ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- NGUYỄN PHÚC CHÍ HIỆN ĐẠI HOÁ CÔNG TÁC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG CÁC PHÒNG TƯ LIỆU THUỘC TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN PHÚC CHÍ
HIỆN ĐẠI HOÁ CÔNG TÁC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG CÁC PHÒNG TƯ LIỆU THUỘC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN,
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Chuyên ngành: Khoa học Thư viện
Mã số: 60 32 20 LUẬN VĂN THẠC SĨ THÔNG TIN – THƯ VIỆN
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Trần Thị Quý
Hà Nội - 2010
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 4
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 5
3.1 Mục đích nghiên cứu 5
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 6
4 Giả thuyết nghiên cứu 6
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
5.1 Đối tượng nghiên cứu 7
5.2 Phạm vi nghiên cứu 7
6 Phương pháp nghiên cứu 7
6.1 Phương pháp luận 7
6.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 8
7 Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của đề tài 8
7.1 Về mặt lý thuyết 8
7.2 Về mặt thực tiễn 8
8 Dự kiến kết quả nghiên cứu 8
NỘI DUNG 9
Chương 1: TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TRƯỚC YÊU CẦU NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO ĐÁP ỨNG NHU CẦU XÃ HỘI 9
1.1 Tính tất yếu của việc hiện đại hoá hoạt động thông tin thư viện 9
1.1.1 Sự tác động của khoa học và công nghệ tới hoạt động thông tin thư viện 9
1.1.2 Hoạt động thông tin thư viện đại học trước nhu cầu xã hội
11
Trang 31.1.3 Vai trò của việc hiện đại hoá hoạt động của các phòng tư
liệu tại Trường 19
1.2 Khái quát về Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn 20
1.2.1 Lịch sử ra đời và phát triển 20
1.2.2 Sứ mệnh và mục tiêu phát triển 21
1.2.3 Bối cảnh và môi trường hoạt động 23
1.2.4 Cơ cấu tổ chức bộ máy 25
1.3 Những vấn đề chung về hiện đại hoá hoạt động thư viện 26
1.3.1 Những khái niệm chung 26
1.3.2 Những điều khác biệt giữa thư viện hiện đại với thư viện truyền thống 32
1.3.3 Cấu trúc của hệ thống thư viện hiện đại 35
Chương 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC PHÒNG TƯ LIỆU CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN 38
2.1 Đặc điểm về người dùng tin và nhu cầu tin ở Trường 38
2.1.1 Người dùng tin 39
2.1.2 Nhu cầu tin 47
2.2 Khái quát chung về các phòng tư liệu 51
2.2.1 Những đặc điểm chung 51
2.2.2 Vai trò, chức năng và nhiệm vụ của các phòng tư liệu trong quá trình đào tạo và nghiên cứu khoa học 53
2.2.3 Mối quan hệ giữa các phòng tư liệu và Trung tâm Thông tin Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội 55
2.3 Đặc điểm vốn tài liệu của các phòng tư liệu 56
2.3.1 Tài liệu truyền thống 57
2.3.2 Tài liệu điện tử 61
Trang 42.4 Đặc điểm về cơ sở vật chất và hạ tầng công nghệ thông tin 62
2.4.1 Đặc điểm về cơ sở vật chất 62
2.4.2 Đặc điểm hạ tầng công nghệ thông tin 62
2.5 Đặc điểm về đội ngũ cán bộ 63
2.6 Công tác thu thập, xử lý, lưu trữ, bảo quản và phục vụ tài liệu 64
2.6.1 Công tác thu thập tài liệu 64
2.6.2 Công tác xử lý tài liệu 64
2.6.3 Công tác lưu trữ và bảo quản tài liệu 67
2.6.4 Công tác tổ chức phục vụ 67
2.7 Nhận xét, đánh giá thực trạng trong tổ chức hoạt động của các phòng tư liệu của Trường 72
2.7.1 Ưu điểm 72
2.7.2 Hạn chế 73
2.7.3 Nguyên nhân 74
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HIỆN ĐẠI HOÁ CÔNG TÁC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC PHÒNG TƯ LIỆU CỦA TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN 76
3.1 Đầu tư hạ tầng công nghệ thông tin và kế thừa phần mềm quản lý 76
3.1.1 Đầu tư hạ tầng công nghệ thông tin 77
3.1.2 Kế thừa phần mềm quản trị thư viện điện tử tích hợp của Trung tâm Thông tin Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội 80
3.2 Tăng cường tiềm lực thông tin 86
3.2.1 Đẩy mạnh việc tạo lập, phát triển và cung cấp nguồn tin số hoá 86
3.2.2 Đẩy mạnh phát triển quản trị nguồn tin nội sinh 87
3.2.3 Đẩy mạnh các dịch vụ thông tin kể cả dịch vụ có thu 87
Trang 53.3 Đào tạo đội ngũ cán bộ và người dùng tin 87
3.3.1 Đào tạo đội ngũ cán bộ 87
3.3.2 Đào tạo người dùng tin 89
3.4 Đa dạng hóa các sản phẩm và dịch vụ 91
3.5 Chia sẻ và kết nối tài nguyên thông tin với các thư viện trong và ngoài nước 93
3.6 Mô hình tổ chức thực hiện 95
3.6.1 Yêu cầu chung về mô hình giải pháp 95
3.6.2 Mô hình tổ chức 96
3.6.3 Mô hình ứng dụng 100
3.6.4 Mô hình triển khai hệ thống thư viện điện tử 102
KẾT LUẬN 104
TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG THỐNG KÊ SỐ LIỆU
Bảng 1.1 So sánh giữa thư viện truyền thống và thư viện hiện đại 33
Bảng 2.1 Công việc của người dùng tin 41
Bảng 2.2 Mức độ dùng tin của người dùng tin 42
Bảng 2.3 Mức độ sử dụng tài liệu của người dùng tin 43
Bảng 2.4 Trình độ của nhóm người dùng tin là cán bộ quản lý, lãnh đạo 45
Bảng 2.5 Trình độ của nhóm người dùng tin là cán bộ giảng dạy, cán bộ nghiên cứu 46
Bảng 2.6 Vốn tài liệu của các phòng tư liệu 59
Bảng 2.7 Hình thức và chất lượng phục vụ 68
Bảng 2.8 Mức độ sử dụng các công cụ để tra cứu tài liệu truyền thống 70 Bảng 2.9 Các loại hình công cụ tìm tin điện tử mà người dùng tin quan tâm 71
Bảng 2.10 Mức độ bị từ chối mượn tài liệu 73
Bảng 2.11 Mức độ đáp ứng tài liệu của các phòng tư liệu 73
Bảng 3.1 Những vấn đề cần chú trọng trong thời gian tới của các phòng tư liệu 76
DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ ĐỒ THỊ MINH HỌA Hình 1.1 Cơ cấu tổ chức của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn 26
Hình 2.1 Mức độ sử dụng các loại hình tài liệu 39
Hình 2.2 Sơ đồ người dùng tin tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn 41
Hình 2.3 Công việc của người dùng tin 42
Hình 2.4 Mức độ sử dụng tài liệu của người dùng tin 43
Trang 7Hình 2.5 Độ tuổi của người dùng tin tại Trường Đại học Khoa học Xã
hội và Nhân văn 44
Hình 2.6 Ngoại ngữ được người dùng tin sử dụng 48
Hình 2.7 Ngôn ngữ tài liệu được sử dụng 49
Hình 2.8 Vốn tài liệu của các phòng tư liệu 61
Hình 2.9 Hình thức phục vụ 69
Hình 2.10 Chất lượng phục vụ 69
Hình 2.11 Đánh giá chất lượng, thái độ phục vụ của các phòng tư liệu 72 Hình 3.1 Cấu trúc phần mềm thư viện điện tử 82
Hình 3.2 Mô hình tổ chức thực hiện 96
Hình 3.3 Mô hình ứng dụng 100
Hình 3.4 Mô hình triển khai hệ thống thư viện điện tử 102
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 Tiếng Việt
CNH - HĐH Công nghiệp hoá – Hiện đại hoá
TTTT Trung tâm thông tin
TTTV Thông tin thư viện
Trang 9TVS Thư viện số
2 Tiếng Anh
AACR2 Anglo – American Cataloguing Rules
(Quy tắc biên mục Anh – Mỹ)
(Mạng nội bộ) MARC Machine Readable Cataloguing
(Khổ mẫu biên mục đọc máy)
Trang 10LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn
và giúp đỡ tận tình của PGS.TS Trần Thị Quý – Chủ nhiệm Khoa Thông tin – Thư viện, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới PGS.TS Trần Thị Quý về sự giúp đỡ quý báu đó
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo tham gia giảng dạy sau đại học tại Khoa Thông tin – Thư viện, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, các bạn bè đồng nghiệp và người thân - những người đã quan tâm động viên, cổ vũ và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và thực hiện luận văn này
Tác giả
Trang 11NHỮNG NỘI DUNG ĐÃ CHỈNH SỬA THEO Ý KIẾN HỘI ĐỒNG
1 Bỏ dấu “:” sau từ “Chương 1”, “Chương 2” và “Chương 3”
tại các trang 9, 38 và 76
2 Thêm cụm từ “thực tế” đằng sau chữ NDT của cụm từ “… tính
đến ngày 31/10/2009 thì số lượng NDT” ở trang 41
3 Thêm mục 2.2.3 “Mối quan hệ giữa các phòng tư liệu và
Trung tâm Thông tin Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội” trang 55
4 Tách số liệu giữa hình thức và chất lượng phục vụ tại bảng 2.7
“Hình thức và chất lượng phục vụ” ở trang 68
5 Sửa mục 3.1 “Đầu tư hạ tầng công nghệ thông tin và trang bị
phần mềm quản lý” thành “Đầu tư hạ tầng công nghệ thông tin và kế thừa phần mềm quản lý” trang 76
6 Sửa cụm từ “Phần mềm TVĐT” thành “Kế thừa Phần mềm
TVĐT sẵn có của TTTT - TV ĐHQGHN” thuộc mục 3.1.1 “Đầu tư hạ tầng Công nghệ Thông tin” trang 79
7 Sửa mục 3.1.2 “Trang bị phần mềm quản trị thư viện điện tử
tích hợp” thành “Kế thừa phần mềm quản trị thư viện điện tử tích hợp của Trung tâm Thông tin Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội” và các nội
dung bên trong sao cho phù hợp với tiêu đề trang 80
8 Co hẹp phạm vi tăng cường tiềm lực thông tin trong mục 3.2
“Tăng cường tiềm lực thông tin” trang 86 chủ yếu là các nguồn tin nội
sinh riêng của các Khoa và Bộ môn
9 Sửa từ “mới” trong cụm từ “… các sản phẩm và dịch vụ mới
này sẽ giúp NDT tìm tin và chọn lọc thông tin phù hợp…” thành cụm từ
“hiện đại” tại mục 3.4 “Đa dạng hoá các sản phẩm và dịch vụ” ở trang
92 cho hợp logic giữa truyền thống và hiện đại
Trang 1210 Sửa mục 3.5 “Chia sẻ và kết nối cơ sở dữ liệu với các thư
viện trong và ngoài nước” thành “Chia sẻ và kết nối tài nguyên thông tin với các thư viện trong và ngoài nước” trang 93
11 Đưa TTTT – TV ĐHQGHN thành đơn vị tổ chức, điều phối,
hỗ trợ hoạt động chung và lên trên các đơn vị tham gia kết nối của đề án
của mục 3.6.1 “Yêu cầu chung về mô hình giải pháp” trang 95
12 Bổ sung chuẩn nghiệp vụ vào mục 3.6.1 “Yêu cầu chung về
mô hình giải pháp” trang 95
13 Không sử dụng mô hình tập trung tại phần 3.6.3 Mô hình ứng
dụng trang 100 mà thay vào đó là từng phòng tư liệu sử dụng phần mềm
và xây dựng CSDL độc lập và chuyển lại CSDL cho TTTT – TV ĐHQGHN tổ chức và hỗ trợ vận hành khai thác phục vụ bạn đọc
14 Cộng chính xác số liệu độc giả tham gia khảo sát từ 95 thành
96 trong câu hỏi số 2 của Biểu tổng hợp tại Phụ lục 1
15 Bỏ giá trị % tại cột “Đã sử dụng” trong câu hỏi số 9 của Biểu
tổng hợp tại Phụ lục 1
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
TS NGUYỄN HUY CHƯƠNG
Trang 131
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, dưới sự tác động mạnh mẽ của công nghệ thông tin (CNTT) và viễn thông đã làm mọi hoạt động của đời sống xã hội thay đổi về chất Nền kinh tế của các nước phát triển đã và đang dần dịch chuyển từ nền kinh tế công nghiệp sang nền kinh tế tri thức/thông tin Trong nền kinh tế này thông tin/tri thức có ý nghĩa quyết định, là nền tảng, là cơ sở để tồn tại và phát triển
Vậy làm thế nào để có thể sản sinh, thu thập, bảo quản, lưu giữ, sử dụng thông tin một cách hiệu quả là vấn đề hết sức quan trọng đang được
sự quan tâm đặc biệt của các nhà quản lý, các nhà chuyên môn trong mọi lĩnh vực trong đó có lĩnh vực Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT), lĩnh vực Khoa học và Công nghệ (KH&CN) nhằm nâng cao chất lượng đào tạo để
có nguồn “máy cái” sản sinh thông tin là các chuyên gia có kiến thức
sâu rộng và kỹ năng nghề nghiệp thành thạo đáp ứng mọi nhu cầu của xã hội Mặt khác còn đảm bảo hoạt động KH&CN không ngừng phát triển
để tạo ra các sản phẩm nghiên cứu có chất lượng cao, công nghệ cao thúc đẩy nền kinh tế xã hội (KTXH) không ngừng biến đổi tích cực
Việt Nam là nước đang phát triển, để có thể nhanh chóng chuyển dịch sang nền kinh tế tri thức, Đảng và Nhà nước đang đẩy mạnh công cuộc đổi mới Trong công cuộc này, Đảng và Nhà nước xác định cùng với GD&ĐT, KH&CN là quốc sách hàng đầu để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá – hiện đại hoá (CNH – HĐH) đất nước Trong
sự nghiệp đổi mới GD&ĐT, Đảng và Nhà nước đặc biệt chú trọng đổi mới giáo dục đại học, bởi đầu ra của hệ thống giáo dục này là nguồn nhân lực có chất lượng cao, có khả năng đáp ứng nhu cầu của xã hội Chính vì vậy, phương thức đào tạo đại học theo tín chỉ đã được thay thế
Trang 142
cho phương thức đào tạo theo niên chế trước đây Với phương thức đào tạo mới này người học phải tự học, tự nghiên cứu nhiều hơn dưới sự hướng dẫn của thầy Do vậy, nguồn tài liệu/thông tin là vô cùng quan trọng giúp người học, người dạy trong quá trình tự nghiên cứu, tự học tập Hơn nữa, với hình thức đào tạo đa dạng như hiện nay, bên cạnh đào tạo tại chỗ còn đào tạo từ xa, nguồn tài liệu điện tử lại càng trở nên vô cùng quan trọng hơn bao giờ hết Các trường đại học cần phải nghiên cứu đảm bảo thông tin/tài liệu cho thầy và trò của Nhà trường một cách đầy đủ, cập nhật và chính xác, phù hợp với nhu cầu của người dùng tin (NDT) trong các trường đại học, cao đẳng cần có một thư viện (TV) hiện đại là một yếu tố vô cùng quan trọng, nó góp phần phục vụ có hiệu quả nhất cho công việc học tập, giảng dạy và nghiên cứu khoa học (NCKH)
Mặt khác, trong sự bùng nổ của thông tin hiện nay, các tư liệu số
tỏ ra có ưu thế hơn với việc chiếm ít không gian lưu trữ (được lưu bên trong các ổ cứng máy tính) thay vì dưới dạng giấy in chất đống trên các
kệ sách Các tư liệu dưới dạng số hóa cũng có thể dễ dàng được lưu giữ, bảo quản hơn (ít chịu tác động của mối mọt, và các tác động môi trường khác) Đặc biệt, với việc phổ thông của Internet, tài liệu số dễ dàng được luân chuyển trao đổi qua lại giữa các nơi khác nhau: việc chia sẻ các tài nguyên thông tin giữa các cá nhân với nhau, giữa các đơn vị với nhau, với thế giới bên ngoài sẽ được cập nhật thường xuyên, liên tục Do vậy, việc hiện đại hoá các TV đang ngày càng phát triển là một tất yếu khách quan
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (ĐHKHXH&NV), Đại học Quốc gia Hà Nội (ĐHQGHN) là trường đại học trọng điểm, là một trung tâm đào tạo và NCKH xã hội lớn nhất của đất nước, có nhiệm
Trang 15CB, GV, SV trong Trường Tuy nhiên, hiện nay hầu hết các tài liệu ở đây chưa được xử lý biên mục đầy đủ, hệ thống quản lý chưa được tin học hoá, hiện đại hoá gây rất nhiều khó khăn cho bạn đọc trong việc tra cứu và sử dụng tài liệu cũng như cho CB các phòng tư liệu trong công tác quản lý, nghiệp vụ, thống kê và báo cáo…
Để hệ thống các phòng tư liệu đi vào hoạt động một cách hiệu quả, đáp ứng được nhu cầu thông tin ngày càng phong phú, đa dạng và chuyên sâu của CB, GV và SV trong Trường thì việc đầu tư một hệ thống thư viện điện tử (TVĐT) đồng bộ và thống nhất tại các phòng tư liệu trong Trường là một việc làm hết sức cần thiết, cấp bách và có ý nghĩa lớn trong công tác hỗ trợ hoạt động học tập, giảng dạy và NCKH
Hệ thống này nếu được hiện đại hoá sẽ giúp cho việc chuẩn hoá toàn bộ các quy trình nghiệp vụ thông tin tư liệu (TTTL), hỗ trợ tối đa CB thủ thư trong công tác quản lý và phục vụ bạn đọc…
Như vậy, việc đầu tư hiện đại hóa công tác tổ chức hoạt động các phòng tư liệu là một trong những điều kiện thiết yếu của Trường ĐHKHXH&NV, góp phần hoàn thành tốt sứ mệnh và chức năng, nhiệm
vụ của Nhà trường trong giai đoạn đổi mới giáo dục đại học hiện nay của đất nước
Trang 164
Vì vậy, tôi đã chọn đề tài “Hiện đại hoá công tác tổ chức hoạt động
các phòng tư liệu thuộc Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN” làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp của mình
2 Tình hình nghiên cứu
Theo hướng nghiên cứu của đề tài, đã có một số công trình nghiên cứu, bài báo đăng trên các tạp chí khoa học của ngành và các luận văn thạc sĩ… đề cập đến vấn đề hiện đại hoá TV hoặc nghiên cứu một số khía cạnh về hoạt động của các phòng tư liệu thuộc Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN Cụ thể có các công trình như:
Đề tài nghiên cứu cấp bộ “Nghiên cứu xây dựng mô hình thư viện
điện tử về khoa học và công nghệ tại cơ quan khoa học và công nghệ địa phương” năm 2007 của tác giả Nguyễn Tiến Đức…
Đề tài NCKH cấp trường của Thạc sĩ Đỗ Văn Hùng “Hiện đại hoá
và xây dựng cơ sở dữ liệu điện tử cho các phòng tư liệu của các Khoa và
Bộ môn trực thuộc Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN” năm 2008; Đề tài “Tổ chức và hoạt động của phòng tư liệu khoa và bộ môn trực thuộc Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN” của Thạc sĩ Tô Thị Hiền năm 2003…
Ngoài ra, còn có một số bài viết hoặc các tham luận hội thảo đăng
trên tạp chí như: “Quá trình 20 năm tin học hoá và xây dựng thư viện
điện tử tại Thư viện Quốc gia và hệ thống thư viện công cộng Việt Nam
1986 - 2006, xu hướng phát triển đến năm 2020”, “Xây dựng thư viện điện tử tại Thư viện Quốc gia Việt Nam nguồn lực thông tin điện tử và các dịch vụ phục vụ bạn đọc” của tác giả Đặng Thị Mai năm 2008; "Thư viện đại học Việt Nam: Hiện trạng và xu hướng phát triển” năm 1998,
“Xây dựng và phát triển thư viện điện tử trong hệ thống thư viện đại học Việt Nam”, “Xu hướng phát triển thư viện đại học trên thế giới và quá
Trang 175
trình đổi mới hoạt động tại Trung tâm thông tin thư viện, ĐHQGHN”
năm 2007 của Tiến sĩ Nguyễn Huy Chương; “Nghiên cứu thư viện số
trên thế giới và định hướng nghiên cứu thư viện số tại Việt Nam” của tác
giả Nguyễn Hoàng Sơn năm 2007; “Tăng cường công tác quản lý nhà
nước nhằm hiện đại hóa các thư viện Việt Nam theo hướng xây dựng thư viện điện tử” của tác giả Nguyễn Thị Thanh Mai năm 2007; “Xây dựng thư viện điện tử và vấn đề số hóa tài liệu ở Việt Nam” năm 2005 của tác
giả Nguyễn Tiến Đức…
Một loạt các đề tài khoá luận tốt nghiệp có nội dung liên quan như:
“Nghiên cứu đề xuất xây dựng mô hình thư viện thực hành tại Khoa Thông tin – Thư viện, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN” của tác giả Nguyễn Thanh Tâm năm 2007, “Sơ bộ tìm hiểu các phòng tư liệu chuyên ngành tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn” của tác giả Tạ Thị Mỹ Hạnh năm 2005, “Tìm hiểu sản phẩm
và dịch vụ thông tin thư viện tại phòng tư liệu Khoa Thông tin – Thư viện Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN” của tác giả
Trần Thị Hồng Vân năm 2005
Như vậy, đề tài “Hiện đại hoá công tác tổ chức hoạt động các
phòng tư liệu thuộc Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN” là đề tài hoàn toàn mới, chưa có công trình nào tiến hành
nghiên cứu ở cả trong nước và nước ngoài
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở khảo sát thực trạng nguồn lực thông tin, hạ tầng công nghệ và cơ sở vật chất (CSVC), đội ngũ CB và NDT nhằm đưa ra những kiến nghị và giải pháp phù hợp mang tính khả thi để hiện đại hoá công
Trang 186
tác tổ chức hoạt động của các phòng tư liệu của các Khoa/Bộ môn trong Trường ĐHKHXH&NV
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu sứ mệnh, chức năng, nhiệm vụ của Trường ĐHKHXH&NV nói chung và của các phòng tư liệu của các Khoa/Bộ môn trong Trường nói riêng
- Nghiên cứu đặc điểm nhu cầu tin (NCT) của NDT của các phòng
tư liệu
- Khảo sát và phân tích thực trạng nguồn lực thông tin, CSVC, hạ tầng thiết bị, đội ngũ CB và nhu cầu hiện đại hóa công tác TTTL phục vụ đào tạo và NCKH các Khoa/Bộ môn
- Đề xuất các giải pháp để hiện đại hóa công tác tổ chức hoạt động cho các phòng tư liệu nhằm đáp ứng NCT của NDT là CB giảng dạy, CB nghiên cứu, nghiên cứu sinh (NCS), học viên cao học (HVCH) và SV
của Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN
4 Giả thuyết nghiên cứu
Đề tài “Hiện đại hoá công tác tổ chức hoạt động các phòng tư
liệu thuộc Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN”
thành công với những giải pháp uy tín khả thi được triển khai thực tiễn
sẽ mang lại nhiều hiệu quả thiết thực như sau:
- Các phòng tư liệu sẽ được hiện đại hoá và có được nguồn TTTL, phương thức phục vụ hiệu quả đáp ứng nhu cầu thông tin tài liệu phục vụ nghiên cứu, giảng dạy, học tập, giải trí của CB, GV, SV, học sinh và NCS… của Trường
- Các phòng tư liệu có được nguồn TTTL đa dạng và phong phú thể hiện ở nội dung và hình thức lưu trữ Tra cứu ngoài nguồn tài liệu trên giấy còn có các tài liệu điện tử, các văn bản toàn văn được số hóa,
Trang 197
sách điện tử, đĩa CD - ROM Các phòng tư liệu được trang bị các thiết bị hiện đại nối mạng LAN, mạng Internet, có phòng đọc đa phương tiện, cổng thông tin điện tử, đội ngũ CB có trình độ chuyên môn qua đó nâng cao năng lực hoạt động thông tin Giảm thiểu công sức lao động của CB, tăng hiệu quả phục vụ bạn đọc cả về số lượng và chất lượng
- Hoạt động nghiệp vụ được tự động hóa tối đa và tích hợp trong một hệ thống thống nhất có thể trao đổi tương tác và hỗ trợ lẫn nhau, tạo
ra một quy trình nghiệp vụ chuẩn của một TV hiện đại, tạo nên môi trường lao động khoa học và hiện đại Hoà nhập vào hệ thống thông tin (HTTT) của ĐHQGHN và HTTT toàn quốc và quốc tế
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Là nghiên cứu thực trạng công tác tổ chức hoạt động TTTL của các phòng tư liệu như: thu thập, quản lý, khai thác tài liệu và khả năng hiện đại hóa công tác tổ chức hoạt động TTTL
5.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Nghiên cứu hiện đại hoá các phòng tư liệu của các Khoa/Bộ môn trong Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN Dưới cách tiếp cận nghiên cứu, hiện đại hoá ở đây là xây dựng TVĐT cho các phòng tư liệu này
- Phạm vi thời gian: Trong thời gian hiện nay
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp luận
Trên cơ sở lý luận quan điểm nhận thức của chủ nghĩa duy vật biện chứng của Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác sách báo, TV
Trang 208
6.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
Tác giả luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
- Nghiên cứu tư liệu, phân tích, tổng hợp tài liệu
- Khảo sát thực tiễn, trao đổi, mạn đàm
- Điều tra bằng bảng hỏi
7 Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của đề tài
8 Dự kiến kết quả nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu là công trình khoa học có độ dày 108 trang với kết cấu 3 chương ngoài phần lời nói đầu, mục lục, tài liệu tham khảo và phần phụ lục
Chương 1 Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn trước yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội
Chương 2 Thực trạng tổ chức hoạt động của các phòng tư liệu của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Chương 3 Một số giải pháp hiện đại hoá các phòng tư liệu Khoa Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
Trang 219
NỘI DUNG Chương 1 TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN TRƯỚC YÊU CẦU NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO
ĐÁP ỨNG NHU CẦU XÃ HỘI 1.1 Tính tất yếu của việc hiện đại hoá hoạt động thông tin thư viện
1.1.1 Sự tác động của khoa học và công nghệ tới hoạt động thông tin thư viện
Bước sang thế kỷ 21, thế giới chuyển sang một giai đoạn mới – giai đoạn của nền kinh tế dựa trên nền tảng tri thức và thông tin Nền kinh tế tri thức, thông tin đã trở thành một nguồn lực rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế - chính trị - xã hội của nhiều quốc gia Để phát triển theo định hướng này, hệ thống giáo dục đại học của các nước trên thế giới từ lâu đã thực hiện đào tạo theo tín chỉ Đây là hình thức đào tạo hướng vào SV, coi người học là trung tâm trong quá trình dạy và học Với hình thức này, người học chủ động hơn trong quá trình tiếp thu kiến thức và quản lý thời gian, nâng cao khả năng tự học và tự nghiên cứu Để đáp ứng được nhu cầu đổi mới giáo dục đại học, các TV đại học tại các nước tiên tiến đã tham gia một cách chủ động và tích cực vào quá trình đổi mới ở cả mức độ TV và Nhà trường Là một bộ phận không thể thiếu đối với cộng đồng học tập, nghiên cứu, TV đã tạo nên sự thay đổi trong mỗi SV, giáo viên và các đối tượng NDT khác, giúp kết nối họ với các nguồn lực thông tin và tri thức cần thiết phục vụ cho mục đích học tập, nghiên cứu và giảng dạy
Trong những năm cuối của thế kỷ XX, việc ứng dụng CNTT trong hoạt động TV mới chỉ phổ biến với việc cung cấp các biểu ghi đọc máy (MARC), phổ biến thông tin qua các tài liệu in ấn và các cơ sở dữ liệu
Trang 2210
(CSDL); sử dụng khổ mẫu biên mục MARC 21, UNIMARC; quy tắc biên mục Anh - Mỹ (AACR2), tiêu chuẩn quốc tế (International Standard Bibliographic Description – ISBD); bảng phân loại thập phân
Đi – uây (Deway Decimal Classification – DDC); chuẩn ISO 10161 cho việc mượn liên TV Để có thể truy cập thông tin, NDT phải tra cứu trên mục lục trực tuyến (OPAC), hay trên các CSDL thư mục và toàn văn trên toàn cầu Thì đến nay, hệ thống TV tích hợp phổ biến với việc cung cấp các Website, liên kết siêu dữ liệu (Metadata), chuẩn biên mục MARC/XML, chuẩn biên mục siêu dữ liệu Dublin Core, RDF/XML, các chuẩn liên thông hệ thống, kết nối nguồn tin và tìm kiếm đọc Các TV đã cung cấp một khối lượng lớn và phong phú các CSDL trực tuyến và các nguồn tài liệu điện tử Công nghệ mạng không dây cũng đã phổ biến và giúp NDT cùng một thời điểm có thể truy cập thông tin ở nhiều nơi bằng máy tính cá nhân để khai thác thông tin trên Internet
Bên cạnh việc áp dụng các chuẩn nghiệp vụ và ứng dụng công nghệ mới vào hoạt động quản lý, tổ chức và khai thác thông tin, TV các nước tiên tiến còn tích cực mở rộng các dịch vụ thông tin nhằm nâng cao chất lượng phục vụ, đáp ứng nhu cầu thông tin đa dạng và phong phú của NDT, tạo một môi trường TV năng động, thân thiện và dễ sử dụng như: dịch vụ cung cấp và hỏi đáp thông tin, dịch vụ sao chụp tài liệu, dịch vụ mượn liên TV…
Với sự phát triển liên tục và không ngừng của công nghệ, nhiều nhà
TV học và thông tin học đã dự đoán TV trong năm 2012 sẽ có đặc điểm giao diện tuỳ biến theo NDT với các nguồn tài liệu đa phương tiện cùng các thiết bị quản lý tri thức; Hệ thống thông tin thư viện (TTTV) sẽ tự nhận biết NDT và nhanh chóng đáp ứng các câu hỏi và nhu cầu thông tin của người dùng; Các nội dung và chương trình hướng dẫn NDT sẽ tập
Trang 2311
trung nâng cao năng lực học tập và nghiên cứu; cung cấp các trang thiết
bị hiện đại để góp phần tạo một môi trường học tập tốt nhất;
1.1.2 Hoạt động thông tin thư viện đại học trước nhu cầu xã hội
Bước đi quan trọng của nền giáo dục đại học Việt Nam là việc thay đổi phương thức đào tạo từ niên chế sang học chế tín chỉ Theo quyết định số 31/2001/QĐ-BGD&ĐT ngày 30/7/2001, Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã ra quyết định về việc thí điểm tổ chức đào tạo, kiểm tra, thi
và công nhận tốt nghiệp đại học, cao đẳng hệ chính quy theo học chế tín chỉ Những năm gần đây, nhiều trường đại học Việt Nam đã bắt đầu triển khai đào tạo theo hướng học chế tín chỉ - Mô hình đào tạo phổ biến trong các trường đại học tại nhiều nước trên thế giới
Vào những năm cuối của thế kỷ XX, một số trường đại học đã quan tâm đầu tư cho phát triển TV từ nguồn vốn ngân sách và một số đề tài hợp tác với nước ngoài quy mô nhỏ bé Sang đầu thế kỷ XXI, hơn 20 TV đại học từ Bắc vào Nam đã được đầu tư lớn với số kinh phí từ vốn vay của Ngân hàng Thế giới Ngoài ra, một số Trường được sử dụng nguồn vốn ngân sách rất lớn (Ðại học Bách khoa Hà Nội 300 tỷ đồng Việt Nam) hoặc các đề tài tài trợ nước ngoài (Ðại học Thủy Lợi, Ðại học Hàng Hải) Ðặc biệt, từ quỹ của tổ chức Atlantic Philanthrophie (Mỹ) 4 trung tâm học liệu lớn được xây dựng tại Ðại học Ðà Nẵng, Ðại học Huế, Ðại học Cần Thơ và Ðại học Thái Nguyên với tổng chi phí từ 5 đến
10 triệu đô la Mỹ cho mỗi Trường Kho tài liệu (kể cả tài liệu in ấn và tài liệu số hoá) phát triển rất nhanh với chất lượng khá cao Trang thiết bị
TV chuyên dụng, hệ thống cổng từ kiểm soát tài liệu và hệ thống mạng máy tính hiện đại được lắp đặt thay thế cho hệ thống thiết bị lỗi thời và lạc hậu trước đây Trình độ năng lực của CB TV được nâng cao Ðiều quan trọng hơn là công tác tổ chức, quản lý và phục vụ TTTV đã đổi mới
Trang 2412
theo các quy chuẩn tiên tiến trên cơ sở một phần mềm quản trị TV tích hợp
Đứng trước sự đổi mới giáo dục đại học và xu thế hội nhập khu vực
và quốc tế, các TV đại học Việt Nam đã không ngừng được đầu tư trang thiết bị, cơ sở vất chất, nguồn nhân lực… nhằm thay đổi phương thức phục vụ từ các mô hình TV truyền thống sang mô hình TV hiện đại – TV
mở Một trong những bước đi khởi đầu và đã thành công của một số TV đại học Việt Nam đó là sự chuyển đổi từ mô hình kho đóng sang kho mở
đã giúp SV, GV, CB nghiên cứu, CB giảng dạy được trực tiếp lựa chọn các tài liệu mình cần thay vì phải chờ đợi CB TV lấy tài liệu cho mượn qua phiếu yêu cầu trước đây
Các chuẩn nghiệp vụ TTTV như: Sử dụng khổ mẫu biên mục MARC21, MARC21VN; chuẩn ISO 10161 cho mượn liên TV, hỗ trợ đề mục chủ đề, từ khoá không kiểm soát, quy tắc biên mục ISBD, AACR-2, LC-In-publication catalog, TCVN4743-89…
Tuy nhiên, nhìn bức tranh HTTT – TV các trường đại học Việt Nam, trừ một số Trung tâm học liệu được đầu tư xây dựng từ cơ sở hạ tầng cho đến trang thiết bị phần cứng và phần mềm một cách khá bài bản theo đặc thù và tiêu chuẩn quốc tế về thông tin, TV còn hầu hết các trung tâm TV khác đều đầu tư trang bị nhỏ lẻ, chắp vá thiếu đồng bộ hoặc thiếu kinh nghiệm, tư vấn của chuyên gia khi thiết kế và trang bị dẫn đến còn nhiều bất cập, hiệu quả khai thác sử dụng chưa cao
Trên đây là những bước chuyển mình mà các TV Việt Nam nói chung và TV đại học nói riêng đang hướng tới nhằm trang bị đầy đủ và sẵn sàng hội nhập với các TV trên thế giới Tuy nhiên, để có thể theo kịp với sự phát triển hàng loạt các thư viện số (TVS), TVĐT đang hoạt động hiệu quả và tiện lợi trên thế giới thì các TV đại học tại Việt Nam cần
Trang 2513
phải có những bước đi tắt đón đầu để đạt được các mục tiêu phát triển
TV trong tương lai gần Đó là mục tiêu xây dựng được các mô hình TVS theo các tiêu chuẩn quốc tế, chia sẻ và liên thông với khu vực và quốc tế Chiến lược phát triển GD&ĐT trong thời kỳ CNH - HĐH đã được Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương Đảng Khóa VIII nêu rõ nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục là nhằm xây dựng những con người gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn
và phát huy các giá trị văn hoá dân tộc, có năng lực tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại, phát huy tiềm năng của dân tộc và con người Việt Nam,
có ý thức cộng đồng, làm chủ tri thức KH&CN hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức
và kỷ luật, có sức khoẻ và là người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội Những nội dung cơ bản của chiến lược bao gồm:
- Thực sự coi GD&ĐT là quốc sách hàng đầu: Nhận thức sâu sắc GD&ĐT cùng với KH&CN là nhân tố quyết định tăng trưởng kinh tế và phát triển xã hội, đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển
- Phát triển GD&ĐT gắn với nhu cầu phát triển xã hội, những tiến
bộ KH&CN và củng cố an ninh quốc phòng
- Giữ vai trò nòng cốt của các Trường công lập đi đôi với việc đa dạng hoá các loại hình GD&ĐT
- Nâng cao chất lượng và đảm bảo đủ số lượng giáo viên cho toàn
hệ thống giáo dục, tiêu chuẩn hoá, hiện đại hoá, các điều kiện dạy và học, phấn đấu sớm có một số cơ sở đại học đạt chuẩn quốc tế
Theo tinh thần báo cáo kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết TW2 khoá VIII và phương hướng phát triển giáo dục đến năm 2010 (Báo cáo của Bộ Chính trị tại Hội nghị lần VI BCH TW khoá VIII) các chỉ tiêu cơ
Trang 2614
bản đặt ra là: (1) dạy song ngữ ở một số lớp đại học; (2) đảm bảo đủ điều kiện nối mạng Internet 100% các trường đại học, cao đẳng trên cơ sở đảm bảo trình độ tin học và ngoại ngữ của giáo viên; (3) vào năm 2010 đảm bảo 100% yêu cầu chuẩn về thiết bị dạy học, phòng thí nghiệm, TV Trường học ở tất cả các cấp học, bậc học, 100% các trường đại học có TVĐT; (4) nâng tỷ lệ SV trên một vạn dân từ 140 năm 2005 lên 200 vào năm 2010 Tăng đào tạo thạc sĩ từ 11.727 năm 2005 lên 38.000 vào năm
2010, NCS tiến sĩ từ 7.500 lên 15.000 vào 2010 (tăng 50%)
Để góp phần đạt được những mục tiêu trên, trong những năm tới Trường ĐHKHXH&NV sẽ cần nhìn nhận và thực hiện một số nhiệm vụ sau đây:
- Nâng cao chất lượng, hiệu quả GD&ĐT, tập trung chỉ đạo đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp đào tạo theo hướng chuẩn hoá, sử dụng CNTT tiếp cận với trình độ tiên tiến của khu vực và quốc tế, gắn bó với thực tiễn phát triển của các địa phương trong cả nước; đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp KTXH của đất nước
- Mở rộng quy mô đào tạo một cách hợp lý, phát triển quy mô đào tạo cả bình diện chung và mũi nhọn trên cơ sở đảm bảo chất lượng và nâng cao hiệu quả; gắn đào tạo, NCKH với yêu cầu phát triển KTXH, đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực phuc vụ sự nghiệp CNH - HĐH
- Tổ chức đa dạng các loại hình đào tạo, chú trọng việc đào tạo trình
độ cao với chất lượng tiếp cận khu vực và trên thế giới
- Nâng cao trình độ đội ngũ CB (CB giáo dục, CB quản lý); phát triển CSVC bằng nhiều nguồn lực, xây dựng các phòng thí nghiệm, trung tâm nghiên cứu mũi nhọn để đi tắt, đón đầu sự phát triển của KH&CN
Trang 2715
Cụ thể hơn, Nghị quyết 14/2005/NQ-CP về đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học Việt Nam giai đoạn 2006 – 2020 đã đề ra 6 mục tiêu:
- Hoàn chỉnh mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học, có sự phân tầng
về chức năng, nhiệm vụ đào tạo, bảo đảm hợp lý cơ cấu trình độ, ngành nghề, vùng miền, phù hợp với chủ trương xã hội hoá giáo dục, quy hoạch phát triển tổng thể KTXH;
- Phát triển các chương trình giáo dục đại học theo hướng nghiên cứu và định hướng nghề nghiệp ứng dụng Bảo đảm sự liên thông giữa các chương trình của toàn hệ thống Xây dựng và hoàn thiện các giải pháp đảm bảo chất lượng và hệ thống kiểm định giáo dục đại học, xây dựng một số trường đại học đẳng cấp quốc tế;
- Mở rộng quy mô đào tạo, đạt tỷ lệ 200 SV/1 vạn dân (2010) và
450 SV/1 vạn dân (2020), trong đó 70 - 80% SV theo học có chương trình nghề nghiệp ứng dụng, khoảng 40% SV ngoài công lập;
- Nâng tầm đội ngũ GV và CB quản lý giáo dục đại học: Bảo đảm
tỷ lệ SV/01 GV không quá 20 Đến năm 2010 ít nhất 40% GV có trình
độ Thạc sĩ, và 25% đạt trình độ Tiến sĩ, đến 2020 có ít nhất 60% GV có trình độ Thạc sĩ và 35% đạt trình độ Tiến sĩ;
- Nâng cao rõ rệt quy mô hoạt động KH&CN trong các cơ sở giáo dục đại học Các trường đại học lớn phải hình thành trung tâm nghiên cứu KH&CN mạnh của cả nước, nguồn thu hoạt động KH&CN phải chiếm 15% tổng thu sự nghiệp năm 2010 và 25% năm 2020;
- Hoàn thiện chính sách phát triển theo hướng bảo đảm quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của cơ sở giáo dục đại học, sự quản lý của Nhà nước và vai trò giám sát, đánh giá của xã hội đối với giáo dục đại học
Trang 2816
Để thực hiện những tư tưởng chỉ đạo Nghị quyết trên, trong những năm tới Trường ĐHKHXH&NV sẽ cần phải phấn đấu theo các định hướng sau:
- Duy trì việc tăng quy mô đào tạo, chú trọng việc tăng quy mô đào tạo sau đại học tại tất cả các ngành đào tạo;
- Đẩy mạnh nâng cấp đầu tư CSVC hạ tầng: TV, giảng đường, các khu thực tập… cho SV;
- Đẩy mạnh công tác NCKH bằng các biện pháp đầu tư trọng điểm, cải thiện điều kiện nghiên cứu theo hướng hiện đại, tiên tiến và đồng bộ; sản phẩm NCKH theo kịp trình độ quốc tế, đẩy nhanh việc quảng bá các sản phẩm khoa học ra thế giới;
- Xã hội hoá giáo dục bằng nhiều hình thức, đa dạng hoá loại hình đào tạo để thích nghi với nhu cầu học tập của nhân dân, tăng cường việc hợp tác quốc tế về đào tạo, NCKH và nâng cao trình độ đội ngũ CB, viên chức;
- Tăng cường liên doanh, liên kết đào tạo các chương trình tiên tiến của Quốc tế để đẩy nhanh việc tiếp cận chuyển giao công nghệ về đào tạo và NCKH của thế giới;
- Tăng cường đội ngũ CB trẻ trình độ cao, chuyên nghiệp, và có tâm với nghề; đẩy mạnh việc đưa CB ra nước ngoài đào tạo bằng nhiều nguồn khác nhau;
- Tăng cường thu hút đội ngũ chuyên gia chất lượng cao là Việt kiều về tham gia giảng dạy và NCKH tại Trường dài hạn;
Củng cố tổ chức bộ máy, tăng quyền tự chủ cho các đơn vị
Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ X nhấn mạnh việc đổi mới tư duy giáo dục một cách nhanh nhất, tiếp cận trình độ giáo dục khu vực và thế giới, ưu tiên hàng đầu cho việc
Trang 2917
nâng cao chất lượng dạy và học; đẩy mạnh cải cách giáo dục đại học; đảm bảo đủ số lượng, chất lượng giáo viên ở tất cả các cấp, điều chỉnh mức thu học phí hợp lý để đảm bảo chất lượng đào tạo; đẩy mạnh xã hội hóa GD&ĐT; có lộ trình cụ thể cho việc chuyển một số Trường công lập sang dân lập, tư thục; phát triển nhanh nguồn lực có chất lượng cao, nhất
là chuyên gia đầu ngành
Trong chiến lược đổi mới giáo dục đại học Việt Nam đến năm 2020
đã xác định 7 nhiệm vụ quan trọng sau:
- Điều chỉnh cơ cấu trình độ và hệ thống Nhà trường;
- Xây dựng chương trình và quy mô đào tạo;
- Phát triển đội ngũ GV;
- Tăng cường hoạt động nghiên cứu và triển khai;
- Đổi mới cơ chế tài chính giáo dục đại học;
- Đổi mới quản lý giáo dục đại học;
- Nâng cao sức cạnh tranh của hệ thống giáo dục đại học trong quá trình hội nhập quốc tế
Với xu thế thông tin toàn cầu như hiện nay thì việc xây dựng một HTTT phục vụ cho các hoạt động học tập, NCKH, giải trí… của CB,
GV, SV và NCS… trong Trường là một nhu cầu không thể thiếu được HTTT này phải được xây dựng một cách hiện đại, đáp ứng được các yêu cầu sử dụng hiện tại cũng như trong tương lai HTTT được xây dựng trên
cơ sở ứng dụng các thành tựu của CNTT và truyền thông đa phương tiện cho phép quản lý, lưu trữ và tìm kiếm, khai thác một cách dễ dàng, đồng thời bảo đảm được vấn đề bảo mật
Xây dựng một giải pháp TVĐT tích hợp cung cấp những công cụ mới cho người quản lý TV, GV, nhà NCKH và SV tạo nên một môi trường dạy, học và nghiên cứu nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, đáp
Trang 30vô cùng quan trọng, nó góp phần phục vụ có hiệu quả nhất cho công việc học tập, giảng dạy và NCKH
Mặt khác, trong sự bùng nổ của thông tin hiện nay, các tư liệu số tỏ
ra có ưu thế hơn với việc chiếm ít không gian lưu trữ (được lưu bên trong các ổ cứng máy tính) thay vì dưới dạng giấy in chất đống trên các
kệ sách Các tư liệu dưới dạng số hóa cũng có thể dễ dàng được bảo quản hơn (ít chịu tác động của mối mọt, và các tác động môi trường khác) Đặc biệt, với việc phổ thông của Internet, tài liệu số dễ dàng được luân chuyển trao đổi qua lại giữa các nơi khác nhau: việc chia sẻ các tài nguyên thông tin giữa các cá nhân với nhau, giữa các đơn vị với nhau, với thế giới bên ngoài sẽ được cập nhật thường xuyên, liên tục Do vậy, các TVĐT với việc ứng dụng CNTT cho TV đang ngày càng phát triển
là một tất yếu khách quan
Trang 31Ngoài TTTT - TV của Nhà trường, hiện tại mỗi khoa đào tạo của Trường đều có 1 phòng tư liệu nhằm phục vụ nhu cầu thông tin và tài liệu của CB, GV, SV trong khoa Tài liệu của các phòng tư liệu này chủ yếu là sách tham khảo, đề tài NCKH và luận án, luận văn… những tài liệu này rất có giá trị trong công tác giảng dạy, học tập và NCKH của
CB, GV, SV trong Trường nhưng hiện nay hầu hết các tài liệu ở đây chưa được xử lý biên mục đầy đủ, hệ thống quản lý chưa được tin học hoá, hiện đại hoá gây rất nhiều khó khăn cho bạn đọc trong việc tra cứu
và sử dụng tài liệu cũng như cho CB phòng tư liệu trong công tác quản
lý, nghiệp vụ, thống kê và báo cáo…
Để hệ thống các phòng tư liệu đi vào hoạt động một cách hiệu quả, đáp ứng được nhu cầu thông tin ngày càng phong phú, đa dạng và chuyên sâu của CB, GV và SV trong Trường thì việc đầu tư một hệ thống TVĐT đồng bộ và thống nhất tại các phòng tư liệu trong Trường
là một việc làm hết sức cần thiết, cấp bách và có ý nghĩa lớn trong công tác hỗ trợ hoạt động học tập, giảng dạy và NCKH Hệ thống này sẽ giúp tin học hoá, hiện đại hoá, hệ thống hoá và chuẩn hoá toàn bộ các quy
Trang 321.2 Khái quát về Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
1.2.1 Lịch sử ra đời và phát triển
Tổ chức tiền thân của Trường ĐHKHXH&NV thuộc ĐHQGHN là Trường Đại học Văn khoa Hà Nội (thành lập theo sắc lệnh số số 45 do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ngày 10/10/1945), tiếp đó là Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội (thành lập ngày 05.06.1956) Ngày 10/12/1993, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định 97/CP thành lập ĐHQGHN, trong
đó có Trường ĐHKHXH&NV, được thành lập trên cơ sở Khoa/Bộ môn
xã hội của Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội
Trong hơn sáu mươi năm xây dựng và phát triển, Trường ĐHKHXH&NV luôn được đánh giá là một trong những trung tâm đào tạo và nghiên cứu KHXH&NV lớn nhất của đất nước, có nhiệm vụ đào tạo đội ngũ CB khoa học cơ bản có trình độ cao, phục vụ cho công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc
Thành tích về đào tạo và NCKH của Nhà trường được thể hiện thông qua các danh hiệu: Huân chương Lao động hạng Nhất năm (1981), Huân chương Độc lập hạng Nhất (2001), danh hiệu Anh hùng Lao động thời kì đổi mới (2005), Huân chương Hồ Chí Minh (2010); 8 nhà giáo được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh và 13 nhà giáo được tặng Giải thưởng Nhà nước về KH&CN; 23 nhà giáo được phong tặng danh hiệu
Trang 331.2.2 Sứ mệnh và mục tiêu phát triển
Sứ mệnh của Trường ĐHKHXH&NV đã được xác định: Là một trường đại học trọng điểm, đầu ngành, có uy tín và truyền thống lâu đời, Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN có sứ mệnh đi đầu trong sáng tạo, truyền bá tri thức và đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao về KHXH
và nhân văn, phục vụ sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước
Nhà trường cũng đã xác định sẽ xây dựng Trường thành một đại học đứng đầu đất nước về KHXH và Nhân văn, ngang tầm với các đại học danh tiếng trong khu vực, phục vụ đắc lực sự nghiệp CNH – HĐH đất nước Để làm được điều đó, Nhà trường đã tập trung xây dựng và phát triển một số ngành, chuyên ngành đạt trình độ quốc tế trên cơ sở quốc tế hóa các chương trình đào tạo, đẩy mạnh các hoạt động học thuật
và mở rộng quan hệ hợp tác với các trường đại học đẳng cấp cao ở khu vực và trên thế giới Nhà trường tiến hành đổi mới toàn diện các mặt hoạt động, nâng cao nhanh chất lượng đào tạo, phát triển mạnh về chất lượng và số lượng đội ngũ CB; tiếp tục mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động NCKH và hợp tác quốc tế, xây dựng một số ngành, chuyên ngành đạt trình độ quốc tế
- Đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức trong Nhà trường
- Tạo bước chuyển biến căn bản trong công tác xây dựng và phát triển đội ngũ CB; chú trọng phát triển đội ngũ CB khoa học đầu đàn, đầu
Trang 3422
ngành, có trình độ chuyên môn cao, ngang tầm khu vực, tiếp cận trình độ quốc tế
- Xây dựng một số ngành, chuyên ngành đạt trình độ quốc tế
- Mở rộng, nâng cao chất lượng, hiệu quả NCKH và hợp tác quốc
tế
- Thực hiện cải cách hành chính trong Nhà trường
- Triển khai thi công xây dựng cơ sở mới của Trường tại Hoà Lạc Quan điểm chỉ đạo của Nhà trường là:
- Phát triển Trường ĐHKHXH&NV phù hợp với yêu cầu phát triển KTXH, chiến lược phát triển GD&ĐT và KH&CN của đất nước và kế hoạch phát triển của ĐHQGHN
- Phát huy mọi nguồn lực, dựa vào nội lực là chính, tranh thủ tối đa các nguồn ngoại lực để tiếp tục nâng cao và mở rộng vị thế của Trường ở trong nước và quốc tế
- Phát triển toàn diện, vững chắc Nhà trường trên tất cả các lĩnh vực, đồng thời kết hợp lựa chọn một số ngành, chuyên ngành đầu tư xây dựng đạt trình độ khu vực và quốc tế
Hiện tại, quy mô và cơ cấu đào tạo của Trường ĐHKHXH&NV là:
- Về quy mô đào tạo đại học: 17 ngành Tổng số SV: 9.000, trong đó:
+ Đại học hệ chính quy: 5.800
+ Đại học hệ không chính quy: 1.300
- Quy mô đào tạo sau đại học:
+ 27 chuyên ngành đào tạo thạc sĩ
+ 29 chuyên ngành đào tạo tiến sĩ
+ Tổng số HVCH và NCS: 1.900 (đạt 21 % tổng SV qui đổi)
Trang 35+ Đại học hệ không chính quy: 1495
- Quy mô đào tạo sau đại học:
+ 29 chuyên ngành đào tạo thạc sĩ
+ 30 chuyên ngành đào tạo tiến sĩ
+ Tổng số HVCH và NCS: 2185 (đạt 21 % tổng SV qui đổi)
Quy mô đến năm 2020:
- Quy mô đào tạo đại học: 20 ngành Tổng số SV các hệ: 11.500, trong đó:
+ Đại học hệ chính quy: 7.500
+ Đại học hệ không chính quy: 1.470
- Quy mô đào tạo sau đại học:
+ 30 chuyên ngành đào tạo thạc sĩ
+ 32 chuyên ngành đào tạo tiến sĩ
+ Tổng số HVCH và NCS: 2.530 (đạt 22 % tổng SV qui đổi)
1.2.3 Bối cảnh và môi trường hoạt động
Toàn cầu hoá đang là một xu thế tất yếu trên thế giới Những quan niệm cũ về giáo dục và giao lưu quốc tế đang thay đổi Các hoạt động tìm hiểu lẫn nhau, trao đổi khoa học, tri thức đang diễn ra trên thế giới với tốc độ lớn Ngành giáo dục đại học Việt Nam, trong đó có Trường ĐHKHXH&NV đang đứng trước cơ hội tốt để hội nhập và phát triển
Ở trong nước, Việt Nam đã gia nhập WTO, có điều kiện tốt để hội nhập quốc tế Nằm trong khu vực năng động của thế giới ngày nay, Việt
Trang 36Hiện tại, Trường đã thiết lập quan hệ hợp tác với hơn 90 đối tác nước ngoài, gồm các trường đại học, viện nghiên cứu, các tổ chức văn hoá, khoa học và các quỹ quốc tế Các hoạt động và hiệu quả hợp tác quốc tế về đào tạo và NCKH của Trường đã được các đối tác ở trong nước và nước ngoài đánh giá cao
Sự hợp tác và cạnh tranh về giáo dục đại học, hợp tác quốc tế đưa đến cả thuận lợi lẫn khó khăn, đòi hỏi Nhà trường phải có rất nhiều cố gắng để phát triển nội lực Trong khi đó hiện tượng chảy máu chất xám
do thu nhập thấp và điều kiện làm việc chưa tốt đã và đang là một thách thức lớn đối với giáo dục đại học Việt Nam nói chung, Nhà trường nói riêng
Hơn nữa, trong nước, ngành giáo dục đại học Việt Nam đang ở trong thế cạnh tranh khó khăn, không đảm bảo được sự đối đẳng với nước ngoài, chủ yếu là do điều kiện kinh phí và CSVC còn hạn hẹp, đội ngũ GV có trình độ quốc tế chưa nhiều Những thói quen cũ của thời bao cấp vẫn ảnh hưởng không nhỏ tới tốc độ phát triển và năng lực hội nhập quốc tế của Nhà trường
Ngoài những khó khăn chung của nền giáo dục đại học Việt Nam, Trường ĐHKHXH&NV cũng có những khó khăn và thách thức riêng như: CSVC, phòng ốc, năng lực tài chính của Trường dù đã được cải
Trang 3725
thiện nhiều nhưng chưa đủ tạo thế bình đẳng trong hợp tác, hội nhập quốc tế Trường đã ký kết nhiều văn bản hợp tác nhưng việc triển khai và hiệu quả thực hiện hợp tác vẫn chưa cao
Chất lượng đầu vào của SV không cao, SV giỏi có nguyện vọng thi vào Trường không nhiều, trong khi đó, mong muốn và nỗ lực nâng cao chất lượng đào tạo ngang tầm khu vực và quốc tế đang đặt ra rất gay gắt trong Trường và ĐHQGHN
1.2.4 Cơ cấu tổ chức bộ máy
Đảng uỷ là tổ chức đứng đầu có vai trò lãnh đạo mọi hoạt động của Nhà trường Dưới Đảng uỷ là Ban Giám hiệu, các tổ chức đoàn thể và Hội đồng Khoa học – Đào tạo của Trường Tiếp theo là các phòng ban, các Khoa/Bộ môn trực thuộc và các Trung tâm Dưới các Khoa/Bộ môn trực thuộc là các tổ chức đoàn thể, Ban chủ nhiệm và Hội đồng Khoa học – Đào tạo của các Khoa chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Chi uỷ Sau cùng là các văn phòng, các bộ môn và các phòng tư liệu
Trang 3826
Hình 1.1 Cơ cấu tổ chức của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn
1.3 Những vấn đề chung về hiện đại hoá hoạt động thƣ viện
1.3.1 Những khái niệm chung
Trước hết chúng ta thấy rằng về TV hiện đại mà cụ thể ở đây là TVĐT có nhiều cách định nghĩa và mỗi cách có điểm này điểm kia khác nhau, song chúng đều phản ánh những tính chất chung, trong đó tính
Đảng uỷ
Các tổ chức
đoàn thể
Khoa học – Đào tạo
Chi uỷ
Các tổ chức
Hội đồng Khoa học – Đào tạo Khoa
Ghi chú:
Quan hệ chỉ đạo
Quan hệ phối hợp
Trang 3927
chất cơ bản nhất là các tài liệu trong TV hiện đại phải ở dạng đã được số hoá và chúng có thể truy cập được qua mạng máy tính
Trong các tài liệu nghiên cứu chúng ta đã thấy một số thuật ngữ
khác nhau như “TVĐT”, “TV không tường”, “TVS”, “TV ảo”, “TV
website”.v.v Vậy các thuật ngữ nói trên là để chỉ những loại hình TV
khác nhau hay là những thuật ngữ cùng nhằm mục đích diễn tả một mô hình TV kiểu mới dựa trên nền tảng CNTT, nguồn tài liệu điện tử và phương thức phục vụ mới? Cho đến nay, không phải chỉ ở Việt Nam mà trên thế giới có lẽ vẫn còn những quan niệm khác nhau về các thuật ngữ này Một số người cho rằng đây là những loại hình TV khác nhau Nhưng nhiều nhà nghiên cứu thì lại cho rằng đây là những thuật ngữ có tính hoán đổi được cho nhau, đồng nghĩa với nhau, và có thể sử dụng lẫn nhau tuỳ theo thói quen sử dụng thuật ngữ
Quan điểm thứ nhất cho rằng những thuật ngữ TVĐT, TVS, TV ảo
là những khái niệm chỉ những loại hình TV khác nhau, những bước phát triển khác nhau Theo Tiến sĩ Lê Văn Viết , ông cho rằng TV hiện đại phát triển theo một số bậc thang, từ TV đa phương tiện, đến TVĐT, TVS rồi TV ảo Trước đó, Philip Berker cũng cho rằng TVĐT là giai đoạn trước của TVS Tác giả đã cho rằng TVĐT lưu trữ và phục vụ cả ấn phẩm lẫn tài liệu điện tử, còn TVS chỉ phục vụ tài liệu số mà thôi Trong
tài liệu “Xây dựng TVĐT ở Việt Nam và tính khả thi”, ông Vũ Văn Sơn
cũng trình bày những định nghĩa về các loại hình TVĐT, TVS và TV ảo, cho thấy những loại hình TV này có cấp độ khác nhau
Nghiên cứu lịch sử phát triển TV, nhiều người cho rằng: có thể khái quát quá trình phát triển TV theo 4 giai đoạn (4 phases) như sau:
- TV giấy/TV truyền thống (hoạt động bằng các phương thức truyền thống);
Trang 4028
- TV tự động hóa (ứng dụng các phần mềm và thiết bị tin học vào nhiều công đoạn);
- TVĐT (một phần tài nguyên của TV là dạng số hóa);
- TVS (toàn bộ tài nguyên TV là dạng số hóa)
Quan điểm thứ hai cho rằng những thuật ngữ trên là đồng nghĩa và
cùng chỉ một khái niệm Trong báo cáo “Digital Libraries: definitions,
issues and challenges”, Gary Cleveland đã cho rằng tất cả các thuật ngữ
“TV ảo”, “TVĐT”, “TV không tường” và “TVS” đều có thể hoán đổi
cho nhau để diễn tả khái niệm này Giáo sư Peter Brophy thuộc Trung tâm nghiên cứu quản trị thông tin và TV, Đại học Man – chét – xờ - tơ
Mê – tờ - rô – pô – li – tần (Manchester Metropolitan University), Anh,
trong bài “Tổng quan nghiên cứu TVS” cũng xác định rằng thuật ngữ
“TVS” và “TVĐT” là có thể dùng lẫn cho nhau Tuy nhiên, thuật ngữ
“TV lai” (hybrid library) thì là một khái niệm không hoàn toàn đồng
nghĩa với TVS/điện tử Trong tài liệu về TVS, tác giả cũng cho rằng
những thuật ngữ “TVĐT”, “TVS” và “TV ảo” là đồng nghĩa và có thể dùng thay thế cho nhau Trong tài liệu đề tài “TVĐT của Nga” của TV
Khoa học Công cộng Quốc gia Nga GPNTB, thuật ngữ chính thức được
sử dụng là “TVĐT” (Elektronnye biblioteki), nhưng nó được coi là đồng
nghĩa với TVS (cifrovyi biblioteki) Nói cách khác là chúng có thể dùng lẫn cho nhau
Thuật ngữ “TV ảo” (virtual library) dùng theo nghĩa trừu tượng, nhấn mạnh đến tính chất “phi không gian” của loại hình TV này về
phương diện vốn tư liệu (VTL) và dịch vụ Bất cứ TV nào tạo điều kiện cho người đọc tiếp cận được những tư liệu nằm tại bất cứ nơi nào khác
trên thế giới đều có thể được coi là “TV ảo”