Việt Nam và Nhật Bản đã hợp tác trong h ầu hết các lĩnh vực, trong đó nổi bật nhất vẫn là các lĩnh vực kinh tế thương mại, đầu tư và hỗ trợ phát triển chính thức ODA... Tổ ch
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-***** -
TRẦN THI ̣ THU THẢO
HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC CỦA
NHẬT BẢN VÀ TÁC ĐỘNG ĐẾN
QUAN HỆ VIỆT - NHẬT
Luận văn Thạc sĩ Chuyên ngành Quan hệ quốc tế
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-***** -
TRẦN THI ̣ THU THẢO
HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN CHÍNH THỨC CỦA
NHẬT BẢN VÀ TÁC ĐỘNG ĐẾN
QUAN HỆ VIỆT - NHẬT
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quan hệ quốc tế
Mã số: 60.31.40
Người hướng dẫn khoa học: Tiến sy ̃ Phạm Quý Long
Trang 3MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ODA NHẬT BẢN .6
1.1 Cơ sở lý luâ ̣n 6
1.1.1 ODA là gì? 6
1.1.2 Vai trò của ODA đối với quan hê ̣ quốc tế 8
1.2 Cơ sở thực tiễn 10
1.2.1 Khái quát quan hệ giữa Việt Nam và Nhật Bản 10
1.2.2 Đặc điểm của ODA Nhật Bản 21
CHƯƠNG 2: VIỆC THỰC HIỆN ODA CỦA NHẬT BẢN TẠI VIỆT NAM 27 2.1 Quá trình cung cấp ODA của Nhật Bản tại Việt Nam 27
2.1.1 Vài nét về ODA Nhật Bản dành cho Việt Nam trước năm 1992 27
2.1.2 Từ năm 1992 đến nay Nhật Bản luôn là nhà tài trợ ODA hàng đầu cho Viê ̣t Nam 29
2.1.3 Các hình thức thực hiện ODA của chính phủ Nhâ ̣t Bản 32
2.1.4 Vai trò của ODA Nhâ ̣t Bản đối với sự phát triển của Viê ̣t Nam 36
2.2 Các lĩnh vực phân bổ vốn ODA của Nhật Bản dành cho Việt Nam 42
2.2.1 Thúc đẩy tăng trưởng 42
2.2.2 Cải thiện môi trường sinh hoạt và xã hội 44
2.2.3 Xây dựng thể chế 47
CHƯƠNG 3: TÁC ĐỘNG CỦA ODA ĐỐI VỚI QUAN HỆ VIỆT – NHẬT, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHI ̣ 50
3.1 Tác động của ODA đối với mối quan hệ Việt Nam - Nhâ ̣t Bản 50
3.1.1 Tác động về kinh tế 50
Trang 43.1.2 Tác động về mặt chính tri ̣ và ngoa ̣i giao 55
3.1.3 Tác động về mặt văn hóa xã hô ̣i 59
3.2 Đánh giá những tồn ta ̣i trong công tác cấp và sử du ̣ng ODA ta ̣i Viê ̣t Nam và tác đô ̣ng của nó tới quan hê ̣ Viê ̣t Nam - Nhật Bản 63
3.2.1 Sự châ ̣m cha ̣p trong giải ngân ODA 64
3.2.2 Sự bi ̣ đô ̣ng trong viê ̣c hoa ̣ch đi ̣nh và triển khai các dự án do vốn ODA cung cấp 65
3.2.3 Những vấn để còn tồn ta ̣i khác 65
3.2.4 Nguyên nhân củ a những tồn tại trong viê ̣c sử du ̣ng ODA 66
3.3 Những kiến nghi ̣ để nâng cao hiê ̣u quả của ODA trong tăng cường quan hê ̣ Viê ̣t Nam – Nhâ ̣t Bản 68
3.3.1 Khắc phục tình tra ̣ng nhâ ̣n thức chưa đúng về ODA 68
3.3.2 Hoàn thiện cơ sở pháp lý để tăng cường quản lý, giám sát sử dụng ODA 69
3.3.3 Tăng cườ ng công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán các dự án 70
3.3.4 Chấn chỉnh tất cả các khâu từ quy hoa ̣ch , xây dựng chiến lược đầu tư , thu hút vốn, tiếp nhâ ̣n vốn, tổ chức thực hiê ̣n dự án, nghiê ̣m thu , bàn giao 72
3.3.5 Xác lập cơ chế phối hợp giữa cơ quan lập pháp và cơ quan hành pháp trong viê ̣c quản lý, sử du ̣ng, giám sát vốn ODA 73
3.3.6 Tối đa hóa hiê ̣u quả và tác động lan tỏa của ODA 73
KẾT LUẬN 75
DANH MU ̣C TÀI LIỆU THAM KHẢO 77 PHỤ LỤC
Trang 5DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
APEC Asia-Pacific Economic Cooperation
Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á – Thái Bình Dương
Diễn đàn khu vực ASEAN
ASEAN Association of Southeast Asia Nations
Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á
DAC Development Assistance Committee
Ủy ban Hỗ trợ phát triển
FDI Foreign Direct Investment
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP Gross Domestic Product
Tổng sản phẩm quốc nội
GNP Gross National Product
Tổng sản lượng quốc gia
JBIC Japan Bank for International Cooperation
Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản
JETRO Japan External Trade Organization
Tổ chức Xúc tiến Thương mại Nhật Bản
JICA Japan International Cooperation Agency
Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản
LHQ Liên hợp quốc
MFN Most Favoured Nation
Tối huê ̣ quốc
Trang 6NGO Non-Governmental Organization
Tổ chức phi chính phủ
Hội liên hiê ̣p về xuất bản báo chí Nhật Bản
ODA Official Development Assistance
PECC Pacific Economic Cooperation Council
Hội đồng Hợp tác Kinh tế Thái Bình Dương
STEP Special Treatment for Economic Partner
Ưu đãi đặc biệt dành cho đối tác kinh tế
UNESCO United Nations Educational Scientific and Cultural Organization
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc
VJEPA Vietnam - Japan Economic Partnership Agreement
Hiệp định đối tác kinh tế Việt - Nhật
Ngân hàng Thế giới
WTO World Trade Organization
Tổ chức Thương mại Thế giới
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang Bảng 1.1 Kim nga ̣ch mâ ̣u di ̣ch Viê ̣t Nam - Nhâ ̣t Bản 13 Bảng 2.1 Viê ̣n trợ phát triển chính thức ODA của Nhật bản cho Việt Nam 29 Bảng 2.2 Cơ cấu viê ̣n trợ ODA của Nhâ ̣t bản trong giai đoa ̣n 1993-2007 33 Bảng 2.3 Cơ cấu viê ̣n trợ của Nhâ ̣t Bản dành cho Viê ̣t Nam theo ngành
và theo lĩnh vực trong giai đoa ̣n 1992 - 2007 (%) 48
DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 2.1 Tỷ lệ vốn ODA được Nhật Bản cung cấp cho Việt Nam từ
1993-2007 33 Hình 3.1 Tình hình cam kết và giải ngân nguồn vốn ODA của Nhật
giai đoạn 1996-2006 64
Trang 8Hỗ trợ phát triển chính thức của Nhật Bản và tác động đến quan hệ Việt - Nhật
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Kể từ khi thực hiê ̣n công cuô ̣c đổi mới năm 1986, Viê ̣t Nam ngày càng mở rô ̣ng quan hê ̣ với tất cả các nước trên thế giới , đă ̣c biê ̣t là các quốc gia
trong khu vực Đông Á
Nhâ ̣t Bản là mô ̣t qu ốc gia có tiềm lực kinh tế hàng đầu khu vực , quan
hệ ngoại giao giữa hai nước Việt Nam và Nhật Bản đã được chính thức thiết
lâ ̣p từ ngày 21/9/1973, vượt qua mọi trở ngại, mối quan hệ này đã ngày càng tiến triển khả quan hơn Cho đến nay, Nhật Bản đã trở thành một trong những đối tác chiến lược quan trọng hàng đầu của nước ta Việt Nam và Nhật Bản đã hợp tác trong h ầu hết các lĩnh vực, trong đó nổi bật nhất vẫn là các lĩnh vực kinh tế thương mại, đầu tư và hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) Nhật Bản luôn là quốc gia đứng đầu về ODA cho Viê ̣t Nam Nguồn hỗ trợ này đã đóng góp một phần ý nghĩa trong việc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa ở Việt Nam, tác động rất lớn đến sự phát triển kinh tế - xã hội nước ta
Vâ ̣y viê ̣c tài trợ ODA cho Viê ̣t Nam là do xuất phát từ mối quan hê ̣ hợp tác hữu nghị Việt Nam - Nhâ ̣t Bản hay nằm trong chính sách chung của Nhâ ̣t Bản về việc gia tăng tài trợ cho các quốc gia ASEAN ? Viê ̣c tài trợ ODA của Nhật Bản tại Việt Nam được thực hiện trên những lĩnh vực nào , và cụ thể đã mang la ̣i hiê ̣u quả ra sao , tác động như thế nào đến mối quan hệ ngoại giao Viê ̣t Nam - Nhâ ̣t Bản? Trong viê ̣c sử du ̣ng tài trợ ODA của Nhâ ̣t Bản ta ̣i Vi ệt Nam còn gă ̣p những trở nga ̣i và khó khăn gì ?.v.v Hàng loạt các câu hỏi nêu
ra đó đang rất cần có những lời giải đáp mang tính khoa ho ̣c , đặc biê ̣t xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của mối quan hệ Việt - Nhật ngày hôm nay đang được lãnh đa ̣o cấp cao hai nước quyết đi ̣nh thúc đẩy lên mô ̣t tầm cao mới
Chính vì vậy , với mong muốn tìm hiểu cụ thể hơn vấn đề này , tôi xin
chọn chủ đề “Hỗ trợ phát triển chính thức của Nhật Bản và tác động đế n
Trang 9Hỗ trợ phát triển chính thức của Nhật Bản và tác động đến quan hệ Việt - Nhật
quan hê ̣ Viê ̣t - Nhật” làm đề tài nghiên cứu cho luâ ̣n văn Tha ̣c sỹ chuyên
ngành Quan hệ Quốc tế của mình
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Bởi Nhâ ̣t Bản là mô ̣t quốc gia có mối quan hê ̣ khá chă ̣t chẽ với Viê ̣t Nam và Nhật Bản cũng là một trong số những đối tác kinh tế quan trọng hàng đầu mà hiện nay chúng ta đang có quan hệ hợp tác phát triển Chính vì thế , quan hệ Viê ̣t Nam - Nhâ ̣t Bản đã được nhiều tác giả trong nước và ngoài nước
tâ ̣p trung nghiên cứu Trên thực tế ở Việt Nam đã có nhiều công trình có giá trị nghiên cứu về vấn đề này , tuy nhiên, các nghiên cứu đó đã đề cập hoặc là trên góc đô ̣ tổng quát về mối quan hê ̣ Viê ̣t Nam - Nhâ ̣t Bản qua các giai đoa ̣n hoă ̣c là chuyên sâu về lĩnh vực thương ma ̣i, đầu tư giữa hai nước
Các nghiên cứu tiêu biểu về Nhâ ̣t Bản có thể kể đến như “Quan hê ̣ Viê ̣t
Nam - Nhâ ̣t Bản Quá khứ , Hiê ̣n tại và Tương la i” do Ngô Xuân Bình - Trần
Quang Minh chủ biên - NXB Khoa học Xã hội, 2005; “Quan hê ̣ Kinh tế Viê ̣t Nam - Nhâ ̣t Bản trong những năm 1990 và triển vọng” do TS Vũ Văn Hà chủ
biên - NXB Khoa ho ̣c Xã hô ̣i , 2000; “Quan hê ̣ Kinh tế Viê ̣t Nam - Nhật Bản
trong bối cảnh Quốc tế mới ” do TS Dương Phú Hiê ̣p - TS Vũ Văn Hà chủ
biên - NXB Khoa ho ̣c Xã hô ̣i , 2004; “Quan hê ̣ Nhật Bản - Asean Chính sách
và tài trợ ODA” do Ngô Xuân Bình chủ biên - NXB Khoa ho ̣c Xã hô ̣i ,
1999.v v
Trong các công trình này đều có đề câ ̣p ít nhiều đế n Hỗ trợ phát triển chính thức của Nhật Bản (ODA) cho Viê ̣t Nam - mô ̣t nô ̣i dung cơ bản , trọng tâm trong quan hê ̣ Viê ̣t Nam - Nhâ ̣t Bản Tuy nhiên chưa có công trình nào đề
câ ̣p mô ̣t cách tâ ̣p trung và chuyên sâu về vấn đề này với ý nghĩa làm rõ hơn tác động của ODA Nhật Bản tới quan hệ Việt - Nhâ ̣t Với mong muốn vâ ̣n dụng các công trình đã có, kế thừa trên cơ sở tổng hợp có cho ̣n lo ̣c các kết quả nghiên cứu đã công bố trước đây , tác giả cố gắng ph át triển thêm để hoàn thành đề tài nghiên cứu này
Trang 10Hỗ trợ phát triển chính thức của Nhật Bản và tác động đến quan hệ Việt - Nhật
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Với tầm quan tro ̣ng của vấn đề như đã nêu trên , tác giả cho rằng mục đích của viê ̣c nghiên cứu ODA trong quan hê ̣ Viê ̣t Nam - Nhâ ̣t Bản từ năm
1992 đến nay là nhằm góp phần tái hiê ̣n bức tranh toàn cảnh về quan hê ̣ hợp tác phát triển giữa Việt Nam và Nhật Bản trên cơ sở tập hợp , hê ̣ thống hóa và trình bày những sự kiện chính một cách khoa học , có chọn lọc và phân tích , qua đó tác giả đề tài hy vo ̣ng sẽ mang đến cho người đo ̣c thông tin bổ ích về vấn đề này Đồng thời, qua viê ̣c giới thiê ̣u , phân tích nô ̣i dung vấn đề nghiên cứu đă ̣t ra, tác giả sẽ đưa ra những nhận xét, đánh giá về những kết quả đã đa ̣t được, những thuâ ̣n lợi và thách thức cũng như mô ̣t số kiến nghi ̣ giải pháp nhằm tăng cường hơn nữa hiê ̣u quả của viê ̣c triển khai thực hiê ̣n trên thực tiễn
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn chính là ODA Nhật Bản trong quan
hê ̣ Viê ̣t - Nhâ ̣t
Phạm vi nghiên cứu
Về mặt không gian , luâ ̣n văn đă ̣t tro ̣ng tâm vào phân tích khái niê ̣m và
bản chất của Hỗ trợ phát tri ển chính thức của Nhật Bản , nô ̣i dung chính của chính sách ngoại giao nói chung và chính sách viện trợ nói riêng của Nhật Bản đối với Việt Nam, đồng thời phân tích cu ̣ thể nô ̣i dung của từng lĩnh vực viê ̣n trợ chính
Về mặt thời gian , luâ ̣n văn tâ ̣p trung nghiên cứu mối quan hê ̣ hợp tác
Viê ̣t Nam - Nhâ ̣t Bản giới ha ̣n từ năm 1992, khi hai nước nối la ̣i quan hê ̣ viê ̣n trợ ODA
Trang 11Hỗ trợ phát triển chính thức của Nhật Bản và tác động đến quan hệ Việt - Nhật
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình trình thực hiê ̣n đề tài , tác giả sử dụng hai phương pháp chính là phương pháp lịch sử và phương pháp lô -gic để giải quyết những vấn đề do đề tài đặt ra Bên ca ̣nh đó , tác giả cũng sử dụng các phương pháp liên ngành khác như phương pháp thống kê , so sánh , đối chiếu, tổng hợp để phân tích các sự kiê ̣n mô ̣t cách khoa ho ̣c và có hê ̣ thống
Tất cả các phương pháp đó đều được thực hiê ̣n trên nền tảng cơ sở phương pháp luâ ̣n duy vâ ̣t biê ̣n chứng của chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh
Đề tài nghiên cứu được tiến hành dựa trên nguồn tư liê ̣u gốc bao gồm các văn kiện , các văn bản cấp Nhà nước về đối ng oại của Việt Nam và Nhâ ̣t Bản, các văn bản ký kết giữa hai nhà nước , các bài báo và tin tức thời sự về tình hình quan hệ và triển khai hợp tác ODA giữa hai quốc gia
Đồng thời, mô ̣t số nguồn tài liê ̣u vô cùng quan tro ̣ng là các công trình nghiên cứu của các nhà nghiên cứu thuô ̣c Trung tâm nghiên cứu Nhâ ̣t Bản , Viện khoa ho ̣c Xã hô ̣i Viê ̣t Nam
6 Những đóng góp chủ yếu của luận văn
Về mă ̣t lý luâ ̣n, luâ ̣n văn hy vo ̣ng làm rõ thêm ý nghĩa, vai trò của ODA trong quan hê ̣ quốc tế, đă ̣c biê ̣t trong các mối quan hê ̣ song phương mà cu ̣ thể
ở đây là mối quan hê ̣ Viê ̣t Nam - Nhâ ̣t Bản
Về mă ̣t thực ti ễn, luâ ̣n văn mong muốn đóng góp mô ̣t số giải pháp cơ bản trong lĩnh vực cấp và sử dụng nguồn vốn ODA nhằm tăng cương hơn nữa mối quan hê ̣ Viê ̣t Nam - Nhâ ̣t Bản
Sau khi hoàn thành mu ̣ c tiêu nghiên cứu và những nhiê ̣m vu ̣ đề ra , hy vọng luận văn sẽ trở thành một nguồn tài liệu tham khảo bổ sung cho việc nghiên cứu và giảng da ̣y về chính sách đối ngoa ̣i của Nhâ ̣t Bản đối với Viê ̣t Nam
Trang 12Hỗ trợ phát triển chính thức của Nhật Bản và tác động đến quan hệ Việt - Nhật
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu , kết luận, danh mu ̣c tài liê ̣u tham khảo và phu ̣ lu ̣c , luâ ̣n văn được kết cấu thành ba chương, bảy tiết:
Chương 1: Mô ̣t số vấn đề chung về ODA Nhâ ̣t Bản
Chương này giới thiê ̣u mô ̣t cách khái quát nhất khái niê ̣m Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), bản chất ODA Nhật Bản và khái quát về quan hệ giữa Viê ̣t Nam và Nhâ ̣t Bản , vai trò của ODA trong quan hê ̣ Viê ̣t Nam - Nhâ ̣t Bản
Chương 2: Viê ̣c thực hiê ̣n ODA của Nhâ ̣t Bản ta ̣i Viê ̣t Nam
Chương này tập t rung phân tích các hình thức thực hiê ̣n ODA của chính phủ Nhật Bản dành cho Việt Nam Đồng thời phân tích các nội dung thực hiê ̣n ODA cũng như các thành tựu trong từng lĩnh vực triển khai ODA
Chương 3: Tác động của ODA đến Quan hê ̣ Viê ̣t - Nhâ ̣t, Tồn ta ̣i và Kiến nghi ̣
Chương này chú trọng đến những tác đô ̣ng của ODA đối với quan hê ̣ Viê ̣t Nam - Nhâ ̣t Bản, đồng thời đánh giá những tồn ta ̣i trong công tác c ấp và sử du ̣ng ODA ta ̣i Viê ̣t Nam Trên cơ sở đó đưa ra những kiến nghi ̣ nhằm góp phần giải quyết hiê ̣u quả công tác thu hút và sử du ̣ng hiê ̣u quả ODA đồng thời nâng cao hiê ̣u quả của ODA trong tăng cường quan hệ Việt Nam - Nhâ ̣t Bản, từ đó góp phần tiếp tu ̣c thúc đẩ y quan hê ̣ Viê ̣t Nam - Nhâ ̣t Bản trong tương lai
Trang 13Hỗ trợ phát triển chính thức của Nhật Bản và tác động đến quan hệ Việt - Nhật
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ODA NHẬT BẢN
1.1 Cơ sơ ̉ lý luâ ̣n
1.1.1 ODA la ̀ gì?
a) Lịch sử hình thành ODA
Sau đại chiến thế giới thứ II các nước công nghiệp phát triển đã thoả thuận về sự trợ giúp dưới dạng viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay với điều kiện ưu đãi cho các nước đang phát triển Tổ chức tài chính quốc tế là Ngân hàng thế giới (WB) đã được thành lập tại hội nghị về tài chính - tiền tệ tổ chức tháng 7 năm 1944 tại Bretton Woods (Mỹ) với mục tiêu là thúc đẩy phát triển kinh tế và tăng trưởng phúc lợi của các nước với tư cách như là một tổ chức trung gian về tài chính, một ngân hàng thực sự với hoạt động chủ yếu là
đi vay theo các điều kiện thương mại bằng cách phát hành trái phiếu để rồi
cho vay tài trợ đầu tư tại các nước
Tiếp đó một sự kiện quan trọng đã diễn ra đó là tháng 12 năm 1960 tại Pari các nước đã ký thoả thuận thành lập tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển (OECD) Tổ chức này bao gồm 20 thành viên ban đầu đã đóng góp phần quan trọng nhất trong việc cung cấp ODA song phương cũng như đa phương Trong khuôn khổ hợp tác phát triển, các nước OECD đã lập ra các uỷ ban chuyên môn trong đó có uỷ ban hỗ trợ phát triển (DAC) nhằm giúp các nước đang phát triển phát triển kinh tế và nâng cao hiệu quả đầu tư
Kể từ khi ra đời ODA đã trải qua các giai đoạn phát triển sau:
Trong những năm 1960 tổng khối lượng ODA tăng chậm đến những năm 1970 và 1980 viện trợ từ các nước thuộc OECD vẫn tăng liên tục Đến giữa thập niên 80 khối lượng viện trợ đạt mức gấp đôi đầu thập niên 70 Cuối những năm 1980 đến những năm 1990 vẫn tăng nhưng với tỷ lệ thấp Năm
1991 viện trợ phát triển chính thức đã đạt đến con số đỉnh điểm là 69 tỷ USD
Trang 14Hỗ trợ phát triển chính thức của Nhật Bản và tác động đến quan hệ Việt - Nhật
theo giá năm 1995 Năm 1996 các nước tài trợ OECD đã dành 55,114 tỷ USD cho viện trợ bằng 0,25% tổng GDP của các nước này Cũng trong năm này tỷ
lệ ODA/GNP của các nước DAC chi là 0,25% so với năm 1995 viện trợ của OECD giảm 3,768 tỷ USD Trong những năm cuối của thế kỷ 20 và những năm đầu thế kỷ 21 ODA có xu hướng giảm nhẹ, riêng đối với Việt Nam kể từ khi nối lại quan hệ với các nước và tổ chức cung cấp viện trợ (1993) thì các nước viện trợ vẫn ưu tiên cho Vi ệt Nam ngay cả khi khối lượng viện trợ trên thế giới giảm xuống
b) Đi ̣nh nghĩa ODA
ODA là viết tắt của cụm từ ti ếng Anh của Official Development
Assistance (Viện trợ phát triển chính thức )
Đi ̣nh nghĩa của OECD: Định nghĩa sớm nhất về ODA được đưa ra bởi Tổ chức hợp tác kinh tế của Châu Âu (nay là OECD) từ những năm 60 của thế kỉ XX Định nghĩa được phát biểu như sau: “ODA là nguồn tài chính
do các cơ quan chính thức (chính quyền nhà nước hay địa phương) của một nước viện trợ cho các nước đang phát triển và các tổ chức nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế và phúc lợi của các nước này Nó mang tính chất trợ cấp (tỷ lệ cho không tối đa là 25%)” [42]
Định nghĩa trên đã đề cập khá đầy đủ các khía cạnh của ODA: nước viện trợ, nước nhận viện trợ, hình thức viện trợ và mục đích viện trợ
Đi ̣nh nghĩa của DAC: Uỷ ban hỗ trợ phát triển (DAC) thì đưa ra định nghĩa nhấn mạnh về các hình thức nhận viện trợ: “ODA là một phần của tài trợ phát triển chính thức ODF trong đó có yếu tố không hoàn lại và cho vay ưu đãi, trong đó viện trợ không hoàn lại chiếm ít nhất 25% tổng viện trợ phát triển (Tài trợ phát triển chính thức Official Development Finance, viết tắt là ODF là nguồn tài trợ của chính phủ cho mục tiêu phát triển, loại vốn vay này gồm có ODA và các hình thức ODF khác trong đó ODA chiếm tỉ trọng lớn).” [2]
Trang 15Hỗ trợ phát triển chính thức của Nhật Bản và tác động đến quan hệ Việt - Nhật
Đi ̣nh nghĩa c ủa Việt Nam (Theo Nghị đi ̣nh số 131/2006/NĐ-CP): Hỗ trợ phát triển chính thức là hoạt động hợp tác phát triển giữa Nhà nước hoặc Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với nhà tài trợ là chính phủ nước ngoài, các tổ chức tài trợ song phương [5]
Như vâ ̣y theo cách hiểu chung nhất “ODA là ngu ồn tài chính do các cơ quan chính thức (các chính phủ, các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức quốc tế hoặc địa phương) cung cấp cho các nước chậm và đang phát triển, nhằm mục đích thúc đẩy phát triển kinh tế và phúc lợi xã hội ở các nước này Viện trợ phát triển chỉ có khoảng 25% số vốn cung cấp là viện trợ không hoàn lại.”
1.1.2 Vai tro ̀ của ODA đối với quan hê ̣ quốc tế
Nguồn vốn ODA được đánh giá là nguồn ngoại lực quan trọng giúp các nước đang phát triển thực hiện các chiến lược phát triển kinh tế xã hô ̣ i của mình Vai trò của ODA thể hiện trên các giác độ cơ bản như:
ODA là nguồn vốn bổ sung giúp cho các nước nghèo đảm bảo chi đầu tư phát triển, giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước Vốn ODA với đặc tính ưu việt là thời hạn cho vay dài thường là 10 - 30 năm, lãi suất thấp khoảng từ 0,25% đến 2%/năm Chỉ có nguồn vốn lớn với điều kiện cho vay ưu đãi như vậy Chính phủ các nước đang phát triển mới có thể tập trung đầu tư cho các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế như đường sá, điện, nước, thuỷ lợi và các hạ tầng xã hội như giáo dục, y tế Những cơ sở
hạ tầng kinh tế xã hô ̣i được xây dựng mới hoặc cải tạo nhờ nguồn vốn ODA là điều kiện quan trọng thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế của các nước nghèo Theo tính toán của các chuyên gia của WB, đối với các nước đang phát triển có thể chế và chính sách tốt, khi ODA tăng lên 1% GDP thì tốc độ tăng trưởng tăng thêm 0,5% [35]
ODA giúp các nước đang phát triển phát triển nguồn nhân lực, bảo vệ môi trường Một lượng ODA lớn được các nhà tài trợ và các nước tiếp nhận ưu
Trang 16Hỗ trợ phát triển chính thức của Nhật Bản và tác động đến quan hệ Việt - Nhật
tiên dành cho đầu tư phát triển giáo dục, đào tạo, nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của lĩnh vực này, tăng cường một bước cơ sở vật chất
kỹ thuật cho việc dạy và học của các nước đang phát triển Bên cạnh đó, một lượng ODA khá lớn cũng được dành cho các chương trình hỗ trợ lĩnh vực y tế, đảm bảo sức khoẻ cộng đồng Nhờ có sự tài trợ của cộng đồng quốc tế, các nước đang phát triển đã gia tăng đáng kể chỉ số phát triển con người của quốc gia mình
ODA giúp các nước đang phát triển xoá đói, giảm nghèo Xoá đói nghèo là
một trong những tôn chỉ đầu tiên được các nhà tài trợ quốc tế đưa ra khi hình thành phương thức hỗ trợ phát triển chính thức Mục tiêu này biểu hiện tính nhân đạo của ODA Trong bối cảnh sử dụng có hiệu quả, tăng ODA một lượng bằng 1% GDP sẽ làm giảm 1% nghèo khổ, và giảm 0,9%
tỷ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh Và nếu như các nước giàu tăng 10 tỷ USD viện trợ hằng năm sẽ cứu được 25 triệu người thoát khỏi cảnh đói nghèo [35]
ODA là nguồn bổ sung ngoại tệ và làm lành mạnh cán cân thanh toán quốc tế của các nước đang phát triển Đa phần các nước đang phát triển rơi vào tình trạng thâm hụt cán cân vãng lai, gây bất lợi cho cán cân thanh toán quốc tế của các quốc gia này ODA, đặc biệt các khoản trợ giúp của IMF có chức năng làm lành mạnh hoá cán cân vãng lai cho các nước tiếp nhận,
từ đó ổn định đồng bản tệ
ODA được sử dụng có hiệu quả sẽ trở thành nguồn lực bổ sung cho đầu tư
tư nhân Ở những quốc gia có cơ chế quản lý kinh tế tốt, ODA đóng vai trò như nam châm “hút” đầu tư tư nhân theo tỷ lệ xấp xỉ 2 USD trên 1 USD viện trợ Đối với những nước đang trong tiến trình cải cách thể chế, ODA còn góp phần củng cố niềm tin của khu vực tư nhân vào công cuộc đổi mới của Chính phủ Tuy nhiên, không phải lúc nào ODA cũng phát huy tác dụng đối với đầu tư tư nhân Ở những nền kinh tế có môi trường bị bóp méo nghiêm trọng thì viện trợ không những không bổ sung mà còn “loại
Trang 17Hỗ trợ phát triển chính thức của Nhật Bản và tác động đến quan hệ Việt - Nhật
trừ” đầu tư tư nhân Điều này giải thích tại sao các nước đang phát triển mắc nợ nhiều, mặc dù nhận được một lượng ODA lớn của cộng đồng quốc tế song lại không hoặc tiếp nhận được rất ít vốn FDI
ODA giúp các nước đang phát triển tăng cường năng lực và thể chế thông
qua các chương trình, dự án hỗ trợ công cuộc cải cách pháp luật, cải cách hành chính và xây dựng chính sách quản lý kinh tế phù hợp với thông lệ quốc tế
Tuy nhiên, mă ̣t trái của nguồn vốn ODA cũng tiềm ẩn nhiều hậu quả bất
lợi đối với các nước tiếp nhận nếu ODA không được sử dụng hiệu quả, như làm tăng gánh nặng nợ quốc gia, lệ thuộc chính trị vào nhà tài trợ,…
1.2 Cơ sơ ̉ thƣ̣c tiễn
1.2.1 Khái quát quan hê ̣ giƣ̃a Viê ̣t Nam và Nhâ ̣t Bản
Quan hê ̣ Viê ̣t Nam - Nhâ ̣t Bản đã tồn ta ̣i từ rất lâu trong li ̣ch sử thông qua những giao lưu về kinh tế và văn hóa Từ thế kỷ XVI đã có những thương gia Nhâ ̣t Bản đ ến kinh doanh ở Việt Nam , hình thành nên khu phố Nhậ t Bản
ở Hội An , ngược la ̣i đồ gốm sứ của Viê ̣t Nam cũng đã có mă ̣t ở Nhâ ̣t Bản Những ảnh hưởng lẫn nhau của hai quốc gia là không nhỏ , và không thể không kể đến phong trà o Đông du ho ̣c tâ ̣p Nhâ ̣t Bả n do Phan Bô ̣i Châu lãnh
đa ̣o hồi đầu thế kỷ XX
Viê ̣t Nam và Nhâ ̣t Bản chính thức thiết lập quan hê ̣ ngoại giao từ ngày 21/9/1973 Sự kiê ̣n này đánh dấu bước phát triển mới trong li ̣ch sử quan hê ̣ giữa hai quốc gia Viê ̣t Nam và Nhâ ̣t Bản Vượt qua những biến cố và sự kiê ̣n trong nước và quốc tế , mối quan hê ̣ hữu nghi ̣ của hai quốc gia vẫn được duy trì, đóng góp vào sự hòa bình, ổn định và phát triển vì lợi ích của hai quốc gia, hai dân tô ̣c Viê ̣t Nam, Nhâ ̣t Bản
Năm 1992, Nhật Bản quyết định mở lại viện trợ cho Việt Nam Quan
hệ giữa Việt Nam và Nhật Bản phát triển nhanh chóng trên nhiều lĩnh vực và
Trang 18Hỗ trợ phát triển chính thức của Nhật Bản và tác động đến quan hệ Việt - Nhật
đã bước sang giai đoạn mới về chất và đi vào chiều sâu Các mối quan hệ kinh tế chính trị, giao lưu văn hóa không ngừng được mở rộng và đã hình thành khuôn khổ quan hệ ở tầm vĩ mô; sự hiểu biết giữa hai nước không ngừng được tăng lên
a) Quan hê ̣ chính trị
Chỉ tính riêng 10 năm, từ năm 1993 đến năm 2003 là năm hai nước đã
tổ chức trọng thể Lễ kỷ niệm 30 năm quan hệ ngoại giao, đã có 4 lần Thủ tướng Nhật Bản và phái đoàn chính phủ chính thức sang thăm Việt Nam Đó là các chuyến thăm của Thủ tướng Murayama (tháng 8/1994), Thủ tướng Hashimoto (tháng 1/1997), Thủ tướng Obuchi (tháng 12/1998), Thủ tướng Koizumi (tháng 4/2002) và Thủ tướng Shinzo Abe (tháng 11/2006) Về phía Việt Nam, Thủ tướng Võ Văn Kiệt là vị Thủ tướng đầu tiên của Việt Nam đã đến thăm chính thức Nhật Bản vào tháng 3/1993 Tiếp đó, lần lượt là các vị: Tổng Bí thư Đỗ Mười (tháng 4/1995), Thủ tướng Phan Văn Khải (tháng 3/1999), Thủ tướng Phan Văn Khải (tháng 6/2001), Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An (tháng 5/2002), Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh (tháng 10/2002), Thủ tướng Phan Văn Khải (tháng 4/2003) và Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng (tháng 10/2006)
Các quan chức cao cấp như các bô ̣ trưởng, phó thủ tướng của hai nước cũng đã có sự giao lưu thường xuyên trong những năm gần đây
Giữa hai nước từ nhiều năm qua đã hình thành cơ chế đối thoại thường
kỳ cấp bộ trưởng và thứ trưởng về các vấn đề chính trị, kinh tế, an ninh và quốc phòng Quan hệ giao lưu hợp tác giữa các ngành, địa phương và các tổ chức xã hội cũng không ngừng được mở rộng
Những cuô ̣c gă ̣p thượng đỉnh này có ý nghĩa quan tro ̣ng thúc đẩy quan
hê ̣ giữa hai nước Viê ̣t Nam và Nhâ ̣t Bản Năm 2002, Lãnh đạo cấp cao hai nước thống nhất xây dựng quan hệ Việt Nam - Nhật Bản theo phương châm
"đối tác tin cậy, ổn định lâu dài" Trong chuyến thăm Việt Nam 7/2004 của
Trang 19Hỗ trợ phát triển chính thức của Nhật Bản và tác động đến quan hệ Việt - Nhật
Ngoại trưởng Nhật Bản, hai bên đã ký Tuyên bố chung "Vươn tới tầm cao mới của đối tác bền vững"
Cho đến nay, Nhật Bản vẫn là nước luôn tích cực ủng hộ công cuộc đổi mới của Việt Nam, khuyến khích Việt Nam hội nhập vào khu vực và thế giới (vào các tổ chức APEC, WTO, ARF, PECC ) Không những thế, Nhật Bản còn vận động OECD giúp Việt Nam về kỹ thuật, vận động các ngân hàng, các quỹ tài chính quốc tế, khu vực tài trợ cho công cuộc tái thiết đất nước sau chiến tranh và nhiều năm sau đó cho đến nay đang trong quá trình đổi mới, chuyển sang kinh tế thị trường Nhật Bản đã luôn coi trọng quan hệ hợp tác toàn diện và tin cậy vào đối tác Việt Nam, muốn Việt Nam ủng hộ Nhật Bản trở thành Uỷ viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc
b) Quan hê ̣ kinh tế
Về hợp tác thương mại
Đã nhiều năm qua, Nhật Bản luôn là bạn hàng, thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam
Tổng kim ngạch xuất nhâ ̣p khẩu hàng năm giữa hai nước trong những năm gần đây luôn ở mức trên 10 tỷ USD, chiếm tỷ trọng khoảng 14-17% tổng kim nga ̣ch xuất nhâ ̣p khẩu của Việt Nam với tất cả các nước khác trên thế giới Đáng lưu ý , kim ngạch xuất khẩu của ta sang Nhật đã luôn tăng trưởng với tốc độ cao, trung bình từ 15-22% và từ nhiều năm qua Việt Nam luôn là nước xuất siêu sang Nhật Bản
Năm 2008, kim ngạch xuất nhập khẩu Việt-Nhật đã đạt mức kỷ lục hơn 16,7 tỷ USD, tăng 34% so với năm 2007 (12,5 tỷ USD) vượt xa so với kế hoạch 15 tỷ USD vào năm 2010 đã đề ra ban đầu và Nhật Bản đã là đối tác thương mại lớn thứ hai của Việt Nam (chỉ sau Trung Quốc) Trong đó, xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản năm 2008 đã là 8,54 tỷ USD, tăng 31% so với năm 2007 (6,5 tỷ USD) và Nhật Bản tiếp tục là thị trường nhập khẩu lớn thứ hai (sau Mỹ) của Việt Nam
Trang 20Hỗ trợ phát triển chính thức của Nhật Bản và tác động đến quan hệ Việt - Nhật
Bảng 1.1 Kim ngạch mậu dịch Việt Nam - Nhật Bản
(Đơn vị: tỷ USD)
Năm Xuất -> Nhâ ̣t Nhâ ̣p <- Nhâ ̣t Cán cân
mâ ̣u di ̣ch Tổng kim ngạch
Nguồn: Tổng cục Hải quan Việt Nam
Việt Nam có khả năng xuất khẩu khá nhiều mặt hàng như dầu thô, nông sản, thủy sản, đồ gỗ, may mặc, giày dép, thủ công mỹ nghệ… Ngược lại, Nhật Bản cung cấp cho ta máy móc, thiết bị điện, sản phẩm công nghệ cao, sắt thép, hóa chất… góp phần tích cực đẩy mạnh tiến trình công nghiê ̣p hóa, hiê ̣n
đa ̣i hóa nước ta
Mặc dù đã có những tiến triển ngày càng tích cực hơn như vậy, song hạn chế lớn nhất của Việt Nam hiện nay vẫn là cơ cấu hàng xuất khẩu của ta sang Nhật Bản còn đơn điệu, có đến trên 50% là nguyên liệu thô và sản phẩm
sơ chế Ngoài ra về chất lượng hàng hóa của ta cũng còn không ít điều vướng mắc trong quan hệ trao đổi thương mại với bạn Hạn chế lớn khác là so với nhu cầu và tiềm năng phát triển quan hệ thương mại giữa hai nước vẫn chưa được khai thác triệt để Trong tổng kim nga ̣ch xuất nhâ ̣p khẩu của Nhật Bản, cho đến nay hàng hoá Việt Nam vẫn chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ bé khoảng hơn
Trang 21Hỗ trợ phát triển chính thức của Nhật Bản và tác động đến quan hệ Việt - Nhật
1%, trong khi đó tỷ trọng của Trung Quốc là 13,2%, Singapore 2,9%;, Malaysia 2,7%, Thái Lan 2,6% Indonesia 2,3%, và thấp nhất là Philippines cũng đã đạt tới 1,7%, còn cao hơn nhiều so với Việt Nam Nhật Bản vốn đã là một thị trường “khó tính”, mă ̣c dù Hiệp định Thương mại tự do của Nhật Bản với Asean đã được ký kết nhưng hàng Việt Nam vào thị trường Nhật vẫn hay gặp phải khó khăn là hệ thống kiểm tra phi thuế chặt chẽ, đặc biệt là các quy định khắt khe về tiêu chuẩn chất lượng và vệ sinh, kiểm dịch mặc dù trong quan hệ song phương hai nước cũng đã dành cho nhau chế độ ưu đãi tối huệ quốc (MFN) về thuế từ nhiều năm qua [37]
Về hợp tác đầu tư (FDI)
Đầu tư trực tiếp của Nhật Bản đã vào Việt Nam kể từ năm 1993, khi các tổ chức quốc tế nối lại việc cung cấp viện trợ phát triển (ODA) cho Việt Nam (với nguồn cung cấp ODA lớn nhất là từ Nhật Bản) Tính đến cuối tháng 5/2002, Nhật Bản đã là nước đứng thứ 3 trong số các nước và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư vào Việt Nam với tổng số 386 dự án được cấp phép, vốn đăng ký đạt 4,3 tỷ USD Cần lưu ý, tuy Nhật Bản đứng thứ 3 (sau Đài Loan và Singapore) về vốn đầu tư đăng ký tại Việt Nam, nhưng lại đứng đầu về vốn thực hiện (đạt 3,04 tỷ USD) [32] Do đó, xét thực chất đầu tư của Nhật Bản ngay từ năm 2002 đã là ở vị trí số 1 tại Việt Nam và do đó đã có nhiều đóng góp trực tiếp cho sự phát triển kinh tế - xã hội của cả hai nước, đặc biệt là với Việt Nam
Tuy nhiên cũng như hoạt động thương mại, so với các nước châu Á khác, đầu tư trực tiếp của Nhật Bản ở Việt Nam vẫn chưa tương xứng với khả năng và nhu cầu của cả hai bên Ngoài ra, đầu tư mới của Nhật Bản vào Việt Nam hiện đang gặp phải sự cạnh tranh mạnh của Trung Quốc và các nước trong khu vực Chính vì thế, để đẩy mạnh hơn nữa dòng đầu tư của Nhật Bản vào Việt Nam, đòi hỏi cả hai bên đều phải nỗ lực tháo gỡ những khó khăn, ách tắc còn tồn đọng trong cơ chế, chính sách hợp tác đầu tư Vấn đề này đã
Trang 22Hỗ trợ phát triển chính thức của Nhật Bản và tác động đến quan hệ Việt - Nhật
được đề cập ở Chương trình nghị sự của chính phủ hai nước trong chuyến đi thăm và làm việc tại Nhật Bản của Thủ tướng Việt Nam Phan Văn Khải vào tháng 4/2003, với sự kiện đã diễn ra vào ngày 7 tháng 4 năm 2003 là đã cùng Thủ tướng Nhật Bản Koizumi quyết định cùng thống nhất và quyết tâm thực hiện một Chương trình hành động mang tên: "Sáng kiến chung Nhật Bản -Việt Nam nhằm cải thiện môi trường đầu tư và tăng cường sức cạnh tranh của Việt Nam" gọi tắt là "Sáng kiến chung Nhật Bản - Việt Nam" Tiếp theo đó, ngày 14/11/2003, tại Tokyo, đại diện của chính phủ hai nước đã ký kết Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư Với sự kiện quan trọng này, từ đó đã mở
ra triển vọng to lớn cho hợp tác đầu tư Nhật - Việt Nếu chỉ tính riêng với các dự án còn hiệu lực cho đến ngày 31/12/2007, Nhật Bản đã đầu tư vào Việt Nam 928 dự án đầu tư trực tiếp với tổng số vốn đầu tư lên tới 9,03 tỷ USD, chiếm 10,8% tổng số vốn FDI của tất cả các đối tác đã đầu tư vào Việt Nam, đứng thứ 4 trong số các nước và vùng lãnh thổ có vốn đầu tư vào Việt Nam (sau Hàn Quốc, Đài Loan và Singapore) nhưng lại là nước đứng đầu về vốn đầu tư đã thực hiện, với gần 5 tỷ USD [28] (chiếm 17% so với cả nước)
Năm 2008, mặc dù trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế thế giới và Nhật Bản có rất nhiều khó khăn, song quốc gia này vẫn ở vị trí nhà đầu tư lớn thứ
ba ở Việt Nam với 105 dự án, vốn đầu tư 7,28 tỷ USD (sau Malaysia đứng đầu, với 55 dự án, vốn đăng ký 14,9 tỷ USD và Đài Loan đứng thứ hai, với
132 dự án, vốn đầu tư 8,64 tỷ USD) [4]
Tuy nhiên như nhiều nhà đầu tư Nhật Bản đã cho biết, băn khoăn lớn của họ vẫn là liệu môi trường đầu tư của Việt Nam có ổn định lâu dài và nhất là một số hạn chế, bất cập lâu nay tồn đọng có nhanh chóng được tháo gỡ như
cơ sở hạ tầng của nhiều địa phương, địa bàn đầu tư quá yếu kém, thủ tục hành chính các loại còn cồng kềnh, phiền hà, trong khi đó giá cả thuê đất, văn phòng, nhà xưởng, một số dịch vụ kèm theo cần thiết khác lại quá đắt so với tương quan chung khu vực
Trang 23Hỗ trợ phát triển chính thức của Nhật Bản và tác động đến quan hệ Việt - Nhật
Trên thực tế, để tiếp tục tháo gỡ những trở ngại đó, đồng thời với việc vừa hoàn tất ký kết Hiệp định Đối tác kinh tế song phương (VJEPA) vào ngày 25/12/2008, hiện nay cả hai phía Việt Nam và Nhật Bản đều đang tiếp tục tích cực triển khai giai đoạn 3 của Chương trình hành động “Sáng kiến chung Việt-Nhật” về cải thiện môi trường đầu tư nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam
c) Quan hê ̣ ODA
ODA là mô ̣t nô ̣i dung chính, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quan
hê ̣ Viê ̣t Nam - Nhâ ̣t Bản Nô ̣i dung này sẽ được trình bày chi tiết trong các phần sau của luâ ̣n văn
d) Quan hê ̣ văn hóa giáo dục
Quan hệ giao lưu văn hoá Việt Nam - Nhật Bản tuy đã có từ lâu đời, song mối quan hệ này nhiều năm trước đây đã diễn ra không sôi động như trong các lĩnh vực kinh tế Chỉ từ cuối thập niên 1980 đến nay, quan hệ giao lưu, hợp tác phát triển văn hoá giữa hai nước mới thực sự được chú trọng phát triển Tập trung ở một số hoạt động sau:
Hỗ trợ tài chính của phía Nhật Bản dành cho Việt Nam để xây dựng các cơ sở hạ tầng và muasắm trang thiết bị văn hoá thông tin Đó là các dự án như: 24 triệu yên cho Bộ Văn hoá năm 1987; 10 triệu yên cho việc bảo dưỡng và tôn tạo phố cổ Hội An thông qua Tổ chức UNESCO năm 1989; 23 triệu yên cho mua sắm trang thiết bị in ấn các chương trình văn hoá giáo dục cho Đài Truyền hình Việt Nam năm 1990; 18 triệu yên cho việc xây dựng và mua sắm các trang thiết bị của nhà hữu nghị, Hội Hữu Nghị Việt-Nhật năm 1991-1992 Năm 1992, dự án hỗ trợ tài chính cho Tổng cục Thể dục Thể Thao; năm 1993, dự án trang thiết bị cho việc làm phim hoạt hình Việt Nam Năm 1995, dự án 54,1 triệu yên cho việc mua sắm trang thiết bị giảng dạy tiếng Nhật ở Đại
Trang 24Hỗ trợ phát triển chính thức của Nhật Bản và tác động đến quan hệ Việt - Nhật
học Ngoại ngữ Hà Nội Cũng năm 1995, Nhật đã viện trợ không hoàn lại cho Việt Nam 10,5 tỷ yên , trong đó đã dành ra một khoản lớn cho các hoạt động văn hoá-giáo dục Năm 1996, Nhật Bản giúp Việt Nam hai dự án lớn về lĩnh vực âm nhạc, 500 triệu yên cho Nhạc Viện Hà Nội và 450 triệu yên cho Nhạc Viện Thành phố Hồ Chí Minh Chỉ tính riêng viện trợ văn hoá không hoàn lại của Nhật Bản dành cho Việt Nam
từ năm 1992 đến năm 2003 đã có 7 dự án với tổng số tiền 316 triệu yên bao gồm các thiết bị máy móc chuyên dụng, các nhạc cụ [37]
Nhật Bản hỗ trợ tài chính cho việc tổ chức các hoạt động giao lưu, trao đổi văn hoá giữa hai nước Việt-Nhật Đó là các cuộc triển lãm giới thiệu về đất nước con người, các sản phẩm thủ công truyền thống, về lễ hội Nhật Bản tại Hà Nội và một số thành phố khác ở Việt Nam Đó là việc cử các đoàn văn hoá nghệ thuật Nhật Bản sang biểu diễn ở Việt Nam và ngược lại các đoàn văn hoá nghệ thuật của Việt Nam sang biểu diễn ở Nhật Bản Việt Nam đã tham gia liên hoan âm nhạc tại Nhật Bản năm 1989, liên hoan phim ở Tokyo năm 1989,1991,1992, dự triển lãm sách tại Tokyo năm 1992, 1994 Năm 1992, 1993 Đoàn ca nhạc dân tộc Việt Nam đã sang Nhật Bản biểu diễn với các nhạc cụ truyền thống dân tộc như đàn bầu, đàn tam thập lục ra mắt lần đầu được khán giả Nhật Bản mến mộ Gần đây đàn ba dây của Nhật Bản Sanmisen, kịch Noh, Kabuki cũng đã ra mắt khán giả Việt Nam
Ngoài giao lưu văn hoá, trao đổi các đoàn ca múa, triển lãm nhiều phim của Nhật Bản đã được chiếu ở Việt Nam, nhiều tác phẩm văn học Nhật Bản cũng đã được dịch ra tiếng Việt, giới thiệu ở Việt Nam Tuần lễ liên hoan phim Nhật Bản cũng đã được tiến hành tại Hà Nội trong tháng 11/2003 và cũng đã có thêm nhiều bộ phim mới của Nhật Bản được trình chiếu trên TV và cả màn ảnh rộng, đáng lưu ý đã có cả phim
Trang 25Hỗ trợ phát triển chính thức của Nhật Bản và tác động đến quan hệ Việt - Nhật
do hai bên Việt - Nhật cùng hợp tác sản xuất Tuy nhiên, so với các lĩnh vực văn hoá khác, thì các hoạt động giao lưu hợp tác về giới thiệu điện ảnh và dịch thuật, giới thiệu văn học giữa hai nước vẫn còn quá khiêm tốn, chưa xứng với nhu cầu và tiềm năng phát triển của cả hai Đáng lưu ý, nhân dịp các dịp kỷ niệm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Nhật Bản đều có nhiều hoạt động giao lưu văn hoá, biểu diễn nghệ thuật, âm nhạc, thi đấu thể thao, triển lãm giới thiệu tranh, ảnh Nhật Bản và nhiều cuộc hội thảo khoa học Việt - Nhật về các chủ đề khác nhau đã diễn ra tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và một số nơi khác ở Việt Nam Ngoài ra trên các phương tiện thông tin đại chúng như báo chí, phát thanh, và đặc biệt là truyền hình đã dành nhiều thời gian, nhiều chương trình giới thiệu về đất nước, con người, và các lĩnh vực khác nhau của đời sống chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội Nhật Bản Các hoạt động này đến nay đã trở thành hoạt động thường niên , thông qua đó, người Việt Nam chúng ta càng có dịp hiểu biết sâu sắc hơn về Nhật Bản Về phía Nhật Bản cũng đã phối hợp với Việt Nam tổ chức "Những ngày văn hoá Việt Nam tại Nhật Bản" tại một số nơi như Tokyo, Yokohama, Osaka nhằm giới thiệu cho người Nhật hiểu biết rõ hơn về những đặc sắc văn hoá Việt Nam ở nhiều thể loại khác nhau như ẩm thực, thời trang, du lịch, phim ảnh, văn học, múa rối nước
Phong trào học tiếng Nhật ở Việt Nam đã ngày càng phát triển mạnh trong những năm gần đây Tính đến cuối năm 2002, ở Hà Nội có 12 cơ
sở đào tạo tiếng Nhật (có 6 trường đại học quốc lập và 6 cơ sở tư nhân) còn ở Thành phố Hồ Chí Minh có 26 cơ sở (6 trường đại học quốc lập và 20 cơ sở tư nhân) Tổng số học viên học tiếng Nhật ở Việt Nam hiện
đã lên tới hàng vạn người Đáng lưu ý kể từ năm 1994 đến nay, đã có nhiều giáo viên của Nhật Bản tình nguyện sang Việt Nam giảng dạy
Trang 26Hỗ trợ phát triển chính thức của Nhật Bản và tác động đến quan hệ Việt - Nhật
tiếng Nhật, góp phần tích cực thúc đẩy quan hệ hợp tác hữu nghị và giao lưu văn hoá giữa nhân dân hai nước
Ngoài ra còn có thể kể đến các hoạt động giao lưu văn hoá khác như giao lưu hoạt động báo chí giữa những người làm báo của hai nước Hội Liên hiệp về xuất bản báo chí Nhật Bản (NSK) phối hợp với Liên đoàn các nhà báo châu Á đã tổ chức các khoá đào tạo nghiệp vụ cho các nhà báo ASEAN, trong đó có các nhà báo Việt Nam kể từ năm
1996 đến nay Giao lưu văn hoá giữa thanh niên Việt Nam với thanh niên Nhật Bản và thanh niên các nước ASEAN đã được tổ chức tại Nhật Bản và tại các nước đó đã diễn ra hàng năm với sự tài trợ của Nhật Bản.
Một hoạt động khác cũng thường xuyên được phía Nhật Bản quan tâm đến đó là hợp tác nghiên cứu khoa học hai nước Việt-Nhật trong các lĩnh vực khoa ho ̣c tự nhiên và công nghệ, khoa ho ̣c xã hô ̣i và nhân văn Các quỹ tài chính của Nhật Bản như Quỹ Japan, Quỹ Toyota, Quỹ Sumitomo, Quỹ Toshiba đã hỗ trợ kinh phí cho các viện, trường đại học, các nhà khoa học Việt Nam thực hiện nhiều dự án nghiên cứu, trong đó đáng lưu ý có một số cơ quan nghiên cứu, giảng dạy về Đông phương học, Nhật Bản học cũng đã được nhiều quỹ của Nhật Bản hỗ trợ kinh phí cho công tác nghiên cứu, giảng dạy và đào tạo cán bộ khoa học Đó là các cơ quan như Viện Nghiên cứu Đông Bắc Á, Trung tâm Nghiên cứu Nhật Bản thuộc Viện Khoa ho ̣c Xã hô ̣i Việt Nam, các khoa Đông phương của hai trường Đại học Khoa ho ̣c Xã hô ̣i và Nhân văn ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, Trung tâm nghiên cứu và phát triển nguồn nhân lực, Đại học Ngoại thương Hà Nội Nhiều giáo sư, học giả của Nhật Bản cũng đã sang Việt Nam làm công tác giảng dạy,
Trang 27Hỗ trợ phát triển chính thức của Nhật Bản và tác động đến quan hệ Việt - Nhật
đào tạo và nghiên cứu khoa học ở các cơ quan này và một số trường đại học, viện nghiên cứu khác của Việt Nam
Liên quan đến việc tổ chức xúc tiến các hoạt động giao lưu, hợp tác truyền bá văn hóa giữa hai nước phải kể đến vai trò quan trọng của Hội Hữu nghị Việt Nam-Nhật Bản và Hội Hữu nghị Nhật Bản-Việt Nam Thông qua các tổ chức phi chính phủ này, nhân dân hai nước Việt-Nhật có thêm một cầu nối để ngày càng hiểu biết nhau hơn về các truyền thống văn hoá dân tộc Đó là việc tổ chức các hoạt động giới thiệu về trà đạo, nghệ thuật cắm hoa, kịch No, Kabuki, biểu diễn các nhạc cụ truyền thống Nhật Bản do các nghệ nhân Nhật Bản biểu diễn Đó là nhiều đoàn ca múa, nghệ thuật dân tộc của Việt Nam đã sang Nhật Bản biểu diễn, trong đó phải kể đến nghệ thuật múa rối nước của Việt Nam
đã được nhiều người Nhật quan tâm, yêu thích Hầu hết các đoàn Việt Nam khi sang biểu diễn tại Nhật Bản đều được sự tài trợ kinh phí chu đáo từ phía Nhật Bản
Hai nước đang triển khai các chương trình đào tạo con người, chương trình thanh niên ASEAN (100 người/năm) và trao đổi các đoàn văn hóa, những người người tình nguyện, chuyên gia Hàng năm Chính phủ Nhật viện trợ cho Việt Nam từ 1 đến 2 dự án viện trợ văn hoá không hoàn lại như thiết bị học ngoại ngữ, thiết bị bảo quản tư liệu Viện Hán Nôm, Bảo tàng Lịch sử, xưởng phim hoạt hình Về giáo dục, Chính phủ Nhật Bản nhận khoảng trên 100 học sinh sinh viên Việt Nam sang Nhật Bản đào tạo hàng năm Ngoài ra còn có nhiều học sinh du học tự túc Tổng số lưu học sinh Việt Nam ở Nhật hiện nay khoảng hơn 1000 người
Trang 28Hỗ trợ phát triển chính thức của Nhật Bản và tác động đến quan hệ Việt - Nhật
1.2.2 Đặc điểm của ODA Nhật Bản
Nhâ ̣t Bản hiê ̣n nay là quốc gia cung cấp nguồn vốn ODA lớn nhất thế giới cho các nước đang phát triển và là nước tài trợ ODA lớn nhất cho Việt Nam (Chiếm khoảng 40% tổng số vốn ODA mà cộng đồng quốc tế cam kết dành cho Việt Nam) Trong chính sách của mình, ODA Nhật Bản tập trung vào các mục tiêu hỗ trợ chủ yếu như:
Hỗ trợ điều chỉnh cơ cấu kinh tế để khôi phục kinh tế;
Hỗ trợ người nghèo;
Hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực và tăng cường thể chế, hoạch định chính sách;
Hỗ trợ phát triển cơ sở hạ tầng;
Hợp tác phát triển khu vực trong đó có khu vực sông Mê Kông mở rộng
a) Phân bổ về mặt địa lý viện trợ phát triển của Nhật Bản
Đông Á và Đông Nam Á vẫn là khu vực địa lý ưu tiên số 1 của Nhật Bản trong cung cấp ODA bởi các lý do về lịch sử, văn hoá cũng như lợi ích kinh tế và chính trị Tuy nhiên, chính sách cung cấp tín dụng ODA của Nhật Bản đối với từng nước tiếp nhận viện trợ chủ yếu trong hai khu vực địa lý nói trên có khác nhau
Các lĩnh vực trọng tâm của ODA Nhật Bản tại Trung Quốc là bảo vệ môi trường, phát triển nguồn nhân lực và xoá đói giảm nghèo
Tại khu vực Đông Nam Á, 5 nước tiếp nhận chủ yếu là Việt Nam, Indonesia, Thái Lan, Philipines và Malaysia Trọng tâm cung cấp tín dụng ODA của Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhâ ̣t Bản (JBIC) tại các nước này là như sau:
Trang 29Hỗ trợ phát triển chính thức của Nhật Bản và tác động đến quan hệ Việt - Nhật
Việt Nam: Phát triển cơ sở hạ tầng (nhất là điện, giao thông, thông tin liên lạc), xoá đói giảm nghèo, phát triển nguồn nhân lực và hỗ trợ xây dựng chính sách cải tổ cơ cấu
Indonesia: Phát triển cơ sở hạ tầng, ổn định kinh tế, tài chính và hỗ trợ xây dựng chính sách cải cách kinh tế
Thái Lan: Cải thiện điều kiện dân sinh đô thị, phát triển nông thôn và phát triển nguồn nhân lực
Philipines: Nâng cấp cơ sở hạ tầng kinh tế đặc biệt là giao thông, bảo
vệ môi trường nhất là phòng chống thiên tai, xóa đói giảm nghèo, phát triển nguồn nhân lực
Malaysia: Bảo vệ môi trường, giảm thiểu khoảng cách giàu nghèo, phát triển nguồn nhân lực, phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ
b) Điểm kha ́ c biê ̣t trong viê ̣n trợ phát triển của Nhật bản
Ngoài những đặc điểm và vai trò chung của ODA như đã phân tích ở trên, ODA Nhâ ̣t Bản còn mang những điểm khác biê ̣t như sau:
ODA Nhâ ̣t Bản thực hiê ̣n trên nguyên tắc tiếp nhâ ̣n yêu cầu từ các
nước nhâ ̣n viê ̣n trợ
ODA của Nhâ ̣t Bản ít đă ̣t ra những điều kiê ̣n ngă ̣t nghèo hơn về áp lực chính trị so với các nước khác và thường thiên về viê ̣n trợ theo công trình
Cơ cấu viê ̣n trợ với tỷ lê ̣ cao là viê ̣n trợ cho vay (ODA tín du ̣ng với lãi suất ưu đãi và dài ha ̣n, có nhiều năm ân hạn) và một mức thấp dành cho viê ̣n trợ cho không , trong đó chú tro ̣ng tới viê ̣n trợ theo da ̣ng trợ giúp
kỹ thuật
Những nguyên tắc trên đã được cu ̣ thể hóa trong Hiến chương về ODA của Nhật Bản và có thể tóm lược các nội dung đó như sau:
Trang 30Hỗ trợ phát triển chính thức của Nhật Bản và tác động đến quan hệ Việt - Nhật
i) Nhâ ̣t Bản sẽ tích cực thúc đẩy chính sách đối ngoa ̣i với c ác nước nhận viê ̣n trợ nhằm tâ ̣p hợp và phân tích những thông tin thu nhâ ̣n được Qua đó, Nhâ ̣t Bản cũng chia sẻ với giới lãnh đa ̣o các nước đó những nhâ ̣n thức về các chính sách phát triển vĩ mô của ho ̣ để vâ ̣n du ̣ng chúng trong quá trình xem xét các yêu cầu cho vay của các nước này
ii) Để đáp ứng những nhu cầu đa da ̣ng của các nước đang phát triển ở những mức đô ̣ phát triển khác nhau , ODA của Nhâ ̣t Bản sẽ tận dụng các cơ hội ở mức tối đa có thể được để làm giảm bớt khối lượng giá trị của các khoản vay nợ Do đó các hình thức viê ̣n trợ không hoàn la ̣i , hợp tác và trợ giúp kỹ thuâ ̣t là mô ̣t trong các hình thức trong cơ cấu ODA mà chính phủ Nhâ ̣t Bản xem xét Tất cả các hình thức này gắn với nhau mô ̣t cách hữu cơ và bổ sung cho nhau
iii) Khi có đề nghi ̣ viê ̣n trợ thì sự liên hê ̣ và hợp tác với các cơ quan viê ̣n trợ và những nước khác có viê ̣n trợ ví du ̣ như các cơ quan của tổ chức Liên hợp quốc (LHQ) và các tổ chức tài chính quốc tế đ ể xem xét, kể
cả chính quyền địa phương và các tổ chức tư nhân của Nhật Bản , như các tổ chức lao động và kinh doanh cùng phối hợp Đặc biệt là mọi cố gắng được th ực hiện để đảm bảo là triển vọng của ODA sẽ được thực hiê ̣n mô ̣t cách hoàn toàn với tinh thần hợp tác thông qua các tổ chức quốc tế Nó cũng sẽ được hợp tác và ủng hộ của các tổ chức phi chính phủ (NGO) trong khi vẫn tôn tro ̣ng tính đô ̣c lâ ̣p của ho ̣
iv) Khi thực hiê ̣n ODA cho viê ̣c bảo vê ̣ môi trường , Nhâ ̣t Bản thực hiê ̣n viê ̣c sử du ̣ng công nghê ̣ và các hiểu biết kỹ năng đã có , những thành công trong quá trình bảo vê ̣ môi trường và phát triển kinh tế tương ứng v) Trong khi đóng góp vào quá trình chuyển giao công nghê ̣ tiên tiến sao cho tương thích với trình đô ̣ phát triển của các nước nhâ ̣n viê ̣n trợ, Nhâ ̣t Bản sẽ thúc đẩy việc phát triển công nghệ thích hợp và sẽ cun g cấp dạng viện trợ để có thể ứng dụng triệt để những hiểu biết kỹ năng và
Trang 31Hỗ trợ phát triển chính thức của Nhật Bản và tác động đến quan hệ Việt - Nhật
công nghê ̣ đã được sử du ̣ng ở các nước đang phát triển khác Trong viê ̣c chuyển giao này , Nhâ ̣t Bản sẽ sử du ̣ng những thành công ở khu vực tư nhân tại Nhật Bản cũng như khu vực chính phủ đã thực hiện nhằm đáp ứng sự hỗ trợ về hợp tác kỹ thuâ ̣t đó cho khu vực tư nhân ở các nước nhận viện trợ
vi) Để ứ ng phó với các vấn đề của các công ty đa quốc gia trong vùng , Nhâ ̣t Bản sẽ hợp tác chă ̣t chẽ với những tổ chức quốc tế và các loa ̣i tổ chức khu vực
vii) Mối quan hệ chă ̣t chẽ giữa ODA , FDI và mâ ̣u di ̣ch sẽ được duy trì sao cho cả ba bô ̣ phâ ̣n này có thể thúc đẩy sự phát triển của những nướ c đang phát triển mô ̣t cách hữu cơ Để thực hiê ̣n được mu ̣c đích đó, ODA sẽ liên kết chặt chẽ và nhận sự ủng hộ từ viê ̣c hợp tác kinh tế trong khu vực tư nhân thông qua bảo hiểm mâ ̣u di ̣ch mà những tổ chức thực hiê ̣n là ngân hàng xuất nhập khẩu Nhật Bản
viii) Việc hợp tác nghiên cứu để tìm ra và hình thành những dự án hoàn thiê ̣n sẽ không ngừng được xúc tiến Để cải thiê ̣n viê ̣c cung cấp ODA trong tương lai thì viê ̣c đánh giá các dự án đã được thự c hiê ̣n kể cả những đánh giá của phía đối tác thứ ba trong tài trợ và các nước viê ̣n trợ cũng như các tổ chức luôn được Nhâ ̣t Bản coi là mô ̣t công viê ̣c quan tro ̣ng và có tính thường xuyên
ix) Những công trình nghiên cứu khu vự c của các nước đang phát triển , những công trình nghiên cứu về các chính sách phát triển , các các công trình đánh giá về ODA sẽ được xúc tiến mạnh hơn [35, tr 270]
Rõ ràng , khi nhìn vào những nô ̣i dung cơ bản trong Hiến ch ương về ODA của Nhâ ̣t Bản, có thể nhâ ̣n thấy là dường như ODA Nhâ ̣t Bản quan tâm nhiều đến khía ca ̣nh nhân văn hơn là khía ca ̣nh kinh tế và chính tri ̣ Các yếu tố chính trị không bộc lộ rõ trong các nội dung của ODA như thời kỳ trướ c những năm 90 của thế kỷ XX, thời kỳ còn băng giá trong quan hê ̣ Đông - Tây
Trang 32Hỗ trợ phát triển chính thức của Nhật Bản và tác động đến quan hệ Việt - Nhật
mà nó ẩn chứa trong các nô ̣i dung kinh tế mô ̣t cách khéo léo hơn ODA của Nhâ ̣t Bản chủ trương ủng hô ̣ mo ̣i nỗ lực của các nước đang phát triển để giải quyết các vấn đề toàn cầu như dân số , môi trường Đồng thời, Nhâ ̣t Bản cũng cam kết viện trợ cho những nhu cầu cơ bản của con người và viện trợ nhân đa ̣o trong các trường hợp khẩn cấp Cụ thể là ODA Nhật Bản tr ước hết phải dành ưu tiên cho việc xây dựng và cải thiện cơ sở hạ tầng của các nước nhâ ̣n viê ̣n trợ
Viện trợ song phương của Nhật Bản bao gồm 2 phần chính là viện trợ không hoàn lại thông qua Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JICA) và Đại
sứ quán Nhật Bản; và cho vay ưu đãi thông qua Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JBIC)
Viện trợ không hoàn lại của Nhật Bản bao gồm hai phần chính là chương trình viện trợ không hoàn lại do Đại sứ quán Nhật Bản điều phối thực hiện bởi JICA và chương trình hợp tác kỹ thuật do JICA điều phối và thực hiện Các dự án viện trợ không hoàn lại được dùng để phát triển nguồn nhân lực và xây dựng cơ sở hạ tầng Chương trình hợp tác kỹ thuật được dùng để tăng cường nguồn nhân lực và xây dựng thể chế thông qua việc chuyển giao
kỹ thuật và kiến thức Viện trợ phát triển chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng viện trợ phát triển của Nhật Bản
Vốn vay ưu đãi chiếm tỷ trọng lớn trong viện trợ phát triển của Nhật Bản dùng để nâng cấp các cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội ở các nước đang phát triển Việc khoản cho vay ưu đãi chiếm tỷ trọng lớn trong tổng mức viện trợ song phương của Nhật Bản thể hiện nguyên tắc chủ yếu của viện trợ phát triển Nhật Bản là giúp các nước nhận viện trợ tự phát triển Khi phải đối đầu với nghĩa vụ trả nợ trong tương lai, các nước nhận viện trợ sẽ phân bổ các khoản vay ưu đãi cho các chương trình phát triển kinh tế thiết yếu và do đó phát triển nền kinh tế một cách có hiệu quả
Trang 33Hỗ trợ phát triển chính thức của Nhật Bản và tác động đến quan hệ Việt - Nhật
Mă ̣c dù vâ ̣y , trong bối cảnh quốc tế hiê ̣n thời thì ODA Nhâ ̣t Bản sẽ phải tiếp câ ̣n tới những vấn đề toàn cầu mà dù trực tiếp hay gián tiếp nó có ảnh hưởng tới các lợi ích của Nhật Bản
Trang 34Hỗ trợ phát triển chính thức của Nhật Bản và tác động đến quan hệ Việt - Nhật
CHƯƠNG 2 VIỆC THỰC HIỆN ODA CỦA NHẬT BẢN TẠI VIỆT NAM 2.1 Quá trình cung cấp ODA của Nhật Bản tại Việt Nam
2.1.1 Vài nét về ODA Nhật Bản dành cho Việt Nam trước năm 1992
Tuy hai nước Việt Nam - Nhật Bản đã thiết lập quan hệ ngoại giao từ năm 1973 và quan hệ đó cũng đã từng bước khởi sắc hơn kể từ sau khi cuộc chiến tranh Việt Nam kết thúc vào ngày 30/4/1975 khi hai miền Nam-Bắc nước ta đã được thống nhất trong một thể chế Nhà nước Cô ̣ng hòa Xã hô ̣i Chủ nghĩa Việt Nam Song, chỉ được một vài năm “nồng ấm” thì quan hệ đó
đã gặp phải “sóng gió” trong suốt những năm 1979-1991 Các nhà phân tích
đã đánh giá đây là giai đoạn "lạnh nhạt" và đầy khó khăn đã diễn ra trong quan hệ Việt Nam - Nhật Bản Nguyên nhân chủ yếu vì “vấn đề Campuchia”
Do không đồng quan điểm với Việt Nam, phía Nhật Bản đã đơn phương ngừng các mối quan hệ chính thức, đông kết các khoản viện trợ đã cam kết, đưa ra yêu cầu Việt Nam phải rút quân khỏi Campuchia làm điều kiện để phía Nhật mở lại viện trợ Mặt khác, Nhật Bản đã phối hợp với Mỹ và phương Tây thực hiện bao vây cấm vận kinh tế Việt Nam, ngăn cản các tổ chức tài chính - tiền tệ quốc tế cho Việt Nam vay tiền
Trên thực tế, sự "lạnh nhạt" cùng với các biện pháp "cứng rắn" trên đây của Nhật Bản đối với Việt Nam như nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đã cho rằng có phần chủ yếu là do ảnh hưởng của Mỹ từ những ràng buộc bởi Hiệp ước liên minh Nhật - Mỹ đã được hai bên ký kết từ sau Thế chiến thứ hai, chứ không hẳn là vì ý muốn chủ quan của Nhật Bản Có hai lý
do chính giải thích cho vấn đề này: Thứ nhất, Nhật Bản khi này đã luôn mong muốn thực thi một chính sách đối ngoại nhằm nâng cao vị thế chính trị nước lớn trên thế giới, nhất là ở châu Á, đặc biệt là ở Đông Á, mà Việt Nam như đã biết là một quốc gia cộng sản có vị trí, vai trò quan trọng nhiều mặt lại vừa
Trang 35Hỗ trợ phát triển chính thức của Nhật Bản và tác động đến quan hệ Việt - Nhật
đánh thắng Mỹ nên Nhật Bản không thể không muốn có quan hệ với Việt Nam; Thứ hai, như đã biết, Nhật Bản và Việt Nam là hai nước vốn đã có các mối quan hệ giao lưu từ lâu đời, nhất là trong lĩnh vực kinh tế thương mại đã đem lại nhiều lợi ích lớn cho cả hai nước, đặc biệt là cho phía Nhật do là nước nghèo tài nguyên, vì thế Nhật Bản rất cần duy trì các quan hệ hợp tác phát triển với Việt Nam
Chính vì thế, mặc dù "lạnh nhạt và cứng rắn" với Việt Nam nhưng suốt thời gian này Nhật Bản vẫn tiếp tục "giữ cầu" quan hệ với Việt Nam Cho đến khi Việt Nam thực thi công cuộc đổi mới theo đường lối mở cửa từ cuối năm
1986 và từng bước rút dần quân đội khỏi Campuchia thì giao lưu hai nước đã được nối lại ngay qua các chuyến thăm Nhật Bản của Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch tháng 10/1990, Ngoại trưởng Nhật Bản Nakayama thăm Việt Nam tháng 6/1991 Cùng thời gian này, Nhật Bản cũng đã nối lại viện trợ nhân đạo, y tế, văn hoá và giáo dục cho Việt Nam nhưng còn ở quy mô nhỏ và chủ yếu là thông qua các tổ chức phi chính phủ
Bước sang thập niên 90 của thế kỷ XX, bối cảnh thế giới đã có nhiều thay đổi mới: Chiến tranh lạnh giữa hai hệ thống xã hội chủ nghĩa thế giới và
tư bản chủ nghĩa thế giới đã kết thúc sau khi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu bị tan rã; toàn cầu hoá, khu vực hoá là xu thế phát triển của thời đại, nhất là trong lĩnh vực kinh tế
Các tác nhân bên ngoài này cùng với những nhu cầu phát triển nội sinh từ chính mỗi nước Việt Nam và Nhật Bản, đặc biệt do nước ta khi này
đã thực hiện công cuộc đổi mới theo đường lối mở cửa, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế và kinh tế đối ngoại nên đã khiến cho quan hệ Việt Nam - Nhật Bản trong giai đoạn này chuyển sang bước ngoặt mới và đã phát triển ngày càng mạnh mẽ hơn trên tất cả mọi lĩnh vực khác nhau
Thực tế là, sau khi những vướng mắc về vấn đề Campuchia được gỡ bỏ, tháng 11/1992 Chính phủ Nhật Bản đã là nước phát triển đầu tiên tuyên bố nối lại
Trang 36Hỗ trợ phát triển chính thức của Nhật Bản và tác động đến quan hệ Việt - Nhật
viện trợ phát triển chính thức (ODA) cho Việt Nam Cũng kể từ thời điểm này, Nhật Bản đã luôn là đối tác kinh tế quan trọng hàng đầu của Việt Nam trong hầu hết các lĩnh vực
2.1.2 Từ năm 1992 đến nay Nhật Bản luôn là nhà tài trợ ODA hàng đầu
cho Việt Nam
Bắt đầu từ cuối năm 1992, Nhật Bản là nước đã tích cực hỗ trợ phát triển tài chính để góp phần khai thông mối quan hệ của Việt Nam với các tổ chức tài chính quốc tế chủ chốt Từ đó đến nay, mặc dù nền kinh tế Nhật còn đang gặp nhiều khó khăn, nhưng Chính phủ Nhật Bản luôn là nhà tài trợ ODA lớn nhất cho Việt Nam, chiếm 40% tổng nguồn ODA của các nước và các tổ chức quốc tế cung cấp cho Việt Nam
Bảng 2.1 Viện trợ phát triển chính thức ODA của Nhật Bản cho Việt Nam
Đơn vị : Tỷ Yên
Năm Viện trợ không
hoàn lại
Khoản vay yên
Tổng cộng
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
Như vâ ̣y, nhìn về khối lượng, ODA của Nhâ ̣t Bản được duy trì khá liên tục và tuy có tăng giảm qua các thời kỳ khác nhau , song Việt Na m vẫn là
Trang 37Hỗ trợ phát triển chính thức của Nhật Bản và tác động đến quan hệ Việt - Nhật
nước được ưu tiên trong số các nước nhâ ̣n viê ̣n trợ của Nhâ ̣t Bản Vấn đề l à tại sao quy mô viê ̣n trợ có sự thay đổi qua các thời kỳ trên Có thể nêu lên một số nguyên nhân sau:
Thứ nhất là , ở giai đoạn đầu khi Nhật Bản nối lại viện trợ cho Việt
Nam, khối lượng ODA nhìn chung đã khá lớn (1992-1994) Điều này chứng tỏ Nhật Bản đã mong muốn mở rộng quan hệ với Việt Nam và ODA được coi là công cụ tiên phong trong việc thực hiện chính sách ngoại giao của Nhật
Mă ̣c dù Nhâ ̣t Bản không công khai về mu ̣c tiêu này nhưng các ho ̣ c giả Nhâ ̣t Bản đều thẳng thắn thừa nhận ODA chính là công cụ ngoại giao của Nhật Bản Điều này hoàn toàn đúng vào thời điểm khi mà Nhâ ̣t Bản nối la ̣i quan hê ̣ với Viê ̣t Nam và ODA là cách thức để tiếp tu ̣c duy trì và phá t triển mối quan
hê ̣ này
Thứ hai, khi mà quan hê ̣ hai nước đã được khai thông và hai phía đã tỏ
ra sẵn sàng để hợp tác và mong muốn thúc đẩy hơn nữa quan hê ̣ hai nước thì ODA la ̣i được tăng lên khá nhanh thể hiê ̣n ở giai đoa ̣ n 1995-1999 Đây cũng là thời kỳ mà Việt Nam đạt được nhiều thành tựu trên tất cả các lĩnh vực Đặc biê ̣t trong sự chao đảo của các nền kinh tế Châu Á bởi khủng hoảng tài chính
- tiền tệ, Nhâ ̣t Bản buô ̣c phải điều chỉnh lại nhiều mối quan hệ hợp tác kinh tế với các nước, nhất là các nước Đông Nam Á Hơn nữa, mô ̣t khi các ba ̣n hàng và thị trường ổn định của Nhật Bản ở khu vực này đang chịu nhiều biến động bất ổn và chứa đựng nhiều rủ i ro thì viê ̣c ta ̣o lâ ̣p và củng cố thi ̣ trường mời như Viê ̣t Nam và Trung Quốc là hướng điều chỉnh hết sức cần thiết Vì vậy
mô ̣t lần nữa vai trò tiên phong của ODA la ̣i được sử du ̣ng và đây cũng là mô ̣t lý do hết sức quan trọng để khối lượng ODA cho Việt Nam tăng lên
Giai đoa ̣n 2000-2004, quy mô ODA có dấu hiê ̣u giảm sút Điều này được phía Nhâ ̣t công khai rằng, đây là thời điểm mà ODA nói chung của Nhâ ̣t Bản đã bị cắt giảm Nhâ ̣t Bản thông báo h ọ buộc phải cắt giảm ODA cho các nước là do kinh tế nước này gă ̣p nhiều khó khăn Đây quả thực là mô ̣t thực tế
Trang 38Hỗ trợ phát triển chính thức của Nhật Bản và tác động đến quan hệ Việt - Nhật
khi mà Nhâ ̣t Bản phải vâ ̣t lô ̣n với cơn suy thoái kinh tế kéo dài Vì vậy, chính phủ buô ̣c phải cắt giảm các khoản chi tiêu trong đó có ODA
Đến năm 2005, quy mô viê ̣n trợ được cải thiê ̣n trở la ̣i Khối lượng ODA tăng cho thấy Nhâ ̣t Bản tiếp tu ̣c thực hiê ̣n các cam kết ủng hô ̣ và giúp đỡ Viê ̣t Nam Những biểu hiê ̣n về viê ̣c duy trì ổn đi ̣nh ODA cho Viê ̣t Nam đã phản ánh nguyên nhân sâu xa là viện trợ của Nhật Bản đã đáp ứng lợi ích của Nhâ ̣t Bản Đó là lợi ích về mở rô ̣ng và tăng cường quan hê ̣ với Viê ̣t Nam trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, ngoại giao Đó là sự thể hiê ̣n vai trò và vị trí của Nhật Bản trên trường quốc tế và khu vực Đồng thời thông qua viê ̣n trợ, Nhâ ̣t Bản tìm kiếm sự liên kết và ủng hô ̣ của Viê ̣t Nam , đây có thể là mu ̣c tiêu lâu dài mà Nh ật Bản mong muốn đạt được Ngoài ra, nhu cầu của phía Việt Nam về sự cần thiết có sự hỗ trợ của các nước cũng là một nguyên nhân quan tro ̣ng làm cho viê ̣c thực hiê ̣n các cam kết viê ̣n trợ của Nhâ ̣t Bản được thực hiện khá suôn sẻ
Tuy nhiên gần đây cũng có một sự kiện làm Nhật Bản tạm ngừng cấp mới ODA cho Viê ̣t Nam (vốn vay ưu đãi), đó là vu ̣ viê ̣c tham nhũng xảy ra tại Dự án đại lộ Đông - Tây năm 2008 Vụ việc này đã gây phẫn nộ trong nhân dân hai nước, đă ̣c biê ̣t là nhân dân Nhâ ̣t Bản bởi nguồn vốn ODA được hình thành từ số tiền đóng thuế của nhân dân Nhật Bản
Giải quyết vấn đề này chính phủ Việt Nam cũng tỏ thái độ kiên quyết trong vấn đề chống tham nhũng và các hành vi vi phạm của các cá nhân Việt Nam liên quan, đồng thờ i rất chủ đô ̣ng hợp tác cùng chính phủ Nhâ ̣t để tiến hành điều tra xử lý vụ việc Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng phát biểu tại H ội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ (CG) cho VN diễn ra ngày 4/12/2008 cũng nhấn mạnh: “Việt Nam trân trọng từng đồng vốn ODA và bảo đảm thực hiện các cam kết với trách nhiệm cao với các nhà tài trợ Chính phủ Việt Nam sẽ
nỗ lực và tập trung chỉ đạo để nâng cao hơn nữa hiệu quả sử dụng nguồn vốn ODA” [26] Hai bên Viê ̣t Nam và Nhâ ̣t bản còn thành lập Uỷ ban hợp tác
Trang 39Hỗ trợ phát triển chính thức của Nhật Bản và tác động đến quan hệ Việt - Nhật
phòng chống tham nhũng ở những dự án ODA Do những nỗ lực như trên ngày 23/2/2009, Nhật Bản tuyên bố nối la ̣i viê ̣n trợ cho chính phủ Viê ̣t Nam
Vụ việc xảy ra với Dự án Đạ i lô ̣ Đông - Tây không chỉ gây thiê ̣t ha ̣i về kinh tế mà còn gây ảnh hưởng xấu tới hình ảnh của đất nước Viê ̣t Nam và làm tổn ha ̣i đến uy tín quốc gia Đây là bài ho ̣c để cả hai bên hoàn thiê ̣n cơ chế đấu thầu cũng như cơ chế quản lý các dự án ODA
Như vâ ̣y dù rằng những dự án cu ̣ thể cũng như nhiều khâu tr ong quá trình thực hiện viện trợ còn khá nhiều vấn đề cần xem xét , song về cơ bản ODA đã đáp ứng khá tốt yêu cầu và lợi ích của Viê ̣t Nam
Điều cần lưu ý, sự liên tục gia tăng ODA dành cho Việt Nam của Nhật Bản như nêu trên đã diễn ra trong bối cảnh chính trị - kinh tế - xã hội Nhật Bản những năm gần đây và cả hiện nay đang gặp rất nhiều khó khăn, càng chứng tỏ Chính phủ và nhân dân Nhật Bản vẫn đặc biệt quan tâm đến sự phát triển của Việt Nam Qua đó càng khẳng định rằng, quan hệ hợp tác phát triển Việt - Nhật nói chung và hợp tác trong lĩnh vực kinh tế giữa hai nước nói riêng đã và đang diễn ra rất tốt đẹp
2.1.3 Các hình thức thực hiện ODA cu ̉ a chính phủ Nhâ ̣t Bản
Viê ̣n trợ chính thức song phương của Nhâ ̣t Bản được thực hiê ̣n ba hình thức: Hợp tác vốn vay , Hợp tác viê ̣n trợ không hoàn la ̣i và Hợp tác kỹ thuật Để liên kết thực hiê ̣n các hình thức ODA đó, bốn cơ quan là Đa ̣i sứ quán Nhâ ̣t Bản tại Việt Nam , Cơ quan Hợp tác Quốc tế Nhâ ̣t Bản (JICA), Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhâ ̣t Bản (JBIC), hiê ̣n nay đã sát nhâ ̣p vào với JICA và Tổ chức Xúc tiến Thương ma ̣i Nhâ ̣t Bản (JETRO) để hình thành “Tổ công tác về ODA” Ngoài ra, khi thực hiê ̣n ODA, song song với viê ̣c thực hiê ̣n các dự án phù hợp với kế hoạch phát triển của Việt Nam , Nhâ ̣t Bản chú tro ̣ng viê ̣c hợp tác viện trợ với các nhà tài trợ có liên quan
Trang 40Hỗ trợ phát triển chính thức của Nhật Bản và tác động đến quan hệ Việt - Nhật
Cơ cấu và tỷ lê ̣ hỗ trợ giữa ba loa ̣i hình vốn vay ưu đãi , viê ̣n trợ không hoàn lại và hỗ trợ kỹ thuật được thể hiện trong hình và bảng sau:
Bảng 2.2 Cơ cấu viện trợ ODA của Nhật Bản trong giai đoạn 1993 - 2007
Đơn vi ̣: Triê ̣u USD
Hỗ trợ kĩ thuật Tổng số