Trên bề mặt sinh thổ xuất hiện những hố đất đen lớn hình vuông kích thước khoảng 1m, sâu trên dưới 2m, ăn sâu vào sinh thổ, đất trong hố có màu đen lẫn nhiều than tro, đất nung, hiện vật
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
NGUYỄN ANH THƯ
Bước đầu tìm hiểu về loại hình di tích hố đất đen trong một số địa điểm văn hoá Phùng Nguyên
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHẢO CỔ HỌC
Trang 2VH TT-TT Văn hoá Thông tin – Thể thao
VHDT Văn hoá Dân tộc
Trang 31 Tính cấp thiết của đề tài
2 Mục đích nghiên cứu của luận văn
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và những vấn đề cần giải quyết trong
luận văn
4 Phương pháp nghiên cứu
5 Kết quả đóng góp của luận văn
6 Bố cục
Chương 1 Tổng quan tư liệu
1.1 Điều kiện tự nhiên-xã hội
1.1.1 Vị trí địa lý, cấu tạo địa chất, địa hình, cảnh quan di chỉ
Gò Hội (Lập Thạch - Vĩnh Phúc)
1.1.2 Vị trí địa lý, cấu tạo địa chất, địa hình, cảnh quan di chỉ
Đình Chiền (Liên Hà - Đông Anh)
7
11
1.2 Quá trình phát hiện và nghiên cứu vấn đề 14 1.3 Kết quả khai quật di chỉ Gò Hội và Đình Chiền
1.3.1 Kết quả khai quật di chỉ Gò Hội
1.3.2 Kết quả khai quật di chỉ Đình Chiền
17
Chương 2 Đặc điểm các hố đất đen trong di chỉ Gò Hội và đình Chiền
2.1 Đặc điểm các hố đất đen di chỉ Gò Hội 26 2.2 Đặc điểm các hố đất đen di chỉ Đình Chiền 43
Chương 4 bước đầu tìm hiểu loại hình di tích hố đất đen trong một số địa
điểm văn hoá Phùng Nguyên
101
Kết luận
Phụ lục
Trang 4Mở đầu
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong suốt chặng đường 45 năm phát hiện và nghiên cứu văn hoá Phùng Nguyên, các nhà khảo cổ học đã thu được một khối lượng di vật khổng lồ, phong phú, phản ánh một giai đoạn phát triển văn hoá rực rỡ mở đầu thời đại Kim khí ở Việt Nam Đã có gần 70 địa điểm văn hoá Phùng Nguyên được phát hiện, nghiên cứu, đã có nhiều công trình nghiên cứu về các loại hình di tích, di vật của văn hoá Phùng Nguyên, nhưng quanh văn hoá Phùng Nguyên vẫn còn nhiều vấn đề chờ giải đáp Cho đến nay, vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào đề cập và tìm hiểu về quá trình hình thành, công dụng, chức năng của những hố đất đen xuất hiện trong một số di chỉ hay lớp văn hoá thuộc văn hoá Phùng Nguyên như Phùng Nguyên, Nghĩa Lập, Lũng Hoà, Đồng Đậu (lớp Phùng Nguyên), Bãi Mèn, Gò Hội, Đình Chiền, Thành Dền (lớp dưới cùng) Do đó, việc hệ thống hoá tư liệu và tìm hiểu về loại hình hố đất đen trong các di chỉ trên sẽ giúp chúng ta nhìn lại và nghiên cứu kỹ hơn về một loại hình di tích trong văn hoá Phùng Nguyên
Năm 2002-2003, chúng tôi có điều kiện tìm hiểu về loại hình di tích này qua các cuộc khai quật tại hai địa điểm Gò Hội và Đình Chiền Tác giả có
cơ may trực tiếp tham gia khai quật và chỉnh lý nguồn tư liệu thu được từ địa điểm Gò Hội (Lập Thạch - Vĩnh Phúc) lần II, Đình Chiền (Liên Hà - Đông
Anh) lần II nên có điều kiện thuận lợi để “bước đầu tìm hiểu loại hình di tích
hố đất đen trong một số địa điểm văn hoá Phùng Nguyên” và chọn đó làm đề
tài luận văn của mình
2 Mục đích nghiên cứu của luận văn
- Tập hợp, hệ thống hoá tư liệu và kết quả nghiên cứu về loại hình
di tích hố đất đen trong văn hoá Phùng Nguyên
Trang 5- Phân loại các hố đất đen trong di chỉ Gò Hội, Đình Chiền dựa trên hình dạng, cấu trúc, đặc điểm phân bố di vật trong hố đất đen
- Tìm hiểu chức năng, qui luật phân bố của các hố đất đen trong di chỉ
Gò Hội, Đình Chiền; Từ đó rút ra những đặc trưng cơ bản của loại hình hố đất đen trong một số di chỉ thuộc văn hoá Phùng Nguyên
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và những vấn đề cần giải quyết trong luận văn
Đối tượng nghiên cứu chính của luận văn là các hố đất đen trong di chỉ
Gò Hội (Lập Thạch - Vĩnh Phúc) và Đình Chiền (Đông Anh-Hà Nội)
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn chủ yếu trình bày kết quả nghiên cứu về
loại hình hố đất đen trong di chỉ Gò Hội và Đình Chiền qua hai lần khai quật Đây là những tư liệu mới, được tác giả trực tiếp chỉnh lý và tập hợp khá đầy
đủ Bên cạnh đó, luận văn hệ thống và sử dụng các tư liệu và báo cáo khai quật về loại hình di tích hố đất đen trong các di chỉ thuộc văn hoá Phùng Nguyên từ trước tới nay, đồng thời tham khảo một số báo cáo về loại hình di tích cùng thời ở Vân Nam - Trung Quốc
Vấn đề chính cần giải quyết trong luận văn: Phân loại, xác định đặc
trưng và tìm hiểu quá trình hình thành, chức năng, công dụng các hố đất đen trong di chỉ Gò Hội, Đình Chiền; mối liên hệ giữa Gò Hội, Đình Chiền với cụm di tích đồng dạng trong văn hoá Phùng Nguyên và các văn hoá khác trong khu vực
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Để tiếp cận đề tài, luận văn sử dụng các phương pháp khảo cổ học truyền thống, cụ thể là điều tra, điền dã, thám sát, khai quật, đo vẽ, chụp ảnh, miêu tả, phân loại tư liệu, xử lý tư liệu địa tầng nhằm phản ánh được một cách đầy đủ, chính xác và khách quan mối tương quan giữa di tích và di vật
4.2 Trong luận văn, phương pháp cơ bản là phương pháp phân loại, so sánh loại hình di tích và di vật Bằng phương pháp này, chúng ta có thể rút ra đặc điểm phân bố, quá trình hình thành, phát triển của loại hình di tích hố đất
Trang 6đen trong di chỉ Gò Hội và Đình Chiền và một số địa điểm khác thuộc văn hoá Phùng Nguyên
4.3 Luận văn áp dụng phương pháp thống kê, sử dụng các kết quả phân tích bằng các phương pháp khoa học tự nhiên làm cơ sở cho việc xác định đặc điểm và niên đại các hố đất đen và các di vật trong di chỉ Gò Hội, Đình Chiền
5 Kết quả đóng góp của luận văn
- Luận văn tập hợp, hệ thống hoá tư liệu và kết quả nghiên cứu về loại hình hố đất đen trong một số địa điểm thuộc văn hoá Phùng Nguyên
- Trình bày kết quả nghiên cứu về đặc điểm loại hình di tích và đặc trưng di vật trong các hố đất đen trong di chỉ Gò Hội, Đình Chiền Từ đó rút
ra nội dung, tính chất di chỉ Gò Hội và Đình Chiền trong mối liên hệ với cụm
Chương 1: Tổng quan tư liệu
Chương 2: Đặc điểm các hố đất đen trong di chỉ Gò Hội và Đình Chiền
Chương 3: Đặc trưng di vật trong hố đất đen trong di chỉ Gò Hội và Đình Chiền
Chương 4: Bước đầu tìm hiểu loại hình di tích hố đất đen trong một số địa điểm văn hoá Phùng Nguyên
Ngoài ra trong luận văn còn có các mục như: Bảng các chữ viết tắt, mục lục, danh mục phụ lục minh họa, tài liệu tham khảo
Trang 7Chương 1
tổng quan tư liệu
1.1 Điều kiện tự nhiên-xã hội
1.1.1 Vị trí địa lý, cấu tạo địa chất, địa hình, cảnh quan di chỉ
huyện Tam Dương và Vĩnh Tường (bđ.1) Diện tích tự nhiên của Lập Thạch
là 41.205,8 ha
Vĩnh Phúc có 3 loại địa hình chính: địa hình miền núi, địa hình vùng đồi và địa hình vùng đồng bằng Địa hình núi thấp ở Vĩnh Phúc rộng hàng chục km, là vùng nâng liên tục do hoạt động của hai đứt gãy sông Lô và sông Chảy, bắt đầu từ cuối giai đoạn Hecxini (300 triệu năm cách ngày nay) Lập Thạch thuộc dạng địa hình núi thấp, một dạng địa hình xâm thực, bóc mòn mà đại diện cho loại địa hình này là núi Sáng ở địa phận hai xã Đồng Quế và Lãng Công (Lập Thạch), cao 633m [16, 69-70]
Về mặt địa tầng, các thành tạo trầm tích, phun trào phân bố ở Vĩnh
Phúc gồm có giới Proterozoi, Mezozoi và Kainozoi, tổng chiều dày hàng chục
km phân chia thành các phân vị địa tầng sau:
Trang 8- Giới Proterozoi (trầm tích biến chất cao từ đá phiến kết tinh đến Amphibolit) đại diện là hệ tầng sông Hồng phân bố ở 3 vùng: Lập Thạch, Yên Lập, Việt Xuân (Vĩnh Tường) và Vĩnh Yên Bề dày các thành tạo Proterozoi khoảng 1200-1500m
Tại Lập Thạch: đất đá hệ tầng sông Hồng phân bố quanh khu vực núi Sáng ở các xã Quang Sơn, Hợp Lý, Bắc Bình, Liễn Sơn Thành phần gồm có
đá phiến thạch anh mica, granit, gơnaibiotit, đá hoa bị biến chất nhiệt động rất mạnh dẫn đến tướng Amphibolit
- Giới Mezozoi được thành tạo chủ yếu vào giai đoạn Triat giữa-muộn
và Triat muộn Hệ Triat thống giữa dày khoảng 1.200m, chủ yếu là các đá phun trào axit lộ ra ở dải Tam Đảo, chiếm toàn bộ diện tích phần núi Tam Đảo, nằm ở Đông Bắc đứt gãy sông Chảy Hệ Triat trên, hệ tầng Văn Lãng dày khoảng 500m được thành tạo ở môi trường đầm hồ vào giai đoạn biển tiến lấn vào các cấu trúc sụt lún dọc theo các đứt gãy Hệ tầng Văn Lãng có tuổi Triat thống 3 bậc Nori-rêti chiếm một phần diện tích xã Đạo Trù (Lập Thạch)
- Giới Kainozoi: Các đá thuộc giới này chủ yếu là các sản phẩm phong hóa, các thành tạo aluvi, pronuvi, deluvi ) Hệ Neogen (N) thuộc giới Kainozoi ở Vĩnh Phúc bao gồm nhiều hệ tầng như hệ tầng Phan Lương, hệ tầng Xuân Hoà, hệ tầng Hà Nội, hệ tầng Vĩnh Phúc, hệ tầng Hải Dương và hệ tầng Thái Bình [16, 85-89]
Về sông ngòi, huyện Lập Thạch có hai hệ thống sông chính là sông Lô
(ở phía Tây) và sông Phó Đáy (ở phía Đông Nam)
Sông Lô phát nguyên từ Vân Nam – Trung Quốc, chảy qua các tỉnh
Hà Giang, Tuyên Quang, Phú Thọ vào địa phận Vĩnh Phúc từ xã Quang Yên – Lập Thạch, qua xã Việt Xuân (Vĩnh Tường) đến ngã ba Bạch Hạc thì đổ vào sông Hồng Sông Lô có lưu lượng dòng chảy bình quân 1.213m3/s, về
Trang 9mùa mưa lên tới 3.230m3/s Mực nước lúc cao nhất so với mực nước lúc thấp nhất thường chênh nhau 6m Hàm lượng phù sa trong mùa mưa 2.310kg/m3
Sông Phó Đáy phát nguyên từ Bắc Kạn, chảy qua Tuyên Quang, vào địa phận Vĩnh Phúc từ xã Quang Sơn (Lập Thạch) ở bờ phải và xã Yên Dương ở bờ trái, chảy giữa huyện Lập Thạch và 2 huyện Tam Dương, Vĩnh Tường rồi đổ vào sông Lô Sông Phó Đáy có lưu lượng bình quân 23m3/s, lưu lượng cao nhất là 833m3/s, mùa khô lưu lượng chỉ 4m3/s Lưu lượng phù sa của sông Phó Đáy cũng như sông Lô ở khoảng 2.440kg/m3
Ngoài hệ thống sông ngòi, Lập Thạch còn có hệ thống đầm hồ lớn như
hồ Đá Ngang, hồ Khuôn, hồ Suối Sải, hồ Vân Trục, hồ Bò Lạc… [16, 76-77]
Về khí hậu, Vĩnh Phúc có hai mùa rõ rệt trong năm: Mùa khô bắt đầu
từ tháng 11 đến tháng 3 và mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10 Mùa khô thường chịu ảnh hưởng của khối không khí lạnh thổi từ phương Bắc đến từ cuối tháng 11 đến tháng Giêng Mùa mưa thường có gió nồm theo hướng Đông và Đông Nam đem theo nhiều hơi nước Lượng mưa 6 tháng mùa khô trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc dao động từ 330-360mm trong khi đó 6 tháng mùa mưa bình quân mưa tới 1.101mm Nhiệt độ cao, mưa to, gió lớn, hay có giông, mỗi năm có vài trận bão, độ ẩm cao Nhiệt độ bình quân ở Lập Thạch là 19-230C Lượng mưa trung bình khoảng 2.600mm/năm, cường độ mưa ở mùa mưa lớn nên đất đá đồi núi bị rửa trôi xói mòn mạnh và thường gây ngập úng lũ lụt Những tháng ít mưa, lượng mưa bình quân là 38-94mm/tháng Số giờ nắng 1034h
-1420h/năm Độ ẩm trung bình 87-91% [16, 107-112]
ở Lập Thạch có một số loại đất cơ bản sau:
- Phù sa sông Lô và sông Phó Đáy ở dọc theo sông Lô và sông Phó Đáy Có một số nơi phù sa sông Lô phân bố sâu vào nội tỉnh xen kẽ với loại đất dốc tụ như ở Đôn Nhân Nơi địa hình thấp hơn, thường xuyên có nước, sự
Trang 10lắng đọng phù sa nhiều, tuy nhiên tính chất phù sa một phần bị pha trộn, phần lớn từ độ sâu 50cm trở xuống đã có kết vón mangan và sản phẩm feralitic
- Đất phù sa úng nước nội đồng được hình thành ở những nơi địa hình trũng lòng chảo hoặc địa hình trũng sát ven đê
- Đất dốc tụ trồng lúa bị bạc màu ở ven theo các đồi núi thấp Loại đất này chua nhiều, pha trộn nhiều cát, có nước thì tơi bở, ít lắng như đất bạc màu [16, 94-101]
Như vậy, đất ở đây chủ yếu là loại đất bạc màu trên nền phù sa cổ, có
“sản phẩm feralitic” - còn gọi là đất laterit hoá
Hải Lựu - nơi phát hiện di chỉ Gò Hội là một xã miền núi nằm về phía Bắc của huyện Lập Thạch Phía Bắc xã là núi cao, tiếp đó đến đồi thấp, nghiêng dần về phía Nam tới những đồng chiêm trũng Về phía Bắc, Hải Lựu giáp với xã Bạch Lưu và xã Quang Yên, phía Đông giáp với xã Lãng Công, phía Nam giáp với xã Đôn Nhân, phía Tây giáp với sông Lô Tổng diện tích đất tự nhiên của Hải Lựu là 1.061ha [1,7] Tại Hải Lựu, năm 1982 các nhà khảo cổ học đã phát hiện tại Gò Đồn một số công cụ bằng đá thuộc văn hoá Sơn Vi, có niên đại 3–2 vạn năm cách ngày nay Tại xã Đôn Nhân nằm ở phía Nam xã Hải Lựu cũng phát hiện được hai di chỉ khảo cổ Gò Đặng và Gò Sỏi, bước đầu xác định thuộc văn hoá Phùng Nguyên Giáp với Hải Lựu, phía bên kia sông Lô là di chỉ Xóm Rền (xã Gia Thanh, huyện Phù Ninh – Phú Thọ) –
một di chỉ thuộc văn hoá Phùng Nguyên (bđ 3)
Như trên đã nói, di chỉ Gò Hội nằm ở thôn Đồng Soi, xã Hải Lựu, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc Đây là một gò đất đỏ có diện tích khoảng 2ha, nằm trên cánh đồng màu Gò Hội có toạ độ 21°28’30” vĩ độ Bắc và 105°20’50” kinh độ Đông [23, 87], cách sông Lô khoảng 300m về phía Tây
và cách trung tâm xã Hải Lựu khoảng 1km về phía Tây Nam (ba.1)
Trang 11Gò Hội nằm trong hệ thống những đồi gò thấp ở ven sông, xung quanh được bao bọc bằng những dải ruộng trũng Phía Bắc và Đông Bắc gò là Đồng Trang; phía Đông và Đông Nam là Trũng Hóp, phía Tây Nam là đồng Cây Xộp Qua các dải ruộng trũng này, về phía Nam Gò Hội là Gò Rào, phía
Tây là Gò Ông Vựa và xa hơn - gần phía sông Lô là Gò Bỏi (ba.3) Gò Hội, xét về độ cao, là thấp nhất so với các gò ở đây (Sđ.1)
1.1.2 Vị trí địa lý, cấu tạo địa chất, địa hình, cảnh quan di chỉ Đình Chiền (Liên Hà - Đông Anh)
Địa điểm khảo cổ học Đình Chiền thuộc thôn Lỗ Khê, xã Liên Hà, huyện Đông Anh, huyện ngoại thành nằm ở phía Bắc thủ đô Hà Nội có diện tích 184,16km2
bao gồm 23 xã, 1 thị trấn Phía Bắc giáp huyện Sóc Sơn, phía Tây giáp huyện Mê Linh (Vĩnh Phúc), phía Đông giáp hai huyện Yên Phong và Từ Sơn (Bắc Ninh), phía Tây Nam và Đông Nam
có con sông Hồng là gianh giới tự nhiên với thủ đô Hà Nội và huyện
Gia Lâm (bđ.2)
Đông Anh nằm ở vị trí khá đặc biệt Nếu phân chia tam giác châu sông Hồng thành 3 vùng với giới hạn một bên là dãy Ba Vì, một bên là dãy Tam Đảo và trục chính là sông Hồng: vùng cao (thượng), vùng giữa (trung), vùng thấp (hạ) ứng với 3 đỉnh tam giác châu thì Vĩnh Phú là vùng đỉnh xưa nhất của tam giác châu sông Hồng; ngã ba sông Hồng, sông Đuống gần Cổ Loa là đỉnh thứ hai và thị xã Hưng Yên là đỉnh thứ ba mà cạnh đáy nằm ven biển từ Yên Lập (Quảng Ninh) tới Nho Quan rìa Ninh Bình Như vậy Đông Anh gần như nằm trên trục chính của tam giác châu sông Hồng, là miền giáp ranh trung du - đồng bằng [15] Do nằm trong vùng đất cao Tây Bắc nên Đông Anh có địa hình nghiêng từ Tây Bắc (Cổ Loa: cốt 11-12m) xuống Đông Nam (Liên Hà: cốt 5-6m) [34, 7]
Trang 12Đông Anh là cái gạch nối giữa miền trung du và miền đồng bằng Bắc
bộ nên tính chất giáp ranh này thể hiện rõ về mặt thổ nhưỡng: từ một vùng đất feralitic vàng đỏ phát triển trên nền phù sa cổ đến một vùng bãi và phù sa trên bãi ngoài đê, từ một vùng đất bạc màu đến một vùng cát pha, đến một vùng đất thịt Đông Anh là gờ cuối cùng của một miền Bắc thềm cổ nhìn ra một vùng lõm võng của đồng bằng [32]
Về mặt địa chất, do Đông Anh nằm gọn trong tam giác châu sông Hồng
nên hầu như bị phủ bởi trầm tích Đệ Tứ, chủ yếu là bồi tích của sông Hồng
(bđ.4) Nằm dưới chúng là các trầm tích Nêôgen, chiều dày chung mặt cắt
Kainôzôi thuộc đới này lên tới 3.500m
Các lỗ khoan thăm dò địa chất cho biết đây là vùng địa hình đá gốc có
bề mặt mấp mô kiểu đồi gò sót, nhưng do sự bồi đắp phù sa của hệ thống sông Hồng đã làm cho địa hình bằng phẳng hơn Ngoài các đồi gò, thềm cổ, Đông Anh còn là vùng đất bồi cao của sông suối Như vậy, do vị trí nằm ở rìa đồng bằng, nên khu vực Đông Anh mang cả hai chế độ phù sa khác nhau, phù
sa cổ và phù sa hiện đại
Về sông ngòi, Đông Anh có 2 hệ thống sông chính: Sông Cà Lồ ở phía
Bắc, sông Hồng ở phía Tây Nam
Sông Hồng bắt nguồn từ dãy Nguy Sơn (Vân Nam - Trung Quốc), dài 1.160km, chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, vào nước ta từ Hồ Khẩu (Lào Cai) Lưu lượng nước bình quân là 3.630m3/s, thấp nhất về mùa cạn là 840m3/s, mùa lũ là 7.020m3/s Sông Hồng qua địa phận Hà Nội từ xã Phong Vân (Ba Vì) đến xã Trung Châu (Đan Phượng) Đoạn từ xã Trung Châu đến
xã Liên Trung (Đan Phượng) là ranh giới giữa 2 huyện Từ Liêm và Đông Anh
Sông Cà Lồ là 1 nhánh của sông Hồng, tách ra từ xã Trung Hà (Yên Lạc, Phú Thọ), là ranh giới tự nhiên giữa huyện Sóc Sơn và huyện Mê Linh,
Trang 13Ngoài hệ thống sông chính, giang phận Đông Anh còn có sông Đuống
ở phía Đông Nam, sông Thiếp ở phía Đông Bắc, sông Ngũ Huyện Khê ở phía Đông Rải rác khắp nơi là hệ thống đầm, hồ, ao chuôm cổ từ chân núi Sóc đến vùng thềm phù sa cổ Đáng chú ý là dọc đôi bờ sông Ngũ Huyện Khê là địa bàn tập trung dày đặc các di chỉ khảo cổ học thời đại Kim khí như Đồng Vông (Cổ Loa), Xuân Kiều (Dục Nội), Tiên Hội (Đông Hội), Bãi Mèn (Cổ Loa), Đình Tràng (Dục Tú), Đường Mây (Cổ Loa), Lỗ Giao (Liên Hà), Đình Chiền (Lỗ Khê)… [34, 30]
Về khí hậu, Đông Anh cũng như các tỉnh đồng bằng Bắc bộ mang đặc
điểm của khí hậu nhiệt đới gió mùa Mùa đông lạnh, khô nhưng cuối mùa khá
ẩm ướt với hiện tượng thời tiết nồm và mưa phùn Mùa hạ nắng nóng, nhiều mưa Nhiệt độ bình quân từ 23-240C Lượng mưa trung bình khoảng 1.600-1.800mm/năm, độ ẩm trung bình 82% [31]
Liên Hà là một trong 23 xã của huyện Đông Anh, ngoại thành
Hà Nội Phía Đông giáp xã Vân Hà, phía Bắc giáp xã Thuỵ Lâm, phía Tây giáp xã Uy Nỗ, phía Tây Nam giáp xã Việt Hùng, phía Đông Nam giáp xã Dục Tú Thời thuộc Hán, Liên Hà thuộc đất Phong Khê, quận Giao Chỉ, thời nhà Triệu thuộc quận Vũ Bình, rồi huyện Bình Đạo thời Tây-Đông Hán, thuộc đất Phong Châu thời Đường Thời Trần và đầu Lê, Liên Hà thuộc huyện Yên Phong, phủ Từ Sơn Thời Nguyễn, thuộc huyện Đông Ngàn, phủ
Từ Sơn, trấn (xứ) Kinh Bắc, năm 1822 (Minh Mạng) đổi là tỉnh Bắc Ninh Thời Pháp thuộc, năm 1905 sau khi lập tỉnh Phủ Lỗ, thực dân Pháp đổi thành tỉnh Phúc Yên, bao gồm 2 phủ (Đa Phúc và Yên Lãng) và 2 huyện (Đông Anh
và Kim Anh) Năm 1948, xã Ngũ Hà nhập với xã Hà Vĩ thành xã Liên Hà, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh Tháng 6-1961 huyện Từ Sơn giải thể, xã Liên
Hà thuộc huyện Đông Anh
Trang 14Đình Chiền là tên gọi một cánh đồng nằm phía Tây Nam thôn Lỗ Khê,
xã Liên Hà, có toạ độ 21009’028’’ vĩ Bắc, 105053’250’’ kinh Đông, cách
huyện lỵ Đông Anh khoảng 5km (sđ 2, ba.2) Thôn Lỗ Khê xưa gọi là Lỗ
Khê Trang, theo các nguồn sử sách xưa, đây là vùng đất có những điều kiện
tự nhiên khá đặc biệt, mang đặc trưng của vùng đồng bằng cao trước chân núi xen lẫn những ô trũng đọng nước quanh năm Đất Lỗ Khê có nhiều gò, đống, địa hình giữa các khu cư dân bị chia cắt bởi nhiều khe lạch nhỏ, tương truyền
là dấu chân ngựa Gióng [14] Tại Lỗ Khê, đã phát hiện vỉa than bùn trải dài gần 2km, dày tới 2-3m, còn thấy cả dấu tích cành gai, thân lá cọ, rễ cây chứng tỏ khu vực này trước đây là rừng rậm, đầm lầy Trong quá trình khai thác than bùn, đã phát hiện một số mảnh gốm thô, một số rìu đá, vòng trang sức bằng đá, rìu đồng và một mũi giáo đồng màu xanh đen [32] Tại xã Dục Tú nằm ở phía Đông Nam xã Liên Hà cũng phát hiện được di chỉ Đình Tràng – nơi tìm thấy diện mạo của cả ba giai đoạn văn hoá nối tiếp nhau Đồng Đậu – Gò Mun - Đông Sơn, niên đại 2.200-3.500 năm cách ngày nay
1.2 Quá trình phát hiện và nghiên cứu vấn đề
Văn hóa Phùng Nguyên (giai đoạn hậu kỳ) xuất hiện một loại hình di tích đáng chú ý với các hố đất đen lớn ăn sâu vào sinh thổ, phân bố dày đặc trong các hố khai quật, trong khi tầng văn hoá tìm được khá mỏng, dấu vết cư trú rất mờ nhạt Loại hình di tích này đã được phát hiện từ những năm 1959 ở các di chỉ Phùng Nguyên, Nghĩa Lập, Lũng Hòa, Đồng Đậu (lớp Phùng Nguyên) và gần đây là Gò Hội (Lập Thạch - Vĩnh Phúc), Đình Chiền (Lỗ Khê - Đông Anh), Bãi Mèn (Cổ Loa-Đông Anh), Thành Dền (lớp dưới cùng) (Mê Linh - Vĩnh Phúc)
Trang 15Di chỉ Phùng Nguyên (xã Kinh Kệ, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ)
được phát hiện năm 1959 và được khai quật 3 lần với tổng diện tích khai quật hơn 3.960m2
Đợt khai quật lần thứ nhất, năm 1959, Đội Khai quật đã đào 2 hố thám sát, 6 hố khai quật, diện tích 158m2, phát hiện được 9 hố đất đen có kích thước lớn, những người khai quật gọi đó là những bếp lò Do là cuộc khai quật đầu tiên nên có thể những hố đất đen nhỏ, đường kính từ 0,1m-0,2m không được chú ý và đã bị đào đi cùng tầng văn hoá Vì vậy, số lượng hố đất đen trên thực tế có thể sẽ nhiều hơn số hố được thống kê trong báo cáo [19, 27-34]
Đợt khai quật lần thứ hai, năm 1961, Đội Khảo cổ đã đào
22 hố với tổng diện tích 3.700m2, phát hiện được 3.208 hố đất đen (khu A: 1.450 hố; khu B: 1.758 hố) Các hố đất đen này phân bố dày đặc trong các hố khai quật, chỉ riêng hố A5, diện tích 400m2
đã có tới 583 hố, hố B6, diện tích 100m2
có 356 hố
Đợt khai quật lần thứ ba, năm 1968, khoa Sử, đại học Tổng hợp tiến hành đào 1 hố, diện tích 100m2
cũng đã phát hiện được 22 hố đất đen
Các nhà khảo cổ cho rằng, những hố đất đen có lẫn nhiều than tro, đất nung có nhiều khả năng là các bếp nguyên thuỷ Những hố có kích thước lớn, sâu, trong chứa nhiều mảnh gốm vỡ, công cụ đá, xương răng động vật, có thể lúc đầu được đào làm chỗ cất dấu lương thực, dụng cụ, sau khi thôi không dùng, bị đất bẩn, mùn rác lấp dần thành hố đất đen [4]
Di chỉ Đồng Đậu (xã Minh Tân, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc)
được phát hiện năm 1962 và khai quật 6 lần vào các năm 1965-1966, 1967, 1968-1969, 1984, 1987 và 1999 với tổng diện tích 758m2
Trang 16Tầng văn hoá di chỉ Đồng Đậu rất dày, phân bố không đều Lớp dưới cùng (lớp 4) có độ sâu 2,6-3,2m đã xuất lộ 148 huyệt đất hình dáng khác nhau, ăn sâu xuống sinh thổ và nhiều vết tích bếp nguyên thuỷ chứa đầy than tro, xương răng động vật, hiện vật đá, gốm các loại có đặc điểm thuộc văn hoá Phùng Nguyên [7]
Di chỉ Lũng Hoà (xã Lũng Hoà, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc)
được phát hiện năm 1963 Năm 1965-1966, Đội Khảo cổ đã đào 4 hố với diện tích 365m2 Từ cuối lớp thứ 3 xuất hiện một số hố đất đen phân bố không theo qui luật, hình dạng gần tròn, đường kính từ 0,3m-0,4m, sâu từ 0,1m-0,15m, trong hố chứa công cụ đá, một số mảnh gốm thô, kích thước khá lớn và hai hố tròn tương đối lớn, đường kính từ 1,2m-2,3m, sâu từ 0,7m-1,5m Những người khai quật cho rằng, những hố đất đen này lúc đầu được đào làm nơi cất dấu lương thực, dụng cụ, sau khi không dùng nữa nó biến thành chỗ chứa đựng những đồ gốm vỡ cũng như những vật hư hỏng hàng ngày [3] Để nghiên cứu thêm, năm 2000, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam đã mở một hố thám sát tại Lũng Hoà, diện tích 23m2 Trên bề mặt sinh thổ xuất hiện những hố đất đen lớn hình vuông kích thước khoảng 1m, sâu trên dưới 2m, ăn sâu vào sinh thổ, đất trong hố có màu đen lẫn nhiều than tro, đất nung, hiện vật đá và các mảnh gốm lớn có thể phục nguyên hoặc gần nguyên Hiện tượng này rất giống với các hố đất vuông ở di chỉ Đồng Đậu [29, 203]
Di chỉ Nghĩa Lập (xã Nghĩa Hưng, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh
Phúc) được phát hiện năm 1962-1963, được Đội Khảo cổ khai quật năm 1967,
5 hố với tổng diện tích 180m2 Lớp thứ 3 đã phát hiện được 17 hố đất đen rộng từ 0,8-1,0m, sâu khoảng 0,43-1,0m và 144 lỗ cọc, phân bố đều khắp diện tích khai quật Hiện vật trong hố đất đen không nhiều, chủ yếu là các mảnh gốm vỡ và một số đồ đá Có một số mảnh nồi vỡ còn tương đối lớn có thể phục chế được Đồ đá có rìu, vòng, bàn mài ở một số hố có dấu vết của than
Trang 17củi và một số tảng đất nung Những người khai quật cho rằng những hố đất đen này có thể là vết tích bếp của người đương thời [11]
Di chỉ Gò Hội (xã Hải Lựu, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc) được
phát hiện năm 2000 [5] và được Bộ môn Khảo cổ học khai quật hai lần năm
2002, 2003 với tổng diện tích là 267m2, gồm 6 hố khai quật và 1 hố thám sát
Tư liệu địa tầng cho thấy di chỉ này có những hố/lỗ đất đen được khoét sâu vào sinh thổ bên cạnh vết tích cư trú Đợt khai quật lần thứ nhất phát hiện được 26 hố đất đen, đợt khai quật lần thứ hai phát hiện được 11 hố đất đen Các hố đất đen này có hình dạng, kính thước và độ sâu khác nhau Dựa vào cấu trúc của các hố đất đen xuất hiện trong di chỉ, những người khai quật cho rằng những hố đất đen lớn có khả năng là mộ, một số hố đất đen nơi có nhiều than tro, đất nung có thể là vết tích bếp, một số khác chỉ là đống rác hoặc vết lan của một hố đất đen khác [8; 21]
Di tích Đình Chiền (xã Liên Hà, huyện Đông Anh - Hà Nội) được
phát hiện năm 2001 và được Bộ môn Khảo cổ học khai quật hai lần trong các năm 2002-2003, tổng diện tích 302m2 Tại địa điểm này đã phát hiện 34 hố /lỗ đất đen ăn sâu vào sinh thổ với mật độ dày, phân bố không theo qui luật [14; 9] Trong các hố đất đen có hiện tượng gốm cháy, lẫn than tro và nhiều cục đất nung, hiện vật tìm thấy gồm công cụ đá, phế liệu công cụ, đồ trang sức đá, bi gốm, chạc gốm và nhiều gốm vụn Một số hố đất đen khác tìm thấy những nồi vò lớn đặt nghiêng hoặc úp có thể phục nguyên So sánh với lần khai quật đầu tiên và kết quả khai quật của địa điểm Gò Hội những người khai quật Đình Chiền lần thứ hai đưa ra ý kiến có thể những hố đất thẫm màu đào vào sinh thổ này là một loại mộ táng của văn hoá Phùng Nguyên giai đoạn muộn [9]
Di chỉ Bãi Mèn (Cổ Loa-Đông Anh-Hà Nội) được phát hiện vào năm
1959, đến nay đã qua 4 lần thám sát và khai quật với tổng diện tích lên tới trên 700m2 Đợt khai quật tháng 10-2003 của Viện Khảo cổ học, cũng tìm
Trang 18thấy 23 hố đất đen đào sâu vào sinh thổ [12] trong đó có 1 hố có cấu trúc tương tự như một số hố đất đen ở Đình Chiền Di chỉ này đến nay chưa có báo cáo khai quật
Di chỉ Thành Dền (Tự Lập-Mê Linh-Vĩnh Phúc), được phát hiện năm
1970 và đã trải qua hai lần thám sát vào năm 1972, 1982, bốn lần khai quật vào các năm 1983, 1984, 1996, 2004 với tổng diện tích 179,5m2
[26; 24; 20; 10; 22] Cuộc khai quật lần thứ nhất, báo cáo khai quật có nhắc đến những hố đất đen đào vào sinh thổ sâu tới 2,5m nhưng không miêu tả cụ thể về kích thước và cấu trúc của chúng [26] Cuộc khai quật năm 2004, tại hố HI đã phát hiện 4 hố đất khá vuông xuất hiện từ lớp 11, có kích thước từ 0,8m-2,0m, sâu
từ 0,77m-1,26m đào sâu vào sinh thổ Những người khai quật đưa ra giả thiết rằng đây là những hố đào để lấy đất sét làm gốm, sau đó trở thành nơi vứt những đồ gốm, công cụ đá vỡ, hỏng Niên đại của các hố đất đen này thuộc giai đoạn Phùng Nguyên muộn và Đồng Đậu sớm [10; 22]
Như vậy, những kết quả nghiên cứu về hố đất đen qua các cuộc khai quật nêu trên cho thấy loại hình di tích hố đất đen xuất hiện khá phổ biến trong một số địa điểm thuộc giai đoạn văn hoá Phùng Nguyên muộn nhưng hầu như chưa được chú ý đúng mức và tách riêng để nghiên cứu
1.3 Kết quả khai quật di chỉ Gò Hội và Đình Chiền
1.3.1 Kết quả khai quật di chỉ Gò Hội
Di chỉ Gò Hội (toạ độ 21°28’30” vĩ độ Bắc, 105°20’50” kinh độ Đông) được Hoàng Xuân Chinh và Nguyễn Văn Ninh phát hiện lần đầu tiên tháng 5 năm 2000 và được Bộ môn Khảo cổ học -Khoa Lịch Sử - Trường ĐH KHXH&NV Hà Nội khai quật hai lần vào năm 2002, 2003 [5; 8; 2; 21]
Lần khai quật lần thứ nhất (tháng 12-2002), ba hố khai quật được mở
ở khu vực Tây Nam và Đông Bắc Gò Hội (sđ 1)
Trang 19Hố I (ký hiệu 02.GH.HI) có diện tích 30m2 (6x5m) được mở theo hướng Bắc-Nam, trên khu đất trống nằm sát đường đi và mương dẫn nước (góc phía Tây Nam gò) Hố II (ký hiệu 02.GH.HII) mở theo hướng Bắc-Nam,
có diện tích 90m2
(15x6m) được mở cách hố 02.GH.HI khoảng 8,3m về phía Bắc Hố III (ký hiệu 02.GH.HIII) diện tích 30m2
(6x5m) được mở ở phía Đông Bắc gò, hướng Bắc lệch Đông 550
Hố thám sát (ký hiệu 02.GH.TS) diện tích 1m2, được mở ở phía Đông
gò, cách hố I khoảng 100m
Tổng diện tích thám sát và khai quật lần thứ nhất là 151 m2
[8]
Ngoài ra, đoàn khai quật còn tiến hành khảo sát xung quanh khu vực
gò, thám sát hai vách Đông Nam và Tây Bắc của di chỉ
Diễn biến địa tầng giữa các hố trong đợt khai quật này có sự khác
nhau Hố khai quật 02.GH.HI và 02.GH.HII có địa tầng giống nhau (bv.1, 2),
và khác với địa tầng hố 02.GH.HIII (bv.3) và 02.GH.TS (bv.4)
Diễn biến địa tầng hố 02.GH.HI và 02.GH.HII:
- Lớp đất canh tác dày 40-50cm, đất vàng đỏ tơi xốp lẫn một số mảnh gốm thô và một vài mảnh gốm sứ muộn, đất khá mịn
- Dưới lớp đất canh tác, trên bề mặt của cả hai hố I và II xuất lộ nhiều vòng đất đầu ruồi sẫm màu (hố đất đen) trên mặt phẳng đất sét vàng đỏ, có đường kính trung bình trên 1m và những lỗ đất đen nhỏ, có đường kính dưới
30cm (ba.4) Các hố đất đen đều ăn sâu xuống sinh thổ, trong hố chứa gốm
vụn nén chặt lẫn đất nung, than tro và đôi khi cả thổ hoàng Những lỗ đất sẫm màu nhỏ đa phần có dạng gần tròn giống lỗ cột, chỉ chứa vài mảnh gốm nhỏ
và ít than tro Hiện vật thu được chủ yếu trên bề mặt, trong và dưới đáy những
hố đất đen, khu vực xung quanh hầu như không thấy hiện vật
- Sinh thổ là đất laterit cứng, màu đỏ
Trang 20Diễn biến địa tầng hố 02.GH.HIII:
- Lớp đất canh tác màu vàng đỏ dày khoảng 30-40cm, đất tơi mịn lẫn một số mảnh gốm thô, mảnh gốm sứ muộn
- Tầng văn hóa là lớp đất đầu ruồi sẫm màu, dàn trải không đều, dày khoảng 30-40cm ở góc A (phía gần vách ngoài của gò) và mỏng dần ở các góc B và D của hố khai quật (phía trong gò) Không thấy hiện tượng hố đất đen có chứa các cụm hiện vật như hai hố khai quật I và II ở phía Tây Nam gò,
do đó ở đây đã sử dụng phương pháp khai quật truyền thống bóc từng lớp dày 5cm Hiện vật khá thưa gồm một số mảnh gốm vụn và một vài công cụ đá như rìu, bàn mài Xuất lộ một số đồ gốm nguyên rải rác ở các ô d5, d6 Những đồ gốm này rất mỏng và bở nên rất khó phục dựng hình dáng Hiện vật đá và gốm của hố III không có sự khác biệt so với hố I và II
- Sinh thổ là đất Laterit màu đỏ, cứng
Hố thám sát được mở ở phía Đông, gần đỉnh gò Tại đây không thấy vết tích văn hoá Các tầng đất diễn biến như sau: Trên cùng là lớp canh tác đất màu nâu vàng, tơi xốp có lẫn một vài mảnh gốm thô và mảnh gốm sứ muộn Phía dưới là lớp đất màu nâu bị Laterit hoá cứng Dưới cùng là lớp đất Laterit cứng, màu đỏ lẫn sạn sỏi đá ong
Để tìm hiểu kỹ hơn về tính chất, chức năng, cấu trúc của những hố đất đen đã phát hiện trong đợt một, cũng như về loại hình di tích này trong văn hóa Phùng Nguyên, Bộ môn Khảo cổ học, Khoa Lịch Sử-Trường ĐH KHXH&NV Hà Nội đã tiến hành khai quật di chỉ Gò Hội lần thứ hai (tháng 12.2003) Lần này đoàn khai quật cũng mở ba hố khai quật ở các khu vực
Đông Nam và Tây Nam của Gò Hội (sđ 1)
Hố I (ký hiệu 03.GH.HI) diện tích 50m2
(10x5m), mở theo hướng Bắc
0
Trang 2102.GH.HII năm 2002, ở phía Tây Nam gò và nằm ở phía Đông Nam hố khai quật 02.GH.HII Khoảng cách tính từ góc A hố khai quật 02.GH.HII đến góc
C hố khai quật 03.GH.HI là 6m
Hố II (ký hiệu 03.GH.HII) diện tích 60m2
(10x6m), mở theo hướng Bắc Nam Hố này mở ở phía Đông Nam gò (sát với vách thám sát Đông Nam năm 2002 của di chỉ) với mục đích tìm kiếm những vết tích cư trú của cư dân
Gò Hội ở hố này tiếp tục xuất lộ những hố đất đen còn vết tích cư trú rất mờ nhạt nên hố khai quật thứ ba đã được mở
Hố III (ký hiệu 03.GH.HIII) diện tích 6m2
(3x2m) mở theo địa hình dọc theo bờ ruộng nơi có vách thám sát Đông Nam năm 2002, hướng Bắc lệch Đông
260 Hố này được mở ở phía Nam hố khai quật 03.GH.HII Khoảng cách tính từ góc C hố khai quật 03.GH.HII đến góc B hố khai quật 03.GH.HIII là 5m
Tổng diện tích khai quật lần hai là 116m2
[21]
Tư liệu địa tầng hai hố khai quật 03.GH.HI và 03.GH.HII tương đối giống nhau và khác với diễn biến địa tầng của hố 03.GH.HIII
Diễn biến địa tầng hố 03.GH.HI và 03.GH.HII:
03.GH.HI: Lớp mặt là đất canh tác màu đỏ vàng dày khoảng
30m-40cm, tơi xốp Hiện vật trong lớp này lẫn lộn gồm một số mảnh gốm cổ, rìu bôn, mảnh vỡ công cụ đá và mảnh sành, sứ muộn Sau lớp canh tác, trên bề mặt hố khai quật xuất lộ 6 hố đất đen có hình dạng khác nhau ăn sâu xuống sinh thổ, đường kính dao động từ 0,5m-2m, sâu từ 0,3m-1,8m và một số hố
cột nhỏ (ba 5, 6) Vì vậy chúng tôi sử dụng phương pháp khai quật truyền
thống là bóc từng lớp 5m-10cm đối với những khu vực có vết tích cư trú và
sử dụng phương pháp cắt 1/4 hoặc 1/2 đối với những hố/lỗ đất đen như ở lần khai quật đầu tiên
Trang 22Phần phía Bắc hố khai quật 03.GH.HI xuất lộ những khoang đất màu xám trắng hoặc xám đen loang lổ, là những vết tích cư trú của cư dân Gò Hội
Sinh thổ là lớp sét vàng đỏ ở độ sâu trung bình khoảng 50cm (bv.5)
03.GH.HII: Dưới lớp đất canh tác màu nâu (dày khoảng
30cm-40cm), bề mặt nửa phía Bắc hố khai quật xuất lộ 5 hố đất đen với độ sâu và
đường kính khác nhau (ba.7, 8) ăn sâu xuống sinh thổ Nhìn chung, những
hố đất đen trong hố khai quật 03.GH.HII không sâu và có hiện tượng đã bị san bạt ở bề mặt Nửa phía Nam hố khai quật xuất lộ vết tích của dấu tích cư trú, những vết tích này dày hơn ở góc C (góc phía Nam của hố khai quật) và
mỏng dần khi tiến ra giữa hố (ba.9) Những vết tích cư trú này có sự phân bố
men theo chân gò
- Sinh thổ là đất laterit cứng, màu đỏ (bv.6)
Để xác định dấu tích của khu vực cư trú, chúng tôi đã mở thêm hố khai quật 03.GH.HIII
Diễn biến địa tầng hố 03.GH.HIII:
- Lớp đất canh tác màu vàng đỏ dày khoảng 30cm-40cm, đất tơi mịn lẫn một số mảnh gốm thô, mảnh gốm sứ muộn
- Tầng văn hóa là đất đầu ruồi sẫm màu, dày khoảng 50cm Hiện vật xuất lộ khá dày trên khắp bề mặt hố, chủ yếu là mảnh gốm vụn và rất nhiều
mảnh bàn mài (ba.10) Hiện vật gốm và đá của hố III nhìn chung không khác
so với hố khai quật I và II
- Bề mặt sinh thổ lồi lõm và nghiêng theo hướng Tây Bắc- Đông Nam,
thoải theo địa hình của gò (ba.11) Sinh thổ là đất laterit màu đỏ, cứng (bv.7)
Kết quả khảo sát khoanh vùng di chỉ
Trang 23Trong lần khai quật đầu tiên, đoàn khai quật đã khảo sát xung quanh khu vực Gò Hội và mở hai vách thám sát ở những chân ruộng cao, một ở phía Đông Nam và một ở phía Tây Bắc gò
Địa tầng của hai vách thám sát Đông Nam và Tây Bắc của di chỉ khá đồng nhất: Phía dưới lớp đất canh tác màu nâu vàng, tơi xốp dày khoảng 30cm-40cm là lớp văn hóa dày khoảng 50cm Đất tầng văn hoá màu nâu xám lẫn sạn sỏi đá ong, khá cứng, có ken nhiều mảnh gốm, đất nung và đá Sinh
thổ là lớp đất laterit đỏ, cứng (ba.12, bv.8)
Đợt khai quật thứ hai, chúng tôi tiếp tục khảo sát những vách ruộng cao phía chân gò xung quanh di chỉ Trong số 5 vách thám sát năm 2003 (ký hiệu 03.GH.VTS) thì các vách 03.GH.VTS.1, 2 và 3 có địa tầng khá đồng nhất Các vách này được phát lộ rõ ở phía Đông và Đông Bắc di chỉ Vách 03.GH.VTS.1 mở nối tiếp về phía Bắc vách thám sát Đông Nam của năm
2002 Vách 03.GH.VTS.2 mở ở vách ruộng trên của hố khai quật 03.GH.HII phía Tây Bắc - cách hố khai quật 5m Vách 03.GH.VTS.3 ở phía Đông Bắc
gò
Địa tầng các vách 1, 2 và 3 cho thấy: Phía dưới lớp đất canh tác màu vàng đỏ, dày khoảng 30cm-50cm là tầng văn hóa Tầng văn hóa ở vách 03.GH.VTS.1 dày khoảng 50cm; các vách 03.GH.VTS.2 và 3 tầng văn hóa xuất lộ dày khoảng 20cm và còn tiếp tục ăn sâu xuống
Vách 03.GH.VTS.4 ở phía Tây gò, cách vách thám sát Tây Bắc năm
2002 khoảng 50m, vách 03.GH.VTS.5 ở phía Tây Nam gò - gần với các hố khai quật 02.GH.HI, 02.GH.HII và 03.GH.HI Địa tầng ở các vách này không liền khoảnh, dấu tích văn hóa xuất lộ theo dạng các hố đất đen ở dưới lớp canh tác Các hố đất đen xuất lộ trên các vách này rộng khoảng 2m-2,5m, sâu khoảng 0,8cm
Trang 24Qua hai đợt khai quật và dựa vào kết quả thám sát xung quanh khu vực Gò Hội, chúng tôi ước tính dấu tích văn hóa của di chỉ rộng khoảng 10.000m2 trên tổng diện tích khoảng 20.000m2 của gò và được phân bố xung quanh phía chân gò ở đỉnh gò chưa phát hiện được vết tích văn hóa [21]
Tổng số hiện vật thu được trong hai lần khai quật gồm 430 hiện vật đá (39 rìu bôn, 3 đục đá, 100 mảnh vỡ công cụ, 258 bàn mài, 18 mảnh vòng, 1 hạt chuỗi ), 85 hiện vật gốm (12 dọi se sợi, 21 bi gốm, 2 tượng(?) động vật, 2 mảnh gốm ghè tròn, 1 vật hình con dấu(?) gốm, các loại bình, nồi, muôi gốm ) và 96.408 mảnh gốm các loại [2]
1.3.2 Kết quả khai quật di chỉ Đình Chiền
Di chỉ Đình Chiền được Bộ môn Khảo cổ học phát hiện năm 2001 khi công trường làm mương nước và đường liên xã phá huỷ một phần di tích Di chỉ được thám sát, khai quật lần thứ nhất (từ tháng 8 đến tháng 10) năm 2002 với tổng diện tích là 132m2
[14], khai quật lần thứ 2 (tháng 12-2003) với tổng diện tích 170m2
[9] Qua hai đợt khai quật, chúng tôi ước tính di chỉ phân bố trên khu vực cánh đồng Đình Chiền trong diện tích khoảng 10.000m2
Lần khai quật thứ nhất, Bộ môn Khảo cổ học mở 4 hố thám sát, và 2
hố khai quật Các hố thám sát và khai quật đều nằm về phía Tây con đường
liên xã từ Bắc Ninh đến Đông Anh (ba.13) Diện tích mỗi hố thám sát là 3m2
(ba 14) Hố khai quật thứ nhất ký hiệu 03.ĐC.HI, được
mở trên thửa ruộng bên trái mương nước, diện tích 50m2
(10x5m) Hố khai
Trang 25quật thứ hai có diện tích 60m2
(10x6m), ký hiệu 03.ĐC.HII Hố khai quật thứ
ba có diện tích 60m2
(10x6m), ký hiệu 03.ĐC.HIII (sđ.2) [9]
Cả hai lần khai quật di tích Đình Chiền, các nhà khảo cổ đều không xác định được tầng văn hoá mà chỉ xác định được cấu tạo các lớp đất Các hố thám sát và khai quật năm 2002 và 2003 có cấu tạo các lớp đất khá thống nhất
Lớp canh tác là lớp đất phù sa màu xám bạc, tơi xốp, pha nhiều cát, mềm, dày từ 0,15m-0,2m, hầu như không có hiện vật Dưới lớp canh tác là lớp đất mỏng màu nâu xám lẫn gốm, đá, đất nung khá cứng, dày từ 0,05m-0,1m Sinh thổ là lớp sét vàng quánh pha lẫn sỏi laterit màu nâu đỏ
Ngay sau khi bóc hết lớp đất canh tác, ở độ sâu từ 0,18m-0,2m, trên bề mặt tất cả các hố khai quật của hai đợt đều có chung một hiện tượng rất phức tạp: Trên mặt sinh thổ xuất lộ các vòng đất sẫm màu là miệng của các hố đất đen lẫn nhiều than tro, hiện vật đá và gốm vụn nén chặt có kích thước lớn nhỏ
khác nhau Tại 02ĐCHI phát hiện được 9 hố đất đen (ba.15), 02ĐCHII phát hiện được 4 hố đất đen (bv.9) Tại 03ĐCHI phát hiện 5 hố đất đen, 03ĐCHII phát hiện 5 hố đất đen, 03ĐCHIII phát hiện 11 hố đất đen (ba 16, 17, 18; bv.10-12) Số lượng các hố đất đen không chỉ tập trung trong khu vực các hố
khai quật mà còn có thể quan sát thấy dấu tích nhiều hố đất đen trên vách ruộng liền kề hoặc trên vách mương nước chạy song song
Theo dân địa phương thì vào những năm 60-70, khu vực Đình Chiền đã
bị san ủi để hạ thấp độ cao đồng ruộng để giữ nước cấy lúa Trong khi san ủi người dân thấy nhiều mảnh gốm, rìu đá Tầng đất văn hoá có lẽ đã bị đào bỏ
và sử dụng để san lấp các ao hồ, các vũng đất trũng [14] Tuy nhiên, cấu tạo các lớp đất và vị trí, cấu tạo lớp đất và vị trí, cấu trúc các hố đất đen không cho thấy có hiện tượng tầng văn hoá bị bạt mất phần trên
Trang 26Hiện vật thu được trong hai lần khai quật gồm 197 hiện vật đá (32 rìu bôn, 1 đục, 127 bàn mài, 18 mảnh vòng, 2 vuốt đá, 3 lõi vòng ), 31 hiện vật gốm (1 dọi xe chỉ, 18 bi gốm, 4 bình, 1 nồi, 4 bát, 18 mảnh chân giò ), 2.235 cục đất nung và 28.291 mảnh gốm các loại
1.4 Tiểu kết chương 1
Trong chương 1, chúng tôi đã trình bày khái quát về vị trí địa lý, cấu tạo địa chất, địa hình, cảnh quan di chỉ Gò Hội (Lập Thạch - Vĩnh Phúc) và di tích Đình Chiền (Liên Hà - Đông Anh) Từ đó có thể thấy Gò Hội và Đình Chiền sớm là nơi hội tụ những điều kiện thuận lợi cho cuộc sống của cư dân thời nguyên thuỷ
Tiếp đó, chúng tôi điểm qua những phát hiện và nghiên cứu về loại hình di tích hố đất đen trong một số di chỉ thuộc văn hoá Phùng Nguyên như Phùng Nguyên, Nghĩa Lập, Lũng Hoà, Bãi Mèn, Gò Hội, Đình Chiền, Thành Dền Rõ ràng, việc hệ thống tư liệu và tìm hiểu về loại hình hố đất đen trong các di chỉ thuộc văn hoá Phùng Nguyên vẫn chưa được chú ý nghiên cứu như một loại hình di tích riêng biệt Vì vậy, việc tìm hiểu loại hình di tích hố đất đen trong các di chỉ trên sẽ giúp chúng ta có điều kiện nhìn lại và nghiên cứu
kỹ hơn về một loại hình di tích độc đáo trong văn hoá Phùng Nguyên
Phần cuối chương 1 chúng tôi trình bày sơ lược kết quả khai quật di chỉ Gò Hội và Đình Chiền
Trang 27Chương 2
Đặc điểm các hố đất đen trong di chỉ Gò Hội và đình Chiền
2.1 Đặc điểm các hố đất đen trong di chỉ Gò Hội
2.1.1 Phân loại
Trong luận văn, chúng tôi dùng khái niệm hố đất đen để chỉ những hố
đất ăn sâu xuống sinh thổ không có hình dạng cố định, đường kính và độ sâu trên 30cm, đất trong hố đen, chứa nhiều hiện vật gốm, đá, than tro, đất nung
và mảnh gốm vụn Hố nhỏ dạng hố cột là một khái niệm khác để chỉ những lỗ
đất đen hình gần tròn, đường kính và độ sâu dưới 30cm, hầu như không chứa hiện vật, phân bố rải rác khắp di chỉ
Hai lần khai quật địa điểm Gò Hội đã phát hiện được tổng cộng 37 hố
đất đen (b.1) Trong đó, đợt khai quật lần thứ nhất phát hiện được 26 hố,
đợt khai quật lần thứ hai phát hiện được 11 hố Các hố đất đen này phân bố như sau: Hố khai quật 02.GH.HI có 3 hố; 02.GH.HII có 23 hố; 03.GH.HI có 6 hố; 03.GH.HII có 5 hố
Các hố đất đen trong di chỉ Gò Hội có hình dạng, kính thước và độ sâu khác nhau Phần lớn các hố có miệng hình tròn, hình elip, hình gần vuông nhưng cũng có những hố không có hình dạng nhất định Kích thước của các
hố đất đen này có sự dao động trong khoảng từ 70cm-250cm Độ sâu của các
hố đất đen cũng có sự cách biệt lớn, có hố chỉ sâu 7cm (tính từ mặt bằng
lớp 1) nhưng có những hố lại sâu tới 150cm (b.2-3)
Về mặt cấu trúc, các hố đất đen tại di chỉ Gò Hội xuất hiện ngay trên
bề mặt sinh thổ và ăn sâu xuống sinh thổ, chứng tỏ những hố này được người xưa đào vào sinh thổ Một số hố đất đen có kích thước và độ sâu lớn, đất trong hố có một lớp sét vàng ngăn cách giữa hai lớp đất đen và đáy hố có hố nhỏ ăn sâu xuống Trong lớp đất đen có những cụm gốm sắp đặt có chủ ý
Trang 28Một số hố đất đen kích thước và độ sâu lớn nhưng không có lớp sét vàng ngăn cách giữa các lớp đất đen, đáy hố tương đối phẳng, trong lớp đất đen có những cụm gốm sắp đặt có chủ ý [21, 21-31] Có những hố hình dạng không xác định, kích thước khá lớn, sâu trên 50cm Đất trong hố màu xám đen, cứng, có hiện tượng bị đốt cháy Trong hố có nhiều đất nung, than tro và một
số hiện vật đá, gốm nằm rải rác Có những hố đất có màu đen, nâu đen hoặc màu xám trắng, hố nông, trong hố có một vài cụm gốm nhỏ hoặc gốm vụn nằm rải rác trong hố không theo quy luật
Dựa vào hình dạng, kích thước, độ sâu, cấu trúc và sự phân bố hiện
vật (b.6-7), bước đầu có thể chia các hố đất đen tại Gò Hội thành 4 loại
Loại 1: 4 hố, là những hố đất đen hình tròn hoặc gần tròn, sâu trên
100cm, đường kính hố khoảng 150cm - 200cm, vách hố được đào cẩn thận,
có xu hướng thu hẹp dần về phía đáy Tại một số hố, vách được đắp một lớp sét vàng mỏng khoảng 5cm Miệng hố rộng, đáy hố có hiện tượng bị khoét hàm ếch và có một số hố nhỏ ăn sâu xuống Đất trong hố có có màu nâu đen hoặc đen thẫm, ken dày mảnh gốm, than tro, đất nung, có một lớp sét vàng không chứa hiện vật ngăn thành hai lớp Trong lớp đất đen tìm thấy hiện vật
đá như rìu bôn, mảnh công cụ, bàn mài, mảnh vòng, mảnh vỡ của một số hiện vật gốm có thể phục dựng lại hình dáng và nhiều mảnh gốm vụn
02.GH.HII.h20: thuộc ô c.d.14.15,
hình tròn, đường kính 190cm, sâu 130cm
Miệng hố loe rộng, phần đáy hố hơi rộng
hơn phía trên Đáy hố khá bằng phẳng, có 1
hố tròn nhỏ đường kính 35cm, ăn sâu xuống
sinh thổ 38cm Đất trong hố có hai lớp được
ngăn cách với nhau bằng một lớp đất sét
Mặt cắt hố đất đen 02.GH.HII.h20
Trang 29Lớp đất bên trên màu nâu đen lẫn nhiều mảnh gốm vụn, đất nung và than tro Phía dưới, qua vành đất sét vàng đỏ lõm hình lòng chảo trải đều khắp
hố, dày khoảng 15cm là một lớp đất màu đen thẫm lẫn nhiều than tro và hiện vật gốm, đá Hiện vật phân bố dày đặc ở hai lớp đất đen phía trên và phía dưới Đồ gốm và hiện vật đá nằm thành cụm chủ yếu trên vách phía Bắc, ở độ sâu 94 - 99cm Dưới đáy hố có 1 thố gốm còn khá nguyên vẹn Rìa trong và rìa ngoài của vành đất sét ngăn cách giữa hố có những mảnh gốm khá lớn
găm đứng (ba.19; bv.13) Hiện vật trong hố bao gồm: 1 rìu bôn, 4 mảnh công
cụ, 19 bàn mài, 1 mảnh tước, 1 dọi xe chỉ, 1 núm gốm, 4 thỏi đất nung, 152 cục đất nung, 7.618 mảnh gốm
03.GH.HI.h7: thuộc ô a.4.5, miệng hố rộng,
gần tròn, đường kính 140cm, sâu 102cm Đất trong
hố có hai lớp: lớp trên màu đen lẫn mảnh gốm,
hiện vật đá và đất nung; lớp dưới có màu nhạt hơn
Giữa hai lớp đất này được ngăn cách bởi một lớp
sét màu vàng không rõ ràng Quanh thành và đáy
hố được đắp một lớp sét vàng mỏng (ba.20) Mặt cắt hố đất đen 03.GH.HI.h7
Vách hố có hiện tượng bị khoét hàm ếch Đáy hố có một hố hình tròn nhỏ, đường kính 40cm, sâu 21cm Hiện vật gốm, đá xuất lộ thành cụm ngay
từ trên mặt hố ở lớp đất đen phía dưới lớp sét vàng có nhiều mảnh gốm lớn, trong đó có một thố gốm đã bị vỡ nát nhưng còn có thể phục dựng lại hình
dáng (bv.14) Quanh thố gốm này tìm thấy 3 rìu bôn đá và 2 mảnh vỡ công
cụ
Trang 30Hiện vật trong hố bao gồm: 3 rìu bôn, 12 mảnh vỡ công cụ, 9 bàn mài,
1 mảnh tước, 1 tượng gốm (?), 7 thỏi đất nung, 1 mảnh chân giò và 3.068 mảnh gốm
03.GH.HI.h9: phần lớn hố ăn vào
vách CD và một phần nhỏ nằm ở vách AD
Chiều rộng nhất của hố đo được trên vách
BC là 200cm, sâu 142cm Đất trong hố màu
nâu đen có lẫn một ít sét vàng không rõ
ràng và không thành lớp như ở 03GHH1h5 Mặt cắt hố đất đen 03.GH.HI.h9
Mảnh gốm vụn co cụm thành lớp từ trên bề mặt Đáy hố được đắp một lớp sét vàng mỏng, ở độ sâu 140cm, xuất lộ những mảnh vỡ của một nồi gốm lớn, có thể phục nguyên được Đáy hố có một hố tròn nhỏ đường kính 35cm,
sâu 44cm, hố này còn 1/2 nằm trong vách BC (ba.21; bv.15) Hiện vật trong
hố bao gồm: 1 rìu bôn, 4 mảnh vỡ công cụ, 2 bàn mài, 1 mảnh tước, 1 thỏi đất nung, 58 cục đất nung, 3.127 mảnh gốm
03.GH.HI.h5: thuộc ô c.d.2.3, hố có hình dạng gần số 8 nằm theo
hướng Tây Bắc - Đông Nam Một chiều 170cm, chiều kia 240cm Bề mặt hố
có hiện tượng bị san bạt nhưng không nhiều Hố này chia làm hai nửa, nửa hố phía Tây Bắc nông hơn, sâu 40cm, có một cụm hiện vật phân bố khá gọn trên
một nền gốm; nửa hố ở phía Đông Nam sâu 128cm (ba.22)
Trang 31ở lớp trên hiện vật nhỏ không đều, lớp
dưới có nhiều mảnh gốm lớn hơn Đáy hố có
một hố nhỏ, hình gần tròn, kích thước
40cmx50cm, xung quanh là 4 hố nhỏ phân bố
vuông góc cũng theo hướng của hố đất đen,
mỗi hố có đường kính 10cm, sâu khoảng 5cm
Đất trong hố nhỏ này rất đen, chứa nhiều
mảnh gốm lớn của một hiện vật, có thể phục
Các lớp đất trong hố chia thành ba lớp, lớp đất trên cùng màu đen, ở giữa lớp này có một lớp đất lẫn nhiều đá ong màu đỏ sẫm, đất rất đen giống như bị đốt cháy Giữa hố là một lớp sét vàng lẫn laterit đỏ không có hiện vật, phủ đều khắp bề mặt hố sâu, lõm hình lòng chảo, dày khoảng 20cm Dưới cùng là một lớp đất đen thẫm lẫn nhiều hiện vật đá và những mảnh gốm lớn Xung quanh thành hố có hiện tượng được đắp một lớp sét mỏng Mảnh gốm phân bố thành nhóm và xuất lộ ngay trên bề mặt hố đất đen
Hiện vật gốm, đá tập trung ở giữa hố và ăn sâu xuống dưới, có nhiều mảnh gốm lớn, một số mảnh có thể phục dựng lại hình dáng Đáng chú ý là phía dưới lớp đất đen phát hiện được 2 hiện vật bằng đá cát, hiện vẫn chưa rõ chức năng Hiện vật thứ nhất hình cầu, một đầu lõm xuống, đầu kia có lỗ khoan sâu vào giữa Hiện vật thứ hai hình trụ, các mặt được mài nhẵn, một phần đã bị vỡ Ngoài ra hai hiện vật trên, rải rác trong hố còn có 2 rìu bôn, 10 mảnh vỡ công cụ, 28 bàn mài, 4 mảnh vòng, 2 hiện vật đá (?), 1 mảnh gốm ghè tròn, 2 núm gốm, 32 cục đất nung, 1 hiện vật gốm hình con dấu và 3.231 mảnh gốm
Loại 2: 12 hố, là những hố đất đen hình tròn hoặc gần tròn, đường
kính dao động trong khoảng 100-200cm, sâu từ 50cm trở lên Đất trong hố
Trang 32màu nâu đen hoặc đen thẫm, ken dày gốm, đá Một số hố được đắp một lớp sét vàng dày khoảng 5cm xung quanh thành và đáy Đáy hố tương đối phẳng, được gia công cẩn thận bằng các lớp sét vàng và sạn sỏi đá ong.Trong hố có những cụm gốm lớn Phía đáy hố thường có những hiện vật gốm được sắp đặt
có chủ ý, những hiện vật này phần lớn đã vỡ vụn, một số ít có thể phục dựng lại hình dáng Mảnh gốm vỡ trong những hố đất đen này thường lớn hơn những mảnh gốm vỡ trong tầng văn hóa
03.GH.HII.h2 thuộc ô a.2, có hình tròn, đường kính 110cm, sâu 97cm
(bv.17) Đất trong hố chia làm nhiều lớp: Lớp đất trên màu xám đen dày
khoảng 50cm, có chứa hiện vật đá và cụm gốm vụn Tiếp theo là lớp đất sét vàng lẫn ít đất xám và một vài mảnh gốm vụn nhỏ Lớp dưới là sạn sỏi lateritmàu đỏ lẫnmột vài mảnh gốm vụn và than tro (ba.23)
Các lớp đất phía dưới mỗi lớp dày khoảng
5cm và trải không đều Đáy hố tương đối
phẳng.Vách và đáy hố được đắp một lớp sét
vàng xám, dày khoảng 5cm Sinh thổ là lớp
sạn sỏi laterit màu đỏ Hiện vật trong hố
gồm: 2 rìu bôn, 5 bàn mài, 1 dọi xe chỉ, 18
cục đất nung và 870 mảnh gốm
M ặt cắt hố đất đen 03.GH.HII.h2
03.GH.HII.h3 thuộc ô a.2.3, hình tròn hơi thu hẹp về phía đáy, đường
kính miệng hố 116cm, đường kính đáy hố 90cm, hố sâu 85,5cm Đất trong hố chia làm hai lớp: Lớp trên đất màu xám đen có nhiều mảnh gốm vụn rải rác, gốm tương đối thuần nhất, có một số mảnh nồi lớn có thể phục dựng được, phía gần sát đáy hố có nhiều mảnh vỡ lớn của nồi gốm xếp chồng lên nhau Lớp thứ hai ở phía Bắc hố trải đến giữa hố và không có ở phía Nam hố là đất
Trang 33laterit màu đỏ lẫn một số mảnh gốm vụn,
dày khoảng 20cm Quanh thành và đáy hố
được đắp một lớp sét vàng dày khoảng
5cm Đáy hố tương đối phẳng Sinh thổ là
lớp sạn sỏi laterit màu đỏ (bv.17; ba.24)
Hiện vật trong hố gồm: 5 bàn mài, 15 cục
02.GH.HI.h1 một nửa nằm ở những ô a.b.1, nửa hố còn lại nằm trong
vách AB Hố có dạng gần tròn, đường kính 120cm, sâu 67,3cm Đất có màu nâu đen, cứng, lẫn mảnh gốm, đất nung và than tro Hố đất đen này có nhiều
hố nhỏ dạng như hố cột phân bố xung quanh miệng hố Phía Đông Bắc, ở độ sâu 21,8cm có nhiều mảnh gốm vụn phân bố thành nhóm và còn ăn vào vách
AB (ba.25) Hiện vật trong hố gồm: 1 bàn mài, 1 thỏi đất nung, 2 đáy chõ
gốm, 1.148 mảnh gốm
02.GH.HI.h2 thuộc ô d.e.g.2.3, miệng hố hình gần tròn, đường kính
gần 250cm, được chia làm hai phần: phần phía Đông rất nông, sâu 62,5cm; phần phía Tây sâu hơn khoảng 117cm Đất trong hố có ba lớp: Lớp trên cùng màu nâu xám lẫn gốm và than tro, Lớp giữa là đất sét vàng lẫn đất đen và nhiều mảnh gốm Lớp dưới màu xám lẫn mảnh gốm vụn và than tro Tuy nhiên, sự ngăn cách giữa các lớp đất này không rõ ràng Đồ gốm, đồ đá phân
bố tập trung xung quanh vành và dưới đáy hố sâu Từ độ sâu 75cm xuất lộ những cụm gốm và ở đáy hố có một số cụm đồ gốm được sắp đặt có chủ ý Quanh miệng hố có nhiều hố nhỏ dạng hố cột Hiện vật tìm được trong hố gồm: 1 rìu bôn, 10 bàn mài, 1 mảnh vòng, 2 dọi xe chỉ, 1 bi gốm, 1 tượng gốm, 6 thỏi đất nung, 14 mảnh chân giò, 3.319 mảnh gốm
02.GH.HI.h3 thuộc ô a.b.3.4, hình gần tròn, đường kính 200cm chia
làm hai phần, phần phía Đông Bắc ít hiện vật và nông hơn, độ sâu 25cm; phần phía Tây Nam sâu khoảng 50cm Dưới đáy và quanh thành nửa phía Tây của
Trang 34hố có những hiện vật gốm và đất nung dày đặc nằm thành dải giữa hố Đất màu nâu xám lẫn nhiều mảnh gốm vụn, than tro và đất nung, đất cứng Đáy
hố có một số cụm đồ gốm được sắp đặt có chủ ý (ba.26) Quanh miệnh hố có
nhiều hố nhỏ dạng hố cột Hiện vật trong hố gồm: 3 rìu bôn, 2 mảnh vỡ công
cụ, 12 bàn mài, 4.401 mảnh gốm
02.GH.HII.h1 thuộc ô a.b.c.1.2, nửa hố còn nằm trong vách AB nên
không rõ hình dạng, chiều dài lớn nhất 200cm Đáy hố sâu 79,5cm, có một hố tròn nhỏ, đường kính 22cm, sâu 19cm Đất trong hố màu nâu xám, đáy hố có than tro và đất nung nhỏ Hiện vật trong hố bao gồm 3 rìu bôn, 11 bàn mài, 1 mảnh vòng, 3 mảnh chân giò, 146 cục đất nung, 4.293 mảnh gốm
02.GH.HII.h2 thuộc ô a.b.3.4, còn một phần ăn vào vách AD, đường
kính 150cm; đáy hố sâu 98,5cm Đáy hố có hố tròn nhỏ, đường kính 20cm, sâu 12,5cm Đất màu nâu xám lẫn nhiều mảnh gốm vụn, đất nung và than tro Hiện vật trong hố bao gồm 3 mảnh vỡ công cụ, 14 bàn mài, 5 thỏi đất nung, 2 mảnh chân giò, 333 cục đất nung, 6.639 mảnh gốm
02.GH.HII.h7 thuộc ô
c.d.4.5.6 hố tròn, đường kính 190cm,
sâu 69cm Đất trong hố cứng, màu
xám lẫn than tro, đất nung, mảnh
gốm vụn Góc phía Tây, ở độ sâu
47cm xuất lộ một số mảnh gốm Mặt bằng, mặt cắt hố đất đen 02.GH.HII.h7lớn của một nồi gốm có thể phục nguyên được Đáy hố cũng có một số mảnh
gốm vỡ lớn tập trung, có vẻ được sắp đặt một cách có chủ ý (ba.27)
Xung quanh miệng hố có nhiều hố dạng hố cột nhỏ Hiện vật trong hố gồm: 15 bàn mài, 1 dọi xe chỉ, 1 bi gốm, 3 thỏi đất nung, 1 mảnh chân giò, 14 cục đất nung, 1.096 mảnh gốm
Trang 3502.GH.HII.h8 thuộc ô c.d.6.7, miệng hố hình gần tròn, đường kính
135cm, sâu 55,5cm Hố này cắt phá một phần hố 02GHHIIh9 Đất trong hố màu nâu đen, cứng, lẫn nhiều đất nung màu đỏ, một số mảnh gốm vụn và than tro Giữa hố có một dải sét vàng không đều, dày khoảng 4cm, rộng khoảng 60cm Đáy hố tương đối phẳng, có một số mảnh gốm vỡ lớn Hiện vật trong
hố gồm: 1 đục đá, 3 mảnh vỡ công cụ, 3 bàn mài, 2 mảnh vòng, 1 bi gốm, 54 cục đất nung, 774 mảnh gốm
02.GH.HII.h9 thuộc ô d.e.g.5.6.7, dạng gần hình tròn, đường kính
185cm, sâu 82cm Đáy hố có hố tròn nhỏ, đường kính 30cm, sâu 24,5cm Đất trong hố, lớp trên màu nâu xám, lớp dưới đất màu nâu đỏ; lẫn nhiều mảnh gốm vụn, than tro và đất nung Xuất lộ một cụm gốm ở giữa hố, ở ô d.e.5 Hiện vật trong hố gồm: 1 mảnh vỡ công cụ, 5 bàn mài, 137 cục đất nung và 2.606 mảnh gốm
02.GH.HII.h12 thuộc các ô b.c.d.12.13.14, không có hình dạng xác
định, một chiều dài 180cm, chiều kia dài 110cm; sâu 62,5cm Nửa phía Bắc
hố có cụm gốm lớn Nhiều mảnh miệng dày có trang trí hoa văn, mảnh gốm
có văn thừng, miệng bát bồng, miệng bình, mảnh thân nồi Đất trong hố màu
đen lẫn rất nhiều mảnh gốm, than tro và đất nung (ba.28) Gần cụm gốm đất
có màu đỏ Quanh hố đất đen này có những hố dạng hố cột nhỏ Hiện vật trong hố gồm: 1 đục đá, 8 mảnh vỡ công cụ, 4 bàn mài, 3 mảnh vòng, 1 bát gốm, 1 dọi xe chỉ, 2 núm gốm, 157 cục đất nung, 7.567 mảnh gốm
02.GH.HII.h13 thuộc ô e.g.2.3, có hình dạng gần tròn, một phần hố ăn
vào vách BC, đường kính 160cm, sâu 107,5cm Đất trong hố chia làm ba lớp không rõ ràng Lớp trên đất màu nâu đen lẫn gốm, đất nung Lớp giữa đất màu nâu đỏ Lớp dưới đất màu nâu đen thuần, dày, nhiều than tro Đáy hố và xung quanh thành hố phía gần đáy xuất lộ nhiều hiện vật đá, đồ gốm nguyên
và có thể phục nguyên cùng nhiều mảnh gốm vỡ có kích thước lớn hơn so với
Trang 36mảnh gốm vỡ trong tầng văn hóa (ba.29) Hiện vật trong hố gồm: 1 rìu bôn, 6
bàn mài, 1 mảnh vòng, 1 bi gốm, 2 thỏi đất nung, 170 cục đất nung, 1.770 mảnh gốm
Loại 3: 4 hố, là những hố hình dạng không xác định, kích thước khá
lớn, sâu trên 50cm Đất trong hố cứng, màu xám đen, có hiện tượng bị đốt cháy Trong hố có nhiều đất nung, than tro và một số hiện vật đá, gốm nằm rải
rác Có khả năng đây là vết tích bếp lửa
02.GH.HII.h18 thuộc ô e.g.11.12, hình gần tròn, đường kính
170cm, sâu 58,2cm Đất trong hố màu nâu xám, hơi đen lẫn nhiều mảnh gốm và than tro
Phía ô g.11.12 gần 02GHHIIh19 có
hiện tượng đất cháy màu đỏ lẫn
nhiều mảnh gốm (hiện tượng gần
giống h19) Trong hố có nhiều cục
đất nung to nằm ở rìa bên ngoài, bên
trong chứa nhiều hiện vật: bàn mài,
vòng, rìu bôn và mảnh gốm (ba.30) Mặt bằng, mặt cắt hố đất đen 02.GH.HII.h18
Bên dưới là đất nung có màu đỏ tươi Xung quanh cụm đất nung có lớp than tro dày Cụm gốm lớn lẫn đất nung và đá tập trung ở nửa Đông Nam của
hố Hiện vật trong hố gồm: 2 rìu bôn, 5 mảnh vỡ công cụ, 9 bàn mài, 1 mảnh gốm ghè tròn, 1 thỏi đất nung, 131 cục đất nung, 1.969 mảnh gốm
Trang 3703.GH.HI.h6 thuộc ô a.3.4,
hố này ăn vào vách AD nên không
quan sát được hình dạng Độ dài hố
đo ở vách AD là 190cm, sâu 50cm
Đất trong hố màu nâu đen có lẫn
đất nung cháy ngay từ lớp trên,
giữa hố xuất lộ một cụm gốm vụn Mặt bằng, mặt cắt hố đất đen 03.GH.HI.h6
ăn vào vách AD (ba.31) ở phía gần hố đất đen 03.GH.HI.h5 có hiện tượng
lớp sét phủ trên nhóm đồ gốm Hiện vật trong hố gồm: 1 rìu bôn, 1 mảnh vỡ công cụ, 2 bàn mài, 1 hạt chuỗi, 1 dọi xe chỉ, 51 cục đất nung, 987 mảnh gốm
02.GH.HII.h19 thuộc ô e.12.13 hình dạng gần tròn, nửa hố ăn vào
vách BC, đường kính 70cm, sâu 53cm Đất trong hố màu xám đen, lẫn mảnh gốm vụn, than tro và đá ong Sát vách Tây là một khu đất màu đỏ, có lớp than tro và thổ hoàng cùng nhiều mảnh gốm Đất trong hố cứng hơn hẳn so với
khu vực xung quanh (ba.32)
02.GH.HII.h16 thuộc ô e.g.7.8.9, có hình dạng không xác định, một
chiều dài 180cm, một chiều dài 150cm; sâu 78cm Đáy hố ở góc Đông Bắc có một hố cột đường kính 30cm, sâu 8cm Đất trong hố chia làm ba lớp: Lớp đất nâu đỏ chỉ có ở góc phía Nam, tiếp đến lớp đất màu nâu xám, lẫn nhiều mảnh gốm vụn, đất nung và than tro, dưới cùng là một dải than tro lẫn gốm dày khoảng 5cm Hiện vật trong hố gồm: 2 mảnh vỡ công cụ, 1 bàn mài, 1 mảnh tước, 1 dọi se sợi, 1.462 mảnh gốm
Loại 4: 15 hố, là những hố có hình dạng không xác định, có thể chỉ là
vết loang của hố đất đen khác Đất trong những hố này có màu xám đen hoặc xám trắng, chứa một vài cụm gốm nhỏ hoặc chứa một vài mảnh gốm vụn,
Trang 38giống như gốm trong tầng văn hóa, nằm rải rác Một số hố khác có hình dạng khá tròn, nông, có thể là đáy của một hố đất đen đã bị san bạt phần trên
03.GH.HI.h8 thuộc ô b.c.4.5 hố
nông, không có hình dạng rõ ràng; một
phần tiếp tục ăn vào vách BC Chiều rộng
hố đo trên vách BC 180cm; chiều dài hố
từ giữa hố tính đến vách BC là 250cm
Đất trong hố màu xám trắng ăn lan ra
giữa hố và chứa 5 cục đất nung, 699
mảnh gốm vụn
02.GH.HII.h3 thuộc ô a.b.8.9.10
một phần ăn vào vách AD, đường kính
160cm, sâu 87cm Đáy hố có hố tròn nhỏ,
đường kính 28cm, sâu 17cm Lớp trên có
nhiều gốm và than tro, đất xám đen,
cứng
Mặt bằng, mặt cắt hố đất đen 03.GH.HI.h8
Lớp dưới đất màu nâu đen, lẫn nhiều than tro, đất nung và một vài
mảnh gốm, đất cứng (bv.18) Hố này liền với hố đất đen h4 và có thể cả hai
cùng là một hố Hiện vật trong hố bao gồm 1 mảnh vỡ công cụ, 4 bàn mài, 1 mảnh tước, 1 dọi se sợi, 4 thỏi đất nung, 139 cục đất nung, 3.104 mảnh gốm
02.GH.HII.h4 thuộc ô a.b.10.11, một phần ăn vào vách AD, đường
kính 130cm, sâu 87cm Đáy hố có hố tròn nhỏ, đường kính 19cm, sâu 19cm Hiện vật trong hố bao gồm 1 đục đá, 1 thỏi đất nung, 19 cục đất nung, 382 mảnh gốm
02.GH.HII.h5 thuộc ô a.12.13, đường kính 100cm, đáy hố sâu 45cm
Đất trong hố màu nâu đỏ chứ không đen như các hố khác, hầu như không chứa hiện vật gốm, đá đáng kể nào ngoài 102 mảnh gốm vụn
Trang 3902.GH.HII.h6 thuộc ô b.c.1, phần lớn hố ăn vào vách AB Hình dạng
gần tròn đường kính 140cm, sâu 96,5cm Đất màu nâu xám, chứa ít gốm vụn (306 mảnh)
02.GH.HII.h10 thuộc ô b.c.d.8.9, đường kính 160cm, sâu 53cm Đất
trong hố màu nâu xám, ở góc hố có một hố nhỏ hơn hình gần tròn, đường kính 80cm, sâu 82,5cm; một phần của hố nhỏ này ăn sang hố đất đen 11
(bv.18)
02.GH.HII.h11 thuộc ô b.c.d.9.10, đường kính 120, sâu 53cm Hố
đất đen này tiếp nối với hố đất đen 10 tạo thành một hố đất đen gần hình số
8, tuy nhiên trên bề mặt xuất lộ thành hai khoảng đất đen ở gần nhau Trong
hố xuất lộ rải rác 1 mảnh vỡ công cụ, 2 bàn mài, 45 cục đất nung và 1.346 mảnh gốm vụn
02.GH.HII.h14 thuộc ô g.5.6, nửa hố này ăn vào vách BC, phần phía
Nam hố tiếp giáp với hố đất đen 15 tạo thành hình nửa số 8 Đường kính 100cm, sâu 71,5cm đất trong hố màu nâu xám Hố đất đen 02GHHIIh14 và h15 có thể là một hố đất đen vì đất trong hố không có sự khác biệt và không
có sự cắt phá nhau Hiện vật trong hố chỉ có 3 cục đất nung và 280 mảnh gốm
02.GH.HII.h15 thuộc ô g.6.7, nửa hố này ăn vào vách BC đường kính
120cm, sâu 71,5 cm, là một nền đất có màu đỏ hơi xám, trong đó chứa 1 đục
đá, 6 bàn mài, 7 cục đất nung màu đỏ và 852 mảnh gốm vụn
02.GH.HII.h17 thuộc ô g.8.9.10, phần lớn hố này ăn vào vách BC
nên không xác định hình dạng, dài 110, sâu 37cm Đáy hố có hố cột đường kính 18cm, sâu 19,5cm Đất trong hố màu xám lẫn 1 bàn mài, 1 mảnh tước,
35 cục đất nung và 394 mảnh gốm vụn
02.GH.HII.h21 thuộc ô d.10.11, hình elip, một chiều 90cm, một chiều
110cm, sâu 58cm Hố này giáp và có thể là phần kéo dài của hố đất đen 02.GH.HII.h18 Đất màu xám nhạt lẫn 39 cục đất nung và 1.417 mảnh gốm
vụn (bv.18)
Trang 4002.GH.HII.h22 thuộc ô a.b.14.15, hố tương đối lớn và sâu, nhưng 3/4
hố ăn vào vách AD và CD của hố khai quật nên không quan sát được cấu trúc Chiều dài hố trên vách CD là 210cm Thành hố chia làm hai vành, vành ngoài sâu 71cm, đáy hố sâu 124,5cm Đất trong hố màu nâu đen lẫn nhiều mảnh gốm vụn, có thể chia làm hai lớp - lớp đất dưới có màu xám đen nhạt hơn lớp
đất bên trên (bv.18) Hiện vật trong hố gồm: 3 bàn mài, 1 mảnh vòng, 8 thỏi
đất nung, 113 cục đất nung, 4.025 mảnh gốm
02.GH.HII.h23 thuộc ô c.d.2.3.4, hình dạng gần tròn, đường kính
170cm, sâu 79cm Đất trong hố màu xám trắng, lẫn 489 mảnh gốm vụn và 1 bàn mài (bv.18)
03.GH.HI.h4 thuộc ô c1, không quan sát được hình dạng vì phần lớn
hố đất đen nằm trong vách AD Đường kính phần hố xuất lộ còn lại 70cm, sâu 40cm Đất trong hố màu xám trắng, lẫn rất ít mảnh gốm vụn (21 mảnh) Đáy
hố không bằng phẳng Đất và mảnh gốm vụn trong hố rất giống đất và mảnh gốm vụn trong tầng văn hóa
03.GH.HII.h1 thuộc ô a.1, hố có hình dạng gần tròn, nông và hẹp
Đường kính khoảng 70cm, sâu 35,5cm Hố này có thể là đáy của một hố đất đen đã bị san bạt phần trên Đất trong hố màu xám nhạt, hầu như không có hiện vật
Ngoài ra, tại hố khai quật 03.GH.HII còn phát hiện hai hố nông, hình dạng không xác định, đất trong hố màu vàng giống đất thịt ở lớp canh tác pha lẫn một ít sét vàng Ngoài một mảnh vòng được mài nhọn một đầu khá đặc biệt được phát hiện ở hố 4, trong hố hầu như không có hiện vật Hai hố đất đen này khác hẳn với những hố đất đen đã phát hiện từ trước cả về cấu trúc, hình dạng và đất lấp trong hố
03.GH.HII.h4 thuộc ô b.c.1, không xác định hình dạng do hố còn một