1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu mô hình phối hợp bổ sung giữa các thư viện trường đại học trên địa bàn Hà Nội

122 686 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- ĐOÀN THỊ THU NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH PHỐI HỢP BỔ SUNG TÀI LIỆU GIỮA CÁC THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

ĐOÀN THỊ THU

NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH PHỐI HỢP BỔ SUNG

TÀI LIỆU GIỮA CÁC THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ THÔNG TIN - THƯ VIỆN

Hà Nội - 2011

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

ĐOÀN THỊ THU

NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH PHỐI HỢP BỔ SUNG

TÀI LIỆU GIỮA CÁC THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI

Chuyên ngành: Khoa học Thư viện

Mã số: 60 32 20 TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ THÔNG TIN - THƯ VIỆN

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Viết Nghĩa

Hà Nội - 2011

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để thực hiện hoàn thành đề tài luận văn “ Nghiên cứu mô hình phối hợp bổ sung giữa các thư viện trường đại học trên địa bàn Hà Nội ” tác giả đã nhận được

sự hướng dẫn và giúp đỡ nhiệt tình của nhiều tập thể và cá nhân

Trước hết, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các quý thầy cô giảng dạy ngành Thạc sỹ Khoa học Thư viện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn Hà Nội

đã tận tình dạy dỗ, truyền đạt những kiến thức, kinh nghiệm quý báu và tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài

Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy hướng dẫn - TS Nguyễn Viết Nghĩa, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ để đề tài có thể được thực hiện và hoàn thành

Tác giả xin trân trọng cảm ơn những đồng nghiệp đang công tác tại các cơ quan, thư viện trên địa bàn Hà Nội đã cộng tác, giúp đỡ tác giả trong quá trình thu thập thông tin, thực hiện luận văn

Xin trân trọng gửi đến gia đình, bạn bè, người thân những tình cảm chân thành vì

đã luôn giúp đỡ, động viên kịp thời trong suốt khoá học cũng như quá trình tác giả thực hiện luận văn

Mặc dù đã cố gắng hoàn thành luận văn với tất cả sự nỗ lực của bản thân, nhưng luận văn chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Kính mong nhận được những ý kiến đóng góp của quý thầy cô

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 25/06/2011

Tác giả

Đoàn Thị Thu

Trang 4

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ 8

MỞ ĐẦU 9

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHỐI HỢP BỔ SUNG TÀI LIỆU GIỮA CÁC THƯ VIỆN VÀ TỔNG QUAN VỀ THƯ VIỆN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI 16

1.1 Một số vấn đề lý luận về phối hợp bổ sung tài liệu 16

1.1.1 Khái niệm phối hợp bổ sung tài liệu 16

1.1.2 Lợi ích của phối hợp bổ sung 21

1.1.3 Các mô hình phối hợp bổ sung tài liệu 26

1.2 Khái quát về thư viện các trường đại học trên địa bàn Hà Nội 32

1.3 Ý nghĩa của phối hợp bổ sung tài liệu giữa các thư viện các trường đại học trên địa bàn Hà Nội 40

Chương 2: KINH NGHIỆM PHỐI HỢP BỔ SUNG CỦA MỘT SỐ THƯ VIỆN VÀ KHẢ NĂNG PHỐI HỢP BỔ SUNG TÀI LIỆU GIỮA CÁC THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI 47

2.1 Kinh nghiệm tổ chức phối hợp bổ sung tài liệu của một số thư viện 47

2.1.1 Kinh nghiệm tổ chức Liên hợp thư viện của một số nước trên thế giới 47

2.1.1.1 Liên hợp thư viện tại Hoa Kỳ 47

2.1.1.2 Liên hợp thư viện tại Cộng hòa Liên bang Đức 48

2.1.1.3 Liên hợp thư viện tại Canada 50

2.1.1.4 Liên hợp thư viện tại Hy Lạp 52

2.1.1.5 Liên hợp thư viện tại Đài Loan 54

2.1.1.6 Liên hợp thư viện tại Hàn Quốc 55

2.1.1.7 Liên hợp của Liên hợp (Consortia of Consortium) 56

2.1.2 Kinh nghiệm tổ chức Liên hợp bổ sung tài liệu ở Việt Nam 57

2.2 Nhu cầu phối hợp bổ sung giữa các thư viện trường trên địa bàn Hà Nội 65

2.2.1 Diện bổ sung của thư viện các trường đại học trên địa bàn Hà Nội 65

2.2.1.1 Diện bổ sung tài liệu của khối các trường khoa học tự nhiên 66

2.2.1.2 Diện bổ sung tài liệu của khối các trường khoa học kỹ thuật, khoa học ứng dụng 67

2.2.1.3 Diện bổ sung tài liệu của khối các trường khoa học xã hội 68

2.2.2 Mức độ giao thoa của diện bổ sung giữa thư viện các trường đại học trên địa bàn Hà Nội 69

Trang 5

2.3 Điều kiện để hình thành Liên hợp phối hợp bổ sung tài liệu giữa các thư

viện trường đại học trên địa bàn Hà Nội 75

2.3.1 Điều kiện cần 75

2.3.1.1 Cơ sở pháp lý tiến hành phối hợp bổ sung và có một cơ quan Nhà nước đứng ra bảo trợ 75

2.3.1.2 Nhận thức của các thư viện trường đại học đối với công tác phối hợp bổ sung tài liệu 78

2.3.1.3 Kinh phí bổ sung tài liệu 80

2.3.1.4 Nhu cầu thông tin của các thư viện thành viên gần giống nhau 82

2.3.2 Điều kiện đủ 83

2.3.2.1 Cơ sở hạ tầng về công nghệ, viễn thông 83

2.3.2.2 Nguồn nhân lực của các thư viện thành viên 85

2.3.2.3 Hoạt động tuyên truyền quảng bá 88

Chương 3: XÂY DỰNG MÔ HÌNH PHỐI HỢP BỔ SUNG GIỮA CÁC THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI VÀ MỘT SỐ KHUYẾN NGHỊ 93

3.1 Xây dựng mô hình phối hợp bổ sung tài liệu 93

3.1.1 Mô hình phối hợp bổ sung tập trung (TOP-DOWN) 93

3.1.2 Mô hình phối hợp bổ sung phân tán (BOTOM-UP) 100

3.1.3 Quản lý mô hình phối hợp bổ sung tài liệu 104

3.2 Một số khuyến nghị nhằm tiến hành phối hợp bổ sung tài liệu giữa các thư viện trên địa bàn Hà Nội 105

3.2.1 Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của phối hợp bổ sung của các thư viện 105

3.2.2 Tổ chức các lớp tập huấn, trao đổi kinh nghiệm về phối hợp 108

bổ sung 108

3.2.3 Tìm kiếm nguồn tài trợ từ các tổ chức phi chính phủ, các tổ chức quốc tế 108 3.2.4 Cử các đoàn đi khảo sát kinh nghiệm của các mô hình Liên hợp thư viện thành công trên thế giới 109

3.2.5 Bổ sung tài liệu điện tử trong các thư viện 111

3.2.6 Thúc đẩy nhu cầu sử dụng tài liệu, đặc biệt là tài liệu tiếng nước ngoài 111

3.2.7 Xây dựng CSDL toàn văn sách, bài tạp chí tiếng Việt 112

KẾT LUẬN 114

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 115

PHỤC LỤC 119

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU, BIỂU ĐỒ VÀ HÌNH VẼ

Bảng 1.1 Ngân sách tiết kiệm theo hợp đồng với Hiệp hội Hoá học Mỹ 15 Bảng 1.2 Ngân sách tiết kiệm theo hợp đồng với Thư viện số ACM 15 Bảng 1.3 Tiết kiệm ngân sách của Liên hợp thông tin khoa học y học

Toronto

16 Bảng 1.4 Vèn tµi liÖu cña Trung t©m th«ng tin Th- viÖn §¹i häc Quèc gia

Bảng 2.3 Mức độ giao thoa diện bổ sung trong ngành Khoa học Tự nhiên 57

Bảng 2.4 Mức độ giao thoa diện bổ sung trong ngành Khoa học Kỹ thuật 58 Bảng 2.5 Mức độ giao thoa diện bổ sung trong ngành Khoa học Xã hội 59 Bảng 2.6 Ngân sách hoạt động và bổ sung tài liệu tại một số thư viện 67 Bảng 2.7 Kinh phí đóng góp của một số thư viện trường đại học để mua

CSDL Proquest central (năm 2010)

Hình 3.1 Mô hình Liên hợp thư viện các trường đại học trên địa bàn HN 88

Hình 3.2 Các giai đoạn phát triển của Liên hợp thư viện các trường đại học

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hà Nội là trung tâm kinh tế, văn hóa, chính trị lớn nhất của cả nước, đồng thời cũng là nơi tập trung nhiều nhất các trường đại học – nơi đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao cho cả nước Thư viện các trường đại học đóng vai trò quan trọng trong việc trong việc cung cấp thông tin hỗ trợ việc giảng dạy, nghiên cứu và học tập của cán bộ, giảng viên và sinh viên trường, giúp đào tạo một đội ngũ cán bộ tương lai có trình độ cao cho đất nước

Bổ sung tài liệu là khâu quan trọng trong hoạt động nghiệp vụ của thư viện Bổ sung quyết định sự hình thành và phát triển vốn tài liệu và ảnh hưởng đến toàn bộ các khâu công tác khác trong thư viện Hiệu quả phục vụ người đọc phụ thuộc rất nhiều vào công tác bổ sung

Do hiện tượng bùng nổ thông tin hiện nay dẫn tới số lượng tài liệu ngày càng tăng theo cấp lũy thừa, hơn nữa giá cả tài liệu cũng tăng nhanh chóng trong khi kinh phí cho công tác bổ sung tài liệu ở các thư viện không tăng đáng kể, do

đó cần có một chính sách bổ sung hữu hiệu, tiết kiệm

Để nâng cao hiệu quả phục vụ người dùng tin trong xã hội thông tin hiện nay, các thư viện đang có xu hướng phối hợp lại với nhau để cùng bổ sung tài liệu (đặc biệt là tài liệu đắt tiền), chia sẻ nguồn lực thông tin giữa các đơn vị

Các cơ quan Thông tin - Thư viện phải phối hợp lại với nhau trong công tác bổ sung vì một số lý do cơ bản sau:

- Do hiện tượng bùng nổ thông tin, xuất bản phẩm quá nhiều và tăng quá nhanh, không một cơ quan Thông tin - Thư viện nào đủ sức đáp ứng nhu cầu bạn đọc trong khi nhu cầu của bạn đọc ngày càng tăng do trình độ cũng như đòi hỏi của xã hội đối với chương trình đào tạo

- Kinh phí bổ sung tài liệu của các thư viện trường đại học dù có tăng hàng năm nhưng tăng không đáng kể so với việc gia tăng giá thành tài liệu khiến cho các thư viện gặp khó khăn trong bổ sung vì quy mô đào tạo của trường được

Trang 8

mở rộng, người dùng tin tăng nhưng số tài liệu bổ sung ngày càng ít do giá thành cao

- Do mở rộng quy mô và mã ngành đào tạo, các trường đại học trên địa bàn Hà Nội hiện nay cùng đào tạo nhiều mã ngành giống nhau Chính vì vậy, nếu không có sự phối hợp, hợp tác bổ sung, các thư viện trường đại học sẽ rơi vào tình trạng biệt lập, khép kín thông tin trong một cơ quan, trùng lặp, gây lãng phí thông tin

- Nhu cầu tin của người dùng tin ở các trường đại học ngày càng tăng cao

về cả số lượng và chất lượng, bên cạnh các tài liệu in, tài liệu tiếng Việt, người dùng tin ngày càng quan tâm hơn đến nguồn tin điện tử, tài liệu tiếng nước ngoài Đặc điểm của dạng nguồn tin này thường có giá thành rất cao Vì vậy nếu các thư viện hoạt động riêng lẻ trong bổ sung thì sẽ khó có thể phục vụ, thỏa mãn tốt nhu cầu tin của người dùng tin

- Việc phối hợp bổ sung sẽ giúp phát huy được thế mạnh bổ sung của từng địa phương, từng khu vực, từng trường,… sử dụng hợp lý công sức, tiền bạc và phương tiện giữa các cơ quan Thông tin – Thư viện

Tuy nhiên, trong thời gian qua hoạt động phối hợp bổ sung giữa các thư viện trường đại học còn chưa được chú trọng, nhiều thư viện đào tạo có diện bổ sung giống hoặc gần nhau nhưng hoạt động độc lập, không có sự liên kết hay chia sẻ nguồn lực thông tin với các thư viện khác Chính vì vậy, hoạt động phối hợp bổ sung giữa các thư viện trường đại học trên địa bàn Hà Nội là một hoạt động cần thiết giúp người dùng tin khai thác triệt để vốn tài liệu của các thư viện này

2 Tình hình nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu về mảng thư viện các trường đại học trên địa bàn Hà Nội cho đến nay đã nhận được nhiều sự đầu tư, nghiên cứu của các tác giả Tuy nhiên, cho đến nay hầu hết các đề tài nghiên cứu thường tập trung vào các vấn đề

Trang 9

như: tổ chức và hoạt động, công tác bảo quản vốn tài liệu, công tác phục vụ, bộ máy tra cứu, tăng cường nguồn lực thông tin, công tác đào tạo cán bộ thư viện…

Đề tài nghiên cứu về mảng phối hợp bổ sung hiện nay cũng bắt đầu nhận được sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều tác giả, bao gồm các tài liệu đã xuất bản, các tập bài giảng của giảng viên đã được nghiệm thu và một số luận văn tốt nghiệp:

- Tài liệu đã xuất bản: “Phát triển vốn tài liệu trong thư viện và cơ quan thông tin” của hai tác giả Nguyễn Văn Rính và Nguyễn Viết Nghĩa, nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2007

- Tập bài giảng “Phát triển vốn tài liệu trong các cơ quan Thông tin-thư viện” của tác giả Tô Thị Hiền, đã được Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn nghiệm thu năm 2006

- Bài báo: “Tăng cường phối hợp hoạt động giữa các cơ quan Thông

tin-thư viện”, Phạm Thế Khang, Lê Văn Viết, Tạp chí tin-thư viện, số 3, 2006

- Bài báo: “Phương pháp luận xây dựng chính sách phát triển nguồn tin”,

Nguyễn Viết Nghĩa, Tạp chí Thông tin tư liệu, số 1, 2001

Các tài liệu này tuy đã khẳng định được lý do, tầm quan trọng của công tác phối hợp bổ sung, các hình thức phối hợp bổ sung, giới thiệu về công tác phối hợp bổ sung trên Thế giới và ở Việt Nam…, có ý nghĩa rất lớn về mặt lý luận, song do giới hạn về phạm vi nghiên cứu nên chưa đi sâu vào thực trạng công tác phối hợp bổ sung của từng khối cơ quan / đơn vị tham gia phối hợp bổ sung

- Luận văn cao học “Phối hợp bổ sung giữa các thư viện chủ chốt trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Phạm Thị Minh Tâm, bảo vệ năm 1996, tại trường Đại học Văn hóa Hà Nội Đề tài đã đưa ra cơ sở khoa học và thực tiễn của chính sách phối hợp bổ sung, phân tích thực trạng phối hợp bổ sung, các yếu

tố ảnh hưởng, các nguyên tắc lựa chọn và đưa ra một số biện pháp thực hiện chính sách phối hợp bổ sung trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Tuy nhiên, đề

Trang 10

tài chưa phân tích sâu thực trạng công tác phối hợp bổ sung, chưa phân chia được diện bổ sung giữa các nhóm cơ quan Thông tin-thư viện (cơ quan nghiên cứu, thư viện trường học…)

- Luận văn cao học “Hoạt động chia sẻ nguồn lực thông tin giữa các thư viện thuộc hệ thống thư viện trong Quân đội nhân dân Việt Nam” của tác giả Nguyễn Thúy Cúc, bảo vệ năm 2005, tại trường Đại học Văn hóa Hà Nội Đề tài

đã đi sâu phân tích nhu cầu chia sẻ nguồn lực thông tin giữa các thư viện thuộc

hệ thống thư viện trong Quân đội nhân dân Việt Nam, thực trạng chia sẻ nguồn lực thông tin giữa các thư viện đầu mối trong hệ thống thư viện quân đội, đưa ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả chia sẻ nguồn lực thông tin giữa thư viện trong hệ thống thư viện quân đội

- Đề tài nghiên cứu cấp Bộ “ Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn xây dựng và phát triển Liên hợp thư viện Việt Nam để chia sẻ nguồn tin Khoa học và Công nghệ” của nhóm nghiên cứu Vũ Anh Tuấn, Đặng Xuân Chế, Đào Mạnh Thắng, Trung tâm Khoa học và Công nghệ Quốc gia, năm 2006 Đề tài đã đi sâu nghiên cứu kinh nghiệm phối hợp bổ sung của các thư viện lớn trên thế giới, các điều kiện xây dựng Liên hợp thư viện tại Việt Nam Tuy nhiên, đề tài mới chỉ tập trung nghiên cứu về diện bổ sung tài liệu khoa học công nghệ

Tuy nhiên, riêng về mảng phối hợp bổ sung, chia sẻ nguồn lực thông tin tại các thư viện trường đại học trên địa bàn Hà Nội đến nay vẫn chưa có sự đầu

tư nghiên cứu của tác giả nào Với mong muốn đóng góp một phần kiến thức khiêm tốn của mình vào việc tìm hiểu thực trạng công tác phối hợp bổ sung giữa các thư viện trường đại học trên địa bàn Hà Nội nhằm tìm hiểu giải pháp nâng cao chất lượng phối hợp bổ sung, tôi chọn đề tài “Nghiên cứu mô hình phối hợp

bổ sung giữa các thư viện trường đại học trên địa bàn Hà Nội” làm đề tài luận văn thạc sĩ Thông tin – Thư viện của mình

Trang 11

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu: Tìm ra mô hình phối hợp bổ sung phù hợp giữa các

thư viện đại học trên địa bàn Hà Nội để thỏa mãn tốt nhất nhu cầu tin của người dùng tin

Nhiệm vụ nghiên cứu:

+ Nghiên cứu những vấn đề lý luận về phối hợp bổ sung: khái niệm, lợi ích và các mô hình phối hợp bổ sung

+ Nghiên cứu khái quát về các thư viện trường đại học trên địa bàn Hà Nội: tình hình hoạt động, diện bổ sung và lợi ích khi tham gia phối hợp bổ sung

+ Nghiên cứu kinh nghiệm phối hợp bổ sung của một số thư viện trên thế giới và Việt Nam

+ Nghiên cứu về điều kiện tiến hành phối hợp bổ sung giữa các thư viện trường đại học trên địa bàn Hà Nội

+ Nghiên cứu đề xuất mô hình phối hợp bổ sung giữa các thư viện trường đại học trên địa bàn Hà Nội

+ Nghiên cứu, đề xuất một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả phối hợp bổ sung giữa các thư viện trường đại học trên địa bàn Hà Nội

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: công tác phối hợp bổ sung giữa các thư viện

trường đại học trên địa bàn Hà Nội

Phạm vi nghiên cứu:

- Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu trong các thư viện trường đại học dân sự (không bao gồm các trường thuộc Bộ Quốc phòng và Bộ Công an quản lý)

- Về thời gian, giới hạn nghiên cứu từ năm 2003 đến nay (là năm các thư viện trong hệ thống bắt đầu tham gia công tác phối hợp bổ sung.)

5 Giả thuyết nghiên cứu

Trang 12

Có thể tiến hành công tác phối hợp bổ sung giữa các thư viện trường đại học trên địa bàn Hà Nội

6 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong quá trình thực hiện luận văn là:

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu

- Phương pháp phỏng vấn

- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

- Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp

7 Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của đề tài

- Ý nghĩa lý luận: góp phần làm sáng tỏ các vấn đề lý luận của công tác

phối hợp bổ sung giữa các thư viện trường đại học trên địa bàn Hà Nội

- Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn đưa ra những mô hình có tính khả thi

nhằm nâng cao hiệu quả công tác phối hợp bổ sung giữa các thư viện trường đại học trên địa bàn Hà Nội

8 Dự kiến kết quả nghiên cứu

Sau khi nghiên cứu, luận văn sẽ đưa ra một số mô hình, giải pháp giúp nâng cao hiệu quả công tác phối hợp bổ sung giữa thư viện các trường đại học trên địa bàn Hà Nội

9 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục, Luận văn được chia thành 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề chung về phối hợp bổ sung tài liệu giữa các thư viện trường và tổng quan về thư viện các trường đại học trên địa bàn Hà Nội

Trang 13

Chương 2: Kinh nghiệm phối hợp bổ sung của một số thư viện và khả năng phối hợp bổ sung tài liệu giữa các thư viện trường đại học trên địa bàn Hà Nội

Chương 3: Xây dựng mô hình phối hợp bổ sung giữa các thư viện trường đại học trên địa bàn Hà Nội và một số khuyến nghị

Trang 14

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHỐI HỢP BỔ SUNG TÀI LIỆU GIỮA CÁC THƯ VIỆN VÀ TỔNG QUAN VỀ THƯ VIỆN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TRÊN ĐỊA BÀN HÀ NỘI

1.1 Một số vấn đề lý luận về phối hợp bổ sung tài liệu

1.1.1 Khái niệm phối hợp bổ sung tài liệu

Chúng ta đang chứng kiến hiện tượng bùng nổ thông tin với biểu hiện dễ thấy nhất là số lượng tài liệu được xuất bản tăng nhanh theo quy luật hàm số lũy thừa Dưới sự tác động của công nghệ thông tin và truyền thông, đặc biệt là internet, sự bùng nổ thông tin càng trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết Số xuất bản phẩm được xuất bản ra quá nhiều và tăng lên với tốc độ chóng mặt đang làm đau đầu những người phụ trách công tác bổ sung trong các thư viện Mặt khác, các thống kê trong nhiều thập kỷ cho thấy, do nhiều nguyên nhân khác nhau, giá

cả tài liệu luôn luôn tăng lên, vượt quá khả năng kinh phí của hầu hết các thư viện trên thế giới Điều này dẫn đến một nghịch lý là mặc dù các thư viện năm sau chi nhiều tiền hơn năm trước nhưng lại thường mua được số tài liệu ít hơn, hiện tượng này thường được các nhà thư viện học nhắc tới với thuật ngữ “Spent more for less” có nghĩa là chi nhiều tiền hơn nhưng lại mua được ít tài liệu hơn Trong hoàn cảnh đó, có thể khẳng định rằng, không có bất kỳ một thư viện nào,

kể cả các thư viện lớn trong các nước công nghiệp giàu có, có thể bổ sung được hết tài liệu mà bạn đọc của thư viện yêu cầu Để khắc phục tình trạng này, các thư viện cũng như các cơ quan thông tin không có cách nào khác là phải liên kết, phối hợp với nhau trong công tác bổ sung tài liệu.[20]

Phối hợp bổ sung tài liệu giữa các thư viện không phải là một vấn đề mới, từ thế kỷ XIX, khi các nhà thư viện học phát hiện ra rằng ý tưởng xây dựng vốn tài liệu của thư viện phải toàn diện, không giới hạn, gồm mọi khoa học, mọi ngôn ngữ, mọi vật mang tin là bất khả thi thì người ta đã thấy sự cần thiết phải

Trang 15

phối hợp bổ sung giữa các thư viện Nhiều kế hoạch phối hợp bổ sung đã ra đời với nhiều qui mô khác nhau như quốc tế, quốc gia, địa phương, như kế hoạch Farmington ở Mỹ với 60 thư viện thành viên, ở Cộng hòa Liên bang Đức với 36 thành viên, kế hoạch phối hợp bổ sung giữa các thư viện công cộng, thư viện các trường đại học thành phố London Ích lợi của các kế hoạch phối hợp bổ sung đem lại cho các thư viện là rất to lớn Trước đây, với công nghệ lạc hậu, các thư viện còn xử lý những khâu nghiệp vụ bằng lao động thủ công nên các việc phối hợp bổ sung giữa các thư viện thường tiêu hao nhiều sức lực và thời gian và cũng kém hiệu quả Ngày nay, với sự ra đời của tài liệu điện tử, với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin trong quy trình tác nghiệp của các thư viện, việc bổ sung giữa các thư viện đã được thực hiện nhanh chóng và đạt được những kết quả to lớn không ngờ [25]

Phối hợp bổ sung là một thuật ngữ chung chỉ sự hợp tác giữa các thư viện trong việc phân chia diện bổ sung tài liệu, trao đổi danh mục tài liệu đặt mua, cùng nhau đàm phán với các nhà xuất bản để mua được tài liệu với giá hợp lý và tiến hành chia sẻ thông qua việc cho mượn giữa các thư viện, giúp thỏa mãn tốt hơn nhu cầu của người dùng tin Như vậy, mục đích chính của phối hợp bổ sung

là nâng cao hiệu quả sử dụng kinh phí, giảm đến mức thấp nhất việc bổ sung trùng lặp, để sao cho với một nguồn kinh phí đã có, các thư viện có thể thỏa mãn tốt nhất nhu cầu thông tin của bạn đọc

Một nguyên tắc hàng đầu trong việc phối hợp bổ sung và chia sẻ nguồn lực thông tin là nguyên tắc tự nguyện của các thư viện Phối hợp bổ sung chỉ có thể thành công khi được tiến hành với sự thống nhất cao giữa các thư viện tham gia Thông thường các thư viện tham gia phối hợp bổ sung và chia sẻ thông tin phải ký kết một văn bản quy định những nghĩa vụ và quyền lợi của các thư viện tham gia

Trang 16

Sự hợp tác giữa các thư viện tồn tại dưới nhiều hình thức, trong hầu hết các nước trên thế giới và diễn ra nhiều năm qua Tương tự như vậy, việc phối hợp bổ sung giữa các thư viện cũng có thể được thực hiện ở những cấp độ khác nhau sau đây:

 Liên kết, chia sẻ thông tin:

Đây là mức độ thấp nhất của hình thức phối hợp bổ sung Liên kết, chia sẻ thông tin là cho sử dụng vốn tài liệu của nhau, mà chưa có sự thỏa thuận về sự phối hợp và hợp tác

Trong liên kết và chia sẻ, giao ước là cơ chế của sự hợp tác Nó quy định quyền hạn và trách nhiệm của các thành viên hợp tác và những mối liên hệ giữa chúng, phân biệt với phối hợp bằng quan hệ pháp lý Song tính độc lập của thư viện vẫn đảm bảo tất cả những gì không liên quan đến những điều khoản trong thỏa ước: đó là tư cách pháp nhân trước đây, nghĩa là độc lập về tài chính và các vấn đề pháp lý, sự phụ thuộc theo ngành dọc, cơ cấu của vốn Trách nhiệm của các bên được xem xét định kỳ trong Hội đồng hình thành vốn

 Bổ sung tập trung

Trong bổ sung tập trung, các vốn tài liệu và các quá trình xây dựng vốn tài liệu được tập trung trong tổ chức thống nhất Để có được sự mới mẻ về chất trong vốn tài liệu thống nhất, các vốn của các thư viện riêng mất tính độc lập, trở thành bộ phận Những vốn trước đây được xác định lại diện và chuyên môn hóa sâu hơn Quy trình hình thành vốn cũng thay đổi, xây dựng bộ phận tương tự để phục vụ cho các bộ phận cấu thành của vốn thống nhất.[14]

 Liên hợp thư viện

Gần đây, một hình thức phối hợp bổ sung được các thư viện trong và ngoài nước hay dùng là hình thành các Liên hợp thư viện (consortium of libraries) Khái niệm consortium ra đời bắt nguồn từ lĩnh vực công nghiệp

Trang 17

Consortium có nghĩa là liên kết, Liên hợp để tạo thành một tổ hợp các đối tác có cùng mục đích hoạt động Trong ngành công nghiệp, đã từng có nhiều consortium xuyên quốc gia, ảnh hưởng rất lớn đề nhiều lĩnh vực như các consortium trong ngành thép hay consortium trong ngành dầu lửa ở Hoa Kỳ [20]

Các tài liệu xuất bản trong lĩnh vực khoa học thư viện đã chứng minh là khái niệm Liên hợp thư viện không phải là mới Tuy nhiên, các thư viện đã không sử dụng chúng rộng rãi cho đến những năm 1980 Liên hợp thư viện là một nhóm của hai hay nhiều thư viện đồng ý hợp tác để thực hiện cùng một mục tiêu nào đó, thông thường là chia sẻ tài nguyên Liên hợp thư viện có liên quan đến hợp tác, phối hợp và cộng tác giữa các thư viện với mục đích để chia sẻ thông tin

Theo định nghĩa của Từ điển Tiếng Anh Oxford, thì thuật ngữ Liên hợp có

nghĩa là “sự hợp tác nhất thời của một số cơ quan, công ty, v.v… vì một mục đích chung Đó là một tập hợp gồm các tổ chức cùng loại tham gia sản xuất và

phục vụ những sản phẩm chung, và để cung cấp dịch vụ vì một mục đích cụ thể của người dùng” Còn theo từ điển trực tuyến Cambridge, Liên hợp là “một tổ chức của một số công ty hay ngân hàng cùng nhau tập hợp lại thành một nhóm

để phục vụ cho một mục đích chung”

Thuật ngữ Liên hợp thư viện lần đầu tiên xuất hiện trong lĩnh vực khoa học thông tin thư viện vào những năm 1950-1960 (Kopp, J.J., 1998) Khái niệm

Liên hợp thư viện được hiểu là một “hội” hay “hiệp hội”, tức là một nhóm các

thư viện cùng nhau tập hợp lại vì một mục đích chung, để đạt được những mục tiêu mà bản thân từng thư viện riêng rẽ không thể đạt được Cụ thể hơn, Liên hợp thư viện là một hoạt động chung nhằm cung cấp và chia sẻ về chuyên môn, truy cập vào các nguồn tin điện tử và nguồn tin in mới, thúc đẩy đào tạo cán bộ thông tin, và tìm kiếm các nguồn tài trợ Liên hợp thư viện có thể đứng ra đại diện cho các thành viên tiến hành đàm phán với các nhà xuất bản hoặc vận động với

Trang 18

Chính phủ để phân bổ kinh phí nhiều hơn cho các thư viện, góp phần nâng cao vị trí của ngành thông tin thư viện Bên cạnh đó, Liên hợp thư viện cũng là một khuôn khổ để các thư viện chia sẻ các nguồn lực về thông tin và con người của mình nhằm nâng cao hiệu quả của các nguồn lực đó

Theo Từ điển ALA: Liên hợp thư viện (Library consortium) là một hội

các thư viện chính thức họp lại và thường giới hạn trong từng vùng, tùy theo số lượng thư viện, loại thư viện, hoặc đề mục mà thư viện chuyên chú đến, thành lập để phát triển và thực thi việc sử dụng chung tài liệu giữa các thư viện hội viên, và do đó nâng cao dịch vụ thư viện cũng như nguồn tư liệu của thư viện để phục vụ độc giả của từng thư viện Một vài điều kiện thành lập cũng như quản trị

và thủ tục điều hành cần phải đặt ra.[11]

Theo Ủy ban Viễn thông Liên bang Mỹ: Liên hợp thư viện là sự hợp tác

của các thư viện ở một địa phương, một vùng hoặc một quốc gia để cung cấp một cách hệ thống và có hiệu quả các nguồn tài nguyên của các thư viện công cộng, trường học, các thư viện chuyên biệt khác và các trung tâm thông tin, để tăng cường dịch vụ cho khách hàng của các thư viện [25]

Sự khởi đầu của Liên hợp (consortium) trong hoạt động thông tin thư viện bắt đầu bằng việc các tổ hợp cung cấp sách, báo, tạp chí đưa ra đề nghị với các nhà sản xuất cung cấp đồng thời nhiều loại tài liệu cho một số lượng lớn người dùng tin ở nhiều thư viện khác nhau để tiết kiệm chi phí quảng cáo, chi phí tiếp thị cũng như chi phí quản lý Các nhà xuất bản đã nhanh chóng nhận ra những lợi ích của việc bán theo phương thức này, họ đã khôn khéo bao gói các loại tạp chí ít người quan tâm với các tạp chí có nhiều người đọc theo kiểu bán cả gói với một giá hấp dẫn, có nghĩa là thấp hơn một chút so với khi mua từng loại ấn phẩm riêng lẻ Kết quả của việc mua bán theo kiểu này là các nhà xuất bản thì bán được nhiều sản phẩm hơn, còn người mua thì mua được nhiều tạp chí hơn với giá cả chấp nhận được Dần dần theo thời gian, các thỏa thuận mang tính lỏng lẻo ban dầu đã được thay thế bằng các hợp đồng cung cấp, hợp đồng nhượng

Trang 19

quyền (licence) hoàn chỉnh và sự hợp tác, ràng buộc không chính thức giữa các thư viện cũng đã chuyển dần thành các tổ chức có ban điều hành, có nhân viên,

có chính sách, quy định rõ ràng, đó chính là các Liên hợp thư viện (library consortium)

Phương thức mà các Liên hợp thư viện mua tài liệu khác về cơ bản so với phương thức các thư viện riêng rẽ vẫn mua Thông thường các Liên hợp thường mua theo phương thức cả gói (package purchasing), trong đó chủ yếu là những tài liệu có nhu cầu sử dụng cao đối với nhiều đối tượng người dùng tin khác nhau Các Liên hợp thường có quan hệ rất chặt chẽ với nhà xuất bản hoặc với các

tổ chức phát hành tài liệu Mối quan hệ này là quan hệ hữu cơ, mật thiết và cùng

có lợi Nhờ có các Liên hợp thư viện mà nhà xuất bản hoặc tổ hợp phát hành bán được nhiều tài liệu cho người dùng hơn và ngược lại nhờ có Liên hợp mà các thư viện có thể cải thiện các dịch vụ của mình thông qua việc cung cấp cho người dùng tin nhiều tài liệu hơn Chính vì thế, mô hình Liên hợp còn được gọi là mô hình “cùng thắng” (WIN-WIN) thay cho mô hình “thắng – thua” (WIN-LOST) theo phương thức mua bán thông thường

Như vậy, phối hợp bổ sung là phương thức bổ sung tài liệu quan trọng, không thể thiếu của các thư viện trong thời đại “bùng nổ thông tin” và tình trạng kinh phí hạn hẹp của với mục đích là nâng cao hiệu quả, giảm đến mức thấp nhất việc bổ sung trùng lặp sao cho với một nguồn kinh phí nhất định có thể thỏa mãn tốt nhất nhu cầu thông tin của người dùng tin.[20]

1.1.2 Lợi ích của phối hợp bổ sung

Nói chung, phối hợp thư viện mà hình thức phổ biến nhất hiện nay là Liên hợp thư viện, nhằm đạt được các mục đích sau:

 Tiết kiệm chi phí: việc thành lập Liên hợp thư viện có thể xuất phát từ

nhiều lý do khác nhau, song lý do lớn nhất là kinh tế, bởi xét đến cùng mọi hoạt động của Liên hợp thư viện đều xuất phát từ lợi ích kinh tế của từng thành viên

Trang 20

Và mục đích này vẫn tồn tại kể từ khi Liên hợp thư viện đầu tiên xuất hiện cho tới tận ngày nay Tham gia và Liên hợp thư viện, các thư viện thành viên có thể tiết kiệm rất nhiều khoản chi phí như chi phí mua tài liệu, chi phí đào tạo nhân viên, chi phí hướng dẫn sử dụng, khai thác thông tin và chi phí cho việc xử lý tài liệu mua chung

- Chi phí mua tài liệu: việc chia sẻ nguồn tin giữa các thư viện có thể

tránh được sự trùng lặp trong bổ sung tài liệu của các thư viện Tham gia Liên hợp thư viện sẽ giúp các thư viện thành viên giảm đáng kể chi phí đặt mua các nguồn tin do việc bổ sung tài liệu theo Liên hợp sẽ làm “gia tăng” sức mạnh trong đàm phán với các nhà xuất bản, việc này có hiệu quả hơn rất nhiều việc các thư viện bổ sung riêng lẻ Hơn nữa, các thành viên vừa giảm được kinh phí bổ sung tài liệu của mình, vừa có thể truy cập vào một lượng lớn hơn các nguồn tin

mà bản thân đơn vị đó không thể tự mua được Một số Liên hợp thư viện được lập ra chỉ phục vụ cho mục đích này, và có thể được coi như là một “câu lạc bộ mua sắm” [25]

Sau đây là một số dữ liệu cho thấy sự tiết kiệm kinh phí khi tham gia Liên hợp tại một số nước:

 Tại Đan Mạch: theo báo cáo tổng kết của Theo báo cáo tổng kết của Thư viện nghiên cứu Đan Mạch (Denmark's Electronic Research Library-DEF) thì trong năm 2004, DEF đã đại diện cho 12 thành viên của Liên hợp thư viện để thoả thuận, ký kết hợp đồng với các nhà xuất bản để cung cấp các tạp chí điện tử:

- Hợp đồng ký kết với Hiệp hội Hoá học Mỹ (American Chemical Society, ACS), với hợp đồng mua 30 tạp chí toàn văn về hóa học

Bảng 1.1 Ngân sách tiết kiệm theo hợp đồng với Hiệp hội Hoá học Mỹ [25]

Tổng giá thành

mua đơn lẻ

Tổng giá thành mua theo Liên hợp

Ngân sách tiết kiệm (USD)

Tỷ lệ tiết kiệm (%)

Trang 21

(USD) (USD)

- Hợp đồng ký kết với Thư viện số về toán học ACM: Theo thoả thuận hợp đồng thì tỷ lệ giảm giá phụ thuộc vào số lượng thành viên của Liên hợp Do vậy, Liên hợp với 9 thành viên đăng ký truy cập Thư viện số ACM nên tỷ lệ giá thành được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 1.2 Ngân sách tiết kiệm theo hợp đồng với Thư viện số ACM [25]

Ngân sách tiết kiệm/thành viên (USD)

Tỷ lệ tiết kiệm (%)

 Tại Canada: Theo báo cáo của Liên hợp thông tin khoa học y học Toronto, năm 2005, Liên hợp đã đàm phán với các nhà cung cấp thông tin điện tử và mua theo phương thức Liên hợp đã tiết kiệm đáng kể chi phí bổ sung được thể hiện qua bảng số liệu sau:

Bảng 1.3 Tiết kiệm ngân sách của Liên hợp thông tin khoa học y học Toronto [25]

Giá truy cập/1 người (USD)

Giá truy cập/50 người (USD)

Giá truy cập/100 người (USD)

Giá truy cập/500 người (USD)

Trang 22

- Chi phí đào tạo nhân viên: Tham gia vào Liên hợp, các thư viện thành

viên thường xuyên được cử cán bộ thư viện mình tham gia các hội thảo, các lớp tập huấn do Liên hợp hoặc do nhà phân phối tài liệu, nhà xuất bản tổ chức, sau

đó những cán bộ này về hướng dẫn lại cho các cán bộ của thư viện mình Điều này so với việc nếu các thư viện bổ sung riêng lẻ, mỗi khi có tài liệu mới, thư viện đó phải tự trả chi phí để mời chuyên gia về hướng dẫn, đào tạo cho nhân viên của mình thì có lợi hơn rất nhiều

- Chi phí xử lý tài liệu: nếu các thư viện bổ sung riêng lẻ, mỗi khi mua tài

liệu về, các thư viện sẽ tự xử lý nghiệp vụ những tài liệu đó Nhưng nếu tham gia phối hợp bổ sung, Liên hợp sẽ tổ chức xử lý tài liệu để các thư viện thành viên

dễ dàng dùng chung, do đó các thư viện thành viên không mất thời gian và kinh phí cho việc xử lý nữa Hơn nữa, khi Liên hợp đứng ra chịu trách nhiệm xử lý tài liệu do phối hợp bổ sung cho các thư viện thành viên, sẽ là cơ sở thúc đẩy sự thống nhất về nghiệp vụ thư viện

 Thúc đẩy phát triển, truy cập và chia sẻ các nguồn tin: nhu cầu thông

tin của người dùng tin, đặc biệt là nguồn tin điện tử, ngày càng tăng trong khi nguồn lực tài chính của các thư viện còn rất hạn hẹp khiến cho phần lớn các thư viện, nhất là thư viện của các nước đang phát triển, không có khả năng đáp ứng được đầy đủ những nhu cầu đó Thông qua hợp tác trong khuôn khổ Liên hợp thư viện, các thành viên sẽ tạo được một nguồn lực tổng hợp, có khả năng bổ sung các nguồn tin với số lượng nhiều hơn và chất lượng cao hơn so với từng thành viên riêng rẽ Đó là cơ sở, là động lực để các thư viện thành viên xây dựng

và hoàn thiện chia sẻ nguồn lực thông tin: từ mục đích ban đầu là chia sẻ, dùng chung tài liệu điện tử do phối hợp bổ sung, dần dẫn sẽ tiến tới trao đổi những nguồn lực thông tin riêng của mỗi thư viện thành viên

Trang 23

 Tăng khả năng tiếp cận các nguồn thông tin của người dùng tin tại

các đơn vị thành viên: việc các thư viện tham gia phối hợp bổ sung, chia sẻ

nguồn lực thông tin sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho người dùng tin tiếp cận và sử dụng nguồn lực thông tin

- Tăng khả năng tiếp cận nguồn lực thông tin: tham gia phối hợp bổ sung,

các thư viện có thể truy cập vào một lượng lớn hơn các nguồn tin mà bản thân đơn vị đó không thể tự mua được Do đó, người dùng tin có cơ hội nhiều hơn trong việc tiếp cận và sử dụng nguồn lực thông tin

- Tạo thuận lợi cho người dùng tin sử dụng thư viện: để tham gia phối hợp

bổ sung ổn định và có hiệu quả, đòi hỏi các thư viện thành viên phải có sự chia

sẻ, dùng chung nguồn lực thông tin Nếu thực tốt được điều này, thì từ việc chia

sẻ những tài liệu mua chung, các thư viện có thể tiến tới chia sẻ được những thế mạnh trong nguồn lực thông tin của mình Khi đó, các cơ quan thông tin thư viện

có thể phải tính đến một việc là chia sẻ người dùng tin Có nghĩa là không còn

khái nhiệm người dùng tin của một cơ quan thông tin – thư viện đại học cụ thể nào đó, mà sẽ xuất hiện khái niệm người dùng tin của các cơ quan thông tin – thư viện đại học nói chung Người dùng tin có thể tra cứu xem nơi lưu giữ tài liệu mình cần tìm, từ đó lựa chọn xem cơ quan thông tin thư viện nào phù hợp nhất với điều kiện sử dụng của mình, chứ không nhất thiết phải đến đúng thư viện của trường học, cơ quan mình như hiện nay

 Thúc đẩy việc triển khai và áp dụng một hệ thống quản lý thư viện

chung: Việc cùng nhau bổ sung các nguồn tin chung cũng như chia sẻ lẫn nhau các

nguồn tin sẵn có của mình đòi hỏi các thư viện phải áp dụng các hệ thống quản lý thư viện giống nhau hoặc có khả năng tương tác với nhau Nếu không có sự hợp tác hoặc thỏa thuận chung thì điều này khó có thể thực hiện được, do mỗi thư viện đều có đặc thù và chính sách riêng của mình Do đó, Liên hợp thư viện tạo ra một

Trang 24

cơ chế phối hợp thống nhất giữa các thành viên để cùng triển khai áp dụng một hệ thống quản lý thư viện thống nhất, tạo cơ sở cho việc chia sẻ và liên kết mạng

 Nâng cao kiến thức thông tin của người dùng tin và phát triển

nghiệp vụ cho cán bộ thư viện: Đây là một lợi ích quan trọng của Liên hợp thư

viện mà các Liên hợp thư viện được thành lập gần đây đều đặt ra Rõ ràng, Liên hợp thư viện, với năng lực của mình, có khả năng triển khai những chiến lược và hành động lớn nhằm tăng cường nhận thức và kỹ năng thông tin của người dùng tin, nâng cao hiệu quả khai thác và sử dụng các dịch vụ thư viện Ngoài ra, Liên hợp thư viện có thể hỗ trợ đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ của các thư viện thành viên Chẳng hạn, huy động chuyên gia của những đơn vị thành viên lớn để đào tạo cho cán bộ của các đơn vị thành viên nhỏ Hơn nữa, lợi ích chính cho các thư viện này là một số thư viện hoặc nhân viên được trực tiếp học hỏi và thu được nhiều kinh nghiệm trong đàm phán hợp đồng để bổ sung tài liệu điện tử và biết được các thuật ngữ, những điều kiện sử dụng và khả

năng thực hiện theo các hợp đồng ký kết

 Marketting thư viện: Liên hợp có thể có những lợi ích quan trọng

cho các thư viện thành viên trong việc quảng cáo các bộ sưu tập và các dịch vụ

của thư viện, cũng như sản phẩm của Liên hợp

1.1.3 Các mô hình phối hợp bổ sung tài liệu

Nghiên cứu tình hình phát triển Liên hợp thư viện trên thế giới có thể nhận thấy rằng hiện nay đang tồn tại rất nhiều mô hình phối hợp bổ sung với quy

mô và hình thức khác nhau Ở Mỹ, theo American Library Directory, hơn 12.700 thư viện ở Mỹ và Canada đã liên kết thành 500 Liên hợp và mạng lưới cùng phối hợp bổ sung Về phân loại mô hình Liên hợp thư viện, hiện vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau, với nhiều tiêu chí đánh giá khác nhau Sau đây là một số quan điểm và tiêu chí phân loại phổ biến:

Trang 25

 Theo tác giả Hurtt J., Liên hợp thư viện có thể được thành lập dựa theo 2 tiêu chí: [25]

- Địa lý: Các thư viện thuộc một phạm vi địa lý nào đó, chẳng hạn như tất

cả các thư viện của một bang, của một thành phố hoặc một nước nào đó Phạm vi địa lý thường được quan tâm nhất khi tiến hành thành lập Liên hợp thư viện

- Loại hình cơ quan: Các thư viện thuộc một cùng một cơ quan quản lý

như nhóm các thư viện trường đại học, các thư viện cơ quan nghiên cứu, các thư viện ngành luật hoặc các thư viện ngành y

Các Liên hợp thư viện ở Đức có thể được sử dụng làm ví dụ cho tiêu chí của Hurtt J., tất cả các Liên hợp thư viện ở Đức được hình thành theo vùng hoặc theo loại hình cơ quan, hoặc kết hợp cả hai

 Cũng nghiên cứu mô hình Liên hợp thư viện ở Đức, nhưng theo tác giả Rush-Feja thì có 4 loại mô hình Liên hợp thư viện:[25]

- Liên hợp các thư viện trường đại học trong vùng

- Liên hợp thư viện của nhiều cơ quan khác nhau trong vùng

- Liên hợp thư viện của các cơ quan khác nhau, lĩnh vực khác nhau hoặc các ngành khác nhau

- Liên hợp thư viện nghiên cứu của nhiều cơ quan, liên vùng: các bộ sưu tập tương tự nhau

 Theo các tác giả Allen B.M và Hirshon A thì có 4 mô hình Liên hợp thư viện như sau: [25]

- Liên hợp liên kết lỏng lẻo: Liên hợp thư viện vùng hoặc địa phương

được thành lập ở mức bình thường, được quản trị bởi các thư viện thành viên và không có nhân viên chính thức và cũng không có quỹ tập trung Những mô hình Liên hợp thư viện này rất linh hoạt và tổng chi phí thấp nên đem lại lợi ích thấp

và có độ rủi ro nhỏ

Trang 26

- Liên hợp thư viện đa hình thức, đa trạng thái: thường có nhân viên chính

thức, nhưng sự hợp tác là tự nguyện, kết quả hợp tác chỉ ở mức thấp bởi vì quyền lợi chung là nhỏ

- Liên hợp thư viện liên kết chặt chẽ: Liên hợp thư viện liên kết chặt chẽ

phải có cơ quan bảo trợ và phải có các hội viên trọng tâm hoặc đặc điểm chung Liên hợp thư viện phải dựa vào ngân sách cơ quan, hoặc phải cung ứng các nguồn tài nguyên của mình ra bên ngoài

- Liên hợp thư viện quốc gia, quỹ tập trung: có các cơ quan bảo trợ và

thường phân chia theo nguồn ngân sách Cơ quan trung tâm thường bảo đảm các hợp đồng và chi trả phần lớn hoặc toàn bộ các khoản thanh toán của Liên hợp thư viện Các thành viên thỏa thuận về mua tài liệu, trên cơ sở chia sẻ quyền lợi

 Xét theo tiêu chí tính tập trung, nhóm các Liên hợp thư viện có thể chia thành 3 nhóm chính: [25]

- Tập trung hóa và mức độ tổ chức cao: thông thường sử dụng quỹ tập

trung

- Phi tập trung hóa: thông thường có một nhiệm vụ rõ ràng Các nguồn

ngân quỹ có thể rất khác nhau

- Liên hợp thư viện liên kết lỏng lẻo: như các cơ qua có ít mục tiêu chung

 Theo (tác giả Kennington D.), có thể chia Liên hợp thư viện thành

4 nhóm: [25]

- Các thư viện loại hình hoạt động tương tự nhau như thư viện trường đại

học, thư viện công cộng và thư viện đặc biệt

- Các thư viện liên quan đến một chủ đề tương tự nhau: như các thư viện

ngành luật, y học…

- Các thư viện quy định những loại thiết bị phục vụ như nhau

- Các thư viện tại các vị trí gần nhau: như các thư viện cùng thành phố

Như vậy, có thể thấy rằng mô hình Liên hợp thư viện của các nước có thể được thành lập với các tiêu chí khác nhau và cũng khác nhau về quy mô, tổ chức,

Trang 27

mô hình quản trị Nhưng, dù có phân loại dựa trên tiêu chí nào thì tựu chung lại các Liên hợp thư viện đều được tổ chức theo 1 trong 2 mô hình: mô hình tập trung (Top down) hay mô hình phân tán (Bottom down)

 Mô hình tập trung (Top down):

Mô hình tập trung là mô hình Liên hợp thư viện có tổ chức chặt chẽ, nằm dưới sự bảo trợ của chính phủ Trong mô hình này nhất thiết phải có một cơ quan thông tin, thư viện cấp quốc gia, đứng ra làm nòng cốt, tập hợp các

cơ quan thông tin, thư viện có cùng mục đích và nguyện vọng lại thành một Liên hợp Các Liên hợp lớn, có quy mô quốc gia, thường có văn phòng riêng, có giám đốc điều hành và nhân viên phụ trách để phối hợp các hoạt động của Liên hợp Các thư viện thành viên tham gia Liên hợp theo mô hình tập trung phải ký kết, tuân thủ theo quy định hoạt động chung do Liên hợp đề ra, trong đó quyền và nghĩa vụ của mỗi thành viên phải được đảm bảo thực hiện Trong mô hình này, chính phủ thường tài trợ phần lớn kinh phí để duy trì sự hoạt động của Liên hợp, các thư viện thành viên, tùy theo quy mô và mức độ sử dụng thông tin mà có đóng góp kinh phí ở mức độ phù hợp Thông thường trong mô hình này, phần kinh phí do nhà nước chiếm 60-70% kinh phí hoạt động của Liên hợp, phần còn lại do các thành viên của Liên hợp đóng góp

Các consortium tiêu biểu theo mô hình này là Digital Libray của Pakistan, NDEST của India, CONCERT của Đài Loan, HEAL-Link của Dan Mach,

Ưu điểm của mô hình tập trung:

- Ổn định, bền vững bởi lẽ Liên hợp thư viện theo mô hình này thường do

nhà nước bảo trợ và cấp phần lớn kinh phí Trong mô hình này, có một cơ quan đứng ra quản lý, các thành viên muốn tham gia đều phải nghiên cứu và tuân thủ chặt chẽ quy chế hoạt động của Liên hợp; quyền và nghĩa vụ của mỗi thành viên đều phải được đảm bảo Do đó, khi tham gia, mỗi thành viên đều có trách nhiệm hơn trong hoạt động của mình; vì vậy mà Liên hợp này thường có tính ổn định, bền vững hơn so với mô hình Liên hợp phân tán

Trang 28

- Hiệu quả cao: Vì mô hình tập trung có sự quản lý, điều phối của một cơ

quan, một tổ chức nòng cốt Do vậy, khi tham gia Liên hợp, tổ chức đó sẽ đóng vai trò cầu nối, là nơi thu nhận nhu cầu của các thư viện, điều phối các thư viện

có cùng nhu cầu vào một nhóm ; quản lý việc chia sẻ, dùng chung tài liệu mua chung giữa các thư viện Chính vì vậy, thông qua cơ quan đó, các thư viện có cùng nhu cầu bổ sung tài liệu có thể trao đổi để cùng mua và chia sẻ kinh phí cũng như việc sử dụng chung tài liệu đó Vì thế mà hiệu quả đem lại khi tham

gia mô hình Liên hợp tập trung là khá cao

- Thỏa mãn nhu cầu thông tin của người dùng tin: do mô hình Liên hợp

tập trung có hiệu quả cao (như phân tích ở trên), có thể thấy rằng hiệu quả thông tin đem lại cho người dùng tin ở những thư viện tham gia Liên hợp là khá cao Khi đó, người dùng tin có thể không chỉ là người dùng tin của riêng một thư viện

cụ thể nào, mà sẽ trở thành cộng đồng người dùng tin chung của các thư viện, được sử dụng nguồn thông tin khổng lồ do việc hợp tác giữa các thư viện tạo nên Khi đó, điều kiện khai thác và nội dung nguồn thông tin cũng được cải thiện nhiều do việc chia sẻ dùng tin nguồn tin giữa các thư viện sẽ làm thay đổi hình thức khai thác thông tin (phải hiện đại hóa, có khả năng đa truy cập) ; hơn nữa, nội dung thông tin cũng được gia tăng đáng kể do đây là tập hợp nguồn tin của các thư viện (chứ không phải nguồn tin của một thư viện riêng lẻ như hiện nay) Chính vì vậy, có thể khẳng định, khi tham gia mô hình Liên hợp tập trung, khả năng thỏa mãn nhu cầu tin của người dùng tin của các thư viện tham gia Liên

hợp được nâng cao

Nhược điểm của mô hình tập trung:

- Không linh hoạt: mặc dù ưu điểm lớn nhất của mô hình tập trung là bền

vững, song tính tập trung cũng lại là nhược điểm của mô hình này Do mô hình tập trung được hoạt động dưới sự bảo trợ của một cơ quan nhất định, với những quy tắc hoạt động nhất định, cơ quan này sẽ đóng vai trò là cơ quan chủ quản, tập hợp nhu cầu tin, tiến hành đàm phán, đặt hàng và quản lý việc dùng chung

Trang 29

Mô hình này sẽ có hiệu quả cao nếu như tất cả (phần lớn) các thư viện thành viên

có chung nhu cầu về một số tài liệu cụ thể Nhưng, nếu có một số ít thư viện thành viên cùng có nhu cầu về một nguồn tài liệu nào đó (không thuộc nhóm nhu cầu chung của Liên hợp), khi đó nhu cầu về những nguồn tài liệu này thường không được Liên hợp chú ý tới, vì Liên hợp chỉ chú ý tới lợi ích của đa số thành

viên

 Mô hình phân tán (Bottom up)

Mô hình phân tán là mô hình Liên hợp thư viện không có sự bảo trợ kinh phí từ phía chính phủ, (hoặc có nhưng không đáng kể) Mô hình này được tạo lập nên theo nhu cầu của các thư viện Khi có kinh phí và có nhu cầu về một hay một

số tài liệu nào đó, các thư viện sẽ bàn bạc và trao đổi, đàm phán với nhà xuất bản

để mua chung và dùng chung những tài liệu đó

Mô hình phân tán này ở các nước thường tồn tại dưới dạng các mô hình mua

sắm, nghĩa là khi có chung nhu cầu về tài liệu, các thư viện hợp tác với nhau

cùng mua để tiết kiệm kinh phí, hết thời hạn sử dụng tài liệu thì Liên hợp đó tự giải tán Một số nước đang xây dựng Liên hợp theo mô hình phân tán (Bottom up) là Bangladesh, Nepal và Việt Nam

Ưu điểm của mô hình phân tán

Ưu điểm lớn nhất của mô hình tập trung Bottom up chính là sự linh hoạt trong các tổ chức Các thư viện có chung nhu cầu về một số loại tài liệu nào đó

có thể tự liên hệ, hợp tác với nhau Mỗi một thư viện có thể tham gia nhiều Liên hợp thư viện phù hợp với từng diện bổ sung của mình Thư viện nào cần nguồn thông tin gì, cùng nhau đàm phán để mua, do đó sự chủ động của thư viện được đảm bảo hơn

Nhược điểm của mô hình phân tán:

- Hiệu quả của Liên hợp theo mô hình phân tán phụ thuộc rất nhiều vào

sự nhiệt tình của các thành viên Bởi lẽ, với mô hình này, Liên hợp hoạt động

không có cơ quan bảo trợ, không có quy định quyền và nghĩa vụ của thành viên

Trang 30

khi tham gia Liên hợp, mối quan hệ của các thư viện thành viên chỉ đơn thuần là mối quan hệ của những người cùng muốn mua một món hàng để tiết kiệm kinh phí Sau khi đã đạt được mục đích (mua tài liệu với chi phí tiết kiệm), mối liên kết này sẽ tự động giải tán, việc dùng chung nguồn tài liệu đó như thế nào sẽ rất khó kiểm soát Khi đó, mối liên hệ này được tiếp tục phát triển hay mất đi, thái

độ hợp tác, trách nhiệm của các thành viên khi tiến hành chia sẻ, dùng chung nguồn tin hoàn toàn phụ thuộc vào thái độ của các thư viện thành viên Nếu cách thư viện thành viên nhiệt tình tham gia, nhận thấy được lợi ích từ việc tham gia Liên hợp, tích cực trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm hoạt động với các thành viên khác thì hiệu quả hoạt động mà Liên hợp đem lại sẽ cao Ngược lại, nếu một hay một số thư viện thành viên không nhận thấy được lợi ích do Liên hợp đem lại, không nhiệt tình trao đổi, chia sẻ, hợp tác cùng giải quyết những khó khăn mắc phải thì Liên hợp đó sẽ nhanh chóng bị tan rã, sự tồn tại sẽ không ổn định, lâu dài

- Khó đảm bảo ổn định và bền vững: do mô hình phân tán được hình

thành hoàn toàn dựa trên tinh thần tự nguyện của các thư viện thành viên mà không có sự quản lý của một cơ quan chủ quản, không có quy định rõ quyền và nghĩa vụ của thư viện thành viên Do đó, nếu một hay một số thư viện khi tham gia hoạt động vì lý do gì đó mà không tham gia nữa thì cũng không có chế tài nào yêu cầu thư viện đó thực hiện đúng nghĩa vụ của mình Chính vì vậy, mô hình phân tán thường khó đảm bảo ổn định và bền vững, sự tồn tại hoàn toàn phụ

thuộc vào tinh thần tự nguyện của các thư viện thành viên

1.2 Khái quát về thư viện các trường đại học trên địa bàn Hà Nội

Thủ đô Hà Nội là trung tâm chính trị, văn hóa, khoa học của cả nước Hà Nội

là nơi tập trung nhiều trường đại học, viện nghiên cứu khoa học lớn của cả nước Tính đến thời điểm hiện nay (tháng 6/2011), trên địa bàn Hà Nội có khoảng gần

60 trường đại học và cao đẳng (không tính đến các trường thuộc Bộ Quốc phòng

và Bộ Công an quản lý) (phụ lục 1) với 3 khối ngành chính là khối các trường

Trang 31

khoa học tự nhiên, khối các trường khoa học công nghệ và khối các trường chuyên ngành khoa học xã hội, nhân văn

 Sự ra đời của các thư viện đại học trên địa bàn Hà Nội

Khảo sát tại các trường đại học trên địa bàn Hà Nội, có thể nhận thấy hầu hết các trường đại học đều có thư viện (dù quy mô, hoạt động của các thư viện

có khác nhau) Nếu tính từ thời điểm thành lập trường, ta thấy có hai trường hợp sau:

- Thư viện hình thành và phát triển song song với sự hình thành và phát triển của nhà trường;

- Thư viện hình thành muộn hơn so với sự hình thành của nhà trường

Nhóm thư viện trường đại học hình thành và phát triển cùng với sự hình thành và phát triển của nhà trường là các thư viện có quyết định thành lập cùng thời gian với quyết định thành lập trường, như Thư viện Đại học Bách Khoa Hà Nội, Thư viện Đại học Luật, Thư viện Đại học Ngoại thương, Thư viện Đại học Kinh tế Quốc dân, Thư viện Đại học Sư phạm Hà Nội, Thư viện Đại học Nông nghiệp, …

Nhóm thư viện trường đại học được hình thành sau khi có quyết định thành lập trường gồm có các thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội, Thư viện Đại học Thương mại, Thư viện Đại học Thủy lợi, Thư viện Đại học Giao thông Vận tải,… Điều này không có nghĩa là từ khi thành lập trường đến khi có quyết định thành lập thư viện, các trường đại học vừa nêu không có thư viện Bởi lẽ, ngay sau khi có quyết định thành lập trường, các trường này đều có một bộ phận làm công tác thư viện, nhưng trực thuộc các phòng, ban, như phòng Khoa học, phòng

Trang 32

giáo vụ, Sau một thời gian hoạt động, bộ phận thư viện của các trường này mới

có quyết định được tách và thành thư viện hoạt động độc lập

Tuy nhiên, tính đến thời điểm hiện nay, hiện vẫn còn một số trường đại học, trong đó thư viện chưa được chính thức trở thành một đơn vị độc lập, trực thuộc trường như thư viện trường Đại học Mỹ thuật Việt Nam hiện vẫn trực thuộc phòng Đào tạo của trường với tên “Phòng Đào tạo – Thư viện”, thư viện Học viện Hành chính Quốc gia hiện vẫn là một đơn vị hoạt động chung với các lĩnh vực xuất bản, Tin học với tên gọi “ Trung tâm Tin học – Thư viện”…

 Tình hình phát triển của các thư viện đại học trên địa bàn Hà Nội

Trong hơn 10 năm vừa qua, hoạt động thư viện trong các trường đại học

cả nước nói chung, trong các trường đại học trên đại bàn Hà Nội nói riêng đã có nhiều chuyển biến mạnh mẽ theo xu hướng tích cực Được sự quan tâm của lãnh đạo các bộ, ngành và các trường đại học, thông qua nhiều dự án nước ngoài cũng như của ngân sách Nhà nước, nhìn chung các thư viện trường đại học trên địa bàn Hà Nội đang được tổ chức theo hướng chuyển dần sang mô hình thư viện hiện đại với những bước đi căn bản cho sự hình thành và phát triển thư viện điện

tử

Công nghệ thông tin ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong hầu hết các thư viện với hệ thống máy tính hiện đại, thiết lập mạng nội bộ, hầu hết các thư viện đã kết nối với mạng diện rộng của trường và kết nối Internet Một số nơi có tốc độ đường truyền cao Hệ thống máy chủ của các thư viện khá mạnh kết nối với hàng trăm máy trạm tại mỗi đơn vị

Hầu hết các thư viện đều đang sử dụng hệ quản trị thư viện tích hợp để quản trị thư viện như phần mềm Libol (của công ty Tinh Vân), phần mềm Ilib (của công ty CMC), phần mềm Elib (do ông ty Nam Hoàng phân phối), phần mềm Vebrary (sản phẩm của công ty Lạc Việt)… Các phần mềm này, với các

Trang 33

mức độ khác nhau, đều đảm bảo hỗ trợ các chuẩn nghiệp vụ tiên tiến như biên mục MARC, phân loại DDC hay chuẩn trao đổi dữ liệu ISO 2709, chuẩn tìm kiếm liên thư viện Z39.50 Một số ít thư viện dùng phần mềm mua của nước ngoài (Thư viện Đại học Bách Khoa Hà Nội, Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội).[7]

Tuy nhiên vẫn có một số ít các thư viện đại học hiện chưa có kinh phí để mua phần mềm quản trị thư viện tích hợp, nên vẫn đang sử dụng phần mềm ISIS như Thư viện Học viện Báo chí tuyên truyền, Thư viện Học viện Hành chính Quốc gia,…

Trong những năm gần đây, với xu hướng chung là cải cách giáo dục, nâng cao chất lượng đào tạo, coi người học làm trung tâm, đặc biệt là phương thức đào tạo theo tín chỉ tại các trường đại học, nên nhìn chung hoạt động của thư viện các trường đại học cũng có nhiều biến chuyển, được lãnh đạo các trường quan tâm đầu tư nhiều hơn, kinh phí để duy trì hoạt động thư viện, kinh phí bổ sung tài liệu theo đó cũng được tăng lên hàng năm Thư viện đại học đã cung cấp giáo trình cho học sinh sinh viên, cung cấp tài liệu tham khảo cho cán bộ nghiên cứu, giảng dạy, giúp họ nâng cao chất lượng bài giảng, Điều này cho thấy hoạt động của thư viện trường đại học là một nhân tố góp phần không nhỏ trong việc đào tạo, nâng cao chất lượng giáo dục

 Đặc điểm nguồn lực thông tin:

Vốn tài liệu của các thư viện đa dạng, phong phú gắn với đặc thù đào tạo của từng trường Các nguồn tin đảm bảo tính toàn diện, vừa chuyên sâu, vừa đa dạng, phong phú với nhiều loại hình tài liệu, tính chất phức tạp Các trường đều quan tâm bổ sung, phát triển vốn tài liệu đáp ứng nhu cầu giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học; thu nhận các tài liệu do trường xuất bản: các công trình nghiên cứu khoa học đã được nghiệm thu, tài liệu hội nghị, hội thảo, khoá luận, luận văn thạc sĩ, luận án tiến sĩ, chương trình đào tạo, giáo trình, tập bài giảng và các dạng tài liệu khác của nhà trường; các ấn phẩm tài trợ, biếu tặng, tài liệu trao đổi Chính sách bổ sung chủ yếu tập trung vào việc phát triển vốn tài liệu có nội

Trang 34

dung phù hợp với các chuyên ngành đào tạo của nhà trường Chiến lược và chính sách bổ sung (phân phối nguồn tài liệu giữa các chuyên ngành đào tạo, lựa chọn tài liệu mới, có giá trị, hàm lượng chất xám cao phản ánh quá trình nghiên cứu khoa học, học tập và giảng dạy, chiến lược và chính sách bổ sung phải đi liền với định hướng phát triển đào tạo của mạng lưới Một điểm đặc biệt trong hoạt phát triển nguồn thông tin của các thư viện đại học là xu hướng tăng cường tài nguyên điện tử Trong xã hội thông tin và tri thức, thói quen, tập quán sử dụng thông tin tài liệu điện tử ngày càng trở nên phổ biến trong các trường đại học

Vốn tài liệu của các trường n h i ề u h a y í t , tùy thuộc vào kinh phí, quy mô của từng trường, nhưng chủ yếu bao gồm các loại hình tài liệu sau:

- Cơ sở dữ liệu (CSDL) trực tuyến, tài liệu điện tử

Các thư viện chú trọng nội dung liên quan đến các lĩnh vực đào tạo của nhà trường đáp ứng nhu cầu của giảng viên và sinh viên [23]

Một đặc điểm về nguồn tin mà các thư viện trường đại học quan tâm và xây dựng là các tài liệu nghe nhìn như: cassette, video, CD-ROM,… và các tài liệu điện tử phục vụ cho việc giảng dạy và học tập của giáo viên và sinh viên

Trong các thư viện trường đại học, thì Trung tâm Thông tin-Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội là một trong các thư viện có nguồn tin phong phú nhất, đặc biệt là nguồn tin điện tử về các ngành khoa học và công nghệ

Theo số liệu khảo sát, trong số các thư viện trường đại học trên địa bàn Hà Nội, Trung tâm Thông tin Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội là đơn vị có vốn

Trang 35

tài liệu lớn nhất, do Đại học Quốc gia Hà Nội tập hợp nhiều trường như Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Công nghệ, Đại học Kinh tế Vốn tài liệu của Trung tâm Thông tin Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội thể hiện trên bảng sau:

B¶ng 1.4: Vèn tµi liÖu cña Trung t©m th«ng tin Th- viÖn §¹i häc Quèc gia Hµ Néi [25]

Loại sách Số lượng (cuốn) Tỉ lệ (%)

Giáo trình T.Việt (cuốn)

Tạp chí Ngoại văn (tên)

Báo và Tạp chí T.Việt (tên)

Trang 36

trình xuất bản trước năm 1990 chiếm hơn 70% ở Đại học Bách khoa Hà Nội và hơn 60% tại Trung tâm Thông tin Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội, giáo trình xuất bản từ năm 2000 trở lại đây chỉ chiếm khoảng 15% Trong hai thư viện nêu trên, sách tiếng Nga chiếm trên 40% (đa số là sách xuất bản trước năm 1990).

Kết quả khảo sát cho thấy một hiện tượng đáng lưu ý là nguồn giáo trình trong 2 thư viện kể trên nói riêng, và trong thư viện các trường đại học trên địa bàn Hà Nội nói chung chiếm tỉ lệ đáng kể trong vốn tài liệu của thư viện và hầu hết là các giáo trình cũ, xuất bản cách đây khoảng 15-20 năm. [25]

Cũng theo kết quả khảo sát, trong các thư viện trường đại học trên địa bàn

Hà Nội, phần sách nước ngoài mới nhập chủ yếu là nguồn sách do Quỹ Châu Á (ASIA FOUDATION) trao tặng thông qua đầu mối là Thư viện Quốc gia Việt Nam, phần sách được mua bằng ngân sách của các thư viện, do các thư viện chủ động chọn mua chỉ chiếm một tỉ lệ rất nhỏ

Một số thư viện đại học trên địa bàn Hà Nội gần đây đã tiến hành mua và đưa vào khai thác các CSDL trực tuyến của nước ngoài như Trung tâm Thông tin Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội, Thư viện Đại học Kinh tế Quốc dân, Thư viện Đại học Bách khoa Hà Nội Tuy nhiên, các CSDL này cũng chưa được khai thác thật sự hiệu quả, do những rào cản về ngoại ngữ và do công tác tuyên truyền, giới thiệu, hướng dẫn sử dụng chưa được thực hiện một cách triệt để

Từ năm 2000 trở lại đây, trên địa bàn Hà Nội, có một số trường đại học mới được thành lập, chủ yếu là các trường đại học dân lập, như Đại học Thành Tây, Đại học Đại Nam, Đại học Quốc tế Bắc Hà, Do mới thành lập nên nhìn chung thư viện của các trường này đều bị hạn chế về nguồn lực thông tin

 Sản phẩm và dịch vụ thông tin:

Các sản phẩm và dịch vụ thông tin trong các thư viện trường đại học nói chung và các thư viện trường đại học trên địa bàn Hà Nội nói riêng khá đa dạng Tuy nhiên, các sản phẩm thông tin phổ biến là các CSDL thư mục, thông báo

Trang 37

sách mới, tạp chí, bản tin điện tử… , còn những sản phẩm thông tin xử lý sâu về nội dung như các bản tóm tắt, CSDL tóm tắt và CSDL toàn văn hầu như chưa được chú trọng xây dựng do nhiều nguyên nhân (nguồn nhân lực hạn chế, kinh phí ít, trình độ của cán bộ thư viện…)

Cùng với các sản phẩm được bổ sung do mua hoặc nhận trao đổi, tặng biếu, một số thư viện còn tự xây dựng các CSDL đặc thù như CSDL thư mục tổng quát hoặc chuyên đề, CSDL đề tài và kết quả nghiên cứu khoa học, CSDL sách, bài giảng điện tử…

Các dịch vụ của thư viện các trường đại học trên địa bàn Hà Nội mới chủ yếu

là dịch vụ phục vụ trong thư viện (bao gồm dịch vụ đọc tại chỗ và mượn về nhà) Tuy nhiên, cùng với hoạt động cải cách giáo dục, thư viện các trường đại học cũng đã có nhiều cố gắng trong việc cải cách hoạt động, hướng tới người dùng tin Do đó, nhiều thư viện trường đại học trên địa bàn Hà Nội đã áp dụng hình thức kho mở trong phục vụ bạn đọc

Các dịch vụ thông tin mang tính giá trị gia tăng ở các thư viện nhìn chung còn rất hạn chế, chưa được quan tâm, đầu tư xây dựng

Dịch vụ tìm tin trực tuyến (OPAC) được cung cấp cho bạn đọc ngay tại thư viện và từ xa Ngoài CSDL thư mục của thư viện mình, nhiều thư viện còn hỗ trợ bạn đọc tìm kiếm thông tin của các cơ quan thông tin – thư viện khác cả trong và ngoài nước bằng cách kết nối trực tuyến hoặc thu thập và cài đặt vào máy chủ Với việc tạo lập cổng thông tin (Portal), một vài thư viện lớn đã tạo điều kienj cho bạn đọc sử dụng nhiều dịch vụ mới như giao tiếp trực tuyến (chat reference), giới thiệu bộ sưu tập số hóa…

 Đặc điểm người dùng tin:

Người dùng tin ở các thư viện trường đại học chính là đội ngũ cán bộ giảng dạy, cán bộ quản lý, nghiên cứu và đội ngũ học viên cao học, nghiên cứu sinh, sinh viên, trong đó, đối tượng bạn đọc chiếm đa số là sinh viên với nhu cầu học tập, nghiên cứu

Trang 38

Người dùng tin là sinh viên: đây là nhóm người dùng tin chủ yếu của các thư

viện trường đại học Đa số người dùng tin là sinh viên đều ở độ tuổi thanh niên, hoạt động chủ đạo là học tập, thích tìm tòi, khám phá những cái mới Tuy nhiên, hầu hết sinh viên đều chưa tự lập về kinh tế, mà còn phụ thuộc kinh tế vào gia đình, do đó nguồn tìm kiếm thông tin của nhóm người dùng tin này chủ yếu là thư viện Họ thường sử dụng thư viện với cường độ cao, đặc biệt vào dịp chuẩn

bị làm đề tài, thực hiện các công trình nghiên cứu khoa học, bảo vệ khóa luận hay thời gian chuẩn bị thi học kỳ Lúc này, nhu cầu tin của họ là tài liệu chuyên

sâu về chủ đề, tài liệu mang tính thời sự

Trong giai đoạn hiện nay, việc đổi mới phương pháp giảng dạy với quan điểm lấy người học làm trung tâm, nâng cao tính tích cực, chủ động của người học đã khiến nhóm người dùng tin này ngày càng có nhiều biến chuyển về phương pháp học tập Lúc này, thư viện được xem là “giảng đường thứ hai”, là kênh thông tin quan trọng giúp người học nắm bắt và làm chủ tri thức Nhu cầu

tự học, tự nghiên cứu đã và đang thu hút được sự quan tâm của sinh viên

Người dùng tin là cán bộ, giảng viên: đây là nhóm người dùng tin có trình

độ cao, nhu cầu tin cao bởi họ thường xuyên phải cung cấp thông tin qua hệ thống bài giảng cho sinh viên Đặc điểm nhu cầu tin của họ vừa mang tính chuyên sâu, vừa mang tính mới Nhìn chung, đây là nhóm người dùng tin có trình độ cao, đời sống ổn định, tự lập về kinh tế, do đó ngoài kênh thông tin là thư viện trường, họ có thể khai thác thông tin ở các kênh khác như: Internet, các thư viện/cơ quan nghiên cứu,

1.3 Ý nghĩa của phối hợp bổ sung tài liệu giữa các thư viện các trường đại học trên địa bàn Hà Nội

Trong hoàn cảnh kinh phí được cấp từ nhà nước cho các thư viện đại học

để bổ sung tài liệu rất ít và hầu như không tăng lên, trong khi nhu cầu thông tin của người dùng tin ngày càng đa dạng và giá cả tài liệu thì tăng lên không ngừng, có thể nói phối hợp bổ sung tài liệu là cứu cánh duy nhất đối với các thư

Trang 39

viện đại học Việt Nam nói chung và thư viện đại học trên địa bàn Hà Nội nói riêng

Sau đây là những lý do chính, buộc các cơ quan thông tin-thư viện đại học

Hà Nội phải phối hợp lại với nhau trong công tác bổ sung tài liệu:

 Do hiện tượng bùng nổ thông tin, xuất bản phẩm quá nhiều và tăng quá nhanh, trong khi giá thành của tài liệu ngày càng gia tăng Mặc dù các thư viện hàng năm đều cố gắng tăng kinh phí bổ sung tài liệu, nhưng kết quả là số tài liệu mua được ngày càng ít Do đó, nếu như hoạt động riêng lẻ thì không một cơ quan Thông tin - Thư viện nào đủ sức đáp ứng nhu cầu bạn đọc

 Do xu hướng hội nhập, hợp tác giữa các nước trên thế giới ngày càng phát triển mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực đòi hỏi mỗi công dân phải tự trang bị cho mình vốn kiến thức và ngôn ngữ Do đó, với vai trò là nơi lưu giữ, cung cấp thông tin, giúp cho người dùng tin học hỏi, nâng cao kiến thức thì bản thân các thư viện cũng phải đi đầu, hợp tác, hội nhập với thư viện các nước để cập nhật những kiến thức khoa học mới trên thế giới Muốn thực hiện được điều này, bên cạnh bổ sung những tài liệu trong nước, các thư viện, tùy theo đặc điểm, chức năng, nhiệm vụ của mình cần có kế hoạch bổ sung các tài liệu nước ngoài giúp người dùng tin vừa học hỏi kiến thức vừa trau dồi kỹ năng ngoại ngữ

 Các thư viện trên địa bàn Hà Nội bao gồm nhiều loại hình thư viện như: thư viện công cộng, thư viện trường học, thư viện của các cơ quan, tổ chức, thư viện các cơ quan nghiên cứu Mỗi loại hình thư viện đều có chức năng, nhiệm vụ riêng, do đó sẽ có thế mạnh riêng trong bổ sung tài liệu Tuy nhiên, vẫn còn có sự trùng lặp thông tin trong diện bổ sung của các thư viện như mảng thông tin khoa học công nghệ giữa các thư viện viện nghiên cứu với một số thư viện trường đại học, thông tin giải trí giữa các nhóm cơ quan thông tin, thư viện… Điều này gây lãng phí trong khi tất cả các thư viện đều bị hạn chế về kinh phí bổ sung Do vậy, nếu các thư viện liên kết với nhau, cùng phối hợp bổ sung tài liệu, cùng chia sẻ nguồn tin của thư viện mình thì sẽ tránh được hiện tượng

Trang 40

trùng lặp, lãng phí thông tin kể trên Hơn nữa, có thể tránh tình trạng biệt lập, khép kín thông tin trong phạm vi một cơ quan thông tin-thư viện

 Cùng với xu hướng tự động hóa hoạt động thông tin thư viện của các nước, hiện nay các cơ quan thông tin thư viện ở Việt Nam cũng đang dần “tự động hóa”, một số thư viện đã và đang xây dựng mô hình thư viện điện tử, tạo điều kiện cho người dùng tin có thể truy cập nguồn tin của thư viện dễ dàng ở bất

cứ đâu chỉ cần có máy tính nối mạng Và để xây dựng thư viện điện tử thành công, trước hết cần có các nguồn tin điện tử, do đó bên cạnh việc số hóa nguồn tin sẵn có của thư viện mình, các thư viện cần phải tăng cường hơn nữa việc bổ sung tài liệu điện tử Tuy nhiên, nguồn tin điện tử hiện nay có giá thành khá lớn, nên nếu các thư viện bổ sung riêng rẽ thì với số kinh phí có hạn của mình sẽ phải tính toán, cân đối kỹ càng việc bổ sung Trong khi đó, nếu các thư viện phối hợp lại với nhau, cùng bổ sung tài liệu, cùng chia sẻ thông tin thì vấn đề đó sẽ được giải quyết

 Nhu cầu thông tin của bạn đọc ngày càng đa dạng do nhiều nguyên nhân như: trình độ người dùng tin ngày càng được nâng cao, do đòi hỏi của công việc, môi trường học tập… Vì vậy, nếu các thư viện vẫn giữ hoạt động như hiện nay (hoạt động riêng lẻ, kinh phí bổ sung có hạn…) thì khả năng đáp ứng nhu cầu tin bạn đọc của các thư viện ngày càng giảm sút Vì vậy, muốn nâng cao hiệu quả hoạt động, thỏa mãn nhu cầu của người dùng tin, các thư viện cần phải phối hợp hoạt động với nhau Điều này vừa giúp các thư viện sử dụng hợp lý công sức, tiền bạc và phương tiện giữa các cơ quan, vừa nâng cao hiệu quả hoạt động của thư viện mình, nâng cao vị thế của các thư viện nói chung

Thư viện trường đại học là một bộ phận trong hệ thống thư viện, do đó, cũng giống như các thư viện nói chung cần thiết phải có sự phối hợp bổ sung, thư viện các trường đại học do có những đặc điểm riêng của mình, nên việc phối hợp bổ sung không những cần thiết phải thực hiện mà còn cần thiết phải được tiến hành sớm Bên cạnh những nguyên do cần phối hợp bổ sung phân tích ở

Ngày đăng: 23/03/2015, 13:42

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2. Ngân sách tiết kiệm theo hợp đồng với Thư viện số ACM [25] - Nghiên cứu mô hình phối hợp bổ sung giữa các thư viện trường đại học trên địa bàn Hà Nội
Bảng 1.2. Ngân sách tiết kiệm theo hợp đồng với Thư viện số ACM [25] (Trang 21)
Bảng 1.4: Vốn tài liệu của Trung tâm thông tin Th- viện Đại học Quốc gia Hà  Néi [25] - Nghiên cứu mô hình phối hợp bổ sung giữa các thư viện trường đại học trên địa bàn Hà Nội
Bảng 1.4 Vốn tài liệu của Trung tâm thông tin Th- viện Đại học Quốc gia Hà Néi [25] (Trang 35)
Bảng 2.1 : CSDL ở một số thư viện trường đại học trên địa bàn Hà Nội - Nghiên cứu mô hình phối hợp bổ sung giữa các thư viện trường đại học trên địa bàn Hà Nội
Bảng 2.1 CSDL ở một số thư viện trường đại học trên địa bàn Hà Nội (Trang 57)
Bảng 2.2: Kinh phí đặt mua CSDL 2006-2008  [25] - Nghiên cứu mô hình phối hợp bổ sung giữa các thư viện trường đại học trên địa bàn Hà Nội
Bảng 2.2 Kinh phí đặt mua CSDL 2006-2008 [25] (Trang 60)
Bảng 2.3: Mức độ giao thoa diện bổ sung trong ngành Khoa học Tự nhiên  STT  Ngành khoa học - Nghiên cứu mô hình phối hợp bổ sung giữa các thư viện trường đại học trên địa bàn Hà Nội
Bảng 2.3 Mức độ giao thoa diện bổ sung trong ngành Khoa học Tự nhiên STT Ngành khoa học (Trang 68)
Bảng 2.4: Mức độ giao thoa diện bổ sung trong ngành Khoa học Kỹ thuật - Nghiên cứu mô hình phối hợp bổ sung giữa các thư viện trường đại học trên địa bàn Hà Nội
Bảng 2.4 Mức độ giao thoa diện bổ sung trong ngành Khoa học Kỹ thuật (Trang 69)
Bảng 2.5: Mức độ giao thoa diện bổ sung trong ngành Khoa học Xã hội - Nghiên cứu mô hình phối hợp bổ sung giữa các thư viện trường đại học trên địa bàn Hà Nội
Bảng 2.5 Mức độ giao thoa diện bổ sung trong ngành Khoa học Xã hội (Trang 71)
Bảng 2.6 . Ngân sách hoạt động và bổ sung tài liệu tại một số thư viện - Nghiên cứu mô hình phối hợp bổ sung giữa các thư viện trường đại học trên địa bàn Hà Nội
Bảng 2.6 Ngân sách hoạt động và bổ sung tài liệu tại một số thư viện (Trang 79)
Bảng 2.8: Bảng số liệu Trình độ học vấn  [23] - Nghiên cứu mô hình phối hợp bổ sung giữa các thư viện trường đại học trên địa bàn Hà Nội
Bảng 2.8 Bảng số liệu Trình độ học vấn [23] (Trang 84)
Hình 3.1. Mô hình Liên hợp thư viện các trường đại học trên địa bàn HN - Nghiên cứu mô hình phối hợp bổ sung giữa các thư viện trường đại học trên địa bàn Hà Nội
Hình 3.1. Mô hình Liên hợp thư viện các trường đại học trên địa bàn HN (Trang 93)
Bảng  3.1:  Một  số  CSDL  các  thư  viện  trường  đại  học  trên  địa  bàn  Hà  Nội  dự  định/muốn mua trong thời gian tới - Nghiên cứu mô hình phối hợp bổ sung giữa các thư viện trường đại học trên địa bàn Hà Nội
ng 3.1: Một số CSDL các thư viện trường đại học trên địa bàn Hà Nội dự định/muốn mua trong thời gian tới (Trang 101)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w