Năm 1896 – 1899, với cuộc chạy đua của những người đi tìm kiếm vàng đến những vùng đất thảo nguyên miền Tây chưa phát triển theo chủ trương định cư phát triển kinh tế xã hội mang tính đị
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
TRẦN QUỐC HOÀN
CHÍNH SÁCH ĐỊNH CƯ CỦA CANADA
(từ 1867 đến nay) QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT RA
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUAN HỆ QUỐC TẾ
Hà Nội, 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
- -
TRẦN QUỐC HOÀN
CHÍNH SÁCH ĐỊNH CƯ CỦA CANADA
(từ 1867 đến nay) QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT RA
Chuyên ngành: Quan hệ quốc tế
Mã số: 60310206
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUAN HỆ QUỐC TẾ
Người hướng dẫn khoa học: GS TS Trần Thị Vinh
Khoa Lịch Sử - Đại học Sư phạm Hà Nội
Hà Nội, 2014
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Em xin chân thành cảm ơn Ban chủ nhiệm, các thầy cô giáo trong Khoa Quốc tế học - Trường Đại học Khoa học Xã hội Nhân văn đã quan tâm, giúp đỡ em
trong quá trình thực hiện đề tài Đặc biệt, em xin gửi đến GS TS Trần Thị Vinh
lời cảm ơn chân thành, sâu sắc – người thầy đã tận tâm hướng dẫn em hoàn thành luận văn thạc sỹ này một cách tốt nhất
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận văn này, nhưng do hạn chế về mặt thời gian, kiến thức cũng như kinh nghiệm thực
tế và những lý do khách quan khác, luận văn này không thể tránh khỏi nhiều thiếu sót Em rất mong nhận được những nhận xét, những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô giáo để đề tài khóa luận của em được hoàn thiện hơn Em xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 20 tháng 1 năm 2014
Tác giả
Trần Quốc Hoàn
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Opinion
Mẫu biểu đồng ý sắp xếp công việc cho lao động nhập cư của chủ sử dụng lao động tại Canada
Agency
Cơ Quan Dịch Vụ Biên Giới
Immigration Canada
Cơ quan phụ trách Nhập cư và Quốc tịch Canada
Cơ quan Tư vấn nhập cư Canada
Investmentss
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
Promotion and Protection Agreements
Hiệp định Bảo hộ và Xúc tiến Đầu tư nước ngoài
Trang 5Greenwich
Critical Control Points
Hệ thống Phân tích mối nguy hiểm và Kiểm soát điểm giới hạn
Board
Hội đồng Thanh tra Độc lập về Di trú
Language Testing System
Hệ thống kiểm tra tiếng Anh Quốc tế
Refugee Protection Act
Luật nhập cư và Bảo vệ người tị nạn
and Adaptation Program
Chương trình định cư và thích ứng dành cho Người nhập cư
Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế
Mounted Police
Cơ quan Cảnh sát Hoàng gia
Trang 632 TNDN Thu nhập Doanh nghiệp
Permits
Giấy phép cư trú tạm thời
Protestant
Mô hình chương trình đồng hóa Người da trắng – Người Anh – Người theo đạo Tin Lành
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
việc toàn thời gian tại Toronto, Montréal, Vancouver, số liệu
được thống kê của năm 2000
1961-2006
86
2004-2008
90
2005-2008
93
dân số trong tuổi lao động của Canada 1972-2006
Phụ lục 1
trong nước 2007
Phụ lục 1
Trang 8MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
3 Mục đích nghiên cứu 7
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 7
5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 7
6 Nguồn tài liệu 8
7 Phương pháp nghiên cứu 8
8 Đóng góp của đề tài 9
9 Cấu trúc của luận văn 9
CHƯƠNG 1: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CHÍNH SÁCH NHẬP CƯ, ĐỊNH CƯ CANADA 11
1.1 Khái niệm nhập cư, định cư và loại hình nhập cư, loại hình định cư 11
1.1.1 Khái niệm nhập cư và khái niệm định cư 11
1.1.2 Loại hình nhập cư và định cư 12
1.2 Khái quát về Canada 13
1.2.1 Điều kiện địa lý, kinh tế, chính trị, xã hội 13
1.2.2 Khái quát các thời kỳ lịch sử từ năm 1867 đến nay 21
1.3 Sự hình thành và phát triển chính sách nhập cư, định cư của Canada 25
1.3.1 Bối cảnh ra đời của chính sách nhập cư, định cư Canada 25
1.3.2 Quá trình điều chỉnh và hoàn thiện chính sách nhập cư, định cư qua các thời kỳ lịch sử
27 Tiểu kết 40
CHƯƠNG 2: QUÁ TRÌNH THỰC THI CHÍNH SÁCH NHẬP CƯ, ĐỊNH CƯ CỦA CANADA 41
2.1 Thời kỳ 1869 đến 1918 41
2.2 Thời kỳ 1919 đến 1945 46
2.3 Thời kỳ 1946 đến nay 51
Tiểu kết 66
CHƯƠNG 3: MỘT VÀI NHẬN XÉT VỀ CHÍNH SÁCH NHẬP CƯ, ĐỊNH CƯ CỦA CANADA 69
Trang 93.1 Tác động của chính sách nhập cư và định cư đối với sự phát triển của Canada
69
3.1.1 Tác động đến sự tăng trưởng dân số 69
3.1.2 Những tác động mang tính cơ cấu 71
3.2 Những vấn đề tồn tại và thách thức 75
3.3 So sánh một số nét trong chính sách nhập cư giữa Mỹ và Canada 78
3.4 Chính sách nhập cư, định cư và cộng đồng người Việt ở Canada 85
Tiểu kết 98
KẾT LUẬN 99
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 103
Trang 10LỜI MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trải qua hơn 140 năm, kể từ khi Canada tuyên bố độc lập, hàng triệu người nhập cư từ trên 150 quốc gia thuộc các châu lục khác nhau đã tạo dựng nên hình ảnh Canada ngày hôm nay - một đất nướcnổi bật vớisự đa dạng vềvăn hóa, sựbình đẳng và môi trường làm việc thân thiện Điều đó đã được minh chứng bằng Luật Chủ nghĩa đa văn hóa Canada “The Canadian Multiculturalism Act” và những khẳng địnhtrong Hiến pháp về các quyền và tự do của người Canada “Canadian Charter of Rights and Freedom”
Đến nay, Canada là một trong số những nước phát triển và thịnh vượng hàng đầu thế giới,với cơ cấu nền kinh tế được xây dựng bởi nhiều ngành công nghiệp, dịch vụ khác nhau trong đó ba mảng công nghiệp chính là ngành công nghiệp khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên, ngành công nghiệp sản xuất và ngành công nghiệp dịch vụ Các lĩnh vực chủ chốt như khai thác rừng, đánh bắt thủy hải sản, nông nghiệp, quặng, khoáng sản, năng lượng,sản xuất giấy, thiết bị công nghệ cao,
ô tô, thực phẩm, may mặc đóng một vai trò then chốt trong quá trình phát triển nền kinh tế của Canada.Ngành công nghiệp dịch vụ cung cấp hàng nghìn ngành nghề khác nhau trong các lĩnh vực như giao thông vận tải, giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khỏe, xây dựng, viễn thông, dịch vụ bán lẻ và dịch vụ công cộng Hiện nay, ngành công nghiệp dịch vụ đang góp phần quan trọng vào nền kinh tế Canada, chiếm 70% các loại ngành nghề ở Canada
Với dân số hơn 35 triệu người tính đến tháng 7 năm 2013, tỷ lệ thất nghiệp 6,9%, tăng trưởng GDP hàng tháng trung bình là 0,3%, Canada làquốc gia đứng thứ
8 trong 11 quốc giacó trữ lượng tài sản tài chính nhiều nhất thế giới Tài sản tài chính đến cuối năm 2009 là 2.626 tỷ USD, tăng trưởng 3,4% so với năm 2008 với mức tài sản tài chính tính bình quân đầu người là 78.240USD và thu nhập bình quân đầu người là 36.603USD/năm.Canada nằm trong danh sách 50 nước giàu nhất thế giới có mức đóng góp tổng cộng chiếm 87% GDP và 90% tổng tài sản tài chính toàn cầu[61]
Trang 11Lịch sử Canada không thể thiếu vai trò to lớn của những người nhập cư bởi chính họ đã xây dựng nên đất nước Canada lớn mạnh như ngày nay.Từ mười nghìn năm trước, khi người Châu Âu đặt chân đến Canada, tổ tiên người Canada đã là những người di cư xuyên qua những vùng băng tuyết nối Châu Á đến Bắc Mỹ Qua vài thế kỷ, họ mở rộng bờ cõi ra cả lục địa hình thành nên một vùng đất giàu có rộng lớn với những cộng đồng ngôn ngữ văn hóa đa dạng Cách đây khoảng 500 năm, thực dân Pháp đã chiếm đất và xây dựng cộng đồng dọc sông St Laurence, tiếp sau đólà làn sóng di cư từ Pháp và Anh sang Canada tạo nên những khu định cư
ở những tỉnh vùng ven biển Sau chiến thắng của quân đội Anh ở Quebec vào thế kỷ
18, làn sóng di cư vào Canada mạnh hơn đến từ Anh, Scotland, Ailen sau đó là Mỹ, Châu Á và các nước da màu khác.Sang thế kỷ 20 kéo dài đến trước năm 1961, số lượng người đến Canada chủ yếu đến từ các nước Châu Âu, sau đó là từ Mỹ, Châu Phi.Từ năm 1961 đến năm 1991, số lượng người nhập cư được mở rộng đến từ những vùng mới như Caribe, Châu Đại dương,Châu Phi, Trung Đông và Trung Nam Mỹ và đến nay số lượng người nhập cư vào Canada vẫn không ngừng tăng lên
Chính sách nhập cư và định cư của Canada đã góp phần không nhỏ trong việc tạo dựng xã hội Canada đa sắc tộc, thịnh vượng trong suốt chiều dài lịch sử phát triển đất nước.Chính vì vậy, việc tìm hiểu chính sách nhập cư, định cư của Canada và tác động của nhập cư đối với kinh tế, xã hội Canada mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn quan trọng Trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự chuyển dịch của thị trường lao động trên thế giới, việc nghiên cứu, làm rõ những kinh nghiệm của Canada trong chính sách nhập cư và định cư có tầm quan trọng đặc biệt đối với các quốc gia, trong đó có Việt Nam
Việt Nam là một đất nước đang phát triển,diện tích không lớn nhưng dân số đông, thu nhập bình quân trên đầu người còn thấp, tỉ lệ dân số trẻ chiếm 2/3 tổng dân số Trong bối cảnh toàn cầu với sự dịch chuyển lao động mang tính toàn cầu và phân công lao động mang tính quốc tế,việctìm hiểuchính sách nhập cư của
Canada,những kiến thức, tiêu chuẩn, kinh nghiệm Canada khi người Việt sang
Canada sinh sống, định cư, làm việc cũng như tìm hiểu cuộc sống cộng đồng người
Trang 12Việt tại Canada và những đóng góp của cộng đồng người Việt tại Canada vào sự phát triển kinh tế Canada là điều cần thiết
Về mặt khoa học, có thể thấy việc nghiên cứu về Canada còn là một lĩnh vực chưa được quan tâm nhiềuở Việt Nam Đặc biệt là việc nghiên cứu về chính sách nhập cư và vai trò của các cộng đồng nhập cư trong sự phát triển kinh tế, chính trị
xã hội Canada còn là một khoảng trống Chính vì vậy, chúng tôi đã lựa chọn đề tài:
“Chính sách định cư của Canada (từ 1867 đến nay): Quá trình phát triển và vấn đề đặt ra” làm đề tài luận văn thạc sỹ của mình nhằm góp một phần nhỏ bé bổ sung vào các nghiên cứu về Canada
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Đến nay có một số tài liệu nước ngoài viết về các vấn đề liên quan đến nhập
cư Canada và chính sách định cư Canada trong từng giai đoạn, theo cách phân tích
và tiếp cận khác nhau.Tuy nhiên, các tài liệu này chỉđề cập, đưa ra các thông tin hoặc là tổng hợp riêng lẻ hoặc là như một nghiên cứu thống kê, dự báo cho từng giai đoạn Trên thực tế, chưa có tài liệu nào ở Việt Nam viết tổng hợp chuyên về chính sách nhập cư của Canada từ năm 1867 đến nay, quá trình phát triển và các vấn đề đặt ra
Cho đến nay, có thể liệt kê một số tài liệu nổi bật viết về vấn đề nhập cư và chính sách nhập cư của Canada như sau:
Tài liệu tiếng Việt:Ở Việt Nam các tài liệu viết về chính sách nhập cư của
Canada còn là một khoảng trống Những thông tin về chính sách nhập cư và chính sách nhập cư bằng tiếng Việt nếu có cũng chỉ là thông tin cập nhật trên các trang web về tư vấn di trú và các quy định thể loại nhập cư của Canada theo từng thời điểm mà các công ty dịch vụ về nhập cư hoặc của các công ty du học thông tin Cụ thể, có những trang web tiếng Việt luôn cập nhật những quy định mới về chính sách nhập cư của Canada như:
Trang 13Các trang web trên đều là kênh thông tin và dịch vụ tư vấn chuyên về nhập
cư Canada, cung cấp các loại hình nhập cư vào Canada và cập nhật các quy định mới về nhập cư vào Canada, tư vấn và làm dịch vụ nhập cư Các trang web này không phải trang thông tin chuyên về cung cấp các tài liệu nghiên cứu về chính sách nhập cư của Canada, mà chỉ đơn giản truyền tải lại các quy định mang tính pháp lý
Tài liệu tiếng Anh: Tài liệu tiếng Anh viết về chính sách nhập cư của
Canada phong phú và đa dạng hơn tài liệu tiếng Việt Tuy nhiên chưa có một tài liệu tiếng Anh nào tổng hợp, phân tích chuyên về quá trình phát triển của chính sách nhập cư từ năm 1867 đến nay cũng nhưđề cập đếnnhững tác động, tồn tại và thách thức một cách có hệ thống, nếu có chỉ là thể hiện trong những giai đoạn ngắn hạn nhất định và không được phân tích chuyên sâu
Bài viết "Canadian Immigration Policy and the “Foreign” Navy, 1896-1914 (Chính sách nhập cư của Canada và Hải quân “nước ngoài”, 1896-1914), tác giả Donald Avery thuộc trường Đại Học Western Ontario (ngày 26 tháng 9 năm 2010)có đề cập đến hai nhân tố quyết định đến sự tăng trưởng kinh tế của Canada giai đoạn 1869-1914 là sự mở rộng hệ thống đường xe lửa và dòng người nhập cư vào Canada Ngành Công – Nông nghiệp tăng trưởng thúc đẩy nhu cầu lao động tăng kéo theo việc Chính phủ thực hiện chính sách nhập cư theo hướng mở cửa, cho phép nhập cư cả lực lượng có tay nghề lẫn không có tay nghề Tuy nhiên, bài viết chỉ nêu lên được tính kết nối của sự phát triển ngành đường sắt với nhu cầu lao động nhập cư cấp thiết mà không thể hiện rõ các mục tiêu tổng thể của chính sách nhập cư
Bài viết“Policy: The Case of Canadian Medical Inspection, 1900 – 1920” (Chính sách: Trường hợp Thanh tra y tế Canada, 1900 – 1920), tác giả Alan Sears (1990) có nội dung giới thiệu về quy định nhập cư được xem là một trong những công cụ chính sách xã hội chủ yếu của chính quyền.Quản lý nhập cư và các chương trình xã hội là cácphương tiện quan trọng nhất quy định mức độ và đặc tính dân số quốc gia.Tuy nhiên, bài viết này là nghiên cứu đơn lẻ, hướng về các chương trình xã hội và chưa toát lên được tính kế thừa và phát triển của chính sách nhập cư
Trong cuốn “Continuity and Change in Canada‟s unemployment – immigration linkage, 1946-1993” (Tính liên tục và sự thay đổi trong việc kết
Trang 14nốigiữa nhập cư và thất nghiệp của Canada, 1946-1993), tác giả John W.P.Veugelers, Thomas R Klassen (1994) miêu tả nguyên nhân bắt nguồn từ năm 1946-1976 về tình trạng thất nghiệp tăng cao theo đó đã tác động đến số lượng người nhập cư vào Canada và dẫn đến việc thực thi Luật nhập cư 1976 đã làm ảnh hưởng xấu đến tình trạng nhập cư Luật nhập cư quy định xem xét nhập cư theovùng địa lý và theo điều kiện nhu cầu thị trường lao động Tài liệu chỉ ra được vấn đề sốngười nhập cư không có việc làm tăng mạnh sau năm 1978
Trong bài viết với tiêu đề: “Canadian Immigration and Ethic History in the
1970 and 1980” (Nhập cư Canada và Lịch sử dân tộc những năm 1970 và 1980), tác giả Howard Palmer thuộc Đại học Calgary (1981) đã nêu tóm tắt tài liệu về lịch sử chủng tộc và nhập cư vào Canada trong những thập kỷ 1970 và 1980 theo các tài liệu khảo sát Tuy nhiên, các vấn đề về chính sách nhập cư không được đề cập sâu
Bài viết: “Canada's demand for Third World highly trained immigrants: 1976–1986” (Nhu cầu của Canada về những người nhập cư Thế giới Thứ ba đượcđào tạo cao:1976-1986), tác giả Sajjad Akbar và Don J Devoretz (01 tháng 6 năm 1992) thuộc trường Đại học Victoria, British Columbia, Hoa kỳ và trường Đại học Simon Fraser, Burnaby, British Columbia Hoa kỳ đã đề cập vấn đề nhập cư vào Canada sau sự thay đổi căn bản của chính sách nhập cư vào năm 1978 cho phép ưu tiên diện đoàn tụ gia đình (Family reunification), và người nhập cư từ các nước thuộc thế giới thứ ba chiếm ưu thế nổi trội Bài viết đã chỉ ra vấn đề cung ứng người lao động bản địa có bằng cấp, thu nhập theo ngành nghề, các giai đoạn và mức độ nhập cư trước đó chủ yếu rất khác nhau, không có sự thống nhất nên ảnh hưởng đến nhu cầu về người nhập cư có trình độ của Canada Do vậy, dẫn đến các tranh luận rằng sự dịch chuyển theo hướng cơ bản là cần phải điều chỉnh chính sách nhập cư Canada theo hướng nhập cư người có trình độ Tuy nhiên, bài viết chưa hệ thống được các mốc dẫn đễn sự thay đổi của chính sách nhập cư
Trong bài viết “Migrant Workers as Non-Citizens: The Case against Citizenship as a Social Policy Concept” (Những người lao động nhập cư không phải
là công dân: Trường hợp phản đối quyền công dân như một khái niệm chính sách xã hội), tác giả Donna Baines và Nandita Sharma (2002) đã đề cập đến vấn đề người lao động nhập cư, là “công dân hạng hai” được xem như một ưu tiên trong chiến
Trang 15lược công bằng xã hội Tuy nhiên, trong nghiên cứu tác giả chỉ nêu ra vấn đề liệu công dân nào mới là tiêu chuẩn hay thước đo đang được áp dụng thể hiện sự phân biệt trong công việc giữa các công dân bản địa với người nhập cư
Trong cuốn sách “Should we close our borders”, No 17 of the Policy Series (Liệu chúng ta có nên đóng đường biên giới, tập số 17 trong sê-ri Chính sách), tác giả Daniel Klymchuk (tháng 7 năm 2003) là tài liệu mới viết về nhập cư và các vấn
đề của chính sách nhập cư Trong đó, cóđề cập đến các vấn đề lợi ích kinh tế, những giá trị của người nhập cư mang lại, tuy nhiên cũng chỉ dừng lại ở góc độnêu lên những so sánh về các vấn đề tác động đối với kinh tế, xã hội Canada trong đó có cả vấn đề về tội phạm sau đó đưa ra một số khuyến nghị
Trong chuyên khảo: “The Benefits of Immigrants to Canada: Evidence on Tax and Public Services” (Lợiích của người nhập cư vào Canada: Bằng chứng về thuế và dịch vụ công), tác giả Ather H.Akbari (1989) thuộc khoa kinh tế, trường Đại học Saint Mary có đề cập đến vấn đề tác động của số dân nhập cư vào đất nước sở tại, cũng như các vấn đề giao thoa văn hóa giữa các cộng đồng dân nhập cư Tuy nhiên, chuyên khảo này không nói về diễn biến và quá trình phát triển của chính sách nhập cư
Trong cuốn sách: “Ethnic Pluralism under Siege: Popular and Partisan Opposition to Multiculturalism”, 1992(Chủ nghĩađa dân tộc trong sự bủa vây: Nhân dân và những ngườiủng hộ phe đối lập chủ nghĩađa văn hóa, 1992),nhómtác giả Yasmeen Abu-Laban thuộc khoa Khoa học chính trị và tác giả Daiva Stasiulis thuộc khoa Xã hội học và Nhân chủng học,trường Đại học Carleton có đề cập về vấn đề nhập cư trong sự đa dạng các chủng tộc và tính đa dạng văn hóa Tuy nhiên, tài liệu này chỉ nhìn nhận và xem xét ở góc độ hẹp là đưa ra các thống kê và đánh giá một
số vấn đề về nhập cư và liên quan nhập cư mà không đề cập đến những bước thay đổi và quá trình phát triển của chính sách nhập cư theo từng giai đoạn
Nhìn chung các tài liệu nêu trên chỉ tập trung vào một số vấn đề riêng lẻ hoặc một vài giai đoạn của chính sách nhập cư của Canada Các công trìnhđã công bố chưa phân tích một cách có hệ thống và chuyên sâu chính sách nhập cư của Canada
từ năm 1867 đến nay, đặc biệt là chưa có tài liệu nào đề cập đến quá trình
Trang 16hìnhthành, phát triển cộng đồng người Việtở Canada và vai trò của cộng đồng người Việt trong quá trình phát triển của Canada
3 Mục đích nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu làm rõ:
khi Liên bang Canada ra đời 1867 đến nay
Canada
cộng đồng người nhập cư nóichung và đối với cộng đồng người Việt nói riêng
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ những mục tiêu trên, luận văn đề ra những nhiệm vụ nghiên cứu sau:
định cư của Canada từ năm 1867 đến nay;
định cư qua các thời kỳ lịch sử;
phát triển của Canada;
cư đối với cộng đồng người nhập cư nói chung và người Việt nhập cư nói riêng tại Canada
5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề sau:
a) Chính sách nhập cư, định cư và tác động của nó đối với nền kinh tế Canada b) Các giải pháp nhằm giải quyết những vấn đề đặt ra từ chính sách nhập cư, định
cư của Canada
Phạm vi nghiên cứu:
- Về thời gian, luận văn triển khai nghiên cứusự hình thành,phát triển
và thực hiện chính sách định cư của Canada từ 1867 (khi Canada tuyên bố độc lập) đến nay
Trang 17- Luận văn tập trung nghiên cứu chính sách nhập cư, định cư, quá trình triển khai chính sách, các luồng nhập cư vào Canada theo các diện
bảo trợ(gồm tái hòa nhập gia đình, tổ chức - cá nhân có đủ điều kiện
bảo trợ hợp pháp nhận nuôi dưỡng như con nuôi, ), nhập cư kinh tế (gồm lao động có trình độ, doanh nhân đầu tư), nhập cư nhân đạo (xin
tị nạn) và quá trình ổn định cuộc sống ở nơi cư trú
Nguồn nhập cư và định cư thứ nhất đến từ các nước phát triển phương Tây, nguồn nhập cư và định cư thứ hai đến từ các nước đang phát triển, và nguồn nhập cư và định cư thứ ba đến từ các nước thuộc thế giới thứ ba.Trong ba nguồn nhập cư, định
cư trên, nguồn nhập cư, định cư thứ nhất và thứ hai là chủ yếu
6 Nguồn tài liệu
Để hoàn thành đề tài này, những nguồn tài liệu chủ yếu được sử dụng bao gồm:
- Nguồn tài liệu gốc của các cơ quan chức năng của Canada như Bộ ngoại giao Canada, Bộ di trú Canada và Chính phủ Canada;
- Các bài phân tích, các bài báo, chuyên khảo của các cơ quan điều tra xã hội học, nhân khẩu học của Canada và các nhà nghiên cứu;
- Các trang web, các bài báo, các sách, các bài nghiên cứu của các cơ quan chức năng, của các cá nhân tại Việt Nam
7 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ chí Minh, chủ nghĩa duy vật lịch sử về phương pháp luận của phép duy vật biện chứng
Phương pháp chủ yếu được sử dụng trong quá trình nghiên cứu là phương pháp nghiên cứu quan hệ quốc tế Bên cạnhđó, tác giả sử dụngcác phương pháp lô gíc nghiên cứu chuyên ngành khác như: phương pháp nghiên cứu lịch sử, phương pháp thống kê, tổng hợp, so sánh … làm rõ sự khác nhau trong các giải pháp của chính sách nhập cư qua các thời kỳvà sự ảnh hưởng của chính sách nhập cư đối với kinh tế xã hội Canada
Trang 188 Đóng góp của đề tài
- Điểm mới của luận văn này là việc tác giả đã tập trung nghiên cứu và làm rõ vấn
đề mà chưa một tài liệu nào viết một cách chuyên sâu và hệ thống, trong đó có
đề cập đến cả vấn đề người Việt Nam nhập cư vào Canada từ trước đến nay và vai trò của cộng đồng người Việt nhập cư đang sinh sống tại Canada
- Luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên có hệ thống từ góc độ người Việt Nam tìm hiểu về chính sách nhập cư, định cư của Canada Luận văn phân tích quá trình phát triển và thực thi chính sách nhập cư, định cư của Canada, làm rõ những tác động của chính sách nhập cư, định cư đối với cộng đồng người nhập
cư nói chung và người Việt nhập cư nói riêng với những đóng góp của họ vào nền kinh tế Canada Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu nghiên cứu, tài liệu giảng dạy, tài liệu tham khảo về Canada nói chung và về chính sách nhập cư, định cư của Canada nói riêng
- Thông qua kết quả nghiên cứu, luận văn mong muốncung cấp một số gợi ý tham khảo cho các nhà hoạch định chính sách, cho những cá nhân, tổ chức đang có ý định tìm hiểu, mong muốn hoặc đang có kế hoạch hợp tác kinh doanh với đối tác Canada, những cá nhân muốn định cư và làm việc tại Canada lâu dài
9 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, bố cục của luận văn được chia thành 3 chương với nội dung được tóm tắt như sau:
CHƯƠNG 1: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CHÍNH SÁCH NHẬP CƯ, ĐỊNH CƯ CỦA CANADA
1.1.1 Khái niệm nhập cư, định cư
1.1.2 Loại hình nhập cư, định cư
1.2.1 Điều kiện địa lý, kinh tế, chính trị- xã hội
1.2.2 Các thời kỳ lịch sử chính từ 1867 đến nay
1.3.1 Bối cảnh ra đời của chính sách nhập cư và định cư
Trang 191.3.2 Quá trình điều chỉnh và hoàn thiện chính sách nhập cƣ, định cƣ
Trang 20CHƯƠNG 1: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CHÍNH SÁCH NHẬP CƯ, ĐỊNH CƯ CỦA CANADA
1.1 Khái niệm nhập cư, định cư và loại hình nhập cư, định cư
1.1.1 Khái niệm nhập cư
Cho đến hiện tại, chưa có một tài liệu nào định nghĩa cụ thể và thống nhất về nhập cư được sử dụng phổ biến trên thế giới, kể cả các học thuyết về chính sách nhập cư của Eytan Meyersđã phân tích[33] Theo chúng tôi, để hiểu rõ hơn khái niệm nhập cư, người nhập cư, cần làm rõ khái niệm “di cư”, “người di cư”
Từ điển Oxford Advanced Learner‟s định nghĩa “di cư” là di chuyển từ một địa điểm này đến một địa điểm khác để sinh sống hoặc làm việc, theo Eurostat giải thích di cư là chỉ những người thay đổi nơi cư trú của họ đến một khu vực nhất định trong một khoảng thời gian nhất định, thường là từ một năm trở lên Đồng thời cũng giải thích “nhập cư là nói đến sự di chuyển của một số lượng người di cư vào trong một khu vực nhất định trong quãng thời gian một năm trở lên” và “người nhập cư”
là chỉ người đến hoặc trở về từ nước ngoài để về sống ở một đất nước trong khoảng thời gian nhất định mà trước đó họ đã cư trú ở một nơi khác
Từ điển Oxford Advanced Learner‟s cũng định nghĩa “định cư” là khái niệm chỉ một nơi mà mọi người đến sinh sống, làm việc thường xuyên, lâu dài tạo môi trường sống như nhà của mình, đặc biệt ở nơi có ít người hoặc không có người ở đó trước đó, “Người định cư” là chỉ một người đi đến sinh sống ở một đất nước mới hoặc một vùng mới nào đó Nhập cư và định cư gắn bó chặt chẽ với nhau
Như vậy, có thể thấy, do mỗi quốc gia có đặc thù về địa lý, văn hóa,tập quán khác nhau nên có thể có những cách giải thích khác nhau, tuy nhiên thuật ngữ nhập
cư, định cư được sử dụng trong luận văn này được nhìn nhận là nhập cư quốc tế, định cư quốc tế và được giải thích như là sự di chuyển đến của một hoặc nhiều cá nhân từ một khu vực địa lý khác, vượt qua biên giới hành chính, chính trị với mục đích cư trú sinh sống ngắn hạn hoặc lâu dài, thường xuyên mà không phải là đi du lịch hay tham quan, sự di chuyển đến và sự cư trú này có thể là tự nguyện hoặc bắt buộc
Trang 211.1.2 Loại hình nhập cư và định cư
Ở mỗi quốc gia, với đặc điểm và nhu cầu kinh tế, xã hội khác nhau nên việc
áp dụng những loại hình nhập cư và định cư với những ưu tiên hạn chế cũng khác nhau, nhưng nhìn chung có thể phân loại một cách tương đối như sau:
a) Dựa vào tính pháp lý: có nhập cư và định cư hợp pháp (legal/lawful
immigration and settlement) và nhập cư bất hợp pháp (illigal/unlawful immigration and settlement)
Nhập cư và định cư hợp pháp là loại hình nhập cư được pháp luật của cả nước đi và nước đến cho phép, nhập cư và định cư bất hợp pháp là nhập
cư trái với Luật pháp của cả nước đi và nước đến hoặc trái với nước đi hoặc trái với nước tiếp nhận
b) Dựa vào thời gian cư trú: có nhập cư ngắn hạn và nhập cư dài hạn, định
cư với quy định ràng buộc tối thiểu và định cư vĩnh viễn
Nhập cư ngắn hạn là việc di chuyển đến sinh sống ở nước ngoài trong một khoảng thời gian ngắn, song đủ để người nhập cư được xem là sinh sống thường xuyên ở nước tiếp nhận, nhập cư dài hạn và định cư theo quy định ràng buộc tối thiểu là việc chuyển đến sinh sống ở nước ngoài trong một thời gian dài (thường các nước quy định là trên 12 tháng) hoặc vĩnh viễn
c) Dựa vào mục đích và đối tượng của nhập cư và định cư: có nhập cư, định
cưlao động (labour immigration, settlement), người tị nạn (refugee), người xin quy chế tị nạn (asylum seeker), người hồi hương (returnee), đoàn tụ gia đình (family reunion)… và nhập cư với mục đích khác
Nhập cư vì những mục đích khác bao gồm giải trí, nghỉ ngơi, du lịch, thăm bạn bè, họ hàng, kinh doanh, mục đích tôn giáo hoặc chữa bệnh…trong một thời gian dài (thường là trên ba tháng) Về mặt quy định, một số nước cho rằng khoảng thời gian nàyđủ để xem những người này là cư trú thường xuyên tại nước nhập cư và để chính quyền sở tại dễ quản lý Do trên thực tế, họ là những người không có ý định sinh sống lâu dài tại nước nhập cư nên khi cấp thị thực nhập –xuất cảnh, nhiều nước vấn xếp họ vào nhóm người không phải là di cư định cư
Trang 22d) Dựa vào nhân tố tác động và quy mô của nhập cư:
Nhập cư và định cư vì nhu cầu thiết yếu: là nhập cư, định cư nhằm đối phó lại các điều kiện của môi rường sống để đảm bảo sự tồn tại, thông thường là nhập cư và định cư của nhóm người nghèo nhất trong xã hội Nhập cư và định cư tự do: nhập cư vì mục đích để có điều kiện kinh tế tốt hơn
Nhập cư và định cư quy mô lớn: nhập cư của cả cộng đồng dân cư
Tóm lại, sự phân loại nêu trên chỉ là tương đối vì còn phụ thuộc vào từng vụ việc, từng vấn đề, quy mô, tính chất từng quốc gia mà thể hiện sự phân loại khác nhau Ở Canada, vấn đề nhập cư và định cư theo loại hình kinh tế gồm nhập cư theo diện người có trình độ tay nghề, nhập cư theo diện doanh nhân đầu tư, loại hình nhập cư và định cư nhân đạo theo diện nhận tị nạn và loại hình định cư theo hình thức bảo trợ nhập cư gồm diện đoàn tụ gia đình, bảo trợ nhận con nuôi được xem là những loại hình nhập cư chính, có ảnh hưởng lớn đến đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa của Canada
1.2 Khái quát về Canada
1.2.1 Điều kiện địa lý, kinh tế, chính trị, xã hội
1.2.1.1 Về vị trí địa lý
Nằm ở cực Bắc của Châu Mỹ, Canada được biết đến như là một đất nước giàu tài nguyên thiên nhiên với diện tích lớn thứ hai thế giới chỉ đứng sau Liên bang
Nga (tổng diện tích 9.948.670 km2, trong đó diện tích đất liền 9.093.507km2, diện
tích mặt nước 891.163 km2, với chiều dài bờ biển 243.791km, biên giới đất liền 8.893km) Phía Bắc Canada trải dài đến mũi Columbia trên đảo Ellesmere, phía
Nam trải dài đến hồ Erie,chiều rộng đất nước trải rộng qua 6 múi giờ từ Newfoundland đến bờ biển Thái Bình Dương Vùng đất liền cực Bắc đầy băng bao quanh vịnh Hudson chiếm 80% diện tích đất đai rộng lớn chạy dài bao trùm vùng Saskatchewan và Manitoba.Canada nổi tiếng bởi sông Laurence và hồ Great Lake -
hồ lớn nhất lãnh thổ Canada có diện tích 31.328km2 thuộc vùng lãnh thổ Tây Bắc[30, tr.15].Sông St Laurence dài 3.508km là con sông quan trọng nhất Canada,
là đường vận chuyển của tàu thuyền từ Ngũ Hồ đến Đại Tây Dương Con sông dài nhất Canada là Mackenzie chảy dài 4.421km qua vùng lãnh thổ Tây Bắc Một số
Trang 23sông lớn khác là Yukon, Peace, Ottawa, Athabasca và Liard Những con sông như
St Laurence, Yukon, Mackenzie và Fraser đều nằm trong 40 con sông lớn nhất thế giới Với địa hình rộng lớn của Canada gắn với những dãy núi Torugat, Appalachian và Laurentian ở phía Đông, các dãy núi đá Mackenzie ở phía Tây, đỉnh St.Elias và dãy núi Pelly ở phía Bắc, đỉnh Logan thuộc vùng lãnh thổ Yukon là đỉnh núi cao nhất Canada (5.959m) Canada có khoảng 2 triệu hồ lớn nhỏ, chiếm khoảng 7,6% tổng diện tích đất nước Những hồ chính nằm ngang biên giới Canada - Mỹ là
hồ Huron, Great Bear, Superior, Great Slave,Winnipeg, Erie và Ontario
Canada có sáu múi giờ, múi giờ điểm cực đông Newfoundland chậm 3,5 giờ
so với giờ quốc tế GMT (Greenwich Mean Time), các múi giờ khác là múi giờ Đại Tây Dương, múi giờ miền Tây, múi giờ miền Trung, múi giờ vùng núi đá (Rocky Mountain) và múi giờ Thái Bình Dương chậm 5 giờ so với GMT
Canadacó hình dáng như chiếc khiên (shield) gồm 10 tỉnh bang và 3 vùng lãnh thổ.Mỗi tỉnh bang, vùng lãnh thổ có thủ phủ riêng, Alberta với thủ phủ Edmonton, British Columbia thủ phủ là Victoria, Manitoba thủ phủ là Winnipeg, New Brunswick thủ phủ là Fredericton, Newfoundland thủ phủ là St Johns, Nova Scotia thủ phủ là Halifax, Ontario thủ phủ là Toronto, Price Edwards Island thủ phủ
là Charlotte town, Quebec thủ phủ là thành phố Quebec, Saskatchewan thủ phủ là Regine, vùng lãnh thổ Tây Bắc thủ phủ là Yello Knife, vũng lãnh thổ Nunavut thủ phủ là Iqaluit và vùng lãnh thổ Yukon thủ phủ là White Horse
Canada sở hữu nhiều vùng khí hậu khác nhau, từ những vùng băng tuyết vĩnh cửu phía Bắc đến những vùng cây trái đa dạng thuộc duyên hải miền Tây, vùng thảo nguyên vào mùa hè thường khô và nóng, vùng trung nguyên có khí hậu
ấm hơn, vùng duyên hải có khí hậu đặc biệt ôn hòa, mùa xuân thường là mùa dễ chịu nhất, mùa thu thường lạnh và khô nhưng lại rất nổi bật bởi những cây có lá chuyển sang màu cam hoặc đỏ Các thành phố thuộc vùng duyên hải phía Tây như Vancouver hay Victoria vào mùa đông thường ôn hòa và đôi khi có mưa.Những vùng đông dân nhất Canada nằm phía Nam đất nước, dọc theo biên giới với Mỹ thừa hưởng khí hậu bốn mùa rõ rệt, những vùng này nhiệt độ ban ngày vào mùa hè
Trang 24Lãnh thổ Canada trải dài từ Đại Tây Dương ở phía Đông sang Thái Bình Dương ở phía Tây và giáp Bắc Băng Dương ở phía Bắc, phía Nam giáp với Hoa Kỳ bằng một đường biên giới không bảo vệ dài nhất thế giới, phía Tây Bắc giáp với tiểu bang Alaska của Hoa Kỳ, phía Đông Bắc giáp với đảo Greenland (thuộc Đan Mạch), vùng biển phía Đông giáp với quần đảo Saint Pierre và Miquelon thuộc Pháp
Canada được nhìn nhận là một trong những nền kinh tế thịnh vượng nhất thế giới và là thành viên của tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), Canada có một nền kinh tế thị trường tự do tương đối giống so với Hoa Kỳ Các ngành kinh tế chính của Canada là sản xuất ô tô, giấy và bột giấy, sắt thép, máy móc thiết bị, khai
mỏ, chiết xuất nhiên liệu từ đá hóa thạch, nông lâm nghiệp
Mức tăng GDP thực tế của Canada trong những năm gần đây khá đồng đều trong khoảng từ 2,5% đến 3%[1; tr4] Năm 2004, nền kinh tế Canada tăng ở mức 2,7%, năm 2005 tăng 2,9%, năm 2006 tăng 2%, năm 2007 tăng 2,7%[49] Do bị ảnh hưởng nặng nề bởi cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, nền kinh kế Canada đã bị suy thoái mạnh trong những tháng cuối năm 2008 NhưChính phủ đã công bố năm
2009 là năm tài khóa đầu tiên bị thâm hụt ngân sách sau 12 năm thặng dư,tăng trưởng GDPnăm 2008 và kéo dài đến hết năm 2009 đều bị âm 2.5% Tuy nhiên, các ngân hàng chính của Canada đã vượt lên từ cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008-
2009 trở thành những ngân hàng mạnh nhất thế giới nhờ truyền thống cho vay thận trọng trong lĩnh vực tài chính và hoạt động huy động vốn vững mạnh Canada đạt tăng trưởng dương trong năm 2010 ước tính 3.2%, 2.4% vào năm 2011 và 1.9% trong năm 2012[2; tr.11] Canada có kế hoạch cân bằng ngân sách năm 2015 Theo
số liệu thống kê của Statcan, tính đến tháng 9 năm 2013, GDP của Canada duy trì tăng trưởng hàng tháng ở mức 0.3% , tỉ lệ lạm phát CPI hàng năm duy trì ở mức 0.7% [52], thu nhập bình quân đầu người khoảng trên 43.000USD [50]
Từ năm 2007, Chính phủ Canada có một số điều chỉnh chính sách đối với nền kinh tế vớibiện pháp nhằm kích thích tiêu dùng trong nước bao gồm: giảm thuế dịch vụ hàng hóa (GST) từ 7% xuống 6% và hướng đến sẽ tiếp tục giảm; giảm thuế suất thuế thu nhập cá nhân xuống còn 15%, đồng thời tăng mức miễn giảm thuế thu
Trang 25nhập cá nhân Đối với doanh nghiệp, Chính phủ tiến hành cắt giảm thuế TNDN từ 22,1% xuống 19.5% vào năm 2008 và còn 15% vào năm 2012 Cũng trong năm
2007, Chính phủ Canada đã đặt mục tiêu cắt giảm 1 tỷ USD nợ công và sẽ cắt giảm thêm 3 tỷ USD nữa vào năm 2008 nhằm đạt tỉ lệ nợ trên GDP ở mức 25%, Canada tập trung tạo nhiều cơ hội kinh doanh hơn tại Châu Á bằng cách theo đuổi các hiệp định bảo hộ và xúc tiến đầu tư song phương (FIPA) đặc biệt với các nước như Ấn
Độ, Trung Quốc (đã ký ngày 09/09/2012) và Hiệp định thương mại tự do với Hàn Quốc, Khuôn khổ kinh tế chung với Nhật Bản Canada cũng đang xúc tiến đàm phán hiệp định tương tự với Việt Nam (vòng đàm phán bắt đầu từ ngày 25-27/02/2008 đến nay đang trong giai đoạn cuối)
Năm 2009, theo đánh giá của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), kinh tế Canada trong giai đoạn suy thoái và còn tiếp tục trong bối cảnh nền kinh tế thế giới lâm vào khủng hoảng trầm trọng nhất kể từ đầu thập kỷ 1980 Tuy nhiên, OECD cũng đánh giá kinh tế Canada có sự phục hồi nhanh từ năm 2010 trở đi do sự tập trung mạnh vào các ngành kinh tế trọng điểm như:
- Khai khoáng: là một ngành quan trọng của nền kinh tế Canada chiếm
10,7% tổng kim ngạch xuất khẩu, 3,1% GDP Gần một nửa khối lượng vận tải đường sắt và đường biển của Canada dành cho vận chuyển khoáng sản và kim loại từ nơi khai thác đến nơi sản xuất ra các sản phẩm giá trị gia tăng Hiện tại, Canada có trên 300 mỏ với giá trị sản xuất khoáng sản phi nhiên liệu đạt 23,4 tỷ USD mỗi năm Hoạt động khai khoáng được thực hiện ở hầu hết các công đoạn bao gồm khai thác, nghiền, nung chảy và tinh luyện, sản xuất kim loại và hợp kim
- Quốc phòng và hàng không: là lĩnh vực phát triển nhất thế giới với hơn
400 công ty và 75 nghìn lao động có kỹ thuật cao Năm 2003, tổng giá trị doanh thu gộp của ngành đạt 21,3 tỷ USD Đây là một trong số các ngành công nghiệp xuất khẩu hàng đầu của Canada với 77% sản phẩm xuất khẩu cho thị trường Mỹ Hàng năm, đầu tư cho nghiên cứu và phát triển của Canada đối với ngành này đạt xấp xỉ 1 tỷ USD
- Thực phẩm nông nghiệp: làmột trong những ngành công nghiệp chế biến
có tính cạnh tranh cao nhất thế giới Năm 2004 lợi thế chi phí của ngành
Trang 26này ở Canada đứng trên Mỹ 4,7% (theo đánh giá của kiểm toán KPMG) Ngành này luôn tạo ra những sản phẩm thực phẩm an toàn, chất lượng cao nhờ tiếp cận được nguồn cung cấp dồi dào, giá cả cạnh tranh, thành phẩm nguyên liệu có chất lượng tốt được trồng ở những vùng đất màu mỡ
và được tưới nước sạch Bên cạnh đó, ngành này áp dụng triệt để các hệ thống kiểm tra, kiểm soát thực phẩm được quốc tế thừa nhận như hệ thống HACCP
- Hóa chất: là ngành có tỷ suất lợi nhuận cao nhất Bắc Mỹ, chi phí sản xuất
và kinh doanh thấp, có vị trí chiến lược và thu hút hơn 10 tỷ USD đầu tư nước ngoài trong giai đoạn 1997 – 2003 Gần như tất cả các công ty hóa chất lớn của thế giới đều có cơ sở sản xuất nghiên cứu hay phát triển tại Canada Trong số 25 công ty hóa chất lớn nhất thế giới thì có 21 công ty
đã có cơ sở sản xuất ở Canada Tại 11 nước công nghiệp Bắc Mỹ, Châu
Âu, và Châu Á Thái Bình Dương, Canada được xếp hạng là nước có chi phí đầu tư thấp nhất đối với ngành hóa chất (đánh giá của KPMG 2004) Hiện nay, ngành này có 2145 công ty với lực lượng lao động chuyên môn trên 90 nghìn người, tổng giá trị xuất khẩu đạt 20,3 tỷ USD trên tổng giá trị sản phẩm là 42 tỷ USD[51]
- Dược phẩm: là ngành có nhiều lợi thế về chi phí thấp nên thu hút lượng
lớn vốn đầu tư nước ngoài Năm 2003, ngành này xuất khẩu đạt 3,4 tỷ USD sản phẩm dược phẩm trên tổng doanh thu 14 tỷ USD Ngoài ra ngành này phát triển mạnh về nghiên cứu trong các lĩnh vực gen, công nghệ sinh học, công nghệ protein, hệ thống sản xuất dược phẩm mới, phương pháp miễn dịch
- Dầu mỏ và khí đốt tự nhiên: là ngành có lực lượng lao động kỹ thuật cao,
công nghệ và máy móc thiết bị hiện đại Trữ lượng dầu mỏ của Canada ở mức 180 tỷ thùng, đứng thứ 2 thế giới trước cả Iran, Iraq và chỉ sau Ảrập Xêút Canada là nước sản xuất lớn thứ 3 thế giới về khí gas tự nhiên và thứ 9 dầu thô Canada cũng có nguồn dầu lớn nhất thế giới trong khi nguồn dự trữ ở ngoài khơi cũng mới bắt đầu được khai thác Một lợi thế khác đáng chú ý là Canada nằm sát cạnh thị trường tiêu thu dầu mỏ lớn
Trang 27nhất thế giới là Mỹ Năm 2002, Canada khai thác 2,7 triệu thůng dầu/ ngày (trong đó 1,7 triệu thùng dành cho xuất khẩu) và 2,1 nghìn tỷ m3 khí gas tự nhiên (trong đó 1,3 nghìn tỷ m3 là để xuất khẩu) Ngoài các ngành nêu trên các ngành công nghiệp ô tô, công nghệ thông tin, thiết bị
y tế và nhựa đều là những ngành công nghiệp mũi nhọn của Canada
- Thương mại: Các mặt hàng xuất khẩu chính gồm ô tô nguyên chiếc, phụ
tùng ô tô, máy móc công nghiệp, máy bay, thiết bị viễn thông, hóa chất, nhựa, phân bón, bột gỗ, gỗ, dầu thô, khí gas tự nhiên, điện, nhôm Canada vẫn là nước xuất siêu, kim ngạch xuất khẩu (2007) đạt 431,1 tỷ USD, kim ngạch nhập khẩu (2007) đạt 386,4 tỷ USD Các dịch vụ nhập khẩu chính
là dịch vụ thông tin, xây dựng, bảo hiểm, tài chính, cấp phép, cho thuê thiết bị, quản lý, quảng cáo, nghiên cứu phát triển, nghe nhìn, giải trí, vận tải, du lịch, dịch vụ Chính phủ (quản lý hành chính công và quốc phòng) Đối tác xuất khẩu chính năm 2006 là Mỹ 79%, Trung Quốc 2,1%, Anh 2,8% Đối tác nhập khẩu chính năm 2006 là Mỹ 55,1%, Trung Quốc 9,4%, Mexico 4,2%
- Đầu tư: Môi trường đầu tư của Canada khá thông thoáng Hầu hết các
tỉnh bang của Canada đều theo đuổi chính sách khuyến khích đầu tư nước ngoài, dó đó hầu như không có quy định kiểm soát ngoại hối nào được quy định và áp dụng ở Canada, không có hạn chế nào về việc chuyển lợi nhuận hay vốn của nhà đầu tư nước ngoài và vay vốn từ nước ngoài, cũng như không có hạn chế nào về việc hoàn trả tiền vay, thanh toán nợ Canada vừa đóng vai trò là nước tiến hành đầu tư vừa là nước nhận đầu
tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Năm 2007, lượng vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Canada đạt tới 481 tỷ USD Trong khi đó, Canada đầu tư
ra nước ngoài có tăng hơn trong giai đoạn 2001 – 2007 với mức 3,9% đứng thứ 13/98 Tính đến năm 2013, vốn đầu tư ra nước ngoài của Canada tăng 37 tỷ CAD (36,75 tỷ USD) lên 706,86 tỷ USD Theo các số liệu thông kê, Mỹ vẫn là quốc gia thu hút đầu tư số một từ Canada, tiếp theo sau là Anh Na Uy, Chile và Australia cũng nhận được nhiều vốn đầu tư từ các doanh nghiệp Canada trong năm 2012 Trong khi đó, nguồn
Trang 28FDI vào Canada tăng 34,37 tỷ USD lên 629,68 tỷ USD (tăng 5,8%), phần lớn nhờ nguồn ngân quỹ từ châu Âu và Mỹ đổ vào xứ sở này nhiều hơn Mặc dù Mỹ vẫn là nhà đầu tư trực tiếp lớn nhất tại Canada, nhưng tỷ trọng FDI của Mỹ vào nước này trong thập niên qua đã giảm nhẹ từ mức 64,9% trong năm 2002 xuống 51,5% năm 2012[54]
51,9% tổng vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Canada là vào các lĩnh vực tài chính, bảo hiểm và quản lý vốn đầu tư vào trong nước đạt khoảng
492 tỷ USD, phần lớn vốn đầu tư FDI vào Canada tập trung ở lĩnh vực khai thác tài nguyên (chủ yếu là năng lượng), lĩnh vực dịch vụ (chủ yếu là dịch vụ tài chính), phương tiện vận tải, sản phẩm dược, sản phẩm may mặc, thực phẩm và sản phẩm điện, điện tử Theo báo cáo của Trung tâm nghiên cứu kinh tế tại Toronto, Canada xếp thứ 25 trong tổng số 98 nước
về thu hút và đầu tư trực tiếp ra nước ngoài (FDI) trong giai đoạn 2001 –
2007, sụt 7 bậc so với giai đoạn 1994 – 2000 Tuy không nằm trong nhóm dẫn đầu nhưng Canada được xếp trên khá nhiều nước phát triển khác như Mỹ (thứ 66), Nhật Bản (93) và Đức (60) Thực tế thời gian gần đây, một số công ty, tập đoàn lớn được coi là biểu tượng của Canada đã
bị các nhà đầu tư nước ngoài mua và nắm quyền sở hữu như In Co Ltd, Falcon Bridge Ltd., và Alcon Inc Nếu tính riêng về thu hút FDI giai đoạn
2001 – 2007 Canada xếp thứ 47/98 với tỷ lệ chiếm 3,7% GDP[53]
1.2.1.3 Về chính trị xã hội
Kể từ năm 1867, Canada xây dựng một nhà nước Liên bang theo thể chế dân chủ Nghị viện, thủ đô được đặt tại Ottawa Canada có 10 tỉnh bang và 3 vùng lãnh thổ, đó là Alberta, British Columbia, Manitoba, Newfoundland, New Brunswick, Labrador, Northwest Territories, Nova Scotia, Nova Scotia, Nunavut, Ontario, Prince Edward Island, Quebec, Saskatchewan, Yukon Territory
Canada lấy ngày 1/7/1867 là ngày quốc khánh Hiến pháp Canada được xây dựng trên nền tảng Luật thành văn,án lệ và tập quán Luật hiến pháp Canadađược xây dựng dựa trênLuật thể chế cóhiệu lực từ ngày 29/3/1867 đặt nền móng cho việc hình thành Liên bang gồm 4 tỉnh (Ontario, Québec, Nova Scotia và New Brunswick) và sau đó được bổ sung hiệu lực từngày 1/7/1982, theo đó chuyển đổi
Trang 29cách quản lý, điều hành đất nước từ mô hình quản lý kiểu cũ củaAnhsang mô hình quản lý Canada kiểu mới, và thêm một chương về các quyền tự do của người Canada Hệ thống luật pháp Canada hoàn toàn dựa trên luật pháp Anh ngoại trừ ở Quebec, nơi mà hệ thống luật dựa vào sự chiếm ưu thế của người Pháp, văn hóa và truyền thống Pháp và Hiến pháp cũngchấp nhận sự tồn tại này là hợp pháp
Hệ thống chính trị Canada với mô hình đứng đầu là nhà nước Liên bang trên danh nghĩa vẫn là Nữ hoàng Elizabeth II (từ 6/2/1952) và đại diện thực quyền cho
Nữ hoàng là Toàn quyền (Governor General) (Toàn quyền hiện nay là Michaelle
Jean từ 27/9/2005) Cơ cấu Chính phủ Liên bang đứng đầu là Thủ tướng (Thủ tướng hiện nay là Stephen Harper, lên nắm quyền từ 6/2/2006) Nội các Chính phủ
Liên bang Canada là các Bộ cấp Liên bang được Thủ tướng chọn, những vị trí trong các Bộ Liên bang này thường là thành viên trong Đảng của Thủ tướng đang tại vị ở Nghị viện
Chế độ bầu cử của Canada được thể hiện như sau: trước hết là Toàn quyền, người đứng đầu nhà nước Liên bang (Monarchy) theohình thức cha truyền con nối (Hereditary) Toàn quyền được bổ nhiệm với nhiệm kỳ 5 năm một lần Toàn quyền
sẽ bổ nhiệm vị trí Thủ tướng từ người lãnh đạo Đảng cầm quyền hoặc người đứng đầu của liên minh chiếm đa số trong Nghị viện
Tiếp theo là bầu cử lập pháp, cơ quan lập pháp Canada gồm Thượng viện (Senate) (chiếm 105 ghế, các nghị sĩ được bổ nhiệm bởi Toàn quyền theo sự cố vấn
của Thủ tướng,họ hành nghề, phục vụ đất nước đến tận tuổi 75 mới về hưu) và Hạ
viện (House of Common - Chambre dé Communes) (chiếm 308 ghế, các thành viên
Hạ viện dân biểu được bầu trực tiếp thông qua phổ thông đầu phiếu, mỗi nhiệm kỳ phục vụ tối đa 5 năm (quy định này bắt đầu có hiệu lực từ cuộc bầu cử 2009)
Cơ quan hành pháp gồm Tòa án tối cao là cơ quan cao nhất, thẩm phán của Tòa án này được bổ nhiệm bởi Thủ tướng và Toàn quyền thông qua Tóa án Liên bang Canada, dưới tòa phúc thẩm này gồm (a) Tòa án kháng nghị Liên bang (gồm tòa án Liên bang, tòa án phụ trách thuế, tòa án hành chính), (b) Tòa án kháng nghị cấp tỉnh(gồm tòa giám sát, tòa án tỉnh, tòa hành chính), (c) Tòa án kháng nghị quân
sự (gồm tòa án quân sự) (Phụ lục 2)
Trang 30Canada được miêu tả như là quốc gia đa văn hóa, đa chủng tộc,bởi lẽ Canada được thừa hưởng nhiều tầng di sản văn hóa của các thành phần dân tộc đến từ khắp nơi trên thế giới Sự đa dạng này là kết quả của hàng thế kỷ của những người nhập
cư di cư đến sinh sống tại các tỉnh bang theo định hướng chính sách nhập cư của chính phủ, mang đến hệ thống tôn giáo đa dạng với Thiên chúa giáo La Mã (Roman Catholic, 42,6%), Đạo tin lành (Protestant, 23,3%), United Church 9,5%, Anglican 6,8%, Baptist 2,4%, Luthesan 2%, Đạo cơ đốc 4,4%, Hồi giáo 1,9%, các tôn giáo khác chiếm 11,8% trong đó người không theo đạo chỉ chiếm 16% Người gốc Anh chiếm 28%, gốc Pháp chiếm 23%, 15% thuộc nguồn gốc Châu Âu khác, nguồn gốc
Ấn 2%, Châu Á, Pháp Ả Rập 6%, còn lại 26% thuộc các quốc gia khác[51]
Dân số Canada ước tính trên 35 triệu người (35.158.304 nghìn người tính đến tháng 7/2013)[50]trong đó 4/5 dân số Canada sống ở thành thị Ước tính tỷ lệ nhập cư sinh sống tại các vùng ở Canada theo số liệu thống kê 2008 ở mức 5,62 người/ 1000 dân Người dân sống trong điều kiện kinh tế ổn định, mức sống cao, cuộc sống thanh bình hưởng thụ nên dẫn đến mức tăng trưởng dân số chỉ mức rất thấp 0,83% (Statcan 2008),mức sống người dân Canada đứng thứ 6 thế giới sau Mỹ, Thụy Sỹ, Luxembourg, Đức, và Nhật Bản
Canada cũng là nước có tuổi thọ trung bình cao (81,16 tuổi),trong đó, tuổi thọ trung bình đối với nam là 78,65 tuổi, nữ là 85,81 tuổi.Ở Canada, tiếng Anh và tiếng Pháp là hai ngôn ngữ chính, 59,3% dân Canada nói tiếng mẹ đẻ là tiếng Anh, 23,2% là tiếng Pháp Đại đa số người nói tiếng Pháp tại Quebec, sau đó là các bang Ontario, New Brunswick và Manitoba Ngôn ngữ thổ dân cũng được xem là ngôn ngữ chính thức tại các vùng lãnh thổ tự trị đặc biệt là tiếng Inuktitut,hiện nay tiếng Trung Quốc đã được xếp vào vị trí thứ 3 sau tiếng Anh, Pháp, tuy nhiên tiếng Anh lại được sử dụng làm ngôn ngữ trong kinh doanh trên toàn lãnh thổ Canada
1.2.2 Khái quát các thời kỳ lịch sử từ năm 1867 đến nay
Những cư dân đầu tiên của Canada là người da đỏ (Anh điêng) và người Inuit (còn gọi là người Eskimo) Sau khi Canada đã bị Pháp chiếm làm thuộc địa vào thế kỷ XVIII và bị Anh chinh phục vào thế kỷ XVIII, sang đầu thế kỷ XIX, Canada phải chống lại nền Cộng hòa Mỹ non trẻ để bảo vệ mình(rất nhiều người
Trang 31Mỹ trung thành với Hoàng gia Anh lánh nạn ở Canada thời điểm nổ ra cuộc Cách mạng Mỹ)
Ngày 1/7/1867, Quốc hội Anh thông qua đạo Luật cho phép Canada hưởng quy chế tự trị và chấp thuận với người đứng đầu là Toàn quyền John Alexander Mac Donald Theo đạo Luật Anh - Bắc Mỹ (British North America Act), Canada lúc đó gồm bốn tỉnh: Ontario, Quebec, Novacostia, New Brunswick Năm 1870, Manitoba gia nhập Canada trở thành tỉnh thứ 5 của Canada, tiếp theo là British Columbia (1871) và Prince Edward Island (1873), Yukan Territory (1898)
Canada có 5 vùng miền bao gồm vùng Đại Tây Dương (Atlantic Region), vùng miền trung Canada (Central Canada), vùng thảo nguyên (Prairie Province), vùng bờ Tây (West Coast) và vùng miền Bắc (the North) Sự hình thành Liên bang đầu tiên gồm vùng Đại Tây Dương và miền Trung.Ranh giới vùng Canada thượng (upper Canada) và vùngCanada hạ (lower Canada) cũng không còn nữa
Cùng với sự phát triển kinh tế, lần đầu tiên hệ thống đường xe lửa nối các vùng Canada được hoàn thành 1885 tạo điều kiện nối liền giao thông, liên kết ranh giới giữa các vùng Năm 1896 – 1899, với cuộc chạy đua của những người đi tìm kiếm vàng đến những vùng đất thảo nguyên miền Tây chưa phát triển theo chủ trương định cư phát triển kinh tế xã hội mang tính định hướng, vớilàn sóng hàng nghìn người đến những vùng đất mới này đã tạo tiền đề cho sự gia nhập hai tỉnh Saskatchewan và Alberta (1905) vào Liên bang Canada,trở thành tỉnh thứ 8 và thứ
9
Năm 1914 – 1918, trong Chiến tranh thế giới I, Canada tham gia chống Đức nhưng lại đứng ngoài liên minh Anh, Pháp, từ đó giúp tạo ra vị thế Canada như một cường quốc lớn có ảnh hưởng trên trường quốc tế Tuy nhiên, sau Chiến tranh thế giới I, nền kinh tế Canada bị suy giảm, các tiến bộ khoa học kỹ thuật trở nên lỗi thời, sản phẩm công nghệ đều bị tụt giảm trầm trọng Năm 1909 trước nguy cơ thế giới nhiều biến động liên quan đến các vùng đất Canada, Đô đốc J.E Bernier đã tuyên bố chủ quyền lãnh thổ Canada từ đất liền cho đến toàn bộ các quần đảo Bắc Cực Mặc dù được trao quyền độc lập tự trị nhưng thực quyền vẫn chịu sự chi phối của nước Anh nên sự kiện hội nghị các nước thuộc Khối thịnh vượng chung của Anh đã được họp tại Luân Đôn 1925 để yêu cầu bình quyền và cuối cùng, tuyên bố
Trang 32Balfour về sự bình quyền của những nước này với nước Anh đã được thông qua và được Quốc hội Anh chấp thuận Kể từ thời gian này, Canada chính thức khẳng định quyền tự chủ tự quyết toàn vẹn lãnh thổ
Nền kinh tế thế giới vào những năm 1930 đi vào khủng hoảng suy yếu trầm trọng làm suy kiệt nhiều cường quốc và những nước lớn, trong đó Canada không nằm ngoài vòng xoáy ấy đặc biệt sự suy kiệt kinh tế thể hiện rõ nhất ở những tỉnh như Alberta, British Columbia, Manitoba, Saskatchewan Năm 1939, Anh tuyên bố chiến tranh với Đức, Canada cũng bị cuốn vào Chiến tranh thế giới II (Canada buộc tham chiến ở Ý, Pháp, Bỉ, Hà Lan, Đại Tây Dương và Hong Kong) Sau khi Đức thất bại bởi đồng minh, Canada cũng phải trả giá nặng nề với khoảng 50.000 người lính thiệt mạng và hàng nghìn lính bị thương, kinh tế tiếp tục gặp khủng hoảng trầm trọng vì phải phục vụ cho chiến tranh Thời kỳ này được xem là ảm đạm nhất trong lịch sử của Canada và Canada không bao giờ muốn nhìn lại bức tranh này
Năm 1949, tỉnh Newfoundland gia nhập Liên bang Canada tạo nên một Liên bang Canada thêm rộng lớn,hơn mười năm sau đó năm 1965 Canada đã phê chuẩn thông qua lá cờ mẫu mới thay thế cho lá cờ thuộc Anh Sự thay thế lá cờ mới này là một mốc đánh dấu có tính lịch sử, nói lên sự hiện diện một quốc gia Canada Liên bang độc lập, chủ quyền và tự quyết, một diện mạo mới trên trường quốc tế, Lá cờ mới mang nhiều sắc trắng và đỏ với biểu tượng lá phong ở chính giữa (Maple leaf)
Lịch sử Canada không thể không nhắc đến sự tồn tại của Luật Anh Bắc Mỹ (British North America Act) đã tồn tại trong lịch sử Canada hơn 100 năm Luật này được xem như là nền tảng cho sự tồn tại và phát triển Canada cho đến năm 1982 và được thay thế bằng Hiến pháp Canada mới Mười bốn năm sau, năm 1982, nước Anh chính thức chuyển giao quyền lực cuối cùng về mặt Luật pháp cho Liên bang Canada và Canada ngay sau đó đã phê chuẩn thông qua một bộ Luật hiến pháp mới trong đó gồm cả chương về các quyền tự do của người Canada
Từ năm 1984 đến nay, Đảng Bảo thủ do Brian Mulroney làm đại diện lên nắm quyền Canada bước sang trang sử mới với đường lối tích cực tăng cường mở rộng hợp tác quốc tế Canada và Mỹ đã thiết lập nên môi trường thương mại tự do (1988), Canada tích cực chủ động cùng Mỹ và Mexico hoàn tất các điều khoản của
Hiệp định tự do thương mại Bắc Mỹ (NAFTA, 1992)
Trang 33Ngày 4/5/1992, cử tri vùng lãnh thổ Tây Bắc đã phân chia vùng đất của họ thành hai vùng riêng biệt, trong đó một vùng trở thành tự trị của người thiểu số Inuit (hay còn gọi là người Eskimo) và vùng lãnh thổ mới gọi là Nunavut (nghĩa là quê hương của chúng ta)
Canada luôn phải đối mặt với những thách thức chính trị bởi sự phức tạp trong đời sống xã hội đồng thời luôn có bài toán khó giải quyết trong đó có vấn đề thể chế,mặc dù sự thống nhất toàn vẹn lãnh thổ Liên bang Canada vì sự phát triển kinh tế thịnh vượng đã được thể hiện rõ trong Luật Hiến Phápvà chính quyền Liên bang Canada luôn tìm các biện pháp giải quyết mọi sự mâu thuẫn chính trị làm cho
ít nhiều sự chia tách mang tính tự trị ở một số vùng đã được điều chỉnh vàkiểm soát theo hướng thống nhất trong Liên bang Chính vì vậy, trong cuộc trưng cầu dân ý ở Quebec năm 1995 tỷ lệ đòi độc lập tự trị chỉ chiếm khoảng 1%, tuy nhiên, ngọn lửa đòi li khai tự trị vẫn nhen nhóm ở Quebec Năm1998, Tòa án tối cao Canada quyết định chính quyền Quebec không thể li khai, việc tách khỏi Canada không được sự chấp thuận của chính quyền Liên bang Canada Năm 1999, Nunavut chính thức gia nhập Liên bang Canada, nằm ở phía Tây Bắc Canada, đây được gọi là vùng lãnh thổ đầu tiên trên thế giới hợp pháp hóa tính y học của cần sa và cũng sau sự kiện ngày 11/9/2011, Canada và Mỹ hợp tác cảnh báo chống khủng bố dọc biên giới hai nước
Ngày 23/1/2006, Đảng bảo thủ ở Canada dưới sự lãnh đạo của Stephen Harper đã dành thắng lợi ở cuộc bầu cử Liên bang, chấm dứt12 năm nắm quyền của Đảng tự do của Paul Martin Dưới chính quyền của Thủ tướng Harper, có sự điều chỉnh thu hẹp quân đội ở Afganistan kéo dài đến năm 2009 Bên cạnh đó tập trung tăng cường an ninh quốc gia là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng trong đó phải kể đến các hoạt động chống khủng bố Tháng 6/2006 Canada đã bắt 17 người thuộc mạng lưới Al Quaeda bị nghi lập kế hoạch khủng bố ở nước này
Cuối năm 2006,tại Quebec một lần nữa bùng lên đòi tự trị như một quốc gia riêng (nationhood) trong một quốc gia Liên bang Việc này bắt nguồn khi Nghị viện
có thái độ đồng tình về việcvùng lãnh thổ Quebec nên được xem như là một quốc gia (nation) trong một quốc gia Liên bang Canada Hiện nay, trong quan hệ quốc tế với nước ngoài, Canada đang tiếp tục đòi giành quyền tự chủ ở một số nơi vùng cực
Trang 34bắc bằng việc tăng cường ảnh hưởng của mình ở đây, vì đây là vùng đang gây tranh cãi giữa Mỹ và Đan Mạch với trữ lượng rất lớn về dầu mỏ và khí gas
Năm 2008, Chính phủ đã lên tiếng xin lỗi về chính sách trước kia khi mới áp dụng buộc trẻ em thổ dân bản địa tham dự học nội trú nhằm đồng hóa họ Hầu hết những trường này đều đã bị đóng cửa từ những năm 1970,đồng thời trước sự khủng hoảng nền kinh tế thế giới và tác động đến kinh tế Canada, Thủ tướng Harper đã khéo léo chèo lái để kinh tế ít bị thiệt hại nhất và đã không bị mất tín nhiệm trước
cử tri và sự công kích của Đảng đối lập Năm 2009, Nghị viện đã thông qua ngân sách bao gồm gói kích thích kinh tế và hỗ trợ tiếp sức cho Đảng của Thủ tướng Harper
Năm 2010, Canada tự hào đăng cai thành công thế vận hội Olympic mùa đông Hiện nay Đảng Bảo thủ của Thủ tướng Harper đang bị mất dần tín nhiệm do không nhận được sự hỗ trợ và ủng hộ của các Đảng đối lập nhiều như trước nên việc đề nghị thông qua ngân sách cho Chính phủ đang gặp nhiều khó khăn Kinh tế Canada từ năm 2010 đến nay tiếp tục có những dấu hiệu trì trệ khi thị trường việc làm giảm sút và tỷ lệ thất nghiệp vẫn ở mức cao Theo báo cáo của Cơ quan Thống
kê Canada công bố ngày 5/7/2013, nền kinh tế Canada trong tháng 6/2013 đã mất thêm 400 việc làm và tính trên tổng thể, chỉ có 14.000 công việc mới được tạo ra trong 6 tháng đầu năm 2013, thấp hơn nhiều so với mức 27.000 việc làm của cùng
kỳ năm 2012 và tỷ lệ thất nghiệp tiếp tục ở mức cao 7,1% Mặt khác, những số liệu mới được công bố phần nào lại phản ánh một triển vọng tích cực hơn của nền kinh
tế Canada so với dự đoán của giới phân tích, các chuyên gia kinh tế cho rằng trong bối cảnh nhu cầu trong và ngoài nước đều thấp, các hoạt động của nền kinh tế Canada bị suy giảm đáng kể và thị trường lao động có thể sẽ mất từ 7.500 đến 10.000 việc làm tính đếntháng 6/2013[55]
1.3 Sự hình thành và phát triển chính sách nhập cư, định cư của Canada
1.3.1 Bối cảnh ra đời của chính sách nhập cư, định cư của Canada
Định cư và chính sách nhập cư hình thành như một lẽ tự nhiên vốn có tại Canada ngay từ những ngày đầu của lịch sử, với mục đích thực hiện công việc quản
lý, điều tiết và phát triển xã hội một cách có định hướng, định cư và chính sách nhập cưđãvà đang tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành các đặc
Trang 35tính xã hội Canada cho đến tận ngày nay Thời kỳ đầu, những người Canada nhập
cư vào sinh sống đầu tiênchỉ chiếm thiểu số, còn lại hầu hết người nhập cư Canada thế hệ thứ hai sau đó đều có cha, mẹ, ông, bà hoặc họ hàng thân thích đến Canada từ trước đó Vì vậy tất cả người Canada đến và đang sinh sống trên đất nước Canada hầu hết đều chung một đặc điểmnguồn gốc cha ông nhập cư Chính vì vậy, sẽ không
có Canada nếu không có sự hiện diện và đóng góp của người nhập cư và chính sách định cư.Tổ tiên người Canada bản địa cũng là những di dân đã di cư qua khu vực đảo băng nổi Châu Á vào Bắc Mỹ định cư và trở thành người Canadatrong nhiều thế kỷ trước cho đến thế kỷ 18với sự xuất hiện của thực dân Pháp Sau đó là người Anh đến lập các thuộc địa ở các tỉnh vùng ven biển Sau chiến thắng của quân đội Anh tại Quebec vào thế kỷ XVIII và thắng lợi trong cuộc cách mạng Mỹ, thực dân Anh đã gửi những người trung thành đi khai phá vùng đất mới Bắc Mỹ
Hơn một thế kỷ tiếp theo, những người nhập cư đến từ Liên hiệp Anh bao gồm Anh, Scotland và Ireland, họ được vẽ ra một thế giới mới với cơ hội khai phá đất đai theo định hướng của chính sách nhập cư của chính phủ Canada, số khác còn lại tìm đến Canada với sự mong muốn thoát khỏi đói nghèo Người Mỹ cũng xuất hiện với vai trò người nhập cư tìm kiếm việc làm, họ nhập cư vào Canada theo chính sách mở cửa định cư của Canada trong nhiều hoàn cảnh, người đến từ tay không, người đến cùng gia đình, người thân với các nguồn lực cần thiết để bắt đầu cuộc sống ở vùng đất mới,sự xuất hiện những người nhập cư đến từ nhiều nước khác nhau, bao gồm cả gồm cả ngườitừ Châu Âu và từ các nước không phải gốc da trắng Họ đến Canada bởi những lời hứa hẹn về một cuộc sống mớitươi đẹp với cơ hội phát triển kinh tế tốt hoặc thoát khỏi mối đe dọa tôn giáo hay chính trị
Trong những năm nội chiến ở Hoa Kỳ, ở Châu Âu, đã có hàng ngàn người
nô lệ da đen trốn chạy theo các tuyến đường sắt ngầm phía Bắc vào Canada Sau khi Liên bang Canada được chính thức hình thành vào năm 1867, với chính sách nhập
cư và định cư nhằm phát triển những vùng cần khai phá, hàng ngàn người lao động Ailen và Trung Quốc được nhập cư vào làm công nhân xây dựng đường sắt tại công
ty đường sắt Thái Bình Dương Canada (CPR) Bên kia bờ Thái Bình Dương, và những nơi khác trên thế giới, những người Trung Quốc đã tham gia vào cuộc đua kiếm tìm sự giàu có tại Canada và họ đã di cư vào British Columbia tiến sâu vào
Trang 36vùng Yukon sau khi khám phá ra vàng, sau đó tạo ra làn sóng hàng trăm nghìn người Mỹ di cư vào vùng thảo nguyên Canada khai phá nông nghiệp màu mỡ
Với nỗ lựcđưa ra các giải pháp định cư để phát triển xã hội tại các vùng kinh
tế mới trước sự xuất hiện nhiều làn sóng nhập cư, Chính phủ Canada đã bắt đầu áp dụng chính sách nhập cư với những quy định ban đầu với mục đích hạn chế nhập cảnh nhằm ngăn chặn dịch bệnh, tội phạm từ những nhóm người được xem là không mang lại sự an toàn cho đất nước Nếu như sự ra đời của Luật nhập cư đầu tiên năm 1869 mang lại nhiều làn sóng nhập cư vào Canada định cư chủ yếu từ các nước phương Tây và số ít từ Châu Á thì chỉ thời gian ngắn sau đó, năm 1885, Chính phủ Canada đã đưa ra những quy định khắc nghiệt hạn chế đối với người Trung Quốc nhập cư, được gọi là Luật Trung Quốc (Chinese Act) Luật này không khuyến khích người nhập cư Trung Quốc nên áp dụng đánh thuế một khoản khá lớn trên mỗi người nhập cư Trung Quốc nói riêng hay những trường hợp không khuyến khích nhập cư khác nói chung.Chính sách nhập cư và định cư này đã thể hiện rất rõ
sự phân biệt, định hướng phát triển xã hội Canada theo mô hình nhập cư theo nhu cầu phát triển xã hội cụ thể là không hướng đến các nước không cùng văn hóa tương đồng[56]
1.3.2 Quá trình điều chỉnh và hoàn thiện chính sách nhập cư và định cư qua các thời kỳ lịch sử
Là một đất nước với những nét đặc thù riêng biệt không giống như các nước Châu Âu, nơi người nhập cư có thể xây dựng vùng lãnh thổ hoặc nhóm dân tộc riêng rẽ thì ở Canada, yếu tố cộng đồng đa chủng tộc, đa văn hóasống chung mangnét đặc trưngriêng Kể từ khi Liên bang Canada được thành lập chính thức từ năm 1867, Luật nhập cư đầu tiên được xây dựng và ra đời năm 1869 chính thức thể hiện những quy định dành cho người nhập cư Kể từ đó Luật nhập cư đã được điều chỉnh bổ sung liên tục cùng với tiến trình phát triển lịch sử, xã hội Canada cho đến tận ngày nay
Để hiểu hơn về quá trình hoàn thiện Luật nhập cưvà định cư qua nhiều giai đoạn lịch sử cho đến ngày nay luận văn này sẽ làm rõ hơn với từng giai đoạn lịch sử
cụ thể như sau:
Giai đoạn 1869-1918
Trang 37Luật nhập cưđầu tiên ra đời năm 1869 cơ bản nhằm ngăn chặn các nguồn dịch bệnh từ bên ngoài vào, Luật đưa ra các quy định đảm bảo an toàn sức khỏe đối với người nhập cư khi nhập cư vào Canada trên các tàu biển, đồng thời yêu cầu các thuyền trưởng tàu biển phải liệt kê danh sách người nhập cư trên tàu chuyển cho nhân viên phụ trách nhập cư kiểm dịch trước khi xuống tàu từ cảng đi Luật cũng quy định hạn chế người nhập cư bị mù, điếc, mất trí hoặc ốm yếu,nếu trường hợp nào nhân viên hải quan thấy nguy cơ đe dọa đến an toàn xã hội sẽ bắt người nhập cư
đó nộp một khoản tiền đặt cọc bảo đảm 300 đô la,hơn nữa nếu người nhập cư thuộc diện nghèo thì thuyển trưởng con tàu chở người nhập cư đó sẽ phải chịu trách nhiệm trả khoản tiền thay cho người nhập cư tương đương với các chi phí sinh sống khởi đầu tại Canada.Từ khi ra đời Luật nhập cư năm 1869, trách nhiệm quản lý nhập cư và định cư thuộc vềBộ Nông Nghiệp(1867), sau đó là Bộ Nội địa (1892), tiếp theo là Bộ Lao Động sau khi được sáp nhập năm 1917.Trong suốt thời gian cầm quyền của Thủ tướng Laurier (1896 – 1911), Bộ trưởng Bộ nội địa Clifford Sifton đã tích cực sử dụng chính sách nhập cư nhằm hướng đến định cư vùng bình nguyên phía tây phục vụ khai hoang đất đai, khai thác quặng, và phát triển đường sắt Những người nhập cư từ nhữngquốc gia được xem là đủ điều kiện kinh tế, phù hợp khai hoang nông nghiệp, có khả năng trở thành những người chủ nông trại, và làm nông trại tốt cho đất nước sẽ được ưu tiên hơn những người khác
Khi Luật nhập cư ra đời với những quy địnhđịnh cư thông thoáng dành cho người nhập cư đã mang đến nhiều làn sóng nhập cư trong đó có người Trung Quốc
từ khắp nơi đổ về thì chỉ một thời gian ngắn các nhà ra chính sách đã thể hiện tính phân biệt chủng tộc trong chính sách bằng cách ra một điều Luật riêng mang tên điều Luật Trung Quốc (Chinese Act- 1885)để áp dụnghạn chế người nhập cư gốc
Trung Quốc, qua đó đánh thuế cao trên mỗi người nhập cư ($50 trên 1 người, $100
trên một người(1900), $500 trên 1 người(1903))[8;tr.5].Sau khi điều Luật Trung
Quốc ra đời, Chính phủ Canada tiếp tục đưa ra Quy định quá cảnh (1908) nhằm ngăn cản ngườinhập cư từ Châu Á theo hình thức du lịch quá cảnh
Năm 1906,Chính phủ tiếp tục đưa raLuật nhập cư mới với các giải pháp nhằm ngăn chặn những nhóm người nhập cư có nguy cơlàm thay đổi khuynh hướng Chính phủ Liên bang,ngoài việctiếp tụcưu tiên áp dụng các quy định định cư được
Trang 38đặt ra trước đó, Luật mở rộng phạm vi áp dụng nhằmhạn chế nhập cư bao gồm cả những trường hợp đã bị tiền sử bệnh tâm thần hay là đã từng bị vào tù trước đó hoặc bất kỳ trường hợp nào đã bị buộc tội mặc dù chưa bị kết án phạm tội nghiêm trọng Năm 1910,Luật nhập cư bước đầu có những bổ sung, trao quyền gần như không giới hạn cho nội các Chính phủ Liên bang trong việc thu hút nhập cư nhằm thúc đẩy định cư phát triển kinh tế xã hội trên diện rộng Các quy định hạn chế nhập cư thể hiện qua việc người nhập cư không mong muốn vẫn được nhập cư nhưng được theo dõi trong giai đoạn thử thách ba năm, trong ba năm ở Canada mà phạm tội thì sẽ bị trục xuất trả về nước cũ Chính phủ đã sử dụng giải pháp mời chào hứa hẹnđịnh cư
về những vùng đất mới với giá rẻ cho những nhà đầu tư Bắc Âu, Nam và Đông Âu nhằm tăng số lượng người nhập cư “chất lượng tốt” Như Bộ trưởng Sifton thời đó
đã nói “một nông dân vạm vỡ trong một chiếc áo khoác da cừu, sinh ra trong đất
mà cha ông đã trở thành nông dân qua 10 thế hệ với một người vợ mập mạp cùng nửa tá trẻ con đều được xem là chất lượng tốt” Chính phủ hoàn toàn chủ động thể
hiện vai trò, quyền lực không giới hạn trong việc quyết định các vấn đề nhập cư, trong việc điều chỉnh số lượng, nguồn gốc, các thành phần nghề nghiệp của người nhập cư phục vụ lợi ích của Liên bang Canada [27, tr.64-80]
Giai đoạn từ năm 1914 trở đi, yếu tố chiến tranh, suy thoái kinh tế, tình trạng tăng trưởng trì trệ kết hợp lại đã tạo ra ảnh hưởng khác nhau đến vấn đề nhập cư, Chính phủ Canada ngay sau đó đã áp dụng các biện pháp làm giảm dòng nhập cư,theo ước tính đến thời điểm đầu Chiến tranh thế giới thứ nhất, có khoảng 22% dân số Canada được sinh ra từ nước ngoài và số người nhập cư không phải hoàn toàn dừng hẳn Mặc dù đây là thời điểm chấm dứt cho người Châu Âu nhập cư vào Canada bởi 2 lý do:
- Tại chiến trường Châu Âu đang cần người phục vụ chiến tranh
- Các chuyến tàu biển xuyên Đại Tây Dương đến Canada giảm đáng kể, trở thành kênh vận chuyển với chi phí quá đắt và nguy hiểm cho người nhập cư khi đi xuyên qua trung tâm cuộc chiến toàn cầu
Thời điểm này Canada, Anh đều là nước tham chiến cùng đồng minh đánh Đức, Áo, Hungary và Ukraine, nên nguồn di cư định cư từ những nước này bị ngừng hoàn toàn Những người định cư đang sinh sống ở Canada đến từ những
Trang 39nước này đều bị xem như là kẻ thù (áp dụng theo đạo Luật ứng xử chiến tranh 1914 – War Measures Act 1914) Theo đạo Luật này, họ phải đăng ký với chính quyền và luôn mang bên mình thẻ căn cước (ID Card) Họkhông được sở hữu vũ khí, không được xuất bản hay đọc bất kỳ ngôn ngữ nào khác ngoài tiếng Anh và tiếng Pháp, dời khỏi đất nước phải xin phép chính quyền sở tại,không được tham gia vào Đảng cộng sản hoặc những phong trào bất hợp pháp, kết cụccó hàng nghìn người nhập cư thuộc liên minh kẻ thù đã bị dồn vào các trại tập trung có lính canh (internment camps) hoặc bị trục xuất khỏi Canada Đến năm 1917 khi lực lượng lao động trở nên thiếu hụt trầm trọng, những người định cư này mới dần dần được phép ra ngoài như bình thường Với giải pháp này, Chính phủ đã giải quyết được tình trạng thiếu hụt lao động ở Canada, mặc dù các nhóm cựu chiến binh trong nước không hài lòng với quyết định này,họ sợ rằng những người này sẽ chiếm công việc củanhững người lính khác khi họtrở về quê nhà.Cũng năm 1917, Chính phủ của Đảng bảo thủ của ông Robert Borden đã đưa ra Luật mới đó là Luật bầu cử thời chiến (Wartime Elections Act),Luật này đã giải quyết được hai vấn đề:
- Tước quyền công dân hay tước quyền bầu cử đối với người thuộc liên minh
kẻ thù nhập cư từ năm 1902;
- Trao quyền bầu cử cho những phụ nữ trưởng thành ở Canada trong thời chiến, kể cả khi họ có chồng, có con hay anh, emđang chiến đấu ở chiến trường Châu Âu
Để phục vụ, hỗ trợ người nhập cư thời chiến và sau chiến tranh, tháng 10 năm 1917 một văn phòng phụ trách nhập cư và thuộc địa đã được thành lập và hoạt động Kết quả số người nhập cư định cư đã tăng từ 41.845 năm 1918 lên 107.698 vào năm 1919[57].Như vậy, nhìn chung chính sách nhập cư của Canada giai đoạn 1867-1918 cho thấy tính phòng ngừa ngăn chặn các yếu tố không an toàn từ bên ngoài vào vì lợi ích cộng đồng và xã hội, đồng thời do tác động của chiến tranhnên kéo theo các phản ứng tiêu cực đối với chính sách nhập cư cũng như cộng đồng người nhập cư, định cư thuộc phe kẻ thù phát xít
Giai đoạn 1919-1945
Sau khi Chiến tranh thế giới I kết thúc, thế giới có nhiều biến động về di cư, năm 1919 Chính phủ Canada đưa vào thực thi các giải pháp mới dành cho người
Trang 40nhập cư cùng với việc ban hành Luật nhập cư mới (Immigration Act 1919) theo đó Chính phủ giới hạn hoặc loại bỏ các trường hợp nhập cư nào khi Chính phủ xét thấy không phù hợp với cuộc sống ở Canada bao gồm cả lý do về quốc tịch.Quy định người nhập cư đến từ Áo, Bungary, Hungary, Thổ Nhĩ Kỳ và những nước mà trong Chiến tranh thế giới thứ nhất chống lại Canada hay người nhập cư là các tín đồ theo các tín ngưỡng giáo phái riêng như Doukhobers, Hutterites, Mennonites cũng đều bị cấm nhập cư Tuy nhiên, quy định mang tính tình thế này không kéo dài được lâu, đến năm 1922 – 1923 được bãi bỏ, thay vào đó Luật nhập cư 1919 được ban hành, gia tăng quyền lực cho Chính phủ trong việc trục xuất các nhà hoạt động xã hội,chính trị nào đang định cư chống lại chính sách hoặc đường lối của Chính phủ Thời điểm này ở Canada đang gia tăng phong trào Chủ nghĩa Xã Hội và Chủ nghĩa Cộng Sản sau sự kiện cách mạng Nga năm 1917 và cuộc tổng đình công ở Winnipeg năm 1919
Từ năm 1921 đến năm 1926, Chính phủ của Thủ tướng Mackenzie King áp dụng chính sách khuyến khích nhập cư định cư vào các vùng công nghiệp để phục
vụ phát triển kinh tế đang trên đà xây dựng,đồng thời tập trung đẩy mạnh phát triển ngành đường sắt, tạo huyết mạch giao thông quốc gia Giai đoạn này dưới sự chi phối của hai Công ty đường sắt Thái Bình Dương Canada (CPR) và Công ty đường sắt quốc gia Canada (CNR) đang cần thu hút mạnh mẽ lực lượng lao động có tay nghề nên chính sách nhập cư nhanh chóng được thay đổi Đa số những người nhập
cư chính thức thuộc danh mục “không được ưu tiên – non preferred” hay “hạn chế - restricted” đều được phép nhập cảnh trong thời gian này [44, tr.188].Nhập cư từ các quốc gia Châu Á khác cũng được chính thức khuyến khích,ví dụ đến từ Ấn Độ,theoquy định về hành trình quá cảnh (The continuous journey regulation) ra đời
từ năm 1908 Trong thực tế nửa đầu thế kỷ này, tiêu chí dành cho người nhập cư khá rõ ràng đó là dựa trên chủng tộc Mặc dù có sự khuyến khích nhập cư, nhưng với đạo Luật năm 1923 dành riêng cho người Trung Quốc (Chinese Act 1923), một lần nữa tiếp tục là rào cản hạn chế làn sóng người Trung Quốc nhập cư (Luật này tồn tại đến tận 1946) bởi nhiều lý do phát sinh trong nước không tốt cho đất nước
do người Trung Quốc tạo ra đồng thời cũng bới nhiều lý do nhạy cảm về chính trị trong quan hệ quốc tế giữa hai nước