1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu hoàn thiện hoạt động thông tin - thư viện tại trường Đại học Hà Nội

124 477 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 124
Dung lượng 2,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong tương lai Trường sẽ mở thêm những chuyên ngành đào tạo khác bằng ngoại ngữ mà thị trường lao động trong và ngoài nước đang có nhu cầu cao… Hoạt động thông tin - thư viện TTTV đại h

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

VŨ VĂN THẠCH

NGHIÊN CỨU HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN -

THƯ VIỆN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ THÔNG TIN - THƯ VIỆN

HÀ NỘI - 2012

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

VŨ VĂN THẠCH

NGHIÊN CỨU HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN -

THƯ VIỆN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀ NỘI

Chuyên ngành: Khoa học Thư viện

Mã số: 60 32 20

LUẬN VĂN THẠC SĨ THÔNG TIN - THƯ VIỆN

Người hướng dẫn khoa học:

TS Nguyễn Thu Thảo

HÀ NỘI - 2012

Trang 3

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

PHẦN NỘI DUNG 7

CHƯƠNG 1: HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN - THƯ VIỆN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀ NỘI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 7

1.1 Những vấn đề chung về hoạt động thông tin - thư viện 7

1.2 Trường Đại học Hà Nội trong giai đoạn đổi mới giáo dục 8

1.2.1 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển 8

1.2.2 Trường Đại học Hà Nội với sự nghiệp đổi mới giáo dục đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước 12

1.3 Đặc điểm hoạt động thông tin - thư viện tại Trường Đại học Hà Nội 14

1.3.1Thư viện Trường Đại học Hà Nội 14

1.3.2 Thư viện thuộc các Khoa và Trung tâm 21

1.3.3 Vai trò của hoạt động thông tin - thư viện trong việc nâng cao chất lượng giáo dục của Nhà trường 22

1.4 Đặc điểm người dùng tin và nhu cầu tin 23

1.4.1 Người dùng tin 24

1.4.2 Nhu cầu tin 26

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN - THƯ VIỆN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀ NỘI 31

2.1 Xây dựng và phát triển nguồn lực thông tin 31

2.1.1 Xây dựng và phát triển nguồn tin tại Thư viện Trường Đại học Hà Nội 31

2.1.2 Xây dựng và phát triển nguồn tin tại thư viện các Khoa 34

2.2 Xử lý thông tin 35

2.2.1 Các chuẩn được lựa chọn trong xử lí thông tin 35

2.2.2 Thực trạng áp dụng các chuẩn 39

2.2.3 Tổ chức hoạt động áp dụng các chuẩn 47

2.3 Tổ chức các sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện 57

2.3.1 Sản phẩm TTTV 57

2.3.1.1 Thư mục 57

2.3.1.2 Cơ sở dữ liệu 58

2.3.1.3 Website 60

2.3.2 Dịch vụ TTTV 64

2.4 Tổ chức kho, sắp xếp và bảo quản tài liệu 67

2.4.1 Tổ chức kho và sắp xếp tài liệu 67

Trang 4

2.5 Ứng dụng công nghệ thông tin 70

2.5.1 Phần mềm Libol: 70

2.5.2 Phần mềm DigiHanuLIC: 74

2.6 Đánh giá hiệu quả hoạt động thông tin - thư viện tại Trường Đại học Hà Nội 75

CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN - THƯ VIỆN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀ NỘI 82 3.1 Phát triển nguồn lực thông tin 82

3.1.1 Xây dựng chính sách phát triển nguồn lực thông tin hợp lý 82

3.1.2 Đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và khai thác nguồn lực thông tin 86

3.1.3 Tăng cường chia sẻ nguồn lực thông tin 88

3.1.4 Nâng cao trình độ cán bộ thư viện và đào tạo người dùng tin 89

3.2 Chuẩn hoá công tác xử lý thông tin 93

3.2.1 Hoàn thiện các chuẩn hiện hành 93

3.2.1.1 Xây dựng danh mục ĐMCĐ tiếng Việt sử dụng tại TVĐHHN 93

3.2.1.2 Bổ sung thuật ngữ cho Bộ từ khoá của TVQGVN 94

3.2.2 Nghiên cứu áp dụng các chuẩn mới 96

3.2.2.1 Nghiên cứu khả năng áp dụng Fast 96

3.2.2.2 Áp dụng chuẩn Dublincore trong xử lí tài liệu số 97

3.2.3 Đào tạo, bồi dưỡng kiến thức áp dụng chuẩn cho cán bộ 98

3.2.3.1 Cử cán bộ tham gia các khoá đào tạo 99

3.2.3.2 Đào tạo cán bộ tại chỗ 100

3.2.4 Các yếu tố hỗ trợ 101

3.2.4.1 Xây dựng tài liệu hướng dẫn 101

3.2.4.2 Chuẩn hoá hoạt động xử lí thông tin trong Hệ thống Thư viện Việt Nam 102

3.2.4.3 Đẩy mạnh tuyên truyền, đào tạo, chỉ đạo nghiệp vụ 103

3.2.4.4 Biên mục tại nguồn 103

3.3 Bảo quản tài liệu 104

3.4 Đa dạng hoá các sản phẩm và dịch vụ thông tin - thư viện 104

3.5 Các giải pháp hỗ trợ 108

3.5.1 Nâng cao hiệu quả đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị 108

3.5.2 Đào tạo người dùng tin 109

3.5.3 Xây dựng kế hoạch marketing hoạt động thông tin - thư viện 110

KẾT LUẬN 112

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 115

PHỤ LỤC 118

Trang 5

DANH MỤC HÌNH, SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ

6 Bảng 2.1 Số liệu thống kê số lượng tài liệu lưu trữ tại thư

viện các khoa

35

17 Biểu đồ 2.2: Tỉ lệ tài liệu đáp ứng nhu cầu tin của NDT 78

18 Biểu đồ 2.3: Nguyên nhân tài liệu không đáp ứng nhu cầu

21 Biểu đồ 3.3: Thông tin về lớp đào tạo kỹ năng thông tin 92

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

STT TỪ VIẾT TẮT TỪ ĐẦY ĐỦ

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Hòa nhập với xu thế toàn cầu hoá trên thế giới, Việt Nam đang từng bước đẩy mạnh quá trình công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, trong đó thách thức lớn nhất là nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo, phát huy nguồn lực con người để đạt được mục tiêu trong thời gian ngắn nhất đưa nước

ta tiến kịp với các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới

Hơn bao giờ hết, hiện nay yêu cầu đổi mới giáo dục đại học Việt Nam đang đặt ra cho các trường đại học trong cả nước nhiệm vụ phải tạo ra được

sự chuyển biến một cách cơ bản và toàn diện từ mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy và học tập, đội ngũ làm công tác giảng dạy…

Trường Đại học Hà Nội có thế mạnh là cơ sở đào tạo và cung cấp nguồn nhân lực có trình độ cao về ngoại ngữ (với 10 chuyên ngành ngôn ngữ đào tạo cử nhân, 4 chuyên ngành ngôn ngữ đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ) Bên cạnh đó, Trường đã triển khai đào tạo cử nhân các chuyên ngành khác dạy bằng ngoại ngữ từ năm 2002 như: ngành quản trị kinh doanh, du lịch, quốc tế học, khoa học máy tính, tài chính - ngân hàng, kế toán (giảng dạy bằng tiếng Anh); ngành khoa học máy tính (giảng dạy bằng tiếng Nhật) Ngoài ra, trường còn đào tạo cử nhân ngành Việt Nam học cho người nước ngoài Trong tương lai Trường sẽ mở thêm những chuyên ngành đào tạo khác bằng ngoại ngữ mà thị trường lao động trong và ngoài nước đang có nhu cầu cao…

Hoạt động thông tin - thư viện (TTTV) đại học là một lĩnh vực hoạt động quan trọng, có những tác động to lớn và quyết định đến toàn bộ hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học và quản lý của trường đại học Nhu cầu

Trang 8

đổi mới toàn diện hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học đang đặt ra trước các thư viện đại học những cơ hội và thách thức vô cùng to lớn, đòi hỏi công tác TTTV đại học phải thay đổi và cải tiến không ngừng, đồng thời khẳng định vai trò quan trọng của hoạt động TTTV tại các trường đại học nói chung

và tại Trường Đại học Hà Nội nói riêng

Tuy nhiên, trên thực tế, hoạt động TTTV tại Trường Đại học Hà Nội chưa phát huy hết nội lực của mình trong việc hỗ trợ công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học, do vậy, cần phải có những giải pháp tiến hành đổi mới phù hợp

Xuất phát từ ý nghĩa thực tiễn và tầm quan trọng đó, tôi đã chọn đề tài

-“Nghiên cứu hoàn thiện hoạt động thông tin - thư viện tại Trường Đại học

Hà Nội” làm đề tài cho luận văn thạc sĩ của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Nghiên cứu về hoạt động TTTV một trường đại học là vấn đề không mới, đã được nhiều luận văn đề cập đến như: “Tăng cường hoạt động thông tin - thư viện trường Đại học Hàng Hải trong giai đoạn hiện nay” của Đặng Quang Hiệp (bảo vệ năm 2006), “Tăng cường hoạt động thông tin - thư viện trường Đại học Lao động - Xã hội trong giai đoạn hiện nay” của Lê Cao Đại (bảo vệ năm 2007), “Nghiên cứu hoàn thiện tổ chức và hoạt động thông tin - thư viện Trường Đại học sư phạm kỹ thuật Vinh” của Nguyễn Mạnh Dũng (bảo vệ năm 2008)… Các đề tài kể trên đều nghiên cứu hoạt động TTTV ở một trường đại học cụ thể, với những đặc điểm riêng biệt Có một điểm chung của các đề tài này là đã khảo sát, đánh giá hoạt động TTTV và đề xuất giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện và tăng cường hoạt động này

Nhiều khía cạnh trong hoạt động TTTV tại trường Đại học Hà Nội đã

được nghiên cứu, điển hình như ở luận văn “Phát triển nguồn tài liệu số hóa

Trang 9

toàn văn tại Trường Đại học Hà Nội” của Lê Thị Vân Nga (bảo vệ năm 2009), “Ứng dụng công nghệ mã vạch trong hoạt động thông tin - thư viện tại Thư viện Trường Đại học Hà Nội” của Nguyễn Thanh Hảo (bảo vệ năm

2011) và một số khóa luận tốt nghiệp như: “Công tác đào tạo người dùng tin tại Trung tâm Thông tin - Thư viện Trường Đại học Hà Nội Thực trạng và giải pháp” của Phạm Vũ Thủy Tiên (bảo vệ năm 2010), “Tự động hoá hoạt động thông tin - thư viện của Trung tâm Thông tin - Thư viện Trường Đại học

Hà Nội - Thực trạng và giải pháp”của Bùi Thị Linh (bảo vệ năm 2009), “Tổ chức, quản lý và khai thác nguồn lực thông tin của Trung tâm Thông tin - Thư viện Trường Đại học Hà Nội” của Lê Thị Anh Thư (bảo vệ năm 2009)…

Tuy nhiên, chưa có đề tài nào đề cập đến vấn đề: “Nghiên cứu hoàn thiện hoạt động thông tin - thư viện tại Trường Đại học Hà Nội”, đặc biệt là

trong bối cảnh đổi mới và nâng cao chất lượng giáo dục đại học trong giai đoạn hội nhập được coi là yêu cầu cấp thiết của nền giáo dục Việt Nam hiện nay

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

- Mục đích nghiên cứu

Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thông tin - thư viện tại Trường Đại học Hà Nội

- Nhiệm vụ nghiên cứu

+ Khảo sát thực trạng hoạt động thông tin - thư viện tại Trường Đại học

Hà Nội

+ Điều tra người dùng tin và nhu cầu tin

+ Đánh giá hiệu quả hoạt động thông tin - thư viện tại Trường Đại học

Hà Nội

Trang 10

+ Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thông tin - thư viện tại Trường Đại học Hà Nội

4 Giả thuyết nghiên cứu

Giả thuyết: Hoạt động thông tin - thư viện tại Trường Đại học Hà Nội

còn yếu kém, chưa phát huy được hết nguồn lực thông tin của Trường, chưa đáp ứng nhanh chóng và đầy đủ nhu cầu thông tin của người dùng tin (NDT) Nếu hoàn thiện hoạt động thông tin - thư viện thì sẽ nâng cao được hiệu quả phục vụ thông tin, góp phần đẩy mạnh chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học của Nhà trường

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu:

Hoạt động thông tin - thư viện tại Trường Đại học Hà Nội

- Phạm vi nghiên cứu:

+ Không gian: Trường Đại học Hà Nội

+ Thời gian: Từ năm 2010 đến nay

6 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp luận:

Đề tài được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa Mác

- Lênin (phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử), quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về phát triển sự nghiệp thông tin - thư viện đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo

- Phương pháp cụ thể:

+ Phân tích tổng hợp tài liệu

+ Khảo sát thực tiễn, điều tra bằng bảng hỏi

Trang 11

+ Thống kê số liệu

+ Phỏng vấn trực tiếp

7 Ý nghĩa của đề tài

Đề tài đóng góp những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động TTTV của thư viện trường đại học trong bối cảnh đổi mới giáo dục và đào tạo trên phạm vi toàn quốc Những số liệu được phân tích, tổng hợp trong luận văn sẽ là cơ sở thực tiễn để phần nào đánh giá về hoạt động thông tin - thư viện ở các trường đại học tại Việt Nam

8 Dự kiến kết quả nghiên cứu

Đưa ra các giải pháp tăng cường hiệu quả hoạt động TTTV tại Trường Đại học Hà Nội

Kết quả nghiên cứu dự kiến được trình bày trong khoảng 100 trang A4 Trong đó trình bày các nội dung:

- Nhận diện đặc điểm người dùng tin và nhu cầu tin;

- Nhận diện hiện trạng hoạt động thông tin - thư viện tại Trường Đại học Hà Nội;

- Đánh giá hiệu quả hoạt động thông tin - thư viện tại Trường Đại học

Hà Nội;

- Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thông tin - thư viện tại Trường Đại học Hà Nội

9 Bố cục của đề tài

Dự kiến luận văn sẽ gồm 3 chương:

Chương 1: Hoạt động thông tin - thư viện tại Trường Đại học Hà Nội trong

Trang 12

Chương 2: Thực trạng hoạt động thông tin - thư viện tại Trường Đại học

Hà Nội

Chương 3: Các giải pháp tăng cường hiệu quả hoạt động thông tin - thư viện

tại Trường Đại học Hà Nội

Trang 13

NỘI DUNG CHƯƠNG 1: HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN - THƯ VIỆN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀ NỘI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

1.1 Những vấn đề chung về hoạt động thông tin - thư viện

Hoạt động thông tin là quá trình thu thập, tổ chức, xử lý và phân phối

thông tin tới người dùng tin Hoạt động thông tin bao gồm bốn thành tố: nguồn lực thông tin, người dùng tin, cán bộ thông tin và cơ sở vật chất Bốn thành tố này có mối quan hệ chặt chẽ hữu cơ với nhau, trong đó nguồn lực thông tin và người dùng tin đóng vai trò quan trọng được coi là yếu tố để đánh giá sức mạnh hoạt động thông tin của một cơ quan Mục đích hoạt động thông tin là đáp ứng tối đa nhu cầu tin của người dùng tin, từ đó thúc đẩy sự phát triển của xã hội

Hoạt động thư viện là quá trình thu thập, tàng trữ, tổ chức việc khai

thác và sử dụng chung vốn tài liệu trong xã hội nhằm truyền bá tri thức, cung cấp thông tin phục vụ nhu cầu học tập, nghiên cứu, công tác và giải trí của mọi tầng lớp nhân dân; góp phần nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phát triển khoa học, công nghệ, kinh tế, văn hóa, phục vụ công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Hoạt động thông tin - thư viện có thể hiểu là quá trình thu thập, xử lý,

lưu trữ, tổ chức việc khai thác và sử dụng thông tin trong một cơ quan/tổ chức nhằm đáp ứng nhu cầu tin của người dùng tin

Trang 14

1.2 Trường Đại học Hà Nội trong giai đoạn đổi mới giáo dục

1.2.1 Sơ lược quá trình hình thành và phát triển

Đại học Hà Nội (ĐHHN) là trường đại học công lập được thành lập năm 1959 Trong hơn 50 năm phát triển, trường đã trải qua nhiều tên gọi khác nhau: ban đầu là Trường Bổ túc Ngoại ngữ, Cao đẳng Bổ túc Ngoại ngữ, Đại học Ngoại ngữ Đến năm 2006, Trường đổi tên thành Đại học Hà Nội theo Quyết định số 190/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng kí ngày

17 tháng 8 năm 2006

Chức năng, nhiệm vụ:

Nhiệm vụ cơ bản của Trường ĐHHN là đào tạo cán bộ phiên dịch, giảng viên ngoại ngữ và đào tạo cử nhân một số chuyên ngành thuộc khối ngành khoa học xã hội - nhân văn, kinh tế, công nghệ,… dạy bằng tiếng nước ngoài ở trình độ đại học và sau đại học

Ngoài ra, Trường ĐHHN được Bộ Giáo dục và Đào tạo giao nhiệm vụ đào tạo ngoại ngữ cho lưu học sinh, nghiên cứu sinh, thực tập sinh đi học nước ngoài; bồi dưỡng, nâng cao trình độ ngoại ngữ cho cán bộ chuyên môn, cán bộ quản lý của các Bộ, Ban, ngành Trung ương và địa phương trong cả nước

Mục tiêu chiến lược của Nhà trường:

Xây dựng Trường ĐHHN thành trường đại học đa ngành, tận dụng tối

đa thế mạnh về đào tạo và nghiên cứu ngoại ngữ; tiếp tục đổi mới và không ngừng phát triển toàn diện, phấn đấu trở thành cơ sở đào tạo nguồn nhân lực giáo dục đại học, sau đại học có chất lượng ngang tầm các nước có nền giáo dục tiên tiến trong khu vực; chủ động đẩy nhanh quá trình hội nhập giáo dục quốc tế trên cơ sở mở rộng hợp tác, liên kết đào tạo, liên thông chương trình,

Trang 15

học liệu và đội ngũ giảng viên với các trường đại học có uy tín của nước ngoài

bị kĩ thuật

- Trường có 20 Khoa/Bộ môn trực thuộc, 02 Viện nghiên cứu, 11 Trung tâm, 03 đơn vị phục vụ và các tổ chức đoàn thể

Sơ đồ tổ chức của Trường ĐHHN (xem phụ lục 1)

Công tác phát triển đội ngũ cán bộ:

Những ngày đầu mới thành lập, trường chỉ có hơn 50 cán bộ giáo viên

và nhân viên Trong đó có 03 cán bộ lãnh đạo, 23 giáo viên tiếng Nga, 12 giáo viên tiếng Trung và khoảng 10 cán bộ hành chính và nhân viên phục vụ

Là một trường đầu ngành về đào tạo ngoại ngữ, Trường ĐHHN rất chú trọng công tác phát triển cán bộ, giảng viên về cả số lượng và chất lượng Đến nay, đội ngũ cán bộ của Nhà trường đã lên tới 590 người, trong đó có: 34 tiến

sĩ (02 tiến sĩ mời làm việc, có biên chế ở cơ quan khác); 01 tiến sĩ khoa học;

05 phó giáo sư; 256 thạc sĩ; 441 giảng viên, 62 giảng viên chính; 08 chuyên viên chính và tương đương

Hàng năm, trường liên tục gửi hàng chục giáo viên trẻ đi đào tạo ở nước ngoài theo các ngành chuyên môn sâu về giảng dạy ngoại ngữ và các chuyên ngành đang mở và sắp mở

Trang 16

Công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học:

Trường ĐHHN có khả năng giảng dạy các ngoại ngữ: Anh, Nga, Pháp, Trung Quốc, Đức, Nhật, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Italia, Hàn Quốc, Bungari, Hung-ga-ri, Séc, Slô-văk, Ru-ma-ni, Thái, A Rập, Trong đó có 10 chuyên ngành ngôn ngữ đào tạo cử nhân ngoại ngữ và 04 chuyên ngành ngôn ngữ đào tạo thạc sĩ và tiến sĩ

Từ năm 2002, Nhà trường đã triển khai đào tạo các chuyên ngành khác dạy bằng ngoại ngữ: ngành quản trị kinh doanh, du lịch, quốc tế học, khoa học máy tính, tài chính - ngân hàng, kế toán (giảng dạy hoàn toàn bằng tiếng Anh); ngành khoa học máy tính (giảng dạy bằng tiếng Nhật) Bên cạnh đó, trường còn đào tạo cử nhân ngành Việt Nam học cho người nước ngoài

Thực hiện phương châm mở rộng quy mô, đa dạng hóa loại hình đào tạo đi đôi với nâng cao chất lượng đào tạo, Nhà trường hướng tới không chỉ cung cấp kiến thức mà còn coi trọng định hướng phát triển năng lực làm việc cho sinh viên

Năm 2006, Trường ĐHHN bắt đầu áp dụng chương trình đào tạo theo tín chỉ và không ngừng cải tiến đổi mới chương trình và phương pháp giảng dạy để ngày càng phù hợp với nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Để tạo điều kiện cho sinh viên làm được nhiều việc sau khi tốt nghiệp, Nhà trường có nhiều chương trình linh hoạt và đa dạng như cử nhân tài năng, song ngành, văn bằng 2, chuyên tu, Đặc biệt, Nhà trường có các chương trình liên kết đào tạo với nước ngoài như 1+2, 2+2, 3+1 về tiếng Anh, quản trị kinh doanh, tiếng Việt, tiếng Trung, Sinh viên có thể học tại trường toàn bộ chương trình đại học và sau đại học với chất lượng quốc tế của nước ngoài mà không phải ra nước ngoài

Trường ĐHHN đã từng bước khẳng định thế mạnh về nghiên cứu khoa học ngoại ngữ, trong đó có phương pháp giảng dạy ngoại ngữ cho các trường

Trang 17

chuyên ngữ, nghiên cứu giảng dạy ngoại ngữ chuyên ngành, nghiên cứu đối chiếu ngôn ngữ,

Nhà trường là cơ quan chủ quản của "Tạp chí Khoa học Ngoại ngữ" - tạp chí chuyên ngành ngoại ngữ đầu tiên ở Việt Nam Đến nay Tạp chí đã ra được 71 số với hàng trăm công trình nghiên cứu, bài viết về phương pháp giảng dạy ngoại ngữ, đối chiếu ngôn ngữ, dịch thuật và tiếng Việt

Công tác đối ngoại:

Hợp tác quốc tế là một thế mạnh của Trường ĐHHN Hiện nay, trường

có quan hệ hợp tác với nhiều tổ chức trong và ngoài nước trong lĩnh vực đào tạo đại học, trên đại học, bồi dưỡng ngoại ngữ, nghiên cứu khoa học, biên soạn chương trình, giáo trình trên cơ sở hợp tác song phương, đa phương, dự

án và liên kết Nhà trường đã ký kết hợp tác đào tạo với trên 30 trường đại học nước ngoài; có quan hệ đối ngoại với trên 60 tổ chức, cơ sở giáo dục quốc tế; có quan hệ trực tiếp với hầu hết các đại sứ quán nước ngoài tại Việt Nam Bên cạnh đó, trường còn tham gia các hoạt động văn hóa đối ngoại, giao lưu ngôn ngữ - văn hóa với nhiều tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam và quốc tế

Cơ sở vật chất:

Trường ĐHHN ngày càng được cải thiện với môi trường xanh, sạch, đẹp và quần thể ký túc xá, nhà ăn, nhà khách, sân vận động, khép kín trong khuôn viên Nhà trường

Hệ thống phòng luyện âm hiện đại (12 phòng), đặc biệt là các phòng đa chức năng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giảng dạy

và học tập của Nhà trường

Trang 18

1.2.2 Trường Đại học Hà Nội với sự nghiệp đổi mới giáo dục đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước

Đảng và Nhà nước ta đã xác định: “Đổi mới toàn diện, sâu sắc, triệt để

có tính cách mạng nền giáo dục và đào tạo là một điều kiện tiên quyết để đưa nước ta tiến lên nhanh và vững trên con đường hiện đại hóa đất nước, hội nhập quốc tế và sánh vai cùng các quốc gia tiên tiến trên thế giới trong kỷ nguyên thông tin và toàn cầu hóa” 1

Chỉ thị số 296/CT-TTg ngày 27/02/2010 của Thủ tướng Chính phủ về

đổi mới Quản lí giáo dục Đại học giai đoạn 2010 - 2012 có nêu: “Triển khai việc phân cấp mạnh mẽ cho các cơ sở giáo dục đại học, đồng thời phát huy cao độ tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm, tự kiểm soát bên trong của các trường, trên cơ sở các quy định của nhà nước và của các trường, tăng cường công tác giám sát và kiểm tra của Nhà nước, của xã hội và của bản thân các

cơ sở” Qua đó, xác định tinh thần: Nhà trường tự chủ, Nhà nước quản lí

đối với các trường đại học trong công cuộc đổi mới giáo dục đại học

Trải qua hơn 50 năm hoạt động và trưởng thành, Trường ĐHHN luôn gắn kết sự nghiệp đào tạo của mình với sự phát triển của nền giáo dục đại học

và sự nghiệp giáo dục đào tạo của đất nước

Thực hiện chủ trương đổi mới sự nghiệp đào tạo và tinh thần “nhà trường tự chủ”, Trường ĐHHN đã không ngừng đổi mới công tác tổ chức và quản lý hoạt động đào tạo; phát triển đội ngũ cán bộ giảng dạy và nghiên cứu; xây dựng cơ sở vật chất hiện đại phục vụ công tác đào tạo trong Nhà trường

Trường ĐHHN đã có những đóng góp đáng kể trong việc đào tạo cung cấp nguồn nhân lực cho đất nước: bồi dưỡng trên 30.000 lưu học sinh, 10.000

1 http://vietbao.vn/Giao-duc/Doi-moi-co-tinh-cach-mang-nen-giao-duc-va-dao-tao-cua nuoc-nha/40219356/202/

Trang 19

thực tập sinh và nghiên cứu sinh, 40.000 cán bộ quản lý và cán bộ khoa học

kỹ thuật; đào tạo trên 30.000 cán bộ phiên biên dịch, giáo viên ngoại ngữ hệ chính quy, 40.000 cử nhân ngoại ngữ hệ tại chức và từ xa

Ngoài ra, Nhà trường đã biên soạn trên 80 chương trình, 150 giáo trình

và tài liệu giảng dạy; thực hiện gần 100 đề tài khoa học cấp bộ, hơn 920 đề tài cấp trường và tham gia một số đề tài cấp nhà nước; tổ chức hàng trăm hội nghị khoa học quốc tế, hội nghị khoa học ngành ngoại ngữ và hội nghị khoa học cấp trường

Thực hiện chủ trương đổi mới giáo dục của Đảng và Nhà nước, Trường ĐHHN đã nỗ lực phấn đấu, tận dụng tốt mọi nguồn lực, tăng cường hợp tác quốc tế, tạo bước đột phá về chất lượng đào tạo và từng bước củng cố vị thế vững chắc của mình trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam

Trường đã và đang thực hiện quá trình đa ngành hóa các loại hình đào tạo, hướng tới đào tạo nguồn nhân lực vừa có trình độ chuyên môn cao, vừa giỏi ngoại ngữ phục vụ các ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước, đáp ứng nhu cầu thị trường lao động chất lượng cao trong và ngoài nước

Là một cơ sở đào tạo công lập đi đầu trong công tác hợp tác quốc tế, Trường ĐHHN đã góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy mạnh mẽ tiến trình hội nhập khu vực và quốc tế của giáo dục đại học Việt Nam

Tính đến thời điểm hiện tại, Trường ĐHHN đang có 18 chương trình đào tạo tiếp cận với các chương trình đào tạo quốc tế, nhiều chương trình đã được các đối tác chấp nhận liên thông Một số trường đại học nổi tiếng của nước ngoài như Đại học Westminster, Central Lancashire (Vương Quốc Anh), Đại học Dublin City (Ireland), Đại học AUT (New Zealand), Đại học

La Trobe, Victoria, Griffith (Australia), Đại học IMC (Australia) đã công nhận chương trình đào tạo của trường ĐHHN Theo đó, sinh viên của trường

Trang 20

ĐHHN sau 3 năm đầu học tại Trường và học năm cuối tại các trường đối tác này đã được các trường đối tác cấp bằng cử nhân

Trường ĐHHN được đánh giá là một trong những trường dẫn đầu về ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tin trong giảng dạy, học tập, nghiên cứu và quản lý Nhà trường đã nghiên cứu, thiết kế, mua bản quyền và đưa vào ứng dụng thành công một số chương trình đào tạo ngoại ngữ, tin học tiên tiến trên thế giới bằng công nghệ thông tin Những chương trình này đã và đang được xã hội đánh giá cao như chương trình giảng dạy tiếng Anh trực tuyến EDO, chương trình quản lý đào tạo VietRoyal EMS, chương trình quản lí hành chính “Tác nghiệp”, Đặc biệt, nhờ ứng dụng chương trình "Tác nghiệp", Nhà trường đã tiết kiệm đáng kể thời gian, sức lao động, kinh phí, góp phần nâng cao hiệu lực quản lý đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính hiện nay.2

Bên cạnh đó, Trường ĐHHN luôn quan tâm phát triển đội ngũ cán bộ

về cả số lượng và chất lượng, đồng thời tăng cường bổ sung cơ sở vật chất và cải tạo cảnh quan môi trường sư phạm

Nhà trường cũng rất coi trọng công tác phát triển Đảng trong cán bộ và sinh viên, nhiều cán bộ trẻ và sinh viên của Nhà trường đã được đứng trong hàng ngũ của Đảng

Đó là những biểu hiện sinh động nhất cho việc đóng góp của Nhà trường vào

thành tựu chung của sự nghiệp đổi mới giáo dục và đào tạo của đất nước

1.3 Đặc điểm hoạt động thông tin - thư viện tại Trường Đại học Hà Nội 1.3.1 Thư viện Trường Đại học Hà Nội

2 Trích http://www.thiduakhenthuongvn.org.vn

Trang 21

1.3.1.1 Lịch sử ra đời và phát triển

Thư viện Trường Đại học Hà Nội ra đời ngay sau khi Trường ĐHHN được thành lập (năm 1959) Quá trình hình thành và phát triển của Thư viện gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của Trường ĐHHN

Trong những năm đầu mới thành lập, Thư viện chỉ là một tổ công tác phục vụ tư liệu cho Nhà trường, trực thuộc phòng Giáo vụ Điều kiện hoạt động của thư viện lúc ấy rất khó khăn, cơ sở vật chất thiếu thốn, vốn tài liệu nghèo nàn, chủ yếu là sách giáo trình, sách tham khảo chuyên ngành tiếng Nga và ngôn ngữ các nước Đông Âu (tiếng Ba Lan, tiếng Tiệp Khắc, tiếng Bungari,…) do các nước trong hệ thống xã hội chủ nghĩa tài trợ, biếu tặng

Năm 1967, Trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội đã mở thêm một số chuyên ngành mới (tiếng Anh, tiếng Pháp,…) và thành lập thêm một số khoa/bộ môn do yêu cầu mở rộng quy mô đào tạo và nâng cao chất lượng giảng dạy Nhờ đó, vốn tài liệu của thư viện tăng lên đáng kể

Đến năm 1984, lãnh đạo Nhà trường quyết định tách Tổ Tư liệu ra khỏi Phòng Giáo vụ thành một đơn vị độc lập trực thuộc Ban Giám hiệu với tên gọi là: “Thư viện Trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội”

Năm 1994, Thư viện đã được xây dựng mới với toà nhà 2 tầng và vốn tài liệu ngày càng phong phú, đáp ứng được phần nào nhu cầu về tư liệu cho công tác đào tạo của trường

Năm 2000, với yêu cầu đổi mới chương trình, phương pháp giảng dạy, nâng cao chất lượng đào tạo ngoại ngữ trong giai đoạn công nghiệp hóa-hiện đại hóa đất nước, Ban Giám hiệu trường quyết định sáp nhập Thư viện với phòng Thông tin và đổi tên thành “Trung tâm Thông tin - Thư viện Trường Đại học Ngoại ngữ Hà Nội”

Trang 22

Trong quá trình hoạt động, Thư viện đã không ngừng nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật, đổi mới tổ chức và hoạt động, từng bước ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động nghiệp vụ

Năm 2003, Thư viện đã thực hiện dự án nâng cấp, hiện đại hóa thư viện theo hướng mở, bằng nguồn vốn vay của Ngân hàng thế giới (World Bank) mức A với mức đầu tư là 500.000 USD Ngày 5/12/2003, Trung tâm đã đi vào hoạt động tại trụ sở mới và không ngừng hoàn thiện cơ sở vật chất, trang thiết

bị Đặc biệt, năm 2005, Trung tâm đã ứng dụng và triển khai phần mềm quản trị thư viện điện tử tích hợp Libol - một phần mềm đáp ứng tương đối đầy đủ tính năng của một thư viện hiện đại Hiệu quả hoạt động của Trung tâm ngày càng cao nhờ những tiện ích mà phần mềm Libol mang lại

Đến năm 2006, Trường đổi tên thành Đại học Hà Nội theo Quyết định

số 190/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng Do đó, Thư viện có tên mới “Trung tâm Thông tin - Thư viện Trường Đại học Hà Nội”

Tuy nhiên, từ ngày 01/10/2010, theo quyết định số 1332/QĐ-ĐHHN của

Hiệu trưởng Trường Đại học Hà Nội, căn cứ Quy chế mẫu tổ chức và hoạt động thư viện trường đại học ban hành kèm theo Quyết định số 13/2008/QĐ-

BVHTTDL của Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, Trung tâm Thông tin Thư viện Trường Đại học Hà Nội chính thức đổi tên thành “Thư viện Trường Đại học Hà Nội” (gọi tắt là Thư viện Đại học Hà Nội - TVĐHHN)

Từ đó đến nay, TV ĐHHN đã đi vào hoạt động ổn định và từng bước hiện đại, đóng góp hiệu quả vào công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học của Nhà trường và góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngành giáo dục đào tạo của nước ta trong giai đoạn mới

Trang 23

1.3.1.2 Chức năng và nhiệm vụ

Theo Quy chế mẫu về tổ chức và hoạt động thư viện trường đại học

(Ban hành kèm Quyết định số 13/2008/QĐ-BVHTTDL ngày 10/3/2008 của

Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch):

“Thư viện trường đại học có chức năng phục vụ hoạt động giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học, triển khai ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ và quản lí của nhà trường thông qua việc sử dụng, khai thác các loại tài liệu có trong thư viện (tài liệu chép tay, in, sao chụp, khắc trên mọi chất liệu, tài liệu điện tử, mạng Internet,…)

Chức năng

Thư viện Trường ĐHHN là tổ chức sự nghiệp thuộc Trường; thực hiện chức năng: thông tin, thu thập, xử lý, bảo quản, cung cấp và phổ biến thông tin tư liệu bằng nhiều hình thức khác nhau, cung cấp các nguồn thông tin phục

vụ cho các hoạt động của Nhà trường; đăng tải thông tin giới thiệu, quảng bá

về trường Tổ chức xây dựng và quản lý khai thác vốn tư liệu của thư viện phục vụ cho công tác giảng dạy, học tập, nghiên cứu khoa học (NCKH) của cán bộ, giảng viên và sinh viên trong Nhà trường

Nhiệm vụ

- Tham gia đóng góp ý kiến cho Ban Giám hiệu về công tác thông tin,

tư liệu phục vụ cho quá trình đào tạo, giảng dạy và nghiên cứu khoa học của trường

- Lập kế hoạch xây dựng và phát triển thông tin theo yêu cầu nhiệm vụ của Nhà trường

- Thu thập, bổ sung, trao đổi thông tin tư liệu cần thiết, tiến hành xử lý, cập nhật dữ liệu đưa vào hệ thống quản lý và tìm tin tự động và tổ chức cơ sở

hạ tầng thông tin

Trang 24

- Phục vụ thông tin tư liệu cho NDT là cán bộ, giảng viên, sinh viên trong công tác giảng dạy, nghiên cứu và học tập

- Hướng dẫn giúp NDT tiếp cận cơ sở dữ liệu và khai thác các nguồn tin trên mạng

- Kết hợp với các đơn vị chức năng trong Trường hoàn thành tốt việc quản lý, sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất kỹ thuật, vốn tài liệu trong Trường

- Thực hiện việc trao đổi, hợp tác với Liên hiệp thư viện các trường đại học trong và ngoài khu vực về chuyên môn nghiệp vụ thông tin - thư viện

1.3.1.3 Cơ cấu tổ chức và đội ngũ cán bộ

* Cơ cấu tổ chức

Thư viện Trường ĐHHN là một đơn vị trong cơ cấu tổ chức của ĐHHN Thư viện phục vụ NDT thông qua việc tổ chức thư viện trung tâm và các thư viện thành viên (thực chất là các phòng tư liệu/thư viện và các tủ sách chuyên dùng)

Tổ tập huấn

và giải đáp thông tin

Tổ trực

kĩ thuật

Tổ Marketing

và tổ chức

sự kiện

Tổ An ninh, môi trường

& trực gửi đồ

Trang 25

* Đội ngũ cán bộ

Thư viện Trường Đại học Hà Nội luôn chú trọng đến chính sách tuyển dụng để có những cán bộ có trình độ cao, nắm vững chuyên môn nghiệp vụ,

có khả năng sử dụng tốt ngoại ngữ và tin học

Hiện nay, Thư viện Trường Đại học Hà Nội có tổng số 22 cán bộ Trong đó, có 15 thư viện viên là những người có trình độ đại học và sau đại học chuyên ngành thư viện, 04 kỹ thuật viên đã được đào tạo về chuyên ngành công nghệ thông tin và điện tử viễn thông, 03 cán bộ an ninh và vệ sinh môi trường

3 Cử nhân công nghệ thông tin 1 4.5 %

5 Cao đẳng, Trung cấp, phổ thông 4 18.1 %

Bảng 1.1: Trình độ chuyên môn của cán bộ TVĐHHN

Ngoài ra, Thư viện hiện đang có 01 cán bộ đang theo học tiến sĩ tại nước ngoài, 07 cán bộ đang theo học thạc sĩ chuyên ngành thư viện và 01 cán

bộ đang theo học Văn bằng hai tiếng Anh

Thư viện đã tổ chức bố trí nhân sự như sau:

5 Tổ tập huấn và giải đáp thông tin 02

Trang 26

Hiện nay, Thư viện có 4 máy chủ cấu hình cao, được cài đặt các phần mềm thích hợp để thực hiện các chức năng: lưu trữ thông tin, quản trị website, quản lý truy cập Internet/Intranet…

Số lượng máy nghiệp vụ là 30 chiếc, được đặt cách biệt tại các vị trí trực phục vụ người dùng tin và tại phòng Nghiệp vụ của Thư viện Các máy này dành cho các thư viện viên, kỹ thuật viên sử dụng Mỗi cán bộ thư viện được cấp quyền sử dụng máy tính riêng và chịu trách nhiệm về công việc được thực hiện trên máy, về nội dung truy cập và download từ Internet tại máy của mình Cấu hình của các máy này cho phép đảm bảo tốc độ thực hiện các khâu xử lý nghiệp vụ thông tin và phục vụ người dùng tin: Pentium (R) 4; CPU: 3.00GHz; RAM 256 MB, màn hình 17 inch

Số lượng máy dành cho sinh viên, học viên tra cứu, thực hành kỹ năng tin học, nghe thông tin âm thanh số hoá và dành cho các mục đích tập huấn của Thư viện hoặc Nhà trường là 250 chiếc, được đặt tại các tầng của Thư viện Trong đó, tại 2 Phòng Tra cứu thông tin mạng và Tập huấn trên tầng 3,

Trang 27

số lượng máy là hơn 200 chiếc Cấu hình của các máy này là C 1.8GHz; CPU: 2.00 GHz, RAM 256MB, màn hình 15 hoặc 17 inch

Các máy tính của Thư viện đều được cài đặt Hệ điều hành Windows, phần mềm Libol và trình duyệt Internet cùng các chương trình khác như Microsoft Office, Vietkey… để phục vụ quá trình làm việc và nghiên cứu, học tập của cán bộ Thư viện và người dùng tin Mọi máy tính đều được kết nối mạng LAN và mạng Internet và phần lớn trong số đó có kèm tai nghe cá nhân

Ngoài hệ thống máy tính, Thư viện còn lắp đặt một hệ thống camera an ninh để kiểm soát việc ra vào Thư viện và việc tìm kiếm, sử dụng tài liệu tại các kho mở, sử dụng trang thiết bị tại các phòng máy tính

Bên cạnh đó, hệ thống cổng từ và các máy in mã vạch, máy đọc mã vạch, máy nạp - khử từ, hệ thống điều hoà không khí cũng được trang bị, để

hỗ trợ các cán bộ Thư viện bảo quản tài liệu và tiến hành các khâu phục vụ của Thư viện

1.3.2 Thƣ viện thuộc các Khoa và Trung tâm

- Thư viện thuộc các khoa gồm có: thư viện Khoa Giáo dục chính trị, thư viện Khoa Giáo dục thể chất, thư viện Khoa Hàn Quốc, thư viện Khoa Italia, thư viện Khoa Ngữ văn Việt Nam, thư viện Khoa Quản trị kinh doanh -

Du lịch, thư viện Khoa Tây Ban Nha, thư viện Khoa Tại chức, thư viện Khoa Việt Nam học, thư viện Khoa Đại cương, thư viện Khoa Đức, thư viện Khoa Anh, thư viện Khoa Pháp

- Thư viện thuộc các trung tâm gồm có: thư viện Trung tâm giáo dục quốc tế, thư viện Trung tâm ngôn ngữ và văn hoá Thái

Trang 28

Với đặc thù riêng của mình, bộ phận thư viện khoa, trung tâm có chức năng lưu giữ, bảo quản tài liệu các chuyên ngành hẹp phục vụ cho đối tượng chủ yếu là cán bộ giảng dạy trong Khoa

Tại mỗi khoa lượng tài liệu lưu trữ có sự khác nhau, các khoa có số lượng tài liệu lưu trữ lớn như: thư viện Khoa Hàn Quốc, thư viện Khoa Đức, thư viện khoa Tây Ban Nha, thư viện Khoa Pháp, thư viện khoa Italia

Trước đây, thư viện thuộc khoa và trung tâm do các khoa và trung tâm

tự xây dựng và quản lý Việc quản lý và khai thác tài liệu ở đây do 1 trợ lý hành chính kiêm nhiệm Đây cũng chính là điểm mấu chốt dẫn tới tình trạng khai thác, sử dụng thông tin tại bộ phận thư viện khoa còn nhiều hạn chế Do không có nghiệp vụ xử lý thông tin, những người phụ trách thư viện của khoa

tổ chức tài liệu một cách cảm tính, tài liệu hầu như chỉ phục vụ cán bộ giảng dạy

Đến nay, Nhà trường đã giao cho TVĐHHN thống nhất xây dựng và quản lý cơ sở dữ liệu của toàn trường, bao gồm cả thư viện ở các khoa và trung tâm nên việc tìm kiếm, khai thác tài liệu thuộc các khoa và trung tâm được dễ dàng, thuận tiện hơn thông qua phần mềm Libol 6.0

1.3.3 Vai trò của hoạt động thông tin - thư viện trong việc nâng cao chất lượng giáo dục của Nhà trường

Hoạt động thư viện trong trường đại học nói chung và hoạt động TTTV tại Trường ĐHHN nói riêng đóng vai trò là cầu nối giữa người dùng tin (NDT) với các nguồn thông tin, giữa NDT với nhau, đặc biệt là giữa người dạy và người học

Năm 2006, Trường ĐHHN bắt đầu áp dụng chương trình đào tạo theo tín chỉ và không ngừng cải tiến đổi mới chương trình và phương pháp giảng dạy để ngày càng phù hợp với nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất

Trang 29

nước Từ năm 2008, Trường ĐHHN đã chuyển đổi hình thức đào tạo theo học chế tín chỉ ở một số chuyên ngành như: Công nghệ thông tin, Kế toán, Quốc

tế học, Quản trị kinh doanh, Du lịch, Tài chính - Ngân hàng Hình thức đào tạo này đòi hỏi người học phải đọc tài liệu nhiều hơn và người dạy muốn có bài giảng tốt cũng phải nghiên cứu nhiều tài liệu Do đó, hoạt động TTTV có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình thực hiện nhiệm vụ đào tạo của Nhà trường

Đáp ứng nhu cầu tin (NCT) của NDT trong trường hiện nay đang là nhiệm vụ trọng yếu của TVĐHHN và của thư viện trực thuộc Khoa/Trung tâm Hiệu quả của hoạt động TTTV hiện đại có tác động trực tiếp đến chất lượng học tập, giảng dạy và nghiên cứu của các nhóm đối tượng NDT trong Trường

Thông qua các hoạt động của thư viện, mỗi NDT với trình độ và nhu cầu tin khác nhau có thể nhận được những thông tin, tri thức phù hợp với yêu cầu của mình phục vụ mục đích học tập, giảng dạy hoặc nghiên cứu

1.4 Đặc điểm người dùng tin và nhu cầu tin

Hoạt động thông tin bao gồm ba yếu tố cấu thành: động cơ hoạt động, mục đích hoạt động và phương tiện hoạt động Trong đó động cơ có vai trò là yếu tố nguồn gốc và là yếu tố kích thích mọi hoạt động Nhu cầu tin (NCT) - một loại nhu cầu tinh thần của con người, chính là yếu tố cấu thành động cơ của hoạt động thông tin Là chủ thể của NCT, NDT được xem là yếu tố trung tâm, định hướng cho hoạt động thông tin - thư viện Do đó, nghiên cứu NDT

và NCT là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong nội dung hoạt động của các cơ quan TTTV, đảm bảo mục đích không ngừng nâng cao khả năng đáp ứng và thoả mãn tối đa nhu cầu thông tin của NDT

Trang 30

1.4.1 Người dùng tin

Xuất phát từ nhiệm vụ, mục tiêu và yêu cầu đổi mới giáo dục đào tạo của trường ĐHHN trong giai đoạn hiện nay, căn cứ đặc điểm nghề nghiệp, ta có thể phân chia NDT ở đây thành các nhóm chủ yếu sau:

- Cán bộ lãnh đạo, quản lí:

Nhóm NDT này chiếm tỷ lệ không cao nhưng đặc biệt quan trọng vì họ là những người đưa ra chính sách, xây dựng các kế hoạch phát triển của Trường nói chung và Thư viện nói riêng

Cán bộ quản lí vừa là NDT vừa là chủ thể hoạt động thông tin của trường ĐHHN Chính họ là người cung cấp thông tin có giá trị cao trong quá trình quản lí, điều hành mọi hoạt động của Nhà trường Họ thường có rất ít thời gian đến khai thác tài liệu tại Thư viện, do đó thông tin để phục vụ nhóm đối tượng này cần được cung cấp đến tận nơi ở hoặc nơi làm việc của họ

- Cán bộ nghiên cứu, giảng dạy:

Đây là nhóm NDT có nhu cầu cao và bền vững vì thông tin là tiềm năng hoạt động khoa học và giảng dạy của họ Họ vừa là những người cung cấp thông tin qua các bài giảng, các công trình nghiên cứu khoa học, các dự án, hội nghị vừa là những NDT thường xuyên, liên tục của các bộ phận thông tin trong và ngoài Nhà trường

Trang 31

Nhóm 2: Học viên cao học và nghiên cứu sinh

Họ là những người đã tốt nghiệp đại học, vì vậy có ít nhiều kinh nghiệm trong việc sử dụng thư viện, hiểu biết về phương thức khai thác và sử dụng thư viện một cách có hiệu quả để phục vụ cho việc nghiên cứu, học tập của mình Nhóm 3: Sinh viên (bao gồm sinh viên chính qui; sinh viên tại chức; sinh viên

dự án và dự án ngắn hạn) Đây là những chủ thể thông tin đông đảo và biến động nhất trong trường ĐHHN

- Sinh viên chính quy:

Đây là nhóm NDT đông đảo của Thư viện, nhu cầu thông tin của họ là rất lớn Họ thường sử dụng thư viện với cường độ cao, đặc biệt vào dịp chuẩn

bị thi học kỳ, thực hiện các công tình nghiên cứu khoa học, bảo vệ khóa luận

Trong giai đoạn hiện nay, việc đổi mới phương pháp dạy và học với quan điểm lấy người học làm trung tâm đã khiến nhóm NDT này nâng cao tính tích cực, chủ động đến thư viện để học tập và nghiên cứu Lúc này thư viện được xem là “giảng đường thứ hai”, là kênh thông tin quan trọng giúp người học nắm bắt và làm chủ tri thức

- Sinh viên tại chức:

Sinh viên tại chức của trường có NCT chưa cao và không thường xuyên sử dụng thư viện Họ chủ yếu lên thư viện vào mùa thi, đôi khi họ đến thư viện không phải chỉ khai thác thông tin phục vụ học tập mà còn để thỏa màn nhu cầu giải trí của mình

Sinh viên dự án/Sinh viên dự án ngắn hạn:

Đây là nhóm NDT không thường xuyên của Thư viện, tùy theo các khoá đào tạo ngắn hạn của Nhà trường NCT chủ yếu của họ là các tài liệu học tiếng Chính sách của Thư viện quy định rõ: sinh viên thuộc dự án ngắn hạn (đào tạo trong 3 tháng, 6 tháng hoặc 9 tháng) sẽ không được mượn tài liệu về nhà, chỉ

có thể đọc, sử dụng tài liệu tại chỗ

Trang 32

Tuy nhiên, sự phân chia thành nhóm NDT ở trường ĐHHN như trên chỉ là tương đối Bởi NDT có thể vừa là giảng viên vừa là cán bộ lãnh đạo, quản lý hay cán bộ nghiên cứu khi họ tham gia vào các hoạt động khác nhau

Tại thời điểm thực hiện thống kê vào tháng 5 năm 2012, hệ thống phần mềm của Thư viện ghi nhận có 12.616 NDT, trong đó sinh viên chính quy chiếm tỉ

lệ cao nhất (86.37%); học viên cao học chiếm 5.57%; sinh viên dự án và dự

án ngắn hạn đạt 3.84%; chỉ có 1.98% cán bộ, giảng viên và 2.24% sinh viên tại chức

Điều đó đòi hỏi TVĐHHN phải nắm vững NCT của từng nhóm NDT

để từ đó đưa ra những giải pháp và các hình thức cung cấp thông tin nhằm thoả mãn tối đa NCT của họ Đặc biệt, Thư viện cần hướng tới phát triển các

Trang 33

CSDL và tài liệu đa phương tiện nhằm góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của Nhà trường

Nhu cầu tin cụ thể của từng nhóm được khái quát như sau:

- Nhóm 1: Cán bộ, giảng viên

+ Cán bộ lãnh đạo, quản lý:

Bao gồm Ban Giám hiệu, trưởng phó các phòng ban chức năng, trưởng/phó các Khoa, Bộ môn Tuy chỉ chiếm một tỉ lệ rất nhỏ trong cơ cấu thành phần người dùng tin nhưng đây là những người có vai trò quan trọng trong việc điều hành các hoạt động của nhà trường

Công việc của nhóm này là: Tổ chức, điều hành hoạt động của bộ phận

do mình phụ trách Họ thường phải ra các quyết định để hoàn thành phần việc của mình Đây là những người rất năng động, tự tin, có khả năng tổ chức, điều hành, có uy tín nhất định đối với tập thể Mặc dù vậy, do quá bận rộn và có thể thường xuyên phải đi công tác, hoặc không trực tiếp có mặt tại nơi làm việc, nhóm người này có rất ít thời gian để tìm kiếm các thông tin và phương tiện trợ giúp

Thông tin họ cần thường phải thật đầy đủ và có độ chính xác cao, đồng thời phải cô đọng, xúc tích và họ thường đánh giá cao các nguồn tin có tóm tắt hay tổng quan, dự báo Nhu cầu tin của họ không chỉ cao mà còn rất rộng Nhóm người dùng tin này cần những thông tin về khoa học quản lý, lãnh đạo, khoa học giáo dục, thông tin mới về tình hình chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá… trong và ngoài nước, thông tin về yêu cầu phát triển của các địa phương, các đơn vị kinh tế, xã hội… để từ đó ra những quyết định đúng đắn, kịp thời trong quá trình lãnh đạo, quản lý nhà trường và hoàn thành tốt các nhiệm vụ của các phòng ban, khoa, tổ bộ môn Đặc biệt, tại trường Đại học

Hà Nội, tất cả cán bộ lãnh đạo, quản lý đều có khả năng sử dụng ít nhất một ngoại ngữ: Tiếng Anh hoặc tiếng Nga, phần lớn trong số này có thể sử dụng

Trang 34

từ 2 ngoại ngữ trở lên Do vậy, thông tin được ghi bằng các ngôn ngữ khác cũng thường được họ khai thác

+ Cán bộ nghiên cứu, giảng dạy:

Là lực lượng nòng cốt của nhà trường Nhu cầu của đội ngũ giảng viên chủ yếu là những thông tin chuyên sâu về các lĩnh vực đào tạo của trường, về các môn khoa học do họ đang trực tiếp tham gia giảng dạy để phục vụ cho nghiên cứu khoa học, biên soạn giáo trình, giáo án, bài giảng và nâng cao trình độ chuyên môn của mình Một số giảng viên cũng đồng thời là người quản lý hay cán bộ của các phòng ban, khoa, tổ bộ môn Vì vậy, họ cũng cần những thông tin khác để tham mưu cho Ban Giám hiệu và giúp việc trực tiếp cho những người quản lý, lãnh đạo khác Ngoài ra, nhóm người dùng tin này còn cần đến một số thông tin để giải trí và mở rộng tầm hiểu biết xã hội Do

đó, Thư viện cần quan tâm đến những công trình nghiên cứu khoa học của các giảng viên và của các học viên, sinh viên do họ hướng dẫn thực hiện đề tài, các môn học họ đang đảm nhiệm giảng dạy, các ý kiến của họ về các nguồn thông tin chuyên ngành mới, kỷ yếu các hội nghị, hội thảo khoa học, các tài liệu cụ thể cần thiết như giáo trình, tài liệu hướng dẫn giảng dạy… và bổ sung các tác phẩm văn học, nghệ thuật, báo chí…

- Nhóm 2: Học viên cao học và nghiên cứu sinh: Gồm 703 người Thành phần của nhóm này chủ yếu là giáo viên đang giảng dạy ngoại ngữ tại các trường học, trường đại học và cao đẳng, trung cấp… trên địa bàn thành phố Hà Nội và các địa phương khác Họ có nhu cầu lớn về các giáo trình tiếng nước ngoài, tài liệu về phương pháp giảng dạy mới và kiến thức lý luận về ngôn ngữ cũng như phương pháp thực hiện nghiên cứu trong lĩnh vực khoa học ngôn ngữ

- Nhóm 3 : Sinh viên:

Trang 35

+ Sinh viên chính quy : Gồm 10.897 người, đang học tập tại các khoa đào tạo của trường: Khoa Đào tạo Đại cương, Khoa Quản trị Kinh doanh –

Du lịch, Khoa Công nghệ thông tin, Khoa Tiếng Anh, Khoa Tiếng Nhật, Khoa Tiếng Trung Quốc, Khoa Tiếng Hàn Quốc, Khoa Tiếng Nga, Khoa Tiếng Pháp, Khoa Tiếng Italia, Khoa tiếng Đức, Khoa Việt Nam học Đây là nhóm người dùng tin chủ yếu, đông đảo và thường xuyên nhất của Thư viện trường Đại học Hà Nội Đây cũng là nhóm người dùng tin có đặc điểm riêng biệt và dễ có sự biến đổi nhu cầu tin Sinh viên của trường cần nhiều thông tin

về các chuyên ngành khoa học, thông tin được thể hiện bằng nhiều loại hình ngôn ngữ khác nhau và họ thường đưa các yêu cầu tin trải rộng từ các tài liệu giáo khoa, giáo trình, đến các tài liệu mang tính chất nghiên cứu, tham khảo phục vụ cho quá trình học tập của họ tại trường và cũng có không ít yêu cầu tin mang tính chất giải trí đa dạng, phong phú

+ Sinh viên tại chức (học ban ngày) gồm 282 người và Sinh viên dự án gồm 484 người Hiện nay, 2 nhóm này mới chỉ được sử dụng quyền tra cứu, tham khảo tài liệu tại Thư viện chứ chưa được cấp quyền mượn tài liệu học tập về nhà tham khảo Họ cũng có quyền truy cập mạng và sử dụng các nguồn tài liệu số hoá như những nhóm người dùng tin khác Đây là những người dùng tin có rất ít thời gian đến Thư viện, nhưng nhu cầu tin của họ lại rất đa dạng và thường có sự thay đổi Nhóm Sinh viên tại chức thường đến đọc tài liệu tại Thư viện, tài liệu được họ sử dụng nhiều nhất là tài liệu tra cứu (chủ yếu là từ điển các thứ tiếng) và nhóm này thường xuyên sử dụng các sản phẩm, dịch vụ của Thư viện như: Các Bản tin luyện dịch do Thư viện phát hành, dịch vụ sao chụp tài liệu, dịch vụ tư vấn thông tin… Nhóm sinh viên dự

án gồm các sinh viên dự án ngắn hạn (có thời gian học tập tại trường là dưới 6 tháng) và sinh viên dự án dài hạn Những sinh viên này ít khi đến Thư viện, một phần vì họ có một thư viện dùng riêng tại Trung tâm Giáo dục Quốc tế

Trang 36

của nhà trường, phần khác vì họ có rất ít thời gian và Thư viện cũng chưa cấp nhiều quyền sử dụng cho họ Nhu cầu tin của nhóm này tương đối đa dạng và phải là thông tin có chất lượng cao, được viết bằng các ngôn ngữ khác

Như mọi hoạt động khác của con người, hoạt động thông tin được bắt đầu từ NCT của NDT NCT chính là một yếu tố quan trọng, góp phần quyết hình thành hoạt động thông tin Phát triển NCT của NDT trường Đại học Hà Nội cũng đang là một mục tiêu hướng tới của hoạt động thông tin - thư viện tại Trường

Trang 37

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN -

THƯ VIỆN TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC HÀ NỘI

2.1 Xây dựng và phát triển nguồn lực thông tin

Nguồn lực thông tin được coi là bộ nhớ của nhân loại, là kho tàng văn hoá của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc

Nguồn lực thông tin được coi là phần tích cực của tiềm lực thông tin,

đó là những nguồn tin được kiểm soát, tổ chức lại theo một cách thức nhất định để có thể truy cập, tìm kiếm, khai thác, sử dụng một cách thuận tiện nhất, đồng thời phục vụ các mục đích khác nhau trong hoạt động của thư viện

2.1.1 Xây dựng và phát triển nguồn tin tại Thư viện Trường Đại học Hà Nội

Hiện nay, TVĐHHN đang sở hữu một khối lượng vốn tài liệu đa dạng

và phong phú Với đặc thù là một trường đào tạo chuyên ngành về ngoại ngữ,

do vậy phần lớn nguồn tài liệu của Thư viện là ngoại văn với nhiều thứ tiếng khác nhau như: tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Trung, tiếng Hàn Quốc, tiếng Nhật, tiếng Ý, tiếng Tây Ban Nha… Ngoài ra còn có nhiều tài liệu giáo trình bằng tiếng Việt để phục vụ cho bạn đọc trong quá trình học tập tiếng nước ngoài

Cụ thể như sau:

- Tài liệu truyền thống:

* Sách: Tổng số: 21.048 tên tài liệu; 32.271 số bản tài liệu

Trong đó:

- Sách tiếng Việt:

Tổng số: 4.518 tên; 7.316 bản

Trang 38

* Luận án, luận văn, khóa luận: Tổng số: 1.579 tên; 2.294 bản

* Báo, tạp chí: Tổng số: 262 tên tạp chí khác nhau: 41.416 số; 58.147 tổng số bản

- Tài liệu điện tử:

+ Cơ sở dữ liệu do Trung tâm xây dựng:

CSDL thư mục sách: 35.108 Biểu ghi CSDL toàn văn báo, tạp chí: 1043 Biểu ghi CSDL toàn văn luận án, luận văn: 218 Biểu ghi CSDL âm thanh: 1.702 Biểu ghi

CSDL sách điện tử: 822 Biểu ghi + Cơ sở dữ liệu nước ngoài: Hiện nay Thư viện có CSDL các tạp chí trực tuyến về một vài lĩnh vực như quản trị kinh doanh và du lịch: Development Policy Review, International Journal Of Finance & Economics, International Review of Finance…; công nghệ thông tin: Computer Fraud & Security, Computer Law & Security Review, Computers & Security…; ngôn ngữ: ELT Journal, Langages, Langue Française, Le français… rất được người dùng tin quan tâm và thường xuyên truy cập Thư viện có hướng dẫn cụ thể cho sinh viên trên Website và trên phòng máy để có thể truy nhập vào CSDL này

Hiện nay, tài liệu trong Thư viện có các loại ngôn ngữ chính là: Tiếng Việt, Tiếng Anh, Tiếng Đức, Tiếng Hàn Quốc, Tiếng Trung Quốc, Tiếng

Trang 39

Nga, Tiếng Tây Ban Nha… Tài liệu ngoại văn chiếm số lượng lớn trong việc phục vụ người dùng tin tại Thư viện, trong đó tài liệu tiếng Anh chiếm tỷ lệ cao nhất

Tài liệu ngoại văn của Thư viện được tổ chức thành một kho riêng biệt phục vụ cho NDT Trong kho tập trung nhiều tài liệu có giá trị được viết bằng nhiều thứ tiếng và thể hiện nhiều nội dung phong phú về văn hoá, phong tục tập quán, lễ nghi, ẩm thực, du lịch… của các quốc gia khác nhau

Theo số liệu khảo sát ý kiến của NDT về loại hình tài liệu mà NDT xem là hữu ích nhất, có 79% NDT lựa chọn loại hình tài liệu là sách, 9.8% NDT lựa chọn loại hình báo-tạp chí, 3.8% lựa chọn luận văn, 3.7% lựa chọn

đề tài nghiên cứu, 2.2% lựa chọn tài liệu trên mạng Internet; điều này cho thấy loại hình tài liệu là sách vẫn giữ vai trò quan trọng, được NDT đánh giá cao và xem đó là loại hình hữu ích nhất hỗ trợ việc học tập, nghiên cứu và giảng dạy

Loại hình tài liệu Lựa chọn (%)

File tài liệu nghe MP3 0.5

Tài liệu trên mạng Internet 2.2

Trang 40

Tài liệu hữu ích theo lựa chọn của người dùng tin

0.5 3.8

Sách Báo, tạp chí Luận văn

Đề tài NCKH File tài liệu nghe MP3 Tài liệu điện tử Tài liệu trên mạng Internet Tài liệu khác

Biều đồ 2.1: Tài liệu hữu ích theo lựa chọn của người dùng tin

Do đó, khi xây dựng và phát triển nguồn tin tại Trường ĐHHN cần lưu

ý đến nhu cầu và những loại hình tài liệu mà NDT mà lựa chọn

2.1.2 Xây dựng và phát triển nguồn tin tại thư viện các Khoa

Hiện nay đang có số lượng lớn nguồn tài liệu lưu trữ tại thư viện các Khoa, cụ thể:

Ngày đăng: 23/03/2015, 13:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục Đào tạo (2010), Nghị quyết số 05-NQ/BCSĐ ngày 06/01/2010 của Ban Cán sự Đảng Bộ Giáo dục và Đào tạo về đổi mới quản lí giáo dục đại học giai đoạn 2010-2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghị quyết số 05-NQ/BCSĐ
Tác giả: Bộ Giáo dục Đào tạo
Năm: 2010
2. Bộ Giáo dục Đào tạo (2010), Quyết định số 179/QĐ-BGDĐT ngày 11 tháng 01 năm 2010 phê duyệt Chương trình hành động triển khai thực hiện Nghị quyết số 05-NQ/BCSĐ ngày 06/01/2010 của Ban Cán sự Đảng Bộ Giáo dục và Đào tạo về đổi mới quản lí giáo dục đại học giai đoạn 2010-2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 179/QĐ-BGDĐT
Tác giả: Bộ Giáo dục Đào tạo
Năm: 2010
3. Bộ Giáo dục Đào tạo (2010), Chỉ thị số 296/CT-TTg ngày 27 tháng 02 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về đổi mới quản lí giáo dục đại học giai đoạn 2010-2012 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị số 296/CT-TTg
Tác giả: Bộ Giáo dục Đào tạo
Năm: 2010
5. Cung Thị Bích Hà (2009), Tăng cường công tác tổ chức và hoạt động của kho mở tại Thư viện Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội, Luận văn thạc sĩ Khoa học Thư viện, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường công tác tổ chức và hoạt động của kho mở tại Thư viện Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội
Tác giả: Cung Thị Bích Hà
Năm: 2009
6. Đặng Quang Hiệp (2006), Tăng cường hoạt động thông tin - thư viện Trường Đại học Hàng Hải trong giai đoạn hiện nay, Luận văn thạc sĩ 7. Hội thư viện Hoa Kỳ, Phạm Thị Lệ Hương, Lâm Vĩnh Thế, Nguyễn Thị Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường hoạt động thông tin - thư viện Trường Đại học Hàng Hải trong giai đoạn hiện nay
Tác giả: Đặng Quang Hiệp
Năm: 2006
8. Lê Cao Đại (2007), Tăng cường hoạt động thông tin - thư viện Trường Đại học Lao động - Xã hội trong giai đoạn hiện nay, Luận văn thạc sĩ 9. Lê Thị Vân Nga (2009), Phát triển tài liệu số hóa toàn văn tại trườngĐại học Hà Nội, Luận văn thạc sĩ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng cường hoạt động thông tin - thư viện Trường Đại học Lao động - Xã hội trong giai đoạn hiện nay", Luận văn thạc sĩ 9. Lê Thị Vân Nga (2009), "Phát triển tài liệu số hóa toàn văn tại trường "Đại học Hà Nội
Tác giả: Lê Cao Đại (2007), Tăng cường hoạt động thông tin - thư viện Trường Đại học Lao động - Xã hội trong giai đoạn hiện nay, Luận văn thạc sĩ 9. Lê Thị Vân Nga
Năm: 2009
10. Nguyễn Thị Bắc, Vĩnh Quốc Bảo, Ngô Thị Hồng Điệp, Nguyễn Thị Thanh Mai (2010), Cung cấp thông tin thông qua thư viện công cộng Việt Nam : Chuẩn hoá đánh giá hoạt động và tác động, Hội Thư viện Việt Nam, Tài liệu hướng dẫn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cung cấp thông tin thông qua thư viện công cộng Việt Nam : Chuẩn hoá đánh giá hoạt động và tác động
Tác giả: Nguyễn Thị Bắc, Vĩnh Quốc Bảo, Ngô Thị Hồng Điệp, Nguyễn Thị Thanh Mai
Năm: 2010
12. Nguyễn Huy Chương (2006), Đề xuất đổi mới thư viện đại học Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế, Kỷ yếu hội thảo quốc tế: Thư viện Việt Nam - Hội nhập và phát triển, Tp HCM, tr.1-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu hội thảo quốc tế: Thư viện Việt Nam - Hội nhập và phát triển
Tác giả: Nguyễn Huy Chương
Năm: 2006
13. Nguyễn Huy Chương, Trần Mạnh Tuấn (2005), Quan điểm xây dựng chiến lược và mục tiêu phát triển hoạt động thông tin - thư viện đại học Việt Nam giai đoạn 2006 - 2010, Kỷ yếu Hội nghị ngành Thông tin Khoa học và Công nghệ lần thứ V, Hà Nội, tr.43-48 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hội nghị ngành Thông tin Khoa học và Công nghệ lần thứ V
Tác giả: Nguyễn Huy Chương, Trần Mạnh Tuấn
Năm: 2005
14. Nguyễn Huy Chương, Trần Mạnh Tuấn (2009), Đề xuất giải pháp thúc đẩy hoạt động thư viện đại học Việt Nam, Kỷ yếu Hội nghị thư viện các trường đại học, cao đẳng lần thứ nhất, Đà Nẵng, tr.188-200 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hội nghị thư viện các trường đại học, cao đẳng lần thứ nhất
Tác giả: Nguyễn Huy Chương, Trần Mạnh Tuấn
Năm: 2009
15. Nguyễn Văn Hành (2010), Về chuẩn hoá công tác thư viện đại học ở Việt Nam, Tạp chí Thư viện, (số 4), tr.10-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Thư viện
Tác giả: Nguyễn Văn Hành
Năm: 2010
19. Trần Mạnh Tuấn (1998), Sản phẩm và dịch vụ thông tin, thư viện: Giáo trình, Trung tâm Thông tin Tư liệu Khoa học và Công nghệ Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sản phẩm và dịch vụ thông tin, thư viện: Giáo trình
Tác giả: Trần Mạnh Tuấn
Năm: 1998
20. Võ Công Nam (2005), “Một góc nhìn khác về con đường hiện đại hóa Thư viện trong điều kiện Việt Nam”, Tạp chí thông tin - tư liệu, (số 1), tr.16-19Tài liệu trên Web Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một góc nhìn khác về con đường hiện đại hóa Thư viện trong điều kiện Việt Nam”, "Tạp chí thông tin - tư liệu
Tác giả: Võ Công Nam
Năm: 2005
21. Tông Quang Đăng (2012), Nâng cao chất lượng hoạt động thông tin của thư viện trường đại học địa phương, Bản tin thư viện - công nghệ thông tin, truy cập ngày 27/5/2012, địa chỉhttp://gralib.hcmuns.edu.vn/news_vi/2012-5.jsp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản tin thư viện - công nghệ thông tin
Tác giả: Tông Quang Đăng
Năm: 2012
22. Nguyễn Xuân Hoà (2007), Mấy vấn đề về việc xây dựng hệ thống thư viện có hiệu quả trong một trường đại học, Bản tin thư viện - công nghệ thông tin, truy cập ngày 27/5/2012, địa chỉhttp://gralib.hcmuns.edu.vn/news_vi/2007-10.jsp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản tin thư viện - công nghệ thông tin
Tác giả: Nguyễn Xuân Hoà
Năm: 2007
23. Website của Trung tâm Thông tin - thư viện trường Đại học Hà Nội, truy cập ngày 27/5/2012, địa chỉ http://lic.hanu.vn Link
4. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2008), Quy chế mẫu tổ chức và hoạt động thư viện trường đại học Khác
11. Nguyễn Huy Chương (2005), Nghiên cứu xây dựng mô hình tổ chức và hoạt động Trung tâm Thông tin - Thư viện đại học, Đề tài nghiên cứu cơ bản cấp ĐHQG, Hà Nội Khác
17. Quyết định số 190/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ ban hành ngày 17 tháng 8 năm 2006 Về việc đổi tên Trường Đại học Ngoại ngữ thành Trường Đại học Hà Nội Khác
18. Quyết định số 1332/QĐ-ĐHHN của Hiệu trưởng Trường Đại học Hà Nội ngày 01 tháng 10 năm 2010 Về việc đổi tên Trung tâm Thông tin Thư viện thành Thư viện Trường Đại học Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ - Nghiên cứu hoàn thiện hoạt động thông tin - thư viện tại trường Đại học Hà Nội
Sơ đồ (Trang 24)
Bảng 1.1: Trình độ chuyên môn của cán bộ TVĐHHN - Nghiên cứu hoàn thiện hoạt động thông tin - thư viện tại trường Đại học Hà Nội
Bảng 1.1 Trình độ chuyên môn của cán bộ TVĐHHN (Trang 25)
Bảng 1.2:  Phân công lao động tại TVĐHHN  1.3.1.4 Cơ sở vật chất và trang thiết bị - Nghiên cứu hoàn thiện hoạt động thông tin - thư viện tại trường Đại học Hà Nội
Bảng 1.2 Phân công lao động tại TVĐHHN 1.3.1.4 Cơ sở vật chất và trang thiết bị (Trang 26)
Bảng 2.1 Số liệu thống kê số lượng tài liệu lưu trữ tại thư viện các Khoa - Nghiên cứu hoàn thiện hoạt động thông tin - thư viện tại trường Đại học Hà Nội
Bảng 2.1 Số liệu thống kê số lượng tài liệu lưu trữ tại thư viện các Khoa (Trang 41)
Hình 2.1:  Biểu ghi đã có chỉ số phân loại - Nghiên cứu hoàn thiện hoạt động thông tin - thư viện tại trường Đại học Hà Nội
Hình 2.1 Biểu ghi đã có chỉ số phân loại (Trang 49)
Hình 2.2: Biểu ghi đã định chủ đề tài liệu - Nghiên cứu hoàn thiện hoạt động thông tin - thư viện tại trường Đại học Hà Nội
Hình 2.2 Biểu ghi đã định chủ đề tài liệu (Trang 50)
Hình 2.3:  Biểu ghi đã định từ khoá - Nghiên cứu hoàn thiện hoạt động thông tin - thư viện tại trường Đại học Hà Nội
Hình 2.3 Biểu ghi đã định từ khoá (Trang 52)
Hình 2.4: Biên mục sao chép qua cổng Z39.50 - Nghiên cứu hoàn thiện hoạt động thông tin - thư viện tại trường Đại học Hà Nội
Hình 2.4 Biên mục sao chép qua cổng Z39.50 (Trang 57)
Hình 2.5: Biểu ghi đã biên mục hiển thị  theo MARC21 - Nghiên cứu hoàn thiện hoạt động thông tin - thư viện tại trường Đại học Hà Nội
Hình 2.5 Biểu ghi đã biên mục hiển thị theo MARC21 (Trang 62)
Hình 2.6: Giao diện Website Thƣ viện Đại học Hà Nội - Nghiên cứu hoàn thiện hoạt động thông tin - thư viện tại trường Đại học Hà Nội
Hình 2.6 Giao diện Website Thƣ viện Đại học Hà Nội (Trang 67)
Hình 2.7: Giao diện OPAC trên website của TVĐHHN - Nghiên cứu hoàn thiện hoạt động thông tin - thư viện tại trường Đại học Hà Nội
Hình 2.7 Giao diện OPAC trên website của TVĐHHN (Trang 69)
Hình 2.8: Giao diện phần mềm Libol - Nghiên cứu hoàn thiện hoạt động thông tin - thư viện tại trường Đại học Hà Nội
Hình 2.8 Giao diện phần mềm Libol (Trang 77)
Hình 2.9: Giao diện phần mềm DigiHanuLic - Nghiên cứu hoàn thiện hoạt động thông tin - thư viện tại trường Đại học Hà Nội
Hình 2.9 Giao diện phần mềm DigiHanuLic (Trang 80)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm