1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đức Đạt Lai Lạt Ma XIV và quan hệ Trung Quốc - Ấn Độ

102 619 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 1,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngoài những lý do trên, sự thôi thúc tìm hiểu vị trí địa chính trị Tây Tạng, quyền tự quyết các dân tộc, cuộc đấu tranh văn hóa và hệ giá trị mà tác giả chọn đề tài “Đức Đạt Lai Lạt Ma X

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

- -NGUYỄN TẤT LÂN

ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA XIV

VÀ QUAN HỆ TRUNG QUỐC - ẤN ĐỘ

Luận văn Thạc sĩ Chuyên ngành: Quan hệ quốc tế

Mã số: 60 31 02 06

Người hướng dẫn khoa học: TSKH Lương Văn Kế

Hà Nội - 2014

Trang 3

LỜI TRI ÂN

Con người chỉ là một mảnh vụn tri thức vi tiểu, hoàn toàn bất lực trước lý sinh - diệt giữa muôn trùng nhân duyên và duyên khởi Để từ

đó, nỗ lực truy nguyên những giá trị đích thực, vượt qua những chướng ngại trên đường tìm về chân lý, vượt qua những cám dỗ đời thường để tìm lại chính mình là sự nghiệp muôn đời

Trong dòng chảy đó, luận văn này ra đời đánh dấu bước khởi đầu cho sự truy nguyên ấy, để làm bệ phóng cho sự truy tầm sau này

Xin chân thành tri ân:

- Ban Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội

- Ban chủ nhiệm khoa Khoa Quốc tế học

- Đảnh lễ niệm ân Hòa thượng ân sư thượng Minh hạ Tuấn

- Đảnh lễ niệm ân Hòa thượng thượng Bảo hạ Nghiêm

- Huynh đệ Thiền viện Bồ Đề, chư Tăng chùa Bằng – Hà Nội

- Ba Mẹ, anh chị em, bạn bè, đồng học, đạo hữu

- Những tác giả mà tôi đã tiếp cận nguồn tài liệu tham khảo

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

- -

Tôi xin cam đoan, luận văn với đề tài:

“Đức Đạt Lai Lạt Ma XIV và quan hệ Trung Quốc - Ấn Độ” là công trình nghiên cứu của riêng tôi Ngoại trừ những nội dung tham khảo có kèm theo nguồn trích dẫn có độ tin cậy và được sử dụng trung thực, luận văn này không bao gồm một phần hoặc toàn bộ nội dung của bất kỳ công trình nào đã được công bố để nhận văn bằng hay học vị ở bất kỳ cơ sở đào tạo nào khác

Hà Nội, ngày 02 tháng 6 năm 2014

Người thực hiện

Học viên NGUYỄN TẤT LÂN

Trang 5

DANH MỤC BẢNG VIẾT TẮT

1 AFP: Agence France - Presse, Hãng thông tấn xã Pháp

2 BBC: British Broadcasting Corporation, Thông tấn xã quốc gia của Vương

quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland

3 CNN: Cable News Network, Mạng Tin tức Truyền hình cáp Hoa Kỳ

4 CHND TRUNG HOA : 中華人民共和國 the People's Republic of China, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa

5 CMVH: 文化大革命 the Cultural Revolution, Đại cách mạng Văn hóa

6 CCTV: 中国中央电视台 China Central Television, Ðài Truyền hình Trung

ương Trung Quốc

7 ÐCS TRUNG QUỐC: 中國共産黨 The Communist Party of China, Ðảng

Cộng sản Trung Quốc

8 EAS: The East Asia Summit, Hội nghị cấp cao Đông Á

9 GCHQ: Government Communications Headquarters, Trụ sở Truyền thông

chính phủ

10 NED: National Endowment for Democracy, Tổ chức Hỗ trợ Dân chủ

11 PLA: 中 國 人 民 解 放 軍 The People's Liberation Army, Quân đội Giải

phóng Nhân dân Trung Quốc

12 RFA: Radio Free Asia, Đài Á Châu tự do

13 TYC: The Tibetan Youth Congress, Hô ̣i Thanh niên Tây Tạng

14 TTTT: 西藏自治區 The Tibet Autonomous Region, Khu tự trị Tây Tạng

15 THDQ: 中华民国 Republic of China, Trung Hoa dân quốc

Trang 6

16 UNESCO: United Nations Educational Scientific and Cultural Organization,

Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hoá của Liên Hợp Quốc

17 VOA: The Voice of America, Đài tiếng nói Hoa Kỳ

Trang 7

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 9

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA XIV 17

1.1 Khái quát về Đức Đạt Lai Lạt Ma XIV 17

1.1.1 Lịch sử Tây Tạng 17

1.1.2 Cuộc đời Đức Đạt Lai Lạt Ma XIV 22

1.2 Vị trí của Đức Đạt Lai Lạt Ma XIV 27

1.2.1 Trở thành lãnh tụ thế quyền, lãnh đạo đất nước 27

1.2.2 Trở thành lãnh tụ thần quyền, hướng dẫn tâm linh: 33

1.3 Tiểu kết 38

Chương 2: VAI TRÒ ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA XIV TRONG QUAN HỆ TRUNG QUỐC - ẤN ĐỘ VÀ ĐỜI SỐNG QUỐC TẾ 39

2.1 Quan điểm của Trung Quốc và Ấn Độ về vấn đề Tây Tạng mà Đức Đạt Lai Lạt Ma XIV đại diện 39

2.1.1 Quan điểm của Trung Quốc 39

2.1.2 Quan điểm của Ấn Độ 48

2.2 Vai trò của Đức Đạt Lai Lạt Ma đối với quan hệ Trung Quốc - Ấn Độ 53

2.2.1 Quan hệ Trung - Ấn sau năm 1959 53

2.2.2 Tác động đến quan hệ Trung - Ấn ngày nay 57

2.3 Vai trò của Đức Đạt Lai Lạt Ma XIV ảnh hưởng đến đời sống quốc tế 63

2.3.1 Ảnh hưởng đến chính sách của Hoa Kỳ 63

2.3.2 Ảnh hưởng đến chính sách của Vương quốc Anh 68

2.4 Tiểu kết: 71

Chương 3: NHẬN ĐỊNH VÀ DỰ BÁO QUAN HỆ TRUNG - ẤN HẬU ĐẠT LAI LẠT MA XIV 72

3.1 Đấu tranh tự trị Tây Tạng tác động đến quan hệ Trung - Ấn 72

3.2 Dự báo quan hệ Trung - Ấn hậu Đạt lai Lạt Ma 80

3.3 Tiểu kết 87

Trang 8

KẾT LUẬN 88 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 92

Trang 9

chiêm bái thánh địa này đã viết:

Tây quy độc diệu thiên chơn bảo Tạng xuất hàm linh địa chánh hương.1[40]

Nghĩa là Ngọc báu của trời riêng tỏa ánh sáng kỳ diệu từ Tây lại Chính

hương của đất này chứa linh thiêng do Tạng sinh Như vậy, chính điểm kỳ diệu

đầy bí tích ấy mà Tây Tạng - “nóc nhà thế giới” với những ngọn núi sừng sững phủ băng tuyết quanh năm trên dãy Himālaya - là hình ảnh uy nghiêm huyền hoặc khiến bất kỳ ai biết đến đều mong trở về để trầm tư, nhìn lại chính mình để xem gương mặt trước khi cha mẹ sinh ra như thế nào

Nổi bậc giữa thủ phủ Lhasa với những sự tích và truyền thuyết về Phật giáo cùng những ngôi chùa cổ kính trầm mặc là cung điện Potala - viện bảo tàng sống động của văn hoá Tây Tạng, mang biểu tượng quyền lực gắn với các Tạng Vương

và Đạt Lai Lạt Ma, được xây dựng vào thế kỷ thứ 7, đánh dấu cuộc hôn nhân chính trị giữa Tạng vương Tùng Tán Cán Bố và công chúa Văn Thành nhà Đường

Với bề dày và chiều sâu lịch sử cũng như những nét văn hóa đặc trưng được công nhận là di sản văn hóa thế giới cần được bảo tồn thì giữa không gian u tịch ấy,

một đốm lửa đau thương với hình ảnh chàng thanh niên Jamphel Yeshi bốc cháy

như ngọn đuốc sống ngày 26/3/2012 được loan tải trên BBC (British Broadcasting Corporation) đã làm bùng lên sự xáo động giữa khoảng không tịch lặng đó khiến bao người có lương tri phải dấy lên một nỗi niềm riêng – chung!

Trang 10

Để rồi ngược dòng thời gian, người ta không chỉ nhận ra vị thế địa chính trị

mà còn nhận chân hệ giá trị văn hóa đặc trưng Tây Tạng Bên cạnh đó, người ta cũng nhận ra sự hòa quyện giữa chính trị và tôn giáo qua hình ảnh Đức Đạt Lai Lạt

Ma XIV – người lãnh đạo nhân dân Tây tạng cả thế quyền lẫn thần quyền và lời kêu gọi thế giới ủng hộ sự tự trị đích thực nhằm bảo tồn giá trị văn hóa đặc trưng, cho

sự tồn vong của dân tộc Tây Tạng

Người ta không thể không tự hỏi, bởi nguyên nhân nào mà mỗi bước chân của Ngài trên đường hoằng hóa, chuyển tải thông điệp hòa bình, và lên tiếng cho nhân quyền, cho phẩm giá con người, cho sự bảo tồn những di sản văn hóa đặc trưng Tây Tạng lại gặp những trở ngại từ nhà cầm quyền Trung Quốc, và trong quan hệ láng giềng Trung - Ấn vốn không êm ấm, lại gia tăng căng thẳng, dấy lên những con sóng xung đột trên nhiều khía cạnh Phải chăng sự lưu vong của Ngài hay yếu tố Tây Tạng mà Ngài là đại diện như “giọt nước tràn ly” trong quan hệ ấy? Hay đó là chìa khóa then chốt để giải quyết vấn đề Trung - Ấn? Tất cả vấn đề đều xoay quanh mối tương tác qua lại giữa Ngài và quan hệ Trung - Ấn từ trước đến nay

Ngoài những lý do trên, sự thôi thúc tìm hiểu vị trí địa chính trị Tây Tạng, quyền tự quyết các dân tộc, cuộc đấu tranh văn hóa và hệ giá trị mà tác giả chọn đề

tài “Đức Đạt Lai Lạt Ma XIV và quan hệ Trung Quốc - Ấn Độ” làm luận văn thạc sỹ

chuyên ngành Quan hệ quốc tế

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Hiện nay là thời kỳ đổi mới để hội nhập quốc tế nên mọi dị biệt đều cần tìm hiểu nhằm tiến đến sự hài hòa để cùng tồn tại Cho nên, đây là công trình nghiên cứu đầu tiên tại Việt Nam về sự tương tác qua lại giữa Đức Đạt Lai Lạt Ma XIV với quan hệ Trung - Ấn Vì vậy, ở đây chỉ nêu lên một số tài liệu có chút liên quan đến vấn đề nghiên cứu này để mục đích góp phần làm sáng tỏ vấn đề thiết yếu

Có một tài liệu đã được xuất bản và lưu hành trong nước từ năm 1959, đó là

Vấn đề Tây Tạng, do nhà xuất bản Sự Thật Hà Nội, ấn hành năm 1959, 77 trang,

Trang 11

gồm bài Xã hội Tây Tạng của thủ tướng Chu Ân Lai nói về Chính sách dân tộc của

nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa; bài nói chuyện của thủ tướng Jawaharlal

Nehruvề Vấn đề Tây Tạng; và cuối cùng là bài Cách mạng ở Tây Tạng và triết học

của ông Nehru của Ban biên tập Nhân dân nhật báo Bắc Kinh

Trong tác phẩm này, bài của thủ tướng Chu Ân Lai là trích yếu báo cáo đọc tại phiên họp thứ nhất của Quốc hội Trung Quốc khóa hai, khai mạc ngày 18/4/1959, đề cập đến chính sách dân tộc của Trung Quốc và phiến loạn Tây Tạng Bài nói chuyện của thủ tướng Nehru vào ngày 27/4/1959 tại Hạ nghị viện Ấn Độ,

đề cập chính sách Ấn Độ về việc cho phép Đức Đạt Lai Lạt Ma XIV cư trú

Bài cuối cùng của Ban biên tập Nhân dân nhật báo Bắc Kinh bình luận về

phát biểu của Thủ tướng Nehru theo quan điểm của Chính phủ Trung Quốc Như vậy, các bài trên có thể xem là quan điểm chính thức của Trung Quốc, của Ấn Độ

về Tây Tạng, song chỉ là bài phát biểu chứ chưa phải là một nghiên cứu mang tính khoa học và nhất là thông tin đã cũ so với hiện thực bây giờ về Tây Tạng

Và một bản tin ngắn trong Tin tham khảo thế giới của Thông tấn xã Việt Nam, ngày 27/12/2006, số 299, trang 3, vỏn vẹn 19 dòng, với tựa đề Dalai Lama

đòi thêm quyền tự trị cho Tây Tạng, có đề cập đến quan hệ Trung - Ấn

Riêng các nhà nghiên cứu nước ngoài, về tiếng Anh, có bài nghiên cứu Vấn

đề, Triển vọng và chính sách Hoa Kỳ2

của Kerry Dumbaugh - chuyên gia về châu Á thuộc Ban Nghiên Cứu Quốc Hội Hoa Kỳ, vào ngày 10/4/2008, là một bức tranh rõ nét về Tây Tạng và cả những năm nổ ra cuộc chiến năm 1959, nêu bật vấn đề, triển vọng và cả chính sách của Hoa Kỳ và mới đây, Đức Đạt Lai Lạt Ma XIV nhận huân chương công dân danh dự của Hoa Kỳ

Bài Tây Tạng là chìa khóa trong quan hệ Trung - Ấn 3 của Brahma Chellaney

- Giáo sư nghiên cứu chiến lược tại Trung tâm nghiên cứu chính sách có trụ sở tại New Delhi, đề cập đến quan hệ Ấn Độ và Trung Quốc mà then chốt là vấn đề Tây

Trang 12

Tạng khi Ấn Độ cho phép Đức Đạt Lai Lạt Ma XIV sống lưu vong tại Dharmaśālā, Bắc Ấn và lập chính phủ lưu vong tại đó.v.v

Về tiếng Trung, đặc biệt bài viết Tây Tạng đích chủ quyền quy thuộc dự

nhân quyền trạng huống4 được xem là Bạch thư của Trung Quốc về vấn đề Tây Tạng, ban hành bởi Văn phòng Thông tin Quốc hội CHNDTH tháng 9/1992, bao quát từng chính sách, chủ trương xây dựng và phát triển Tây Tạng, cũng như liên quan đến Ấn độ trong việc hoạch định đường biên Luận văn dựa chủ yếu vào nội dung bài này để minh chứng cụ thể quan điểm của Trung Quốc về Tây Tạng

Bài Vấn đề Tây Tạng bàn về vấn đề Tây Tạng của chính phủ Trung Quốc có

chủ quyền không thể tranh cải qua các thời kỳ lịch sử, chính sách của Trung Quốc đối với Đức Đạt Lai Lạt Ma – không bao giờ chấp nhận cho giải pháp độc lập và cả việc đầu tư phát triển kinh tế tại Tây Tạng nhằm nhanh chóng và phát triển toàn diện, xây dựng một loạt các chính sách và ưu đãi đặc biệt cho các phân bổ tài chính rất lớn, đầu tư vào cơ sở hạ tầng

Và một số bài viết, bài phỏng vấn trực tiếp Đức Đạt Lai Lạt Ma, hay các quan chức Trung Quốc, Ấn Độ cũng như Hoa Kỳ được đăng tải trên các tờ báo uy tín mà luận văn đã giới thiệu và trích dẫn trước sự kiện “thiếu nước thừa lửa” này của các giáo sư, tác giả mà tôi đã trích dẫn trong phần Danh mục tài liệu tham khảo như Abanti Bhattacharya, Algemon Rumbold, Bhaskar Roy, Brendan O’Neill, Ben Hillman, Hu Yan và Robert Barnett, v.v

Trong số các tài liệu tham khảo, có một số tác phẩm do Đức Đạt Lai Lạt Ma XIV viết hay các tác giả khác viết hoặc phỏng vấn Ngài về vấn đề Tây Tạng, về những vấn đề lịch sử, văn hóa, phong tục cũng như ước nguyện tự trị để bảo tồn văn hóa và xây dựng mô hình dân chủ, và quan hệ Trung - Ấn mà tác giả luận văn đã đưa trong phần trích dẫn nên ở đây chỉ nêu vài tác phẩm tiêu biểu:

4 西藏的主權歸屬與人權狀況 Its Ownership and Human Rights Situation

Trang 13

Thứ nhất, My Land and My People của Đức Đạt lai Lạt Ma XIV đề cập rõ

nét lịch sử hình thành con người và đất nước Tây Tạng với vị thế pháp lý như một quốc gia, nói rõ cuộc đời Ngài từ khi sinh ra cho đến lúc trưởng thành, việc rèn luyện tâm tìm kiếp sự giác ngộ, tìm kiếm sự bình yên giữa những xáo động của thời cuộc chính sự Tây Tạng Rồi tác phẩm mô tả người bạn láng giềng Trung Quốc và cuộc xâm lăng vào Tây Tạng; những chính sách đàn áp và nỗi căm hờn của nhân dân sống trong lòng đất nước Trung Hoa; cuộc khủng hoảng Lhasa và sự trốn thoát đến lưu vong ở Ấn Độ, tri ân chính phủ Ấn Độ cho phép Ngài cư trú, bắt đầu cho sự hiện diện của Ngài trong tương tác với quan hệ Ấn – Trung và vài quan điểm về tương lai Tây Tạng

Thứ hai, Đức Đạt lai Lạt Ma dùng sự thật hóa giải các vấn nạn về Trung Quốc, Tây Tạng và thế giới5 của Robert Thurman, dày 231 trang, do Beyon Word xuất bản năm 2008, có ba phần Phần một bàn về Đức Đạt Lai Lạt Ma và lời kêu gọi cải cách đạo đức; phần hai, nói về con đường trung đạo cho giải pháp Tây Tạng; phần ba, bàn đến sự phục hồi và các giải pháp cho việc phát triển kinh tế và mô hình dân chủ

Như vậy, các tài liệu trên vẫn xoay quanh vấn đề vị thế Tây Tạng, thậm chí

có nêu lên cách thức giải quyết vấn đề Tây Tạng và quan hệ Trung - Ấn, nhưng chưa nêu rõ vị thế của Ngài tác động qua lại giữa quan hệ ấy Đồng thời, những tác phẩm này xoay quanh những quan điểm, nhận định mà tên tác phẩm đã chuyển tải

rõ nội dung không bàn thêm ở đây

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Qua hình ảnh thiêng liêng của Tây Tạng đang “thiếu nước thừa lửa”; một không gian tĩnh lặng này đang bị cày xới và bị hủy hoại bởi tham vọng vật chất mà tác giả chọn đề tài này, nhằm nêu lên vai trò của Đức Đạt lai Lạt Ma XIV giữa quan

hệ Trung - Ấn và những tác động trong quan hệ quốc tế

5

Why the Dalai Lama Matters: His Act of Truth as the Solution for China, Tibet, and the World

Trang 14

Tác giả tìm hiểu và nêu lên những uẩn khúc xưa nay về vấn đề biên giới Trung - Ấn, những hoạt động ngày nay của hai nước và sự hiện hữu ngày càng lớn của cộng đồng lưu vong Tây Tạng mà biểu tượng là Đức Đạt Lai Lạt Ma XIV

Do đó, nhiệm vụ cụ thể là:

- nghiên cứu, đánh giá vị thế của Đức Đạt Lai Lạt Ma trong quan hệ Trung

- Ấn, trong quan hệ phức hợp giữa tôn giáo với chính trị, tôn giáo với quan hệ quốc tế

- Nghiên cứu cụ thể quan điểm Trung Quốc và Ấn Độ về Tây Tạng và tác động của Tây Tạng trong quan hệ ấy

- Đồng thời nêu lên một số nhận định về quan hệ này trong tương lai sau khi Đức Đạt Lai Lạt Ma qua đời

- Từ đó, liên hệ bài học cho Việt Nam trong việc quản lý chính sách dân tộc, tôn giáo, nhu cầu tín ngưỡng, văn hóa tâm linh

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Ở đây, tác giả tập trung vào vị trí và vai trò Đức Đạt Lai Lạt Ma XIV tác động đến mối quan hệ Trung - Ấn xưa nay cũng như tác động đến quốc tế, mà điển hình là Anh và Hoa kỳ

Trong phạm vi luận văn này, nghiên cứu nét đặc trưng văn hóa và những yếu

tố tạo nên con người lãnh tụ Tây Tạng, từ lúc sinh ra cho đến hiện tại đang sống lưu vong tại Ấn Độ Đồng thời đặt con người ấy trong không gian quan hệ giữa Trung Quốc và Ấn Độ Nhất là nêu rõ vấn đề xung đột Trung - Ấn về biên giới và vấn đề cho Đức Đạt lai Lạt Ma XIV sống lưu vong, lập chính phủ ở Bắc Ấn Bên cạnh đó, tác giả vẫn liên hệ đến quốc tế mà điển hình là Hoa Kỳ và Anh, để thấy những tác động xung yếu quanh vấn đề nóng bỏng này

5 Phương pháp nghiên cứu

Trang 15

Phương pháp chính của luận văn là phương pháp liên ngành, trong đó có nghiên cứu lịch sử, lý luận quan hệ quốc tế và địa chính trị học, nhất là lý luận về xung đột, lý luận về tôn giáo và quan hệ giữa tôn giáo và chính trị, cùng sự phân tích kết hợp với phương pháp đánh giá định tính, định lượng Bên cạnh đó tác giả cũng sử dụng biện pháp so sánh, tổng hợp tư liệu nhằm làm sáng tỏ các đặc điểm lịch sử, các nét đặc trưng của Tây Tạng và vai trò, vị trí, ảnh hưởng qua lại giữa Đức Đạt Lai Lạt Ma XIV với quan hệ Trung - Ấn và quốc tế

Ngoài việc tôn trọng các nguyên tắc trong chính sách đối ngoại của nhà nước Việt Nam, nhất là quan điểm của Việt Nam về “một nhà nước Trung Quốc” ra, Luận văn tham khảo chủ yếu các tài liệu nghiên cứu của học giả nước ngoài như Tây Tạng, Trung Quốc và Ấn Độ cùng một số nước như Mỹ, Anh

6 Đóng góp của luận văn

Thứ nhất, vai trò cá nhân lãnh tụ chính trị và tinh thân đối với vận mệnh

quốc gia và quan hệ quốc tế thông qua cuộc đời hoạt động của đức Đức Đạt Lai Lạt

Ma XIV

Thứ hai, nêu rõ vai trò tôn giáo trong việc giải quyết các vấn đề toàn cầu

hiện nay

Thứ ba, nêu vai trò của Đức Đạt Lai Lạt Ma trong quan hệ Trung - Ấn từ

trước cho đến nay, và nêu rõ vấn đề Tây Tạng trong việc giải quyết quan hệ Trung -

Ấn

Và thứ tư, đề xuất một số hướng nghiên cứu trong tương lai cho hệ vấn đề

quan hệ Trung-Ấn xung quanh Tây Tạng, sự tác động của vấn đề Tây Tạng qua hình ảnh Đức Đạt Lai Lạt Ma XIV đối với nền chính trị toàn cầu

7 Cấu trúc của luận văn

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ CUỘC ĐỜI ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA XIV

Trang 16

Chương này nêu khái quát về Tây Tạng, về cuộc đời Đức Đạt Lai Lạt Ma XIV – từ thuở lọt lòng cho đến lúc trở thành nhà lãnh đạo đất nước cũng như tinh thần Tây Tạng nhằm giữ gìn và phát huy những giá trị văn hóa, tín ngưỡng thiêng liêng của người dân và những giá trị nào đã hun đúc nên đặc trưng Tây Tạng; và vị trí lãnh đạo thế quyền lẫn thần quyền của Ngài

Chương 2: VAI TRÒ ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA XIV TRONG QUAN

HỆ TRUNG QUỐC - ẤN ĐỘ VÀ ĐỜI SỐNG QUỐC TẾ

Chương này giới thiệu quan điểm của Trung Quốc và Ấn Độ về Ngài qua hình ảnh Tây Tạng Cũng như vai trò lãnh đạo đất nước cũng như đời sống tinh thần của Đức Đạt Lai Lạt Ma XIV đối với Tây Tạng, và ảnh hưởng qua lại, đan xen với nhau giữa Ngài với quan hệ Trung - Ấn từ sau sự biến lưu vong 1959 đến nay và quan hệ ấy tác động đến chính sách hai nước đại diện mà tác giả chọn là Mỹ, Anh

Chương 3: NHẬN ĐỊNH VÀ DỰ BÁO QUAN HỆ TRUNG - ẤN HẬU ĐẠT LAI LẠT MA XIV

Chương này nêu lên nhận định vấn đề then chốt quan hệ Trung - Ấn Cuối cùng, dựa vào những điểm quan trọng trong chu trình đó để đưa ra nhận định và dự báo một vài vấn đề liên quan trong tương lai, hậu Đạt Lai Lạt Ma

Trang 17

Chương 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA XIV 1.1 Khái quát về Đức Đạt Lai Lạt Ma XIV

1.1.1 Lịch sử Tây Tạng

Nhà sử học Ian Buruma6 đã viết trên tờ Los Angeles Times: “người Tây

Tạng có cam chịu đi theo con đường như người Mỹ da đỏ? Họ sẽ thu hút nhiều khách du lịch, rao bán các vật lưu niệm rẻ tiền từ những gì từng là một nền văn hóa tuyệt vời?” 7 Một câu hỏi đắng lòng để người có lương tri phải suy ngẫm, và cũng là hình ảnh mà tác giả luận văn mượn làm lối vào chương này

Trong The Tibetan Empire in Central Asia: A History of the Struggle for

Great Power among Tibetans, Turks, Arabs, and Chinese during the Early Middle Ages của Christopher I Beckwith có đề cập đến lịch sử Tây Tạng như sau:

Tây Tạng lần đầu tiên bước vào lịch sử Trung Quốc với tên gọi là Thổ phồn Sự kiện này được lịch sử Tây Tạng ghi lại và cũng được xác nhận ở nước ngoài khi Vua Nam Nhật Tùng Tán gửi đại sứ sang Trung Quốc đầu thế kỉ thứ 7, đánh dấu sự xuất hiện của Tây Tạng trên trường quốc tế.8

Đầu thế kỷ XIII đế quốc Mông Cổ xâm chiếm “nóc nhà thế giới”, rồi chia ra

để ban thưởng Sau Thành Cát Tư Hãn đến Hốt Tất Liệt, về mặt lý thuyết Tây Tạng nằm dưới ách đô hộ của nhà Nguyên Tuy nhiên, do đặc điểm địa lý hiểm trở, vùng đất này trên thực tế vẫn là một quốc gia độc lập Những người cầm quyền Mông Cổ chấp nhận phái Phật giáo Tây Tạng Shakya quyền lãnh đạo và tuyên bố những Đạt Lai Lạt Ma sẽ là người nắm quyền chính thức

Trang 18

Đến năm 1904, Anh đem quân đội người Ấn chiếm Lhasa, ký hiệp ước 1906 vào ngày 27/4 với Trung Quốc lặp lại các điều kiện biến Tây Tạng thành xứ bảo hộ

thuộc Đế quốc Anh Trong hiệp ước đó, khoản II nói rằng, “Chính phủ Vương quốc

Anh cam kết không thôn tính lãnh thổ hay can thiệp vào chính quyền Tây Tạng Chính phủ Trung Quốc cũng cam kết không cho phép bất kỳ quốc gia nào khác can thiệp vào vùng lãnh thổ hoặc nội bộ Tây Tạng.”9

Đến 1907, một hiệp ước nữa giữa Đế quốc Anh, Trung Quốc và Nga công nhận quyền của Trung Hoa ở Tây Tạng Trung Hoa thiết lập quyền lực lần đầu tiên vào năm 1910, nhưng điều này không tồn tại lâu vì phải rút về nước trong cách mạng 1911, nên vị Đạt Lai Lạt Ma lúc đó tái lập quyền kiểm soát Năm 1913, Mông

Cổ và Tây Tạng ký hiệp ước và ra tuyên bố chung công nhận lẫn nhau và độc lập với Trung Hoa

Đầu 1913, Đức Đạt Lai Lạt Ma XIII tuyên bố Tây Tạng là một nước nhỏ,

độc lập, chuyên phụng sự tôn giáo Ngài nói, “Chúng tôi là một quốc gia nhỏ bé,

tôn giáo, và độc lập”.[117] Nhưng sau đó, thực dân Anh ở Ấn Độ, Trung Quốc đã

dùng sức mạnh để chia cắt Tây Tạng Một phần nhập vào Ấn Độ thuộc Anh, phần còn lại nhập vào Trung Quốc Đây là bi kịch của nước nhỏ trong kỷ nguyên thực

dân, khi luật pháp quốc tế chưa có Như vậy, có thể nói “một giai đoạn dài Tây

Tạng tồn tại như một quốc gia độc lập dù vẫn bị đặt dưới ách đô hộ của Trung Quốc Đến khi nội chiến Trung Quốc xảy ra - quân Cộng sản đánh nhau với quân Tưởng - Tây Tạng nhờ vào vị trí địa lý của mình mà được yên ổn trong một giai đoạn ngắn.” [47]

Năm 1914, Hiệp định Simla được bàn thảo ở Ấn Độ với sự tham dự của đại

diện Trung Hoa Dân Quốc, Tây Tạng và Anh; công nhận quyền thống trị của Trung

9 The Government of Great Britain engages not to annex Tibetan territory or to interfere in the administration

of Tibet The Government of China also undertakes not to permit any other foreign State to interfere with the territory or internal administration of Tibet

第二款英國國家允不佔並藏境及不干涉西藏一切政治。中國國家亦應允不准他外國干涉藏境及其一 切內治 [118]

Trang 19

Hoa lên Tây Tạng và tái khẳng định hiệp ước năm 1906, Vương quốc Anh không xâm phạm lãnh thổ hay can thiệp, và Trung Quốc cũng không cho phép bất kì nước ngoài nào can thiệp vào chính quyền nội bộ Tây Tạng Hiệp định được kí kết, nhưng bị phủ nhận ngay sau đó bởi chính phủ Trung Hoa Dân quốc không bằng lòng với cách vẽ biên giới phân chia thành Nội Ngoại Tây Tạng Cho nên, nhà ngoại giao Henry McMahon và đại diện Tây Tạng kí bản hiệp định song phương với chú thích rằng sẽ không cho Trung Quốc một quyền lợi nào nếu như họ không chịu kí

Vào năm 1942 - 1946 Tây Tạng gửi các phái đoàn đến Trung Quốc mang theo thông điệp sẽ tiếp tục duy trì nền độc lập như một quốc gia được lãnh đạo bởi các vị Dalai Lama thông qua hệ thống chính trị - tôn giáo thực sự Phái đoàn đồng ý tham dự một phiên họp Quốc hội Trung Quốc ở Nam Kinh như là quan sát viên.

Năm 1947 - 1949, phái đoàn thương mại Tây Tạng được cử sang Ấn Độ, Hoa Kỳ, và Anh Những nước được viếng thăm đã cẩn thận không ủng hộ tuyên bố Tây Tạng độc lập, nhưng cho phép phái đoàn du hành với hộ chiếu được cấp bởi Tây Tạng Những quan chức của phái đoàn thương mại này vào Trung Quốc qua đường Hong Kong với hộ chiếu do Tổng lãnh sự Trung Hoa Dân Quốc ở Ấn Độ cấp và lưu lại ba tháng Tuy nhiên, năm 1950 một năm sau khi Cách mạng Trung Quốc thành công, quân đội CHND Trung Hoa tiến vào Lhasa đè bẹp sự chống đối

và đưa ra Tuyên bố 17 điểm ngày 23/5/1951 buộc người Tây Tạng ký vào Chưa đầy

một năm sau, Chính phủ Trung Quốc siết chặt kiểm soát, áp đặt biện pháp quản lý

xã hội Tây Tạng và tăng cường đàn áp sự kháng cự Cho nên, tháng 3/1959, sau cuộc nổi dậy thất bại, Đức Đạt Lai Lạt Ma XIV và hàng ngàn người Tây Tạng đến

Ấn Độ lập chính phủ lưu vong tại Dharmaśālā với mục tiêu đòi quy chế tự trị sâu

sắc, bởi vì tuy mang danh nghĩa là Khu tự trị Tây Tạng nhưng vẫn nằm dưới sự

kiểm soát chặt chẽ của Chính phủ Trung Quốc

Sau khi dập tắt cuộc nổi dậy, Trung Quốc đã thực hiện các chính sách ở Tây

Tạng Về chính trị, đặt Ban Thiền Lạt Ma X làm người lãnh đạo hợp pháp của Tây

Trang 20

Tạng thay Đức Đạt Lai Lạt Ma XIV Năm 1965, khu vực nằm dưới sự cai quản của các vị Dalai Lama từ thập niên 1910 đến năm 1959 được đặt là Khu tự trị Tây Tạng(TTTT) Cho phép người đứng đầu chính quyền là người Tây Tạng, nhưng quyền lực nằm trong tay bí thư Đảng cộng sản, luôn luôn là người Hán

Về chính sách dân số, đồng hóa người Tạng qua văn hóa và các cuộc hôn

nhân dị chủng “Chính sách đồng hóa được thực hiện khi Mao Trạch Đông chiếm

chính quyền năm 1949 Hệ quả là 60 năm sau, chính sách đưa người Hán định cư tại hai khu vực ven biên này làm đảo lộn quân bình dân số Chỉ riêng tại Lhassa, người Hán đã chiếm đến 17% và kiểm soát hầu hết sinh hoạt thương mại.”[28]

Đồng thời, từ 1980, đưa ra chiến dịch kiểm soát sinh và “khuyến khích TTTT thực

hiện chính sách quy hoạch khai sinh qua các đơn vị và phòng khám thai Ngay lập tức, kiểm soát sinh được thắt chặt, áp đặt chương trình kế hoạch hóa gia đình vào những người Tây Tạng dẫn đến các cáo buộc về nạo phá thai và giết trẻ sơ sinh.”[16, p.308]

Thiển nghĩ, nền tảng chính sách kiểm soát sinh này là sự xác tín ý thức hệ phân biệt chủng tộc hạ đẳng, nghĩa là người Hán là con trời, các tộc khác là man rợ cần được khai hóa Từ 1988, thuyết ưu sinh gây tranh cãi về kế hoạch nâng cao chất lượng dân số tại các dân tộc thiểu số Cho nên, trong bài trình bày Dự thảo Luật Quốc gia về thuyết ưu sinh vào tháng 12/1993, kết hợp với tuyên bố vô căn cứ về tinh thần khiếm khuyết của người Tây Tạng, cho thấy Trung Quốc cố ý áp dụng thuyết ưu sinh tại Tây Tạng trong tương lai

Về kinh tế, tăng cường xây dựng cơ sở hạ tầng, thực hiện các chương trình

phúc lợi Từ 1/7/2006, chính thức vận hành tuyến đường sắt cao nhất thế giới, nối thành phố Thanh Hải với Tây Tạng nhằm khai thác tài nguyên và du lịch Đây là một kỳ tích về công nghệ, đem lại cơ hội phát triển to lớn cho khu vực mà Bắc Kinh đánh giá sẽ khai phá Tây Tạng, mang đến sự phồn vinh Tuy nhiên, nhiều người chỉ trích, đó là hồi chuông báo tử nền văn hoá đặc hữu, bởi các nhà môi trường lo ngại những ảnh hưởng đến đường di trú của loài linh dương Tây Tạng quý hiếm Họ

Trang 21

tiêu chí hàng đầu của Trung Quốc, Đức Đa ̣t Lai La ̣t Ma nói : “Tôi hoàn toàn đồng ý

về tầm quan trọng của kinh tế , nhưng con người không giống động vật Với con vật chỉ cần có thức ăn , chỗ ở và không có sự quấy rầy là tốt, nhưng chúng ta là người, nên có khi thậm chí kinh tế nghèo nhưng tinh thần rất hạnh phúc, tự do.”[107]

Vì vậy, theo chuyên gia người Mỹ Dru Gladney, giới học giả và dư luận Phương Tây nhận định, ở Tây Tạng người dân nổi dậy là chuyện tự nhiên, bởi vì

“chính sách Hán hóa được thể hiện qua biện pháp bóp nghẹt văn hóa, tiêu diệt

ngôn ngữ, cản trở sinh hoạt tôn giáo và tự do tín ngưỡng Tệ hại hơn là chính quyền xem người dân như một loại công dân hạng hai ngay trên đất nước của tổ tiên để lại.”[28] Cho nên, tháng 3/2008 cuộc biểu tình diễn ra và bộ máy an ninh Trung

Quốc thẳng tay đàn áp làm 203 người chết, một ngàn người bị thương và gần 6 ngàn người bị bắt giam.” Đây là số liệu do Ủy ban quốc tế ủng hộ Tây Tạng đưa ra

trong hồ sơ kiện chính phủ Trung Quốc tội diệt chủng tại Tòa án Tây Ban Nha

Do đó, năm 2009, trong bài phát biểu kỷ niệm 50 năm cuộc nổi dậy ngày 10/3/1959, nhà lãnh đạo tinh thần Tây Tạng – Đức Đạt Lai Lạt Ma XIV - cáo buộc Trung Quốc mang lại “địa ngục trần gian”, mang lại đau khổ không kể xiết và phá hủy quê hương bằng các chiến dịch đàn áp Ngài đã chỉ rõ những hậu quả khủng

khiếp của các chiến dịch đàn áp đó: “Những người Tây Tạng bị đẩy vào chiều sâu

Trang 22

mẹ, và đưa thêm quân sang tăng cường kiểm soát Tây Tạng

Cho đến hôm nay, nỗi đau vẫn còn âm ỉ cháy trên cao nguyên Tây Tạng và gánh nặng quê hương đè lên đôi vai Đức Đạt Lai Lạt Ma XIV, người lãnh đạo thế quyền lẫn thần quyền Vậy, Đức Đạt Lai Lạt Ma XIV là ai?

1.1.2 Cuộc đời Đức Đạt Lai Lạt Ma XIV

Đức Đạt Lai Lạt Ma XIV được ngưỡng mộ không những là nhà lãnh đạo tôn giáo mà còn là tấm gương kiên trì đấu tranh bất bạo động cho quyền tự trị Tây Tạng

và là người không mệt mỏi trong suốt nhiều thập niên mang lại hạnh phúc cho mọi người mà không phân biệt tôn giáo sắc tộc

Ngài nhận giải Nobel Hoà Bình năm 1989; và vào ngày 17/10/2007, được

Tổng thống thứ 43 Hoa Kỳ George Walker Bush thay mặt Quốc hội trao giải thuởng “Congressional Gold Medal Award” Theo giáo sư Eric Sharp thuộc Đại

học Sydney, Australia, trong số những thánh nhân thế kỷ thứ 20 có ba người châu

Á, là cố thi hào Ấn Độ Rabindranath Tagore, Mahātmā Gāndhī và Dalai Lama XIV;

và trong số ra tháng 4/2005, tạp chí TIME đã xếp Ngài vào trong danh mục của 100 người có tầm vóc ảnh hưởng nhất

Dalai Lama là danh hiệu nhà lãnh đạo tinh thần Phật giáo Tây Tạng thuộc trường phái Cách-Lỗ “Dalai” gốc tiếng Mông Cổ là “biển cả” còn “Lama” dịch từ tiếng Phạn là Đạo sư Cho nên, Dalai Lama là bậc “Đạo sư với trí huệ như biển

10 These thrust Tibetans into such depths of suffering and hardship that they literally experienced hell on earth, he said, adding they caused the deaths of hundreds of thousands of his people Even today Tibetans in Tibet live in constant fear, he said Their religion, culture, language, identity are near extinction

Trang 23

cả” Danh hiệu này được vua Mông Cổ Altan Khan phong cho phương trượng phái Cách-Lỗ năm 1578 Kể từ đó, các Đức Đạt Lai Lạt Ma trở thành người lãnh đạo cả

về chính trị và tinh thần Tây Tạng mà khởi đầu là đức Đạt Lai Lạt Ma V năm 1617

Ngài chào đời tại làng Taktser, Đông Bắc Tây Tạng ngày 5/5/Ất Hợi (16/7/1935), được đặt tên là Lahmo Dhondup Hai năm sau, chú bé này về Lhasa

và được tấn phong làm Đạt Lai Lạt Ma XIV vào ngày 22/2/1940, với pháp danh là Đăng Châu Gia Mục Thố, chính thức là người lãnh đạo chính trị và tôn giáo

Ngài bắt đầu sự nghiệp học vấn vào năm 6 tuổi và hoàn tất học vị cao nhất

của Phật giáo Tây Tạng là Geshe Lharampa, tương đương với Tiến sĩ Phật học ở

tuổi 25, năm 1959 Ngài học Luận lý văn hóa và nghệ thuật Tây Tạng, Phạn ngữ,

Y học, Triết học Phật giáo Riêng môn Phật học này là khó nhất, chia ra làm năm phần là Bát-nhã-ba-la-mật-đa, Trung quán, Giới luật, A-tỳ-đạt-ma và Lượng học Ngoài ra, Ngài còn học các môn khác như: biện luận, thi ca, và kịch, thiên văn

Vào tháng 10/1950 quân đội Trung Quốc tiến vào Tây Tạng Đức Đạt Lai Lạt Ma XIV chưa hoàn tất việc học và cũng chưa hiểu gì ở thế giới bên ngoài Tu viện và cung điện Tây Tạng, nhưng trách nhiệm đạo và đời đã nặng trĩu trên vai và tràn đầy trong trí Ngài Cho nên, cũng năm ấy, Ngài đăng quang làm Quốc Trưởng lãnh đạo Tây Tạng

Trong mười năm liền Ngài vừa hoàn tất việc học để trở thành một vị sư - một tiến trình trải nghiệm gian khổ và khó khăn cho trí tuệ, lại vừa học hỏi về thế giới bên ngoài với trách nhiệm lãnh đạo quốc gia Ngài bàng hoàng khi nghe chủ tịch Mao Trạch Đông cho Đạo Phật là một thứ độc dược và vạch kế hoạch phát triển Tây Tạng trong cuộc Cách Mạng Văn Hóa

Vào ngày 10/3/1959, một cuộc biểu tình lớn tại Lhasa kêu gọi Trung Quốc rút binh lính và tái xác định Tây Tạng là một quốc gia độc lập Cuộc biểu tình ôn hòa này đã bị đàn áp Để tìm con đường giải phóng khỏi nỗi khổ đau ấy và tránh bị tiêu diệt, hàng nghìn người dân Tây Tạng cùng với Đức Đạt Lai Lạt Ma XIV vượt qua dãy Himālaya đến tị nạn tại Dharmaśālā, miền Bắc Ấn Độ

Trang 24

Tại Dharmaśālā, dưới sự hướng dẫn của Ngài, cộng đồng ấy đã mở một kỷ nguyên vận động quốc tế Về lực, cộng đồng Tây Tạng lưu vong không đông cũng chẳng giàu, nhưng về thế thì có sức tác động hiếm có ở nhiều diễn đàn, chính là nhờ vị lãnh đạo tinh thần Đức Đạt Lai Lạt Ma XIV

Cho nên, Năm 1987, vị lãnh đạo Tây Tạng mở chiến dịch ngoại giao ở diễn đàn Quốc Hội Hoa Kỳ bằng kế hoạch Hòa Bình Năm Điểm nhằm kêu gọi Bắc Kinh hợp tác để biến Tây Tạng thành khu vực hòa bình, tôn trọng nhân quyền, tôn trọng môi sinh Năm sau tiến xa hơn trên mặt trận ngoại giao khi Ngài đề nghị trước Quốc Hội Âu Châu tại Strasbourg một số điểm chiến lược là Tây Tạng không đòi độc lập nhưng yêu cầu được quyền tự trị, với chính quyền dân cử do dân bầu lên và sống chung hòa bình với Trung Hoa.[119]

Tóm lại, hoạt động của Ngài chia làm ba lĩnh vực chính: Thứ nhất, Phát

triển cộng đồng và đấu tranh cho quyền độc lập của người Tây Tạng và các hoạt

động thế quyền; với tư cách lãnh đạo Tây Tạng, Ngài kiên quyết đấu tranh bất bạo

động để yêu sách nhà cầm quyền Trung Hoa trả lại quyền tự trị, đồng thời ngưng các hoạt động phá hủy môi trường sống và âm mưu đồng hóa người Tây Tạng

Thứ hai, truyền bá Phật Pháp và giáo dục Ngài đã đến các quốc gia, gặp gỡ

nhiều chính khách cũng như các nhà lãnh đạo tôn giáo, xã hội và kể cả các khoa học gia để nói về chuyện này Bên cạch các đề tài về Phật học, còn có thể tìm thấy sách chỉ dạy về cách sống vuơn tới hạnh phúc

Thứ ba, tham gia hoạt động khoa học Nhận thấy tầm quan trọng cũng như

sự tương đồng giữa Phật học và khoa học, Ngài đã hỗ trợ trực tiếp các nghiên cứu khoa học Ngài nói, ảnh hưởng ngày càng lớn của khoa học lên đời sống, thì tôn giáo càng có một vai trò vĩ đại hơn, nhắc nhở ta về bản chất con người Không có mâu thuẫn giữa hai phương diện này Mỗi phương diện cho ta các hiểu biết thấu suốt vào phương diện còn lại Cả khoa học lẫn các giảng huấn của Phật đều dạy bảo ta về sự thống nhất của vạn vật

Trang 25

Tính đến nay có trên 72 tác phẩm các loại, do chính Ngài viết hoặc đệ tử

ghi chép lại Đáng chú ý trong số tác phẩm này là: Phật giáo Tây Tạng (The Buddhism of Tibet); Tự do nơi lưu đầy (Free in Exile); Cuộc đối thoại về trách

nhiệm chung và giáo dục (Dialogues on Universal Responsibility and Education); Bạo lực và Lòng từ bi-Sức mạnh của Phật giáo (Violence and Compassion/ Power

of Buddhism); Biển của Trí Huệ (Ocean of Wisdom); Tia sáng trong bóng đêm (Flash of Lightning in the Dark of Night); Sức mạnh của lòng từ bi (The power of compassion); Khoa học Tâm Linh, Cuộc đối thoại Đông-Tây (Mind Science, An East-West Dialogue); Vũ Trụ Trong Một Nguyên Tử: Sự Hội Tụ của Khoa Học và

Tâm Linh (The Universe in a Single Atom: The Convergence of Science and

Spirituality, 2005); cùng số sách trong phần danh mục tham khảo, v.v

Qua đó, dựa trên những cống hiến to lớn của Ngài về mặt tinh thần và thực tiễn, một số Trường đại học và Viện nghiên cứu đã trao tặng những Giải thưởng về Hòa bình và bằng Tiến sĩ danh dự (Honorary Doctorate Degree) để tuyên dương những tác phẩm xuất sắc của Ngài về triết học Phật giáo, về giải pháp cho những xung đột quốc tế, về nhân quyền và môi sinh toàn cầu Trong lần trao giải tại Ủy hội Nhân quyền Raoul Wallenberg, dân biểu Mỹ Tom Lantos (1928 - 2008) nói:

“Sự đấu tranh dũng cảm của Đức Đạt Lai Lạt Ma đã tạo ra sự chú ý đặc biệt về nhân quyền và hòa bình thế giới Sự kiên trì đấu tranh của Ngài để chấm dứt khổ đau cho dân tộc Tây Tạng qua những cuộc đàm phán hòa bình và hòa giải.”[10]

Vì vậy, năm 1989 Ủy ban Hòa bình Na Uy đã trao Giải thưởng Nobel cho

Ngài Trong Quyết định trao giải viết: "Ủy ban muốn nhấn mạnh rằng Đức Đạt

Lai Lạt Ma với sự đấu tranh cho tự do cho Tây Tạng vẫn kiên quyết không sử dụng bạo lực Ngài đã ủng hộ giải pháp hòa bình dựa trên tinh thần khoan dung

và tôn trọng lẫn nhau để bảo vệ lịch sử và tài sản văn hóa con người.”[10]

Qua đây, cho thấy giải thưởng Nobel vinh danh Ngài cũng có nghĩa là ngầm công nhận và ủng hộ cuộc đấu tranh của nhân dân Tây Tạng Cho nên, trong

lời phát biểu tại buổi lễ nhận giải, Ngài nói, “Giải thưởng đã tái xác nhận một lần

Trang 26

nữa rằng chân lý, lòng dũng cảm và quyết tâm là vũ khí để đấu tranh cho tự do Tây Tạng Cuộc đấu tranh của chúng tôi vẫn phải theo đuổi đường hướng bất bạo động và loại bỏ hận thù.”[10]

Ngày 17/10/2007 Quốc Hội Hoa Kỳ đã trao huân chương Congressional Gold Medal để ca ngợi sự đóng góp của Ngài, như bà Nancy Pelosi chủ tịch Hạ

viện phát biểu: “Ngài đã dùng cương vị của mình để đề cao trí huệ, từ bi, và bất

bạo động như là một giải pháp - không chỉ ở Tây Tạng - mà cho cả các xung đột khác của thế giới.” Trong buổi lễ ấy, cựu Tổng thống George Walker Bush phát

biểu, nói về tự do tôn giáo là quan tâm lớn nhất của quốc gia, nên huy chương cao quý nhất này được trao cho Đức Đạt Lai Lạt Ma là để vinh danh những đóng góp, vận động lâu dài, nổi bật cho hòa bình, nhân quyền khắp thế giới và giải pháp không bạo động cho vấn đề Tây Tạng qua việc tìm kiếm sự đối thoại với những nhà lãnh đạo Trung Quốc

Tóm lại, người Tây Tạng đặt lòng tin vào Ngài và Ngài có trọng trách để hành động như là người phát ngôn cho tự do của người Tây Tạng trong khó khăn

giành lấy công bằng Sự xuất hiện của Ngài là một sứ mệnh thừa kế tước vị Đạt Lai

Lạt Ma ở giai đoạn bấp bênh nhất trong toàn bộ lịch sử Tây Tạng Hiện nay, tuy vẫn trong thân phận người tị nạn lưu vong, nhưng Ngài rất lạc quan cho tương lai tự trị

Tây Tạng và tự do cho thế giới qua bức Thông Điệp 2000: “Thế kỷ 20 đầy xung đột

và chiến tranh Thế kỷ tới, đặc tính bất bạo động và đối thoại là điều kiện tiên quyết

để cùng hiện hữu bên nhau trong hòa bình Bởi vì, xã hội nào cũng có những khác biệt và xung đột Tuy vậy, cần phát triển niềm tin tưởng rằng: đối thoại và tình bạn

là một đường lối chính đáng để tránh bạo động.”[10]

Cho nên, con đường phía trước vẫn còn tiếp diễn, con đường đấu tranh vẫn còn tiếp tục, nhưng sức mạnh của lòng Từ bi mãi là sức mạnh sẽ làm tan chảy mọi trơ lì của vật chất vô tri để ánh sáng lương tri và tỉnh thức sẽ soi đường chỉ lối cho mọi bước chân trong cuộc đời này

Trang 27

1.2 Vị trí của Đức Đạt Lai Lạt Ma XIV

1.2.1 Trở thành lãnh tụ thế quyền, lãnh đạo đất nước

Ngày nay, hơn 120.000 người Tây Tạng lưu trú tại Dharmaśālā, Ấn Độ,

như một Lhasa thu nhỏ, lập một chính quyền lưu vong với một Hội đồng Dân cử

Tây Tạng kể từ năm 1960 Ban đầu Ngài rất do dự việc nắm quyền lãnh đạo đất nước vì nghĩ nhỏ tuổi và chưa hoàn tất chương trình giáo dục về tôn giáo Tuy nhiên, khi biết đất nước bị chia cắt trong thời kỳ viên quan nhiếp chính lãnh đạo

đã làm cho tất cả trở nên tồi tệ, khiến Ngài thấy sự thống nhất đất nước là điều thiết yếu và Ngài là người duy nhất mà mọi người đồng lòng tuân theo Vì vậy, ngày 17/11/1950 Ngài đã chấp thuận đứng lên lãnh đạo đất nước và sau đó cả bộ máy chính quyền đã bí mật dời đến thung lũng Chumbi gần biên giới Ấn Độ để khỏi rơi vào tay Trung Quốc

Năm 1951, khi đức Đạt Lai Lạt Ma XIV trở về thì ngay sau đó Lhasa tràn ngập lính Trung Quốc Đất đai bị tịch thu cho quân lính đóng trại; nguồn lương thực dự trữ bị dốc cạn đến nỗi nạn đói kém xảy ra khắp nơi Đã có nhiều sự phản kháng về việc người Tây Tạng phục tùng những yêu cầu của Trung Quốc trong việc nhanh chóng hòa nhập quân đội Tây Tạng vào quân đội Giải phóng Dân tộc Thủ tướng chính phủ từ chối việc hợp tác với Trung Quốc đã bị buộc phải từ chức Ngay lập tức, đức Đạt Lai Lạt Ma XIV cảm thấy Ngài là vật đệm duy nhất giữa dân tộc với quân đội Trung Quốc, nên để tránh sự kích động Trung Quốc Ngài theo đuổi tự trị cho Tây Tạng bằng con đường đấu tranh bất bạo động

Bên cạnh đó, Ngài cũng đưa ra các chính sách như: “Thiết lập luật hành

chính cho việc cải cách xã hội, chấm dứt một số thông lệ lâu đời chẳng hạn như việc dân chúng địa phương phải chuyên chở không công cho các quan chức chính phủ Ngài hủy bỏ các khoản nợ về nông nghiệp và đưa ra các chính sách phân phối lại đất đai cho người dân.”[10; 21, p.43] Trước đây, Trung Quốc cũng có chính

sách cải cách cụ thể về trường học, bệnh viện, đường xá, v.v và bước đầu được dân

tiếp nhận nên hy vọng sẽ chiếm được sự mến mộ và ủng hộ Tuy nhiên, “họ nhanh

Trang 28

Năm 1956, nhân kỷ niệm Phật lịch 2500 Ấn Độ thỉnh đức Đạt Lai Lạt Ma tham dự sự kiện trọng đại này được tổ chức tại Ấn Độ Những phản đối ban đầu của Trung Quốc đã bị bác bỏ nhờ sự can thiệp của Thủ tướng Nehru nên Ngài sang Ấn

và là thành phần tham dự quan trọng nhất của buổi lễ Ngài cũng dành những buổi thuyết pháp cho dân chúng trong thời gian lưu lại tại đây và đi chiêm bái các Thánh địa của Phật giáo, đồng thời thăm dò ý kiến của thủ tướng Nehru về vấn đề tị nạn chính trị nhưng được đề nghị là nên trở về nước và làm việc một cách ôn hòa với Trung Quốc Sau đó, thủ tướng Nehru cũng thảo luận vấn đề này với thủ tướng Chu

Ân Lai, và Bắc Kinh loan báo rằng Tây Tạng chưa sẵn sàng cho việc cải cách, cho nên những nỗ lực của Trung Quốc trong việc tiếp quản và xây dựng phát triển có ý nghĩa đặc biệt để giúp Tây Tạng thực hiện điều đó Để rồi, về sau có những biến động như đã trình bày trong phần cuộc đời của Ngài, cũng như phần khái quát về Tây Tạng

Trong những năm đầu lưu vong, Ngài kêu gọi Hoa Kỳ lên tiếng về vấn đề Tây Tạng, và kêu gọi nhà cầm quyền Bắc Kinh phải tôn trọng nhân quyền và ước muốn tự trị Đồng thời Ngài nhận thấy, việc thành lập một chính phủ lưu vong Tây

Tạng là công việc khẩn cấp phải làm để cứu nguy dân tị nạn và nền văn hóa Tây

Tạng Bên cạnh đó, các lĩnh vực nông nghiệp, kinh tế, văn hóa, giáo dục cũng dần được tái hoạt động tại Ấn Độ Trẻ em Tây Tạng được đi học và một Đại học Tây

Trang 29

Tạng được thành lập tại Ấn Độ Có khoảng 200 tu viện Tây Tạng được xây dựng tại

Ấn Độ để tăng chúng tu học, duy trì và bảo vệ văn hóa và tôn giáo

Năm 1963, Đức Đạt Lai Lạt Ma ban hành bản Hiến pháp Dân chủ

(Democratic constitution), dựa trên giới luật Phật Giáo và Hiến chương Nhân

quyền của Liên hiệp quốc để chuẩn bị mô hình Tây Tạng tự do ở tương lai Năm

1988 Ngài đưa ra đề xuất Strasbourg nhằm tranh thủ sự ủng hộ 5 điểm về một Tây Tạng tự trị Năm 1992, khởi động thêm những bước quan trọng cho một chính quyền dân chủ bao gồm trực tiếp đầu phiếu cho Hội đồng bộ trưởng bởi Nghị viện

và thành lập ngành Tư pháp Năm 2001, cuộc bầu cử trực tiếp đầu tiên trong lịch

sử của Tây Tạng để chọn thủ tướng

Để rồi, từ thời gian ban đầu đến nay, luôn đi khắp thế giới để vận động ủng

hộ Tây Tạng tự trị, bởi vì Ngài đã đứng vào vị trí lãnh đạo đất nước và muốn tiếp tục nỗ lực Tây Tạng được tự trị mà một thời gian dài, các đại diện của Ngài đàm phán với chính phủ Trung Quốc không mang lại kết quả Tuy chính phủ luôn nói, nếu thừa nhận Tây Tạng là một phần không thể tách rời của Trung Quốc thì Trung ương sẵn sàng đàm phán bất cứ lúc nào, đức Đạt lai Lạt Ma sẽ được nồng nhiệt chào đón trở về và có thể làm mọi công việc thuận lợi để duy trì sự thống nhất của quê hương, đoàn kết dân tộc, cũng như cuộc sống giàu có và hạnh phúc của nhân dân Tây Tạng Tuy nói vậy nhưng không phải vậy, hãy xem trong phần quan điểm của Trung Quốc về yếu tố Tây Tạng sẽ rõ

Khi lần đầu tiên đến Hoa Kỳ, thông điệp hòa bình và lòng từ bi của Ngài đã

thu hút sự ủng hộ chính nghĩa Tây Tạng Bởi vì, theo Jeffery Paine, có đủ mọi lý do

để thù ghét Trung Hoa, nhưng thay vào đó, Ngài nói về họ với lòng thông cảm và hiểu biết Dù đang gánh vác trách nhiệm, và bất chấp thảm kịch của Tây Tạng luôn luôn hiển hiện nhưng rõ ràng Ngài là một người hạnh phúc, thực sự là một kẻ yêu đời, để toát ra niềm tin cậy rằng tất cả mọi việc rồi đều có thể diễn ra tốt đẹp.11

Trang 30

Và trong thâm tâm, Ngài lo lắng người Tây Tạng sẽ mất sự nối kết với nền văn hóa, cả những người ở bên trong lẫn bên ngoài Bởi vì, bên trong Tây Tạng có những dấu hiệu thoái hóa truyền thống và những vi phạm nguyên tắc đạo đức Cho nên, điều lo lắng chính của Ngài là việc bảo tồn nền văn hóa Tây Tạng hơn là chính

trị Ngài nghĩ rằng, vị thế chính trị của Tây Tạng dĩ nhiên là quan trọng, nhưng để

duy trì sự sống của tâm linh của di sản văn hóa là quan tâm chính Điều này không chỉ ích lợi cho sáu triệu người Tây Tạng, mà cũng là sự lưu tâm của cộng đồng lớn hơn – đặc biệt, về lâu về dài, đến người Hoa Tôi nghĩ trong lĩnh vực những giá trị của con người, họ hoàn toàn bị lạc lõng 12

Ngày nay, thành viên quốc hội Tây Tạng được bầu bởi dân chúng Hội đồng Nội các được bầu cử bởi Quốc hội và Ngài nhấn mạnh nhiệm vụ chính của chính quyền Tây Tạng là chăm lo đời sống người dân

Trên trang nhật báo La Dépêche của Pháp phỏng vấn Đức Đạt Lai Lạt Ma

XIV ngày 14/08/2011, do ký giả Dominique Delpiroux thực hiện, nói Ngài tin vào thể chế dân chủ; và vào đúng lúc vị Thủ tướng Tây Tạng lưu vong, ông Lobsang Sangay tuyên thệ nhậm chức, Đức Đạt Lai Lạt Ma cũng xác nhận từ nay chỉ đảm đang trọng trách về tôn giáo Thế nhưng tiếng nói của Ngài lúc nào cũng vang dội thật xa, như một nhà lãnh đạo tinh thần nắm giữ uy quyền tối cao, bởi vì đây là do toàn thể người dân Tây Tạng dành cho Ngài Và khi được hỏi có cảm tưởng gì khi giao quyền điều khiển chính trị cho một vị Thủ tướng được đắc cử, Ngài nói:

“Từ ngày còn trẻ, tôi cảm tưởng nền chính trị Tây Tạng đã lỗi thời

Kể từ 1952, tôi đã tìm mọi cách để cải tổ, nhưng sau đó, người Trung Quốc tràn vào, họ muốn thực hiện một số cải cách mà tôi không đồng

ý, nên không thể đem ra áp dụng việc cải tổ mà tôi muốn Đến 1954, khi tham dự Hội nghị Nhân dân toàn quốc do Trung Quốc tổ chức, ngồi nghe những bài diễn văn dài bất tận, trong khi các vị trí thức và

12

Tibetan political status is of course important, but to keep alive the Tibetan spirit, the Tibetan cultural heritage, that's my main concern This not only benefits the six million Tibetan people, but also is of interest for the larger community-particularly, in the long run, to the Chinese I feel that particularly in the field of human values, they're completely lost [98]

Trang 31

các vị lão thành gục lên gục xuống, chẳng buồn quan tâm một tí nào Hai năm sau, tôi tham dự một buổi họp Quốc hội tại Ấn Độ và thấy mọi người thảo luận, tranh cãi, chống đối, chỉ trích mà chẳng hề tỏ ra

sợ hãi chính quyền: tôi vô cùng xúc động trước cảnh trái ngược đó và tin vào sự sinh hoạt dân chủ.”[35]

Như vậy, dân chủ là thể chế duy nhất được chấp nhận nên vào năm 2001, Quốc hội đầu tiên của Tây Tạng thành lập qua một cuộc bầu cử, và mười năm sau Tây Tạng hoàn tất chương trình cải tổ Như vậy, từ lúc này Ngài hoàn toàn tự nguyện giao trả quyền hành với tất cả niềm hân hoan và hãnh diện Đấy là một sự thay đổi trọng đại sau 400 trăm năm dưới thể chế lãnh đạo của các vị Đạt Lai Lạt

Ma Ngài tin rằng sự phân quyền đó thật cần thiết Ngài suy nghĩ về cuộc khủng hoảng hiện nay đưa đến sự bùng nổ bạo lực, bởi vì:

Nếu nghĩ tiền bạc mang lại hạnh phúc, thì tất nhiên phải gánh chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng Thế nhưng, nếu biết nhìn vào giá trị của lòng trìu mến, sự tương trợ và tình thương thì sẽ tốt hơn để đối đầu với nghịch cảnh Ngoài ra, các diễn biến xảy ra trong thế giới Á Rập là các dấu hiệu thật rõ ràng cho thấy thể chế dân chủ là phương tiện duy nhất có thể áp dụng để cai trị các dân tộc.[35]

Ngài nhận định, bạo lực chỉ mang lại hủy diệt nên mọi việc xảy ra sẽ không thể nào tiên đoán trước Cho nên phải suy nghĩ cẩn thận, người ta có thể có những hành động tương tợ bạo lực, thế nhưng lại mang những chủ đích từ bi, đấy là những hành vi tốt, và ngược lại người ta cũng có thể dùng những hành vi đạo đức giả khi

sử dụng sự êm ái để mang lại những gì xấu xa

Vì vậy, trong bài phát biểu tại Nghị viện châu Âu Ngài nói đến bi kịch số phận, đồng thời chia sẻ cuộc đấu tranh tự do không bạo lực của người dân Tây Tạng Ngài nhấn mạnh:

“Cộng đồng nhân loại đã đạt đến một thời điểm quan trọng trong lịch

sử của nó, đòi hỏi chúng ta phải chấp nhận cộng đồng nhân loại

Trang 32

Trong quá khứ, cộng đồng có thể suy nghĩ khác về cơ bản Nhưng ngày nay, như chúng ta học hỏi từ những sự kiện bi thảm gần đây tại Hoa Kỳ, bất cứ điều gì xảy ra ở đâu cũng ảnh hưởng đến nhiều khu vực khác Thế giới đang ngày càng trở nên phụ thuộc lẫn nhau Trong bối cảnh phụ thuộc lẫn nhau, lợi ích cá nhân rõ ràng nằm trong việc xem xét sự quan tâm của người khác Nếu không phát huy trách nhiệm toàn cầu thì tương lai chúng ta gặp nguy hiểm” 13

Qua phát biểu đó, Ngài nhấn mạnh phải có ý thức hơn về trách nhiệm toàn cầu Phải học cách làm việc không chỉ cho gia đình của riêng cá nhân, quốc gia, mà

cả vì lợi ích của tất cả nhân loại Trách nhiệm toàn cầu là nền tảng tốt nhất cho hạnh phúc cá nhân và cho thế giới hòa bình Việc sử dụng công bằng tài nguyên thiên nhiên, thông qua mối quan tâm cho thế hệ tương lai, và chăm sóc thích hợp môi trường Cho nên, nhiều vấn đề và xung đột của thế giới phát sinh bởi vì đánh mất ý nghĩa liên kết nhân loại như một đại gia đình Ngài nói:

Chúng ta có xu hướng lãng quên dù biết sự đa dạng của chủng tộc, tôn giáo, văn hóa, tư tưởng, ngôn ngữ và người dân đều muốn ước mơ

cơ bản là hòa bình và hạnh phúc Tất cả đều muốn hạnh phúc và không muốn đau khổ Cho nên phải cố gắng thực hiện những ước muốn tốt nhất có thể Tuy nhiên, nhiều khi ham ca ngợi sự đa dạng về mặt lý thuyết, mà không tôn trọng mặt thực hành nên phải có khả năng đón nhận sự đa dạng như một nguồn lực chính của xung đột giữa các dân tộc.14

13 Human community has reached a critical juncture in its history Today's world requires us to accept the oneness of humanity In the past, communities could afford to think of one another as fundamentally separate But today, as we learn from the recent tragic events in the United States, whatever happens in one region eventually affects many other areas The world is becoming increasingly interdependent Within the context of this new interdependence, self-interest clearly lies in considering the interest of others Without the cultivation and promotion of a sense of universal responsibility our very future is in danger [110]

14 We tend to forget that despite the diversity of race, religion, culture, language, ideology and so forth, people are equal in their basic desire for peace and happiness: we all want happiness and do not want suffering We strive to fulfill these desires as best we can However, as much as we praise diversity in theory, unfortunately often we fail to respect it in practice In fact, our inability to embrace diversity becomes a major source of conflict among peoples [110]

Trang 33

Do vậy, để thay đổi tư duy của nhà lãnh đạo chính trị về môi trường, Ngài nói nền giáo dục hiện đại phải vượt khỏi nhu cầu hướng về hưởng thụ vật chất mà hướng đến sự an bình nội tâm Cần quân bình một nền giáo dục cả về giá trị vật chất lẫn các giá trị tinh thần Vì thế, Ngài nói, hòa bình không chỉ là sự vắng mặt của bạo lực, mà còn phải thông qua an bình nội tâm và ấm áp bên trong lòng từ tâm, và công

lý sẽ được tôn trọng.

1.2.2 Trở thành lãnh tụ thần quyền, hướng dẫn tâm linh:

Với sự mệnh hướng dẫn tâm linh cho dân tộc Tạng, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã thực tập mọi lễ nghi để rèn luyện tâm, tìm kiếm sự giác ngộ, minh chứng cho con đường hướng đến nếp sống an lành, vượt qua những chướng nạn trong việc tìm kiếm bản tâm chân thật giữa muôn trùng Đồng thời, văn hoá Tây Tạng thừa nhận giá trị Phật giáo và thấm nhuần các tố chất tâm linh Bồ tát Quán Thế Âm là vị Thần bảo hộ, là tổ tiên của dân tộc Tạng Theo thần thoại Tây Tạng, Bồ tát này được nhận biết qua dòng truyền thừa Gedun Truppa, nên Đức Đạt Lai Lạt Ma XIV là người Cha có năng lực bảo hộ không những nếp sống thiêng liêng mà mỗi việc làm đều mang đến sự lợi lạc

Người Tây Tạng lựa chọn các vị Đạt Lai Lạt Ma dựa vào tính chất đặc biệt,

và đúng vào thời điểm thích hợp Vị Đạt Lai Lạt Ma đầu tiên Căn Đôn Châu Batruyền bá giáo lý của ngài Tông Khách Ba và củng cố vị trí của truyền thống Gelugpa

Vị tái sinh thứ II – Căn Đôn Gia Mục Thố - đẩy mạnh sự phát triển này lan khắp trung tâm Tây Tạng

Trang 34

Bậc Vĩ Nhân thứ XIII – Thổ Đan Gia Mục Thố - khôi phục lại nền độc lập của Tây Tạng, có công lớn trong việc nâng cuộc sống lên đến mức độ cao nhất Đức Đạt Lai Lạt Ma XIV hiện nay vẫn đang đối đầu với những thử thách lớn lao khi Ngài mang những phẩm chất tâm linh đặc biệt của mình vào việc thực hiện nhiệm

vụ bảo tồn di sản tâm linh và nền văn hoá Tây Tạng trong thời khắc ảm đạm nhất của nó

Trên trang nhật báo Boston Globe số ra ngày 14/9/2003 có bài viết với tựa đề

“The Buddha of Suburbia - The Dalai Lama's American religion” của tác giả

Jeffery Paine, kể chuyện nhà văn Thomas Merton, trong chuyến du hành sang vùng

Hy Mã Lạp Sơn, Ấn độ vào năm 1968, đã hiểu bản chất đời sống tâm linh Tây Tạng khi quan sát những người lưu vong vừa cười vừa hát Ông ghi nhận, họ đầy cả

“cường độ, năng lực và có cả đầu óc hài hước”, mặc dầu trong lúc quê hương bị

Trang 35

tàn phá Ông kết luận, nguồn suối lạc quan của người Tây Tạng nằm ngay chính

trong tôn giáo của họ “Những tín đồ Phật Giáo Tây Tạng là những người duy nhất,

hiện nay, đã đạt đến trình độ hoàn thiện tâm linh phi thường.”[87] Merton quyết

đoán, nếu tinh chất của Phật Giáo Tây Tạng được chắt lọc ra, thì có thể giúp phục hồi tôn giáo trở về sức mạnh vốn có của nó

Và trong việc rèn luyện nhận thức cuộc sống để xây dựng nếp sống an lạc, Ngài dạy, nếu kẻ thù nội tại là thù hận không được thuần hóa mà cố gắng thuần hóa

kẻ thù ngoại tại thì kẻ thù lại gia tăng Do vậy, sự thực tập của người thông tuệ là tự thuần hóa bằng năng lực của từ ái và bi mẫn Bởi vì, từ ái, bi mẫn, và quan tâm kẻ khác là những cội nguồn hạnh phúc thật sự Nếu nuôi dưỡng thù hận, sẽ không hạnh phúc ngay cả trong cảnh giàu có xa hoa Vì thế, nếu thật sự muốn hạnh phúc, phải mở rộng môi trường từ ái yêu thương

Các tôn giáo đều dạy một thông điệp về từ ái, bi mẫn, chân thành và trung thực Mỗi hệ thống tìm kiếm con đường riêng để cải thiện đời sống Tuy thế, nếu nhấn mạnh quá nhiều vào triết lý hay lý thuyết thì sẽ bị dính mắc, chấp trước vào

đó Cho nên, trước nhất phải thay đổi chính mình, sau đó mở rộng môi trường nội tại đến cộng đồng rộng lớn hơn để hòa hiệp, thống nhất, và hợp tác; mở rộng hòa bình đến những quốc gia, rồi thế giới trong lòng tin hổ tương, tôn trọng qua lại, sự giao tiếp chân thành, và cuối cùng là những nỗ lực hòa nhập thành công để giải quyết những rắc rối của thế giới

Do vậy, với vị thế là nhà lãnh đạo tinh thần, hướng dẫn tâm linh dân tộc theo tinh thần Phật giáo, Ngài nhấn mạnh lòng từ bi là nền tảng của hòa bình Cuộc sống luôn biến đổi liên tục nên gây ra biết bao khó khăn Nếu đối đầu với mọi khó khăn trong cuộc sống bằng tâm hồn tĩnh lặng thì mọi khó khăn đều được giải quyết Ngược lại, nếu tâm thức bị mê mờ vì thù hận, ích kỷ, ganh tỵ và giận hờn, thì sẽ đánh mất óc xét đoán Lúc đó, tâm con người sẽ mù quáng và trong lúc ngông cuồng rồ dại mọi điều xấu có thể xảy ra, kể cả chiến tranh Như vậy, sự thực hành lòng từ bi và trí tuệ là hữu ích cho tất cả, nhất là đối với những ai có trách nhiệm

Trang 36

Do đó, hãy nhìn lại bản chất con người để tìm hiểu mặt tối tăm nhất của tính khí qua những hành động hung bạo, hận thù và tàn ác mà con người đã sử dụng để

cư xử với nhau Hãy tìm hiểu sự vận hành của các tư duy đối nghịch khiến phát sinh

hố sâu chia rẽ giữa “chúng ta” và “họ”, mang lại đủ mọi định kiến và xung đột Bởi

vì, khi biến cố xảy ra, chúng ta thường có xu hướng tìm một cá nhân hay nhóm người nào đó để lên án Thế nhưng, sẽ sai lầm khi tìm kiếm một cá nhân hay nhóm người để cô lập hóa và xem là nguyên nhân duy nhất Nếu có tầm nhìn rộng, sẽ hiểu nguyên nhân mang lại sự hung bạo thật đa dạng Có vô số nguyên nhân xa hay gần, trực tiếp hay gián tiếp dự phần vào thảm trạng đó Cách suy nghĩ về một sự kiện sẽ làm hậu thuẫn thêm cho một suy nghĩ khác thật then chốt sẽ giúp tôi nhìn thấy nền

kỹ thuật hiện đại được phối hợp với trí thông minh con người mà bị chi phối bởi những thứ xúc cảm tiêu cực, chính là nguyên nhân khiến cho tai họa xảy ra, dù đấy

là những thứ tai họa không thể tưởng tượng nổi.[39]

Trang 37

Tóm lại, Ngài nhận thấy con người tác hại lẫn nhau chỉ vì vô minh Một thứ

vô minh buộc vào bản chất đích thật, che lấp tầm nhìn và sự hiểu biết, không cho phép nhìn thấy lòng từ hầu giúp chúng ta thực hiện những điều tốt đẹp, khiến phải sống trong cảnh u mê và sợ hãi, trong sự ngờ vực và hận thù người khác Do đó,

“lòng từ bi và sự quan tâm đến người khác sẽ mang lại nhiều biến cải lợi ích trên

phương diện thể xác cũng như các dạng xúc cảm trong tâm thức, và nên sử dụng lý trí và lương tri để chọn loại bản chất phù hợp với tâm thức nhằm mang lại kiếp sống tốt đẹp.”[39]

Như vậy, sự khác biệt giữa cách cảm nhận bản chất con người có thể đã phát sinh từ sự khác biệt giữa các môi trường sống khác nhau Biết ý thức sâu xa về lòng tốt nơi bản chất con người là cách thổi vào tâm hồn sự can đảm và niềm hy vọng Trên phương diện cá nhân, một tầm nhìn theo chiều hướng ấy về bản chất sâu kín của con người sẽ giúp mang lại cảm tính hạnh phúc và mối tương quan buộc chặt với người khác Do đó, Ngài kết luận, bằng tầm nhìn vào một đời sống tinh thần thực sự, phải nhận biết đức tin tôn giáo là nền tảng tinh thần thiết yếu để nuôi dưỡng tâm từ bi và khoan dung

Về hiện trạng nếp sống tinh thần của thế giới hiện nay, Ngài nhận định, một thực tế đáng buồn của lịch sử nhân loại là mâu thuẫn đã phát sinh trong tôn giáo Thậm chí ngày nay, cá nhân bị thiệt mạng, cộng đồng bị phá hủy và tình trạng xã hội bất ổn như một kết quả của việc lạm dụng tôn giáo Theo Ngài, cách tốt nhất để vượt qua chướng ngại giữa các tôn giáo và mang lại sự hiểu biết là thông qua đối thoại với các thành viên của các truyền thống đức tin khác Ngài khẳng định:

“Trong bối cảnh của cộng đồng toàn cầu, tất cả các hình thức bạo lực, bao

gồm chiến tranh, là phương tiện hoàn toàn không thích hợp để giải quyết tranh chấp Bạo lực và chiến tranh luôn luôn là một phần của lịch sử nhân loại, và trong thời cổ đại đã có người chiến thắng và kẻ thua cuộc.”[110]

Vì thế, phải phát triển trách nhiệm toàn cầu, và một nền văn hóa đối thoại và phi bạo lực được sử dụng trong việc giải quyết sự khác biệt

Trang 38

1.3 Tiểu kết

Như vậy, qua những gì đã bàn luận ở trên, chúng ta thấy Đức Đạt Lai Lạt

Ma, đề cập đến tinh thần Tây Tạng không chỉ là ý thức chính trị, là lòng khát khao

tự do, mà còn là một sức mạnh tâm linh nhắm vào sự giải thoát Do đó, Ngài luôn lên tiếng cho chính nghĩa của dân tộc Sống lưu vong và tỵ nạn, không quân đội, thế nhưng Ngài không phải là một người trắng tay, vì khí giới của Ngài chính là lòng can đảm, công lý và sự thật, và luôn hy vọng cho tương lai tự trị Tây Tạng

Trang 39

2.1.1 Quan điểm của Trung Quốc

Về quan điểm của Trung Quốc, tác giả luận văn chủ yếu dựa vào văn bản

Tây Tạng đích chủ quyền quy thuộc dự nhân quyền trạng huống ban hành bởi Văn

phòng Thông tin Quốc hội CHNDTH tháng 9/1992, được xem như bạch thư của Trung Quốc về Tây Tạng

Vào giữa thế kỷ XIII, Tây Tạng được chính thức đưa vào lãnh thổ Trung Quốc Khi nhà Thanh thay thế nhà Minh, lại tăng cường hơn nữa quản lý Tây Tạng

Do Tây Tạng là vùng đất đặc biệt nhạy cảm nên sau 1949, nhiệm vụ giải quyết được đặt lên vai Đặng Tiểu Bình Cả Mao Trạch Đông và Đặng Tiểu Bình đều nhận thức cuộc chiến Tây Tạng khác hẳn với bất kỳ cuộc chiến nào, nên sau khi phân tích tình hình lịch sử, xã hội, chính trị, quân sự, tôn giáo, và phong tục tập quán, Đặng Tiểu

Bình đề ra các quan điểm mới để giải quyết Đó là: “Đánh đuổi thế lực ngoại quốc;

trở về với đại gia đình Tổ quốc; vấn đề cải cách cần được hiệp thương giải quyết dựa trên ý nguyện của nhân dân; thực hiện tự do tôn giáo, tôn trọng tín ngưỡng và phong tục tập quán của Tây Tạng.”[8, p.421] Tiếp đó Đặng Tiểu Bình khởi thảo 10

chính sách để làm cơ sở cho đàm phán giải phóng Tây Tạng dựa trên cơ sở hiện thực xã hội chiếu cố tới lợi ích của mọi tầng lớp, phù hợp với tình hình Tây Tạng Vừa chăm lo đầy đủ đến lợi ích các dân tộc, lại còn bảo vệ được khối đại đoàn kết dân tộc và thống nhất Tổ quốc

Tuy nhiên, vấn đề thực sự mà Chính phủ Trung Quốc nhấn mạnh, chính phủ lưu vong cần phải chấp nhận Tây Tạng là một phần của Trung Quốc trong khi đại diện của Đức Đạt Lai Lạt Ma XIV vẫn duy trì thái độ không thể cải biên lịch sử Do

Trang 40

đó, quá trình đàm phán nhằm xác định chủ quyền lịch sử là cốt lõi thực sự của vấn

đề Trung Quốc nhấn mạnh các quy tắc pháp lý đối với Tây Tạng qua các triều đại, trong khi Tây Tạng nhấn mạnh thực tế quyền tự chủ truyền thống Nói cách khác, Trung Quốc nỗ lực ngăn chặn hỗ trợ Tây Tạng độc lập, trong khi Tây Tạng xây dựng đối sách trên nền tảng pháp lý cho dân tộc thiểu số quyền tự chủ, dựa trên ý chí tự do của cộng đồng dân tộc

Như vậy, vấn đề Tây Tạng theo quan điểm của lãnh đạo Trung Quốc cần giải quyết một cách hợp tình hợp lý qua mười chính sách do Đặng Tiểu Bình chủ trì khởi thảo, là cơ sở khởi nguồn tư tưởng, lý luận, chính sách một nước hai chế độ

Do đó, Trung Quốc luôn khẳng định, “Với hơn 700 năm, chính quyền Trung Quốc

liên tục thực hiện chủ quyền đối với Tây Tạng để Tây Tạng không bao giờ là một nhà nước độc lập Không một chính phủ của bất cứ quốc gia nào trên thế giới công nhận Tây Tạng như là một nhà nước độc lập.” 15

Và Trung Quốc cho rằng, cải cách năm 1959 đã chấm dứt hệ thống chính trị tôn giáo và giới thiệu hệ thống chính trị mới của nền dân chủ Theo Hiến pháp nước CHND Trung Hoa, người dân Tây Tạng được hưởng đầy đủ các quyền chính trị Tháng 3/1955, Chính phủ Trung ương thành lập Uỷ ban trù bị Tây Tạng tự trị, và vào tháng 9/1965, kỳ họp đầu tiên của Quốc hội Nhân dân TTTT được tổ chức tại Lhasa tuyên bố thành lập TTTT Tới năm 1989, Chính quyền TTTT tiếp tục xây dựng ý tưởng chiến lược phát triển kinh tế và xã hội của Tây Tạng qua các chính sách sau:

Thực hiện chính sách mở cửa các khu vực còn lại của Trung Quốc và cũng như thế giới bên ngoài, bằng cách khám phá thị trường khu vực trong và ngoài nước, phát triển nguồn tài nguyên và đẩy mạnh phát triển các vùng và các ngành công nghiệp trọng điểm Mục đích là thu hẹp càng sớm càng tốt các khoảng cách

從未有任何一個國家的政府承認西藏是一個獨立的國家 [126] For more than 700 hundred years, the central government of China has continuously exercised sovereignty over Tibet, and Tibet has never been an independent state No government of any country in the world has ever recognised Tibet as an independent state [83]

Ngày đăng: 23/03/2015, 13:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] La Anh (1959), Quỷ đỏ trên đất Phật, nhà xuất bản H.Đ.K.D. Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quỷ đỏ trên đất Phật
Tác giả: La Anh
Nhà XB: nhà xuất bản H.Đ.K.D. Sài Gòn
Năm: 1959
[2] Bogolovskij A.V. (1978), Vùng Tây Tạng của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa 1949 - 1976, nhà xuất bản Nauka, Matxcova Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vùng Tây Tạng của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa 1949 - 1976
Tác giả: Bogolovskij A.V
Nhà XB: nhà xuất bản Nauka
Năm: 1978
[3] Phạm Giật Đức (1959), Tây Tạng kháng chiến, Ban Văn hóa hội Việt Hoa xuất bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tây Tạng kháng chiến
Tác giả: Phạm Giật Đức
Năm: 1959
[4] Bộ Quốc Phòng (2008), Xung quanh tình hình bất ổn ở Tây Tạng, Tài liệu tham khảo, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xung quanh tình hình bất ổn ở Tây Tạng
Tác giả: Bộ Quốc Phòng
Năm: 2008
[5] Thông tấn xã Việt Nam (2006), “Dalai Lama đòi thêm quyền tự trị cho Tây Tạng”, Tin tham khảo thế giới, ngày 27 tháng 12, số 299 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dalai Lama đòi thêm quyền tự trị cho Tây Tạng”, "Tin tham khảo thế giới
Tác giả: Thông tấn xã Việt Nam
Năm: 2006
[6] Nhiều tác giả (1959), Vấn đề Tây Tạng, nhà xuất bản Sự Thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề Tây Tạng
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: nhà xuất bản Sự Thật
Năm: 1959
[7] Nhiều tác giả (1960), Tây Tạng huyền bí và đau khổ, Văn Hữu Á Châu xuất bản [8] Mã Linh, Lý Minh (2004), Ôn Gia Bảo nhà quản lý tài ba, NXB Lao động, H Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tây Tạng huyền bí và đau khổ", Văn Hữu Á Châu xuất bản [8] Mã Linh, Lý Minh (2004), "Ôn Gia Bảo nhà quản lý tài ba
Tác giả: Nhiều tác giả (1960), Tây Tạng huyền bí và đau khổ, Văn Hữu Á Châu xuất bản [8] Mã Linh, Lý Minh
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2004
[9] Anne – Marie Blondeau and Katia Buffetrille (2008), Authenticating Tibet: Answers to China‟s 100 Questions, University of California Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Authenticating Tibet: "Answers to China‟s 100 Questions
Tác giả: Anne – Marie Blondeau and Katia Buffetrille
Năm: 2008
[10] Ardy Verhaegen (2002), The Dalai Lamas: The Institution and Its History, Publication by D.K. Printworld (P) Ltd., New Delhi Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Dalai Lamas: The Institution and Its History
Tác giả: Ardy Verhaegen
Năm: 2002
[11] Christopher I Beckwith (1987), The Tibetan Empire in Central Asia: A History of the Struggle for Great Power among Tibetans, Turks, Arabs, and Chinese during the Early Middle Ages, Princeton: Princeton University Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Tibetan Empire in Central Asia: A History of the Struggle for Great Power among Tibetans, Turks, Arabs, and Chinese during the Early Middle Ages
Tác giả: Christopher I Beckwith
Năm: 1987
[12] International Campaign for Tibet (1990), Forbidden Freedoms: Beijing‟s Control of Religion in Tibet, Printed in the United States of America Sách, tạp chí
Tiêu đề: Forbidden Freedoms: Beijing‟s Control of Religion in Tibet
Tác giả: International Campaign for Tibet
Năm: 1990
[13] Melvyn C. Goldstein (1989), A History of Modern Tibet, 1913 – 1951, University of California Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: A History of Modern Tibet, 1913 – 1951
Tác giả: Melvyn C. Goldstein
Năm: 1989
[14] Melvyn C. Goldstein, Ben Jiao, and Tanzen Lhundrup (1989), On the Cultural Revolution in Tibet: the Nyemo Incident of 1969, University of California Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: On the Cultural Revolution in Tibet: the Nyemo Incident of 1969
Tác giả: Melvyn C. Goldstein, Ben Jiao, and Tanzen Lhundrup
Năm: 1989
[15] Mary craig (1997) Kundun, A biography of the Family of the Dalai Lama, Harper Collins Publishers, London Sách, tạp chí
Tiêu đề: A biography of the Family of the Dalai Lama
[16] Mary Craig (1999), Tears of Blood: A Cry for Tibet, Counterpoint Publisher Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tears of Blood: A Cry for Tibet
Tác giả: Mary Craig
Năm: 1999
[17] George N. Patterson (1962), Recent Chinese Policies in Tibet and towards the Himalayan Border States, Cambridge University Press Sách, tạp chí
Tiêu đề: Recent Chinese Policies in Tibet and towards the Himalayan Border States
Tác giả: George N. Patterson
Năm: 1962
[18] H.H. the Dalai Lama (2011), Beyond Religion: Ethics for a Whole World, Published by Houghton Mifflin Harcourt in the USA, Signal/M&S in Canada Sách, tạp chí
Tiêu đề: Beyond Religion: Ethics for a Whole World
Tác giả: H.H. the Dalai Lama
Năm: 2011
[120] Chinese Government in Tibet, http://factsanddetails.com/china.php? itemid=202 Link
[124] 西 藏 問 題,http://big5.fmprc.gov.cn/gate/big5/www.chinaembassy .lt/chn /zt/zgxz/t121853.htm Link
[126] 西 藏 的 主 權 歸 屬 與 人 權 狀 況 tại http://www.china.com.cn/ch- book/xizangq/ixizangq.htm Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w