1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển kiến thức thông tin cho sinh viên trường Đại học Hà Nội

82 738 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 1,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

2.2 Nhiệm vụ của đề tài Với mong muốn đạt được những mục đích đã đề ra, luận văn tiến hành thực hiện các nhiệm vụ cụ thể: - Nghiên cứu nội dung KTTT, các tiêu chuẩn về kiến thức thông t

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

NGUYỄN THỊ NGÀ

PHÁT TRIỂN KIẾN THỨC THÔNG TIN CHO SINH VIÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀ NỘI

Chuyên ngành: Khoa học Thư viện

Mã số: 60.32.20 Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Nguyễn Hữu Hùng

HÀ NỘI, 2010

Trang 2

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 7

1 Tính cấp thiết của đề tài 7

2 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài 8

2.1 Mục đích của đề tài 8

2.2 Nhiệm vụ của đề tài 8

3 Lịch sử nghiên cứu của vấn đề 8

3.1 Lịch sử nghiên cứu kiến thức thông tin quốc tế 8

3.2 Lịch sử nghiên cứu kiến thức thông tin trong nước 10

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của vấn đề 11

4.1 Đối tượng nghiên cứu 11

4.2 Phạm vi nghiên cứu 11

5 Phương pháp nghiên cứu 11

5.1 Phương pháp luận 11

5.2 Phương pháp cụ thể 12

6 Cấu trúc của đề tài 12

Chương 1: NỘI DUNG, VAI TRÒ CỦA KIẾN THỨC THÔNG TIN ĐỐI VỚI GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 13

1.1 Các khái niệm cơ bản 13

1.1.1 Kỹ năng máy tính 13

1.1.2 Đào tạo từ xa và học trên mạng 13

1.1.3 Kiến thức thông tin 14

1.2 Tiêu chuẩn của Kiến thức thông tin 15

1.2.1 Khả năng nhận biết nhu cầu thông tin 16

1.2.2 Tìm kiếm thông tin một cách hiệu quả, chính xác 16

1.2.3 Khả năng đánh giá thông tin và quá trình tìm kiếm thông tin 17 1.2.4 Khả năng quản lý thông tin thu thập được và thông tin phát sinh.18

Trang 3

1.2.5 Ứng dụng thông tin trong việc học tập, sáng tạo tri thức mới 18

1.2.6 Nắm bắt được các khía cạnh kinh tế, 18

1.3 Vai trò của kiến thức thông tin đối với giáo dục đại học 19

1.3.1 Công cụ quan trọng trong việc học tập và học tập suốt đời 19

1.3.2 Đổi mới phương pháp dạy – học 21

1.3.3 Nâng cao chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học 21

Chương 2 THỰC TRẠNG KIẾN THỨC THÔNG TIN CỦA SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀ NỘI 24

2.1 Trường Đại học Hà Nội và Trung tâm Thông tin thư viện 24

2.2 Điều kiện triển khai kiến thức thông tin cho sinh viên 31

2.2.1 Điều kiện thuận lợi 31

2.2.2 Những khó khăn 35

2.4.1 Thực trạng đào tạo kiến thức thông tin 36

2.4.2 Thực trạng kỹ năng tìm kiếm thông tin 38

2.4.3 Thực trạng kỹ năng đánh giá, sử dụng thông tin 40

2.4.4 Nhu cầu tham dự khoá học kiến thức thông tin 41

Chương 3: NHỮNG CÔNG CỤ VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN KIẾN THỨC THÔNG TIN CHO SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀ NỘI 43

3.1 Xây dựng nội dung kiến thức thông tin cho sinh viên 43

3.1.1 Kỹ năng khai thác thông tin trên internet 43

3.1.1.1 Khái niệm internet và world wide web 43

3.1.1.2 Sử dụng internet để cung cấp tài liệu cho học tập, nghiên cứu 44

3.1.1.3 So sánh nguồn tài liệu in và tài liệu điện tử 44

3.1.1.4 Một số tính chất ảnh hưởng tới quyết định của người dùng tin 45

3.1.2 Đánh giá, sử dụng hiệu quả nguồn thông tin trên internet 46

3.1.3 Các công cụ tìm kiếm thông tin trên internet 47

3.1.3.1 Máy tìm kiếm thông tin (Search engines) 47

3.1.3.2 Máy tìm kiếm liên thông (meta-search engines) 49

Trang 4

3.1.3.3 Cổng thông tin (Gate way) 52

3.1.3.4 Cơ sở dữ liệu chuyên ngành (Database) 52

3.1.3.5 Xây dựng cú pháp của lệnh tìm kiếm thông tin 53

3.1.4 Trích dẫn tài liệu, nguồn tin tham khảo 54

3.1.4.1 Thế nào là trích dẫn tài liệu? 54

3.1.4.2 Tại sao phải thực hiện trích dẫn tài liệu 55

3.1.4.3 Các bước trong quá trình trích dẫn 56

3.1.4.5 Sử dụng phần mềm trích dẫn tài liệu tham khảo Endnote 59

3.1.4.6 Cách sử dụng chức năng trích dẫn, 68

3.2 Triển khai tập huấn kiến thức thông tin cho sinh viên 71

3.2.1 Tập huấn tại thư viện 72

3.2.2 Lồng ghép vào chương trình giảng dạy 72

3.2.3 Phương tiện thông tin đại chúng 73

3.3 Nâng cao vai trò của cán bộ thư viện 73

3.4 Xây dựng mối liên hệ giữa cán bộ thư viện và giáo viên 74

3.5 Khẳng định vai trò của thư viện trong trường đại học 74

3.6 Xây dựng các tiêu chí kiểm tra, đánh giá 75

3.7 Phổ biến kiến thức thông tin 75

KẾT LUẬN 79

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 80

Trang 5

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay, kiến thức thông tin (KTTT- “Information Literacy”) không chỉ là vấn đề riêng của ngành thông tin thư viện mà nó đã trở thành vấn đề cấp thiết của thế kỷ 21, và đặc biệt quan trọng trong lĩnh vực giáo dục Có thể khái quát rằng, kiến thức thông tin giúp chúng ta có khả năng tốt hơn để nhận biết nhu cầu thông tin, khai thác và sử dụng thông tin một cách hiệu quả

Vậy tại sao KTTT trở nên quan trọng và cấp thiết như hiện nay? Thế giới đang diễn ra quá trình hình thành “xã hội thông tin toàn cầu” Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, là sự bùng nổ thông tin, là kỷ nguyên của nền kinh tế tri thức Trong nền kinh tế tri thức, tri thức và thông tin đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp và có vai trò quyết định sự phát triển của xã hội Thông tin không chỉ cung cấp cho chúng ta tri thức để nhận biết và nắm bắt quy luật phát triển kinh tế - xã hội mà còn khơi dậy khả năng sáng tạo của con người Những người có khả năng nhận biết, đánh giá, phân tích, tiếp cận và quản lý thông tin một cách có hiệu quả chính là những sinh viên, người lao động, và mọi công dân có khả năng thành công trong việc giải quyết các vấn đề, cung cấp các giải pháp, các sáng kiến cải tiến cho tương lai Họ là những người đã được trang bị kỹ năng học tập suốt đời (lifelong learning skills)

Trong môi trường giáo dục hiện đại, sinh viên đã và đang được học tập trong môi trường rộng mở, linh hoạt, là nơi họ trở thành trung tâm của quá trình dạy và học Họ chủ động tiếp nhận tri thức và sáng tạo ra tri thức mới Việc trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản về kiến thức thông tin trở nên ngày càng quan trọng, nó giúp cho sinh viên chủ động tiếp cận các nguồn thông tin, tri thức mới thông qua các khả năng xác định nhu cầu tin, đánh giá thông tin và sử dụng chúng một cách hiệu quả

Xuất phát từ tầm quan trọng của thông tin, tri thức trong xã hội hiện đại, cùng với sự thay đổi của môi trường giáo dục lấy người học làm trung tâm trong

Trang 6

quá trình dạy và học, đòi hỏi các cơ sở đào tạo, các trường đại học nói chung và Trường Đại học Hà Nội nói riêng cần có chính sách đào tạo kiến thức thông tin cho cán bộ, giáo viên và sinh viên Đó cũng là lý do để tôi chọn đề tài: “Phát triển kiến thức thông tin cho sinh viên trường Đại học Hà Nội” làm chủ đề nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ của mình

2 Mục đích, nhiệm vụ của đề tài

2.1 Mục đích của đề tài

Đề tài nhằm mục đích làm rõ nội dung khái niệm KTTT, tiêu chuẩn đánh giá

và tầm quan trọng của KTTT đối với giáo dục đại học cũng như trong xã hội hiện đại Đưa ra những công cụ và giải pháp nhằm trang bị cho sinh viên trường Đại học

Hà Nội những kiến thức về KTTT phục vụ cho quá trình học tập trong nhà trường cũng như quá trình học tập suốt đời

2.2 Nhiệm vụ của đề tài

Với mong muốn đạt được những mục đích đã đề ra, luận văn tiến hành thực hiện các nhiệm vụ cụ thể:

- Nghiên cứu nội dung KTTT, các tiêu chuẩn về kiến thức thông tin và một

số khái niệm liên quan;

- Khẳng định vai trò của KTTT đối với giáo dục đại học;

- Khảo sát thực trạng và nhu cầu về KTTT của sinh viên trường Đại học Hà Nội;

- Đưa ra những giải pháp và công cụ cụ thể nhằm nâng cao hiểu biết về KTTT cho sinh viên

3 Lịch sử nghiên cứu của vấn đề

3.1 Lịch sử nghiên cứu kiến thức thông tin quốc tế

Thuật ngữ “kiến thức thông tin” xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1974 và được phát biểu bởi Paul G Zurkowski, tại Uỷ ban Quốc gia về Khoa học Thông tin

và thư viện Zurkowski sử dụng thuật ngữ này để mô tả những hiểu biết về các kỹ năng, kỹ thuật thông tin nhằm sử dụng thông tin một cách thuần thục như những nguồn lực cơ bản để giải quyết những vấn đề mà con người gặp phải

Trang 7

Năm 1989 một cuộc hội thảo phát triển khái niệm kiến thức thông tin được tổ chức bởi Hiệp hội thư viện Hoa Kỳ (ALA) Tại hội thảo đã đưa ra Báo cáo cuối cùng về kiến thức thông tin và định nghĩa kiến thức thông tin là: khả năng nhận biết nhu cầu tin, khả năng định vị, đánh giá và sử dụng thông tin một cách hiệu quả và điểm nổi bật nhất của kiến thức thông tin là các kỹ năng thuần thục cho việc học tập suốt đời

Năm 1998, Hội Thư viện trường học Hoa Kỳ và Hội Công nghệ - Truyền thông Giáo dục đã xuất bản cuốn sách: “Năng lực thông tin: Xây dựng sự cộng tác cho việc học tập” Với mục đích xa hơn, cụ thể hơn cho giáo dục kiến thức thông tin, làm sáng tỏ các tiêu chuẩn của kiến thức thông tin, khả năng tự học và trách nhiệm xã hội của mỗi công dân

Năm 2003, Diễn đàn Quốc gia về kiến thức thông tin kết hợp với Tổ chức Văn hoá - Khoa học và Giáo dục - UNESCO và Uỷ ban quốc gia về Thông tin và Thư viện tổ chức hội thảo quốc tế tại Prague với đại diện từ 23 nước trên thế giới cùng thảo luận về sự quan trọng của kiến thức thông tin trong bối cảnh quốc tế Bản tuyên ngôn Prague đã mô tả kiến thức thông tin là chìa khoá cho xã hội, văn hoá, kinh tế và sự phát triển của mỗi quốc gia, cộng đồng, các tổ chức và mỗi cá nhân trong thế kỉ 21 và công nhận nó như một phần cơ bản của quyền con người trong quá trình học tập suốt đời

Ngày 16 tháng 10 năm 2006, Hội nghị thượng đỉnh về kiến thức thông tin được đưa ra nhằm sửa chữa những thiếu hụt của Kiến thức thông tin ở Hoa Kỳ với

sự có mặt của hơn 100 thành viên được bảo trợ bởi Diễn đàn kiến thức thông tin quốc gia về các lĩnh vực như Uỷ ban phát triển Kinh tế, Dịch vụ khảo thí giáo dục…và Hiệp hội giáo dục quốc gia

Mục đích của hội nghị lần này là: (i)nâng cao hiểu biết chính trị và truyền thông về tầm quan trọng của thông tin xã hội trong thế kỷ 21, (ii) phát triển chiến lược tổng hợp nhằm nâng cao kỹ năng thông tin cho công dân Hoa Kỳ, (iii) xây dựng những tiêu chuẩn và khung đánh giá kiến thức thông tin liên quốc gia.[29, tr.16]

Trang 8

Tháng 10 năm 2009, Tổng thống Mỹ Barack Obama cũng đã phát động

“Tháng kiến thức thông tin quốc gia” Ông khẳng định: hàng ngày lượng thông tin tràn ngập, thông tin trong 24 giờ và hàng ngàn mạng lưới phát thanh, truyền hình, cộng với sự mênh mông của các nguồn thông tin trực tuyến đã tạo ra thách thức cho con người trong việc quản lý thông tin Chúng ta phải học những kỹ năng cần thiết nhằm nắm bắt thông tin, kiểm tra và đánh giá thông tin đó trong mọi tình huống Các kỹ năng này giúp chúng ta ra những quyết định chính xác, hiệu quả Tháng hiểu biết thông tin chỉ ra sự cần thiết của KTTT cho mọi công dân Hoa Kỳ trở nên thông thạo trong việc định hướng trong thời đại thông tin.[18, pg.1]

3.2 Lịch sử nghiên cứu kiến thức thông tin trong nước

Tại Việt Nam, thuật ngữ “Information Literacy - Kiến thức thông tin” và

“Lifelong learning – “học tập suốt đời” ngày càng phổ biến trong các trường đại học, các viện nghiên cứu, và các cơ quan thông tin – thư viện

Ngày 8 đến 12 tháng 5 năm 2006, với sự tài trợ của Tổ chức văn hoá khoa học và giáo dục (UNESCO), Trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội (nay là Trường Đại học Hà Nội) đã phối hợp với Trung tâm Thông tin phát triển Việt Nam (VDIC) và Trung tâm phát triển học bổng Úc (ADS – Australian Development Scholarships Centre) tổ chức cuộc hội thảo về đào tạo Năng lực Kiến thức thông tin cho cán bộ thư viện các trường Đại học ở Việt Nam Tại hội thảo, với sự góp mặt của các chuyên gia về kiến thức thông tin đến từ các nước Mỹ, Úc, Lào và Việt Nam đã tạo

cơ hội cho cán bộ thư viện các trường đại học Việt Nam được tiếp cận với những kiến thức mới nhất về kiến thức thông tin đồng thời tạo diễn đàn chia sẻ kinh nghiệm và tri thức giữa các cán bộ thư viện trong phạm vi quốc gia và quốc tế

Tại Trung tâm học liệu - Đại học Huế, kiến thức thông tin được nói đến với cụm từ “phổ cập thông tin” Phổ cập thông tin nhằm thực hiện các nhiệm vụ [3]:

- Nhận biết và kết nối nhu cầu thông tin;

- Nắm được thiết kế, tích luỹ và cấu trúc của thông tin;

- Xác định và lựa chọn những phương pháp điều tra hoặc hệ thống phục hồi thông tin thích hợp nhất;

Trang 9

- Phát triển và bổ sung các phương pháp tìm kiếm hữu ích;

- Nhận, định vị và truy hồi thông tin;

- Phân tích, đánh giá và tổng hợp thông tin;

- Sử dụng thông tin một cách có hiệu quả

Tại một số trường Đại học khác như: Đại học Khoa học Tự nhiên thành phố

Hồ Chí Minh, Trung tâm Học liệu Đại học Cần Thơ… cũng đã và đang tiến hành thực hiện chương trình giảng dạy Kiến thức thông tin cho người dùng tin Mặc dù các hoạt động này còn chưa được nhân rộng song sẽ là xu hướng mà các trường đại học, các viện nghiên cứu hướng tới thực hiện trong một tương lai không xa

Ngoài ra, kiến thức thông tin còn được nghiên cứu bằng các cuộc hội thảo, công trình nghiên cứu khoa học, khoá luận tốt nghiệp đại học, thạc sĩ tại một số trường đại học khu vực Hà Nội như: Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Bách khoa

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu của vấn đề

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Các khái niệm về KTTT, nội dung KTTT và một số tiêu chuẩn KTTT tại một

Trang 10

- Điều tra bảng hỏi

6 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục Luận văn có bố cục gồm 3 chương:

Chương 1: Nội dung và vai trò của kiến thức thông tin đối với giáo dục đại học

Chương 2: Thực trạng kiến thức thông tin của sinh viên Trường Đại học

Hà Nội

Chương 3: Những công cụ và giải pháp nhằm phát triển kiến thức thông tin cho sinh viên Trường Đại học Hà Nội

Trang 11

Chương 1: NỘI DUNG, VAI TRÒ CỦA KIẾN THỨC THÔNG TIN

ĐỐI VỚI GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

1.1 Các khái niệm cơ bản

in

Khái niệm kiến thức phần mềm máy tính: Là kiến thức về các chương trình đươ ̣c thiết kế chứa các mã lệnh giúp phần cứng làm việc phục vụ nhu cầu người sử dụng Phần mềm được lưu trữ trong các thiết bị lưu trữ Các phần mềm máy tính như: Windows, Word, Excel, Powerpoint, Internet…

1.1.2 Đào tạo từ xa và học trên mạng

Đào tạo từ xa (ĐTTX) là hình thức giáo dục mới Ngày nay, có nhiều thuật ngữ dùng để chỉ hoạt động đào tạo từ xa như: giáo dục mở, học từ xa, dạy từ xa, giáo dục từ xa…Đặc trưng của hoạt động giáo dục này là sự cách biệt về không gian và thời gian

Theo nhiều học giả định nghĩa: “Đào tạo từ xa là một quá trình giáo dục - đào tạo mà trong đó phần lớn hoặc toàn bộ quá trình giáo dục - đào tạo có sự tách biệt giữa người dạy và người học về mặt không gian hoặc/và thời gian”[38]

Đào tạo từ xa bao hàm các yếu tố chủ yếu sau:

- Giảng viên và học viên ở một khoảng cách xa (tức là có sự ngăn cách về mặt không gian: khoảng cách này là tương đối, có thể là cùng trường học nhưng khác phòng học hoặc khác nhau về vị trí địa lý;

Trang 12

- Nội dung dạy học trong quá trình dạy học được truyền thụ, phân phối tới cho học viên chủ yếu thông qua các hình thức thể hiện gián tiếp như văn bản in, âm thanh, hình ảnh hoặc số liệu máy tính;

- Sự liên hệ, tương tác giữa giảng viên và học viên trong quá trình dạy học có thể được thực hiện tức thời hoặc trễ sau một khoảng thời gian nào đó (có sự ngăn cách về mặt thời gian)

Dựa vào nội dung giảng dạy và sự tương tác giữa giáo viên và sinh viên, người ta chia đào tạo từ xa thành hai hình thức cơ bản:

- Đào tạo từ xa có tương tác: là đào tạo có sự tương tác theo thời gian thực, trực tiếp giữa giảng viên và sinh viên trong quá trình dạy học Trong ĐTTX tương tác, có một số phương thức tổ chức đào tạo sử dụng các công nghệ điển hình như ở dưới đây: Radio hai chiều, thoại hội nghị, cầu truyền hình…

- Đào tạo từ xa không có tương tác: là đào tạo không có sự tương tác theo thời gian thực, trực tiếp giữa giảng viên và sinh viên trong quá trình dạy học Trong ĐTTX không tương tác, có các phương thức được sử dụng điển hình như: tài liệu, bài giảng dưới dạng in ấn, băng đĩa hình, băng đĩa tiếng, mạng internet, intranet

Như vậy, ĐTTX là “một phương thức giáo dục - đào tạo dựa trên cơ sở của

kỹ thuật nghe nhìn, công nghệ viễn thông và công nghệ thông tin ĐTTX lấy việc tự học làm trọng tâm, có sự hỗ trợ tích cực của giáo trình, tài liệu hướng dẫn, băng hình/tiếng, phương tiện truyền thanh/truyền hình, công nghệ thông tin và viễn thông; có thể đồng thời có sự hướng dẫn và hỗ trợ của giảng viên của cơ sở đào tạo”[34, tr.8]

1.1.3 Kiến thức thông tin

Kiến thức thông tin là khái niệm xuất hiện sớm trên thế giới, được mỗi nước, mỗi tổ chức định nghĩa khác nhau, song nó còn khá mới mẻ trong hoạt động thông tin thư viện tại Việt Nam Theo Hiệp hội Thư viện Hoa Kỳ (ALA): KTTT là khả năng nhận biết nhu cầu thông tin của bản thân, cũng như khả năng định vị, đánh giá

và sử dụng hiệu quả thông tin tìm được

Trang 13

Tại Hội nghị về KTTT và kỹ năng học tập suốt đời (Information Literacy and Lifelong learning) diễn ra vào ngày 6 - 9 tháng 11 năm 2005 tại Alexandria , Ai Cập: KTTT được định nghĩa “là khả năng tìm kiếm, đánh giá, sử dụng và tái tạo thông tin một cách hiệu quả phục vụ mục đích cá nhân, xã hội, công việc và học tập”

Trong thời đại công nghệ số, con người có hiểu biết, kiến thức về các công nghệ, kỹ thuật thôi chưa đủ mà cần phải học cách tìm kiếm, truy cập, tổ chức, phân tích và đánh giá thông tin nhằm sử dụng vào việc ra quyết định và giải quyết vấn đề một cách hiệu quả nhất

Viện Kiến thức thông tin Úc và New Zealand cho rằng, một người có kiến thức thông tin là người có khả năng [5, tr.8]:

- Nhận dạng được nhu cầu tin của bản thân;

- Xác định được phạm vi của thông tin mà mình cần;

- Thẩm định thông tin và nguồn của chúng một cách tích cực và hiệu quả;

- Phân loại, lưu trữ, vận dụng và tái tạo nguồn thông tin được thu thập hay tạo ra;

- Biến nguồn thông tin được lựa chọn thành cơ sở tri thức;

- Sử dụng thông tin vào việc học tập, tạo tri thức mới, giải quyết vấn đề, và

ra quyết định một cách có hiệu quả;

- Nắm bắt được các khía cạnh kinh tế, pháp luật, chính trị và văn hóa trong việc sử dụng thông tin;

- Truy cập và sử dụng các nguồn thông tin hợp pháp và hợp đạo đức;

- Sử dụng thông tin và tri thức để thực hiện các quyền công dân và trách nhiệm xã hội;

- Trải nghiệm kiến thức thông tin như một phần của học tập độc lập cũng như tự học suốt đời

1.2 Tiêu chuẩn của Kiến thức thông tin

Tại nhiều nước phát triển trên thế giới, để phổ biến KTTT, người ta đưa ra khung nội dung của KTTT thông qua các tiêu chuẩn sau đây:

Trang 14

1.2.1 Khả năng nhận biết nhu cầu thông tin

Người có khả năng nhận biết nhu cầu thông tin của chính mình là người:

* Xác định, định vị và liên kết nhu cầu thông tin: Sinh viên cần thực hiện các bước cơ bản như sau:

- Tìm hiểu các nguồn thông tin cơ bản phù hợp với chủ đề cần nghiên cứu;

- Nhận dạng các từ khoá và thuật ngữ cốt lõi, rõ ràng và câu hỏi tìm kiếm;

- Xác định hoặc sửa đổi nhu cầu thông tin của vấn đề;

- Có thể hỏi ý kiến những người xung quanh để hiểu rõ hơn chủ đề nghiên cứu hay nhu cầu thông tin khác

* Hiểu được mục đích, phạm vi và sự thích hợp của các nguồn thông tin khác nhau:

- Hiểu được cách thức tổ chức thông tin, phổ biến và sự phù hợp với nội dung chủ đề nghiên cứu;

- Sự khác nhau giữa các giá trị, các nguồn thông tin tiềm năng;

- Sự khác nhau giữa nguồn thông tin cấp một và nguồn thông tin cấp hai, làm cách nào để sử dụng chúng một cách khoa học phù hợp với mỗi chủ đề

* Đánh giá, đánh giá lại bản chất của nhu cầu thông tin:

- Xem lại nhu cầu thông tin ban đầu nhằm làm rõ hơn, xem xét lại hoặc thu gọn câu hỏi tìm kiếm;

- Liên kết và sử dụng các tiêu chuẩn để tạo ra các lựa chọn, quyết định thông tin

* Sử dụng các nguồn thông tin để ra các quyết định:

- Hiểu được các nguồn thông tin khác nhau sẽ biểu hiện dưới dạng khác nhau;

- Sử dụng các nguồn thông tin một cách có hệ thống để hiểu các vấn đề cần nghiên cứu;

- Sử dụng thông tin cho việc ra quyết định và giải quyết vấn đề

1.2.2 Tìm kiếm thông tin một cách hiệu quả, chính xác

* Lựa chọn phương pháp hoặc công cụ phù hợp nhất để tìm kiếm thông tin:

Trang 15

- Xác định phương pháp nghiên cứu phù hợp;

- Hiểu được những thuật lợi và khả năng áp dụng của các phương pháp nghiên cứu khác nhau;

- Xác định được mục tiêu, nội dung và cấu trúc của các công cụ truy cập thông tin;

- Tham khảo thủ thư và các chuyên gia thông tin để xác định các công cụ tìm kiếm

* Xây dựng và thực hiện các chiến lược tìm kiếm hiệu quả:

- Phát triển kế hoạch tìm kiếm phù hợp với phương pháp nghiên cứu;

- Xác định chính xác từ khoá, từ đồng nghĩa và các thuật ngữ liên quan đến nhu cầu thông tin;

- Xây dựng và thực hiện một chiến lược tìm kiếm sử dụng câu lệnh phù hợp;

- Thực hiện tìm kiếm sử dụng các phương pháp nghiên cứu phù hợp với chủ

đề, môn học

* Tìm được thông tin sử dụng các phương pháp phù hợp:

- Sử dụng được các công cụ truy cập thông tin phù hợp để truy cập thông tin dưới nhiều dạng khác nhau;

- Sử dụng dịch vụ thông tin phù hợp để tiếp cận nhu cầu thông tin như: cung cấp tài liệu, phổ biến thông tin ;

- Sử dụng các điều tra, thư, phỏng vấn và các hình thức thẩm định khác để truy cập tới nguồn thông tin cấp một (thông tin gốc)

* Cập nhật các nguồn thông tin, công nghệ thông tin, các công cụ truy cập thông tin và các phương pháp nghiên cứu:

- Duy trì kiến thức về vai trò của thông tin và công nghệ truyền thông;

- Tạo được thói quen đọc lướt các nguồn tin in ấn và điện tử

1.2.3 Khả năng đánh giá thông tin và quá trình tìm kiếm thông tin

* Đánh giá các nguồn thông tin hữu ích và liên quan:

- Đánh giá chất lượng và sự phù hợp của kết quả tìm kiếm và sử dụng công

cụ tìm kiếm thông minh hoặc phương pháp phù hợp;

Trang 16

- Nhận dạng và xác định lỗ hổng thông tin và thay đổi chiến lượng tìm kiếm;

- Thực hiện tìm kiếm lại sử dụng chiến lược tìm kiếm mới nếu cần thiết

* Xác định và áp dụng các chuẩn đánh giá thông tin:

- Đánh giá và so sánh thông tin từ các nguồn khác nhau theo các phương diện: mức độ phù hợp, giá trị pháp lý, độ chính xác, bản quyền, mức độ cập nhật

* Xem xét đến quá trình tìm kiếm thông tin và thay đổi chiến lược tìm kiếm nếu cần thiết

1.2.4 Khả năng quản lý thông tin thu thập được và thông tin phát sinh

* Ghi chép lại thông tin và nguồn của thông tin đó:

- Quản lý nội dung cơ bản của thông tin như: gạch đầu dòng, bản nháp hoặc bảng ghi nhớ;

- Trích dẫn nguồn thông tin và quản lý các nguồn thông tin tìm được một cách có hệ thống;

Ghi lại toàn bộ thông tin phù hợp nhằm phục vụ mục đích tra cứu, tham khảo

về sau

* Tổ chức thông tin (sắp xếp, phân loại, lưu trữ ):

- Biên soạn, sưu tập tài liệu tham khảo theo dạng thư mục;

- Xây dựng hệ thống quản lý, tổ chức thông tin tìm được bằng các phần mềm như: Endnote, Jabref, files

1.2.5 Ứng dụng thông tin trong việc học tập, sáng tạo tri thức mới

* Biết so sánh và tiếp cận các nguồn kiến thức cũ nhằm xác định giá trị còn lại, các mâu thuẫn hay những đặc điểm khác lạ của thông tin

* Có kỹ năng phổ biến, chia sẻ thông tin, tri thức và sáng tạo tri thức mới một cách hiệu quả

1.2.6 Nắm bắt được các khía cạnh kinh tế, pháp luật, chính trị, văn hoá

và xã hội trong việc sử dụng thông tin

* Hiểu biết văn hoá, tôn giáo và các vấn kinh tế xã hội liên quan đến việc truy cập và sử dụng thông tin:

Trang 17

- Nhận dạng được và có khả năng liên kết các vấn đề liên quan đến bản quyền và bảo mật trong môi trường thông tin dưới dạng in ấn và điện tử;

- Nhận dạng và hiểu được các vấn đề liên quan tới việc kiểm duyệt và tự do ngôn luận;

- Hiểu và tôn trọng sự riêng biệt, bản xứ và sự đa đạng về văn hoá trong việc

sử dụng thông tin

* Thừa nhận thông tin là trụ cột của các giá trị và niềm tin:

- Công nhận có sự khác nhau về giá trị giữa thông tin mới hoặc thông tin có

sự liên quan tới các giá trị, niềm tin của cá nhân

* Công nhận những qui ước, qui định liên quan tới việc truy cập và sử dụng thông tin:

- Hiểu được thế nào là đạo văn và biết cách trích dẫn kiến thức, ý tưởng của người khác

* Vấn đề pháp luật trong việc lưu trữ, phổ biến nguyên bản, dữ liệu, hình ảnh, âm thanh:

- Chấp nhận quyền truy cập thông tin của mọi người dùng tin và không phá hoại các nguồn thông tin hoặc làm “ô nhiễm” môi trường thông tin;

- Thu thập, lưu trữ và phổ biến thông tin, dữ liệu, hình ảnh hay âm thanh trong giới hạn của pháp luật cho phép;

- Hiểu được và chấp hành các qui ước trong việc sở hữu, bản quyền và sử dụng tài liệu có bản quyền

1.3 Vai trò của kiến thức thông tin đối với giáo dục đại học

Kiến thức thông tin có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học Điều này thể hiện qua ba nội dung sau đây:

1.3.1 Công cụ quan trọng trong việc học tập và học tập suốt đời

Khái niệm "học tập suốt đời" là coi học tập diễn ra dưới mọi hình thức, cả chính quy, không chính quy thông qua những giai đoạn khác nhau của cuộc đời con người, từ độ tuổi mầm non cho tới khi về già Học tập suốt

Trang 18

đời khuyến khích, hỗ trợ và động viên việc con người tìm đến tri thức trên

cơ sở tự nguyện, tự giác vì những lý do cá nhân hay lý do chuyên môn[38]

Phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân đã khẳng định: Việt Nam đang hướng đến nền kinh tế tri thức Điều này đòi hỏi mọi người dân phải có cơ hội và được hỗ trợ để học tập nâng cao kỹ năng một cách thường xuyên Vì vậy, học tập suốt đời có vai trò trọng tâm trong quá trình phát triển kinh tế

xã hội toàn diện của Việt Nam[11]

Vậy tại sao ngày nay kiến thức thông tin lại trở thành vấn đề quan trọng trong giáo dục đại học nói riêng và học tập suốt đời nói chung? Chúng ta hãy thử tưởng tượng nếu một sinh viên đại học không có bất kỳ khái niệm nào về các kỹ năng nghiên cứu; kỹ năng tìm kiếm, thu thập, xử lý, phân tích thông tin để giải quyết các vấn đề trong lĩnh vực chuyên môn thì sẽ ảnh hưởng tới chất lượng đầu ra

Sinh viên có thể rất thành thạo các kỹ năng: gửi thư điện tử, nói chuyện phiếm (chat), tải nhạc, phim nhưng đã có rất nhiều sinh viên không học cách định

vị thông tin, đánh giá, phân tích và sử dụng thông tin hiệu quả trong quá trình học tập và nghiên cứu Tuy nhiên, một trong những mục tiêu hướng tới của các cơ sơ đào tạo, các trường đại học là nâng cao chất lượng dạy và học, đồng thời đại đa số sinh viên cũng có mong muốn chủ động việc học, hoàn thành tốt bài thi và các bài nghiên cứu Đây chính là nguyên nhân dẫn tới các cơ sở đào tạo (trường đại học) cũng như người được đào tạo (sinh viên) tìm đến giải pháp dạy và học kiến thức thông tin

Theo Hiệp hội các Thư viện chuyên ngành và các Trường Đại học Hoa Kỳ (ACRL, 1989) khẳng định:

Người có kiến thức thông tin là người đã học được cách thức để học

Họ biết cách học bởi họ nắm được phương thức tổ chức tri thức, tìm kiếm thông tin và sử dụng thông tin, do đó những người khác có thể học tập được

từ họ Họ là những người đã được chuẩn bị cho khả năng học tập suốt đời, bởi lẽ họ luôn tìm được thông tin cần thiết cho bất kì nhiệm vụ hoặc quyết định nào một cách chủ động [5]

Trang 19

Kiến thức thông tin không chỉ là kiến thức về máy tính hay khả năng sử dụng các công nghệ mà nó còn là khả năng tìm kiếm, đánh giá, phân tích, sáng tạo, chia

sẻ và sư dụng thông tin trong việc giải quyết các vấn đề, sáng tạo tri thức mới, ra quyết định đúng đắn giúp sinh viên tạo được một tương lai tốt đẹp khi rời ghế nhà trường, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho đất nước

1.3.2 Đổi mới phương pháp dạy – học

Đổi mới giáo dục Việt Nam không phải là vấn đề mới song nó luôn là vấn đề cấp thiết, nóng hổi Điều này đã được khẳng định trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực:

Nâng cao chất lượng giáo dục, cơ cấu lại hệ thống giáo dục và mở rộng phạm vi giáo dục ở tất cả các cấp độ, gắn liền giáo dục đào tạo với nghiên cứu khoa học và công nghệ Phát triển giáo dục, nghiên cứu khoa học nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, nâng cao trình độ dân trí và trình độ quản lý[11]

Một trong những nguyên tắc của đổi mới giáo dục là đổi mới phương pháp dạy – học Ngày nay, phương pháp giáo dục không còn là phương pháp tiếp cận thông tin một cách thụ động “thầy đọc trò chép” nữa mà người học trở thành trung tâm của quá trình dạy và học Người học có những cơ hội tiếp cận các nguồn thông tin, các cơ sở dữ liệu từ đó thúc đẩy quá trình tự học, tự tìm hiểu tri thức và sáng tạo tri thức mới Chính phương pháp giáo dục này đòi hỏi người thầy phải luôn cập nhật thông tin, đổi mới kiến thức, tự nâng cao trình độ đáp ứng nhu cầu của người học Vì vậy, việc trang bị kiến thức thông tin cho sinh viên và giáo viên chính là chìa khoá giúp cho cả thầy và trò làm chủ thông tin, tri thức, làm chủ quá trình tự học và tự học suốt đời

1.3.3 Nâng cao chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa học

Khoa học là quá trình nghiên cứu nhằm khám phá ra những kiến thức mới, học thuyết mới, … về tự nhiên và xã hội Những kiến thức hay học thuyết mới này, tốt hơn, có thể thay thế dần những cái cũ, không còn phù hợp

Trang 20

Như vậy, khoa học bao gồm một hệ thống tri thức về quy luật của vật chất và

sự vận động của vật chất, những quy luật của tự nhiên, xã hội, và tư duy Hệ thống tri thức này hình thành trong lịch sử và không ngừng phát triển trên cơ sở thực tiễn

xã hội

Hoạt động nghiên cứu khoa học là một họat động tìm kiếm, xem xét, điều tra, hoặc thử nghiệm Dựa trên những số liệu, tài liệu, kiến thức,… đạt được từ các thí nghiệm nghiên cứu khoa học để phát hiện ra những cái mới về bản chất sự vật,

về thế giới tự nhiên và xã hội, và để sáng tạo phương pháp và phương tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá trị hơn phục vụ cho quá trình sản xuất, kinh doanh Con người muốn làm nghiên cứu khoa học phải có kiến thức nhất định về lĩnh vực nghiên cứu

và cái chính là phải rèn luyện cách làm việc tự lực, có phương pháp từ lúc ngồi trên ghế nhà trường

Hoạt động nghiên cứu khoa học đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo trong trường đại học Nó được xem như là thước đo của sự phát triển trong một trường đại học, một nền giáo dục và một quốc gia

Quá trình bùng nổ thông tin, cùng với nền kinh tế tri thức đòi hỏi người làm nghiên cứu khoa học luôn luôn phải cập nhật thông tin, tri thức mới nhất, chính xác

và hiệu quả nhất nhằm phục vụ cho quá trình nghiên cứu, thực nghiệm tạo ra những sản phẩm khoa học có chất lượng cao, có khả năng ứng dụng vào thực tiễn đất nước

Người làm nghiên cứu khoa học giỏi phải là người đã được trang bị kỹ năng

tự học, tự định hướng hay còn gọi là kiến thức thông tin Họ có khả năng nhận biết nhu cầu tin, định vị thông tin, tìm kiếm, sử dụng và biến nguồn tin đó thành cơ sở tri thức nhằm sáng tạo ra tri thức mới, sáng kiến, cải tiến mới phục vụ cho xã hội Các nhà khoa học lớn đều phải biết kế thừa, tiếp thu những kiến thức của những đồng nghiệp và những người đi trước

Như vậy, để có được những sản phẩm khoa học chất lượng cao, phục vụ cho

xã hội, đòi hỏi các nhà nghiên cứu phải thực hiện quá trình nghiên cứu một cách nghiêm túc và tinh thần trách nhiệm cao KTTT là một trong những công cụ hỗ trợ

Trang 21

đắc lực và hiệu quả giúp hoạt động nghiên cứu khoa học diễn ra một cách thường xuyên và thuận lợi, góp phần nâng cao chất lượng nghiên cứu, rút ngắn quá trình ứng dụng khoa học vào thực tiễn

Trang 22

Chương 2 THỰC TRẠNG KIẾN THỨC THÔNG TIN CỦA SINH

VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀ NỘI

2.1 Trường Đại học Hà Nội và Trung tâm Thông tin thư viện

Thành lập năm 1959, Trường Đại học Hà Nội là cơ sở đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực trình độ đại học, sau đại học có khả năng sử dụng ngôn ngữ nước ngoài, đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động trong và ngoài nước Ngoài ra, trường Đại học Hà Nội được Bộ Giáo dục và Đào tạo giao nhiệm vụ đào tạo ngoại ngữ cho lưu học sinh, nghiên cứu sinh, thực tập sinh đi học nước ngoài; bồi dưỡng, nâng cao trình độ ngoại ngữ cho cán bộ chuyên môn, cán bộ quản lý của các Bộ, ban, ngành Trung ương và địa phương trong cả nước[2]

Hiện nay, nhà trường tổ chức giảng dạy các ngoại ngữ: Anh, Nga, Pháp, Trung quốc, Đức, Nhật, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Italia, Hàn Quốc, Thái Lan… Các chuyên ngành này đều được giảng dạy ở các cấp độ: cử nhân, thạc sĩ, một số ngành có đào tạo ở cấp độ tiến sĩ

Để đáp ứng nhu cầu thực tiễn của xã hội, đồng thời dựa trên cơ sở phát huy thế mạnh ngoại ngữ, trường Đại học Hà Nội đã triển khai đào tạo cử nhân các chuyên ngành khác dạy bằng ngoại ngữ từ năm 2002 như: Quản Trị kinh doanh; Du lịch; Quốc tế học; Khoa học máy tính; Tài chính-Ngân hàng; Kế toán Ngoài ra, trường còn đào tạo cử nhân ngành Việt Nam học cho người nước ngoài

Mục tiêu đào tạo của nhà trường không chỉ cung cấp kiến thức mà còn coi trọng định hướng phát triển năng lực làm việc cho sinh viên Chính vì vậy, nhà trường đã thực hiện phương châm mở rộng quy mô, đa dạng hóa loại hình đào tạo

đi đôi với nâng cao chất lượng đào tạo

Từng bước hội nhập giáo dục quốc tế, tăng cường ứng dụng công nghệ tiên tiến, cải tiến nội dung và phương pháp đào tạo nhằm trang bị cho người học kỹ năng làm việc, kỹ năng vận dụng sáng tạo kiến thức chuyên môn và khả năng thích ứng với môi trường hoạt động nghề nghiệp trong tương lai Nghiên cứu ứng dụng là

Trang 23

nhiệm vụ trọng tâm của nhà trường Thế mạnh về nghiên cứu khoa học ngoại ngữ, trong đó có phương pháp giảng dạy ngoại ngữ cho các trường chuyên ngữ, nghiên cứu giảng dạy ngoại ngữ chuyên ngành, nghiên cứu đối chiếu ngôn ngữ, văn hoá – văn minh…đã được khẳng định Nhà trường là cơ quan chủ quản của “Tạp chí khoa học ngoại ngữ” – là một trong những tạp chí chuyên ngành lớn của Việt Nam nghiên cứu về khoa học ngoại ngữ

Nhà trường có các trung tâm đào tạo, viện nghiên cứu đáp ứng nhu cầu của

xã hội như: Trung tâm ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam; Trung tâm tư liệu và tiếng Anh chuyên ngành; Trung tâm Đào tạo từ xa; Trung tâm Dịch thuật; Trung tâm Công nghệ - thông tin; Viện nghiên cứu xã hội và phát triển

Nhà trường đã ký kết hợp tác đào tạo với trên 30 trường đại học nước ngoài;

có quan hệ đối ngoại với trên 60 tổ chức, cơ sở giáo dục quốc tế; có quan hệ trực tiếp với hầu hết các đại sứ quán nước ngoài tại Việt Nam; tham gia các hoạt động văn hoá đối ngoại, giao lưu ngôn ngữ-văn hoá với nhiều tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam và quốc tế Nhiều Đại sứ quán, các tổ chức quốc tế, doanh nghiệp nước ngoài đã hợp tác hỗ trợ Nhà trường trong lĩnh vực phát triển nguồn nhân lực thông qua những chương trình hỗ trợ năng lực quản lý, đào tạo giáo viên trẻ và tài trợ sinh viên có hoàn cảnh khó khăn Nhiều đoàn khách cấp cao, các tổ chức giáo dục quốc tế các trường đại học nước ngoài đến thăm và làm việc với Trường

Một số trường đại học nổi tiếng của nước ngoài, như: Đại học Westminster, Central Lancashire - Vương Quốc Anh, Đại học Dublin City - Ireland, Đại học AUT - New Zealand, Đại học La Trobe, Victoria, Griffith - Australia, Đại học IMC – Australia, đã công nhận chương trình đào tạo của Trường Đại học Hà Nội Theo

đó, sinh viên của Trường đại học Hà Nội sau 3 năm đầu học tại Trường và học năm cuối tại các trường đối tác này đã được các trường đối tác cấp bằng cử nhân

Để phấn đấu thành trường đại học có đẳng cấp trong khu vực, nhiều năm qua, Trường Đại học Hà Nội đã liên tục tích lũy kinh nghiệm, không ngừng phấn

Trang 24

đấu, học hỏi các trường có đẳng cấp quốc tế trên thế giới về quy trình đào tạo, xây dựng chương trình, hệ thống giáo trình, tăng cường cơ sở vật chất

Sứ mạng của trường Đại học Hà Nội là: cơ sở đào tạo và nghiên cứu khoa học có uy tín, chất lượng hàng đầu trong cả nước về ngoại ngữ và một số chuyên ngành thuộc khối ngành khoa học xã hội-nhân văn, kinh tế, công nghệ… dạy bằng tiếng nước ngoài ở trình độ đại học và sau đại học; đáp ứng mọi nhu cầu và đòi hỏi ngày càng cao của thị trường nhân lực giáo dục đại học trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế

Mục tiêu chiến lược của nhà trường là: xây dựng trường Đại học Hà Nội thành trường đại học đa ngành, tận dụng tối đa thế mạnh về đào tạo và nghiên cứu ngoại ngữ; tiếp tục đổi mới và không ngừng phát triển toàn diện, phấn đấu trở thành

cơ sở đào tạo nguồn nhân lực giáo dục đại học, sau đại học có chất lượng ngang tầm các nước có nền giáo dục tiên tiến trong khu vực; chủ động đẩy nhanh quá trình hội nhập giáo dục quốc tế trên cơ sở mở rộng hợp tác, liên kết đào tạo, liên thông

chương trình, học liệu và đội ngũ giảng viên với các trường đại học có uy tín của nước ngoài

Trường Đại học Hà Nội hoạt động thông qua việc thành lập các phòng, khoa, ban Mỗi bộ phận thực hiện những chức năng khác nhau nhằm phục vụ công tác nghiên cứu, giảng dạy và học tập của Nhà trường, cụ thể:

- Ban giám hiệu;

- Các hội đồng: Hội đồng khoa học, Các hội đồng chuyên môn;…

Trang 25

HỘI ĐỒNG KHOA HỌC

VÀ ĐAO TẠO

HỘI ĐỒNG CÁC BAN CHUYÊN MÔN

1 Khoa Tiếng Anh

2 Khoa tiếng Nga

8 Khoa tiếng Italia

9 Khoa tiếng Tây Ban Nha

10 BM tiếng Bồ Đào Nha

11 Khoa Đại cương

Viện NC Xã hội và Phát triển

TRUNG TÂM (9)

Trang 26

Trung tâm Thông tin – Thư viện trường Đại học Hà Nội ra đời ngay sau khi trường Đại học Hà Nội được thành lập Thời kỳ mới thành lập Trung tâm hoạt động trên cơ sở một tổ công tác phục vụ tư liệu cho trường, trực thuộc phòng giáo vụ Hoạt động thư viện nghèo nàn, tài liệu chủ yếu là sách giáo trình, sách tham khảo chuyên ngành như: tiếng Nga và ngôn ngữ các nước Đông Âu (tiếng Ba Lan, tiếng Tiệp Khắc, tiếng Bungari…) Nguồn tài liệu chủ yếu là sách tài trợ, tặng biếu của các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa

Năm 1967, trước yêu cầu mở rộng quy mô đào tạo và nâng cao chất lượng giảng dạy, trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội đã mở thêm một số chuyên ngành như: tiếng Anh, tiếng Pháp Cùng với việc thành lập thêm một số khoa và bộ môn, vốn tư liệu tăng lên đáng kể Đến năm 1984, lãnh đạo nhà trường quyết định tách tổ

tư liệu ra khỏi phòng giáo vụ thành một đơn vị độc lập với tên gọi là: “Thư viện trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội” Sau khi tách thành đơn vị độc lập, năm 1994 Thư viện đã xây dựng mới được toà nhà 2 tầng, vốn tài liệu ngày càng nhiều, phần nào đáp ứng được yêu cầu về tư liệu cho công tác đào tạo của trường Trong quá trình hoạt động, Trung tâm đã không ngừng nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật, đổi mới hoàn thiện tổ chức và hoạt động, từng bước ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động nghiệp vụ

Năm 2000, cùng với việc đổi mới chương trình, phương pháp giảng dạy, nâng cao chất lượng đào tạo ngoại ngữ của ngành giáo dục, Ban Giám hiệu trường quyết định sáp nhập Thư viện với phòng Thông tin và đổi tên thành “Trung tâm Thông tin – Thư viện Trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội” Trung tâm thực hiện dự

án nâng cấp hiện đại theo hướng mở, bằng nguồn vốn vay của Ngân hàng thế giới - World Bank mức A vốn đầu tư 500.000 USD để đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất - kỹ thuật trụ sở, trang thiết bị

Ngày 5/12/2003 Trung tâm đã đi vào hoạt động tại trụ sở mới và không ngừng hoàn thiện cơ sở vật chất, trang thiết bị Đặc biệt, năm 2005 Trung tâm đã ứng dụng và triển khai phần mềm quản trị thư viện điện tử Libol để nâng cao hiệu quả hoạt động thông tin thư viện Hiện nay, Trung tâm đã đi vào hoạt động ổn định

Trang 27

và từng bước hiện đại, ngày càng đóng góp vào sự nghiệp giáo dục của trường Đại học Hà Nội nói riêng và của ngành giáo dục đào tạo của nước ta nói chung trong thời đại mới

Cán bộ thư viện là những người trực tiếp hướng người dùng tin đến với nguồn tài liệu thư viện Tài liệu trong thư viện có được sử dụng và khai thác một cách hiệu quả hay không phụ thuộc rất nhiều vào vai trò của người cán bộ thư viện Người cán bộ thư viện hiện nay không còn là những người trông coi kho sách nữa

mà họ trở thành những người “giáo viên thư viện” Họ biết nghiên cứu nhu cầu tin của người dùng và khả năng sáng tạo ra những sản phẩm, dịch vụ thư viện đa dạng,

có chất lượng cao đáp ứng nhu cầu của người dùng tin Nguồn tài liệu trong thư viện chỉ thực sự phát huy hiệu quả của nó khi có người đọc và nghiên cứu Đội ngũ cán bộ thư viện tại Trung tâm thông tin thư viện trường Đại học Hà Nội đã và đang trở thành những người kết nối tri thức khoa học với sinh viên Họ luôn luôn chủ động trong việc cung cấp các sản phẩm, dịch vụ có chất lượng cho sinh viên, phục

vụ cho quá trình học tập và nghiên cứu

Trung tâm Thông tin Thư viện trường Đại học Hà Nội với một đội ngũ cán

bộ thư viện trẻ, dễ dàng tiếp thu những cái mới, có trình độ chuyên môn ngày càng được nâng cao và khả năng nắm bắt nhanh sự phát triển của khoa học kỹ thuật, biết

sử dụng thành thạo các trang thiết bị hiện đại, có tinh thần thái độ phục vụ nhiệt tình, biết tư vấn, hướng dẫn thông tin cho người dùng tin

Với lợi thế về con người và sự phát triển của cơ sở vật chất, trang thiết bị hiện đại, Trung tâm Thông tin Thư viện Trường Đại học Hà Nội ngày càng đáp ứng nhu cầu của người dùng tin và thực hiện tốt nhiệm vụ hỗ trợ đào tạo, nâng cao chất lượng đầu ra cho sinh viên

Thư viện phục vụ bạn đọc thông qua việc tổ chức Thư viện trung tâm và các Tủ sách thành viên, trong đó có các phòng tư liệu mở, phòng mạng các tủ sách đặt tại các văn phòng khoa, phòng ban, trung tâm Tài liệu bao gồm: các tài liệu giấy, tài liệu điện tử, tài liệu số và các phần mềm học tập, nghiên cứu online

Trang 28

Thư viện được tổ chức thành các bộ phận do các Thư viện viên, Kỹ thuật viên chuyên ngành trực tiếp điều hành

- Bộ phận phục vụ thông tin thư viện (Library Services Section):

Trực phục vụ bạn đọc;

Hướng dẫn, hỗ trợ tra cứu tài liệu

- Bộ phận phục vụ thông tin điện tử và nghiệp vụ kỹ thuật (E-Information Services Section):

Túc trực, hỗ trợ sử dụng mạng máy tính, phần mềm học tập qua mạng, cơ sở dữ liệu, tài liệu điện tử;

In ấn, nhân bản tài liệu, sửa chữa bảo dưỡng, vận hành các thiết bị kỹ thuật

- Bộ phận xử lí nghiệp vụ thư viện (Library Resource Processing Section):

Bổ sung, xử lí tài liệu;

Biên tập thông tin điện tử;

Sưu tầm, tìm kiếm và biên tập thông tin theo yêu cầu;

Quản lý và đào tạo bạn đọc

- Bộ phận tiếp nhận và trả lời thông tin (Information Desk): Tiếp nhận, giải quyết các thủ tục với bạn đọc và giải đáp những thắc mắc liên quan đến quyền sử dụng thư viện

- Bộ phận An ninh giám sát và Môi trường (Security & Enviroment Section)

Sơ đồ 2.2: Cơ cấu tổ chức của Trung tâm TTTV- Đại học Hà Nội

BAN GIÁM ĐỐC

Bộ phận tiếp nhận trả lời

Bộ phận

an ninh giám sát

Bộ phận nghiệp

vụ kỹ thuật

Bộ phận phục vụ thông tin điện tử

Trang 29

Bên cạnh Thư viện Trung tâm, Trung tâm thông tin Thư viện trường Đại học

Hà Nội còn phát triển các tủ sách thành viên khác như: tủ sách khoa, tủ sách phòng ban

- Tủ sách Khoa Đào tạo Tại chức;

2.2 Điều kiện triển khai kiến thức thông tin cho sinh viên

Trung tâm Thông tin Thư viện Trường Đại học Hà Nội được giao nhiệm vụ thực hiện những hoạt động nhằm nâng cao kiến thức thông tin cho sinh viên và những người quan tâm, song hoạt động này còn chưa thực sự diễn ra thường xuyên, chuyên nghiệp Để tiến hành triển khai đào tạo kiến thức thông tin một cách có hệ thống cho sinh viên, tác giả có những nhận định về các điều kiện thuận lợi, khó

khăn của hoạt động này như sau:

2.2.1 Điều kiện thuận lợi

Đặc trưng của sinh viên Trường Đại học Hà Nội là khả năng ngoại ngữ tốt, môi trường học đa văn hoá, đa ngôn ngữ tạo cho sinh viên có tính năng động, hướng ngoại, nhanh nhạy với cái mới, kiến thức mới và xu hướng mới đang diễn ra trên thế giới Để có các đặc trưng này, sinh viên trường Đại học Hà Nội đã không

Trang 30

ngừng rèn luyện, tích luỹ các kỹ năng học thuật do các giáo viên có trình độ chuyên môn cao, được tiếp cận nền giáo dục tiên tiến từ các nước phát triển

Cùng với xu hướng chung của nền giáo dục Việt Nam là đổi mới toàn diện giáo dục, trong đó hoạt động đổi mới phương pháp giảng dạy- học tập diễn ra một cách nhanh chóng và nhận được sự ủng hộ nhiệt tình từ phía giáo viên, ban lãnh đạo nhà trường cộng với đặc trưng của sinh viên ngoại ngữ là hướng tới cái mới, cái tiên tiến thì quá trình đổi mới phương pháp dạy – học trở nên ngày càng mạnh mẽ hơn bao giờ hết Điều này đòi hỏi cả thầy và trò không ngừng học hỏi, nâng cao trình độ

và cập nhật thông tin, tri thức mới nhằm nâng cao chất lượng dạy học của nhà trường

Được sự ủng hộ từ Ban giám hiệu nhà trường và Ban lãnh đạo Trung tâm Thông tin – Thư viện, hoạt động đào tạo người dùng tin của Trung tâm diễn ra một cách đều đặn, thường kì và đạt hiệu quả cao Chính vì vậy, việc triển khai tập huấn KTTT cho sinh viên không chỉ làm thay đổi về chất lượng cũng như phương pháp đào tạo của các đào tạo người dùng tin của Trung tâm, góp phần quan trọng vào việc khẳng định vai trò của Thư viện trong hoạt động học tập, nghiên cứu của sinh viên, giáo viên và cán bộ nghiên cứu

Trung tâm thông tin thư viện trường Đại học Hà Nội là nơi được sinh viên coi là “giảng đường thứ hai” của mình Với những thuận lợi về: trang thiết bị hiện đại, nguồn tài liệu phong phú, đa dạng và đội ngũ cán bộ trẻ, năng động, nhiệt tình, ham học hỏi đã bước đầu đáp ứng nhu cầu của người dùng tin, cụ thể là:

- Về nguồn tài liệu:

Với thế mạnh đào tạo của trường Đại học Hà Nội là ngoại ngữ, do vậy Trung tâm Thông tin Thư viện đã bổ sung nguồn tài liệu phong phú, đa dạng và chủ yếu là tài liệu ngoại văn phục vụ cho các chuyên ngành đào tạo của nhà trường, cụ thể:

Trang 31

Bảng 2.1: Nguồn tài liệu truyền thống của Trung tâm TT-TV

Ngoài ra, do quá trình nổ thông tin và xu thế phát triển nguồn tài liệu điện tử, Trung tâm cũng đã và đang từng bước chuyển đổi nguồn tài liệu truyền thống sang

bổ sung tài liệu điện tử nhằm tiết kiệm vật chất, trang thiết bị lưu trữ, bên cạnh đó lại đáp ứng nhu cầu của người dùng tin về chất lượng cũng như thói quen sử dụng tài liệu của thư viện ở bất cứ nơi đâu, bất cứ thời gian nào, như: Cơ sở dữ liệu (CSDL) ProQuest-Central, CSDL Emerald, và một số CSDL miễn phí khác: CSDL chuyên ngành y - sinh học: Hinari; CSDL Ebsco-Host

Để góp phần đáp ứng nhu cầu tin của người dùng, từ tháng 5 năm 2009, Trung tâm Thông tin Thư viện Trường Đại học Hà Nội chính thức phục vụ bạn đọc CSDL toàn văn Proquest Central Đây là CSDL toàn văn tổng hợp lớn nhất hiện nay, cụ thể:11,250 tạp chí (8400 tạp chí toàn văn), 479 báo toàn văn và tài liệu không phải là xuất bản phẩm định kỳ, bao gồm:

Báo cáo của OxResearch và EIU về 252 quốc gia và khu vực;

Trên 60 nguồn học liệu tham khảo, gồm : Brookings Papers, OEF, Career Guides, Occupational Outlook Handbook;

Gần 30,000 luận văn toàn văn;

Trên 44,000 hồ sơ doanh nghiệp;

Trên 3,000 báo cáo công nghiệp

Trang 32

Bảng 2.2 Nguồn tài liệu điện tử của Trung tâm TT-TV

số 22 cán bộ của Trung tâm có 2 thạc sĩ, 7 cán bộ đang học thạc sĩ, 4 cán bộ đang theo học văn bằng hai các thứ tiếng: tiếng Anh, tiếng Nga và tiếng Nhật để phục vụ cho công tác biên mục tài liệu các thứ tiếng

- Về trang thiết bị, công nghệ thông tin:

Với sự quan tâm của Ban Giám hiệu nhà trường, Trung tâm đã từng bước đầu tư, xây dựng, nâng cấp và hoàn thiện cơ sở vật chất nhằm đáp ứng nhu cầu tin của sinh viên và cán bộ, giáo viên

Năm 2003, Trung tâm đã xây dựng thư viện điện tử và đi vào hoạt động với:

203 máy tính, trong đó có 3 máy chủ và 200 máy trạm; 6 máy in : 1 máy in lazer khổ A3 và 1 máy in khổ A4 có chức năng in trực tiếp qua mạng; 1 máy in màu khổ A3; 1 máy in thẻ; 1 máy in mã vạch

Ngoài ra, Trung tâm còn có: 2 tivi 21 inch phục vụ chiếu các video bài giảng ; máy chiếu đa chức năng phục vụ tập huấn người sử dụng thư viện và giảng ngoại ngữ qua máy tính Trung tâm đã tiến hành khai thác thông tin từ các chảo thu vệ tinh với 4 đầu giải mã kỹ thuật số giúp thu các kênh chính thống trên thế giới để in

ra đĩa, đưa vào mạng để phục vụ bạn đọc

Bên cạnh đó, Trung tâm có 4 đầu DVD kỹ thuật số, 2 đầu video, 2 máy photocopy tốc độ cao, 30 máy cassette, 2 máy từ hóa và khử từ cho sách, đĩa CD, 3

Trang 33

máy đọc mã vạch cùng với hệ thống camera, cổng từ và hệ thống điều hòa tổng rất hiện đại

2.2.2 Những khó khăn

Những người làm quản lý, lãnh đạo chưa thực sự quan tâm và có chính sách

rõ ràng trong việc phát triển KTTT cho sinh viên ngay từ những ngày đầu nhập học

Sinh viên chưa nhận thức rõ vai trò của KTTT trong quá trình học tập, nghiên cứu

Chưa có mối liên hệ mật thiết (sự đồng thuận) giữa giáo viên và cán bộ thư viện về việc triển khai KTTT cho sinh viên trong quá trình học tập, nghiên cứu

Cán bộ thư viện mặc dù đã cơ bản đáp ứng nhu cầu của công việc song còn hạn chế về trình độ ngoại ngữ, tin học

2.3 Đối tượng triển khai

Người dùng tin trường Đại học Hà Nội bao gồm 3 nhóm chính: Nhóm cán bộ lãnh đạo, quản lý; nhóm cán bộ, giảng viên và nhóm sinh viên Tác giả luận văn lựa chọn đối tượng triển khai kiến thức thông tin dành cho nhóm người dùng tin là sinh viên

Nhóm người dùng tin là sinh viên được chia thành các đối tượng cụ thể: sinh viên chính qui, học viên cao học, sinh viên hệ vừa làm vừa học, sinh viên đào tạo từ

xa và sinh viên các dự án Người dùng tin là sinh viên có những đặc điểm cơ bản sau:

Môi trường dạy và học đa văn hoá, đa ngôn ngữ tạo nên đặc trưng của sinh viên trường Đại học Hà Nội là tính hướng ngoại, rất năng động trong việc học tập nghiên cứu

Khả năng ngoại ngữ là thế mạnh hàng đầu chính là chìa khoá cho sinh viên

có thể tiếp cận tới những nguồn thông tin, tri thức tiên tiến trên thế giới

Tính hướng ngoại mang lại cho sinh viên khả năng sử dụng tốt máy tính và các thiết bị hiện đại phục vụ cho quá trình học tập

Tuy nhiên, sinh viên còn chưa thực sự hiểu rõ tầm quan trọng của các kỹ năng tự học, tự nghiên cứu đặc biệt còn rất hạn chế về kiến thức thông tin

Trang 34

2.4 Thực trạng kiến thức thông tin của sinh viên trường Đại học Hà Nội

Qua quá trình khảo sát 170 sinh viên đến thư viện ngày 16 tháng 08 năm

2010 Kết quả thu về 170 phiếu đánh giá Trong đó 01 phiếu không hợp lệ Tác giả

sử dụng phần mềm Thống kê dữ liệu xã hội học (SPSS- Statistical Package for the Social Sciences) để phân tích dữ liệu và nhằm có những đánh giá cơ bản về thực trạng và nhu cầu được hướng dẫn KTTT của sinh viên trường Đạo học Hà Nội, tác giả nhìn nhận ở một số nội dung chủ yếu sau:

2.4.1 Thực trạng đào tạo kiến thức thông tin

Mức độ hài lòng

Thực trạng tham gia đào tạo KTTT

Có - cấp 3

Có Internet

-Có - workshop

Chưa tham gia Tổng

Số lượng lượng Số Số lượng Số lượng lượng Số Tỷ lệ (%)

Tỷ lệ chưa tham gia khoá học nào về KTTT là 72 người, chiếm 42,6% tổng

số người được điều tra Còn lại 58,4% là đã tham gia các khoá đào tạo, hướng dẫn KTTT tại cấp 3, trên internet và tại các hội thảo Trong số những người đã tham gia,

họ hầu như hài lòng về chất lượng của khoá học, tuy nhiên chỉ có 14% là không hài lòng Như vậy về chất lượng KTTT của sinh viên trường Đại học Hà Nội là tương đối cao Với đặc trưng năng động của sinh viên ngoại ngữ, họ luôn luôn chủ động nâng cao các kỹ năng học tập, kỹ năng sống phục vụ cho quá trình hoàn thiện bản thân Bên cạnh đó còn 42,6% sinh viên chưa được tham gia các lớp học đào tạo KTTT và họ là những người có mong muốn được hướng dẫn KTTT phục vụ cho quá trình học tập, nghiên cứu

Những nội dung đã được học khi tham gia lớp học KTTT của sinh viên Trường Đại học Hà Nội, thể hiện qua bảng thống kê sau:

Trang 35

Số lượng

và tỷ lệ

Những nội dung đã được học Tìm kiếm

TT trong TV

Tìm kiếm TT trên Internet

Trích dẫn tài liệu

Kỹ năng khác

Chưa tham gia Tổng số

Đánh giá tính hữu ích của KTTT đối với sinh viên

Hơi sớm Ý kiến khác Lỗi Tổng

Bảng 2.5: Đánh giá tính hữu ích của KTTT

Việc nhìn nhận tính hữu ích của chương trình đào tạo KTTT cho sinh viên được chính họ đánh giá như sau: 58,6% số người được khảo sát cho rằng việc hướng dẫn KTTT cho sinh viên năm thứ nhất, ngay khi bước chân vào ngưỡng cửa trường đại học là rất hữu ích Đồng thời có 36,7% cho rằng KTTT thực sự cần thiết

và hữu ích cho sinh viên Điều đó chứng minh rằng ý thức của sinh viên về tầm quan trọng của KTTT trong quá trình học tập, nghiên cứu KTTT chính là chìa khoá

Trang 36

cho họ tiếp cận tới nguồn thông tin, tri thức mới, cập nhật và đầy đủ, đúng lúc và kịp thời giúp họ hoàn thành tốt công việc học tập của mình

2.4.2 Thực trạng kỹ năng tìm kiếm thông tin

Mức độ tìm kiếm thông tin phục vụ cho quá trình học tập, nghiên cứu và các nguồn tìm kiếm thông tin

Bảng 2.6: Mức độ và các nguồn tìm kiếm thông tin

Qua bảng số liệu về thống kê mức độ thường xuyên tìm kiếm thông tin, tài liệu phục vụ quá trình học tập của sinh viên, có 75,7% sinh viên thường xuyên tìm kiếm thông tin, tài liệu và 23,7% sinh viên thỉnh thoảng mới thực hiện tìm kiếm và đặc biệt chỉ có 0,6% sinh viên ít khi tìm kiếm thông tin, tài liệu Như vậy tinh thần chủ động trong việc học tập của sinh viên trường Đại học Hà Nội rất cao, họ luôn luôn ý thức được rằng để có được kết quả nghiên cứu khoa học hay để hoàn thành tốt một toppic, một bài luận cần phải tham khảo tài liệu, thông tin từ nhiều nguồn khác nhau, dựa vào các cứ liệu khoa học của người đi trước để chứng minh cho bài nghiên cứu của mình Chính đặc trưng năng động, chủ động tiếp cận nguồn thông tin của sinh viên tạo cho các cán bộ thư viện thuận lợi khi triển khai đào tạo KTTT cho sinh viên bởi họ đã có nền KTTT khá vững vàng, nếu được trang bị kỹ năng thông tin sẽ giúp họ dễ dạng tiếp cận nguồn thông tin phục vụ nhu cầu học tập Đây cũng chính là mục tiêu hướng tới của thư viện khi đào tạo người dùng tin là tạo thói quen chủ động tìm kiếm thông tin, tài liệu từ các nguồn khác nhau phục vụ cho quá trình học tập, nghiên cứu

Trang 37

Vậy nguồn thông tin, tư liệu mà sinh viên tiếp cận khi thực hiện quá trình tìm kiếm ở đâu? Câu trả lời sau cho chúng ta thấy rõ rằng xu thế sử dụng nguồn thông tin điện tử và sức mạng của internet đối với việc học tập, giảng dạy Có tới 87,6% sinh viên được hỏi cho rằng họ tìm kiếm thông tin, tư liệu từ internet và các cơ sở

dữ liệu, ngược lại chỉ có 10,1% trả lời thư viện là nơi họ tìm kiếm thông tin, tư liệu Kết quả này chứng minh rằng thư viện chưa đáp ứng được nhu cầu tin của sinh viên Và nhu cầu sử dụng thông tin từ các cơ sở dữ liệu, từ internet là rất lớn Đây chính là vấn đề thư viện cần nghiên cứu và đưa ra giải pháp nhằm khuyến khích hơn nữa thói quen sử nguồn tài liệu điện tử, tài liệu số Tuy nhiên song song với việc phát triển nguồn tài liệu điện tử, chúng ta cũng cần tính đến việc phát triển nguồn tin trên giấy một cách có trọng tâm, chất lượng cao nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dùng

Công cụ tìm kiếm thông tin và các chức năng cuả nó

Bảng 2.7 Công cụ và chức năng tìm kiếm thông tin

Với những sinh viên thực hiện quá trình tìm kiếm thông tin, có tới 98,2% sử dụng công cụ tìm kiếm là Google và họ sử dụng chức năng tìm kiếm đơn giản chiếm 57,4% còn lại 42,6% sử dụng chức năng tìm kiếm nâng cao nhằm đạt tới kết quả tìm phù hợp nhất Như vậy mức độ chênh lệch giữa khả năng tìm kiếm đơn giản

và nâng cao khi sử dụng các công cụ tìm tin của sinh viên không lớn Điều này càng giúp ta có căn cứ để khẳng định lại một lần nữa rằng kiến thức thông tin của sinh viên trường Đại học Hà Nội ít nhiều đã được họ khẳng định Những sinh viên biết

Trang 38

sử dụng chiến lƣợc tìm kiếm linh hoạt sẽ mang lại kết quả tìm nhƣ mong muốn, họ biết cách chọn lọc thông tin và đƣa ra giới hạn tìm chính xác, hiệu quả nhất

2.4.3 Thực trạng kỹ năng đánh giá, sử dụng thông tin

Đánh giá thông tin và trích dẫn tài liệu tham khảo

Tiêu chí đánh giá TT và mức độ trích dẫn tài liệu Số lƣợng Tỷ lệ (%)

Tiêu chí khi đánh giá

thông tin của SV

Bảng 2.8 Đánh giá thông tin và trích dẫn tài liệu tham khảo

Quá trình bùng nổ thông tin ngày càng mạnh mẽ hơn bao giờ hết, thông tin xuất hiện mọi nơi, mọi lúc khiến chúng ta, ngay cả những cán bộ thƣ viện cũng phải đối mặt với nguy cơ sử dụng thông tin không hiệu quả Tìm kiếm tới các nguồn thông tin đã khó nhƣng sử dụng chúng nhƣ thế nào để đạt hiệu quả cao lại càng khó hơn Vậy để đánh giá thông tin một cách khái quát nhất chúng ta cần đƣa ra những tiêu chí liên quan tới thông tin, tài liệu đó Qua câu hỏi : “Những tiêu chí nào sau đây bạn cho là quan trọng trong việc đánh giá thông tin, tài liệu bạn tìm đƣợc?” thì có: 58,9% sinh viên đƣợc hỏi cho rằng nội dung tài liệu là quan trọng nhất, và 29% sinh viên cho rằng sử dụng tên tài liệu để đánh giá nguồn thông tin tìm đƣợc, đồng thời có 3,6% cho là năm xuất bản quan trọng Họ đều có những lý do chính đáng để lựa chọn những tiêu chí đánh giá thông tin tìm đƣợc, song để có sự đánh giá chính xác và đầy đủ, chúng ta cần đánh giá thông tin ở nhiều tiêu chí khác nhau, sự kết

Trang 39

hợp giữa các tiêu chí đó sẽ mang lại một đánh giá xác thực cho thông tin bạn tìm được

Bên cạnh các tiêu chí đáng giá thông tin, tác giả muốn nhấn mạnh tới thực trạng sử dụng thông tin của sinh viên trường Đại học Hà Nội thông qua việc thực hiện trích dẫn tài liệu tham khảo hay không? Kết quả đạt được, có: 62,7% sinh viên thực hiện trích dẫn tài liệu tham khảo khi sử dụng ý tưởng, ngôn từ, câu chữ của người khác và có 36,1% sinh viên đôi khi mới trích dẫn khi sử dụng ý tưởng của người khác trong bài của mình Điều này khẳng định rằng: quá trình sử dụng thông tin của sinh viên còn chưa chuyên nghiệp, dù ít hay nhiều đã vi phạm đạo đức khoa học, nếu không được hướng dẫn cụ thể họ sẽ trở thành những người “đạo văn”

2.4.4 Nhu cầu tham dự khoá học kiến thức thông tin

Nhu cầu tham dự

Bảng 2.9 Nhu cầu tham dự lớp KTTT

Với những hiểu biết về KTTT của sinh viên trường Đại học Hà Nội và những thay đổi của phương pháp dạy, học đòi hỏi sinh viên phải chủ động trong việc tiếp cận nguồn thông tin, tri thức mới phục vụ cho quá trình học tập, nghiên cứu Nhu cầu tham dự lớp tập huấn KTTT được thống kê là 55,6% và 35,5% lựa chọn sẽ quyết định sau Điều này được lý giải bởi với tổng số 169 người được điều tra thì có 97 người, chiếm 58,4% số người đã từng tham gia các lớp học về KTTT

từ nhiều nguồn khác nhau như: từ khi còn học phổ thông, tại hội thảo và trên internet Như vậy yêu cầu đặt ra đối với những người làm công tác thư viện nói chung và những người trực tiếp thực hiện việc triển khai KTTT cho sinh viên cần có chiến lược phát triển một cách phù hợp, với sự chuẩn bị kỹ lưỡng về nội dung cần hướng dẫn đồng thời cần tìm hiểu sinh viên có nhu cầu được hướng dẫn kỹ năng nào? Tránh hướng dẫn lại những kỹ năng sinh viên đã biết thành thạo Bên cạnh chúng ta cũng phải tính đến việc làm sao để thu hút sinh viên tìm hiểu, học hỏi và

Trang 40

có những hiểu biết về KTTT một cách rộng rãi, hướng sinh viên vào các kỹ năng tự học, tự rèn luyện bằng cách cung cấp cho họ các kỹ năng tìm kiếm, đánh giá, và sử dụng thông tin một cách hiệu quả nhất

Ngày đăng: 23/03/2015, 13:43

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức Trường Đại học Hà Nội. - Phát triển kiến thức thông tin cho sinh viên trường Đại học Hà Nội
Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức Trường Đại học Hà Nội (Trang 25)
Bảng 2.4 Nội dung KTTT đã học - Phát triển kiến thức thông tin cho sinh viên trường Đại học Hà Nội
Bảng 2.4 Nội dung KTTT đã học (Trang 35)
Hình 3.1: Trang chủ của máy tìm kiếm Dogpile - Phát triển kiến thức thông tin cho sinh viên trường Đại học Hà Nội
Hình 3.1 Trang chủ của máy tìm kiếm Dogpile (Trang 48)
Hình 3.3: Trang chủ của máy tìm kiếm Kartoo. - Phát triển kiến thức thông tin cho sinh viên trường Đại học Hà Nội
Hình 3.3 Trang chủ của máy tìm kiếm Kartoo (Trang 49)
Hình 3.4: Khởi động phần mềm Endnote 9. - Phát triển kiến thức thông tin cho sinh viên trường Đại học Hà Nội
Hình 3.4 Khởi động phần mềm Endnote 9 (Trang 58)
Hình 3.5: Cửa sổ làm việc của phần mềm Endnote 9. - Phát triển kiến thức thông tin cho sinh viên trường Đại học Hà Nội
Hình 3.5 Cửa sổ làm việc của phần mềm Endnote 9 (Trang 58)
Hình 3.6: Đặt tên cho CSDL tài liệu trích dẫn. - Phát triển kiến thức thông tin cho sinh viên trường Đại học Hà Nội
Hình 3.6 Đặt tên cho CSDL tài liệu trích dẫn (Trang 59)
Hình 3.8: Cửa sổ New Reference để nhập dữ liệu. - Phát triển kiến thức thông tin cho sinh viên trường Đại học Hà Nội
Hình 3.8 Cửa sổ New Reference để nhập dữ liệu (Trang 60)
Hình 3.10: Chèn thông tin về tài liệu trích dẫn vào văn bản Word. - Phát triển kiến thức thông tin cho sinh viên trường Đại học Hà Nội
Hình 3.10 Chèn thông tin về tài liệu trích dẫn vào văn bản Word (Trang 62)
Hình 3.13: Cửa sổ sửa trích dẫn trong văn bản. - Phát triển kiến thức thông tin cho sinh viên trường Đại học Hà Nội
Hình 3.13 Cửa sổ sửa trích dẫn trong văn bản (Trang 63)
Hình 3.17 tìm kiếm thông tin trong Endnote. - Phát triển kiến thức thông tin cho sinh viên trường Đại học Hà Nội
Hình 3.17 tìm kiếm thông tin trong Endnote (Trang 65)
Hình 3.16: Cửa sổ sắp xếp thông tin trong Endnote. - Phát triển kiến thức thông tin cho sinh viên trường Đại học Hà Nội
Hình 3.16 Cửa sổ sắp xếp thông tin trong Endnote (Trang 65)
Hình 3.20: Cửa sổ nhập dữ liệu tài liệu tham khảo của M.s Word 2007.  Bước 3: Chức năng giữ chỗ (Placeholder) - Phát triển kiến thức thông tin cho sinh viên trường Đại học Hà Nội
Hình 3.20 Cửa sổ nhập dữ liệu tài liệu tham khảo của M.s Word 2007. Bước 3: Chức năng giữ chỗ (Placeholder) (Trang 67)
Hình 3.22:Cửa sổ quản lý nguồn tin tham khảo của Ms.Word 2007.  Bước 5: Bibliography - Phát triển kiến thức thông tin cho sinh viên trường Đại học Hà Nội
Hình 3.22 Cửa sổ quản lý nguồn tin tham khảo của Ms.Word 2007. Bước 5: Bibliography (Trang 68)
Hình 3.23: Cửa sổ chèn  danh mục tài liệu trích dẫn trong Ms.Word 2007.  Bước 6: Chèn chú thích cuối trang (Footnote) - Phát triển kiến thức thông tin cho sinh viên trường Đại học Hà Nội
Hình 3.23 Cửa sổ chèn danh mục tài liệu trích dẫn trong Ms.Word 2007. Bước 6: Chèn chú thích cuối trang (Footnote) (Trang 69)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm