1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng thư viện điện tử tại trung tâm Thông tin - Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội Thực trạng và giải pháp hòan thiện

116 1,2K 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 116
Dung lượng 1,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đồng thời xây dựng Trung tâm trở thành đầu mối liên kết các trung tâm thông tin thư viện đại học trong cả nước, cũng như là đầu mối quốc gia kết nối với mạng thông tin quốc tế, góp phần

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

TRẦN THỊ MINH NGUYỆT

XÂY DỰNG THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN – THƯ VIỆN, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI:

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN

LUẬN VĂN THẠC SĨ THÔNG TIN THƯ VIỆN

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

TRẦN THỊ MINH NGUYỆT

XÂY DỰNG THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN – THƯ VIỆN, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN

Chuyên ngành Khoa học thư viện

Mã số: 60 32 20

LUẬN VĂN THẠC SĨ THÔNG TIN THƯ VIỆN

Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Huy Chương

HÀ NỘI - 2010

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích và mục tiêu nghiên cứu 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 4

5 Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của đề tài: 4

6 Thời gian thực hiện 4

7 Bố cục luận văn 4

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRONG CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC TẠI VIỆT NAM 6

1.1 Thư viện điện tử và các yếu tố cấu thành thư viện điện tử 6

1.1.1 Khái niệm thư viện điện tử 6

1.1.2 Đặc điểm thư viện điện tử 9

1.1.3 Tầm quan trọng của thư viện điện tử 10

1.1.4 Các yếu tố cấu thành thư viện điện tử 11

1.2 Khả năng và xu hướng phát triển thư viện điện tử trong các trường Đại học tại Việt Nam 13

1.3 Khái quát về Trung tâm Thông tin - Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội 18

1.3.1 Quá trình hình thành và phát triển 18

1.3.2 Chức năng, nhiệm vụ 21

1.3.3 Cơ cấu tổ chức 22

1.3.4 Cơ sở vật chất và đội ngũ cán bộ 24

1.3.5 Nguồn lực thông tin 24

1.3.6 Đặc điểm nhu cầu tin 27

CHƯƠNG 2 XÂY DỰNG THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN THƯ VIỆN, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI 32

2.1 Giai đoạn thí điểm ứng dụng công nghệ thông tin tại Trung tâm (1997 - 2001) 32

Trang 4

2.1.1 Những ngày đầu thành lập Trung tâm (1997): Áp dụng CDS/ISIS

32

2.1.2 Giai đoạn 1997-2001: Sử dụng chương trình xử lý kiểu MARC 34

2.2 Giai đoạn từ năm 2002 hết quý I năm 2008: Quản lý thư viện bằng phần mềm thư viện tích hợp Libol 37

2.2.1 Tiêu chí lựa chọn phần mềm quản trị thư viện 37

2.2.2 Triển khai áp dụng phần mềm quản trị thư viện tích hợp Libol tại Trung tâm 39

2.2.3 Hệ thống thu thập, xử lý và khai thác tài nguyên điện tử 55

2.2.4 Cơ sở vật chất và hạ tầng kỹ thuật công nghệ 59

2.2.5 Nguồn tin điện tử 63

2.3 Giai đoạn từ quý II năm 2008 đến nay: Dự án đầu tư chiều sâu của ĐHQGHN 64

2.3.1 Nâng cấp hạ tầng kỹ thuật và công nghệ 65

2.3.2 Phần mềm thư viện điện tử Virtual 70

2.3.3 Tạo lập và phát triển tài nguyên số- vấn đề trọng tâm trong xây dựng TVĐT 72

2.3.4 Cán bộ thư viện trong môi trường điện tử 77

2.3.5 Người dùng tin trong thư viện hiện đại 79

CHƯƠNG 3 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TẠI TRUNG TÂM TRONG THỜI GIAN TỚI 83

3.1 Những khó khăn gặp phải trên bước đường hoàn thiện thư viện điện tử 83

3.1.1 Ngân sách được cấp hàng năm còn hạn chế 83

3.1.2 Diện tích, môi trường làm việc và phục vụ bạn đọc còn thiếu và không đảm bảo điều kiện cảnh quan 83

3.1.3 Trình độ ngoại ngữ, tin học và kỹ năng làm việc 84

3.1.4 Chưa nhận được sự phối hợp tích cực từ các đơn vị đào tạo trong các công tác chuyên môn 84

3.1.5 Công tác tuyên truyền, quảng bá nguồn lực thông tin còn chưa thật phong phú, đa dạng 85

Trang 5

3.1.6 Chưa thu hút được nhiều bạn đọc là cán bộ nghiên cứu, giảng dạy

trong ĐHQGHN 85

3.2 Định hướng phát triển thư viện điện tử tại Trung tâm trong thời gian tới 86

3.3.1 Tiếp tục nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin 86

3.3.2 Hoàn thiện phần mềm Virtual phù hợp với hoạt động của Trung tâm 87

3.3.3 Phát triển nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ nhằm đáp ứng yêu cầu công tác trong tình hình mới 88

3.3.4 Phát triển nguồn thông tin đa dạng, phong phú phù hợp với yêu cầu, chương trình đào tạo của ĐHQGHN 90

3.3.5 Đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả công tác thông tin tuyên truyền và quảng bá nguồn lực thông tin 91

3.3.6 Tăng cường các điều kiện đảm bảo chất lượng phục vụ và nâng cao chất lượng phục vụ bạn đọc 92

3.3.7 Đào tạo người dùng tin 93

3.2.8 Hợp tác và liên kết 94

KẾT LUẬN 96

TÀI LIỆU THAM KHẢO 1

Trang 6

Các từ viết tắt trong luận văn

AACR: Quy tắc biên mục Anh – Mỹ

(Anglo- American Cataloging Rules) CD-ROM Đĩa quang chỉ đọc

(Compact Dirk- Read Only Memory) CNTT: Công nghệ thông tin

CSDL: Cơ sở dữ liệu

DDC Khung phân loại thập tiến Dewey

(Dewey Decimal Classification)

ĐHKHTN Đại học Khoa học Tự nhiên

ĐHKHXH&NV Đại học Khoa học xã hội và nhân văn

ĐHQGHN Đại học Quốc gia Hà Nội

IFLA Hiệp hội thư viện Quốc tế

(Information Federation of Library Associations and Institutions)

ISBD Mô tả thư mục theo tiêu chuẩn Quốc tế

(International Standard Bibliographic Description) Libol Phần mềm giải pháp Thư viện điện tử

(LIBrary OnLine) MARC Biên mục máy tính đọc được

(Machine Readable Catalog )

TCVN Tiêu chuẩn Việt Nam

TT-TV: Thông tin - thư viện

TVĐT Thư viện điện tử

Trang 7

Thank you for evaluating AnyBizSoft PDF Splitter.

A watermark is added at the end of each output PDF file.

To remove the watermark, you need to purchase the software from

http://www.anypdftools.com/buy/buy-pdf-splitter.html

Trang 8

LỜI NÓI ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Ngày nay, với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin, sự hội tụ của các công nghệ hiện đại và chi phí ngày càng giảm đang tạo ra những khả năng, phương thức trao đổi, giao dịch, tư duy làm việc mới cho con người, đặc biệt mang lại những cơ hội to lớn cho những nước đang phát triển, tạo khả năng rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, từng bước phát triển xã hội thông tin và kinh tế tri thức

Công nghệ thông tin đang thay thế dần các phương tiện thủ công, mọi loại hình từ quản trị một bộ máy đến cách thức tiếp nhận kiến thức của mỗi cá nhân… cũng đang từng bước được số hóa Trong bối cảnh đó, công tác thông tin-thư viện cũng đã, đang và sẽ tiếp tục có những biến đổi sâu sắc với sự hiện hữu của môi trường điện tử trong hoạt động Xây dựng thư viện điện tử là xu thế khách quan hiện nay nhằm thoả mãn nhu cầu tìm kiếm, khai thác và sử dụng thông tin của con người trong kỷ nguyên mới- kỷ nguyên của tri thức, từng bước đưa thư viện Việt Nam hòa nhập với mạng thông tin- thư viện các nước trong khu vực và thế giới

Cơ quan thông tin – thư viện trực thuộc các trường đại học lấy giáo dục

là tiêu chí hoạt động Đối tượng dùng tin của họ chủ yếu là sinh viên, giảng viên và các nhà nghiên cứu nên có sự đòi hỏi rất cao tính khoa học, tính mới của thông tin Với vai trò là người bạn đồng hành, trợ thủ đắc lực của giáo viên và sinh viên trong giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học Trung tâm Thông tin – Thư viện các trường Đại học phải tư vấn, giúp đỡ giáo viên và sinh viên trong việc tìm kiếm nguồn thông tin, khai thác thông tin thông qua các hoạt động, đặc biệt là thông tin điện tử

Đại học Quốc gia Hà Nội là một trong những cơ quan đầu ngành trong

hệ thống giáo dục đại học ở Việt Nam, nơi đào tạo đội ngũ những nhà khoa

Trang 9

học, cán bộ, những nhà quản lý, doanh nghiệp có trình độ cao cho đất nước Ngay từ khi thành lập, ban Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội đã xác định được tầm quan trọng của hoạt động thông tin thư viện trong việc cung cấp nguồn tin, thúc đẩy quá trình tự học, tự nghiên cứu cho sinh viên, nâng cao chất lượng giáo dục Trung tâm Thông tin thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội được thành lập theo quyết định số 66/TCCB ngày 14/2/1997 trên cơ sở hợp nhất các thư viện thành viên của các trường đại học thuộc Đại học Quốc gia

Hà Nội Với mục tiêu phát triển Trung tâm Thông tin - Thư viện trở thành Trung tâm khai thác, cung cấp tài nguyên tri thức hiện đại được quản lý, vận hành ở trình độ quốc tế, có khả năng phục vụ và đáp ứng cao yêu cầu nghiên cứu khoa học và đào tạo đẳng cấp quốc tế của ĐHQGHN Đồng thời xây dựng Trung tâm trở thành đầu mối liên kết các trung tâm thông tin thư viện đại học trong cả nước, cũng như là đầu mối quốc gia kết nối với mạng thông tin quốc tế, góp phần vào việc mở rộng quan hệ trao đổi thông tin với các trường đại học tiên tiến trong khu vực và thế giới, lãnh đạo Trung tâm đã xác định phải từng bước xây dựng thành công thư viện điện tử Dự án đầu tư

chiều sâu “Xây dựng và phát triển thư viện điện tử tại Trung tâm Thông

tin-Thư viện, ĐHQGHN nhằm nâng cao chất lượng phục vụ nghiên cứu khoa học

và đào tạo đẳng cấp quốc tế” đã được Ban giám đốc Đại học Quốc gia Hà

Nội phê duyệt Dự án đã được thực hiện và đang vào giai đoạn sử dụng thử nghiệm kết quả tại các thư viện trực thuộc Trung tâm Những ý kiến đánh giá phản hồi từ các chuyên gia và người dùng tin là cơ sở để hoàn thiện dự án

Mặt khác, xây dựng thư viện điện tử đang là xu thế phát triển và mục tiêu hướng tới của hầu hết các cơ quan thông tin trong nước, đặc biệt là hệ

thống thư viện các trường đại học Đề tài “ Xây dựng thư viện điện tử tại

Trung tâm Thông tin Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội- Thực trạng và giải pháp hoàn thiện” là một đề tài mang tính thời sự và khoa học rất cao trong

giai đoạn hiện nay, là cơ sở kinh nghiệm, định hướng cho thư viện các trường

Trang 10

đại học khác trước khi bắt tay vào xây dựng thư viện điện tử Chính vì thế tôi lựa chọn đề tài này làm đề tài luận văn thạc sỹ Khoa học Thư viện với mong muốn vận dụng những kiến thức, kỹ năng tiếp thu được trong khóa học, từ đó nghiên cứu và đề xuất những giải pháp khả thi nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động thông tin thư viện trong hệ thống thư viện các trường Đại học ở Việt Nam

2 Mục đích và mục tiêu nghiên cứu

Mục đích:

Trên cơ sở khảo sát hoạt động tin học hoá tại Trung tâm Thông tin thư viện đưa ra các giải pháp hoàn thiện thư viện điện tử nhằm nâng cao chất lượng đào tạo của Đại học Quốc gia Hà Nội

Mục tiêu nghiên cứu:

+ Khảo sát, đánh giá nguồn lực thông tin hiện có- cơ sở để xây dựng một thư viện hiện đại

+ Nghiên cứu quy trình xây dựng thư viện điện tử tại Trung tâm

+ Đề xuất các giải pháp khắc phục hạn chế trong quá trình xây dựng thư viện điện tử để phục vụ ngày càng hiệu quả hơn hoạt động nghiên cứu và học tập của người dùng tin

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Thư viện điện tử tại Trung tâm Thông tin thư

viện, Đại học Quốc gia Hà Nội

Phạm vi nghiên cứu

- Điện tử hoá toàn bộ chu trình đường đi của tài liệu

- Quy trình tạo lập và bổ sung bộ sưu tập số

- Đánh giá các dịch vụ dành cho người dùng tin trong và ngoài Đại học Quốc gia Hà Nội

Trang 11

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp phân tích tổng hợp

- Phương pháp chuyên gia, điều tra bằng phiếu hỏi,

- Phương pháp thực nghiệm

- Phương pháp nghiên cứu tài liệu

5 Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của đề tài:

- Về mặt khoa học: Hoàn thiện lý luận khi tiến hành xây dựng thư viện điện tử phù hợp với điều kiện thư viện đại học ở Việt Nam

- Về mặt ứng dụng: hoàn thiện các bước xây dựng một thư viện điện tử tại Việt Nam

6 Thời gian thực hiện: 1 năm (12/2009 – 12/2010)

7 Bố cục luận văn

Phần mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4 Phương pháp nghiên cứu

5 Ý nghĩa khoa học và ứng dụng của đề tài

6 Thời gian nghiên cứu

Phần nội dung

Chương 1: Tổng quan về thư viện điện tử và xu hướng phát triển thư

viện điện tử trong các trường đại học tại Việt Nam

Trang 12

Chương 2 Xây dựng thư viện điện tử tại Trung tâm Thông tin Thư viện

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chương 3 Đề xuất giải pháp hoàn thiện thư viện điện tử tại Trung tâm

trong thời gian tới

Kết luận và khuyến nghị

Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 13

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ VÀ XU HƯỚNG PHÁT TRIỂN THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TRONG CÁC TRƯỜNG

ĐẠI HỌC TẠI VIỆT NAM

1.1 Thư viện điện tử và các yếu tố cấu thành thư viện điện tử

Sách là sản phẩm quan trọng để bảo lưu, truyền bá và phát triển tri thức Để bảo quản sách, cách đây hơn 2000 năm, các triều đại, các trung tâm tôn giáo đều thành lập thư viện Thư viện ngày nay khác xa so với thư viện truyền thống Trong thư viện không những có sách, mà còn có sách điện tử, báo, tạp chí và các vật mang tin hiện đại khác Thư viện không chỉ phục vụ cho đối tượng trí thức và các tầng lớp trên, mà còn là nơi phục vụ rộng rãi cho mọi tầng lớp trong xã hội Thông tin đã trở thành nhân tố cơ bản quyết định

sự phát triển của một quốc gia Mặt khác, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin và Internet cho phép người sử dụng dễ dàng tiếp cận thông tin từ xa Chính vì vậy, sự xuất hiện của thư viện điện tử có thể nói như một xu thế tất yếu nhằm thoả mãn nhu cầu tìm kiếm, khai thác và sử dụng thông tin của con người trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên của tri thức

1.1.1 Khái niệm thư viện điện tử

Mặc dù hiện nay nhiều trường đại học, cao đẳng cho biết đã xây dựng được thư viện điện tử nhưng cách hiểu về thư viện điện tử, vẫn chưa đầy đủ,

từ đó dẫn đến việc xây dựng nặng về hình thức mà không chú trọng đến nội dung hoạt động Song, ngay trong giới thông tin- thư viện cũng còn đang tranh cãi để tìm ra một khái niệm thống nhất về vấn đề này

Trong cuốn “Từ điển dành cho công tác thư viện và khoa học thông tin” của Nhà xuất bản Libraries Unlimited in năm 2005, tác giả Joan M.Reitz

Trang 14

đã khẳng định không còn phân biệt giữa khái niệm thư viện điện tử và thư viện số Như vậy, phải hiểu hai khái niệm này chính là một Vì vậy xây dựng thư viện điện tử là phải biết chọn lọc, sưu tầm và tổ chức thông tin có ý nghĩa

và hữu ích nhằm đáp ứng đúng yêu cầu của người sử dụng

Có thể hiểu khái niệm thư viện điện tử (electronic library) là tin học

hóa, điện tử hóa toàn bộ các quá trình hoạt động của một thư viện truyền thống

Cùng quan điểm với Joan M.Reitz, một chuyên gia trong ngành thư viện cho rằng: thư viện điện tử cũng chính là thư viện số, đó là nơi mà toàn

bộ các tài liệu của thư viện đó được số hoá và được quản lý bằng một phần mềm chuyên nghiệp có tổ chức để người dùng tin dễ dàng truy cập, tìm kiếm

và xem được nội dung toàn văn của chúng từ xa thông qua hệ thống mạng thông tin và các phương tiện truyền thông

Theo tác giả Vũ Văn Sơn: “Thư viện điện tử là hình thức kết hợp giữa thiết bị tính toán, lưu trữ và truyền thông số với nội dung và phần mềm cần thiết để tái tạo, thúc đẩy và mở rộng các dịch vụ của các thư viện truyền thống vốn dựa trên các biện pháp thu thập, biên mục và phổ biến thông tin trên giấy

và các vật liệu khác”

Tuy ý kiến chưa hoàn toàn thống nhất, nhưng tựu chung lại, thư viện điện tử phải sử dụng các phương tiện điện tử trong thu thập, lưu trữ, xử lý, tìm kiếm và phổ biến thông tin Đây là nơi phối hợp giữa các nhà thư viện học, nhà xuất bản, các nhà khoa học và công nghệ nhằm tiếp cận tới tới đầy đủ thông tin, ở mọi nơi và mọi lúc Một thư viện điện tử vừa là nơi phổ biến các nguồn tin điện tử nhưng đồng thời cũng tham gia vào việc tạo ra các nguồn tin

đó

Chúng ta cũng cần có sự phân biệt giữa thư viện điện tử, thư viện số, thư viện ảo

Trang 15

Theo định nghĩa của Liên hiệp Thư viện số Hoa Kỳ năm 1999: Thư viện số là các cơ quan, tổ chức có các nguồn lực, kể cả các nguồn nhân lực chuyên hóa, để lựa chọn, cấu trúc, cung cấp việc truy cập đến, diễn giải, phổ biến, bảo quản sự toàn vẹn, đảm bảo sự ổn định trong thời gian dài của sưu tập công trình số hóa mà chúng ở dạng sẵn sàng để sử dụng một cách kinh tế cho một hoặc một số cộng đồng nhất định

Theo tác giả Vũ Văn Sơn: “Thư viện số là hình thức kết hợp giữa thiết

bị tính toán, lưu trữ và truyền thông số với nội dung và phần mềm cần thiết để tái tạo, thúc đẩy và mở rộng các dịch vụ của các thư viện truyền thống vốn dựa trên các biện pháp thu thập, biên mục và phổ biến thông tin trên giấy và các vật liệu khác”

Trong “bài giảng môn thư viện điện tử” của TS Nguyễn Huy Chương:

“Thư viện số (TVS) là một bước tiến xa hơn của thư viện điện tử, cho phép

đọc được thông tin toàn văn cá tư liệu dưới dạng đồ họa và đa phương tiện”

Tóm lại, thư viện điện tử được hiểu là nơi lưu trữ nguồn thông tin số hóa, đặc biệt là thông tin toàn văn, đồng thời sử dụng các phương tiện điện tử trong thu thập, lưu trữ, xử lý, tìm kiếm và phổ biến thông tin

Có thể nhận dạng sự khác biệt giữa thư viện điện tử và thư viện số như sau:

- thư viện điện tử lưu trữ và phục

vụ cả ấn phẩm (tài liệu dạng giấy

truyền thống) và tài liệu số hóa

- thư viện số chỉ lưu trữ các tư liệu điện tử

Trang 16

và dịch vụ Loại hình thư viện không có kho riêng, mà phụ thuộc vào kho của các thư viện khác Thư viện ảo còn gọi là thư viện không tường [8] Bất cứ thư viện nào tạo điều kiện cho người đọc tiếp cận được những tư liệu nằm tại bất cứ nơi nào khác trên thế giới đều có thể được coi là "thư viện ảo" Nói cách khác, thư viện ảo không phụ thuộc vào một địa điểm cố định và cho phép truy nhập thông tin từ xa thông qua mạng Đây cũng chính là đặc điểm

để các nhà quản lý và hoạch định chính sách căn cứ vào để phân định với thư viện điện tử

-thư viện điện tử có một địa điểm

cụ thể, hữu hình, nơi bạn đọc hay

người sử dụng có thể tới để nhận

những sản phẩm và dịch vụ được

cung cấp dưới dạng điện tử

-thư viện ảo cung cấp cổng vào tới thông tin số ở ngoài thư viện

1.1.2 Đặc điểm thư viện điện tử

Hiện nay chưa có một tiêu chuẩn cụ thể nào để đánh giá một thư viện điện tử tiêu biểu, song có thể tổng kết lại một số đặc điểm như sau:

- Các TVĐT đều được bố trí trên giao diện Web

- Một TVĐT phải có hạ tầng cơ sở đủ mạnh, bao gồm: Mạng Inrtranet

có tốc độ kết nối nhanh với mạng Internet, hệ thống máy chủ lớn thực hiện việc quản trị và các dịch vụ khác nhau (máy chủ web, máy chủ sao lưu, tường lửa, máy chủ phục vụ các ứng dụng khác), hệ thống máy trạm để truy cập và tiếp cận thông tin, các thiết bị công nghệ chuyên dụng phục vụ cho thư viện điện tử (mã vạch, thiết bị quản lý kho sách bằng công nghệ từ tính,…) [24]

- Thư viện phải tạo lập và phát triển kho tư liệu số (số hóa tài liệu từ dạng giấy sang dạng số, bổ sung/tích hợp nguồn tin điện tử thông qua mua tài

Trang 17

liệu nước ngoài đang được xuất bản cả dạng giấy và dạng điện tử quyền truy cập, mua quyền truy cập các cơ sở dữ liệu của các nhà xuất bản lớn trên thế giới, )

- Sử dụng phần mềm thư viện điện tử- là một hệ quản trị thư viện tích hợp với đầy đủ các modul như: bổ sung, biên mục, xuất bản phẩm định kỳ, lưu thông, OPAC, bạn đọc, mượn liên thư viện, phát hành, quản lý, tư liệu điện tử; phải nối mạng LAN, Internet

- Phải cung cấp và tạo điều kiện cho người dùng sử dụng các dịch vụ điện tử như: yêu cầu và gia hạn mượn qua mạng, tìm tin trong các cơ sở dữ liệu, truy nhập và khai thác các nguồn tin tại chỗ và với tới các nguồn tin ở nơi khác,

1.1.3 Tầm quan trọng của thư viện điện tử

Thế kỷ 21, thông tin trở thành nguồn tài nguyên quan trọng nhất của xã hội Hiện tượng bùng nổ thông tin và nhu cầu thông tin, cuộc cách mạng công nghệ thông tin và xu hướng toàn cầu hóa đã đặt ra cho ngành Thư viện nhiều thời cơ và thách thức Thư viện điện tử trở thành hình mẫu lý tưởng của các thư viện trên thế giới Ở Việt Nam, hệ thống máy tính đã, đang và tiếp tục được trang bị tại các thư viện hiện nay, khả năng xây dựng các thư viện điện

tử, thư viện số sẽ trở thành hiện thực Thư viện điện tử sẽ cung cấp các

phương tiện cho phép xem vô tuyến vệ tinh, truyền hình cáp, tiếp cận các cơ

sở dữ liệu quốc tế và dịch vụ thư viện tại nhà, các trạm tương tác CD-I (Compact Disk-Interactive), các trạm để xem phim, mục lục công cộng trực tuyến (Online Public Access Catalogue) và hệ thống cho mượn tự động Mặc

dù hiện nay các thư viện còn rất nhiều khó khăn về cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, vấn đề đào tạo cán bộ, khả năng tài chính v.v nhưng việc hình thành, xây dựng các thư viện điện tử là hết sức cần thiết trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Trang 18

- Với sự phát triển rộng rãi của mạng Internet, người sử dụng không cần trực tiếp đến thư viện mà chỉ cần ngồi ở bàn làm việc và truy cập vào trang web của cơ quan/ tổ chức thông tin sẽ tìm được tài liệu cần thiết

- Một trong những lợi thế của thư viện điện tử là công nghệ và tài nguyên số, do vậy người dùng tin có thể đánh giá ngay được sự thuận tiện và tính thân thiện cao của hệ thống tra cứu và lưu truyền thông tin từ các nguồn với nhau

- Khách hàng của một thư viện hiện đại không còn khái niệm giờ phục

vụ như trước đây Mọi khoảng cách về không gian và thời gian dường như được xóa bỏ hoàn toàn khi sử dụng các dịch vụ và tiện ích tại các thư viện này

- Một yếu tố bắt buộc khi xây dựng một thư viện điện tử đó là hoàn thành quá trình mượn liên thư viện Tính mở của một thư viện hiện đại rất được đề cao Khi truy cập vào CSDL của một cơ quan thông tin, người dùng tin có thể tìm kiếm thông tin cần thiết tại các thư viện khác trong khu vực và trên thế giới thông qua các đường link của dịch vụ thông tin liên kết

- Thông tin trong thư viện điện tử luôn luôn được cập nhật do đó tính mới, tính thời sự là một thế mạnh để thu hút được người dùng tin tìm đến và

sử dụng các sản phẩm và dịch vụ của họ

1.1.4 Các yếu tố cấu thành thư viện điện tử

Phát triển thư viện truyền thống thành thư viện điện tử là xu thế tất yếu của tất cả các quốc gia Để xây dựng thành công một thư viện điện tử đòi hỏi

sự xem xét kỹ lưỡng các điều kiện cần thiết trước khi bắt tay vào thực hiện Cho dù thư viện đó có hiện đại đến đâu thì nó cũng phải tập trung vào bốn yếu tố cấu thành một thư viện, cũng phải đảm bảo tốt chức năng kết nối con người với thông tin, bao gồm: vốn tài liệu, cơ sở vật chất kỹ thuật và công nghệ, đội ngũ cán bộ và người dùng tin Song những yếu tố đó phải được nhìn

Trang 19

nhận dưới tác động của khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tin hiện đó Cụ thể,

- Tài nguyên số Mức độ đồ sộ, phong phú của nguồn tin điện tử là cơ

sở quan trọng nhất để đánh giá chất lượng của một thư viện hiện đại Một vấn

đề đáng quan tâm nhất đối với nguồn tin số chính là các cơ sở dữ liệu toàn văn Đây chính là ưu thế rút ngắn khoảng cách về địa lý và thời gian giữa cộng đồng và thư viện, giúp người dùng tin dễ dàng tiếp cận với tài liệu gốc, chia sẻ thông tin thuận lợi thông qua mạng Internet mà không cần đến thư viện Tuy nhiên, một vấn đề luôn luôn được đặt ra đó là bản quyền Bản quyền là cách làm truyền thống để bảo vệ quyền sở hữu thông tin của nhà xuất bản và sự kiểm soát của họ đối với việc phổ biến thông tin và liên quan đến việc thu phí sử dụng/truy cập

- Cơ sở vật chất kỹ thuật và công nghệ Để phát huy tối đa tác dụng của tài nguyên số thì phương thức lưu truyền không thể thiếu đó là công nghệ hiện đại, đặc biệt là vai trò của công nghệ thông tin Nền tảng công nghệ của thư viện điện tử là Internet và World Wide Web Công nghệ càng hiện đại, phần mềm thư viện càng thân thiện với người dùng, khả năng trao đổi liên thư viện càng cao thì càng phát huy được tối đa chức năng của thư viện điện tử, tri thức ngày càng phong phú, nối kết mọi người trên toàn thế giới lại gần với nhau hơn Để quản lý một thư viện điện tử rất cần thiết phải lựa chọn phần mềm tích hợp trong đó bao gồm đầy đủ các modul cần thiết cho toàn bộ hoạt động của thư viện, đồng thời tuân thủ mọi chuẩn quốc tế như ISO 2709, khổ mẫu MARC, sử dụng bảng phân loại thập phân Dewey, cổng liên kết Z39.50, làm việc trên môi trường Web,…

- Đội ngũ cán bộ Con người là chủ thể của mọi hoạt động Trong quá trình chuyển đổi hình thức hoạt động từ thư viện truyền thống sang thư viện điện tử, vai trò của cán bộ thư viện có sự khác biệt rõ rệt Từ vị trí của một thủ thư đơn thuần, thu động trong công việc thì nay họ phải có đầy đủ các tiêu

Trang 20

chuẩn của một chuyên gia thông tin, tư vấn giúp người dùng tin định hướng nguồn tin cần tìm, bao gói thông tin

- Người dùng tin Đây là đối tượng cần hướng tới của bất kỳ một loại hình thư viện nào, ở bất kỳ một giai đoạn nào Thư viện phát triển theo nhu cầu đòi hỏi và trình độ phát triển tư duy của xã hội, của người dùng tin Các sản phẩm và dịch vụ mà các thư viện điện tử tạo ra đều nhằm mục đích phục

vụ tốt nhất, kịp thời nhất cho người dùng tin

Xây dựng thư viện điện tử là xu thế khách quan để thư viện Việt Nam,

cụ thể là hệ thống thư viện các trường đại học có thể hòa nhập với mạng

TT-TV các nước trong khu vực và thế giới Do đó, các nhà lãnh đạo đầu ngành cần có sự định hướng chiến lược cho thư viện trong giai đoạn hội nhập hiện nay

1.2 Khả năng và xu hướng phát triển thư viện điện tử trong các trường Đại học tại Việt Nam

Trung tâm Thông tin- Thư viện trực thuộc các trường đại học từ lâu đã trở thành giảng đường thứ hai của các sinh viên, học viên Nơi đây cung cấp đầy đủ các kiến thức cần thiết, bổ trợ cho quá trình học tập, nghiên cứu trên lớp và cũng là con đường tiếp cận nhanh nhất, chính thống nhất tới các nghiên cứu khoa học, triển khai ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật.

Thư viện chính là môi trường cung cấp dữ liệu, thông tin Thư viện trường đại học cũng như các loại hình thư viện khác đóng vai trò tích cực trong đổi mới giáo dục, biến thông tin trở thành tri thức cho cộng đồng

Xã hội thông tin đang phát triển mạnh mẽ và mang tính quốc tế Nó tác động đến mọi lĩnh vực đời sống- kinh tế- xã hội và trở thành nhu cầu tất yếu trong thời kỳ hội nhập hiện nay Xu thế này không loại trừ bất kỳ quốc gia nào và tất cả đều đang quan tâm đến việc dùng thông tin tri thức nói chung, thông tin khoa học và công nghệ nói riêng để tạo thế cạnh tranh, khẳng định

Trang 21

chỗ đứng của họ trong một thị trường toàn cầu đa dạng và năng động Việt Nam không nằm ngoài xu thế đó Nghị quyết 49/CP ban hành năm 1993, Chính phủ khẳng định quyết tâm phổ cập văn hóa thông tin trong xã hội nhằm tạo môi trường thuận lợi cho việc chuẩn bị hướng tới một xã hội thông tin Đây là cơ hội và cũng là thách thức lớn đối với hoạt động thông tin và công tác tổ chức quản lý hoạt động thông tin của Việt Nam

Nghiên cứu diễn biến và sự phát triển của hoạt động thông tin cho thấy việc xây dựng và khai thác các cơ sở dữ liệu trong hoạt động thông tin thư viện trở thành hoạt động chính và còn tiếp tục giữ vị trí chủ đạo cho tới hết những thập niên đầu của thế kỷ 21

Sử dụng các công nghệ thông tin mới để quản trị và trao đổi thông tin

từ đó tạo điều kiện thuận lợi để nâng cao năng lực khai thác và sử dụng thông tin là một phương hướng quan trọng trong hoạt động của các cơ quan thông tin thư viện Đến nay trong hệ thống thông tin thư viện ở Việt Nam các CSDL

đã được xây dựng và đưa vào khai thác Thêm vào đó, bằng con đường đặt muc hoặc trao đổi quốc tế, các cơ quan thông tin thư viện đã tích luỹ được một lượng không nhỏ các CSDL nước ngoài về các lĩnh vực khác nhau Đây

là nguồn lực đáng kể cho toàn hệ thống

Sự phát triển của công nghệ thông tin- truyền thông và nguồn tin điện

tử, nhất là sau khi gia nhập WTO vào năm 2006 đã mở ra cho ngành thư viện Việt Nam một cơ hội và thách thức lớn Theo thạc sĩ Cao Minh Kiểm dịch từ cuốn cuốn "The Library in the twenty-first Century: New Services for the Information Age" (Thư viện thế kỷ 21 - những dịch vụ mới cho kỷ nguyên thông tin) của tác giả Peter Brophy [21 ] thì 10 vấn đề có thể ảnh hưởng mạnh

mẽ tới sự phát triển của thư viện, làm biến đổi những hoạt động truyền thống của thư viện, thậm chí có thể dẫn đến suy giảm vai trò của mô hình thư viện truyền thống Đó là:

-Xuất hiện công nghệ giấy điện tử (E-paper);

Trang 22

-Mô hình xuất bản mới (E-publishing) dựa trên lưu trữ điện tử và dịch

vụ tiền xuất bản (Pre-print service), các lưu trữ điện tử mở (Open archive);

-Hiệu sách trực tuyến (E-bookshop): người đọc được khuyến khích mua tài liệu trực tiếp mà không cần đến thư viện;

-Thương mại điện tử (EcCommerse);

-Vô tuyến truyền hình số (Digital television): truyền thông băng rộng sẽ tạo cho người sử dụng khả năng truy cập thông tin mạnh mẽ;

-Môi trường học tập tích hợp; thư viện không còn là nơi duy nhất cung cấp tri thức lưu trữ nữa mà còn nhiều phương tiện khác;

-Trường đại học ảo (E-university);

-Thông tin di động, không dây;

-In ấn theo yêu cầu;

-Những vấn đề chưa biết tới

Qua những sự kiện và xu hướng phát triển ngành thông tin thư viện trong phạm vi toàn cầu, ngành thông tin thư viện Việt Nam phải có những chuyển biến tích cực theo hướng chuẩn hóa, hội nhập để đi đến hoàn toàn liên thông; từng bước biến thư viện từ kho chứa sách thành trung tâm hình thành tri thức nhằm hỗ trợ tích cực cho việc giáo dục đào tạo

Nắm bắt xu thế này, trong văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX, Đảng ta đã định ra đường lối phát triển ngành thư viện Việt Nam trong thời

kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa như sau: " Phát triển mạng lưới thư viện, hiện đại hóa công tác thư viện, lưu trữ…” Tiếp đó, trong Kết luận của Hội nghị lần thứ sáu BCHTW Khóa 9 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết TW 2 Khóa 8 đã đề ra phương hướng phát triển giáo dục, đào tạo, khoa học và công nghệ từ nay đến 2005 và đến 2010 là: " Tổ chức hệ thống thông tin khoa học và công nghệ quốc gia, các thư viện điện tử theo hướng hiện đại Mở rộng mạng thông tin để đưa tri thức, khoa học đến với mọi người ” Nhà nước ta

Trang 23

đã cụ thể hoá đường lối trên thông qua các văn bản quy phạm pháp luật nhằm hướng dẫn việc thực hiện một cách hệ thống và đồng bộ Cụ thể:

Tại Điều 21, khoản 1 Pháp lệnh Thư viện ban hành ngày 28 tháng 12 năm 2000 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội đã khẳng định: "Đầu tư để đảm bảo cho các thư viện hưởng ngân sách nhà nước hoạt động, phát triển và từng bước hiện đại hóa cơ sở vật chất-kỹ thuật, điện tử hóa, tự động hóa thư viện”

Tại Điều 14, khoản 1 Nghị định 72/2002/NĐ-CP ban hành ngày 06 tháng 8 năm 2002 của Chính phủ đã cụ thể hóa chính sách của Nhà nước đối với việc xây dựng các thư viện ở Việt Nam như sau: "Bảo đảm kinh phí cho các thư viện phát triển vốn tài liệu, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật theo hướng hiện đại hóa, từng bước thực hiện điện tử hóa, tự động hóa, xây dựng thư viện điện tử và phát triển thư viện sử dụng kỹ thuật số ”

Quyết định số 47/2001/QĐ-TTg ngày 04/04/2001 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Quy hoạch mạng lưới các trường Đại học-Cao đẳng Việt Nam giai đoạn 2001-2010” đã nêu rõ: Tăng cường năng lực và nâng cao chất lượng hoạt động thư viện; hình thành hệ thống thư viện điện tử kết nối giữa các trường, từng bước kết nối với hệ thống thư viện của các trường đại học, thư viện quốc gia của các nước trong khu vực và trên thế giới Mở cổng kết nối Internet trực tiếp cho hệ thống giáo dục đại học

Quyết định số 33/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 8 tháng 2 năm 2002 về Kế hoạch phát triển Internet Việt Nam giai đoạn 2001 –

2005 đã chỉ đạo: "từng bước điện tử hóa các thư viện nghiên cứu, các cơ sở đào tạo, hình thành các kho thông tin điện tử công cộng quốc gia”

Quyết định số 56/2007/QĐ-TTg ngày 03 tháng 05 năm 2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc Phê duyệt chương trình phát triển công nghiệp nội dung số Việt Nam đến năm 2010, trong đó nhấn mạnh "Làm chủ các công nghệ nền tảng trong công nghiệp nội dung số, sản xuất được một số sản phẩm trọng điểm có khả năng cạnh tranh cao; hình thành hệ thống thư viện số trực

Trang 24

tuyến; xây dựng được một số cơ sở dữ liệu chuyên ngành; cung cấp hiệu quả các dịch vụ tư vấn khám, chữa bệnh và đào tạo từ xa."

Quyết định cũng cũng nêu một số giải pháp cụ thể:

- Đầu tư cho Thư viện quốc gia và một số thư viện lớn ở các thành phố trực thuộc Trung ương và các trường đại học xây dựng giải pháp thư viện số trực tuyến, số hoá sách, báo, tài liệu để hình thành hệ thống thư viện số Việt Nam;

- Đầu tư nghiên cứu, phát triển các tài liệu, học liệu phục vụ giáo dục từ

xa, học tập điện tử (e-learning), đặc biệt là các bài giảng, bài tập, các từ điển điện tử; các thí nghiệm ảo về vật lý, hóa học, sinh học

Quyết định số 10/2007/QĐ-BVHTT ngày 4 tháng 5 năm 2007 của Bộ Văn hóa Thông tin về việc phê duyệt quy hoạch phát triển ngành thư viện Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 đã nêu rõ mục tiêu phát triển chủ yếu đối với thư viện các trường trung cấp, cao đẳng, đại học:

- Nâng cấp thư viện các trường đại học: xây dựng mới, tu bổ lại trụ sở thư viện, tạo cho các thư viện hiện đại về cơ sở vật chất và trang thiết bị; phong phú về tài liệu;

- Phát triển cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, lấy đó làm đòn bẩy quan trọng nhất trong quá trình hiện đại hóa thư viện

Với những căn cứ pháp lý trên đã khẳng định được sự quan tâm của Đảng- Nhà nước đối với sự phát triển sự nghiệp thông tin- thư viện, đặc biệt

là hệ thống thư viện các trường đại học- nơi gắn liền với sự lớn mạnh của nền giáo dục Việt Nam

Hoạt động thông tin thư viện đại học phải luôn luôn bám sát mục tiêu, định hướng phát triển của trường đại học, của hoạt động nghiên cứu đào tạo nói chung Cùng với sự quan tâm và đầu tư thích đáng của Đảng và Nhà nước, của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đặc biệt là các Bộ chủ quản, hoạt động của thư viện đại học đã có nhiều khởi sắc Các dự án giáo dục đại học hiện đại

Trang 25

hóa thư viện của Chính phủ cùng nhiều dự án từ các nguồn tài chính khác đã tạo cơ hội cho thư viện đại học có điều kiện phát triển

Trung tâm Thông tin - Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội là một trong những đơn vị tiên phong trong việc tiếp cận công nghệ mới, cải tạo, nâng cấp

và dần chuyển đổi từ thư viện truyền thống sang thư viện điện tử một cách khá thành công Được sự đầu tư quan tâm của Nhà nước, sự chỉ đạo sát sao của ban lãnh đạo Đại học Quốc gia Hà Nội, Trung tâm đã trở thành đầu mối liên kết mạng lưới thư viện điện tử các trường Đại học phía Bắc với các khu vực khác trong cả nước, tiến tới hoà mạng khu vực và thế giới

1.3 Khái quát về Trung tâm Thông tin - Thƣ viện, Đại học Quốc gia Hà Nội

Đại học Quốc gia Hà Nội là một trong những cơ sở đào tạo trọng điểm trong hệ thống Đại học ở Việt Nam Với mục tiêu đào tạo cho đất nước đội ngũ cán bộ, các nhà khoa học, các nhà quản lý đa ngành, đa lĩnh vực, ban giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội xác định nhân tố nguồn tin đóng vai trò quyết định Bởi vậy ngay từ những ngày đầu mới thành lập, Ban Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội đã quan tâm xây dựng và phát triển Trung tâm Thông tin Thư viện theo mô hình hiện đại nhằm năng cao chất lượng giáo dục của đơn vị

1.3.1 Quá trình hình thành và phát triển

Kể từ ngày 14/02/1997 khi Trung tâm Thông tin - Thư viện được thành lập theo quyết định số 66/TCCB của Giám đốc Đại học Quốc gia đến nay đã trải qua gần 15 năm xây dựng và trưởng thành Trung tâm được hình thành trên cơ sở hợp nhất thư viện của 3 trường đại học trực thuộc Đại học Quốc gia

Hà Nội, đó là: Đại học Tổng hợp, Đại học Sư phạm I Hà Nội, Đại học Sư phạm Ngoại ngữ, có tên giao dịch quốc tế là Library and Information Center,

Trang 26

Vietnam National University, HaNoi, tên viết tắt là LIC, địa chỉ Web là: http://www.lic.vnu.vn

Hình 1: Giao diện Website của Trung tâm

Ngày 12/10/1999 Trường Đại học Sư phạm I Hà Nội đã tách khỏi Đại học Quốc gia Hà Nội theo quyết định số 201/1999/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Theo đó, ngày 11/11/1999 Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội ký quyết định 1392/TCCB tách Thư viện Trường Đại học Sư phạm I ra khỏi Trung tâm

Căn cứ điều 44, quyết định số 153/2003/QĐ-TTg ngày 30/07/2003 của Thủ tướng Chính phủ quy định: “Trường đại học có Trung tâm thông tin tư liệu phục vụ hoạt động đào tạo, khoa học và công nghệ Trung tâm thông tin

tư liệu có trách nhiệm quản lý, bổ sung và cung cấp thông tin, tư liệu khoa học và công nghệ trong và ngoài nước thuộc các lĩnh vực hoạt động của

Trang 27

trường, thu thập và bảo quản các sách, tạp chí, băng, đĩa, các tài liệu lưu trữ, các luận án đã bảo vệ tại trường, các ấn phẩm của trường; hướng dẫn và quản

lý công tác quyền sở hữu trí tuệ của trường Trung tâm thông tin tư liệu hoạt động theo quy chế do Hiệu trưởng ban hành” Đồng thời, với chủ trương nâng cao chất lượng phục vụ, đưa Trung tâm trở thành một thư viện hiện đại, ban giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội đã dành sự quan tâm đặc biệt và đầu tư đáng kể về kinh phí cho việc nâng cấp, xây dựng và phát triển Trung tâm Ngay từ những ngày đầu thành lập, lãnh đạo Đại học Quốc gia Hà Nội đã trao quyền tự quyết cho Trung tâm, có tài khoản và con dấu riêng, tăng cường ngân sách đầu tư Do đó, Trung tâm có điều kiện nâng cấp cơ sở vật chất kỹ thuật, bổ sung tài liệu, mua sắm trang thiết bị hiện đại và tin học hoá các khâu trong toàn bộ hoạt động của thư viện Trung tâm có các cơ sở trực thuộc, gồm:

- Trụ sở chính đặt tại 144 Xuân Thuỷ, Cầu Giấy, Hà Nội

- Phòng PVBĐ Ngoại ngữ tại số 1 Phạm Văn Đồng, Cầu Giấy, Hà Nội

- Phòng PVBĐ Thượng Đình tại 336 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội

- Phòng PVBĐ Mễ Trì tại 182 Lương Thế Vinh, Thanh Xuân, Hà Nội

- Các chi nhánh khác

Trung tâm hiện đang có mối quan hệ hợp tác với hơn 100 tổ chức thông tin – thư viện trong nước và trên thế giới Tham gia, đóng góp tích cực, hiệu quả trong một số hiệp hội nghề nghiệp như: Phòng Văn hóa Thông tin Đại sứ quán Hoa Kỳ, Viện Gớt, Hội đồng Anh, Qũy Châu Á, Phòng Thông tin Đại

sứ quán Hàn Quốc, Ngân hàng Thế giới, Hội đồng Pháp ngữ Trung tâm là thành viên sáng lập và tham gia Ban Chấp hành Hội thư viện đại học trực tuyến các nước Đông Nam Á (AUNILO) và Hội đồng thư viện Đại học Quốc gia các nước Đông Á (East Asian University Library Council)

Trang 28

Là cơ quan thông tin trực thuộc trường Đại học, Trung tâm chủ động tạo mối quan hệ hợp tác trao đổi với hơn 50 trường đại học, viện nghiên cứu,

tổ chức quốc tế, các nhà xuất bản tại Hoa Kỳ, Pháp, Đức, Nga, Italy, Nhật Bản, Hàn Quốc và nhiều nước khác Với cương vị là Chủ tịch Liên hiệp Thư viện các trường đại học phía Bắc, Phó Chủ tịch Hội thư viện Việt Nam, Trung tâm đã khẳng định được vị thế của mình trong lĩnh vực thông tin-thư viện và cũng là điều kiện thuận lợi để phát triển các mối quan hệ hợp tác, thu hút các

dự án cho Trung tâm

Nói tóm lại, từ một Trung tâm Thông tin – Thư viện Đại học Tổng hợp

Hà Nội với rất ít máy tính thì nay Trung tâm đã trở thành địa chỉ tin cậy cho các độc giả trong và ngoài Đại học Quốc gia Hà Nội đến tra cứu, tìm kiếm thông tin thông qua mạng máy tính và hệ thống thiết bị hiện đại với kho dữ liệu phong phú Đó là một thành quả rất đáng trân trọng

1.3.2 Chức năng, nhiệm vụ

Điều 44 Quyết định số 153/2003/QĐ-TTg ngày 30/07/2003 của Thủ tướng Chính phủ về Điều lệ Trường Đại học có quy định: Trường đại học có Trung tâm thông tin tư liệu phục vụ hoạt động đào tạo, khoa học và công nghệ Trung tâm thông tin tư liệu có trách nhiệm quản lý, bổ sung và cung cấp thông tin,tư liệu khoa học và công nghê trong và ngoài nước thuộc các lĩnh vực hoạt động của trường, thu thập và bảo quản các sách, tạp chí, băng, đĩa, các tài liệu lưu trữ, các luận án đã bảo vệ tại trường, các ấn phẩm của trường; hướng dẫn và quản lý công tác quyền sở hữu trí tuệ của trường Trung tâm thông tin tư liệu hoạt động theo quy chế do Hiệu trưởng ban hành

Trung tâm là một đơn vị trực thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội, do vậy mọi hoạt động của Trung tâm phải thực hiện theo quy chế mà Giám đốc Đại học Quốc gia ban hành Theo đó, ngoài 4 chức năng cơ bản của một thư viện,

đó là chức năng tàng trữ, thông tin, giáo dục và văn hoá đơn vị còn phải tuân

Trang 29

thủ chức năng riêng, đó là: chức năng thông tin và thư viện phục vụ các công tác: Đào tạo, nghiên cứu khoa học, triển khai ứng dụng và quản lí của ĐHQGHN Trung tâm có nhiệm vụ nghiên cứu, thu thập, xử lí, thông báo và cung cấp tin, tư liệu về khoa học, giáo dục, ngoại ngữ và công nghệ phục vụ cán bộ và sinh viên ĐHQGHN

1.3.3 Cơ cấu tổ chức

Ngay sau khi được thành lập, ngày 21/4/1998 Giám đốc ĐHQGHN đã

ký quyết định số 947/TCCB quy định Quy chế về tổ chức và hoạt động Trung tâm TT-TV Theo đó, cơ cấu tổ chức của Trung tâm được sắp xếp theo sơ đồ như sau (Hình 2)

Đồng thời bản Quy chế cũng quy định quyền hạn và trách nhiệm của từng vị trí lãnh đạo, cụ thể: Giám đốc là người đứng đầu thư viện, chịu trách nhiệm chung về toàn bộ hoạt động của đơn vị và chịu trách nhiệm trước Ban giám đốc ĐHQGHN Các phó giám đốc là những người trợ giúp Giám đốc

các công việc như phụ trách các khối chức năng, khối nghiệp vụ và khối phục

vụ bạn đọc

Từ sơ đồ cơ cấu tổ chức của Trung tâm cho thấy, đây là mô hình tổ chức hoàn chỉnh và khoa học, có hệ thống, có sự phân cấp rõ ràng Tất cả các phòng của Trung tâm tạo thành một khối hoàn chỉnh, mang tính đồng bộ cao Các bộ phận của Trung tâm hoạt động phối hợp lẫn nhau nên việc chia sẻ nguồn tin dễ dàng và thuận tiện Với mô hình hoạt động này, Trung tâm có điều kiện thuận lợi trong việc ứng dụng công nghệ thông tin vào các khâu

công tác, từng bước tiến tới hiện đại hóa toàn bộ hoạt động của mình

Trang 30

Hình 2: Sơ đồ cơ cấu tổ chức Trung tâm TT-TV, ĐHQGHN

P Bổ sung – Trao đổi

P Phân loại- Biên mục

P Máy tính và mạng

P Thông tin – Nghiệp vụ

Bộ phận Phát trin tài nguyên số

P PVBĐ chung P PVBĐ Ngoại ngữ P PVBĐ Thượng Đình P PVBĐ Mễ Trì Chi nhánh

Đọc tổng hợp Đọc báo, tạp chí Đọc chuyên để Tra cứu

Mượn tham khảo Mượn giáo trình

Multilmedia

CSDL Hồi cố

Trang 31

1.3.4 Cơ sở vật chất và đội ngũ cán bộ

Là một trong những Trung tâm Thông tin – Thư viện đại học lớn của đất nước, Trung tâm Thông tin thư viện ĐHQGHN được trang bị cơ sở vật chất tương đối khang trang và hện đại Ngoài những vật dụng thiết yếu cho hoạt động như bàn ghế, quạt, máy vi tính, máy photo, điều hòa,…Trung tâm còn đầu tư các thiết bị công nghệ hiện đại như máy đọc mã vạch, hệ thống máy chủ và máy trạm, thiết bị đa phương tiện multimedia, lắp đặt mạng Internet, Intranet và mạng LAN tại các khu vực phòng đọc trực thuộc Trung tâm

Bên cạnh yếu tố cơ sở vật chất thì yếu tố con người đóng vai trò quyết định trong mọi hoạt động của một thư viện Trung tâm đã thu hút được đội ngũ cán bộ có trình độ và chuyên môn cao Trong số 145 cán bộ bao gồm 01 Tiến sĩ, 18 thạc sĩ, 100 cử nhân, 10 cao đẳng và 16 trung cấp Ban giám đốc Trung tâm thường xuyên cử cán bộ đi đào tạo nâng cao chuyên môn và mở các lớp tập huấn về nghiệp vụ thông tin- thư viện cho các cán bộ ngành khác Trung tâm rất chú trọng đến đào tạo tin học, ngoại ngữ cho đội ngũ cán bộ trẻ, thế hệ kế cận, đối tượng có khả năng tiếp thu và thích nghi nhanh với sự phát triển ngành thư viện trong khu vực và thế giới

1.3.5 Nguồn lực thông tin

Thế giới đang trong quá trình “xã hội thông tin toàn cầu” Việc hướng tới sự định hình một xã hội thông tin ở từng nước đã đặt ra yêu cầu đối với việc khai thác và sử dụng thông tin như một nguồn lực cơ bản và quan trọng

để phát triển quốc gia Với sự phát triển của mạng Internet, không gian thông tin của nhân loại được mở rộng và lớn hơn rất nhiều Ngày càng có nhiều trang Web được xây dựng trên mọi lĩnh vực để đăng tải và truyền thông tin Các bản tin, các loại ấn phẩm, các cơ sở dữ liệu, các cuộc thảo luận và tham

Trang 32

vấn được xuất hiện trên mạng Internet Mọi hoạt động trong xã hội hiện đại điều phải dựa trên thông tin

Nắm bắt được xu thế thời đại, xác định chính xác vị trí của nguồn lực thông tin trong một cơ quan thông tin – thư viện, Trung tâm dành rất nhiều sự đầu tư phát triển nguồn lực nội sinh và ngoại sinh- tiền đề để xây dựng một thư viện điện tử hiện đại

Là một trong bốn thành tố cơ bản (nguồn lực thông tin, cơ sở vật chất kỹ thuật, cán bộ thư viện, người dùng tin) cấu thành thư viện và cơ quan thông tin, nguồn lực thông tin phản ánh tiềm lực của mỗi thư viện và cơ quan thông tin trong quá trình xây dựng và phát triển Đối với các trường đại học, trong quá trình hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học, nhà trường đã tạo ra một khối lượng tài liệu có giá trị gọi là nguồn tin nội sinh bao gồm các công trình nghiên cứu khoa học, luận án, luận văn, sách giáo trình, sách tham khảo, tài liệu hội nghị, hội thảo Đây là nguồn thông tin rất có giá trị, phục vụ đắc lực cho học tập, giảng dạy, nghiên cứu khoa học của cán bộ, giảng viên, sinh viên

Kho tài liệu hiện có tại Trung tâm Thông tin – Thư viện, ĐHQGHN khá phong phú Trong 17 năm qua (1993-2010) Trung tâm đã bổ sung hơn 15.000 đầu sách với 250.000 cuốn, ngoài ra còn tiếp nhận một số lượng lớn sách, báo, tạp chí về các khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên, công nghệ, ngôn ngữ, kinh tế, luật từ nguồn tài trợ của Quỹ Ford, quỹ Châu Á đưa tổng số sách của Trung tâm lên tới hơn 130.000 đầu sách với gần 700.000 bản, 2.145 tên tạp chí với 450.000 cuốn Đặc biệt, Trung tâm đã bổ sung vào kho tư liệu nhiều dạng tài liệu mới và quý: 2000 thác bản văn bia, hơn 500 đơn vị tài liệu nghe nhìn, hàng chục CSDL trên đĩa CD-ROM và trực tuyến trên mạng, gồm:

+ 6 CSDL tạp chí điện tử tóm tắt và toàn văn với tổng số 9.757 tên tạp chí (8.306.140 bài), bao gồm các CSDL hàng đầu thế giới như: ScienceDirect,

Trang 33

ProQuest Central, IEEE Computer Sciences, SpringerLink Journals, Wilson OmiFile Complete on eBridge Platform

+ 5 CSDL sách điện tử với tổng số 56.127 cuốn gồm các CSDL eBary Academic Complete, International Engineering Consortium, SIAM eBooks, Springer eBooks copyright collection 2005 & 2007

+ Bộ giáo trình học tiếng Anh Lang Master

Trung tâm đã chuyển dạng số hàng chục giáo trình chuyên ngành của các tác giả là cán bộ của ĐHQGHN

Với mục tiêu đa dạng hóa các sản phẩm và dịch vụ thông tin, đưa thông tin tới tay người dùng tin nhanh nhất, chính xác nhất, từ những năm đầu thành lập, Trung tâm đã xây dựng Bản tin điện tử được lưu hành nội bộ trong ĐHQGHN Định kỳ xuất bản 1 tháng/ấn phẩm, Bản tin mang đến cho bạn đọc những thông tin mới nhất về thư mục sách mới trong kho và được cập nhật hàng tháng Ngoài ra, Trung tâm còn tiến hành xây dựng thư mục tóm tắt luận

án, luận văn của các tác giả thuộc ĐHQGHN Đây là công cụ hữu hiệu để bạn đọc tra cứu và là cơ sở để các thế hệ tiếp sau lựa chọn đề tài nghiên cứu

Là cơ quan thông tin trực thuộc trường Đại học với số lượng người dùng tin đa dạng đòi hỏi Trung tâm phải tạo ra các loại hình dịch vụ Từ dịch

vụ cung cấp tài liệu gồm đọc tại chỗ và mượn về nhà cho đến cung cấp bản sao tài liệu gốc Bộ phận chiếm tỷ trọng lớn của nguồn tin nội sinh trong trường đại học là tài liệu xám Từ đặc điểm này, có thể thấy, các vấn đề liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ sẽ là yếu tố được quan tâm hàng đầu Vì thế, trong quá trình triển khai dịch vụ sao chụp các tài liệu xám, Trung tâm phải tính đến việc hạn chế sao chụp toàn bộ một tài liệu để cung cấp cho người dùng tin, cũng như số lượng bản sao chụp cần hạn chế ở mức thấp nhất Ngoài ra, Trung tâm còn có dịch vụ cung cấp thông tin định kỳ theo yêu cầu đặt trước của bạn đọc Hàng năm, Trung tâm tiến hành triển lãm sách để giới thiệu sách mới đến với bạn đọc Nhằm cải tiến, nâng cao chất lượng hoạt

Trang 34

động thông tin thư viện, Trung tâm tiến hành dịch vụ hỏi đáp, tổ chức hội nghị bạn đọc có sự tham gia của các nhà khoa học, các chuyên gia, nhà văn, nhà thơ và cán bộ thư viện để người dùng tin đánh giá về các mặt hoạt động, tinh thần phục vụ của cán bộ thư viện

Cùng với sự phát triển của công nghệ số, các dịch vụ thông tin điện tử của Trung tâm ra đời đáp ứng nhu cầu của người dùng tin hiện đại Các dịch

vụ đó bao gồm:

- Dịch vụ truy cập Internet: cung cấp thông tin trên mạng Internet và Intranet đồng thời người dùng tin có quyền truy cập đến kho tư liệu của các thư viện khác trên thế giới thông qua giao thức Z39.50 và trao đổi thông tin bằng email

- Dịch vụ khai thác đa phương tiện

- Dịch vụ trao đổi thông tin qua trang Web và diễn đàn của Trung tâm

1.3.6 Đặc điểm nhu cầu tin

Người dùng tin là một bộ phận quan trọng không thể tách rời của bất kỳ

hệ thống thông tin nào Người dùng tin là yếu tố tương tác hai chiều với các đơn vị thông tin Người dùng tin vừa là đối tượng phục vụ, là khách hàng, là người tiêu thụ các sản phẩm và dịch vụ của cơ quan thông tin thư viện, vừa là chủ thể hoạt động (cá nhân, tập thể, nhóm) Đây là cơ sở để định hướng hoạt động của các cơ quan thông tin Mặt khác, người dùng tin còn tham gia vào hầu hết các công đoạn của hoạt động thông tin như: đánh giá nguồn tin, giúp

đỡ, lựa chọn và bổ sung tài liệu, hiệu chỉnh các hoạt động thông tin

Với nhu cầu tin cụ thể cùng với với năng lực tiếp nhận và xử lý thông tin của mình người dùng tin là nhân tố quyết định nội dung thông tin, kênh thông tin cần được sử dụng trong hoạt động thông tin

Là một cơ quan thông tin trong hệ thống giáo dục đào tạo nên đối tượng phục vụ của Trung tâm rất đa dạng Theo số liệu thống kê, tính đến

Trang 35

31/12/2008, ĐHQGHN hiện đang quy tụ được số lượng hùng hậu cán bộ giảng dạy có trình độ cao Cụ thể, trong số 2.359 cán bộ, viên chức cơ hữu của ĐHQGHN có 40 GS, 224 PGS, 27 TSKH, 595 TS, 935 thạc sĩ, trong đó

có nhiều nhà khoa học đầu ngành, đầu đàn có uy tín lớn ở trong và ngoài nước Thực hiện chủ trương thu hút và sử dụng đội ngũ cán bộ khoa học có trình độ cao, ĐHQGHN đã thu hút khoảng 200 GS và 300 PGS của các cơ sở nghiên cứu và đào tạo trong cả nước và hàng trăm các nhà khoa học có uy tín của thế giới, trong đó có một số người đạt giải Nobel và các giải thưởng lớn

có uy tín khác cùng tham gia đào tạo, NCKH

ĐHQGHN có quy mô đào tạo lớn, với khoảng 18.000 sinh viên hệ đại học chính quy và gần 26.000 sinh viên các loại hình đào tạo không tập trung theo học 60 ngành đào tạo bậc đại học; gần 2.200 học viên cao học theo học

103 chuyên ngành đào tạo thạc sĩ và gần 300 nghiên cứu sinh theo học 77 chuyên ngành đào tạo tiến sĩ Ngoài ra, hệ trung học phổ thông chuyên đào tạo khoảng 2000 học sinh giỏi nhằm bồi dưỡng năng khiếu và tạo nguồn sinh viên giỏi cho bậc đại học

Với những thông số trên đòi hỏi Trung tâm cần có sự phân nhóm, phân tích đặc điểm từng đối tượng nhu cầu tin để có hình thức phục vụ phù hợp

Nhóm 1 Nhóm các nhà quản lý, bao gồm:

+ Ban lãnh đạo Đại học Quốc gia Hà Nội

+ Ban giám hiệu của các trường Đại học thành viên

+ Ban giám đốc các trung tâm

+ Ban chủ nhiệm các khoa và bộ môn

Số lượng NDT của nhóm đối tượng này chiếm tỉ lệ không cao nhưng

họ lại giữ vị trí quan trọng, định hướng sự phát triển của đơn vị, tổ chức Họ

là những người có năng lực trí tuệ, có hiểu biết về môi trường xung quanh và chính đối tượng họ quản lý Họ nắm vững quy luật và vận hành một cách nhuần nhuyễn sự vận động của quy luật, có khả năng phán đoán, nhận biết

Trang 36

được thời cơ và có năng lực ra quyết định Trong một cơ quan thông tin thì người quản lý vừa đóng vai trò là người sử dụng thông tin vừa là người hoạch định chính sách phát triển của đơn vị

Thông tin đối với một nhà quản lý là thông tin đa chiều Thông tin là tiềm năng của quản lý Nếu không có thông tin thì nhà quản lý trở thành quan liêu, đưa ra những chính sách không phù hợp với thực tiễn Mặt khác, thông tin là đối tượng và công cụ lao động của nhà quản lý Cán bộ quản lý khi tiếp nhận thông tin cần phải xử lý thông tin đó để đưa ra quyết định phù hợp, giúp cho hoạt động quản lý có chất lượng Do vậy, thông tin mà nhà quản lý cần phải kịp thời, chính xác, cô đọng, logic, có tính hệ thống và bảo mật cao

ĐHQGHN là một cơ quan đầu ngành về giáo dục, do vậy người quản lý

ở đây có nhu cầu cập nhật thông tin, tài liệu về khoa học công nghệ, kinh tế

xã hội, đặc biệt là về giáo dục đào tạo Họ tìm hiểu mọi mặt về các ngành khoa học mũi nhọn, đánh giá khả năng đáp ứng và mức độ phù hợp của các ngành đó đối với sự phát triển của đất nước trong tương lai, từ đó có kế hoạch đào tạo, phát triển nguồn nhân lực cho phù hợp Với nhiệm vụ đặt ra đối với

cơ quan thông tin là tham mưu cho lãnh đạo để đưa ra các quyết định định hướng sự phát triển của đơn vị, Trung tâm cần phải có các biện pháp tổ chức, tạo ra các sản phẩm dịch vụ tốt nhằm đáp ứng kịp thời nhu cầu của lãnh đạo ĐHQGHN Các sản phẩm dịch vụ điển hình mà Trung tâm cần có sự quan tâm đầu tư, đó là:

- Dịch vụ cung cấp tài liệu gốc với mọi hình thức như mượn về nhà, sao chụp,…

Trang 37

Các nhà lãnh đạo tại ĐHQGHN là những nhà khoa học có trình độ học vấn cao, do đó, ngoài nhiệm vụ lãnh đạo đơn vị, họ còn tích cực tham gia vào công tác giảng dạy Vì thế họ cũng cần có thông tin chuyên môn như các giảng viên khác: giáo trình, tài liệu tham khảo, giáo trình điện tử,…

Nhóm 2 Nhóm cán bộ giảng dạy và nghiên cứu

Nhóm đối tượng này là những cán bộ có trình độ từ đại học trở lên và tích cực tham gia vào công tác nghiên cứu khoa học Họ cung cấp lượng thông tin mới và liên tục cho Trung tâm thông qua các bài giảng, đề tài nghiên cứu,… Đồng thời họ cũng là đối tượng NDT sử dụng thông tin một cách linh hoạt, khoa học và thường xuyên nhất

Là những người làm công tác nghiên cứu, giảng dạy cho sinh viên do

đó nhóm NDT này luôn có nhu cầu tiếp cận thông tin khoa học mới, các công trình nghiên cứu về khoa học kỹ thuật, những phát minh sáng chế, các nghiên cứu thực nghiệm để bổ sung vào bài giảng và đề tài nghiên cứu của mình Những sản phẩm như thông báo tài liệu mới, thông tin chuyên đề, các CSDL chuyên ngành trực tuyến luôn luôn thu hút sự quan tâm của lớp đối tượng này Với bản chất luôn luôn tìm tòi, thích khám phá cái mới của thế giới, họ rất chú ý đến tài liệu chuyên ngành bằng tiếng nước ngoài Ngoài khả năng tự dịch họ còn có nhu cầu tiếp cận các bản dịch ra tiếng Việt mà Trung tâm có thể xây dựng trong thời gian không xa

Nhóm 3 Nhóm nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và học sinh

Đối với nghiên cứu viên và học viên cao học là nhóm NDT đã tốt nghiệp Đại học, đã có thời gian công tác, trải nghiệm thực tiễn chuyên môn,

có khả năng sử dụng thành thạo các sản phẩm, dịch vụ thư viện tại Trung tâm

Là nhóm đối tượng làm công tác nghiên cứu là chủ yếu nên họ có nhu cầu sử dụng tài liệu gốc, tài liệu chuyên sâu, tài liệu chuyên khảo về lĩnh vực họ đang theo học

Trang 38

Sinh viên và học sinh là nhóm NDT chiếm tỉ lệ cao nhất tại ĐHQGHN Đối tượng này đến và sử dụng thư viện với nhu cầu chính là phục vụ cho học tập và nghiên cứu Dạng tài liệu thu hút nhất với họ là sách, tạp chí, giáo trình, tài liệu tham khảo Mặt khác, với mục tiêu đổi mới giáo dục đại học nhằm đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc

tế thì trong những biện pháp quan trọng là đổi mới cách dạy và học trong trường đại học, theo hướng tạo cho sinh viên chủ động hơn trong tiếp thu kiến thức, lấy tự học, tự nghiên cứu làm hoạt động quan trọng trong quá trình học; giảng viên thay đổi cách dạy, cách chuẩn bị bài giảng,…Từ đó đặt ra cho Trung tâm cần có sự định hướng và thay đổi hình thức phục vụ cho phù hợp

Cụ thể, tăng giờ phục vụ, thực hiện mượn liên thư viện giữa các phòng phục

vụ bạn đọc trực thuộc Trung tâm và với các trường đại học khu vực phía bắc, chú trọng phát triển tài liệu điện tử dạng toàn văn, hàng năm mở các lớp tập huấn sử dụng thư viện cho khóa sinh viên mới vào trường,…

Có thể nói, nhu cầu tin của người dùng tin tại Trung tâm Thông tin – Thư viện, ĐHQGHN rất phong phú, đòi hỏi sự quan tâm, đầu tư phát triển sản phẩm- dịch vụ phải đa dạng với nhiều loại hình tài liệu khác nhau Trong công cuộc cải cách giáo dục đại học, Trung tâm được coi là một trong những yếu tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo của ĐHQGHN, đáp ứng được sự nghiệp CNH, HĐH đất nước

Trang 39

CHƯƠNG 2 XÂY DỰNG THƯ VIỆN ĐIỆN TỬ TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN THƯ VIỆN, ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

2.1 Giai đoạn thí điểm ứng dụng công nghệ thông tin tại Trung tâm (1997 - 2001)

2.1.1 Những ngày đầu thành lập Trung tâm (1997): Áp dụng CDS/ISIS

Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong các thư viện nói chung và thư viện trường học nói riêng là rất quan trọng và cần thiết Nó mang lại những kết quả tốt nhất trong công tác lưu trữ, bảo quản, khai thác và giao lưu thông tin, góp phần nâng cao hiệu quả phục vụ của người dùng tin trong các thư viện nhà trường Nhìn lại những năm đầu thành lập ĐHQGHN (năm 1993), trong bối cảnh nền kinh tế đất nước còn gặp rất nhiều khó khăn, cơ sở vật chất

kỹ thuật dành cho Thư viện còn rất nghèo nàn, song Ban giám đốc ĐHQGHN

đã mạnh dạn đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý kho tài liệu

Từ những máy tính PC đầu tiên, một cơ sở dữ liệu thư mục sách được xây dựng dựa trên phần mềm quản trị dữ liệu được áp dụng là CDS/ISIS 3.0 do Trung tâm Thông tin Tư liệu khoa học và công nghệ quốc gia chuyển giao Như chúng ta đã biết, phần mềm tư liệu là phần mềm dùng để quản lý, lưu trữ

và tìm kiếm tài liệu, đồng thời tạo ra các sản phẩm thông tin thư mục Đó là

bộ máy tra cứu thông tin tự động hóa- giai đoạn đầu của quá trình tin học hóa thư viện

CDS/ISIS là phần mềm tư liệu do UNESCO phát triển và phổ biến từ năm 1985 Ở Việt Nam, CDS/ISIS được Trung tâm Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia Việt hóa để sử dụng với bộ mã chuẩn quốc gia và được đưa vào sử dụng từ cuối những năm 1980 ở một số thư viện lớn để xây dựng,

Trang 40

quản lý và khai thác các CSDL tài liệu của mình Trong những năm 1993,

1994 hầu hết các thư viện của trường đại học ở Hà Nội đều triển khai ứng dụng phần mềm tư liệu này, trong đó có thư viện Đại học Tổng hợp, ĐHQGHN Năm 1997 Trung tâm được thành lập trên cơ sở hợp nhất 3 thư viện thành viên trực thuộc ĐHQGHN, Trung tâm đã tiếp quản toàn bộ số biểu ghi mà các đơn vị đã thực hiện và tiếp tục bổ sung các biểu ghi mới với khoảng 43.000 biểu ghi thư mục sách sử dụng phần mềm tư liệu này Đây là lần đầu tiên các dữ liệu của Trung tâm sau khi xử lý được lưu trữ trong máy tính điện tử, tạo lập các CSDL giúp người dùng tin tra cứu tìm tin hiện đại với các toán tử logic and, or, not Việc sử dụng phần mềm này đánh dấu bước đi đầu tiên của công tác tin học hóa tại Trung tâm Sau này, khi đã chuyển sang

sử dụng các phần mềm thư viện ưu việt khác, CSDL này vẫn phát huy được tác dụng của nó bởi chúng được chuyển đổi sang cấu trúc khác phù hợp với từng giai đoạn phát triển của Trung tâm

CDS/ISIS có những tính năng sau:

Nhập các biểu ghi mới trong CSDL cho trước

Thay đổi, chỉnh sửa hoặc xóa các biểu ghi

Tự động xây dựng và duy trì khả năng truy cập nhanh nhất trong mỗi CSDL

Truy lục các biểu ghi theo nội dung bằng cách sử dụng ngôn ngữ tìm kiếm tinh xảo

Sắp xếp các biểu ghi theo thứ tự mong muốn

In một phần hoặc toàn bộ catalog và/hoặc các chỉ mục

Trao đổi dữ liệu

Xây dựng các ứng dụng bằng các tiện ích lập trình trong CDS/ISIS

Ngày đăng: 23/03/2015, 13:38

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Huy Chương (1996), “Đề xuất mạng máy tính (Network) trong thư viện đại học Việt nam”, Tạp chí Đại học và Giáo dục Chuyên nghiệp (4), tr. 21-22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề xuất mạng máy tính (Network) trong thư viện đại học Việt nam”, "Tạp chí Đại học và Giáo dục Chuyên nghiệp
Tác giả: Nguyễn Huy Chương
Năm: 1996
2. Nguyễn Huy Chương (1998), "Thư viện đại học Việt Nam: Hiện trạng và xu hướng phát triển", Tạp chí Đại học và Giáo dục Chuyên nghiệp (11), tr.42 - 44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thư viện đại học Việt Nam: Hiện trạng và xu hướng phát triển
Tác giả: Nguyễn Huy Chương
Năm: 1998
3. Nguyễn Huy Chương (2002), Một số giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư của dự án hiện đại hoá Trung tâm Thông tin – Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội, Kỷ yếu Hội thảo Khoa học và Thực tiễn Hoạt động Thông tin – Thư viện, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư của dự án hiện đại hoá Trung tâm Thông tin – Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Huy Chương
Năm: 2002
4. Nguyễn Huy Chương (2004), Một số vấn đề về tổ chức quản lý thư viện đại học, Kỷ yếu Hội thảo Thông tin –Thư viện lần thứ 2, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về tổ chức quản lý thư viện đại học
Tác giả: Nguyễn Huy Chương
Năm: 2004
5. Nguyễn Huy Chương (2005), Nghiên cứu, xây dựng mô hình tổ chức và hoạt động trung tâm thông tin thư viện đại học, Đề tài nghiên cứu cấp Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu, xây dựng mô hình tổ chức và hoạt động trung tâm thông tin thư viện đại học
Tác giả: Nguyễn Huy Chương
Năm: 2005
6. Nguyễn Huy Chương (2005), Phục vụ xây dựng đại học điện tử tại Đại học Quốc gia Hà Nội: các giải pháp gắn kết hoạt động thông tin thư viện với hoạt động nghiên cứu, giảng dạy và học tập của cán bộ và sinh viên, Kỷ yếu Đại hội Đảng bộ ĐHQGHN lần thứ III Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phục vụ xây dựng đại học điện tử tại Đại học Quốc gia Hà Nội: các giải pháp gắn kết hoạt động thông tin thư viện với hoạt động nghiên cứu, giảng dạy và học tập của cán bộ và sinh viên
Tác giả: Nguyễn Huy Chương
Năm: 2005
8. Nguyễn Huy Chương (chủ nhiệm đề án) (2009), Nghiên cứu, thiết kế mô hình và xây dựng thử nghiệm nguồn học liệu trực tuyến phục vụ đào tạo chất lượng cao cho một số ngành, chuyên ngành tại Đại học Quốc gia Hà Nội. Đề án cấp Đại học Quốc gia Hà Nội. 241 tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu, thiết kế mô hình và xây dựng thử nghiệm nguồn học liệu trực tuyến phục vụ đào tạo chất lượng cao cho một số ngành, chuyên ngành tại Đại học Quốc gia Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Huy Chương (chủ nhiệm đề án)
Năm: 2009
9. Nguyễn Huy Chương (chủ nhiệm đề tài) (2005), Nghiên cứu xây dựng mô hình tổ chức và hoạt động trung tâm thông tin – thư viện đại học, Đề tài nghiên cứu cơ bản cấp Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu xây dựng mô hình tổ chức và hoạt động trung tâm thông tin – thư viện đại học
Tác giả: Nguyễn Huy Chương (chủ nhiệm đề tài)
Năm: 2005
10. Nguyễn Huy Chương, Lâm Quang Tùng (2005), Vài nét về hoạt động số hoá tài liệu tại Trung tâm Thông tin - Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội, Kỷ yếu Hội thảo chuyên đề Quản trị và chia sẻ các nguồn tin số hoá Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nét về hoạt động số hoá tài liệu tại Trung tâm Thông tin - Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Huy Chương, Lâm Quang Tùng
Năm: 2005
12. Nguyễn Thị Hạnh (2004), Thư viện trong môi trường số, http://vst.vista.gov.vn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: http
Tác giả: Nguyễn Thị Hạnh
Năm: 2004
13. Nguyễn Văn Hành (2006), Áp dụng MARC21 ở một số thư viện đại học Việt Nam, http://vst.vista.gov.vn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: http
Tác giả: Nguyễn Văn Hành
Năm: 2006
14. Nguyễn Văn Hành (2004), Thư viện đại học Việt Nam trong các Dự án Giáo dục Đại học, http://vst.vista.gov.vn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: http
Tác giả: Nguyễn Văn Hành
Năm: 2004
15. Nguyễn Thị Hội (2008), Tìm hiểu công tác tổ chức quản lý và khai thác nguồn tin khoa học nội sinh tại Trung tâm Thông tin – Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội, Khoá luận tốt nghiệp, Trường Đại học KHXH&NV (ĐHQG Hà Nội), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu công tác tổ chức quản lý và khai thác nguồn tin khoa học nội sinh tại Trung tâm Thông tin – Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội
Tác giả: Nguyễn Thị Hội
Năm: 2008
16. Đồng Đức Hùng (2005), Nâng cao chất lượng xử lý tài liệu tại Trung tâm Thông tin thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội, Luận văn thạc sĩ Thông tin thư viện, Trường Đại học Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao chất lượng xử lý tài liệu tại Trung tâm Thông tin thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội
Tác giả: Đồng Đức Hùng
Năm: 2005
17. Nguyễn Hữu Hùng (2005), Thông tin: Từ lý luận đến thực tiễn, Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tin: Từ lý luận đến thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Hữu Hùng
Năm: 2005
18. Cao Minh Kiểm (2008), Một số suy nghĩ về tổ chức và hoạt động thông tin, thư viện ở Việt Nam trong giai đoạn sắp tới. Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2009 từ http: //vst.vista.gov.vn/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số suy nghĩ về tổ chức và hoạt động thông tin, thư viện ở Việt Nam trong giai đoạn sắp tới". Truy cập ngày 15 tháng 7 năm 2009 từ http: //
Tác giả: Cao Minh Kiểm
Năm: 2008
19. Chu Vân Khánh (2006), Khảo sát việc ứng dụng hệ quản trị thư viện tích hợp Libol 5.5 tại Trung tâm Thông tin thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội, Luận văn thạc sĩ Thông tin thư viện, Trường Đại học Văn hóa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát việc ứng dụng hệ quản trị thư viện tích hợp Libol 5.5 tại Trung tâm Thông tin thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội
Tác giả: Chu Vân Khánh
Năm: 2006
21. Patricia G. Oyler (2009), “Khuyếch trương và duy trì các thư viện Đông Nam Á trong bối cảnh thư viện toàn cầu”, TC Thông tin & Tư liệu, (4), tr. 25-34 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khuyếch trương và duy trì các thư viện Đông Nam Á trong bối cảnh thư viện toàn cầu”, "TC Thông tin & Tư liệu
Tác giả: Patricia G. Oyler
Năm: 2009
22. Bùi Thị Kiều Phượng (2008), Tin học hoá Trung tâm Thông tin – Thư viện phục vụ đổi mới hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học tại Đại học Quốc gia Hà Nội, Khoá luận tốt nghiệp, Trường Đại học KHXH&NV (ĐHQG Hà Nội), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tin học hoá Trung tâm Thông tin – Thư viện phục vụ đổi mới hoạt động đào tạo và nghiên cứu khoa học tại Đại học Quốc gia Hà Nội
Tác giả: Bùi Thị Kiều Phượng
Năm: 2008
11. Nguyễn Tiến Đức (2005), Xây dựng thư viện điện tử và vấn đề số hóa tài liệu ở Việt Nam, http://thuvien.net Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Giao diện Website của Trung tâm - Xây dựng thư viện điện tử tại trung tâm Thông tin - Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội Thực trạng và giải pháp hòan thiện
Hình 1 Giao diện Website của Trung tâm (Trang 26)
Hình 2: Sơ đồ cơ cấu tổ chức Trung tâm TT-TV, ĐHQGHN - Xây dựng thư viện điện tử tại trung tâm Thông tin - Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội Thực trạng và giải pháp hòan thiện
Hình 2 Sơ đồ cơ cấu tổ chức Trung tâm TT-TV, ĐHQGHN (Trang 30)
Hình 3: Giao diện phần mềm Libol 5.5 tại Trung tâm - Xây dựng thư viện điện tử tại trung tâm Thông tin - Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội Thực trạng và giải pháp hòan thiện
Hình 3 Giao diện phần mềm Libol 5.5 tại Trung tâm (Trang 47)
Hình 4. Giao diện phân hệ bổ sung - Xây dựng thư viện điện tử tại trung tâm Thông tin - Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội Thực trạng và giải pháp hòan thiện
Hình 4. Giao diện phân hệ bổ sung (Trang 49)
Hình 5: Cửa sổ làm việc chức năng báo cáo bổ sung - Xây dựng thư viện điện tử tại trung tâm Thông tin - Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội Thực trạng và giải pháp hòan thiện
Hình 5 Cửa sổ làm việc chức năng báo cáo bổ sung (Trang 50)
Hình 6: Giao diện phân hệ biên mục - Xây dựng thư viện điện tử tại trung tâm Thông tin - Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội Thực trạng và giải pháp hòan thiện
Hình 6 Giao diện phân hệ biên mục (Trang 52)
Hình thức giúp bạn đọc tra cứu được toàn diện hơn. Ví như, tài liệu Luận văn  thì trong biểu ghi biên mục sẽ bổ sung thêm trường 915$a là cấp luận văn, $b  là chuyên ngành luận văn,. - Xây dựng thư viện điện tử tại trung tâm Thông tin - Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội Thực trạng và giải pháp hòan thiện
Hình th ức giúp bạn đọc tra cứu được toàn diện hơn. Ví như, tài liệu Luận văn thì trong biểu ghi biên mục sẽ bổ sung thêm trường 915$a là cấp luận văn, $b là chuyên ngành luận văn, (Trang 53)
Hình 8: Giao diện phân hệ OPAC - Xây dựng thư viện điện tử tại trung tâm Thông tin - Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội Thực trạng và giải pháp hòan thiện
Hình 8 Giao diện phân hệ OPAC (Trang 54)
Hình 9. Giao diện tìm kiếm tài liệu luận án - Xây dựng thư viện điện tử tại trung tâm Thông tin - Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội Thực trạng và giải pháp hòan thiện
Hình 9. Giao diện tìm kiếm tài liệu luận án (Trang 56)
Hình 10: Màn hình thể hiện kết quả tìm chi tiết một tài liệu - Xây dựng thư viện điện tử tại trung tâm Thông tin - Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội Thực trạng và giải pháp hòan thiện
Hình 10 Màn hình thể hiện kết quả tìm chi tiết một tài liệu (Trang 56)
Hình 11: Giao diện phân hệ bạn đọc - Xây dựng thư viện điện tử tại trung tâm Thông tin - Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội Thực trạng và giải pháp hòan thiện
Hình 11 Giao diện phân hệ bạn đọc (Trang 58)
Hình 12: Giao diện phân hệ Lưu thông - Xây dựng thư viện điện tử tại trung tâm Thông tin - Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội Thực trạng và giải pháp hòan thiện
Hình 12 Giao diện phân hệ Lưu thông (Trang 59)
Hình 13: Giao diện phân hệ ấn phẩm định kỳ - Xây dựng thư viện điện tử tại trung tâm Thông tin - Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội Thực trạng và giải pháp hòan thiện
Hình 13 Giao diện phân hệ ấn phẩm định kỳ (Trang 60)
Hình 14. Giao diện ebook do Trung tâm tự thiết kế - Xây dựng thư viện điện tử tại trung tâm Thông tin - Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội Thực trạng và giải pháp hòan thiện
Hình 14. Giao diện ebook do Trung tâm tự thiết kế (Trang 63)
Hình 15. Sách điện tử toàn văn đã đƣợc update lên mạng để khai thác - Xây dựng thư viện điện tử tại trung tâm Thông tin - Thư viện, Đại học Quốc gia Hà Nội Thực trạng và giải pháp hòan thiện
Hình 15. Sách điện tử toàn văn đã đƣợc update lên mạng để khai thác (Trang 65)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w