Điểm lại một số nội dung chính trong các công trình nghiên cứu tiêu biểu, ta thấy tác giả Dương Phú Hiệp, Vũ Văn Hà trong cuốn sách Cục diện châu Á - Thái Bình Dương, xuất bản năm 2006,
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
==========
TRẦN BÁCH HIẾU
CỤC DIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC ĐÔNG Á
NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XXI
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH QUAN HỆ QUỐC TẾ
MÃ SỐ: 60.31.40
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS PHẠM QUANG MINH
HÀ NỘI - 2008
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 3
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỀU 5
LỜI MỞ ĐẦU 6
1 Tính cấp thiết của đề tài 6
2 Tình hình nghiên cứu đề tài 8
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn 11
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12
5 Phương pháp nghiên cứu 13
6 Đóng góp của luận văn 14
7 Kết cấu luận văn 14
Ch-¬ng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN 16
1.1 Khái niệm “cục diện chính trị khu vực” 16
1.2 Các thành tố cấu thành cục diện chính trị khu vực, thế giới 20
1.2.1 Quốc gia 20
1.2.2 Các cơ chế đa phương 22
1.2.3 Các tổ chức phi chính phủ 24
1.2.4 Các công ty xuyên quốc gia 25
1.3 Những nhân tố tác động đến cục diện khu vực, thế giới 27
1.3.1 Sự đấu tranh của các chủ thể trên trường quốc tế 27
1.3.2 Sự thay đổi sức mạnh tổng hợp của các chủ thể 28
1.3.3 Các xu thế chủ yếu của thế giới đương đại 29
1.3.4 Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và toàn cầu hóa 32
Tiểu kết chương 1 38
Ch-¬ng 2 CÁC THÀNH TỐ TRONG CỤC DIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC ĐÔNG Á NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XXI 39
2.1 Chính sách Đông Á của các nước lớn trong khu vực 39
Trang 42.1.1 Nga 39
2.1.2 Trung Quốc 44
2.1.3 Nhật Bản 47
2.2 Quan hệ song phương giữa các nước lớn trong khu vực và với Mỹ 52
2.2.1 Quan hệ Nga - Trung Quốc 52
2.2.2 Quan hệ Nga - Nhật Bản 59
2.2.3 Quan hệ Trung Quốc - Nhật Bản 62
2.2.4 Quan hệ Nga - Mỹ 70
2.2.5 Quan hệ Trung Quốc - Mỹ 72
2.2.6 Quan hệ Nhật Bản - Mỹ 76
2.3 Vị trí và vai trò của các cơ chế đa phương 77
2.3.1 ASEAN 78
2.3.2 ARF 81
2.3.3 APEC 86
2.4 Vị trí và vai trò của các chủ thể phi quốc gia 89
Tiểu kết chương 2 97
Ch-¬ng 3 TÁC ĐỘNG CỦA CỤC DIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC ĐÔNG Á ĐỐI VỚI VIỆT NAM 99
3.1 Cơ hội và thách thức đối với Việt Nam từ cục diện chính trị khu vực Đông Á hiện nay 99
3.1.1 Cơ hội 99
3.1.2 Thách thức 106
3.2 Một số khuyến nghị đối với Việt Nam trong cục diện chính trị khu vực Đông Á những năm đầu thế kỷ XXI 109
Tiểu kết chương 3 114
KẾT LUẬN 116
TÀI LIỆU THAM KHẢO 119
PHỤ LỤC 129
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Ngân hàng phát triển châu Á APEC Asia Pacific Economic Cooperation
Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương
Diễn đàn khu vực ASEAN ASEAN The Association of Southeast Asian Nations
Hiệp hội các nước Đông Nam Á ASEM The Asia - Europe Meeting
Diễn đàn hợp tác Á - Âu CHDCND Cộng hòa Dân chủ Nhân dân
ECOSOC Economic and Social Council
Hội đồng kinh tế - xã hội
Liên minh châu Âu
Hiệp định thương mại tự do
Nhóm 7 nước công nghiệp phát triển nhất thế giới
Tổng sản phẩm quốc nội
Tiểu vùng sông Mekong mở rộng IMF International Monetary Fund
Quỹ tiền tệ quốc tế NATO North Atlantic Treaty Organization
Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương NICs Newly Industrialized Countries
Trang 6Các nước công nghiệp mới ODA Official Development Assistance
Hỗ trợ phát triển chính thức OPEC Organization of Petroleum Exporting Countries
Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ OSCE The Organization for Security and Co-operation in Europe
Tổ chức an ninh và hợp tác châu Âu
SCO Shanghai Cooperation Organization
Tổ chức hợp tác Thượng Hải SEV Совет экономической взаимопомощи Sovyet
Ekonomičeskoy Vzaimopomošči, SEV (СЭВ, SEW) (tiếng
Nga) Council of Mutual Economic Assistance (COMECON) hoặc CMEA (tiếng Anh)
Hội đồng tương trợ kinh tế SNG Tiếng Nga: Содружество Независимых Государств, viết
tắt: СНГ, chuyển tự sang tiếng La Tinh thành Sodruzhestvo Nezavisimykh Gosudarstv
Tiếng Anh: Commonwealth of Independent States (CIS) Cộng đồng các quốc gia độc lập
UNDP United Nations Development Program
Chương trình phát triển Liên Hợp quốc
Ngân hàng thế giới WTO World Trade Organization
Tổ chức thương mại thế giới
Trang 8LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Thế kỷ XX qua đi đã đánh dấu nhiều sự kiện trọng đại trong quan hệ quốc tế Một trong những sự kiện đó là sự ra đời và tan rã của Liên bang Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Xôviết (gọi tắt là Liên Xô) Liên Xô tan rã đã tác động không nhỏ đến sự thay đổi tương quan lực lượng trên thế giới, đồng thời tạo nên những chuyển biến nhanh chóng trong đời sống chính trị quốc tế của các nước cũng như các khu vực trên phạm vi toàn cầu Trật tự thế giới hai cực đối đầu từng tồn tại gần nửa thế kỷ đã kết thúc, cục diện thế giới và cơ cấu quyền lực quốc tế đang được sắp xếp lại Quan hệ giữa các quốc gia dân tộc không còn bị chi phối nặng nề bởi ý thức hệ, thay vào đó là lợi ích dân tộc được đặt lên hàng đầu trong quan hệ quốc tế So sánh lực lượng trên bình diện toàn cầu từ chỗ cân bằng giữa hai hệ thống chính trị - xã hội đối lập đã và đang chuyển sang hướng có lợi cho Mỹ và phương Tây
Trong bối cảnh nhiều biến động ấy, Đông Á hiện hữu trên bàn cờ chính trị quốc tế với nhiều bình diện khác nhau Trong suốt ba thập kỷ qua, Đông Á được các chuyên gia đánh giá là một khu vực kinh tế năng động nhất trên thế giới Trong giai đoạn 1980-2003, GDP của khu vực Đông Á đạt tốc độ tăng trung bình 7%/năm, cao hơn hẳn tốc độ trung bình của các khu vực khác trong nền kinh tế thế giới [15, tr 44] Đông Á như một “đàn ngỗng bay” (“flying - geese model”) với Nhật Bản là con đầu đàn đã khiến nhiều người trên thế giới cho rằng “thế kỷ XXI là thế kỷ của châu Á” [16, tr 88] Đông Á cũng là khu vực có lãnh thổ rộng lớn, dân số đông và tài nguyên giàu có Các quốc gia trong khu vực đang ở những giai đoạn khác nhau của sự phát triển kinh tế cùng với những nét đa dạng trong hệ thống chính trị, các đặc trưng dân tộc và truyền thống văn hóa
Trang 9Sau chiến tranh lạnh, các quốc gia, các tổ chức quốc tế trong khu vực đều có những điều chỉnh trong chiến lược và chính sách phát triển của mình
và chính những sự điều chỉnh này đã tác động trở lại đến toàn bộ cục diện thế giới và khu vực Ở Đông Á, những nước như Nhật Bản, Trung Quốc, Nga, tổ chức khu vực như Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (The Association of Southeast Asia Nations - ASEAN), Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (Asia Pacific Economic Cooperation - APEC) là những nước và
tổ chức khu vực được coi là có tác động trực tiếp đến việc hình thành cục diện thế giới hiện nay và trong tương lai Đồng thời, Đông Á cũng là khu vực đan xen lợi ích và có quan hệ phức tạp giữa các nước lớn Chính những yếu tố trên đã tác động đến việc hình thành các đặc điểm riêng biệt của khu vực này
Bối cảnh quốc tế với nhiều sự kiện trọng đại và phức tạp sau chiến tranh lạnh, cùng với những tác động đa chiều của nó đã ảnh hưởng đến cục diện chính trị và quan hệ quốc tế ở Đông Á
Việt Nam là thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á, một
bộ phận quan trọng của khu vực Đông Á, là chủ nhà của nhiều sự kiện quốc tế quan trọng, trong đó có Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương lần thứ XIV Do vậy, tình hình phát triển của khu vực này có ảnh hưởng rất lớn đối với Việt Nam hiện nay và trong tương lai
Từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (1986) của Đảng Cộng sản Việt Nam đến nay, Việt Nam đã nhiều lần nhận định về tình hình khu vực Đông Á nói riêng, khu vực châu Á - Thái Bình Dương nói chung, đặc biệt là
về tình hình chính trị, bởi vì có ổn định chính trị thì mới đảm bảo an ninh khu vực, từ đó mới có điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của đất nước
Với tất cả những lý do trên, chúng tôi quyết định lựa chọn đề tài Cục
diện chính trị khu vực Đông Á những năm đầu thế kỷ XXI làm luận văn
thạc sĩ khoa học quan hệ quốc tế của mình
Trang 102 Tình hình nghiên cứu đề tài
Cục diện chính trị khu vực Đông Á những năm đầu thế kỷ XXI là đề
tài còn khá mới mẻ ở Việt Nam Từ khi Đảng và Nhà nước ta từng bước thực hiện đổi mới tư duy đối ngoại, xây dựng chính sách đối ngoại rộng mở, tích cực, độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế với mục tiêu hàng đầu là tạo lập môi trường quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp phát triển đất nước, chúng ta đã ngày càng chú trọng tới cục diện chính trị khu vực Sự
quan tâm của các học giả trong và ngoài nước tới đề tài cục diện chính trị khu
vực Đông Á từ đó cũng ngày càng tăng
Cho đến nay, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu đã được công bố trên các tạp chí uy tín cả trong và ngoài nước về cục diện thế giới nói chung,
cục diện khu vực Đông Á nói riêng như: Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, Nghiên
cứu Trung Quốc, Nghiên cứu Đông Bắc Á, Nghiên cứu Đông Nam Á, Châu
Mỹ ngày nay, Cộng sản… Ở Việt Nam, việc nghiên cứu Cục diện chính trị Đông Á những năm đầu thế kỷ XXI đang là hướng nghiên cứu được các học
giả chú ý
Điểm lại một số nội dung chính trong các công trình nghiên cứu tiêu
biểu, ta thấy tác giả Dương Phú Hiệp, Vũ Văn Hà trong cuốn sách Cục diện
châu Á - Thái Bình Dương, xuất bản năm 2006, đã phác thảo một bức tranh
tổng thể về cục diện của khu vực châu Á - Thái Bình Dương trong 20 năm đầu thế kỷ XXI mà trọng tâm là Đông Bắc Á và Đông Nam Á; cung cấp những thông tin, luận cứ khoa học, dự báo tình hình và các xu hướng phát triển cũng như sự kiện liên kết khu vực nhằm xác định những tác động của
chúng đối với Việt Nam Cuốn sách gồm 4 chương: Chương I xác định cục
diện kinh tế khu vực châu Á - Thái Bình Dương, làm rõ các xu hướng biến đổi chủ yếu về lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, qua đó thể hiện những thay đổi về thế và lực của các nền kinh tế, các chủ thể kinh tế trong khu vực
Chương II trình bày cục diện chính trị, an ninh khu vực châu Á - Thái Bình
Trang 11Dương, đưa ra một cách khái quát nhất thực trạng chính trị, an ninh, các quan
hệ quốc tế, so sánh lực lượng chính trị-kinh tế, cơ chế và cách thức giải quyết các vấn đề của khu vực từ sau chiến tranh lạnh đến nay, đồng thời đưa ra một
số điểm thuận lợi, thách thức và xu hướng phát triển đến năm 2020 Chương
III: Cục diện văn hoá, xã hội bàn về vấn đề văn hoá, dân tộc, tôn giáo, dân số,
việc làm, phân tầng xã hội và phúc lợi xã hội Tiếp theo, Chương IV đề cập
đến sự tác động của cục diện châu Á - Thái Bình Dương đối với Việt Nam Đây không chỉ là môi trường trực tiếp của Việt Nam, nơi chứa đựng những lợi ích cơ bản mà còn là khu vực có vị trí quan trọng trong hệ thống quan hệ đối ngoại của Việt Nam và là đầu cầu đi ra thế giới
Trong cuốn sách Quan hệ của Mỹ với các nước lớn ở khu vực châu Á -
Thái Bình Dương, tác giả Vũ Dương Huân đã khái quát tình hình thế giới khi
bước vào thiên niên kỷ mới với những chuyển biến lớn lao Cục diện chính trị quốc tế biến đổi to lớn Liên Xô tan rã, Mỹ trở thành siêu cường duy nhất còn lại trên thế giới với ưu thế vượt trội cả về kinh tế, quân sự, chính trị Tuy vậy,
Mỹ không thể hoàn toàn đơn phương áp đặt ý chí của mình trong các vấn đề quốc tế Sự trỗi dậy của nhiều quốc gia như Trung Quốc, Nhật Bản, Liên minh châu Âu, Ấn Độ là những thách thức đối với xu hướng bá quyền của
Mỹ Cục diện thế giới đang chuyển dần từ hai cực sang đa cực, đặc biệt rõ nét
ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương Cuốn sách là sự tìm hiểu và nghiên cứu mối quan hệ giữa Mỹ, siêu cường duy nhất, với các cường quốc khác ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương có ý nghĩa to lớn đối với các nhà nghiên cứu, hoạt động đối ngoại trong thời kỳ hiện nay, khi Đảng và Nhà nước ta tích cực triển khai đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ đối ngoại
Tác giả Trần Quang Minh trong cuốn sách Quan điểm của Nhật Bản về
liên kết Đông Á trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế xuất
bản năm 2007 đã hệ thống hoá và phân tích một cách có chọn lọc các quan
Trang 12điểm chính sách chủ yếu của chính phủ và giới học thuật của Nhật Bản về liên kết Đông Á trong bối cảnh quốc tế mới kể từ sau khi kết thúc chiến tranh lạnh đến nay Từ đó đề xuất một số kiến nghị về đối sách của Việt Nam trong quan
hệ với Nhật Bản nói riêng và với các nước khu vực nói chung nhằm tranh thủ thời cơ và đối phó với những thách thức của tiến trình liên kết Đông Á Đồng thời, để hiểu vấn đề một cách có hệ thống, cuốn sách cũng đề cập đến những nét chung nhất về cơ sở của liên kết Đông Á và các quan điểm chính sách của Nhật Bản về liên kết Đông Á trước những năm 1990
Các tác giả nước ngoài, trên cơ sở phân tích cục diện Đông Á nói riêng, châu Á - Thái Bình Dương nói chung trên nhiều khía cạnh đã luận giải nhiều vấn đề, vị trí chiến lược của khu vực này trong các công trình nghiên
cứu như Non-traditional Security Cooperation for Regionalism in Northeast
Asia (Hợp tác an ninh phi truyền thống vì lợi ích khu vực ở Đông Bắc Á) của
tác giả Tsuneo Akaha, xuất bản năm 2003; Towards an ASEAN Security
Community (Hướng tới một cộng đồng an ninh ASEAN) của tác giả Roldolfo
C Severino, xuất bản năm 2004; Towards a New Security Order in Pacific
Asia (Hướng tới một trật tự an ninh mới ở châu Á – Thái Bình Dương) Trong Pacific Asia 2022: Sketching Future of a Region (Phác thảo tương lai một khu vực) của tác giả Yoon Young-Kwan xuất bản năm 2005; The Emerging East Asian Community – Security & Economic Issues (Sự nổi lên của vấn đề kinh tế và an ninh trong của cộng đồng Đông Á) của tác giả Lee Poh Ping,
Tham Siew Yean, George T Yu xuất bản năm 2006; Stability and Complexity
in Asia-Pacific Security Affairs (Sự ổn định và phức tạp trong các vấn đề an ninh của khu vực châu Á – Thái Bình Dương) của tác giả Robert Ayson, xuất
bản năm 2006…
Nhìn chung, tuy có khác nhau về quy mô công trình, phạm vi nghiên cứu, nhưng các tác giả nước ngoài đều thống nhất ở những điểm sau:
Trang 13- Đông Á ngày càng đóng vai trò quan trọng trong mọi lĩnh vực của thế giới thời kỳ sau chiến tranh lạnh
- Xuất phát từ đặc điểm trên, các nước lớn trong khu vực đều điều chỉnh chính sách khu vực của mình, nhằm mở rộng ảnh hưởng, giành lấy vai trò chi phối khu vực, làm thay đổi cục diện khu vực
Có thể nói, các công trình nói trên cũng đã đưa ra một bức tranh tương đối đa dạng, hoàn chỉnh về khu vực Đông Á với nhiều khía cạnh, nhiều khu vực địa lý Và khi nghiên cứu về khu vực Đông Á, các công trình này đã sử dụng các khái niệm khác nhau như “cục diện”, “tình hình”, “môi trường”, hoặc không đưa ra được một tên gọi chính xác Hoặc nếu có công trình nào sử dụng khái niệm “cục diện” thì cũng chưa có sự giải thích thấu đáo nội hàm của khái niệm này
Mặt khác, những công trình nghiên cứu và các bài nghiên cứu chủ yếu tập trung vào các nội dung cục diện khu vực Đông Á nói chung, hay các vấn
đề ngoại giao, an ninh khu vực Đông Bắc Á, Đông Nam Á nói riêng… mà vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào nghiên cứu cụ thể, sâu sắc khía cạnh chính trị trong cục diện khu vực Đông Á những năm đầu thế kỷ XXI cũng như nêu lên những tác động của cục diện đó đối với Việt Nam, từ đó đưa ra những khuyến nghị cho Việt Nam trước cục diện chính trị khu vực Đó
là lí do giải thích tại sao chúng tôi muốn tiếp tục tìm hiểu về cục diện chính trị khu vực Đông Á đặc biệt là trong những năm đầu thế kỷ XXI
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục đích của luận văn là làm rõ cục diện chính trị khu vực thông qua việc phân tích, so sánh tương quan lực lượng của các chủ thể chủ yếu ở Đông
Á những năm đầu thế kỷ XXI và tác động của cục diện chính trị đó đối với Việt Nam
Để thực hiện mục tiêu trên, luận văn đặt ra một số nhiệm vụ chủ yếu sau:
Trang 141 Tìm hiểu khái niệm “cục diện chính trị khu vực Đông Á” những năm đầu thế kỷ XXI
2 Phân tích những nhân tố tác động đến sự thay đổi cục diện chính trị khu vực Đông Á trước hết và chủ yếu là vai trò, vị trí của các nước lớn trong khu vực như Nga, Trung Quốc, Nhật Bản, cũng như ảnh hưởng của Mỹ và quan hệ giữa các nước đó
3 Phân tích vai trò của các tổ chức khu vực và các diễn đàn đa phương như ASEAN, ARF, APEC, các tổ chức phi chính phủ và các công ty xuyên quốc gia trong cục diện chính trị khu vực Đông Á
4 Đánh giá tác động của cục diện chính trị Đông Á đối với Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Cục diện chính trị ở khu vực Đông Á
Phạm vi không gian: Khu vực Đông Á, bao gồm những quốc gia Đông
Bắc Á và Đông Nam Á Cho đến nay đã có rất nhiều ý kiến về cách xác định khuôn khổ Đông Á xét từ các tiêu chí khu vực địa - văn hóa, địa - lịch sử Có
ý kiến cho rằng Đông Á bao gồm Đông Bắc Á và Đông Nam Á, hoặc coi Đông Á chính là Đông Nam Á Có ý kiến cho rằng Đông Á chỉ bao gồm các nước và vùng lãnh thổ thuộc tiểu khu vực Đông Bắc Á Ngoài ra còn có cách gọi Đông Á bao gồm cả Nam Á nhưng không phổ biến [15, tr 31] Hay có cách hiểu khác, Đông Á là vùng bờ phía Tây của Thái Bình Dương, trải dài từ vùng Trucốtca của Nga ở phía Bắc tới Singapore ở phía Nam [75, tr 56] Theo định nghĩa trong Từ điển Bách khoa thư thì “Đông Á là một phần của vành đai núi lửa quanh Thái Bình Dương và của máng te-tít cũ chạy từ sơn nguyên Tiểu Á đến quần đảo Mã Lai”, theo đó, Đông Á là một phần lục địa châu Á, giáp Thái Bình Dương, thuộc ôn đới, cận nhiệt đới và nhiệt đới (từ 20
độ đến 60 độ vĩ bắc), phần đất liền chủ yếu thuộc nền Trung Hoa và khu uốn nếp Trung Sinh, ngoài đất liền còn quần đảo Kuril, Sakhalin, Nhật Bản, Đài
Trang 15Loan Các nước ở Đông Á gồm miền Viễn Đông của Nga, Trung Hoa, Nhật Bản, CHDCND Triều Tiên, Hàn Quốc
Rõ ràng, khái niệm khu vực Đông Á còn có nhiều cách hiểu khác nhau Chính vì những nhận thức khác nhau về khu vực Đông Á như trên nên quan niệm về Đông Á của các nhà nghiên cứu cũng rất khác nhau Trong luận văn này, quan điểm của chúng tôi khi nói đến Đông Á là nói đến cả hai tiểu khu vực là: Đông Bắc Á gồm các nước Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, CHDCND Triều Tiên, vùng Viễn Đông của Nga, một số vùng lãnh thổ và một
số quần đảo khác; Đông Nam Á với toàn bộ 11 quốc gia nằm trong đó, cụ thể
là Brunei, Campuchia, Đông Timo, Inđônêxia, Lào, Malaixia, Mianma, Philippin, Singapore, Thái Lan và Việt Nam Bên cạnh đó cũng không thể không nhắc tới vai trò của Mỹ - quốc gia có vai trò chi phối mạnh mẽ cục diện chính trị khu vực Đông Á, vì thế trong luận văn này, Mỹ được nhắc tới như một chủ thể quan trọng tuy không nằm trong phạm vi địa chính trị khu vực Đông Á nhưng lại được đề cập như một chủ thể góp phần tạo nên cục diện chính trị Đông Á
Phạm vi thời gian: luận văn chỉ nghiên cứu cục diện chính trị khu vực
Đông Á trong những năm đầu thế kỷ XXI
5 Phương pháp nghiên cứu
Vì đối tượng nghiên cứu của luận văn là một vấn đề chính trị và mang tính lịch sử sâu sắc nên phương pháp nghiên cứu khoa học chính trị và lịch sử
sẽ là những phương pháp quan trọng Việc bám sát các quan điểm đánh giá tình hình quốc tế và khu vực của Đảng ta trong các văn kiện đại hội được coi
là căn cứ lý luận, định hướng cho tư tưởng trong quá trình nghiên cứu đề tài
Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng một cách tổng hợp các phương pháp nghiên cứu, tiếp cận phù hợp với các vấn đề lịch sử chính trị quốc tế, trong đó, phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp lôgíc là chủ
Trang 16yếu Các phương pháp khác như phương pháp tổng hợp, thống kê, so sánh… được sử dụng với mức độ khác nhau hỗ trợ cho phương pháp chủ yếu nêu trên
6 Đóng góp của luận văn
Dựa vào nguồn tài liệu chính thống trong và ngoài nước, luận văn góp
phần luận giải và làm sáng tỏ thêm cục diện chính trị khu vực Đông Á những
năm đầu thế kỷ XXI và những tác động đối với Việt Nam Qua đó, có thể thấy
được sự thay đổi của trật tự thế giới, tương quan lực lượng trên bàn cờ chính trị khu vực Đông Á - nơi nước ta là một thành viên Luận văn sẽ là tài liệu tham khảo cho việc học tập của sinh viên chuyên ngành quan hệ quốc tế, chính trị học, lịch sử… và cho những người quan tâm đến các vấn đề chính
trị, quan hệ quốc tế ở khu vực Đông Á và thế giới
7 Kết cấu luận văn
Xuất phát từ mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu nói trên, ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn có kết cấu ba chương, cụ thể là:
Chương này trình bày những kiến thức cơ bản về khái niệm “cục diện”,
“cục diện chính trị khu vực” Sau đó, chương này nêu lên các bộ phận cấu thành cũng như những nhân tố tác động đến cục diện chính trị khu vực và thế giới Từ đó tạo thành cơ sở lý luận vấn đề nghiên cứu của luận văn
VỰC ĐÔNG Á NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XXI
Chương này trình bày chính sách Đông Á của các nước lớn trong khu vực, quan hệ song phương của các nước đó với nhau, trong đó có cả Mỹ, quốc gia có tác động mạnh mẽ chi phối cục diện chính trị khu vực Đông Á Đồng thời, chương này cũng phân tích vị trí vai trò của các cơ chế đa phương như ASEAN, APEC… các chủ thể phi quốc gia như các tổ chức quốc tế, phi chính phủ, các công ty xuyên quốc gia trong cục diện chính trị Đông Á
Trang 17Chương 3 TÁC ĐỘNG CỦA CỤC DIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC ĐÔNG Á ĐỐI VỚI VIỆT NAM
Chương này trình bày những tác động của cục diện chính trị khu vực Đông Á, cơ hội và thách thức từ cục diện đó đối với Việt Nam Từ đó, đưa ra một số khuyến nghị, phương hướng, đối sách cho Việt Nam trước cục diện chính trị khu vực Đông Á những năm đầu thế kỷ XXI
Do đề tài nghiên cứu mang tính thời sự cao, nguồn tài liệu tuy phong phú nhưng nhiều chiều cần được bổ sung và cập nhật thêm, với thời gian có hạn cùng sự hiểu biết và kinh nghiệm của người viết còn hạn chế nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Rất mong được nhận sự chỉ dẫn và góp ý của các thầy cô giáo để tác giả có thể hoàn thiện bản luận văn này
Trang 18Ch-¬ng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
1.1 Khái niệm “cục diện chính trị khu vực”
“Cục diện” là thuật ngữ được sử dụng khá rộng rãi trong thời gian gần đây ở Việt Nam, mặc dù chưa có một định nghĩa thật rõ ràng, hoàn chỉnh Theo từ điển tiếng Việt, cục diện “là tình hình chung của cuộc đấu tranh, cuộc tranh chấp, biểu hiện ra trong một thời điểm nhất định” Trong tiếng Anh, từ
“cục diện” thường được dùng là conjunture và complexion, thể hiện tình cảnh,
cảnh ngộ và phản ánh diện mạo chung, và cũng được hiểu là diện mạo hoặc đặc điểm, khía cạnh chung nhất của một hiện tượng, sự vật, ví dụ như trong từ
“cục diện chiến tranh” (the complexion of the war) [77, tr 236] Theo tác giả
Lê Văn Sang, cục diện thế giới “là kết cấu các quan hệ kinh tế chính trị quốc
tế, các chủ thể kinh tế chính trị lớn tương đối ổn định và có ảnh hưởng lớn đến toàn bộ thế giới trong quá trình phát triển” [54, tr 12] Trong một số công trình khác, các tác giả cho rằng, khái niệm cục diện chỉ “thực trạng tình hình trên các lĩnh vực chủ yếu của đời sống xã hội” thể hiện ở ba cục diện kinh tế, chính trị, an ninh và văn hoá xã hội.” [24, tr 14]
Gần đây, tại Hội thảo khoa học Cục diện thế giới 2020 do Học viện Ngoại giao tổ chức vào ngày 14 tháng 8 năm 2008, trong bài viết Xu hướng
phát triển cục diện thế giới đến năm 2020 - Thách thức và cơ hội đối với Việt Nam, tác giả Hồng Hà có đưa ra định nghĩa “cục diện thế giới” là bộ mặt tổng
quan, trạng thái các lực lượng, các chủ thể trong đời sống quốc tế có mối quan
hệ tác động lẫn nhau ở một thời điểm nhất định Theo đó, cục diện thế giới là một khái niệm động, chuyển biến với một tần suất ngày càng nhanh, phức tạp
và có những đột biến khó lường, khó dự báo Khái niệm “cục diện thế giới” không nên được hiểu chỉ là tình hình chung thế giới Cục diện thế giới có nội hàm rộng bao gồm không chỉ là cục diện chính trị mà cả các lĩnh vực khác:
Trang 19kinh tế, văn hóa, môi trường, sắc tộc, tôn giáo, quốc phòng, an ninh… với những mối liên kết song phương, đa phương, toàn cầu Cục diện thế giới phát triển theo quy luật của nó Tìm được ra quy luật phát triển của nó thì có cách đánh giá đúng cục diện Trong cái biến đổi của cục diện có thể tìm ra cái không biến đổi, thấy ra cái trật tự trong sự mất trật tự của cục diện Cũng trong một bài viết cùng tên, tác giả Lê Văn Cương đưa ra khái niệm “cục diện thế giới” là sự vận động, phát triển của sự phân bố lực lượng và cấu trúc quyền lực giữa các quốc gia, trước hết và chủ yếu là giữa các cường quốc, trên sân khấu chính trị thế giới được thể hiện ở các trạng thái chiến tranh và hoà bình, ổn định và không ổn định, xung đột và hòa dịu, hợp tác và cạnh tranh, thoả hiệp và đối đầu ở cấp độ toàn cầu [9, tr 1]
Trong bài viết Vài ý kiến về cục diện thế giới hiện nay, tác giả Vũ
Dương Huân có đưa ra khái niệm “cục diện thế giới, cục diện khu vực” là tình hình mọi mặt của thế giới, khu vực, trong một khoảng thời gian nhất định cũng như tương quan lực lượng giữa các lực lượng chính trị chủ yếu trên bàn
cờ chính trị thế giới, khu vực [29, tr 1]
Trong cuốn Lịch sử thế giới hiện đại, Giáo sư Nguyễn Anh Thái (chủ
biên) có sử dụng thuật ngữ “cục diện” trong câu: “cục diện chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn chót” [57, tr 223]… và còn nhiều tác giả, nhà khoa học sử dụng thuật ngữ “cục diện” trong các bài báo, các công trình nghiên cứu của mình
Nói tóm lại, “cục diện” là bố cục, diện mạo thường đi cùng với từ chính trị, thế giới, khu vực, là tình hình cụ thể thể hiện trật tự, sự phân bố quyền lực trong một giai đoạn nhất định Trong cục diện đó (cục diện thế giới, cục diện khu vực), các nước lớn, các tổ chức đa phương, các tổ chức phi chính phủ và các công ty xuyên quốc gia giữ vị trí, vai trò vô cùng quan trọng Đây cũng chính là quan điểm xuyên suốt mà luận văn áp dụng trong quá trình thực hiện
Trang 20Trong “Giáo trình Chính trị học” của Học viện Hành chính Quốc gia, Nhà xuất bản Giáo dục, năm 2006, các tác giả có đưa ra khái niệm “cục diện chính trị quốc tế” như sau: cục diện chính trị quốc tế là phạm trù của chính trị quốc tế chỉ tương quan trong quan hệ quốc tế giữa các quốc gia và khu vực (về chính trị, kinh tế, văn hóa…) trong quan hệ can thiệp, ảnh hưởng lẫn nhau xét theo từng giai đoạn cụ thể Cục diện chính trị quốc tế là sự thể hiện của hệ thống chính trị quốc tế được xem xét theo tương quan vị thế, tương lai của các quốc gia và khu vực [32, tr 196]
Bản thân cục diện chính trị khu vực hay quốc tế đều phản ánh sự ổn định tương đối trong sự biến đổi liên tục của đời sống chính trị Nó là kết quả của các diễn biến chính trị quá khứ và là mầm mống của các diễn biến trong tương lai Vì vậy, thông qua cục diện chính trị, bao giờ người ta cũng nhìn thấy hướng đi tương lai của chính trị khu vực và quốc tế [32, tr 196]
Để tìm hiểu thế nào là “cục diện chính trị khu vực”, trước hết ta xét tới khái niệm “cục diện khu vực” Về khái niệm này, đã có nhiều định nghĩa được đưa ra Có quan điểm cho rằng đó là kết cấu thực lực được hình thành bởi so sánh lực lượng, tập hợp lực lượng giữa các quốc gia trong khu vực, là những nguyên tắc, quy phạm, phương pháp, thủ đoạn xử lý các mối quan hệ giữa các quốc gia với nhau trong khu vực
Khái niệm “chính trị” trong cụm từ “cục diện chính trị” được hiểu là khả năng chi phối, tham gia chi phối sân khấu chính trị khu vực, thế giới Tất nhiên, muốn chi phối hoặc tham gia chi phối sân khấu chính trị khu vực, thế giới, cần
có sức mạnh quân sự, tiềm lực kinh tế, an ninh và giá trị văn hoá dân tộc
Từ đó có thể đưa ra định nghĩa “cục diện chính trị khu vực” là kết cấu các quan hệ chính trị quốc tế, các nền chính trị quốc gia, quyền lực của các chủ thể chính trị thế giới, tương đối ổn định và có ảnh hưởng lớn đến khu vực trong quá trình phát triển, phân hoá, sáp nhập của các lực lượng kinh tế, chính trị, quân sự trong khu vực Đồng thời, cục diện chính trị luôn tác động trở lại
Trang 21cục diện kinh tế của khu vực và ngược lại Có thể chỉ ra một số yếu tố cơ bản của cục diện chính trị như: đó là các nền chính trị, các hệ thống nhà nước, các đảng cầm quyền và các quyết sách của họ, các lực lượng chính trị đối lập…
Có nhiều cách tiếp cận để tìm hiểu cục diện này Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, khi nói đến chính trị là nói đến quyền lực, đến giai cấp và nhà nước Nội dung cốt lõi của quyền lực là lợi ích kinh tế Khi bàn đến các nhà nước trong khu vực đại diện cho các giai cấp nào, nhằm vào những lợi ích
gì, thông qua việc tổ chức và tập hợp các lực lượng như thế nào, xây dựng các mối quan hệ quốc tế ra sao, nhằm vào những lợi ích gì, bằng hình thức và cơ chế gì để đạt được và bảo vệ các lợi ích đó cũng có nghĩa là chúng ta đang bàn đến thực trạng chính trị của khu vực Khi nghiên cứu, tìm hiểu diễn biến của các quan hệ quốc tế trong khu vực, đặc biệt là tìm hiểu lợi ích bên trong của các mối quan hệ giữa các nước lớn với nhau, giữa các nước lớn với các nước nhỏ và giữa các nước nhỏ với nhau, đồng thời thấy được những biện pháp, cơ chế và các hình thức mà các nước này triển khai thực hiện nhằm vào các lợi ích bên trong đã xác định; đó cũng có nghĩa là chúng ta đang nghiên cứu một cách tổng thể thực trạng chính trị của khu vực Ngoài ra còn có một cách nhìn nhận nữa về cục diện chính trị khu vực là xác định những vấn đề đang nổi lên thuộc lĩnh vực này của khu vực và cách thức giải quyết những vấn đề đó trong khu vực Những vấn đề của khu vực đang nổi lên hiện nay có
lẽ cũng không khác nhiều so với các vấn đề của thế giới: đó là vấn đề trật tự trong khu vực, vấn đề phát triển kinh tế, vấn đề đảm bảo hòa bình và an ninh trong khu vực “Cục diện chính trị Đông Á” cũng được hiểu với nội hàm như vậy Tuy nhiên, mục đích được đặt ra ở đây còn là tìm hiểu cục diện chính trị khu vực Đông Á theo quan điểm tìm hiểu một cách khái quát nhất thực trạng chính trị và các quan hệ quốc tế cũng như so sánh lực lượng chính trị - kinh
tế, cơ chế và cách thức giải quyết các vấn đề của khu vực từ sau chiến tranh
Trang 22lạnh đến nay, đồng thời đưa ra một số dự báo về xu hướng phát triển chính trị của Đông Á những năm tiếp theo
Trong luận văn này, cục diện chính trị Đông Á trong những năm đầu
thế kỷ XXI là cục diện với những ý nghĩa trên nhưng nó chỉ diễn ra trong
những năm đầu của thế kỷ này
1.2 Các thành tố cấu thành cục diện chính trị khu vực, thế giới
Như đã nói ở trên, cục diện chính trị khu vực là kết cấu các quan hệ chính trị quốc tế, các nền chính trị quốc gia, tương đối ổn định và có ảnh hưởng lớn đến khu vực trong quá trình phát triển, phân hoá, sáp nhập của các lực lượng kinh tế, chính trị, quân sự trong khu vực Và cục diện đó được tạo nên bởi sự kết hợp vị trí, vai trò của các chủ thể quốc gia, các cơ chế đa phương, các chủ thể phi quốc gia như các tổ chức phi chính phủ, các công ty xuyên quốc gia trong khu vực
1.2.1 Quốc gia
Nói tới bố cục, diện mạo, tình hình cụ thể của một khu vực trong một giai đoạn nhất định không thể không nói tới sự thay đổi, tác động của các nước lớn trong khu vực bởi trước hết, đó là các chủ thể quốc gia trong quan
hệ quốc tế Sự tương tác giữa các chủ thể làm nên quan hệ Không có chủ thể quan hệ quốc tế thì không có quan hệ quốc tế, không có cục diện khu vực, thế giới Tất cả những yếu tố thuộc về chủ thể đều có thể ảnh hưởng tới cục diện khu vực, thế giới Trong số các chủ thể của cục diện thế giới, quốc gia là chủ thể không phải bàn cãi Quốc gia cũng được coi là chủ thể quan hệ quốc tế cơ bản và quan trọng nhất và một lẽ nữa quốc gia đương nhiên là chủ thể của Luật pháp quốc tế Vai trò nhất định của từng quốc gia trong một giai đoạn nhất định đã góp phần tạo lập được cục diện chính trị khu vực và thế giới Các quốc gia khi tham gia vào đời sống chính trị khu vực và thế giới là để bảo đảm sự an toàn về chính trị của mình đối với bên ngoài Nhưng sự an toàn đó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong nước cũng như bên ngoài mà chính các
Trang 23quốc gia cũng không thể kiểm soát, không thể lường trước được Những yếu
tố đó có thể là kinh tế, chính trị, dân tộc, tôn giáo, có thể là chủ quan (các chính khách), có thể khách quan như yếu tố về thiên tai…
Trước hết, chúng ta thấy rằng mục đích của quốc gia khi tham gia quan
hệ quốc tế là lớn nhất khi gắn liền với những lợi ích cơ bản của quốc gia và cộng đồng cư dân là tồn tại thịnh vượng và phát huy ảnh hưởng trên trường quốc tế Tầm quan trọng sống còn của các lợi ích này khiến cho mục đích tham gia quan hệ quốc tế của nó trở nên mạnh mẽ nhất Tính vững bền của các lợi ích đó khiến mục đích này trở nên thường xuyên Sự tồn tại thường xuyên của mục đích này đem lại khả năng tác động liên tục tới cục diện thế giới Tính đa dạng của các lợi ích đó cũng khiến mục đích này bao trùm mọi lĩnh vực của cuộc sống Sự bao trùm của mục đích đem lại cho nó khả năng ảnh hưởng tới mọi mặt của thế giới [40, tr 32] Có thể nói, mục đích này cũng chính là động lực hình thành và phát triển quan hệ quốc tế và chi phối cục diện khu vực, thế giới lớn nhất Mặc khác, quốc gia dân tộc tham gia quan hệ quốc tế lâu đời nhất Sự ra đời của quốc gia dân tộc tạo cơ sở cho sự hình thành các tương tác qua biên giới giữa chúng Và cục diện thế giới đã hình thành cùng với sự ra đời của quốc gia Quốc gia tham gia quan hệ quốc tế liên tục nhất là vì yêu cầu thực hiện chức năng đối ngoại của chính nó Quốc gia càng phát triển, lợi ích của nó ngày càng vượt ra khỏi khuôn khổ biên giới Và quốc gia ngày càng gắn
bó thường xuyên và chặt chẽ với cục diện khu vực và thế giới Quốc gia tham gia quan hệ quốc tế cũng rộng nhất Lợi ích quốc gia rất đa dạng và bao trùm mọi lĩnh vực của đời sống Vì thế, quốc gia phải tham gia mọi lĩnh vực trong quan hệ quốc tế để thực hiện lợi ích của mình Hơn nữa, quốc gia có khả năng thực hiện quan hệ quốc tế hơn bất cứ chủ thể phi quốc gia nào Quốc gia có sức mạnh tổng hợp như lãnh thổ, dân cư, thực lực quân sự, sức mạnh kinh tế, khả năng huy động xã hội… mà không chủ thể phi quốc gia nào có được [40, tr 33] Vì thế các quốc gia lớn sẽ giữ vị trí và vai trò vô cùng quan trọng trong
Trang 24việc tạo nên các mối quan hệ quốc tế, cục diện an ninh chính trị của mỗi khu vực mà nó hiện diện Bên cạnh đó, ảnh hưởng của quốc gia cũng lớn nhất trên trường quốc tế, quốc gia tham gia vào mọi lĩnh vực của đời sống nên có ảnh hưởng rộng khắp trong quan hệ quốc tế [40, tr 33]
Như vậy, qua đây có thể thấy được vai trò của quốc gia trong cục diện khu vực, thế giới đặc biệt là các quốc gia lớn với vai trò chi phối mạnh mẽ tình hình an ninh chính trị, kinh tế, xã hội của khu vực và trên thế giới Mà ở đây trong luận văn này, các quốc gia lớn đó là Nga, Trung Quốc, Nhật Bản và Mỹ
1.2.2 Các cơ chế đa phương
Cơ chế đa phương là giải pháp cho các vấn đề giữa các nước, với một nhóm hành động sẵn sàng và có thể thực hiện các hoạt động có tính xây dựng cùng nhau Lòng tin là cơ hội và cũng là nhu cầu Cơ chế đa phương “đang rơi vào khủng hoảng bởi thế giới vẫn lệ thuộc vào các quyết định của một vài người trong khi các vấn đề của thế giới cần sự can thiệp dưới dạng hành động tập thể” [100]
Các cơ chế đa phương của khu vực và thế giới giải quyết các vấn đề ổn định và an ninh trước những thách thức và nguy cơ mới, cam kết mở rộng quan hệ kinh tế và an ninh, đồng thời các nước tham gia vào cơ chế đó sẽ ký các thoả thuận về thiết lập quan hệ thương mại, hợp tác an ninh, kể cả an ninh thông tin, chống khủng bố, hợp tác kinh tế - tài chính, giáo dục Rõ ràng, các
cơ chế đa phương khu vực không chỉ là một “công cụ hữu hiệu” để giải quyết các vấn đề phân định biên giới tồn tại nhiều thập kỷ giữa các nước trong khu vực mà còn có khả năng giải quyết nhiều vấn đề khác Các cơ chế đa phương khu vực cũng có khả năng tự giải quyết các vấn đề nảy sinh trong khu vực thuộc phạm vi trách nhiệm của mình, đồng thời sẵn sàng hợp tác trên cơ sở bình đẳng với tất cả các lực lượng ngoài khu vực Đặc biệt trong một thế giới đang chuyển đổi mạnh mẽ như hiện nay khi khu vực Đông Á được đánh giá là nơi có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất trên thế giới, thì các cơ chế đa
Trang 25phương trong khu vực đóng vai trò vô cùng quan trọng Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á là một cơ chế đa phương như thế Trong buổi Lễ kỷ niệm 40 năm thành lập ASEAN được tổ chức trọng thể tại Hà Nội, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đánh giá rằng: “trong 40 năm qua, ASEAN đã trở thành một tổ chức khu vực rất thành công, phát triển năng động, hợp tác chặt chẽ, có quan hệ đối tác mật thiết với nhiều quốc gia và tổ chức quan trọng hàng đầu thế giới Sức mạnh và uy tín của ASEAN ngày càng gia tăng khi Hiệp hội bao gồm cả 10 quốc gia Đông Nam Á Điều đó góp phần củng cố hòa bình, ổn định và sự phồn vinh ở khu vực, tăng cường hợp tác và liên kết giữa các nước thành viên, nâng cao vị thế của Hiệp hội trên trường quốc tế, tạo tiền đề cho những bước phát triển mạnh mẽ tiếp theo ASEAN đóng vai trò nòng cốt trong đẩy mạnh sự hợp tác ở Đông Á và châu Á - Thái Bình Dương vì hòa bình và phát triển thông qua các hoạt động của APEC, Diễn đàn Đông Á, Diễn đàn khu vực ASEAN" [113]
Quá trình toàn cầu hóa và khu vực hóa ngày nay phản ánh sự thay đổi
to lớn trong công nghệ thông tin, viễn thông, dòng chảy tài chính, dòng chảy thương mại, dòng chảy lao động, sự kết nối toàn cầu và những lực lượng cạnh tranh mới Có nhiều nước đang trỗi dậy, họ là bộ phận quan trọng của cục diện toàn cầu Họ muốn tiếng nói của họ được lắng nghe Cơ chế đa phương khu vực và quốc tế là nơi thực hiện những mong muốn đó Có thể nói, một cơ chế đa phương linh hoạt, không cứng nhắc là cơ chế phù hợp với thời đại ngày nay Và một cơ chế như vậy mới phản ánh được mọi việc mà các nước tham gia mong muốn Song, cơ chế đa phương đó cần phát huy tối đa sức mạnh kết nối giữa các thể chế, cụ thể là công hay tư và phải hướng đến việc giải quyết các vấn đề với tinh thần khuyến khích văn hóa hợp tác Đồng thời, các cơ chế đa phương cần: xây dựng tinh thần trách nhiệm chung đối với sức mạnh của nền kinh tế chính trị khu vực, thế giới và có sự tham gia của các tác nhân chính từ các quốc gia đó; mở rộng phạm vi hơn, ngoài những mối quan
Trang 26tâm truyền thống, cơ bản như tài chính và thương mại Ngày nay, thực chất vấn đề năng lượng, biến đổi khí hậu, và ổn định các nước có xung đột và hậu xung đột cũng là những vấn đề mà các cơ chế đa phương cần phải quan tâm
1.2.3 Các tổ chức phi chính phủ
Các tổ chức phi chính phủ (Non-governmental Organization - NGO) ra đời từ cuối thế kỷ XIX và phát triển mạnh mẽ từ đầu thế kỷ XX Sự hiện diện của nó hiện nay diễn ra trong nhiều lĩnh khác nhau của QHQT như kinh tế, khoa học, kỹ thuật, văn hóa, xã hội… Tuy không có nhiều tổ chức phi chính phủ quốc tế (International non-governmental Organization - INGO) trong chính trị nhưng hoạt động của chúng có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp tới lĩnh vực này1
Không chỉ về bề rộng, mức độ tham gia quan hệ quốc tế của các tổ chức phi chính phủ quốc tế cũng tương đối sâu sắc Chúng tham gia ngày càng nhiều vào các lĩnh vực chuyên môn hẹp Chúng cũng đang cuốn hút được nhiều giai tầng xã hội khác nhau tham gia vào quan hệ quốc tế, tạo
nên khả năng tác động nhiều hơn tới cục diện thế giới Mặc khác, các tổ chức
phi chính phủ quốc tế có nhiều nguồn lực để tự tạo cho mình những thẩm quyền riêng ngay từ khi thành lập Đó là sự tự chủ về tài chính và lực lượng, thẩm quyền riêng được thừa nhận chung và sự ủng hộ xã hội Cho dù sự phụ thuộc nhất định vào quốc gia song tính độc lập của nó là rõ ràng khi có xu hướng tăng tác động lên quốc gia và can thiệp nhiều hơn vào khu vực thuộc thẩm quyền quốc gia Bên cạnh đó, năng lực của các tổ chức phi chính phủ quốc tế còn tăng lên bởi mối quan hệ hợp tác với các quốc gia và tổ chức quốc tế khác Đáng chú ý, xu hướng phối hợp và liên kết giữa các tổ chức phi chính phủ đã bắt đầu diễn ra Nếu xu hướng này tiếp tục tăng, năng lực tác
1 Có thể hoạt động tác động tới chính trị sớm nhất là của Hội Chống chế độ Nô lệ Anh và Nước ngoài (British and Foreign Anti - Slavery Society) Trong những năm 1800, tổ chức này đã góp phần quan trọng trong việc xóa bỏ các quy luật về nô lệ Hay trong thập kỷ 1990, hàng trăm NGO với sự phối hợp của chính phủ Canada đã mở chiến dịch nhằm loại bỏ mìn mặt đất Cuối cùng, lệnh cấm sử dụng mìn đã được ban hành Đây là một trong những thành công lớn nhất của các INGO Các tổ chức hoạt động nhân đạo cũng thường liên quan đến chính trị trong các vấn đề như dân chủ và nhân quyền
Trang 27động của các tổ chức phi chính phủ quốc tế cũng sẽ tăng lên trong tương lai [40, tr 47] Về mục đích, các tổ chức phi chính phủ quốc tế đều có tôn chỉ rõ ràng trong văn bản thành lập Mục đích chủ yếu là thúc đẩy hợp tác nhằm thực hiện mục tiêu phát triển trong lĩnh vực nào đó Nếu mục đích phù hợp với ý nguyện của quốc gia và công chúng nên tính hướng đích trong hoạt động của chúng là rõ ràng và mạnh mẽ Hơn nữa, nguyên tắc xây dựng và hoạt động của các tổ chức phi chính phủ quốc tế là tự nguyện và hợp tác nên càng tạo điều kiện cho mục đích hợp tác phát triển của chúng Cho đến nay, hoạt động của các tổ chức phi chính phủ quốc tế đang đóng góp khá nhiều cho hợp tác và phát triển
Ngoài ra, các tổ chức phi chính phủ quốc tế còn góp phần thúc đẩy xu hướng hợp tác, phụ thuộc lẫn nhau, hội nhập trong quan hệ quốc tế Hoạt động của các tổ chức này đang tạo ra các quan hệ xuyên quốc gia giữa các nhóm và cá nhân và đang tạo nên những giá trị chung xuyên quốc gia Đồng thời, nó cũng tham gia vào việc xây dựng cục diện thế giới qua sự đóng góp vào toàn cầu hóa
và xu hướng thống nhất hơn của thế giới
Nói tóm lại, ảnh hưởng của các tổ chức phi chính phủ trong cục diện khu vực, thế giới thể hiện ở tiếng nói tăng lên của chúng đối với quốc gia trong nhiều vấn đề Thậm chí, trong nhiều trường hợp, chúng còn tác động lên các quốc gia
và chủ thể khác, buộc chúng phải điều chỉnh hành vi đối nội và đối ngoại.2
1.2.4 Các công ty xuyên quốc gia
Trước hết, cần phân biệt giữa công ty xuyên quốc gia (Transnational Corporation - TNC) và công ty đa quốc gia (Multinational Corporation - MNC) Công ty đa quốc gia là công ty có sự quốc tế hóa nguồn vốn, tức là có chủ đầu tư thuộc các quốc tịch khác nhau Công ty xuyên quốc gia là công ty
2
Có thể dấu ấn quan trọng mà các INGO tạo ra trong quan hệ quốc tế là từ Hội nghị Rio de Janeiro năm
1992 Khi đó, chúng tạo được áp lực đủ mạnh để dẫn đến thỏa thuận về việc kiểm soát khí thải CO2 Năm
1994, chiến dịch “Năm mươi năm là đủ” của các INGO đã chi phối hội nghị WB và buộc WB phải thay đổi
tư duy và biện pháp của nó Năm 1998, các INGO đã góp phần ngăn cản sự ra đời của Hiệp ước Đa phương
về Đầu tư (MAI) là một dự thảo hiệp định nhằm hòa hợp các luật lệ về đầu tư dưới sự bảo trợ của OECD
Trang 28có sự quốc tế hóa hoạt động kinh doanh nhưng chủ đầu tư thường lệ thuộc một quốc tịch Tuy nhiên, trong bài này, xuất phát từ góc độ có ảnh hưởng xuyên quốc gia trong quan hệ quốc tế, thuật ngữ Công ty Xuyên quốc gia được sử dụng chung để chỉ tất cả các công ty hoạt động trên quy mô quốc tế [55, tr.17-50]
Một công ty xuyên quốc gia là một doanh nghiệp được cấu thành bởi các thực thể ở ít nhất 2 nước, các thực thể này hoạt động dưới một hệ thống ra quyết định chung và định hướng chiến lược phát triển chung Công ty xuyên quốc gia bao gồm công ty mẹ ở một nước, và thực hiện các đầu tư trực tiếp ra nước ngoài để hình thành các công ty con Các công ty mẹ con này ảnh hưởng lẫn nhau và cùng chia sẻ kiến thức, nguồn lực và trách nhiệm lẫn nhau
Sự tăng trưởng mạnh mẽ cả về lượng và chất, vai trò to lớn đối với sự phát triển kinh tế cùng với các tác động ngày càng tăng trong quan hệ quốc tế đang đem lại cho các công ty xuyên quốc gia khả năng của một chủ thể quan
hệ quốc tế, một chủ thể phi quốc gia Các công ty xuyên quốc gia có được vị trí khá lớn trong quan hệ quốc tế và tác động tương đối mạnh mẽ tới cục diện chính trị khu vực không chỉ nhờ thực lực và khả năng kiến tạo các quan hệ xuyên quốc gia Ảnh hưởng này còn được quy định bởi nhu cầu phát triển ngày càng tăng của mọi quốc gia trên thế giới Yếu tố kinh tế, các vấn đề toàn cầu như nghèo đói, dịch bệnh, sự nóng lên toàn cầu… càng nổi lên trong quan
hệ quốc tế, vị thế quốc tế của các công ty xuyên quốc gia càng cao Sự chi phối của kinh tế, xã hội đối với chính trị càng cao, khả năng tác động tới cục diện chính trị thế giới, khu vực càng lớn Các công ty xuyên quốc gia là thế lực không nhỏ trong quan hệ quốc tế khi chúng vẫn có khả năng tác động lên quốc gia và chủ thể khác, buộc chúng phải thay đổi hay điều chỉnh hành vi đối nội và đối ngoại.3
3 Ví dụ, các hoạt động vận động hành lang đối với chính sách của chính quốc, hoạt động can thiệp và gây sức
ép đối với nước sở tại
Trang 291.3 Những nhân tố tác động đến cục diện khu vực, thế giới
Có nhiều nhân tố tác động đến sự thay đổi của cục diện khu vực và thế giới Dưới đây là những nhân tố chủ yếu:
1.3.1 Sự đấu tranh của các chủ thể trên trường quốc tế
Đây là nhân tố quan trọng trong việc dẫn đến sự thay đổi của cục diện thế giới và khu vực Trong nền chính trị thế giới, các chủ thể quan hệ quốc tế,
mà trước hết là các quốc gia dân tộc có lợi ích khác nhau Thông thường, các quốc gia dân tộc chia làm hai lực lượng chủ yếu trong việc thay đổi cục diện, trật tự thế giới Có những nước ủng hộ việc duy trì cục diện, trật tự hiện hành vì lợi ích của mình, song lại có những lực lượng muốn thay đổi cục diện hiện hành, phấn đấu cho một cục diện mới có lợi cho mình hơn nhất là khi tương quan lực lượng đã thay đổi Nhìn lại lịch sử ta thấy các nước như Đức, Ý, Nhật
đã không thể chấp nhận thiệt thòi to lớn bởi hệ thống Versailles - Washington,
họ đẩy nhanh việc phát triển sức mạnh quốc gia Sau cuộc đại khủng hoảng
1929 - 1933, Đức trở thành nước có tiềm lực kinh tế đứng đầu châu Âu, chỉ sau
Mỹ Cũng trong thời gian đó Nhật Bản cũng đẩy mạnh sự phát triển của mình Sau những phục hồi nhanh chóng đó, Đức đòi xét lại toàn bộ các điều khoản của Hòa ước Versailles Các nước phương Tây đã đáp ứng yêu cầu của Đức Tháng 9-1926, Đức được tham gia Hội quốc liên và trở thành ủy viên thường trực vào tháng 2-1931, vấn đề bồi thường chiến tranh được xóa bỏ hoàn toàn Tiếp đó, sau khi lên cầm quyền (1-1933), Đức quốc xã tuyên bố rút khỏi Hội quốc liên và từ 3-1935 quyết định xây dựng lực lượng không quân, phục hồi
Bộ tổng tham mưu… Còn Nhật, xâm lược Đông Bắc Trung Quốc (9-1931) lập nước Mãn Châu, tách khỏi Trung Quốc Trước sự phản đối của Hội quốc liên, Nhật tuyên bố rút khỏi tổ chức này Ý cũng nổi lên đòi phân chia lại khu vực ảnh hưởng bằng cách bành trướng ra Địa Trung Hải: chiếm Êtiôpi (10-1935), cùng với Đức can thiệp vào Tây Ban Nha (7-1936)… Mục đích của phe phát xít là tìm cách xóa bỏ hệ thống Versailles - Washington, phân chia lại thế giới
Trang 30cho phù hợp với tương quan lực lượng mới Năm 1991, sau khi siêu cường Liên Xô tan rã, trật tự thế giới hai cực không còn nữa Mỹ còn lại là siêu cường duy nhất Mỹ quyết liệt thực hiện âm mưu lãnh đạo thế giới, thiết lập trật tự thế giới một cực Trong khi đó các nước lớn khác như Trung Quốc, Nga, Ấn Độ và
cả Liên minh châu Âu (EU) do Pháp, Đức đứng đầu quyết tâm đẩy mạnh phát triển sức mạnh tổng hợp quốc gia, thay đổi cục diện thế giới hiện nay, phấn đấu cho trật tự thế giới đa cực
Rõ ràng, đấu tranh và hợp tác của các chủ thể quan hệ quốc tế là một trong những nhân tố quan trọng đưa đến thay đổi của cục diện thế giới
1.3.2 Sự thay đổi sức mạnh tổng hợp của các chủ thể
Trước hết, cục diện thế giới, khu vực được tạo nên bởi các chủ thể quan
hệ quốc tế, tương quan lực lượng giữa các chủ thể, nhất là các chủ thể chủ chốt Sức mạnh tổng hợp của các chủ thể thay đổi, đương nhiên sẽ dẫn đến sự biến động của cục diện Lịch sử quan hệ quốc tế đã chứng minh sức mạnh tổng hợp của các chủ thể khi thay đổi thì bao giờ cũng kéo theo sự thay đổi của cục diện thế giới, thậm chí cả trật tự thế giới Ta có thể đơn cử vài ví dụ, chiến tranh thế giới lần thứ nhất kết thúc (tháng 11-1918) với sự thất bại của liên minh Đức, Áo - Hung, Thổ, Bungari và thắng lợi của Anh, Pháp, Mỹ… đã làm thay đổi nhanh chóng, cơ bản cục diện thế giới lúc bấy giờ Hệ thống (trật tự) Versailles - Washington được thiết lập đã phân chia lại khu vực ảnh hưởng dựa trên tương quan lực lượng mới sau chiến tranh Trong trật tự này, vai trò chính thuộc về Mỹ, Anh, Pháp Trật tự trên lại một lần nữa thay đổi nhanh chóng khi Đức, với sự giúp đỡ của Mỹ đã khôi phục và phát triển mạnh ở châu
Âu và cùng với việc Nhật Bản nổi lên ở châu Á thực hiện chủ nghĩa phát xít, chủ nghĩa quân phiệt, chuẩn bị chiến tranh đòi chia lại thế giới Với kết quả của cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, Đức, Ý, Nhật bị đánh bại, các cường quốc như Anh, Pháp bị kiệt quệ sau chiến tranh Mỹ và Liên Xô nổi lên, đã hình thành trật tự thế giới mới: trật tự hai cực Ianta do Mỹ và Liên Xô chi phối
Trang 31Trong những năm 90 của thế kỷ XX, Liên Xô tan rã, chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu, Mông Cổ sụp đổ đưa đến sự thay đổi đột biến của tương quan lực lượng thế giới Trật tự hai cực Xô-Mỹ cũng sụp đổ theo Thế giới chuyển sang cục diện nhất siêu, đa cường và đang quá độ chuyển sang trật tự mới Đây là xu thế chủ yếu, quan trọng nhất của sự thay đổi cục diện chính trị khu vực Đông
Á Hiện nay, sức mạnh quốc gia của Trung Quốc, Liên bang Nga - những quốc gia lớn trong khu vực Đông Á… sẽ tiếp tục tăng lên nhanh chóng Sau 30 năm cải cách mở cửa, GDP của Trung Quốc từ 205 tỷ USD (1978) đã 3425.3 tỷ USD (2007), tăng gần 16 lần, tăng 11.4% so với năm 2006 [94] Hiện nay, nền kinh tế Trung Quốc đã vượt lên hàng thứ 3 thế giới, chỉ sau Mỹ, Nhật; theo những số liệu dự báo mới nhất, nếu trong năm 2009 Trung Quốc đạt được tốc
độ tăng trưởng như dự kiến là 8,5% thì nền kinh tế nước này rất có thể sẽ vươn lên vị trí thứ hai thế giới, vượt qua nền kinh tế Nhật Bản Hơn nữa, Trung Quốc
là nước có dự trữ ngoại tệ đứng đầu thế giới Nhiều dự báo chiến lược đều khẳng định, Trung Quốc sẽ tiếp tục phát triển Liên Bang Nga cũng là cường quốc đang trỗi dậy và đang tích cực khôi phục lại vị thế nước lớn của mình sau gần 10 năm cầm quyền của Tổng thống V Putin Hiện nay, Nga là một trong
10 nền kinh tế lớn nhất thế giới, năm 2007 GDP của Nga đạt hơn 1300 tỷ USD [111]
Như vậy, thay đổi tương quan lực lượng là nhân tố có sức nặng nhất trong việc thay đổi cục diện cũng như trật tự thế giới và khu vực Việc thay đổi so sánh lực lượng có thể thông qua chiến tranh như chiến tranh thế giới thứ nhất, chiến tranh thế giới thứ hai hoặc không thông qua chiến tranh như việc Liên Xô tan rã, các chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu sụp đổ
1.3.3 Các xu thế chủ yếu của thế giới đương đại
Xu thế lớn của thế giới phản ánh tương quan lực lượng của thế giới đương đại Các chủ thể quan hệ quốc tế muốn phát triển phải tuân theo xu thế lớn Nếu không tôn trọng các xu thế đó thì khó mà đạt được những mục đích
Trang 32mong muốn Điều này được các quốc gia nhận thức rất rõ Và con người là chủ thể quan trọng trong việc phát hiện ra các xu thế đó Mặt khác, cục diện thế giới hình thành và vận động theo quy luật khách quan, dù các chủ thể có nhận biết được nó hay không Theo đa số các nhà nghiên cứu quốc tế thì khoa học quan hệ quốc tế là khoa học phức tạp nhất trong các khoa học xã hội, nhân văn Chính vì vậy, nhiều học giả cho rằng không nên nói đến tính quy luật trong quan hệ quốc tế mà chỉ là cố gắng để nắm bắt và tìm hiểu về các xu thế phát triển của thế giới
Trên thế giới hiện nay nổi lên một số quy luật khách quan tác động mạnh đến việc hình thành, thay đổi của cục diện thế giới Theo đánh giá của Đảng ta, bốn mâu thuẫn cơ bản vẫn còn nguyên vẹn, mặc dù tình hình thế giới
đã có những thay đổi trong từng mặt đối lập cấu thành mâu thuẫn, trong hình thức biểu hiện và mức độ gay gắt của nó Đó là các mâu thuẫn:
Một là, mâu thuẫn giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản, mâu
thuẫn cơ bản, đặc trưng của thời đại, được biểu hiện trên nhiều lĩnh vực: về kinh tế (vừa đấu tranh, vừa hợp tác); về chính trị, tư tưởng, văn hóa (“diễn biến hòa bình” và chống “diễn biến hòa bình); sự tăng cường sức mạnh tổng hợp của mỗi bên
Hai là, mâu thuẫn giữa các nước tư bản phát triển với các nước đang
phát triển được biểu hiện giữa một bên là các nước tư bản phát triển ngày càng giàu có, chiếm hữu hoặc khống chế phần lớn tài sản về công nghệ, chất xám, tài nguyên thiên nhiên, vốn đầu tư, GDP của toàn thế giới với một bên các nước đang phát triển đang phải đối mặt với thực trạng khó khăn về kinh
tế, chính trị và những thách thức về chủ quyền quốc gia, độc lập dân tộc, bản sắc văn hóa dân tộc
Ba là, mâu thuẫn giữa các nước đế quốc với nhau được biểu hiện bằng
mâu thuẫn giữa các nước tư bản phát triển, các trung tâm tư bản, các tập đoàn
tư bản lũng đoạn xuyên quốc gia với nhau Mâu thuẫn này được diễn ra trên
Trang 33các mặt kinh tế (cạnh tranh kinh tế, tranh chấp trong khuôn khổ tổ chức thương mại thế giới WTO và các thể chế khác); về chính trị, về chủ quyền quốc gia (giữa chính sách đơn cực và đa cực); mâu thuẫn giữa các tập đoàn tư bản, giữa các quốc gia khác nhau và ngay trong một quốc gia; mâu thuẫn giữa
ba trung tâm tư bản lớn; mâu thuẫn giữa “hai bờ đại dương”; mâu thuẫn giữa
Mỹ - Nhật, giữa nội bộ EU; giữa Mỹ và các đồng minh…
Bốn là, mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân, nhân dân lao động với giai
cấp tư sản, mâu thuẫn giai cấp vốn có trong lòng xã hội tư bản Mâu thuẫn này được biểu hiện trên các mặt kinh tế, chính trị, tư tưởng văn hóa giữa giai cấp công nhân và nhân dân lao động Mâu thuẫn này được mở rộng thành mâu thuẫn giữa giai cấp công nhân, nhân dân lao động, các lực lượng hòa bình, dân chủ, tiến bộ xã hội với giai cấp tư sản độc quyền
Trong các xu thế chính trị chủ yếu của thế giới đương đại, hòa bình, hợp tác để phát triển là nhu cầu bức xúc của các dân tộc và quốc gia dân tộc trên thế giới; các quốc gia dân tộc tham gia ngày càng nhiều vào các quá trình hợp tác và liên kết khu vực, liên kết về kinh tế; các dân tộc nâng cao ý thức độc lập tự chủ, tự lực tự cường, đấu tranh chống lại sự áp đặt và can thiệp của nước ngoài, bảo vệ độc lập chủ quyền và nền văn hóa dân tộc; các nước xã hội chủ nghĩa, các đảng cộng sản và công nhân, các lực lượng cách mạng tiến
bộ trên thế giới kiên trì đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến
bộ xã hội
Nhận định về tình hình chính trị thế giới những năm đầu thế kỷ XXI, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (2001) của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ: “các mâu thuẫn cơ bản trên thế giới biểu hiện dưới những hình thức và mức độ khác nhau vẫn tồn tại và phát triển, có mặt sâu sắc hơn Đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp tiếp tục diễn ra gay gắt Thế giới đứng trước nhiều vấn đề toàn cầu Chủ nghĩa tư bản hiện đại hiện đang nắm ưu thế
về vốn, khoa học và công nghệ, thị trường, song không thể khắc phục nổi
Trang 34những mâu thuẫn vốn có Chủ nghĩa xã hội trên thế giới, từ những bài học thành công và thất bại cũng như từ khát vọng và sự thức tỉnh của các dân tộc,
có điều kiện và khả năng tạo ra bước phát triển mới Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội” [19, tr 13] Trên tinh thần đó, Nghị quyết Đại hội X (2006) của Đảng ta tiếp tục khẳng định: trên thế giới, hòa bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn Kinh tế thế giới và khu vực tiếp tục phục hồi và phát triển nhưng vẫn tiềm ẩn những yếu tố bất trắc khó lường Sự hội nhập kinh tế tạo ra cơ hội phát triển nhưng cũng chứa đựng nhiều yếu tố bất bình đẳng, gây khó khăn, thách thức lớn cho các quốc gia dân tộc, nhất là các đang phát triển Cạnh tranh kinh tế - thương mại, giành giật các nguồn tài nguyên, năng lượng, thị trường, nguồn vốn, công nghệ… giữa các nước ngày càng gay gắt Khoa học và công nghệ sẽ có bước tiến nhảy vọt và những đột phá lớn Những cuộc chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột dân tộc, tôn giáo, chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp lật đổ, ly khai, hoạt động khủng bố, những tranh chấp về biên giới, lãnh thổ biển đảo và các tài nguyên thiên nhiên tiếp tục diễn ra ở nhiều nơi với tính chất ngày càng phức tạp Các mâu thuẫn lớn của thời đại vẫn rất gay gắt Nhiều vấn đề toàn cầu bức xúc đòi hỏi các quốc gia dân tộc và các tổ chức quốc tế phối hợp giải quyết: khoảng cách chênh lệch giữa các nhóm nước giàu và nước nghèo ngày càng lớn; sự gia tăng dân số cùng với các luồng dân di cư; tình trạng khan hiếm nguồn năng lượng, cạn kiệt tài nguyên, môi trường tự nhiên bị hủy hoại; khí hậu diễn biến ngày càng xấu, kèm theo những thiên tai khủng khiếp; các dịch bệnh lớn, các tội phạm xuyên quốc gia dân tộc có chiều hướng tăng Ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương nói chung và Đông Á nói riêng, xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển tiếp tục gia tăng, nhưng luôn tiềm ẩn những nhân tố gây mất ổn định [107, tr 16]
Trang 351.3.4 Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và toàn cầu hóa
Cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật đang tiếp tục phát triển và đạt được nhiều thành tựu hết sức to lớn, nổi bật là những thành tựu về việc tạo ra những nguồn năng lượng mới thay thế dầu mỏ, công nghệ xử lý môi trường ô nhiễm và công nghệ vũ trụ Cuộc cách mạng đó đã làm biến đổi sâu sắc các yếu tố của lực lượng sản xuất, ảnh hưởng đến sản xuất và cuộc sống tất cả các quốc gia, dân tộc trên thế giới không phân biệt lớn nhỏ, giàu nghèo, chế độ chính trị… đã và đang thay đổi bộ mặt thế giới và thúc đẩy tiến trình phát triển của nhân loại Cuộc cách mạng không chỉ mang lại cả cơ hội mà còn đặt
ra nhiều thách thức cho các quốc gia, dân tộc trên thế giới Những thành tựu của cuộc cách mạng này phát triển đã biến tri thức trở thành yếu tố quan trọng bên trong của quá trình sản xuất, tạo ra nền kinh tế tri thức, quyết định sự phát triển của nền kinh tế thế giới và thúc đẩy xu thế phát triển của cục diện khu vực và thế giới Hơn nữa, cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại đang đặt
ra nhu cầu mở rộng thị trường và thúc đẩy các mối quan hệ giữa tất cả các khu vực, các quốc gia dân tộc trên thế giới
Bên cạnh những tác động của cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại thì toàn cầu hóa cũng tác động mạnh mẽ đến cục diện chính trị thế giới và khu vực Toàn cầu hóa tác động trực tiếp và chi phối xu hướng phát triển cục diện, trật tự thế giới Để chống lại sự thống trị của một siêu cường duy nhất, thì chủ trương đa cực có ý nghĩa nhất định trong tương quan lực lượng quốc
tế hiện nay Toàn cầu hóa đúng nghĩa của nó là một quá trình chứ không phải
là một kết cục, một cái khung đã được định hình, trong đó trật tự thế giới đã được an bài ổn định Không thể xem xét toàn cầu hóa và cục diện, trật tự thế giới một cách trừu tượng, chung chung, phi lịch sử, tách khỏi nội dung kinh tế
- xã hội, chính trị - giai cấp, quốc gia dân tộc đang tồn tại; không thể xem xét toàn cầu hóa thoát ly khỏi phạm trù hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa Mác Cần phân biệt rõ mặt lực lượng sản xuất, công nghệ, kỹ thuật với mặt
Trang 36quan hệ sản xuất, chính trị - xã hội Lực lượng sản xuất được quốc tế hóa ngày càng cao nhờ vào những thành tựu của khoa học công nghệ, là bước tiến
vĩ đại của văn minh loài người, nó tạo ra cơ hội lớn cho các dân tộc và các nước chậm phát triển Nhưng không thể không thấy mặt quan hệ sản xuất, mặt chính trị của toàn cầu hóa đang do chủ nghĩa tư bản chỉ đạo và chi phối Mặc
dù dưới tác động của toàn cầu hóa, chủ nghĩa tư bản có thể kéo dài thêm thời gian tồn tại, nhưng bản chất của nó không hề thay đổi Toàn cầu hóa đi đôi với khu vực hóa Khu vực hóa vừa thể hiện như một nấc thang của toàn cầu hóa, vừa như một hình thức liên kết các nước trong vùng để đối phó với sự cạnh tranh và tác động tiêu cực từ toàn cầu hóa, hoặc từ các thế lực mạnh hơn Ngoài ra toàn cầu hóa với vô số những hình thức liên kết hợp tác song phương, đa phương, đa dạng và nhiều tầng nấc, cấp độ khác nhau, khiến sự giao lưu, ràng buộc và tùy thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia dân tộc ngày càng sâu rộng Toàn cầu hóa vừa có tác động tích cực, vừa có tác động tiêu cực đến cục diện khu vực và thế giới
Trước hết, đề cập đến những tác động tích cực của toàn cầu hóa đối với cục diện khu vực và thế giới Việc hội nhập vào các tổ chức kinh tế toàn
cầu cho phép các quốc gia dân tộc thành viên được hưởng những ưu đãi về thuế quan, hàng hóa có thể nhanh chóng tiếp cận được thị trường thế giới Đối với các nước đang phát triển, hội nhập vào các tổ chức kinh tế quốc tế cũng chính là tham gia vào diễn đàn cho phép họ bình đẳng bày tỏ quan điểm để bảo vệ lợi ích chính đáng của họ Bên cạnh đó, toàn cầu hóa kinh tế phá bỏ những cản trở, hàng rào ngăn cách giữa các quốc gia dân tộc, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển quan hệ kinh tế quốc tế giúp các quốc gia dân tộc
có thể tận dụng cơ hội cho sự phát triển thị trường bên ngoài Việc khai thông thị trường quốc gia dân tộc với quốc tế cho phép bổ sung những mặt tích cực của nền kinh tế dân tộc Hơn nữa, toàn cầu hóa tạo ra cơ hội cho các quốc gia dân tộc tiếp cận với nguồn vốn, công nghệ kỹ thuật, công nghệ quản lý
Trang 37Thông qua hợp tác quốc tế ngày càng gia tăng, các nước đang phát triển có cơ hội kế thừa, tiếp thu những thành tựu khoa học - công nghệ và những giá trị vật chất và tinh thần từ các nước phát triển Mặt khác, toàn cầu hóa kinh tế
mở ra khả năng cho các quốc gia dân tộc chậm phát triển nhanh chóng tham gia vào hệ thống phân công lao động quốc tế, từ đó hình thành một cơ cấu kinh tế - xã hội hiệu quả, đẩy nhanh, rút ngắn tiến trình hiện đại hóa đất nước
Ngoài ra, toàn cầu hóa củng cố và tăng cường các thể chế quốc tế, thúc đẩy sự
xích lại gần nhau giữa các dân tộc Toàn cầu hóa liên kết các nước với nhau, làm tăng sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước về nhiều mặt, lợi ích và nghĩa
vụ của các quốc gia dân tộc Những yếu tố đó hạn chế những hành vi dễ gây xung đột giữa các nước, góp phần duy trì hòa bình và an ninh quốc tế Thêm vào đó, toàn cầu hóa mở ra khả năng phối hợp nguồn nhân lực giữa các quốc gia dân tộc để giải quyết những vấn đề có tính toàn cầu như: môi trường, dân
số, chiến tranh và hòa bình, bệnh dịch hiểm nghèo… Không một quốc gia dân tộc riêng biệt nào, kể cả các cường quốc đủ sức giải quyết các vấn đề toàn cầu, đòi hỏi sự phối hợp hoạt động của nhiều chủ thể, thông qua đó các quốc gia dân tộc tăng cường hiểu biết, giúp đỡ lẫn nhau Thêm vào đó, trong quá trình hội nhập, các quốc gia dân tộc đều nhanh chóng được tiếp cận những thông tin, tri thức mới, góp phần nâng cao trình độ dân trí, tạo cơ sở nền tảng cho phát triển Toàn cầu hóa đưa lại điều kiện giao lưu hội nhập của con người giữa các nền văn hóa, không những con người hiểu nhau hơn mà còn góp phần nâng cao giá trị văn hóa truyền thống, xóa bỏ những hủ tục, mở ra điều kiện phát triển cho con người, cho sự tồn tại và cùng phát triển của các nền văn hóa trong không gian văn hóa toàn cầu [7, tr 11] Một tác động tích cực nữa là toàn cầu hóa gây sức ép quyết liệt và gay gắt về cạnh tranh đòi hỏi các quốc gia dân tộc phải đẩy mạnh cải cách thể chế chính trị, thể chế kinh tế
để nâng cao sức cạnh tranh và hiệu quả kinh tế; đồng thời nó còn mở ra thời
Trang 38cơ mới trên cơ sở khai thông những địa bàn và cách thức hoạt động mới cho từng quốc gia dân tộc, nhất là các quốc gia dân tộc đang phát triển
Bên cạnh những tác động tích cực, quá trình toàn cầu hóa cũng tạo ra những tác động tiêu cực, đặt ra nhiều thách thức đối với cục diện khu vực và thế giới Một trong những tác động tiêu cực của toàn cầu hóa là bên cạnh việc
mở ra cơ hội tranh thủ nguồn lực bên ngoài thì nó lại bao trùm khả năng phụ thuộc vào hệ thống phân công lao động quốc tế nếu như không xác định được một chiến lược phát triển phù hợp dựa trên cơ sở phát huy nội lực là chính Sự phụ thuộc vào cơ cấu kinh tế quốc tế có ý nghĩa là phải chịu sự khống chế của các thế lực tư bản tài chính quốc tế Điều này cũng có thể tác động đến phạm
vi quyền lực của các chính quyền quốc gia dân tộc với chính quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước mình Thách thức thứ hai mà toàn cầu hóa đặt ra là việc đòi hỏi các nước cải cách hệ thống chính sách, pháp luật, tuy vẫn tôn trọng chế độ chính trị của mỗi nước Nó tạo ra những luật chơi quốc
tế mới theo sự áp đặt của các nước lớn Nó phá hoại chính sách thuế của các nước, dẫn tới cuộc chạy đua hạ mức thuế; làm tăng trưởng các nghĩa vụ chi tiêu tài chính công Các nước đang phát triển phải thay đổi chính sách, cơ chế quản lý cũ, bổ sung hệ thống pháp luật và các quy định về chính sách thiết kế, thương mại, đầu tư theo chuẩn mực của các nước phát triển Thách thức thứ
ba là toàn cầu hóa tạo ra sự phân hóa ngày càng sâu sắc giữa các nước giàu và các nước nghèo Toàn cầu hóa đã không phân phối công bằng các cơ hội và lợi ích các quốc gia dân tộc, khu vực; trái lại, nó trầm trọng thêm sự bất công
xã hội, đào sâu hố ngăn cách giàu - nghèo trong từng nước và giữa các nước Bên cạnh đó, toàn cầu hóa là một trong những nguyên nhân đưa đến nhiều mối nguy hiểm mới, đặc biệt là trong lĩnh vực an ninh, môi trường, văn hóa: khủng bố quốc tế, tội phạm quốc tế, hủy hoại tầng ôzôn, sa mạc hóa; là sự lây lan các loại bệnh dịch (AIDS, bò điên, cúm gà, SARS…); nó “tàn phá” những tiêu chuẩn sống, đời sống văn hóa của các quốc gia dân tộc, nó quốc tế hóa
Trang 39phong cách Mỹ và phương Tây về lối sống, kiến trúc, ăn, mặc, âm nhạc, phim ảnh, dịch vụ… Trong hội nhập giao lưu quốc tế, kỹ thuật công nghệ hiện đại được áp dụng nâng cao năng suất lao động, dòng sản phẩm hàng hóa dịch vụ của các nước phát triển có lợi thế sẽ lấn át sản phẩm của các quốc gia dân tộc kém phát triển Điều này dẫn đến cạnh tranh gay gắt và nảy sinh vấn đề phá sản, thất nghiệp, làm trầm trọng thêm các vấn đề xã hội vốn đã rất nan giải ở các quốc gia dân tộc chậm phát triển Hơn nữa, toàn cầu hóa ít nhiều tạo ra sự bất lực của nhà nước theo khái niệm quốc gia dân tộc truyền thống Nhà nước đang bị những nhân tố mới của toàn cầu hóa (các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi chính phủ…) cạnh tranh Nhà nước ngày càng phải chứng kiến nhiều luồng di chuyển đủ loại đi qua nước mình không thể kiểm soát, đó là: di dân
tự phát, hàng hóa, tiền tệ…, đặc biệt là thông tin internet Các cam kết quốc tế làm giảm khả năng của chính phủ trong thực hiện các nghĩa vụ xã hội và trong đáp ứng nguyện vọng của công dân, liên quan đến chủ quyền của mỗi dân tộc trong lựa chọn các chính sách kinh tế - xã hội của mình Cuối cùng, toàn cầu hóa tạo nguy cơ đánh mất bản sắc dân tộc, đánh mất tự chủ quốc gia dân tộc, tạo khả năng quốc tế hóa những hiện tượng tiêu cực của đời sống xã hội như buôn bán ma túy, mại dâm, du nhập lối sống đồi trụy, lan tràn chủ nghĩa khủng bố, lây nhiễm căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS… Đó còn là sự phổ biến của các loại hình văn hóa ngoại lai với đời sống trái ngược với thuần phong mỹ tục
Nhìn chung, các nhân tố như đã nêu ở trên là như những nhân tố chi phối sự phát triển của thế giới, mặc dù vậy, một số đặc điểm mới xuất hiện đã làm cho cục diện chính trị khu vực và thế giới thay đổi hết sức nhanh chóng trong những năm đầu thế kỷ XXI Sự phản ứng chậm chạp về chính sách của các nước lớn sẽ là nguyên nhân cho việc đánh mất cơ hội phát triển và làm gia tăng các nguy cơ rủi ro phương hại đến lợi ích quốc gia
Trang 40Tiểu kết chương 1
Tóm lại, vấn đề đặt ra trong luận văn này là Cục diện chính trị khu vực
Đông Á những năm đầu thế kỷ XXI Trước hết, những vấn đề vừa trình bày có
thể được tóm tắt lại như sau:
“Cục diện” là bố cục, diện mạo, tình hình cụ thể, thể hiện trật tự, sự phân bổ quyền lực trong một giai đoạn nhất định Trong cục diện đó (cục diện thế giới, cục diện khu vực), các nước lớn và các tổ chức đa phương giữ vị trí, vai trò vô cùng quan trọng
“Cục diện chính trị” ở một khu vực là kết cấu các quan hệ chính trị quốc tế, các nền chính trị quốc gia, tương đối ổn định và có ảnh hưởng lớn đến khu vực trong quá trình phát triển, phân hoá, sáp nhập của các lực lượng kinh tế, chính trị, quân sự trong khu vực Sự cấu thành cục diện chính trị của một khu vực bao gồm những nhân tố, xu hướng dẫn đến sự thay đổi của cục diện thế giới và khu vực như: 1/ Sự đấu tranh của các chủ thể chủ yếu trên trường quốc tế 2/ Sự thay đổi của cán cân quyền lực thế giới 3/ Các xu thế chủ yếu của thế giới đương đại 4/ Cách mạng khoa học kỹ thuật và tác động của toàn cầu hóa Đồng thời cục diện chính trị đó được tạo nên bởi sự kết hợp
vị trí vai trò của các quốc gia lớn, các cơ chế đa phương trong có sự tham gia của các quốc gia thành viên vừa và nhỏ, các chủ thể phi quốc gia như các công ty xuyên quốc gia, các tổ chức phi chính phủ trong khu vực
Trên đây là những cơ sở lý luận quan trọng trong quá trình tìm hiểu,
nghiên cứu vấn đề Cục diện chính trị khu vực Đông Á những năm đầu thế kỷ
XXI Những cơ sở đó sẽ được thể hiện trong quá trình thực hiện luận văn này