Việc đưa ra những giải pháp nhằm đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động TT-TV đáp ứng nhu cầu xã hội và từng bước hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới để cùng chia sẻ, sử d
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ THU ĐIỆP
PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC THÔNG TIN TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI
HỌC THƯƠNG MẠI
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC THƯ VIỆN
Hà Nội - 2014
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ THU ĐIỆP
PHÁT TRIỂN NGUỒN LỰC THÔNG TIN TẠI TRUNG TÂM THÔNG TIN THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
Chuyên ngành : Khoa học Thư viện
Mã số :60 32 02 03
LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC THƯ VIỆN
Người hướng dẫn khoa học:
TS Nguyễn Viết Nghĩa
Trang 3Hà Nội - 2014
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình học tập cao học và làm luận văn thạc sĩ tại trường Đại học KHXH&NV, bên cạnh sự nỗ lực cố gắng của bản thân, tác giả cũng đã nhận được rất nhiều sự quan tâm, giúp đỡ tận tình của các thầy, cô giáo, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp trong suốt quá trình học tập và công tác
Nhân đây tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới:
- Thầy giáo hướng dẫn, TS Nguyễn Viết Nghĩa
- Ban chủ nhiệm khoa, các thầy, cô giáo và cán bộ quản lý Khoa Thông tin - Thư viện, Trường Đại học KHXH&NV
- Các thầy, cô giáo và cán bộ quản lý Khoa Sau đại học - Trường Đại học KHXH&NV
- Ban Giám đốc Trung tâm Thông tin –Thư viện trường Đại học Thương mại, các nhà khoa học, gia đình, đồng nghiệp và bạn bè đã cung cấp tài liệu, tạo điều kiện, giúp đỡ tác giả trong suốt quá trình hoàn thiện luận văn này
- Mặc dù đã có nhiều cố gắng hoàn thành nội dung nghiên cứu bằng tất
cả năng lực và sự tận tâm của mình, tuy nhiên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, tác giả rất mong nhận được các ý kiến đóng góp quý báu của các thầy, cô và các đồng nghiệp cho đề tài nghiên cứu của mình để bản luận văn được hoàn thiện hơn nữa
Xin trân trọng cảm ơn!
Trang 4Hà Nội, ngày ……tháng 2 năm 2014
Tác giả
Nguyễn Thị Thu Điệp
MỤC LỤC
Trang Trang bìa
Chương 1 Nguồn lực thông tin với hoạt động của Trung tâm Thông
tin - Thư viện Trường Đại học Thương Mại
17
1.1.1 Khái niệm nguồn lực thông tin 17 1.1.2 Đặc trưng của nguồn lực thông tin 21 1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của nguồn lực thông tin 25 1.1.4 Đánh giá nguồn lực thông tin 31 1.2 Khái quát về Trường Đại học Thương mại và Trung tâm Thông
Trang 5viện trường Đại học Thương mại
1.2.3.1 Đặc điểm người dùng tin 48
1.3 Vai trò của nguồn lực thông tin trong hoạt động củ a Trung tâm
Thông tin - Thư viện trường Đa ̣i ho ̣c Thương ma ̣i
57
1.3.1 Nguồn lực thông tin g óp phần nâng cao chất lươ ̣ng phu ̣c vu ̣ ,
đáp ứng nhu cầu của người dùng tin
57
1.3.2 Nguồn lực thông tin hỗ trợ nâng cao chất lươ ̣ng giảng da ̣y và
hoc tâ ̣p, nghiên cứu khoa ho ̣c
59
Chương 2 Thực trạng công tác phát triển nguồn lực thông tin tại
Trung tâm Thông tin - Thư viện trường Đại học Thương mại
61
2.1 Công tác phát triển nguồn lực thông tin tại Trung tâm Thông tin -
Thư viện trường Đại học Thương mại
61
2.1.5 Công tác thanh lý tài liệu 77 2.1.6 Vấn đề phối hợp bổ sung và chia sẻ nguồn lực thông tin 79 2.2 Thực trạng nguồn lực thông tin tin tại Trung tâm Thông tin - Thư
viện trường Đại học Thương mại
85
2.2.1 Nguồn lực thông tin xét theo loại hình tài liệu 86 2.2.2 Nội dung tài liệu (theo chuyên ngành đào tạo) 96
2.2.4 Thời gian xuất bản của tài liệu 101 2.3 Nhận xét, đánh giá về công tác phát triển nguồn lực thông tin và
thực trạng nguồn lực thông tin tại Trung tâm Thông tin - Thư viện
104
Trang 6trường Đại học Thương mại
2.3.1 Nhận xét về công tác phát triển nguồn lực thông tin 104 2.3.2 Đánh giá về thực trạng nguồn lực thông tin 106
Chương 3 Các giải pháp phát triển nguồn lực thông tin tại Trung
tâm Thông tin - Thư viện trường Đại học Thương mại
120
3.1 Hoàn thiện chính sách phát triển nguồn lực thông tin 120 3.2 Giải pháp tăng cường nguồn lực thông tin 124 3.2.1.Tăng cường kinh phí bổ sung tài liệu 124 3.2.2 Tăng cường bổ sung tài liệu điện tử, tài liệu ngoại văn 126 3.2.3 Chú trọng bổ sung nguồn tin nội sinh 130 3.2.4 Tham gia phối hợp bổ sung và chia sẻ nguồn lực thông tin 133 3.3 Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực thông tin 137 3.3.1 Đầu tư cơ sở vật chất trang thiết bị hiện đại 137 3.3.2.Tổ chứ c kho tài liê ̣u hơ ̣p lý 138
3.3.4 Đào tạo, nâng cao trình đô ̣ cán bô ̣ thư viê ̣n 142
Trang 7DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Trang 82012
109
Bảng 2.8 Bảng thống kê vòng quay của tài liệu mƣợn theo năm học 110 Bảng 2.9 Số lƣợng tài liệu mới bổ sung từ năm 2008 đến năm 2012 112 Bảng 2.10 Tỷ lệ số bản tài liệu mới bổ sung vào kho mỗi năm 112
Trang 9Bảng 2.11 Mức độ đầy đủ tài liệu 115 Bảng 2.12 Tỷ lệ phần trăm tài liệu được tham khảo theo từng lĩnh vực nội
Biểu đồ 2.8.Cơ cấu tài liệu theo ngôn ngữ 101 Biểu đồ 2.9 Số lượng tài liệu theo năm xuất bản 102 Biểu đồ 2.10 Tổng hợp đánh giá vốn tài liệu của Trung tâm TT-TV 107
Biểu đồ 2.11 Vòng quay của tài liệu 110 Biểu đồ 2.12 Loại tài liệu NDT thường sử dụng 117 Biểu đồ 2.13 Số đầu các loại tài liệu hiện có tại Trung tâm TT-TV 118 Biểu đồ 2.14 Loại hình tài liệu NDT thích sử dụng 119
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bước vào thế kỷ 21, cùng với sự phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ (KHCN) và truyền thông, là sự bùng nổ của các nguồn lực thông tin (NLTT) , là kỷ nguyên của thông tin và nền kinh tế tri thức Trong thế kỷ này, hơn bao giờ hết thông tin nói chung, thông tin kinh tế nói riêng có ý nghĩa quan trọng và quyết định tới sự phát triển kinh tế của mỗi Quốc gia Vì vậy, việc đảm bảo nguồn tin đầy đủ, nhanh chóng, chất lượng cho mọi lĩnh vực và đời sống xã hội đang là vấn đề có tính cấp thiết Đối với Việt Nam, trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước việc đảm bảo và phát triển nguồn tin cho mọi lĩnh vực của đời sống xã hội nói chung, đặc biệt lĩnh vực kinh tế nói riêng còn có ý nghĩa lớn lao hơn bao giờ hết Giống như các lĩnh vực hoạt động kinh tế và xã hội khác, ngành thông tin – thư viện (TT-TV) Việt Nam đang đứng trước nhiều cơ hội và thách thức Việc đưa ra những giải pháp nhằm đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động TT-TV đáp ứng nhu cầu xã hội và từng bước hội nhập với các nước trong khu vực và trên thế giới để cùng chia sẻ, sử dụng kho tàng tri thức của nhân loại đang được ngành thư viện quan tâm; trong đó công tác phát triển nguồn lực thông tin (phát triển NLTT) là vấn đề then chốt hiện nay.[27]
Mặt khác, thời đại thông tin bùng nổ vừa là cơ hội, vừa là thách thức cho những người làm công tác TT-TV, đặc biệt là công tác phát triển nguồn tin Đối với các thư viện đại học, việc nắm bắt nhu cầu người dùng tin (NDT), lựa chọn được những tài liệu phù hợp và có giá trị nhất, cân đối nguồn kinh phí để có thể vừa đảm bảo có được nguồn tài liệu phục vụ đội ngũ NDT đông đảo nhất là sinh viên, đồng thời với việc
Trang 11phục vụ các yêu cầu đào tạo mũi nhọn của một số ngành và nhu cầu nghiên cứu khoa học, giảng dạy của giáo viên và cán bộ nghiên cứu là những thách thức lớn của công tác phát triển nguồn tin Thách thức còn nằm ở sự đối lập giữa nguồn kinh phí còn rất hạn hẹp với nhu cầu tin (NCT) ngày càng lớn, sự phát triển đa dạng và cập nhật nhanh chóng của các nguồn tin Đây là yêu cầu, nhiệm vụ đặt ra đối với công tác phát triển NLTT của các thư viện trường đại học nói chung và Thư viện Trường Đại học Thương Mại(ĐHTM) nói riêng
Thực hiện nghị quyết IX của Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam, để góp phần thúc đẩy nhanh chóng quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với chức năng và nhiệm vụ đặc thù của Nhà trường Trường ĐHTM nhiều năm qua đặc biệt chú trọng đến việc đổi mới giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học (NCKH) nhằm cung cấp cho đất nước đội ngũ cán bộ hoạt động trong lĩnh vực thương mại có đầy đủ phẩm chất chính trị vững vàng và trình độ chuyên môn cao, sâu rộng đáp ứng nhiệm vụ mới của đất nước trong giai đoạn đổi mới.[14]
Cùng với hoạt động khác của Nhà trường, hoạt động TT-TV không ngừng được chú trọng và đầu tư nhằm nâng cao hiệu quả phục vụ thông tin cho đội ngũ cán bộ, giáo viên và sinh viên trong và ngoài trường đặc biệt là việc đảm bảo NLTT kinh tế thương mại Bên cạnh những thành tích và kết quả mà Thư viện trường ĐHTM đạt được, việc tổ chức, khai thác và phát triển NLTT vẫn còn nhiều bất cập, Thư viện chưa xây dựng được chính sách bổ sung hoàn chỉnh nên công tác bổ sung vẫn còn nhiều bất cập, dẫn đến sự chênh lệch, không đồng đều giữa các môn ngành tri thức cũng như loại hình tài liệu Hiện nay, NLTT của thư viện chủ yếu là các loại giáo trình
và sách tham khảo bằng tiếng việt, nguồn tài liệu nội sinh đã được thư viện quan tâm thu thập, nhưng thu thập một cách bị động nên vẫn còn hạn chế về số lượng Chưa thu thập được tài liệu bài giảng và sáng kiến kinh nghiệm của cán bộ và giảng viên trong trường Đặc biệt các loại tài liệu điện tử còn quá ít, chưa được quan tâm và chú trọng
Trang 12phát triển Bên cạnh đó công tác tổ chức và khai thác các NLTT tại Thư viện vẫn còn nhiều bất cập, các kho tài liệu chủ yếu vẫn phục vụ theo hình thức kho đóng Các sản phẩm và dịch vụ thông tin chưa đa dạng, phong phú Do đó đây là vấn đề đặt ra đối với Thư viện nhằm hướng tới mục tiêu xây dựng được một NLTT phong phú về nội dung (bám sát và phù hợp với các chuyên ngành đào tạo của Nhà trường), đồng thời đa dạng hoá về các loại hình tài liệu nhằm đáp ứng tốt NCT ngày một lớn của các đối tượng người dùng tin tại Thư viện
Trong thời gian tới, số lượng NDT của Trung tâm TT-TV sẽ tăng nhanh do quy
mô đào tạo của Nhà trường ngày một mở rộng, số lượng cán bộ, giảng viên và sinh viên các hệ đào tạo cũng tăng lên hàng năm Hơn nữa, Trường ĐHTM đã chuyển sang hình thức đào tạo mới theo học chế tín chỉ do đó đòi hỏi cán bộ giảng dạy và sinh viên phải nghiên cứu tài liệu nhiều hơn để đáp ứng yêu cầu nghiên cứu, giảng dạy và học tập Trước tình hình đó, đòi hỏi Trung tâm phải có biện pháp hữu hiệu để phát triển NLTT nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao (cả về số lượng và chất lượng) của NDT
Mặt khác, nguồn tài liệu tại thư viện còn chịu sự tác động của các quy luật đặc trưng của tài liệu đến công tác phát triển NLTT Hơn nữa kinh phí được cấp cho thư viện (được phân bổ từ nguồn ngân sách của Nhà nước) có hạn mức và đã không tăng trong nhiều năm nay [32].Trong khi giá cả của tài liệu liên tục tăng, thư viện không thể mua đủ tài liệu theo danh mục của các bộ môn, khoa yêu cầu (chưa kể việc kinh phí mua tài liệu điện tử và cơ sở dữ liệu đòi hỏi kinh phí khá lớn) Vậy làm thế nào để phát triển nguồn tin nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của NDT trong khi nguồn kinh phí có hạn? Đây là bài toán khó cần được nghiên cứu để tìm ra lời giải hợp lý nhất cho công tác phát triển NLTT tại Trung tâm TT-TV Trường ĐHTM trong giai đoạn hiện nay
Từ những phân tích trên cho thấy, công tác phát triển NLTT tại Trung tâm
TT-TV Trường ĐHTM là một vấn đề bức thiết cần phải được nghiên cứu, phân tích hiện trạng để có những nhận xét, đánh giá khách quan, nghiêm túc; trên cơ sở đó đưa ra các
Trang 13giải pháp phù hợp, khả thi để nâng cao chất lượng nguồn lực thông tin và hiệu quả hoạt
động của Thư viện Vì vậy, tôi chọn đề tài “Phát triển nguồn lực thông tin tại Trung
tâm Thông tin Thư viện Trường Đại học Thương mại” làm đề tài luận văn thạc sỹ
Khoa học Thư viện, với mong muốn vận dụng những kiến thức lý luận đã được học, kiến thức kinh nghiệm và kỹ năng nghiệp vụ thực tế, đồng thời kế thừa và phát triển các kết quả nghiên cứu của các tác giả trước để nghiên cứu và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu NDT trong giai đoạn mới, từ đó nâng cao chất lượng đào tạo và NCKH, đồng thời đáp ứng sự đổi mới phương thức đào tạo của Nhà trường
2 Tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu về nguồn lực thông tin là một trong những đề tài quen thuộc và đã được đề cập đến trong các cuốn sách tham khảo, các đề tài khoá luận tốt nghiệp đại học, luận văn thạc sỹ và nhiều bài báo của các tác giả trong những năm gần đây
Về tài liệu tham khảo được xuất bản:
Trước hết phải kể đến cuốn sách của PGS TS Nguyễn Hữu Hùng “Thông tin -
từ lý luận đến thực tiễn” (2005) trong đó tại phần 2- Tổ chức và quản lý thông tin có các bài viết như “Phát triển thông tin khoa học và công nghệ để trở thành nguồn lực”,
“Tổ chức và quản lý hoạt động thông tin khoa học và công nghệ trước thềm thế kỷ XXI”, “Vấn đề phát triển và chia sẻ nguồn lực thông tin số hoá tại Việt Nam”…[9]
Tác giả Lê Văn Viết, với cuốn “Cẩm nang nghề thư viện” do Nhà xuất bản Văn
hóa -Thông tin ấn hành năm 2001 tại chương 2 mục I có nêu về công tác bổ sung vốn
tài liệu trong thư viện [35] , cuốn sách “Thư viện học - những bài viết chọn lọc” do Nhà
xuất bản Văn hóa -Thông tin ấn hành năm 2006, gồm tập hợp các bài nghiên cứu chọn lọc về lĩnh vực TT-TV đã được tác giả công bố, trong đó có một số bài viết về nguồn
lực thông tin như: “Thử bàn về chính sách quốc gia trong công tác thư viện Việt Nam thập niên đầu thế kỷ XXI”[37,tr172-182] , “Phác thảo sơ bộ chính sách quốc gia về nguồn lực thông tin”[37, tr.083-190]
Trang 14Tác giả Phạm Văn Rính, Nguyễn Viết Nghĩa, với cuốn “Phát triển vốn tài liệu trong thư viện và cơ quan thông tin”, do Nxb Đại học Quốc gia ấn hành năm 2007.[28]
Các bài viết nghiên cứu về phát triển NLTT có:
Bài viết “Phương pháp luận xây dựng chính sách phát triển nguồn tin” (Tạp chí
Thông tin tư liệu, số 1, 2001)[21], bài viết “Tài liệu điện tử và giá cả tài liệu điện tử” (Tạp chí Thông tin & tư liệu, số 1, 2003), bài viết “Một số vấn đề xung quanh việc thu thập tài liệu xám” (Tạp chí Thông tin tư liệu, số 4, 1999) của TS.Nguyễn Viết Nghĩa[20], Bài viết “Phác thảo sơ bộ chính sách về nguồn lực thông tin ” (Tập san Thư viện số 3, 2000) của TS Lê Văn Viết[36], các tác giả khẳng định vị trí quan trọng trong chính sách PT NLTT đối với việc tạo nguồn, xây dựng hệ thống các kho tài liệu của các thư viện và cơ quan thông tin Những nội dung chủ yếu cần được đề cập trong chính sách và cách thức trình bày kết cấu của chính sách và một số giải pháp xây dựng chính sách tạo nguồn thông tin,…
Một số bài báo khác như: Bài viết “Nguồn tin nội sinh của trường đại học- Thực trạng và giải pháp phát triển” của Ths.Trần Mạnh Tuấn (Tạp chí Thông tin tư liệu, số
3, năm 2005)[31], Bài viết “Vai trò của nguồn học liệu tại các trường đại học, học viện” của tác giả Thu Minh (Tạp chí Thông tin tư liệu, số 3, năm 2007)[16], bài viết
“Thư viện trường đại học với công tác phát triển nguồn học liệu phục vụ đào tạo theo học chế tín chỉ” của Ths Nguyễn Văn Hành[5], bài viết “Phát triển nguồn học liệu tại các tổ chức nghiên cứu, đào tạo hiện nay” của TS Nguyễn Huy Chương và Ths Trần Mạnh Tuấn (Tạp chí Thông tin tư liệu, số 4, năm 2008)[2],…
Về chủ đề chia sẻ nguồn lực thông tin:
TS Lê văn Viết trong bài: “Một số vấn đề thiết lập hình thức mượn, chia sẻ tài liệu, thông tin giữa các thư viện Việt Nam” (Kỷ yếu hội thảo thư viện Việt Nam: Hội nhập
và phát triển - 2006) đề cập tới việc thiết lập các hình thức mượn, chia sẻ tài liệu, thông tin giữa các thư viện Việt Nam trong hội nhập và phát triển Bài viết “Vấn đề chia sẻ và
Trang 15phát triển nguồn lực thông tin số hóa tại Việt Nam” (Tạp chí Thông tin tư liệu, số 1, năm 2006) của PGS TS Nguyễn Hữu Hùng[10]
Ở cấp độ tổ chức nguồn lực thông tin trong các thư viện:
Có một số luận văn thạc sỹ đề cập tới cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác phát triển NLTT; hiện trạng công tác tổ chức, khai thác và một số giải pháp phát triển NLTT như: “Phát triển nguồn lực thông tin phục vụ công tác đào tạo tín chỉ tại Trung tâm Thông tin Thư viện trường Đại học Lao động Xã hội” (2010) của tác giả Nguyễn Tiến Đức[3]; “Tăng cường nguồn lực thông tin tại Thư viện trường Đại học Bách khoa
Hà Nội” của tác giả Hà Thị Huệ[7]; “ Phát triển nguồn lực thông tin tại Thư viện Đại học Hoa Lư Ninh Bình”(2011), của tác giả Lê Thị Tuyết Nhung[26]; “Nghiên cứu phát triển và khai thác nguồn lực thông tin của Trung tâm Thông tin Thư viện trường Đại học Kiến trúc Hà Nội”(2011), của tác giả Phạm Thanh Bình[1],…
Nghiên cứu về Trung tâm TT-TV Trường ĐHTM cũng đã có một số khóa luận tốt nghiệp đại học của sinh viên chuyên ngành Thông tin Thư viện như: “Tăng cường nguồn lực thông tin tại Trung tâm Thông tin Thư viện Trường Đại học Thương mại Hà Nội” (2003) của tác giả Nguyễn Tiến Đức[4]; “Tìm hiểu dự án hiện đại hoá Trung tâm Thông tin -Thư viện Trường Đại học Thương Mại Hà Nội” của tác giả Nguyễn Hồng Nhung,…
Cũng có một luận văn thạc sỹ nghiên cứu về Trung tâm TT-TV Trường như
“Hiện đại hoá Trung tâm Thông tin –Thư viện Trường Đại học Thương Mại” (2000) của tác giả Phạm Thị Tâm
Tuy nhiên trên thực tế, cho đến nay chưa có luận văn thạc sỹ nào nghiên cứu về nguồn lực thông tin tại Trung tâm TT-TV Trường ĐHTM
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu:
Trang 16Trên cơ sở khảo sát, phân tích thực trạng NLTT và công tác phát triển NLTT tại Trung tâm TT-TV Trường ĐHTM; nhận định những ưu điểm, hạn chế; luận văn đưa ra những giải pháp mang tính khả thi để nâng cao số lượng và chất lượng nguồn tin, nhằm đáp ứng tối đa NCT của người dùng tin, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của Nhà trường
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện được mục đích nghiên cứu trên, luận văn sẽ giải quyết các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu hệ thống lý luận về nguồn lực thông tin
- Nghiên cứu đặc điểm NDT và nhu cầu tin tại Trung tâm TT-TV Trường ĐHTM
- Khảo sát phân tích thực trạng công tác phát triển nguồn lực thông tin và thực tra ̣ng nguồn lực thông tin tại Trung tâm TT-TV Trường ĐHTM
- Đưa ra những nhận xét đánh giá về công tác phát triển NLTT và thực trạng nguồn lực thông tin tại Trung tâm TT-TV Trường ĐHTM từ năm 2003 đến nay
- Đề xuất các giải pháp có tính khả thi nhằm phát triển NLTT tại Trung tâm TT-TV Trường ĐHTM trong thời gian tới
4 Giả thuyết nghiên cứu
Hiện nay, công tác phát triển NLTT tại Trung tâm TT-TV Trường ĐHTM vẫn còn nhiều bất cập, có sự mất cân đối giữa các nhóm ngành tri thức, mất cân đối về ngôn ngữ và loại hình tài liệu, giáo trình và sách tham khảo phục vụ một số chuyên ngành đào tạo của trường vẫn còn thiếu, Nếu công tác phát triển NLTT được chú trọng hơn, Trung tâm xây dựng được chính sách bổ sung hoàn chỉnh và được đầu tư thêm nguồn kinh phí để bổ sung nguồn tài liệu điện tử, tài liệu ngoại văn, công tác thu thập nguồn tài liệu xám được chú trọng, thì nguồn lực thông tin sẽ nâng cao cả về số lượng và chất lượng từ đó thoả mãn tối đa NCT của các đối tượng NDT, như vậy chắc
Trang 17chắn chất lượng hiệu quả công tác đào tạo và NCKH của Nhà trường sẽ được nâng lên một cách rõ rệt
5 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn lấy công tác phát triển nguồn lực thông tin tại Trung tâm TT-TV Trường ĐHTM làm đối tượng nghiên cứu
6 Phạm vi nghiên cứu
- Không gian: Trung tâm Thông tin - Thư viện Trường Đại học Thương mại
- Phạm vi thời gian: Từ năm 2003 (khi Trung tâm Thông tin - Thư viện được đầu tư từ
dự án Giáo dục đại học) đến nay
7 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp luận: Luận văn dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử kết hợp với các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về về vấn đề giáo dục- văn hoá - xã hội
- Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Trong quá trình thưc hiện luận văn tác giả đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:
+ Thu thập, nghiên cứu và phân tích, tổng hợp tài liệu
+ Điều tra bằng phiếu hỏi
Trang 18- Ý nghĩa khoa học của đề tài là làm rõ khái niệm nguồn lực thông tin, vai trò của
nguồn lực thông tin đối với công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học ở trường đại học; khảo sát, đánh giá về hiện trạng công tác phát triển NLTT và nguồn lực thông tin tại thư viện của một cơ sở giáo dục - đào tạo; đánh giá được mức độ thoả mãn NCT của NDT tại Trung tâm Thông tin - Thư viện Trường Đại học Thương mại
- Ý nghĩa ứng dụng của đề tài: các giải pháp phát triển NLTT Trường ĐHTM mà luận
văn đưa ra có thể áp dụng vào thực tiễn tại Trung tâm TT-TV nhằm xây dựng nguồn lực thông tin có chất lượng, đa dạng và phong phú về loại hình, giúp thoả mãn NCT của NDT, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và NCKH đáp ứng yêu cầu đổi mới của Nhà trường
9 Dự kiến kết quả nghiên cứu
- Khảo sát và đánh giá một cách khách quan thực trạng công tác phát triển NLTT; khả năng đáp ứng NCT của NDT với nguồn lực hiện có tại Trung tâm TT-TV Trường ĐHTM giai đoạn từ năm 2003 đến nay
- Đưa ra các giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả công tác phát triển NLTT, giúp thoả mãn NCT của NDT tại Trung tâm TT-TV Trường ĐHTM, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và NCKH của Nhà trường trong những năm tới
Trang 19
Chương 1- NGUỒN LỰC THÔNG TIN VỚI HOẠT ĐỘNG CỦA TRUNG TÂM THÔNG TIN THƯ VIỆN TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
1.1 Nguồn lực thông tin
1.1.1 Khái niệm nguồn lực thông tin
Trong các cơ quan TT-TV, nguồn lực thông tin (NLTT) là yếu tố vô cùng quan
trọng, là cơ sở hình thành mọi hoạt động của thư viện và là căn cứ để thư viện xây dựng và phát triển các sản phẩm và dịch vụ thông tin nhằm thỏa mãn nhu cầu thông tin của NDT Hiện nay, khái niệm NLTT không chỉ giới hạn ở nguồn thông tin được sở hữu bởi cơ quan thông tin, thư viện vì ngoài nguồn thông tin hiện có trong thư viện, còn có các nguồn thông tin cần thiết ở các nơi khác nhau không tùy thuộc vào nơi bảo quản, lưu trữ Khái niệm “nguồn lực thông tin” có thuật ngữ tương đương trong tiếng Anh là “Information Resources” Trong tiếng Anh, thuật ngữ này cũng được hiểu theo nhiều cách khác nhau Trong Bách khoa toàn thư trên trang PC magazine (http://www.pcmag.com/encyclopedia/term/44956/information-resources),
“Information Resources” được hiểu là tài nguyên thông tin, dữ liệu của tổ chức, đơn vị (The data and information assets of an organization, department or unit) Còn trên trang http://www.yourdictionary.com, “information resources” được định nghĩa là dữ liệu và thông tin được sử dụng bởi tổ chức (Information resources are defined as the data and information used by an organization) Bên cạnh quan điểm coi NLTT là thông tin, dữ liệu, cũng có một quan điểm khác coi tài nguyên thông tin không chỉ là thông tin, dữ liệu mà còn bao gồm cả nguồn nhân lực, thiết bị,… (information and related resources, such as personnel, equipment, and information technology), http://www.thefreedictionary.com/information+resources
Trang 20Trong tiếng Việt, nội hàm của thuật ngữ “nguồn lực thông tin” cũng chưa được xác định một cách rõ ràng Do đó có nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này và hiện nay Theo tiến sĩ Lê Văn Viết, nội hàm của thuật ngữ này vẫn chưa được thống nhất,
“có người cho rằng nó tương đương như vốn tài liệu trong cơ quan thông tin, thư viện Người khác lại đưa ra quan điểm NLTT không chỉ bao hàm các nguồn lực về tài liệu
mà còn gồm các thành phần khác như tài liệu, thông tin, nhân lực thông tin,…[37,tr.163]
Một quan điểm khác lại cho rằng NLTT là tổ hợp các thông tin và tài liệu phản ánh những kết quả lao động sáng tạo trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người, được quản lý và chia sẻ trong các tổ chức xã hội Như vậy, NLTT sẽ không chứa các yếu tố như nhân lực thông tin, trang thiết bị, kinh phí,… mà các yếu tố này đóng vai trò là “những bộ phận ngang nhau độc lập với nhau nhưng liên hệ hữu cơ với nhau, ràng buộc lẫn nhau” Khi xem xét việc phát triển và quản lý NLTT trong các
tổ chức, các yếu tố được đề cập đến như nhân sự, trang thiết bị,…sẽ là các yếu tố hỗ trợ [38]
Tuy nhiên, trong thực tiễn hiện nay thì nhiều nhà quản lý, cán bộ TT-TV thường quen sử dụng thuật ngữ “nguồn lực thông tin” để chỉ các dạng tài liệu khác nhau và đó cũng chính là “nguồn tin” Ở đây NLTT là loại tài sản đặc biệt, càng được khai thác sử dụng thì càng giàu thêm Trong đó việc đầu tư, bảo quản và tạo điều kiện thuận lợi cho việc khai thác sử dụng các NLTT như tổ chức kho, lưu trữ, bảo quản, xây dựng các mục lục, các CSDL chính là làm tăng thêm giá trị sử dụng của vốn tài liệu đó [39] Theo từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, xuất bản năm 2005, “nguồn” được hiểu là nơi bắt đầu, nơi phát sinh ra hay nơi có thể cung cấp cái gì đó Từ đó, nhiều quan điểm cho rằng “nguồn lực thông tin” bao hàm cả tiềm lực thông tin và khả năng với tới các nguồn thông tin khác Hiểu theo nghĩa này thì tất cả các nguồn thông tin có trong tay hoặc có thể với tới đều được gọi là NLTT
Trang 21Trong Nghị định 159/2004/NĐ/CP của Chính phủ về hoạt động thông tin KH&CN, chương 1, điều 2 có giải thích thuật ngữ “nguồn tin khoa học và công nghệ” bao gồm sách, báo, tạp chí, CSDL; tài liệu hội nghị, hội thảo khoa học, báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ NCKH và công nghệ; tài liệu về sở hữu trí tuệ, tài liệu về tiêu chuẩn đo lường chất lượng, luận văn, luận án sau đại học và các nguồn tin khác được
tổ chức, cá nhân thu thập” [17]
Như vậy, hiểu theo nghĩa chung nhất, NLTT như là tổ hợp các tin tức nhận được
và tích lũy trong quá trình phát triển khoa học và hoạt động thực tiễn của con người, để
sử dụng nhiều lần trong sản xuất và trong quản lý xã hội Nguồn lực thông tin phản ánh các quá trình và hiện tượng tự nhiên được ghi nhận trong kết quả của các công trình NCKH và trong các dạng tài liệu khác của hoạt động nhận thức và thực tiễn Nguồn lực thông tin bao gồm các dữ liệu thể hiện dưới dạng văn bản, số, hình ảnh hoặc âm thanh được ghi lại trên các phương tiện theo quy ước và không theo quy ước [7]
Trong cuốn sách “Thông tin - từ lý luận đến thực tiễn”, PGS TS Nguyễn Hữu Hùng cũng đã nêu một quan điểm khá tương đồng với cách hiểu trên khi cho rằng
“nguồn lực thông tin bao gồm các dữ liệu thể hiện dưới dạng văn bản, số, hình ảnh, âm thanh được ghi lại trên phương tiện theo quy ước, các sưu tập, những kiến thức của con người, những kiến thức của tổ chức có thể truy cập và có giá trị cho người sử dụng[9, tr.240-241]
Tiến Sĩ Nguyễn Viết Nghĩa trong tập bài giảng “Phát triển và quản trị vốn tài liệu” dành cho học viên cao học ngành Khoa học thư viện, tại Khoa thông tin- Thư viện trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn cho rằng “Nguồn lực thông tin là tập hợp có tổ chức các loại hình tài liệu dưới mọi dạng khác nhau của một cơ quan thông tin, thư viện nhằm thỏa mãn nhu cầu của người dùng tin”[22]
Như vậy, về cơ bản các khái niệm “nguồn lực thông tin” được trình bày ở các mục trên là đồng nghĩa với nhau và đều chỉ tới các nguồn tài liệu, sách, báo, tạp chí,
Trang 22dưới mọi định dạng khác nhau và tương tự như khái niệm “nguồn tin” Từ các các phân tích trên đây, trong khuân khổ luận văn, tác giả chỉ xem xét và giải quyết nội hàm thuật ngữ này theo nghĩa NLTT bao gồm các nguồn tài liệu: sách, báo, tạp chí, luận văn, cơ
sở dữ liệu ,…dưới mọi dạng khác nhau
Khái niệm phát triển nguồn lực thông tin
Cũng theo Từ điển Tiếng Việt đã dẫn ở trên, “phát triển” có nghĩa là mở mang, từ nhỏ thành to, từ yếu thành mạnh Trong phạm trù triết học, “phát triển” là một thuộc tính phổ biến của vật chất Mọi sự vật và hiện tượng của hiện thực không tồn tại trong trạng thái bất biến mà trải qua hàng loạt các trạng thái từ khi xuất hiện đến khi tiêu vong Phạm trù phát triển thể hiện tính chất chung của tất cả những biến đổi ấy Điều ấy có nghĩa là bất kì một sự vật, một hiện tượng, một hệ thống nào, cũng như cả thế giới nói chung không chỉ có biến đổi, mà luôn luôn chuyển sang những trạng thái mới, tức là những trạng thái trước đây chưa từng có và không bao giờ lập lại hoàn toàn chính xác những trạng thái đã có, bởi vì trạng thái của bất kì sự vật hay hệ thống nào cũng đều được quyết định không chỉ bởi các mối liên hệ bên trong, mà còn bởi các mối liên hệ bên ngoài Nguồn gốc của phát triển là sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập, phương thức phát triển là chuyển hóa những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất Như vây, có thể hiểu “phát triển” là sự biến đổi của sự vật, hiện tượng từ trạng thái cũ sang trạng thái mới, đó là sự biến đổi cả về chất và lượng của sự vật, hiện tượng
Khái niệm phát triển NLTT được nhắc nhiều trong những năm gần đây TS Nguyễn Viết Nghĩa, trong bài giảng về phát triển và quản trị nguồn tin, xem phát triển gắn liền với quản trị nguồn tin, vì phát triển là tiền đề của quản trị và quản trị là một khâu quan trọng trong phát triển nguồn tin
Trang 23Từ tất cả các phân tích trên, trong luận văn này, thuật ngữ “phát triển nguồn lực thông tin” được hiểu là hoạt động làm cho nguồn tài liệu, thông tin của thư viện trở nên lớn mạnh và phong phú (cả về lượng và chất)
1.1.2 Đặc trưng của nguồn lực thông tin
Nguồn lực thông tin phản ánh những thành tựu trí tuệ của nhân loại
Tài liệu trong thư viện ghi lại tri thức, kinh nghiệm, hiểu biết mà con người đã tích lũy được trong tiến trình lịch sử Những tri thức, kinh nghiệm, hiểu biết ấy chính là thông tin được chắt lọc, những thành quả lao động trí tuệ của cả loài người trên các lĩnh vực khác nhau Việc khai thác thông tin có giá trị trong NLTT của thư viện giúp người đọc có khả năng nâng cao trình độ văn hóa, chuyên môn, phục vụ nghiên cứu khoa học, hoàn thiện quy trình sản xuất, cũng như hình thành nhân cách cho các thành viên trong xã hội Trong thư viện các trường đại học, NLTT phản ánh các thành tựu về các lĩnh vực khoa học tự nhiên và công nghệ, khoa học xã hội nhân văn, giáo dục đào tạo mà các thế hệ các nhà khoa học đi trước đã đúc kết, sáng tạo nên
Nguồn lực thông tin là bộ sưu tập tài liệu với khối lượng đủ lớn
Trong các thư viện, NLTT của thư viện có thể lên đến hàng trăm nghìn, thậm chí là hàng triệu đơn vị tài liệu Với đặc tính này, NLTT chứa đựng một dung lượng thông tin đủ lớn, tạo điều kiện thuận lợi cho người sử dụng trong việc khai thác thông tin, đồng thời cũng đặt ra cho các thư viện nhiệm vụ tổ chức cũng như bảo quản sao cho có thể sử dụng nguồn tin đó một cách thuận lợi và lâu dài Không ai gọi một giá sách, thậm chí một vài giá sách của một đơn vị nào đó là NLTT của đơn vị ấy Nói như vậy có nghĩa là ta chỉ coi một thư viện có NLTT khi mà vốn tài liệu hay khả năng mà
Trang 24thư viện ấy có thể với tới các nguồn tài liệu đạt được một ngưỡng nào đó đủ lớn, khả dĩ đáp ứng được nhu cầu thông tin tối thiểu của đơn vị
Nguồn lực thông tin là bộ sưu tập tài liệu có cơ cấu hợp lý
Mặc dù được nhập vào thư viện trong những thời điểm khác nhau, nhưng mọi tài liệu trong thư viện đều phản ánh mối liên hệ cũng như sự phát triển của các lĩnh vực tri thức như khoa học tự nhiên và công nghệ, khoa học xã hội nhân văn Tùy thuộc vào từng loại hình thư viện và NCT của người đọc, mà trong thành phần của NLTT sẽ hình thành mối tương quan hợp lý về nội dung, ngôn ngữ, loại hình của tài liệu Do đó NLTT không chỉ là sự tập trung tài liệu một cách ngẫu nhiên, mà là quá trình thu thập tài liệu có suy nghĩ, tính toán của cán bộ thư viện Cơ cấu của nguồn lực thông tin phản ánh nhu cầu thông tin của NDT trong đơn vị
Nguồn lực thông tin tập trung những thông tin được tinh lọc qua thời gian
Thực tiễn phát triển NLTT cho thấy những thông tin được tập trung từ hai hướng:
- Thứ nhất: đó là sự lựa chọn, thu thập những tài liệu có giá trị phù hợp với chức
năng, nhiệm vụ của thư viện, cũng như hướng phát triển của khoa học, văn hóa Việc lựa chọn giúp cho NLTT có khối lượng tối thiểu về phương diện vật lý, nhưng lại lưu giữ được đầy đủ những thông tin cần thiết
- Thứ hai: Theo thời gian, kết cấu của NLTT sẽ hình thành hai bộ phận:
+ Bộ phận hạt nhân: gồm khối lượng tối thiểu những tài liệu cần thiết phù hợp với chức năng, tính chất của thư viện Ở đây tập trung những tài lệu quan trọng, thường xuyên có nhu cầu sử dụng và tương đối ổn định trong thành phần NLTT
+ Bộ phận vùng môi trường: gồm những tài liệu có ý nghĩa, nhưng chỉ sử dụng trong một khoảng thời gian Đây chính là tiêu chuẩn xác định tài liệu vùng môi trường
Trang 25Những tài liệu mà qua thời gian vẫn giữ được nhu cầu sẽ được tăng cường cho bộ phận hạt nhân Còn những tài liệu bị lỗi thời, không đúng diện sẽ định kỳ giải phóng khỏi thư viện Vùng môi trường luôn ở trạng thái động, không ổn định như bộ phận hạt nhân
Nguồn lực thông tin phán ánh chức năng xã hội và diện bổ sung của thư viện
Đây là hai yếu tố xác định việc lựa chọn tài liệu, các đề tài, loại hình tài liệu cũng như mức độ tăng cường tài liệu; là cơ sở cho sự hình thành NLTT của thư viện
Chức năng xã hội của thư viện là góp phần nâng cao nhận thức, trình độ cho các thành viên trong xã hội, tạo điều kiện cho việc nghiên cứu, phát triển các lĩnh vực khoa học, sản xuất, văn hóa, nghệ thuật,…Đây là chức năng chung đối với tất cả các thư viện, tuy nhiên đối với từng loại hình thư viện, sự thể hiện có khác nhau
Diện bổ sung của thư viện được xác định bởi chức năng xã hội, trong đó phản ánh đề tài, cơ cấu của nhu cầu cũng như đặc điểm kinh tế- xã hội của khu vực mà thư viện phải đảm nhiệm Để phù hợp với chức năng, diện bổ sung của thư viện, NLTT của từng thư viện cụ thể được hình thành gồm hai bộ phận: Phần chung bao gồm tài liệu có trong tất cả các thư viện cùng một loại hình; phần riêng bao gồm tài liệu gắn với từng địa phương, từng lĩnh vực Với cơ cấu như vậy NLTT giúp thư viện hoàn thành chức năng cũng như diện phục vụ của mình Tuy nhiên, chức năng, diện bổ sung của thư viện cũng có thể thay đổi theo thời gian và khi đó NLTT cũng có những đổi mới về cơ cấu để đáp ứng nhu cầu
Nguồn lực thông tin luôn ở trạng thái động
Nguồn lực thông tin không ở trạng thái tĩnh mà luôn chuyển động do các nguyên nhân sau:
Trang 26- Thư viện thường xuyên phải bổ sung những tài liệu có giá trị thông tin, đáp ứng nhu cầu sử dụng của độc giả, đồng thời thanh lý những tài liệu không có nhu cầu (lỗi thời, hư hỏng, không đúng diện,…)
- Do hoạt động phục vụ bạn đọc, nên thư viện thường xuyên đưa tài liệu phục
vụ độc giả và thu nhận trở lại sau thời gian sử dụng, sự luân chuyển là tiêu chí chủ yếu đánh giá hoạt động của thư viện
Kết quả của những chuyển động đem lại sự đổi mới cho vốn tài liệu, tăng cường chất lượng, nhưng không ảnh hưởng tới cơ cấu bên trong của NLTT Điều quan trọng
là phải điều tiết được sự chuyển động đó
Tính lỗi thời của nguồn lực thông tin
“Lỗi thời thông tin” là quy luật phát triển của tài liệu trong xã hội Vì vậy, sau một thời gian nhất định, vốn tài liệu sẽ bị lỗi thời và nhu cầu sử dụng giảm dần nếu không được đổi mới Điều kiện quan trọng đảm bảo cho NLTT luôn trong trạng thái hoạt động, không bi lạc hậu với thời gian là phải thường xuyên tăng cường những tài liệu mới, phản ánh những thành tựu mới trên các lĩnh vực mà con người vươn tới Mặt khác phải thường xuyên giải phóng những tài liệu đã bị lạc hậu, lỗi thời Công việc này cần được tiến hành thường xuyên để tăng cường chất lượng cho NLTT [28, tr.73-81]
Nguồn lực thông tin phải có khả năng truy cập, với tới được
NLTT phải được tổ chức và kiểm soát để NDT có thể tìm ra những thông tin cần thiết thông qua các điểm truy cập (từ khóa, chủ đề, tên tác giả, loại hình tài liệu,…) Các điểm truy cập này được tạo ra trong quá trình xử lý tài liệu, có thể truy cập trực tuyến thông qua phương tiện máy tính và mạng hoặc truy cập trực tiếp thông qua hệ thống mục lục (gọi chung là bộ máy tra cứu) Nhờ có bộ máy tra cứu, NDT có thể tìm được tài liệu thông qua các dấu hiệu nội dung hay hình thức của tài liệu Đối với tài liệu truyền thống, việc truy cập chủ yếu được thực hiện thông qua hệ thống mục
Trang 27lục, các bản chỉ mục, mục lục truy cập trực tuyến OPAC, thư mục,…Còn với môi trường điện tử, tài liệu, ngoài cách truy cập như trên thì còn được truy cập bằng các siêu liên kết (Hyperlink) trong các ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản HTML,…, NDT dễ dàng tìm được tài liệu mình cần
Nguồn lực thông tin có thể chia sẻ được
Để thỏa mãn NCT ngày một lớn và đa dạng của bạn đọc, trong khi nguồn kinh phí được cấp cho công tác bổ sung còn hạn hẹp Các thư viện và trung tâm thông tin cần có khả năng trao đổi và sử dụng được nhiều loại thông tin theo nhiều chiều giữa các hệ thống thông tin với nhau Thực chất đây chính là sự chia sẻ NLTT
Tính có thể chia sẻ của NLTT hiện nay đang được các thư viện và trung tâm thông tin rất quan tâm, bởi vì nó là cơ sở để các thư viện và trung tâm thông tin đáp ứng nhu cầu và đòi hỏi của NDT khi NLTT của mỗi thư viện riêng lẻ không đáp ứng được, đặc biệt là khi nhu cầu ngày càng đa dạng về thông tin tài liệu trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay
Việc chia sẻ NLTT truyền thống chủ yếu dựa vào các bản ghi thư mục, hoặc thông qua trao đổi, cho mượn giữa các thư viện Việc chia sẻ NLTT điện tử thì thuận lợi và đơn giản hơn rất nhiều, NDT có thể thông qua các CSDL trực tuyến để đọc trực tiếp qua mạng mà không cần đến tận nơi lưu trữ tài liệu đó [1,tr.12-17]
1.1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của nguồn lực thông tin
Nguồn lực thông tin có vị trí và vai trò rất quan trọng, quyết định mọi hoạt động của các cơ quan thông tin, thư viện Do đó công tác phát triển NLTT luôn được chú trọng và tiến hành sao cho có hiệu quả Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, để xây dựng được NLTT đầy đủ, phù hợp với nguồn kinh phí và đáp ứng tốt NCT của các nhóm NDT vừa là thách thức, vừa là mục tiêu của mỗi thư viện và cơ quan thông tin Bởi sự phát triển của NLTT chịu sự tác động của rất nhiều yếu tố như: Các quy luật đặc trưng
Trang 28của tài liệu, các xuất bản điện tử, chính sách phát triển nguồn tin, kinh phí,…Các yếu
tố này có ảnh hưởng không nhỏ tới công tác phát triển NLTT tại các thư viện nói chung
Sự tác động của các quy luật khách quan đối với công tác phát triển nguồn lực thông tin
- Quy luật gia tăng số lượng tài liệu
Cùng với sự phát triển mạnh mẽ của KHCN, các NLTT cũng gia tăng một cách mạnh mẽ do đội ngũ những người làm công tác khoa học- những chủ thể sản sinh ra tri thức đang tăng lên và sản phẩm của họ là các tài liệu KHKT cũng tăng lên nhanh chóng, nó ảnh hưởng không nhỏ tới thành phần vốn tài liệu của mỗi thư viện Điều này dẫn tới một hiện tượng mà các nhà khoa học gọi là hiện tượng “bùng nổ thông tin”, thể hiện sự gia tăng mạnh mẽ của các sản phẩm thông tin tư liệu trên thế giới mấy chục năm gần đây Khoa học kỹ thuật phát triển đã làm khối lượng tri thức khoa học trong
xã hội tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng Bên cạnh những tài liệu đã xuất bản theo phương thức truyền thống như sách, báo, tạp chí, là những tài liệu điện tử như đĩa
từ, đĩa quang, băng từ, CSDL trực tuyến,…Và điều này có ảnh hưởng lớn tới thành phần, cơ cấu kho tài liệu Từ những năm 60 nhà khoa học Price D.J đã nghiên cứu ảnh hưởng của quy luật gia tăng tài liệu đối với sự phát triển của vốn tài liệu như sau: Cứ 10-12 năm vốn tài liệu của xã hội lại tăng gấp đôi Bằng thống kê thực nghiệm các nhà thư viện học đã thấy rằng sự gia tăng số lượng tài liệu mang tính quy luật và có thể được mô hình hoá thành mô hình toán học
Y=Ae
kt
Trong đó
A: Số lượng tài liệu có ở thời điểm t
0 nào đó
Trang 29e: cơ số logarit tự nhiên (e=2,718)
k : hằng số đặc trưng cho tốc độ tăng khối lượng tri thức
Sự gia tăng số lượng tài liệu đã có tác động tích cực tới công tác phát triển NLTT, khi
số lượng tài liệu được xuất bản tăng lên với tốc độ nhanh các thư viện có nhiều sự lựa chọn khi bổ sung tài liệu.Tuy nhiên bên cạnh đó số lượng tài liệu tăng lên nhanh chóng cũng gây những tác động tiêu cực tới công tác phát triển NLTT, khó khăn trong việc lựa chọn tài liệu để tránh bị trùng và nhiễu tin và không có một thư viện hay cơ quan thông tin nào có đủ kinh phí để bổ sung đầy đủ tài liệu mới xuất bản để phục vụ cho NCT tại thư viện mình, do đó lượng tài liệu được mua sẽ bị giảm
- Quy luật tập trung và phân tán thông tin
Khi tiến hành thống kê số lượng các bài viết được đăng trên các tạp chí, người
ta đã phát hiện ra rằng có một số lượng không lớn tên tạp chí nhưng lại đăng một số lượng đáng kể các bài viết về một chuyên ngành nào đó; số bài viết thuộc chuyên ngành ấy được đăng rải rác trên nhiều tạp chí khác nhau, thậm chí có tạp chí không liên quan đến chuyên ngành ấy Hiện tượng này được gọi là hiện tượng tập trung và phân tán thông tin
Năm 1934, qua thống kê của nhà khoa học người Anh S Bradford cho thấy rằng: Nếu sắp xếp số tạp chí khoa học theo thứ tự giảm dần số bài báo về một chuyên ngành nào đó thì trong danh sách nhận được ta có thể tìm thấy các “tạp chí hạt nhân”
Số tạp chí này không lớn chỉ chiếm 10% đến 15% số tạp chí nhưng chứa đựng tới 90%
số bài báo liên quan đến ngành đó
Quy luật này cũng cho thấy trong mỗi lĩnh vực khoa học, hay trong mỗi chủ đề luôn tồn tại một số lượng không nhiều các tạp chí quan trọng, các tạp chí này chứa một
số lượng đáng kể các bài viết về các lĩnh vực khoa học hay chủ đề đã cho và có ảnh hưởng rộng rãi trong giới chuyên môn và thường được gọi là tạp chí hạt nhân Nhờ xác định tạp chí hạt nhân các thư viện sẽ xây dựng được danh mục các tạp chí cần mua một cách hợp lý và tránh được lãng phí [1]
Trang 30- Quy luật lỗi thời của thông tin:
Khi nghiên cứu tần xuất sử dụng tài liệu, người ta nhận thấy rằng ngay sau khi xuất bản tài liệu được tìm đọc khá nhiều nhưng sau đó theo thời gian, số lượng người tìm đọc tài liệu này ngày càng giảm đi do thông tin của tài liệu đó không còn tính mới, không hấp dẫn người đọc Ở những ngành có tốc độ phát triển càng nhanh thì tốc độ lỗi thời của thông tin càng nhanh Tuy nhiên ở một số lĩnh vực như: Văn hóa, lịch sử, khảo cổ,…thì tài liệu càng cũ càng có giá trị do tính hiếm, tính độc nhất của tài liệu mang lại chứ không phải do tính mới của thông tin
Để biểu thị mức độ lão hoá của tài liệu và lượng hoá mức độ lão hoá, các nhà khoa học
R Barton và R Kebler đã đưa ra khái niệm "nửa chu kỳ sống " (half life cycle) của tài liệu
+ "Nửa chu kỳ sống " là khoảng thời gian trong đó đã công bố một nửa toàn bộ tài liệu đang được sử dụng trong một lĩnh vực nào đó
+ Nếu nửa chu kỳ sống của ngành toán học là 10,5 năm thì có nghĩa là 50% số bài báo
về toán học hiện đang được sử dụng được xuất bản trong khoảng 10,5 năm gần đây
Từ quy luật này ta thấy rằng tài liệu khoa học, nhất là các tài liệu thuộc các ngành khoa học công nghệ mũi nhọn, có tốc độ già hóa rất nhanh Những tài liệu cũ thường ít được
sử dụng, tồn đọng lâu ngày dẫn đến kho tàng bị trật trội, thiếu diện tích Vì vậy ý nghĩa của quy luật này là giúp các cơ quan thông tin, thư viện trong việc thanh lọc tài liệu không còn giá trị, không đáp ứng được NCT của NDT, để tiết kiệm điện tích kho, công sức của cán bộ, kinh phí bảo quản và lưu trữ kho sách
- Quy luật giá cả tài liệu tăng liên tục:
Giá cả của tài liệu được hình thành bởi giá cả thông tin chứa trong tài liệu và giá phần vật chất mang thông tin cùng với chi phí phân phối tài liệu đến tay người tiêu dùng (chi phí quảng cáo, phát hành, vận chuyển)
Trang 31Nghiên cứu của một số tác giả trên tạ chí Library Resourse and Technical Service cho
thấy, trong khoảng 10 năm từ 1986 đến 1996, giá của các loại tạp chí tăng khoảng
15%/năm và giá của tài liệu khoa học công nghệ tăng trung bình 12-18%/năm.[1]
Các nguyên nhân của sự tăng giá tài liệu là do:
+ Do sự lạm phát của hầu hết các nền kinh tế trên thế giới,
+ Giá giấy, vật tư, nguyên liệu, vật liệu khác cũng tăng lên
+ Do các nhà xuất bản thường có xu hướng tăng thêm số trang, số tập, sau mỗi năm
xuất bản (tạp chí) và khi khối lượng của tạp chí tăng lên, nghĩa là số trang tác giả (tính
bằng đơn vị 1000 ký tự) tăng lên thì kéo theo giá thành của chúng cũng tăng lên theo
Giá cả tài liệu tăng liên tục nên đã ảnh hưởng không nhỏ tới công tác phát triển NLTT
của các cơ quan TT-TV, làm cho số lượng tài liệu mua bằng kinh phí mỗi năm một
giảm đi Do vây, để làm tốt công tác phát triển NLTT và mang lại hiệu quả cao thì phải
chú ý tới sự chi phối của các quy luật trên và tìm ra giải pháp hữu hiệu để giảm thiểu
sự chi phối đó
Sự tác động của các yếu tố khác đến nguồn lực thông tin
Tác động của các yếu tố chủ quan của thư viện tới việc phát triển nguồn tin
- Chính sách phát triển nguồn tin
Bất kỳ một cơ quan thông tin, thư viện nào muốn hoàn thành tốt chức năng,
nhiệm vụ của mình, muốn đạt được hiệu quả phục vụ tốt nhất, điều quan tâm trước tiên
là phải xây dựng và phát triển cho được một vốn tài liệu đủ lớn về số lượng với chất
lượng tốt, phong phú về chủng loại, phù hợp với yêu cầu ngày càng cao của NDT Tuy
nhiên để xây dựng vốn tài liệu vừa lớn về số lượng vừa mạnh về chất lượng, các cơ
quan thông tin thư viện không thể bổ sung ồ ạt các loại tài liệu có trên thị trường (do
không đủ kinh phí để mua và xử lý, cũng như không đủ kho tàng, giá kệ để lưu trữ tài
liệu) mà phải tiến hành lựa chọn, cân nhắc kỹ từng loại tạp chí, từng cuốn sách Cơ sở
của việc lựa chọn đó là các nguyên tắc, quy tắc lựa chọn tài liệu Những nguyên tắc
Trang 32này được xây dựng dựa trên chức năng, nhiệm vụ mà thư viện hay cơ quan thông tin được giao phó
- Trình độ cán bộ phát triển nguồn tin
Ngày nay, trước sự phát triển và gia tăng mạnh mẽ của các NLTT, đã đưa ra những đòi hỏi đối với người cán bộ làm công tác phát triển nguồn tin Bởi đây là một công việc phức tạp, mang tính trí tuệ cao, đòi hỏi người cán bộ bổ sung ngoài các kiến thức chung về đường lối, chủ trương phát triển kinh tế- xã hội của đất nước, về chức năng nhiệm vụ của thư viện mình, các kiến thức về nghiệp vụ thư viện, còn phải hiểu biết về công tác xuất bản tài liệu và thị trường xuất bản phẩm, hiểu biết các khía cạnh pháp lý trong kinh doanh, nhất là về luật thương mại, các thủ tục ký kết hợp đồng mua tài liệu, các vấn đề liên quan đến bản quyền, sở hữu trí tuệ, Hiện nay, các thư viện đã ứng dụng mạnh mẽ CNTT vào các khâu công tác của thư viện Do đó, người cán bộ bổ sung cũng cần phải có kỹ năng về công nghệ thông tin và sử dụng thành thạo máy tính điện tử, cũng như phần mềm quản trị và biết cách khai thác các nguồn thông tin trên mạng internet, có thể làm chủ được tình hình để đưa ra những quyết định chính xác, phù hợp trong việc lựa chọn nguồn tin bổ sung Ngoài ra, người cán bộ còn phải biết thẩm định được chất lượng nguồn tin để công tác phát triển nguồn tin đảm bảo chất lượng, tránh tình trạng bổ sung tài liệu thiên lệch, không cân đối về nội dung và hình thức hoặc bổ sung bị trùng lặp gây lãng phí
- Kinh phí của thư viện
Do số lượng tài liệu tăng lên nhanh chóng và giá cả của tài liệu cũng tăng lên liên tục nên không một thư viện hay cơ quan thông tin nào có đủ kinh phí để có thể bổ sung đầy đủ số tài liệu phục vụ cho nhu cầu của người đọc tại thư viện mình
Thực tế cho thấy, những thư viện tiềm lực tài chính mạnh có thể chọn chiến lược bổ sung đầy đủ tức là bổ sung tất cả các loại tài liệu mà độc giả thư viện mình cần, còn các thư viện có tiềm lực tài chính hạn chế thường chọn chiến lược bổ sung ở mức độ đầy đủ tối thiểu, có nghĩa là chỉ bổ sung những tài liệu hạt nhân, những tài liệu
Trang 33tối cần thiết, có nhu cầu sử dụng cao, còn những tài liệu mà nhu cầu đọc thấp hơn sẽ tìm cách thỏa mãn đọc giả bằng cách mượn giữa các thư viện
Ngoài ra, do sự tiến bộ của CNTT, nhiều nhà xuất bản đã phát hành các tài liệu
số, có thể truy cập trực tuyến từ xa, vì thế các thư viện cũng có thể cân nhắc, lựa chọn giải pháp phù hợp với điều kiện của thư viện mình, hoặc là thu thập tài liệu và sở hữu trí tuệ tại chỗ để phục vụ người dùng tin hay chuẩn bị các điều kiện kỹ thuật, công nghệ để có thể truy cập trực tuyến tới các nguồn thông tin từ xa, giúp tiết kiệm kinh phí xây dựng kho tàng, mua giá kệ, hoặc thư viện phải căn cứ vào kinh phí để đưa ra quyết định bổ sung cho phù hợp [28,tr.59-60]
1.1.4 Đánh giá nguồn lực thông tin
Lý do cần phải đánh giá nguồn lực thông tin
Như trên đã nêu, nguồn lực thông tin là yếu tố cấu thành của thư viện, NLTT là
cơ sở để thư viện tổ chức các các hoạt động nhằm thỏa mãn nhu cầu của NDT Để xây dựng được một nguồn tin đủ mạnh, hợp lý, phù hợp với nhu cầu của thư viện, khả dĩ đáp ứng được nhu cầu của NDT thì việc đánh giá NLTT là rất cần thiết Đánh giá NLTT là một quy trình nhằm tìm ra được điểm mạnh và điểm yếu của NLTT Việc đánh giá NLTT được định nghĩa như một quá trình định lượng so sánh mức độ mà một thư viện đạt được trong việc xây dựng NLTT với yêu cầu được thể hiện bởi các thông
số đã định (thường có trong chính sách phát triển nguồn tin) Trong nghiên cứu của Marill và Corbin (1989) đã chỉ ra rằng đánh giá NLTT thường xem xét một sưu tập tài liệu tốt như thế nào và khả năng đáp ứng nhu cầu thông tin của NDT (cả người dùng tin hiện tại và những người dùng tin tiềm năng)
Đánh giá NLTT là một quá trình bắt buộc và mất nhiều thời gian, đồng thời được thường xuyên thực hiện với việc quan sát nhằm tìm ra các điểm mạnh và điểm yếu của bộ sưu tâp tài liệu, với mục đích tạo ra cái gì đó tốt hơn bằng cách kế thừa và phát huy các điểm mạnh đó và giảm đi, điều chỉnh những điểm yếu còn tồn tại Nói
Trang 34cách khác, đánh giá NLTT là đánh giá một cách khách quan về phạm vi và chiều sâu của bộ sưu tập, đồng thời đưa ra hướng dẫn về kế hoạch, dự định cũng như đưa ra quyết định về bộ sưu tập tài liệu.[40, Pg 160-161]
Mục đích của việc đánh giá nguồn lực thông tin
Các chuyên gia, các nhà quản lý thư viện thường muốn biết NLTT mà thư viện đã thu thập tốt như thế nào và có phù hợp với NCT của các đối tượng NDT hay không? kinh phí để mua các tài liệu đã hợp lý chưa? Để làm được điều ấy, việc đánh giá NLTT phải được tiến hành Nói khác đi, mục đích của việc đánh giá NLTT là để tiến tới hoàn thiện NLTT, làm cho NLTT phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của thư viện, tức là phù hợp với nhu cầu của NDT Đó cũng chính là nhiệm vụ chính của việc phát triển NLTT, điều này có liên quan tới việc lập kế hoạch, lựa chọn và cắt giảm các tài liệu thu thập Việc đánh giá NLTT cần đạt được những mục đích sau:
Tìm kiếm thông tin chính xác hơn về quy mô, chiều sâu và lợi ích của tài liệu thu thập
Chuẩn bị hướng dẫn và cơ sở cho sự phát triển nguồn lực thông tin
Giúp đỡ trong việc chuẩn bị chính sách phát triển tài liệu thu thập
Xác định hiệu quả của chính sách phát triển việc thu thập
Quyết định chất lượng và sự phù hợp của tài liệu thu thập
Giúp chỉnh sửa những mặt chưa phù hợp trong việc quản lý thư viện và cải thiện chúng
Tập trung nguồn nhân lực và tài chính vào các khu vực quan trọng
Cung cấp bằng chứng về việc tăng lên ngân sách cho nguồn tài liệu cần bổ sung
Xác định những điểm mạnh cũng như điểm yếu còn tồn tại trong việc thu thập tài liệu
Trang 35 Kiểm tra sự cần thiết, loại bỏ và kiểm soát tài liệu thu thập, đồng thời xây dựng các khu vực ưu tiên cho công việc này
Các bước trong tiến hành đánh giá
- Thiết lập mục đích và đối tượng cần nghiên cứu đánh giá
- Xem xét nghiên cứu trước: khảo sát các nghiên cứu trước để xem xét một cách chi tiết và hiểu rõ được các vấn đề bên trong có liên quan
- Lựa chọn dữ liệu được thu thập và phương pháp luận: Quyết định phương pháp luận
để thực hiện và dữ liệu chính xác để tập hợp là cần thiết đối với người quản lý dữ liệu thu thập nhằm chắc chắn các câu trả lời trong đó là cần thiết, trước khi các câu hỏi gợi
ra các câu trả lời của chúng Theo cách tiếp cận có hệ thống có thể đặt các đối tượng nghiên cứu trong một bảng như một hệ thống các câu hỏi Sau đó mỗi phần liệt kê làm thế nào bạn đưa ra câu trả lời cho câu hỏi đó Theo cách tiếp cận này có thể chắc chắn rằng mỗi câu hỏi quan tâm trong việc đánh giá tài liệu thu thập sẽ được giải đáp trong thực tế
- Lựa chọn phạm vi đối tượng khảo sát: Đối tượng ở đây có thể bao gồm cả vật như sách và con người có thể là người sử dụng thư viện Khi lựa chọn đối tượng cần có sự hiểu biết về các khía cạnh đơn giản nhất của kỹ thuật mẫu, nếu dạng mẫu được lấy chính xác, các đặc tính của dạng mẫu gần đúng với các đặc tính của nhóm từ đối tượng được lấy
- Thực hiện một nghiên cứu thí điểm: Việc này giúp khảo sát kỹ thực tiễn, giúp tiết kiệm được nhiều thời gian, nâng cao chất lượng, cải thiện đáng kể kết quả nghiên cứu
- Sửa chữa và phân tích dữ liệu: Sửa chữa dữ liệu thu được từ cuộc khảo sát, nhằm chắc chắn rằng cái gì được đưa vào dữ liệu nguồn hay bảng tính máy tính là chính xác nhất có thể Tiến hành phân tích dữ liệu bởi vì sự mã hóa sẽ luôn bao gồm một số quyết
Trang 36định chủ quan về cái gì được hiểu bởi người điền vào phiếu mẫu hay hoàn thành bài khảo sát hoặc là bất kỳ công cụ tài liệu thu thập dữ liệu nào được sử dụng Việc làm sáng tỏ này cần được quyết định dựa trên một cơ sở nhất quán chắc chắn và vì thế bảng quyết định mã được sử dụng Sau đó mỗi phần nhỏ của dữ liệu vốn mập mờ khó hiểu
sẽ được xử lý chính xác bằng cách tương tự nhau
Nói tóm lại, phân tích dữ liệu thu thập cần phải kết hợp với các mục đích và mục tiêu của cơ quan cũng như trong thư viện của mình Với những điều lưu ý trên, việc đánh giá nên xác định các câu hỏi riêng biệt đưa ra, luôn luôn bắt đầu bằng câu hỏi loại thông tin nào cần thiết, điều gì gợi ý cho câu trả lời được yêu cầu và từ đó những câu hỏi nào nên được đưa ra và qua câu hỏi đó liệu thông tin có phù hợp từ các nguồn khác nhau hay không? Hơn thế nữa, điều quan trọng là tính chủ quan của các phương pháp khác nhau về chất lượng của các tài liệu thu thập được giảm đi nhiều nhất
có thể Điều này có thể được thực hiện nhờ sử dụng kỹ thuật định lượng, chúng tính toán không chỉ các mục dữ liệu của toàn hệ thống và cả số lần chúng được sử dụng bằng cách này hay cách khác, mà còn tính toán mức độ ảnh hưởng lẫn nhau giữa người sử dụng và các dịch vụ của thư viện
Các phương pháp đánh giá nguồn lực thông tin
Đánh giá nguồn lực thông tin bao gồm hai cách tiếp cận: Lấy người dùng làm trung tâm (user centred) và lấy NLTT làm trung tâm (information resources centred) Mỗi phương pháp tiếp cận đều có những ưu điểm riêng và để tiến hành đánh giá được nguồn lực thông tin trong mỗi phương pháp cần đưa ra các tiêu chí cụ thể;
(1) Phương pháp đánh giá đầu tiên là lấy người dùng làm trung tâm, có nghĩa là tập trung vào người dùng cá nhân như là đơn vị của việc phân tích, với người dùng đang được xác định như cá nhân sử dụng các phương tiện trong dữ liệu thu thập Trong thời đại kỹ thuật số tầm quan trọng của việc đánh giá bộ sưu tập người sử dụng làm
Trang 37trung tâm đã tăng lên, vì nó không còn là trường hợp độc giả được giới hạn truy cập vào những gì có trong bất kỳ một bộ sưu tập vật lý nào.[40, Pg 162-182]
- Tiêu chí đánh giá:
+ Sự hài lòng của NDT về chất lượng nguồn lực thông tin tại thư viện:
Phương pháp thực hiện: Phát phiếu khảo sát để thăm dò ý kiến, thống kê lượng phiếu phát ra để tính mức độ hài lòng của NDT
+ Khả năng tìm kiếm tới NLTT: Phương pháp thực hiện: Phát phiếu khảo sát để thăm dò ý kiến, thống kê lượng phiếu phát ra để tính khả năng tìm đến NLTT của NDT và biết rõ nguyên nhân tại sao NDT chưa tìm kiếm được NLTT tại thư viện
+ Tỷ lệ tài liệu được mượn: Thông qua số lượt sử dụng tài liệu của bạn đọc trong một khoảng thời gian cụ thể để đánh giá tần suất sử dụng của vốn tài liệu Nếu tỷ
lệ tài liệu mượn càng cao, thì tần suất (hiệu quả) sử dụng của vốn tài liệu càng được đánh giá tốt
Phương pháp tính tỷ lệ tài liệu được mượn[8]
Tổng số lần mượn tài liệu trong năm x 100 Tổng số bản tài liệu hiện có trong kho (2) Phương pháp thứ hai là lấy nguồn lực thông tin làm trung tâm, có nghĩa là các kỹ thuật đánh giá tập trung vào việc kiểm tra tài liệu thu thập trong hệ thống như quy mô, nội dung, mức độ cập nhật, mức độ đầy đủ và tầm quan trọng của nó Mục đích chỉ ra tổng số bản các loại tài liệu sẵn sàng phục vụ và tính thời sự của chúng Để đánh giá theo cách tiếp cận này, người ta giả định rằng mỗi cuốn sách, mỗi loại tài liệu đều có giá trị ngang nhau và một tài liệu hiện được ưa chuộng thì tương lai cũng vẫn được ưa chuộng Tuy nhiên trong mối quan hệ với việc đánh giá NLTT của Follet
Trang 38Report và hiệu quả phục vụ tại thư viện đại học kết quả thu được giá trị quan trọng giữa các tài liệu trong quá trình sử dụng là khác nhau và tạo lập một loạt các chỉ dẫn quan trọng tin rằng hầu hết đều thích hợp cho việc đánh giá NLTT.[40, Pg 162-182]
- Tiêu chí đánh giá
+ Số lượng bản tài liệu các loại tính trên đầu người dân trong khu vực (hoặc trên đầu người dùng tin của thư viện)
Phương pháp tính: Số lượng bản tài liệu các loại trên đầu người[8]
Số lượng bản tài liệu các loại
Số dân cư trên địa bàn (Số người dùng tin của thư viện)
+ Tỷ lệ số bản tài liệu các loại được bổ sung vào kho thư viện mỗi năm
Phương pháp tính tỷ lệ tài liệu các loại:
Số lượng tài liệu các loại mới bổ sung trong năm x 100
Số lượng tài liệu các loại được lưu giữ trong kho vào cuối năm
+ Mức độ cập nhật của tài liệu: Để đánh giá mức độ cập nhật của tài liệu cần căn cứ vào năm xuất bản của tài liệu, năm xuất bản càng mới mức độ cập nhật thông tin càng cao và lượng bạn đọc sử dụng càng lớn Ngược lại khoảng thời gian kể từ sau khi ấn phẩm được xuất bản càng tăng thì sự lão hóa của thông tin càng lớn, người đọc càng ít quan tâm đến tài liệu đó, số người tìm đọc tài liệu càng giảm Tuy nhiên, sự lão hóa thông tin trong các ngành khác nhau thì không giống nhau, những ngành có tốc độ phát triển càng nhanh thì tốc độ lỗi thời của thông tin càng nhanh và mức độ lão hóa càng lớn như vậy mức độ cập nhật của tài liệu càng đòi hỏi cao hơn
Trang 39Để biểu thị mức độ lão hóa của tài liệu và lượng hóa mức độ lão hóa, các nhà khoa học R Baton và R,Kebler đã đưa ra khái niệm “nửa chu kỳ sống” của tài liệu trong một số lĩnh vực:
Vật lý 4,6 năm, Hóa học 8.1 năm, thực vật học 10 năm, toán học 10.5 năm, địa chất 11.8 năm.[28, tr.56-57]
+ Mức độ đầy đủ của tài liệu: Mục đích xây dựng vốn tài liệu trong thư viện là
để sử dụng, vì vậy mức độ đầy đủ càng cao, khả năng đáp ứng nhu cầu càng lớn Đặc biệt đối với việc học tập, nghiên cứu cần phải đảm bảo đầy đủ tài liệu và cung cấp thông tin toàn diện, có như vậy mới đảm bảo được chất lượng học tập cũng như nghiên cứu Từ thực tiễn đó các thư viện khoa học cần có đầy đủ thông tin cần thiết về các lĩnh vực chủ yếu và các lĩnh vực có liên quan [28, tr 99-100]
Phương pháp tính mức độ đầy đủ của tài liệu:
Chủ đề tài liệu thư viện hiện có x 100
Chủ đề tài liệu trên thị trường
+ Nội dung tài liệu: căn cứ vào tỉ lệ phần trăm của tài liệu các loại được tham khảo theo từng lĩnh vực nội dung để đánh giá xem tài liệu được thu thập có phù hợp với diện đề tài (diện bổ sung) của thư viện hay không
Phương pháp tính tỉ lệ phần trăm của tài liệu các loại được tham khảo theo từng lĩnh vực nội dung
Số đầu tài liệu phù hợp theo từng lĩnh vực nội dung thư viện có x100
Số lượng người dùng tin theo chủ đề (chuyên ngành đào tạo)
+ Loại hình tài liệu: căn cứ vào tỉ lệ phần trăm của tài liệu các loại được tham khảo theo từng loại hình tài liệu để đánh giá mức độ phù hợp về loại hình tài liệu được thu
Trang 40thập Loại hình tài liệu được sử dụng nhiều thì mức độ phù hợp càng càng và ngược lại những lọai hình tài liệu ít được sử dụng thì mức độ phù hợp càng thấp Thư viện có thể căn cứ vào tiêu chí này để quyết định nên bổ sung những loại hình nào là chính
Phương pháp thực hiện: Phát phiếu khảo sát để thăm dò ý kiến về các loại hình tài liệu bạn đọc thường sử dụng, thống kê lượng phiếu phát ra để tính phần trăm loại hình tài liệu được sử dụng trên tổng số NDT được hỏi
1.2 Khái quát về Trường Đại học Thương mại và Trung tâm Thông tin Thư viện trường
1.2.1 Khái quát về Trường Đại học Thương mại
* Cơ cấu tổ chức
Trường Đại học Thương mại có tiền thân là Trường Thương nghiệp Trung ương (1960-1979), sau đó là Trường Đại học Thương nghiệp (1979-1994) và từ năm 1994 đến nay là đổi tên thành Trường Đại học Thương mại
Trải qua hơn 50 năm xây dựng và phát triển, Trường ĐHTM hiện nay đã trở thành trường đại học đạt chuẩn quốc gia và có uy tín với xã hội và quốc tế trong đào tạo cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ khối ngành kinh tế- quản lý- kinh doanh trong các lĩnh vực thương mại hiện đại với quy mô trên 700 cán bộ, giáo viên và hơn 20 nghìn sinh viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh
Trong số 490 giáo viên của trường (số liệu thống kê tháng 5 năm 2010) có 01 giáo sư, 24 phó giáo sư, 72 tiến sĩ, 171 thạc sĩ, nhiều giáo viên đang theo học các chương trình đào tạo sau đại học[14, tr.23]
Bảng 1.1- Đội ngũ cán bộ, giáo viên nhà trường [14]