tiêu thụ năm 1995 so với 1900 đã tăng gấp sáu lần, tức là tốc độ gấp hơn hai lần tốc độ tăng dân số Nếu cứ theo đà tiêu thụ nước như hiện nay thì đến năm 2025, nhu cầu dùng nước sẽ tăng 38% và có tới 34 quốc gia sẽ lâm vào tình trạng thiếu nước, tức là chỉ có dưới 1.000m3/người/năm Nước lại phân bố rất không đồng đều, nơi có nước, nơi thiếu nước Hiện nay, đã có 14 nước đang gặp nhiều khó khăn về nước Có nhiều vùng đất đã hoặc đang trở thành hoang mạc Vì vậy, tình trạng khan hiếm nước ngọt sẽ trở thành một nguy cơ đối với đời sống và sức khoẻ con người Sự tranh chấp về nguồn nước đã từng là nguyên nhân xung đột trong quan hệ quốc tế giữa các cộng đồng, thậm chí giữa các quốc gia trong thế kỷ XX như trường hợp xung đột tại Trung Đông và nguy cơ này sẽ còn tiếp tục trong thế kỷ XXI [30]

Trang 33

Cải thiện việc quản lý nước sẽ đem lại những ích lợi to lớn cho người dân ở các nước đang phát triển Trong vòng 20 năm qua, trên 2,4 tỷ người đã được cung cấp nước sạch và 600 triệu người được cải thiện các điều kiện vệ sinh Tuy nhiên, cứ 6 người lại có 1 người không thường xuyên có được nước uống sạch Hiện nay, trên 1/3 dân số (khoảng 2,4 tỷ người không có được các điều kiện vệ sinh đầy đủ), họ là những người nghèo nhất và dễ bị tổn thương nhất Vấn đề này đặc biệt nghiêm trọng ở những vùng nông thôn xa xôi hẻo lánh hay ở những khu

đô thị phát triển nhanh Ở Châu Phi, 300 triệu người (khoảng 40% dân số) không

có các điều kiện vệ sinh tối thiểu, với mức tăng 70 triệu người kể từ năm 1990 Khoảng 90% nước thải không qua xử lý được thải trực tiếp ra sông suối ở các nước đang phát triển dẫn đến tình trạng ô nhiễm nguồn nước Các bệnh phát sinh

do nước gây ra 80% bệnh tật và tử vong ở các nước đang phát triển, cứ 8 giây một đứa trẻ bị chết do các bệnh về nước Chỉ tính riêng bệnh tật và tử vong liên quan đến nước ven bờ bị ô nhiễm đã gây phí tổn cho nền kinh tế toàn cầu khoảng

16 tỷ USD mỗi năm Theo ước tính, chi phí để cung cấp nước uống sạch và các điều kiện vệ sinh an toàn cho tất cả người trên thế giới vào năm 2025 khoảng

180 tỷ USD mỗi năm, lớn hơn từ 2 đến 3 lần mức đầu tư hiện nay Nếu theo xu thế hiện nay, sau 20 năm nữa, số người sống ở những quốc gia bị áp lực về nước

sẽ tăng từ 470 triệu người như hiện nay lên tới mức 3 tỷ người, phần lớn trong số

họ sống ở các nước đang phát triển [46]

Nước là sự sống, vì vậy, vấn đề nước sạch cũng như bảo vệ nguồn nước sạch đang được thế giới quan tâm chú trọng Giữ gìn và bảo vệ nguồn nước sạch không chỉ nhằm bảo vệ một nguồn sống của con người nới riêng và các sinh vật trên trái đất nói chung, mà nó còn mang một nhiệm vụ cao cả trong công cuộc xoá đói giảm nghèo toàn cầu

Trang 34

- Chỗ ở: Nhu cầu cơ bản về chỗ ở là "một cơ cấu an toàn tối thiểu để không sụp đổ xuống cư dân và tránh được tác động của thời tiết” Tình trạng chỗ ở không đảm bảo các điều kiện an toàn cần thiết là khá phổ biến ở nhiều nước Thế giới thứ ba, đặc biệt là những nơi như các khu ổ chuột trong thành phố, các vùng hay động đất và núi lửa, các trại tị nạn Theo Ngân hàng Thế giới, có hơn 100 triệu người trên thế giới - gần bằng số dân của Mexico - không có nhà ở, với hàng triệu người người sống ở các khu ổ chuột ở thành phố hoặc căn hộ rẻ tiền chật chội [7, tr.13] Theo báo cáo vừa công bố của Tổ chức Nhà ở cho nhân loại

thế giới (Habitat for humanity), tại khu vực Châu Á có hơn nửa tỷ người nghèo

đang sinh sống tại các khu ổ chuột ở các thành phố lớn với điều kiện sống rất thấp Châu Á hiện có tốc độ tăng trưởng kinh tế liên tục ở mức cao Thế nhưng khu vực này cũng chiếm đến 60% số nhà ổ chuột trên thế giới Tăng trưởng một mặt sẽ giúp giảm tỷ lệ người nghèo nhưng quá trình đô thị hoá nhanh chóng cùng giá đất đô thị tăng lại khiến các khu nhà ổ chuột ở các thành phố gia tăng [33] Hiện nay, Liên hợp quốc đã phát động chiến dịch cải tạo nhà ổ chuột trên toàn thế giới, do số người phải sống trong những ngôi nhà dột nát này (chủ yếu ở khu vực Nam Á, Đông Nam Á, và Tiểu sa mạc Sahara) đã tăng từ 200 triệu người năm 1990 lên 900 triệu người năm 2000 và có nguy cơ lên đến 1,5 tỷ người vào năm 2015 [40]

- Y tế: Theo ước tính, chăm sóc y tế hiệu quả ở nước nghèo chỉ ở khoảng 4 USD/người/năm Sự tiếp cận về y tế cũng rất khác nhau giữa nước giàu và nước nghèo Vấn đề thiếu thuốc men, thiếu trang thiết bị hiện đại và cơ sở vật chất y tế

đủ điều kiện, trình độ và số lượng y bác sỹ là những vấn đề lớn về y tế mà các nước nghèo đang gặp phải 74% dân số sống ở Phương Nam chỉ có khoảng 30%

Trang 35

bác sĩ và hộ lý [22] Tình trạng thiếu kinh phí và cơ sở hạ tầng yếu kém đã khiến rất nhiều người không tiếp cận được với các biện pháp y tế kịp thời

Theo quỹ "Cứu giúp trẻ em" (Anh) cho biết, tỷ lệ trẻ sơ sinh chết yểu vẫn tăng lên ở các nước đang phát triển Báo cáo công bố số liệu thống kê tại 125 nước trên thế giới cho thấy trong số 10 triệu ca tử vong ở trẻ từ sơ sinh đến 5 tuổi mỗi năm tại các nước đang phát triển, có tới 2 triệu trường hợp tử vong trong vòng 24 giờ sau khi ra đời, hơn 4 triệu trẻ em bị chết trong tháng đầu đời, và số còn lại tử vong ngay trong tuần đầu tiên Trên thực tế, trong 10 năm qua đã có nhiều biện pháp được thực hiện nhằm giảm thiểu tỷ lệ tử vong ở trẻ em dưới 5 tuổi trên thế giới nhưng những biện pháp này hầu như không hiệu quả Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng trên là do sức khoẻ của thai phụ và trẻ sơ sinh không được chăm sóc đúng phương pháp, thường dẫn đến các ca sinh khó, các trường hợp nhiễm trùng và trẻ sinh ra nhẹ cân [34]

Các bệnh truyền nhiễm là những nguy cơ lớn nhất đối với sức khoẻ con người Theo nghiên cứu, bệnh truyền nhiễm gây tử vong nhiều nhất với 7 triệu người/năm, tiêu chảy 4 triệu người/năm, lao phổi 3 triệu người/năm, sốt rét và bệnh gian khoảng 1- 2 triệu người/năm Khoảng 600 triệu người bị lây nhiễm các bệnh nhiệt đới và riêng sốt rét đã có khoảng 300 triệu người bị mắc [22].Theo ông Larry Madoff, giám đốc Chương trình giám sát dịch bệnh mới xuất hiện trên thế giới của Hội phòng chống dịch bệnh truyền nhiễm quốc tế (ISID), khoảng 70% số dịch bệnh mới xuất hiện ở người trong những năm gần đây là do động vật lây truyền Hơn 50% trong số 1.500 tác nhân truyền bệnh sang người có thể vượt qua các biện pháp phòng bệnh Trong 5 đến 10 năm tới, thế giới có thể phải đối phó với một dịch bệnh hoàn toàn mới, chưa biết bắt nguồn từ đâu, đồng thời

Trang 36

kêu gọi các nước trên thế giới tăng cường phát hiện, giám sát và phòng ngừa dịch bệnh truyền nhiễm [36]

Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO), chỉ dưới 5% chi phí cho nghiên cứu y

tế của thế giới được chi cho nghiên cứu các vấn đề thuộc các nước đang phát triển Trên thực tế người dân các nước này thường là những người nghèo nên các công ty dược phẩm coi đó là thị trường nhỏ và ít đầu tư [22]

- Giáo dục: Theo thống kê của Tổ chức Văn hoá, Khoa học, Giáo dục Liên hợp quốc (UNESCO) năm 1995, trên thế giới có 889 triệu người trên 15 tuổi mù chữ; hơn 100 triệu trẻ em từ 6 đến 11 tuổi không được đến trường; có khoảng 40 nước (trong đó có 27 nước Châu Phi và 10 nước Châu Á, người mù chữ chiếm tới 50% số dân Bên cạnh đó, cứ 1 trong số 5 trẻ em ở độ tuổi tiểu học tại các nước đang phát triển không được đến trường, con số này lên tới 100 triệu trẻ em trên toàn cầu, 53% trong số đó là các em gái Tại 8 nước (5 nước Châu Phi và 3 nước Châu Á) chiếm tới hơn 75% số dân, tỷ lệ mù chữ rơi nhiều vào phụ nữ) Gần 98% số người mù chữ ở các nước đang phát triển, trong đó Châu Phi có tỷ

lệ so với số dân cao nhất, tới 54% nhưng số lượng tuyệt đối lại rơi vào Châu Á nơi được ước tính chiếm tới 3/4 số người mù chữ của thế giới Mỹ Latinh có 17,34% số dân bị mù chữ Châu Âu và Bắc Mỹ cũng có hiện tượng này nhưng chỉ khoảng 5% [13]

- Thất nghiệp và vấn đề thu nhập: Công ăn việc làm cho người lao động là một vấn đề cấp bách không những ở các nước chậm phát triển mà cả ở các nước công nghiệp phát triển Theo báo cáo hàng năm của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) công bố ngày 24/1 cho biết trong năm 2006, số người thất nghiệp trên thế giới đã đạt ở mức kỷ lục từ trước đến nay, với 195,2 triệu người thất nghiệp, chiếm 6,3% dân số ở độ tuổi lao động, bất chấp sự tăng trưởng của nền kinh tế

Trang 37

thế giới Theo số liệu của ILO, thanh niên là đối tượng bị thất nghiệp nhiều nhất:

có tới 86,3 triệu thanh niên trong độ tuổi từ 18 đến 24 bị thất nghiệp, chiếm 44% tổng số người thất nghiệp trên thế giới So với những người cùng độ tuổi, tỷ lệ

nữ giới thất nghiệp cao hơn nhiều so với nam giới Trong năm 2006, chỉ có 48,9% phụ nữ trên 15 tuổi có việc làm trong khi tỷ lệ này ở nam giới là 74% [35]

Theo số liệu Ngân hàng Thế giới đưa ra, thu nhập bình quân đầu người của

20 nước nghèo nhất thế giới hầu như không thay đổi trong vòng 40 năm qua (từ

212 USD năm 1960 - 1962 lên 265 USD năm 2000 – 2002), trong khi thu nhập bình quân đầu người của 20 quốc gia giàu nhất thế giới tăng gấp 3 lần, từ 11.417 USD lên 32.339 USD [7, tr.12]

"Thế kỷ XX đã chứng kiến sự tiến bộ vượt bậc trong công cuộc giảm đói nghèo và cải thiện phúc lợi của nhân loại Trong 4 thập niên cuối của thế kỷ XX, tuổi thọ bình quân ở các nước đang phát triển đã tăng trung bình 20 năm, tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh đã giảm hơn một nửa, và tỷ lệ sinh cũng giảm gần một nửa

Từ năm 1965 đến 1998, thu nhập bình quân ở các nước đang phát triển tăng hơn

2 lần [25] Tình hình đói nghèo tuy được cải thiện đáng kể do những nỗ lực vươn lên của các quốc gia và sự trợ giúp của cộng đồng thế giới nhưng sự cải thiện này là không đồng đều do nhiều quốc gia chưa đạt được tăng trưởng

Theo con số thống kê của Ngân hàng thế giới, tăng trưởng mạnh mẽ ở khu vực Đông Á đã giúp giải thoát hơn 480 triệu người khỏi cảnh đói nghèo kể từ năm 1981 Trong giai đoạn 1990-2001, tốc độ này phần nào giảm xuống, từ 1,2

tỷ xuống 1,1 tỷ người; tỷ lệ người nghèo đã giảm từ 28% xuống chỉ còn 21% tổng dân số [47]

2.1.2 Tình hình đói nghèo tại Việt Nam:

Trang 38

Việt Nam được xếp vào nhóm các nước nghèo của thế giới Tỷ lệ hộ nghèo của Việt Nam còn khá cao

Trong hai thập kỷ qua tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, với mức tăng bình quân 8 - 9% mỗi năm, đã làm giảm tỷ lệ nghèo theo thống kê giảm rõ rệt Tỷ lệ nghèo, theo chuẩn nghèo quốc tế đã giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 28,9% năm 2002 và xuống còn 20% trong năm 2004 Tỷ lệ nghèo lương thực thực phẩm cũng giảm từ 9,9% năm 2002 xuống còn 6,9% năm 2004 [75] Điều này cho thấy một nửa tỷ lệ dân số sống dưới ngưỡng nghèo đã được giảm trong vòng chưa đầy một thập kỷ [1]

Nghèo đói ở Việt Nam là một hiện tượng phổ biến ở nông thôn, khoảng 90% người nghèo sống ở nông thôn và 45% dân nông thôn sống dưới ngưỡng nghèo[2, tr.3] Hiện có khoảng 5-10% dân số Việt Nam vẫn nằm trong diện dễ

bị rơi vào vòng nghèo đói [1, tr.xiv]

Mặc dù Việt Nam đã đạt được những thành công rất lớn trong việc giảm tỷ

lệ nghèo, tuy nhiên những thành tựu này vẫn còn rất mong manh Trên thực tế, thu nhập của một bộ phận lớn dân cư vẫn nằm giáp ranh mức nghèo, do vậy chỉ cần những điều chỉnh nhỏ về chuẩn nghèo cũng khiến họ lại bị liệt vào nhóm nghèo và làm tăng tỷ lệ nghèo

Đi đôi với kết quả tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tình trạng bất bình đẳng, đặc biệt là khoảng cách ngày càng rộng hơn về mức thu nhập giữa nông thôn và thành thị cũng như mức chênh lệch ngày càng lớn xuất phát từ tình trạng ngăn cách về các mặt địa lý, xã hội, dân tộc và ngôn ngữ Theo Tổng cục Thống

kê Việt Nam, khoảng cách giàu - nghèo của nước ta hiện ở mức cao nhất trong vòng một thập kỷ qua: thu nhập của 10% hộ gia đình giàu có cao gấp 13,5 lần 10% những hộ nghèo nhất Khoảng cách này tăng liên tục từ mức 10,6 lần năm

Trang 39

1996 lên 12 lần năm 1999 và 12,5 lần năm 2001 [66] Tỷ trọng trong tổng chi tiêu của 80% những người nghèo nhất đã giảm trong thời gian qua, trong khi đó thì tỷ trọng trong tổng chi tiêu của 20% giàu nhất lại tăng lên [1, tr.xiv]

Trong các nỗ lực xoá đói giảm nghèo, ngay từ năm 2001, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tổ chức xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ thông qua Chiến lược tăng trưởng và xoá đói giảm nghèo toàn diện (CPGRS) qua đó công tác xoá đói giảm nghèo đã được chú trọng như một trọng tâm giải quyết của đất nước

Có thể nói, đói nghèo vẫn là thách thức đối với Việt Nam Làm thế nào để giải quyết triệt để vấn đề đói nghèo một cách hiệu quả nhất, bền vững nhất? Làm thế nào để cải thiện và phát triển đời sống nhân dân tiến kịp các nước trong khu vực và từng bước hội nhập phát triển với thế giới vẫn là bài toán khá phức tạp đối với Việt Nam Để giải quyết bài toán này, Việt Nam phải nỗ lực hết mình đồng thời mở rộng quan hệ hợp tác quốc tế để nhận được những hỗ trợ từ bên ngoài để có thể hoàn thành tốt các Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ và tạo tiền

đề phát triển cho đất nước, cải thiện đời sống nhân dân

2.2 Tác động của vấn đề đói nghèo đối với Quan hệ quốc tế

Đói nghèo là một vấn đề nan giải mà nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt

là các quốc gia đang phát triển và kém phát triển, gặp phải Xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, đói nghèo đã và đang tác động không nhỏ không chỉ tới các quốc gia mà còn cả trong mối quan hệ quốc tế

Được coi là thách thức lớn nhất mà nhân loại phải đối mặt trong thế kỷ XXI, cựu Tổng giám đốc Ngân hàng Thế giới (World Bank), ông Wolfenson, đã nói rằng đói nghèo sẽ là sự chia rẽ lớn nhất của thế kỷ XXI

2.2.1 Trong lĩnh vực an ninh - chính trị

Trang 40

Đói nghèo gây sự chia rẽ trong quan hệ quốc tế, điển hình là sự chia rẽ Bắc-Nam Sau sự chia rẽ Đông-Tây của Chiến tranh lạnh, có sự chia rẽ tăng

nhanh chóng giữa con người, quốc gia và khu vực với nhau mà đói nghèo là một trong những tiêu chí phân chia lớn nhất Đó là sự phân chia các nước phát triển

và đang phát triển, Bắc và Nam, nước giàu và nước nghèo Sự chia rẽ này tạo ra mối nguy cơ bất ổn về an ninh, bất đồng về chính trị và bất mãn về kinh tế Tất

cả những nguy cơ này tiềm ẩn trong "mâu thuẫn Bắc-Nam" đang ngày càng gay gắt Điều đáng lưu ý là trong thế giới toàn cầu hoá hiện nay, sự đói nghèo cùng cực đang đan xen giữa sự giàu có và sự phân chia bất công của những của cải toàn cầu

Sự chia rẽ khoảng cách giàu - nghèo trong quan hệ quốc tế không bao giờ

là điều kiện thuận lợi cho ổn định và an ninh vốn là thứ cần phải có sự hợp tác của các bên liên quan Đói nghèo gây ra sự bất ổn trong nội bộ một quốc gia nhưng đồng thời cũng có thể lan sang các nước khác, gây ảnh hưởng tới tình hình an ninh chính trị quốc tế

Đói nghèo dẫn đến tình trạng di cư của một bộ phận dân số từ vùng này sang vùng khác, nước này sang nước khác nhằm tìm kiếm một cuộc sống tốt hơn Tình trạng di cư bất hợp pháp là một ví dụ gây bất ổn về an ninh do đói nghèo gây ra Trong phạm vi quốc tế và ở mỗi vùng, người ta nhận thấy có nhiều

lý do liên quan đến hiện tượng di dân như sự gia tăng quá mức của tỷ lệ tăng dân

số, mức độ phát triển kinh tế thấp, sự giảm sút trong thu nhập và mức sống, mức

độ chênh lệch khác nhau về các nguồn lợi trong tự nhiên Khi người dân ở một khu vực không được đáp ứng các điều kiện cơ bản để sinh sống và phát triển, như một lẽ tự nhiên họ sẽ đi tìm những vùng đất khác để cuộc sống dễ chịu hơn,

và các nước lân cận với sự phát triển hơn hẳn sẽ là thiên đường mơ ước và đích

Ngày đăng: 23/03/2015, 13:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Báo cáo chung của các nhà tài trợ tại Hội nghị tư vấn các nhà tài trợ Việt Nam (2003), Báo cáo phát triển Việt Nam 2004, Nghèo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo phát triển Việt Nam 2004, Nghèo
Tác giả: Báo cáo chung của các nhà tài trợ tại Hội nghị tư vấn các nhà tài trợ Việt Nam
Năm: 2003
2. Báo cáo chung của nhóm công tác các chuyên gia chính phủ - Nhà tài trợ - Tổ chức phi chính phủ, Hội nghị các nhà tài trợ cho Việt Nam (1999), Việt Nam tấn công nghèo đói, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam tấn công nghèo đói
Tác giả: Báo cáo chung của nhóm công tác các chuyên gia chính phủ - Nhà tài trợ - Tổ chức phi chính phủ, Hội nghị các nhà tài trợ cho Việt Nam
Năm: 1999
3. DFID - Bộ phát triển Quốc tế vương quốc Anh(2004), Việt Nam: Chương trình hỗ trợ quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam
Tác giả: DFID - Bộ phát triển Quốc tế vương quốc Anh
Năm: 2004
4. Đinh Quý Độ (2004), Trật tự Kinh tế quốc tế 20 năm đầu thế kỷ XXI, Nxb Thế giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trật tự Kinh tế quốc tế 20 năm đầu thế kỷ XXI
Tác giả: Đinh Quý Độ
Nhà XB: Nxb Thế giới
Năm: 2004
5. Hans-Rimbert Hemmer (2002), Toàn cầu hoá và các nước đang phát triển, Nxb ĐHQGHN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn cầu hoá và các nước đang phát triển
Tác giả: Hans-Rimbert Hemmer
Nhà XB: Nxb ĐHQGHN
Năm: 2002
6. Ngân hàng Thế giới (2006), Báo cáo phát triển thế giới 2007, Phát triển và thế hệ kế cận, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo phát triển thế giới 2007, Phát triển và thế hệ kế cận
Tác giả: Ngân hàng Thế giới
Nhà XB: Nxb Văn hoá Thông tin
Năm: 2006
7. Ngân hàng Thế giới (2006), Tìm hiểu về Ngân hàng Thế giới, Sách hướng dẫn cho giới trẻ, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu về Ngân hàng Thế giới
Tác giả: Ngân hàng Thế giới
Nhà XB: Nxb Văn hoá Thông tin
Năm: 2006
8. Ngân hàng Thế giới (2005), Báo cáo phát triển thế giới 2005: Môi trường đầu tư tốt hơn cho mọi người, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo phát triển thế giới 2005: Môi trường đầu tư tốt hơn cho mọi người
Tác giả: Ngân hàng Thế giới
Nhà XB: Nxb Văn hoá Thông tin
Năm: 2005
9. Ngân hàng Thế giới (2001), Tổng quan: Tấn công đói nghèo: cơ hội, sự trao quyền và vấn đề an sinh. Báo cáo về tình hình phát triển thế giới 2000/2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan: Tấn công đói nghèo: cơ hội, sự trao quyền và vấn đề an sinh
Tác giả: Ngân hàng Thế giới
Năm: 2001
10. Kim Ngọc (2005), Triển vọng kinh tế Thế giới 2020, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Triển vọng kinh tế Thế giới 2020
Tác giả: Kim Ngọc
Nhà XB: Nxb Lý luận chính trị
Năm: 2005
11. Nguyễn Quang Ngọc. Tiến trình lịch sử Việt Nam. Nxb Giáo Dục. Hà Nội, 2000. Trang75 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiến trình lịch sử Việt Nam
Nhà XB: Nxb Giáo Dục. Hà Nội
12. Vũ Dương Ninh- Nguyễn Văn Hồng (2001), Lịch sử thế giới cận đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử thế giới cận đại
Tác giả: Vũ Dương Ninh- Nguyễn Văn Hồng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
13. Nguyễn Trần Quế (1999), Những vấn đề toàn cầu ngày nay, TTKHXH và NVQG, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề toàn cầu ngày nay
Tác giả: Nguyễn Trần Quế
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 1999
14. Nguyễn Anh Thái (2001), Lịch sử thế giới hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử thế giới hiện đại
Tác giả: Nguyễn Anh Thái
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
15. Ruth Alsop, Mette Bertelsen, and Jeremy Holland (2006), Trao quyền trong thực tế, Từ phân tích đến thực hiện, Ngân hàng thế giới, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trao quyền trong thực tế, Từ phân tích đến thực hiện
Tác giả: Ruth Alsop, Mette Bertelsen, Jeremy Holland
Nhà XB: Ngân hàng thế giới
Năm: 2006
16. Samir Amin và Francois Houtart (2004), Toàn cầu hoá các cuộc phản kháng. Hiện trạng các cuộc đấu tranh 2002, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn cầu hoá các cuộc phản kháng. Hiện trạng các cuộc đấu tranh 2002
Tác giả: Samir Amin và Francois Houtart
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
17. Văn phòng Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam (2004), Việt Nam và Ngân hàng Thế giới cùng hành động vì một thế giới không có đói nghèo, Nxb Lao động, Hà NộiTiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam và Ngân hàng Thế giới cùng hành động vì một thế giới không có đói nghèo
Tác giả: Văn phòng Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam
Nhà XB: Nxb Lao động
Năm: 2004
18. Blanca Moreno -Dodson (2004), Reducing poverty on global scale, The World Bank, Washington DC Sách, tạp chí
Tiêu đề: Reducing poverty on global scale
Tác giả: Blanca Moreno -Dodson
Năm: 2004
19. Britanica 1999, Poverty, Famine, Major historical famines, FAO 20. Charles W.Kegley, Jr & Eugene R. Wittkoft (1993), World Politics:Trend and Transformation, St. Martin's Press. New York Sách, tạp chí
Tiêu đề: World Politics: Trend and Transformation
Tác giả: Charles W. Kegley, Jr, Eugene R. Wittkoft
Nhà XB: St. Martin's Press
Năm: 1993
22. Joshua S. Goldstein (1999), International Relations, Longman, New York TẠP CHÍ Sách, tạp chí
Tiêu đề: International Relations
Tác giả: Joshua S. Goldstein
Nhà XB: Longman
Năm: 1999

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1: Tình hình nghèo nàn trên thế giới - Vấn đề đói nghèo trong quan hệ quốc tế hiện nay
Bảng 2.1 Tình hình nghèo nàn trên thế giới (Trang 29)
Sơ đồ 3.1: Tổng trị giá cho vay của IBRD - IDA - Vấn đề đói nghèo trong quan hệ quốc tế hiện nay
Sơ đồ 3.1 Tổng trị giá cho vay của IBRD - IDA (Trang 81)
Bảng 3.2: Xu thế ODA 1990 - 2005 - Vấn đề đói nghèo trong quan hệ quốc tế hiện nay
Bảng 3.2 Xu thế ODA 1990 - 2005 (Trang 86)
Bảng 3.3: FDI theo vùng nhận đầu tư - Vấn đề đói nghèo trong quan hệ quốc tế hiện nay
Bảng 3.3 FDI theo vùng nhận đầu tư (Trang 89)
Bảng 1: Số tiền nợ của các nước nghèo nhất được IMF và WB nêu ra trong hội - Vấn đề đói nghèo trong quan hệ quốc tế hiện nay
Bảng 1 Số tiền nợ của các nước nghèo nhất được IMF và WB nêu ra trong hội (Trang 119)
Bảng 2. Bảng xếp hạng HDI trên toàn thế giới - Vấn đề đói nghèo trong quan hệ quốc tế hiện nay
Bảng 2. Bảng xếp hạng HDI trên toàn thế giới (Trang 120)
Bảng 3: Dự kiến tình hình dân số thiếu ăn trên thế giới - Vấn đề đói nghèo trong quan hệ quốc tế hiện nay
Bảng 3 Dự kiến tình hình dân số thiếu ăn trên thế giới (Trang 126)
Bảng 4: Tốc độ tăng trưởng thu nhập đầu người và thay đổi tỷ lệ nghèo của các - Vấn đề đói nghèo trong quan hệ quốc tế hiện nay
Bảng 4 Tốc độ tăng trưởng thu nhập đầu người và thay đổi tỷ lệ nghèo của các (Trang 127)
Bảng 5: Tỷ lệ nghèo đói theo chuẩn quốc gia ở các quốc gia và trong các năm khác - Vấn đề đói nghèo trong quan hệ quốc tế hiện nay
Bảng 5 Tỷ lệ nghèo đói theo chuẩn quốc gia ở các quốc gia và trong các năm khác (Trang 128)
Bảng 6: Các mục tiêu phát triển của Việt Nam - Vấn đề đói nghèo trong quan hệ quốc tế hiện nay
Bảng 6 Các mục tiêu phát triển của Việt Nam (Trang 129)
Bảng 7: Sản lượng lương thực thế giới  Thời gian  Sảng lượng (triệu tấn)  Tăng so với năm 1970 - Vấn đề đói nghèo trong quan hệ quốc tế hiện nay
Bảng 7 Sản lượng lương thực thế giới Thời gian Sảng lượng (triệu tấn) Tăng so với năm 1970 (Trang 131)
Bảng 9: Tỷ lệ nghèo  và khoảng cách nghèo của Việt Nam - Vấn đề đói nghèo trong quan hệ quốc tế hiện nay
Bảng 9 Tỷ lệ nghèo và khoảng cách nghèo của Việt Nam (Trang 132)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w