1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vật liệu kiến trúc thời Đinh - Tiền Lê ở khu trung tâm di tích Cố Đô Hoa Lư

155 898 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 155
Dung lượng 9,74 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong số những vấn đề về Khu di tích Cố đô Hoa Lư thì việc tìm hiểu về các công trình kiến trúc đã được sử sách ghi chép cung điện, tường thành, đền miếu, dinh thự… là đặc biệt quan trọn

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA LỊCH SỬ -

NGUYỄN CAO TẤN

VẬT LIỆU KIẾN TRÚC THỜI ĐINH - TIỀN LÊ

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LỊCH SỬ

HÀ NỘI - 2013

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

KHOA LỊCH SỬ -

NGUYỄN CAO TẤN

VẬT LIỆU KIẾN TRÚC THỜI ĐINH - TIỀN LÊ

CHUYÊN NGÀNH: KHẢO CỔ HỌC

MÃ SỐ: 60.22.60

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LỊCH SỬ

Người hướng dẫn khoa học:

TS VŨ QUỐC HIỀN

HÀ NỘI - 2013

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN 1

MỤC LỤC 2

BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT 5

DANH MỤC PHỤ LỤC MINH HỌA 6

PHẦN MỞ ĐẦU 10

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TƯ LIỆU 13

1.1 NƯỚC ĐẠI CỒ VIỆT THẾ KỶ X VÀ SỰ RA ĐỜI CỦA KINH ĐÔ HOA LƯ 13

1.1.1 Nước Đại Việt thế kỷ X 13

1.1.2 Sự ra đời của Kinh đô Hoa Lư 20

1.2 HIỆN TRẠNG DI TÍCH CỐ ĐÔ HOA LƯ VÀ QUÁ TRÌNH NGHIÊN CỨU DI TÍCH CỐ ĐÔ HOA LƯ 22

1.2.1 Vị trí địa lý 22

1.2.2 Hiện trạng di tích 23

1.2.3 Quá trình nghiên cứu và tình hình tư liệu về vật liệu kiến trúc 28

1.3 TIỂU KẾT 32

CHƯƠNG 2: VẬT LIỆU KIẾN TRÚC KHU TRUNG TÂM DI TÍCH CỐ ĐÔ HOA LƯ(THẾ KỶ X) 34

2.1 GẠCH 34

2.1.1 Gạch xây 34

2.1.1.1 Gạch hình khối chữ nhật 34

2.1.1.2 Gạch xây hình múi bưởi 41

2.1.2 Gạch lát nền 42

2.2 NGÓI 46

Trang 4

2.2.1 Ngói bò nóc 47

2.2.2 Ngói ống 48

2.2.2.1 Ngói lợp diềm mái 48

2.2.2.2 Ngói lợp thân mái 50

2.2.3 Ngói mũi lá 51

2.2.4 Ngói loại khác 51

2.3 VẬT LIỆU TRANG TRÍ KIẾN TRÚC BẰNG ĐẤT NUNG 51

2.3.1 Tượng thú 52

2.3.2 Phù điêu trang trí 53

2.3.3 Các loại trang trí khác 53

2.4 CÁC LOẠI VẬT LIỆU KIẾN TRÚC KHÁC 54

2.4.1 Vật liệu kiến trúc đá 54

2.4.2 Vật liệu kiến trúc gỗ 56

2.5 TIỂU KẾT 59

CHƯƠNG 3: VẬT LIỆU KIẾN TRÚC KHU TRUNG TÂM DI TÍCH CỐ ĐÔ HOA LƯ, ĐẶC TRƯNG, NIÊN ĐẠI VÀ CÁC MỐI QUAN HỆ 61

3.1 ĐẶC TRƯNG CỦA VẬT LIỆU KIẾN TRÚC 61

3.2 NIÊN ĐẠI CỐ ĐÔ HOA LƯ QUA NGHIÊN CỨU VẬT LIỆU KIẾN TRÚC 65

3.3 CÁC MỐI QUAN HỆ 67

3.3.1 Quan hệ giữa nhóm vật liệu kiến trúc ở Khu trung tâm di tích Cố đô Hoa Lư với vật liệu kiến trúc thời kỳ trước đó 67

3.3.2 Quan hệ giữa nhóm vật liệu kiến trúc ở Khu trung tâm di tích Cố đô Hoa Lư với vật liệu kiến trúc thời Đinh - Lê ở Hoàng thành Thăng Long - Hà Nội 70

3.3.3 Quan hệ giữa nhóm vật liệu kiến trúc ở Khu trung tâm di tích Cố đô Hoa Lư với vật liệu kiến trúc thời Lý 71

Trang 5

3.4 VẬT LIỆU KIẾN TRÚC VỚI NGHIÊN CỨU LỊCH SỬ CỐ ĐÔ HOA

LƢ 72 3.5 TIỂU KẾT 74 KẾT LUẬN 76 DANH MỤC BÀI VIẾT VÀ TƢ LIỆU CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN 79 TÀI LIỆU THAM KHẢO 80 PHỤ LỤC 87

Trang 6

VHTT - Văn hóa Thông tin

VHDT - Văn hóa Dân tộc

UBND - Ủy ban nhân dân (tỉnh)

Formatted: Portuguese (Brazil)

Trang 7

DANH MỤC PHỤ LỤC MINH HỌA

BẢNG BIỂU

Bảng 1: Thống kê các lần điều tra, thám sát và khai quật ở Cố đô Hoa Lư

Bảng 2 : Bảng thống kê vật liệu và trang trí kiến trúc khai quật năm 2009

Bản ảnh 6: Di tích tường móng và tường gạch ở hố 4 khai quật năm 2009

Bản ảnh 7: Địa tầng và di tích ở hố 11 khai quật năm 2009

Bản ảnh 8: Di tích tường gạch ở hố 11 khai quật năm 2009

Bản ảnh 9: Di tích tường gạch ở hố 11 khai quật năm 2009

Bản ảnh 10: Nền gạch ở hố 1 khai quật năm 1998 [Nguồn: 59]

Bản ảnh 16: Gạch múi bưởi và gạch lát nền trang trí hoa sen

Bản ảnh 17: Gạch lát nền trang trí hoa sen

Formatted: Portuguese (Brazil)

Formatted: Portuguese (Brazil)

Formatted: Portuguese (Brazil)

Formatted: Portuguese (Brazil)

Formatted: English (United States)

Trang 8

Bản ảnh 18: Gạch lát nền có trang trí [Nguồn: 59]

Bản ảnh 19: Ngói ống có trang trí

Bản ảnh 20: Ngói ống

Bản ảnh 21: Ngói mũi lá [Nguồn: 59]

Bản ảnh 22: Tượng uyên ương [Nguồn: 59]

Bản ảnh 23: Tượng uyên ương [Nguồn: 59]

Bản ảnh 24: Mảnh trang trí kiến trúc

Bản ảnh 25: Đài sen đất nung [Nguồn: 59]

Bản ảnh 26: Vết tích cột gỗ ở hố 1 khai quật năm 2009

Bản ảnh 27: Đồ gỗ tham gia kiến trúc gia cố móng

Bản ảnh 28: Dấu tích đồ gỗ ở hố 14 khai quật năm 2009

Bản ảnh 29: Dấu tích hàng kè gỗ ở hố 15 khai quật năm 2009

Bản ảnh 30: Gia cố móng và cột gỗ thế kỷ X ở Hoàng Thành Thăng Long [Nguồn: 67]

BẢN VẼ

Bản vẽ 1: Sơ đồ hiện trạng khu di tích Hoa Lư năm 2010

Bản vẽ 2: Sơ đồ hiện trạng và các vị trí thám sát, khai quật năm 1998 [Nguồn: 59]

Bản vẽ 3: Sơ đồ vị trí các hố thám sát và khai quật năm 2009 - 2010

Bản vẽ 4: Sơ đồ thành Hoa Lư [Nguồn: 19]

Bản vẽ 5: Cấu trúc đoạn thành Phủ Đầu Tường [Nguồn: 19]

Bản vẽ 6: Đoạn nền kiến trúc Thành Đông [Nguồn: 19]

Bản vẽ 7: Vết tích kiến trúc ở hố I năm 1998 [Nguồn: 59]

Bản vẽ 8: Vết tích kiến trúc ở hố 3 khai quật năm 1998 [Nguồn: 59]

Bản vẽ 9: Vết tích nền kiến trúc khai quật năm 1998 [Nguồn: 59]

Bản vẽ 10: Mặt bằng hố 1 khai quật năm 2009

Trang 9

Bản vẽ 11: Mặt bằng và mặt cắt hố 4 khai quật năm 2009

Bản vẽ 12: Mặt đứng móng gạch ở hố 4 khai quật năm 2009

Bản vẽ 13: Mặt bằng và mặt cắt móng gạch ở hố 5 khai quật năm 2009

Bản vẽ 14: Mặt bằng hố 11 khai quật năm 2009

Bản vẽ 15: Mặt cắt hố 11 khai quật năm 2009

Bản vẽ 16: Gạch Đại Việt quốc quân thành chuyên

Bản vẽ 23: Các loại hình ngói ở Hoa Lƣ

Bản vẽ 24: Ngói ống trang trí hoa sen

Bản vẽ 25: Đầu ngói ống trang trí hoa sen

Bản vẽ 26: Đầu ngói ống trang trí hoa sen

Bản vẽ 27: Ngói ống

Bản vẽ 28: Ngói mũi lá

Bản vẽ 29: Tƣợng uyên ƣơng

Bản vẽ 30: Các mảnh họa tiết trang trí kiến trúc

Bản vẽ 31: Các mảnh họa tiết trang trí kiến trúc

Bản vẽ 32: Các mảnh họa tiết trang trí kiến trúc

Bản vẽ 33: Mảnh bệ đất nung trang trí hoa sen

BẢN DẬP HOA VĂN

Bản dập 1: Chữ trên gạch

Bản dập 2: Gạch Đại Việt quốc quân thành chuyên

Formatted: English (United States)

Trang 10

Bản dập 3: Gạch Đại Việt quốc quân thành chuyên

Bản dập 4: Các kiểu trang trí trên gạch múi bưởi

Bản dập 5: Gạch lát nền có trang trí [Nguồn: 19]

Bản dập 6: Gạch lát nền trang trí hoa sen

Bản dập 7: Gạch lát nền trang trí hoa sen

Bản dập 8: Gạch lát nền trang trí chim phượng và đầu ngói ống trang trí hoa sen

Bản dập 9: Đầu ngói ống trang trí hoa sen

Bản dập 10: Đầu ngói ống trang trí hoa sen

Bản dập 11: Đầu ngói ống trang trí hoa sen

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn

Hoa Lư là một khu di tích lớn đã được giới nghiên cứu quan tâm tìm

hiểu từ lâu Với Khảo cổ học di tích này đã thu hút được nhiều nhà nghiên

cứu, với nhiều đợt điều tra, khảo sát và khai quật Qua đó nhiều giá trị lịch sử

văn hóa của khu di tích đã được làm sáng tỏ Tuy nhiên vẫn còn nhiều vấn đề

đang là những ẩn số cần được khám phá Chính bởi vậy việc tiếp cận với khối

tư liệu khảo cổ học cũng như việc nghiên cứu tìm hiểu về khu di tích này là

rất cần thiết

Trong số những vấn đề về Khu di tích Cố đô Hoa Lư thì việc tìm hiểu về

các công trình kiến trúc đã được sử sách ghi chép (cung điện, tường thành,

đền miếu, dinh thự…) là đặc biệt quan trọng Bởi chỉ có hiểu biết thấu đáo về

các công trình kiến trúc thì mới có thể bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử - văn

hoá của khu di tích trong giai đoạn hiện nay Muốn thực hiện được công việc

này thì việc nghiên cứu hệ thống các loại hình vật liệu kiến trúc là rất cần

thiết

Là sinh viên của Khoa Sử, chuyên ngành Khảo cổ học, sau khi tốt

nghiệp, tôi may mắn được công tác tại Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Ninh

Bình, quản lý Khu di tích Hoa Lư, đặc biệt những năm gần đây đã tham gia

nghiên cứu và khai quật trực tiếp tại di tích Hoa Lư Chính bởi vậy, việc tôi

chọn đề tài này là phù hợp và có khả năng thực hiện tốt

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Đã có những bản báo cáo khai quật, những bài viết lẻ tẻ về vật liệu kiến

trúc ở Cố đô Hoa Lư từ những năm 70 của thế kỷ trước cho đến nay song

chưa thành hệ thống và chưa chuyên sâu

Formatted: Portuguese (Brazil)

Trang 12

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Là những di tích, di vật vật liệu kiến trúc đã xuất lộ ở Khu trung tâm di tích Cố đô Hoa Lư

5 Các nguồn tư liệu

Những di tích, di vật xuất lộ ở Khu trung tâm di tích Cố đô Hoa Lư

Những báo cáo khảo sát, điều tra và chủ yếu là những báo cáo khai quật

về Khu trung tâm di tích Cố đô Hoa Lư

Những bài nghiên cứu trên các sách, tạp chí chuyên ngành Lịch sử, Khảo

cổ học đã được công bố từ trước đến nay

6 Các phương pháp nghiên cứu

Áp dụng các phương pháp nghiên cứu khảo cổ học truyền thống: điều tra, thám sát, khai quật, khảo tả, đo vẽ…

Phương pháp nghiên cứu so sánh cũng được thực hiện trong từng trường hợp cụ thể

7 Thuận lợi và khó khăn khi thực hiện đề tài

Là cán bộ ngành văn hoá Ninh Bình nên tôi có nhiều điều kiện thuận lợi trong việc tiếp cận khối tư liệu hiện vật phong phú đang lưu giữ trong kho Bảo tàng Ninh Bình, đi đến khảo sát di tích và nghiên cứu những hiện vật

thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài ngay tại hiện trường khai quật khảo cổ

Khó khăn là di tích được điều tra, khai quật nhiều lần, do nhiều đơn vị thực hiện và trong một thời gian dài nên tư liệu, báo cáo lưu giữ tản mát ở nhiều nơi

Trang 13

8 Kết quả và đóng góp của luận văn

Hệ thống hóa và bước đầu nêu ra những đặc trưng của vật liệu kiến trúc

ở Khu trung tâm di tích Cố đô Hoa Lư trong hệ thống vật liệu kiến trúc cổ Việt Nam

9 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mục lục, Mở đầu, Kết luận, Phụ lục, phần Nội dung Luận

văn được chia làm ba chương

Chương 1: Tổng quan tư liệu

Chương 2: Vật liệu kiến trúc Kkhu trung tâm di tích Ccố đô Hoa Lư (thế kỷ

X)

Chương 3: Vật liệu kiến trúc khu trung tâm di tích Cố đô Hoa Lư, đặc trưng và các mối quan hệ

Trang 14

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TƯ LIỆU

1.1 NƯỚC ĐẠI VIỆT THẾ KỶ X VÀ SỰ RA ĐỜI CỦA KINH ĐÔ

HOA LƯ

1.1.1 Nước Đại Việt thế kỷ X

Đối với nước Đại Việt thế kỷ X là thế kỷ củng cố nền độc lập và chủ quyền dân tộc, xây dựng quốc gia phong kiến thống nhất, chống giặc ngoại xâm [72: tr 142]

Chiến thắng Bạch Đằng mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử dân tộc, thời kỳ phát triển của quốc gia phong kiến độc lập và lớn lên nhanh chóng của dân tộc Chiến thắng đó đã đánh bại mưu đồ xâm lược của nhà Nam Hán, khẳng định sự tồn tại vững chắc của đất nước và nâng cao thêm ý thức làm chủ của dân tộc Trên cơ sở thắng lợi quân sự oanh liệt đó, Ngô Quyền, người anh hùng của cuộc kháng chiến chống xâm lược đã tiến hành một bước lớn

trên con đường củng cố nền độc lập dân tộc

Mùa xuân năm 938, Ngô Quyền quyết định bỏ chức tiết độ sứ của phong kiến phương Bắc và tự xưng vương, lập thành một vương quốc độc lập đàng hoàng Cổ Loa là kinh đô cũ của nước Âu Lạc thời An Dương Vương lại được

chọn làm kinh đô của vương quốc độc lập thế kỷ X

Ngô Quyền đặt ra các chức quan văn võ, quy định các nghi lễ trong triều

và mầu sắc đồ mặc của các quan lại các cấp Triều đình của Ngô Quyền được xây dựng theo thể chế của một vương triều phong kiến hoàn toàn độc lập Bộ máy chính quyền đó đã mang tính chất của một bộ máy tập quyền Tuy nhiên

là một chính quyền non trẻ, mới được xây dựng nên tổ chức còn đơn giản, mức độ tập quyền chưa cao Ở nhiều địa phương vẫn còn tồn tại những thế lực phong kiến khá mạnh với cơ sở kinh tế và lực lượng quân sự riêng Những

Trang 15

phần tử phong kiến đó tuy phục tùng triều đình trung ương và có người giữ chức trong triều, nhưng vẫn duy trì lực lượng riêng của mình và khống chế riêng từng vùng rộng lớn Những thế lực phong kiến địa phương đó là cơ sở

và mầm mống cát cứ trong xã hội lúc bấy giờ

Sau khi Ngô Quyền mất (năm 944), trong triều xảy ra nhiều biến loạn và xung đột làm cho chính quyền trung ương vốn đã mong manh càng thêm suy yếu Lợi dụng tình trạng đó, các thế lực phong kiến liền nổi dậy, mỗi người hùng cứ một phương và tranh giành nhau quyết liệt Đến năm 965 thì chính quyền trung ương bị tan rã và trong nước hình thành mười hai thế lực cát cứ

chính gọi là Mười hai sứ quân:

- Kiều Công Hãn chiếm giữ Phong Châu (Phú Thọ)

- Kiều Thuận chiếm giữ Hồi Hồ ( Phú Thọ)

- Nguyễn Khoan chiếm giữ Tam Đái ( Vĩnh Phúc)

- Ngô Nhật Khánh chiếm giữ Đường Lâm ( Hà Nội)

- Đỗ Cảnh Thạc chiếm giứ Đỗ Động ( Hà Nội)

- Lý Khuê chiếm giữ Siêu Loại ( Bắc Ninh)

- Nguyễn Thủ Tiệp chiếm giữ Tiên Du (Bắc Ninh)

- Lã Đường chiếm giữ Tế Giang (Hưng Yên)

- Nguyễn Siêu chiếm giữ Tây Phù Liệt (Hà Nội)

- Phạm Bạch Hổ chiếm giữ Đằng Châu (Hưng Yên)

- Trần Lãm chiếm giữ Bố Hải Khẩu ( Thái Bình)

- Vua Ngô là Ngô Xương Xí cũng rút về chiếm giữ vùng Bình Kiều ( Thanh Hóa), tự coi mình như một sứ quân [72: tr 143]

Mỗi sứ quân chiếm cứ một vùng khoảng một vài huyện ngày nay, xây thành, đắp lũy và thôn tính lẫn nhau Loạn Mười hai sứ quân đã gây bao tổn thất đau khổ cho nhân dân và đi ngược lại nguyện vọng hòa bình, thống nhất của dân tộc Hơn nữa trong hoàn cảnh một nước nhỏ, nền độc lập vừa giành

Trang 16

lại được còn non yếu, luôn bị nạn ngoại xâm đe dọa nghiêm trọng thì cát cứ

và nội chiến là một nguy cơ rất hiểm nghèo Nền độc lập của đất nước, sự sống còn của cả dân tộc đòi hỏi phải giữ vững khối đoàn kết thống nhất, đòi hỏi phải chấm rứt cuộc nội loạn của mười hai sứ quân để khôi phục quốc gia thống nhất và chế độ trung ương tập quyền Đó là một yêu cầu cấp thiết của lịch sử Người đã nêu cao ngọn cờ thống nhất quốc gia và có công hoàn thành

nhiệm vụ lịch sử đó là Đinh Bộ Lĩnh

Đinh Bộ Lĩnh, người ở động Hoa Lư (Gia Viễn, Ninh Bình) Ông là một người cương nghị, mưu lược và có chí khí lớn Tại Hoa Lư, ông đã xây dựng được một lực lượng vũ trang khá mạnh và nhân dân trong vùng đều theo

thêm thế lực Sau khi Trần Lãm chết, ông trở thành người cầm đầu một lực lượng vũ trang lớn mạnh Đinh Bộ Lĩnh lần lượt đánh bại các sứ quân khác Đến cuối năm 967, loạn Mười hai sứ quân bị dập tắt và đất nước trở lại thống

nhất

Thắng lợi của Đinh Bộ Lĩnh là thắng lợi của xu hướng thống nhất quốc gia, thắng lợi của tinh thần dân tộc và ý chí độc lập mạnh mẽ của nhân dân Nạn cát cứ bị dập tắt tương đối nhanh chóng chứng tỏ hoàn cảnh dựng nước

và giữ nước của dân tộc ta, chế độ trung ương tập quyền là một nhu cầu tất yếu của lịch sử gắn liền với nhu cầu đoàn kết thống nhất lực lượng để giành

và giữ nền độc lập - quyền lợi chung và cao nhất của toàn thể dân tộc

Quốc gia thống nhất làm cho thế nước thêm mạnh và lực lượng quốc phòng được tăng cường Nhờ đó Đinh Bộ Lĩnh có điều kiện củng cố hơn nữa nền độc lập dân tộc Năm 968 ông lên ngôi hoàng đế (thường gọi là Đinh Tiên Hoàng), đặt tên nước là Đại Cồ Việt Hai năm sau ông bỏ niên hiệu của các hoàng đế phương Bắc, tự đặt niên hiệu riêng là Thái Bình Đó là những biểu

Trang 17

hiện mới của tinh thần tự chủ, quyết tâm giành độc lập hoàn toàn cho dân tộc

và cũng là sự phủ định quyền bá chủ của các hoàng đế phương Bắc

Dưới triều Đinh, chế độ trung ương tập quyền được tiếp tục xây dựng và

củng cố Các thế lực phong kiến địa phương đều bị khuất phục

Tổ chức chính quyền ở trung ương và các địa phương được sắp xếp lại

có quy củ hơn trước Các nhà sư là tầng lớp có học thức hơn hết trong xã hội lúc đó, đóng vai trò trong việc xây dựng kiến trúc thượng tầng của chế độ phong kiến và được nhà Đinh rất trọng vọng Sư Ngô Chân Lưu được ban hiệu là Khuông Việt đại sư, giữ chức tăng thống đứng đầu tầng lớp tăng lữ và được tham dự triều chính như một cố vấn của nhà vua Về mặt quân sự, Đinh Tiên Hoàng ra sức xây dưng một lực lượng quân đội mạnh đủ sức bảo vệ đất nước và đè bẹp xu hướng cát cứ địa phương Quân đội được tăng cường và tổ

Công việc xây dựng đất nước đang tiến hành chưa được bao lâu thì năm

979, Đinh Tiên Hoàng bị ám hại và sau đó, nhiều vụ xung đột xảy ra trong nội

bộ triều đình Cuối cùng một người con trai thứ của Đinh Tiên Hoàng mới 6 tuổi được lập lên làm vua Các thế lực phong kiến thù địch ở trong và ngoài

nước lại thừa dịp tiến hành âm mưu lật đổ và thôn tính

Ngô Nhật Khánh là một sứ quân trước đây đã bị đánh bại phải về hàng rồi chốn sang nước Cham-pa về định đánh phá kinh thành Hoa Lư Nhưng vừa vượt biển tiến vào cửa sông nước ta thì đoàn chiến thuyền này gặp bão và

bị đắm gần hết Nạn cướp phá của phong kiến phương Nam vì thế bị loại trừ

Trang 18

Nhưng ngay sau đó, dân tộc ta lại phải đương đầu với nạn ngoại xâm lớn của

phong kiến phương Bắc

Lúc bấy giờ ở Trung Quốc, nhà Tống đã thành lập và đã hoàn thành việc thống nhất quốc gia So với nhà Nam Hán - một sản phẩm sau sự tan dã của nhà Đường thì nhà Tống là một triều đại cường thịnh của một quốc gia phong kiến lớn nhất châu Á đương thời Vvới khí thế đang lên của một triều đại phong kiến lớn tự coi mình là “thiên triều” có quyền thống trị các nước chung quanh, nhà Tống nhân sự suy yếu của triều Đinh, đã phát động cuộc chiến

tranh xâm lược nước ta

Vận mệnh của cả dân tộc đang bị nạn ngoại xâm đe dọa nghiêm trọng

Chính quyền độc lập còn non trẻ đang đứng trước một thử thách lớn Trong

lúc đó, vua Đinh còn ít tuổi chưa đủ khả năng và uy tín để tổ chức và lãnh đạo cuộc kháng chiến Vì sự nghiệp bảo vệ độc lập dân tộc, quân sĩ và một số quan lại liền suy tôn Lê Hoàn lên làm vua Lê Hoàn là một người có uy tín trong triều, lúc bấy giờ đang giữ chức thập đạo tướng quân là chức tổng chỉ huy quân đội Lê Hoàn lên ngôi vua, lập nên một triều đại mới, trong sử gọi là triều Tiền Lê Một nhiệm vụ lịch sử trọng đại đang đặt ra trước toàn thể dân tộc và triều Tiền Lê là gấp rút tổ chức cuộc kháng chiến chống quân xâm lược

Tống

Đầu năm 981, quân Tống theo hai đường thủy, bộ ào ạt tiến vào xâm lược nước ta Quân bộ từ Ung Châu (Quảng Tây) theo đường Lạng Sơn tiến vào Quân thủy từ Quảng Châu (Quảng Đông) vượt biển tiến sang Hai đạo quân thủy bộ của địch dự định sẽ phối hợp với nhau tiến vào vây hãm kinh

thành Hoa Lư

Lê Hoàn trực tiếp tổ chức và lãnh đạo kháng chiến Phát huy sáng tạo chiến thuật của Ngô Quyền hơn bốn mươi năm trước, ông sai quân sỹ đóng

Trang 19

cọc ở sông Bạch Đằng để ngăn chặn chiến thuyền của địch Trên các đường

tiến quân của địch ông bố trí sẵn các lực lượng chống cự

Khoảng cuối mùa xuân năm 981, trên mặt trận thủy chiến ở sông Bạch Đằng đã sảy ra những trận chiến ác liệt Với truyền thống thủy chiến ưu việt của dân tộc, quân ta chiến đấu hết sức dũng cảm, đánh lui thủy quân địch và làm thất bại kế hoạch phối hợp hai đạo quân thủy bộ của chúng Trên các mặt trận khác, quân ta cũng chặn đánh quyết liệt Bộ binh của địch tiến đến sông Chi Lăng (Lạng Sơn) nhưng bị tổn thất nặng, lại không phối hợp được với thủy binh Quân ta tiến công mãnh liệt đánh bại quân địch và thừa thắng truy

kích, tiêu diệt nhiều sinh lực địch Quân xâm lược Tống bị đại bại Tướng chỉ

huy Hầu Nhân Bảo bị giết chết, nhiều tướng khác của địch bị bắt sống Thắng lợi quân sự oanh liệt đó buộc nhà Tống phải ra lệnh bãi binh, thừa nhận sự

thất bại thảm hại của đạo quân viễn chinh

Cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Tống đã giành được thắng lợi rực rỡ Lịch sử dân tộc lại ghi thêm một chiến công mới làm rạng rỡ thêm non sông đất nước Ý nghĩa lịch sử lớn lao của cuộc kháng chiến là đã đánh bại nguy cơ xâm lược của nước ngoài, giữ vững nền độc lập và đưa lại cho toàn thể nhân dân niềm tự hào sâu sắc, lòng tin tưởng vững chắc ở sức mạnh và

tiền đồ của dân tộc

Sau chiến thắng quân xâm lược Tống, Lê Hoàn tìm cách lập lại quan hệ bang giao với nhà Tống Nhà Lê áp dụng chính sách đối ngoại cương quyết

nhưng mềm dẻo, khôn khéo trong cách đối sử

Đối với nước Cham-pa ở phía nam, nhà Lê cũng cố gắng khôi phục quan

hệ bang giao hòa bình và phái sứ giả sang giao hiếu với vương quốc

Cham-pa Nhưng vua Cham-pa vẫn giữ thái độ thù địch với triều Lê, bắt giam sứ giả của Lê Hoàn Do đó, để loại trừ mối uy hiếp từ phía nam, năm 982 Lê Hoàn

tổ chức cuộc tiến công vào kinh thành Cham-pa (lúc đó là In-đơ-ra-pu-ra tức

Trang 20

Đồng Dương, Quảng Nam) nhằm đánh bại lực lượng quân sự của nước này

Sau khi hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ đó, quân đội nhà Lê rút về nước

Trong thời Lê, do thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Tống và do chính sách đối ngoại cương quyết của Lê Hoàn, cương giới phía bắc và phía nam của tổ quốc được bảo vệ vững chắc Tình hình đó tạo điều kiện thuận lợi

cho nhà Lê đẩy mạnh công cuộc xây dựng đất nước trong hòa bình

Các khu vực hành chính trong nước được sắp xếp lại, chia thành các lộ rồi đến phủ, châu Quyền lực và ảnh hưởng của chính quyền trung ương ngày

càng được mở rộng

Trong điều kiện độc lập và hòa bình, nền kinh tế dưới triều Lê bắt đầu phát triển Chính quyền độc lập cũng chăm lo thi hành một số biện pháp tích

cực có lợi cho sự phát triển kinh tế

Lê Hoàn là người đầu tiên đã tổ chức lễ cầy ruộng tịch điền để biểu thị

sự quan tâm của nhà vua đối với nghề nông Chính quyền tiến hành nhiều công trình đào kênh, vét sông để mở mang giao thông đường thủy và để tưới tiêu nước cho đồng ruộng, nhờ đó thuyền bè đi lại thuận tiện Trên những bến

đò quan trọng, chính quyền đóng thuyền trở người qua lại Những đường giao thông bộ cũng được đắp thêm và trên những đường giao thông chính đã có hệ thống trạm dịch, cứ cách từng chặng đường lại có một nhà trạm ba gian hoặc năm gian lợp tranh Những con đường giao thông thủy bộ đó tạo điều kiện mở

rộng thêm mối giao lưu kinh tế trong nước Các nghề thủ công cổ truyền như

nghề gốm, nghề dệt, nghề khai mỏ, luyện sắt, đúc đồng, nghề làm đồ da, các nghề mỹ nghệ…được phục hồi và bước đầu phát triển Ngoài nghề thủ công dân gian triều đình còn có những xưởng đúc tiền, đóng thuyền, sản xuất vũ khí…Việc buôn bán trong nước và với nước ngoài, nhất là với Trung Quốc

được mở mang

Trang 21

Nhiệm vụ hàng đầu của thời Ngô - Đinh - Tiền Lê là ra sức củng cố chính quyền độc lập, xây dựng lực lượng quân sự để đẩy lùi mọi cuộc xâm lăng và đè bẹp thế lực cát cứ trong nước Công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế mới chỉ là bước đầu nhưng cũng đã đạt được một số thành quả nhất định

Trong bối cảnh đó, Hoa Lư vẫn giữ địa vị kinh đô của đất nước Tại đây

Lê Hoàn cho xây dựng thêm nhiều cung điện lộng lẫy, trong đó có những cung điện cột dát vàng, dát bạc, mái lợp bằng ngói bạc Bộ máy chính quyền

trung ương và các địa phương tiếp tục được củng cố

1.1.2 Sự ra đời của Kinh đô Hoa Lư

Hoa Lư có một vị trí rất quan trọng trong thời Đinh - Tiền Lê Sau khi dẹp loạn 12 sứ quân, thống nhất đất nước, Đinh Bộ Lĩnh đã quyết định lập quốc đô của nước Đại Cồ Việt ở khu vực Hoa Lư hiện nay Viết về di tích

này, Đại Việt sử ký toàn thư đã chép khá rõ: “Mậu Thìn năm thứ nhất (968), Vua (Đinh Tiên Hoàng) lên ngôi, đặt quốc hiệu là Đại Cồ Việt, dời kinh về động Hoa Lư, xây dựng đô mới, đắp thành, đào hào, làm cung điện, đặt triều

điện: làm điện Bách Bảo Thiên Tuế ở núi Đại Vân, cột điện dát vàng bạc làm nơi coi chầu; bên đông là điện Phong Lưu, bên tây là điện Tử Hoa, bên trái là điện Bồng Lai, bên phải là điện Cực Lạc, rồi làm lầu Đại Vân, dựng điện Trường Xuân làm nơi vua ngủ; bên cạnh điện Trường Xuân lại dựng điện Long Lộc, lợp bằng ngói bạc” [23]

Hiện nay tại khu vực Hoa Lư, trong dân gian còn lưu truyền nhiều truyền thuyết, những truyện cổ tích rất phong phú về những nhân vật lịch sử, về những sự kiện lịch sử có liên quan đến thời Đinh và Tiền Lê Ở trong khu vực này còn có nhiều miếu, đền, nhiều di tích lịch sử có liên quan đến thời kỳ lịch

sử đó

Trang 22

Bàn về không gian Hoa Lƣ cố giáo sƣ Trần Quốc Vƣợng đã viết:“Không gian Hoa Lư được hoạch tính là động, là thung lũng, cái gạch nối địa – chính

trị - văn hóa – xã hội… giữa miền núi và miền đồng bằng…

Thế kỷ X đánh dấu chấm cuối cùng của quá trình tách rời giữa hai cộng đồng tộc người (ethnies) - Mường và Việt - từ một khối nền và một ngôn ngữ

“ Việt Mường chung” Quê hương Đường Lâm của Phùng Hưng (Bố Cái Đại Vương dòng dõi quan lang) và Ngô Quyền là miền trung du và trung gian

Nói rộng ra, đất Trường Châu xưa là vùng quá độ giữa Giao Châu (đồng bằng Bắc Bộ) và Ái Châu (đồng bằng Thanh Hóa), đất “Thanh Hoa Ngoại”- hay Ninh Bình là vùng trung gian giữa lưu vực sông Hồng và lưu vực sông Mã, từ văn minh Đông Sơn đến văn minh Đại Việt Cái “không gian bản lề” đó của Hoa Lư - Trường Châu, là một yếu tố địa - chính trị và địa - chiến lược để Đinh Bộ Lĩnh vận dụng và biến đổi thành không gian xã hội bản lề giữa một thời kỳ “thống nhất hình thức”- dựa trên chính quyền thống trị Bắc thuộc “An Nam đô hộ phủ”- và một thời kỳ “thống nhất thực sự”- dựa

trên nhà nước dân tộc

Đúng như Lê Văn Hưu nhận định, công lao lớn nhất của Đinh Bộ Lĩnh

là thống nhất quốc gia Và với đề hiệu, quốc hiệu, niên hiệu và nền tài chính riêng, ông còn củng cố tốt nền độc lập dân tộc nữa Giữa một thời kỳ “thống nhất hình thức” sang một thời kỳ thống nhất thực sự, lịch sử trải qua một khúc quanh là “ Loạn mười hai sứ quân” Từ Cổ Loa phải qua Hoa Lư rồi

kinh đô Hoa Lƣ hình thành trong điều kiện lợi thế về địa - chính trị, địa - chiến lƣợc và đƣợc Đinh Bộ Lĩnh có quan hệ xã hội, kinh tế, văn hóa rộng, lợi

Trang 23

dụng một cách tài tình Cùng với những yếu tố về dòng dõi, quê hương, Đinh

Bộ Lĩnh đã quyết định xây dựng kinh đô ở Hoa Lư

1.2 HIỆN TRẠNG VÀ QÚA TRÌNH NGHIÊN CỨU DI TÍCH CỐ ĐÔ

Về địa mạo cảnh quan, nhìn qua ảnh chụp từ vệ tinh thì Khu trung tâm di tích Cố đô Hoa Lư nằm trong vùng núi đá vôi và thung lũng có mầu xanh, được ôm ấp bởi 4 con sông là sông Hoàng Long ở phía bắc, sông Đáy ở phía đông, sông Vân ở phía nam và sông Bến Đang ở phía tây Trong hệ thống núi

và thung lũng mầu xanh lá cây khi sáng khi tối ấy có những dòng suối, sông nhỏ uốn lượn, lúc ẩn lúc hiện có màu xanh lơ làm nên một bức tranh tuyệt tác của tạo hóa Trong một không gian rộng hơn chúng ta được biết hệ thống núi

ở đây là sự kéo dài và phân tán về phía đông của khối núi đồ sộ phía tây bắc của tổ quốc Và nếu như lấy trục Việt Trì - Hà Nội làm trục trung tâm của tam giác châu thổ sông Hồng thì phía đông bắc có cánh cung đá vôi Đông Bắc

Trang 24

mà kết thúc của nó về phía đông là hàng trăm đảo đá vôi lớn, nhỏ, làm nên một vịnh Hạ Long còn về phía rìa tây nam như để cho cân xứng, tạo hóa đã làm nên hệ thống núi đá vôi Hoa Lư ngồi trên biển lúa, ở thế kỷ X nó ôm ấp lấy kinh đô nước Đại Việt (Bản ảnh 1; 2; Bản vẽ 1)

Hoa Lư xưa là tên một “động” thuộc miền Trường Châu - một châu của

An Nam đô hộ phủ thời Đường Có thể, tên Hoa Lư xưa dùng để chỉ một khu vực rộng lớn hơn khu thành Hoa Lư ngày nay, nơi nhà Đinh và nhà Tiền Lê

đã đóng đô Đầu thời Lý, sau khi dời đô ra Thăng Long, Lý Thái Tổ đã đổi Hoa Lư thành phủ Trường Yên, phong cho con là Khai Quốc vương Bồ trấn giữ phủ này Theo Đại Nam nhất thống chí, đất Trường Yên thời Lý là phủ, thời Trần là lộ, thời Hậu Lê thuộc trấn Thanh Hoa ngoại

Những di tích của thành Hoa Lư còn lại hiện nay nằm tập chung trong

phạm vi xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình

1.2.2 Hiện trạng di tích

Thành Hoa Lư nằm trên một khu đất khá bằng phẳng trong khu vực núi

đá vôi của huyện Hoa Lư Những dải núi đá vôi hầu như bao bọc chung quanh khu đất này, tạo thành những bức tường thành thiên nhiên vô cùng kiên cố, chỉ có một số mặt nào đó, nhất là mặt phía đông và phía bắc là không có núi che kín Như vậy, thành Hoa Lư nằm trong một khu vực khá kín đáo và địa thế hiểm trở, ngay bên bờ sông Hoàng Long, một con sông khá lớn, bắt nguồn

từ vùng rừng núi Hoà Bình và Nho Quan, chảy ra sông Đáy, giúp cho việc giao thông từ Hoa Lư lên vùng núi, ra bắc và vào nam đều thuận lợi Ngoài ra,

ở đây còn có những lối đi len lỏi qua những ngách núi hiểm trở có thể đi sâu vào vùng trung tâm của sơn khối hoặc qua những dải núi này mà vào phía nam

Những công trình xây dựng ở Hoa Lư mà sử cũ đã chép nay không còn lại bao nhiêu vết tích Trải qua một thời gian dài hơn 1000 năm lịch sử, các di

Trang 25

tích đã bị phá huỷ hầu hết Vết tích có thể trông thấy dễ dàng là những tường thành, tuy ngày nay cũng đã bị phá huỷ nhiều

Thành Hoa Lư dựa vào thế núi là chính Nó được những dải núi đá vôi cao dốc đứng bao bọc xung quanh và những tường thành do con người kiến tạo là nối những khoảng trống mà núi không bao bọc kín Bởi vậy, thành Hoa

Lư chủ yếu dựa vào địa thế tự nhiên, những tường thành nhân tạo chỉ nối lại những khoảng trống giữa các dải núi, hợp thành một khu thành vô cùng hiểm trở và kiên cố Tuy nhiên bàn tay con người xây đắp những tường thành ở đây cũng hết sức lớn lao

Diện tích toàn bộ khu thành Hoa Lư khoảng 300 ha và chia làm hai khu

Khu Thành Ngoại khoảng 140 ha và 5 tường thành, nay thuộc địa phận của thôn Yên Thượng và Yên Thành thuộc xã Trường Yên Các tường thành

đó là:

- Tường thành thứ nhất nối từ núi Đầm sang núi Thanh Lâu, nhân dân địa phương thường gọi là tường Đông

- Tường thành thứ hai từ núi Thanh Lâu sang núi Cột Cờ

- Tường thành thứ ba từ núi Cột Cờ sang núi Chẽ

- Tường thành thứ tư từ núi Chẽ sang núi Chợ

- Tường thành thứ năm nằm giữa khu Thành Ngoại, từ núi Mã Yên sang một dải núi khác, nhân dân địa phương thường gọi là Tường Vầu

Diện tích khu Thành Nội tương đương với khu Thành Ngoại, hiện nằm ở địa phận thôn Chi Phong, xã Trường Yên Khu này cũng có 5 tường thành:

- Tường thành thứ nhất nối từ núi Sau Cái hay còn gọi là núi Hàm Xà, sang núi Cánh Hàn Nhân dân địa phương gọi là thành Dền hay tường Dền

- Tường thành thứ hai từ núi Cánh Hàn sang núi Hang To, là một đoạn tường thành phụ cùng một tuyến với tường Dền

Trang 26

- Tường thành thứ ba ở giữa khu thành Nội, cũng được gọi là tường Vầu

- Tường thành thứ tư từ núi Quèn Dót sang núi Mồng Mang, nhân dân địa phương gọi là Thành Bồ

- Tường thành thứ năm từ núi Mồng Mang tới núi Cổ Giải, nhân dân địa phương gọi là thành Bim

Theo lời kể của nhân dân địa phương, thành Hoa Lư còn có một tường thành phía nam nằm cách xa hai khu thành trên Ở chỗ được coi là tường thành Nam, hiện nay không còn một vết tích gì, chỉ còn hai mỏm núi đá đối diện và cách nhau khoảng 100m Chỗ này giống như cửa sau của thành Hoa

Lư, qua đó có thể đi vào miền đất phía nam

Thành Nội và Thành Ngoại là hai khu vực cách biệt nhau, nhưng ở sát cạnh nhau và có thể qua lại nhanh chóng nhờ một ngách núi, nhân dân địa phương gọi là Quèn Vông

Những tường thành nói trên có độ dài ngắn khác nhau, tuỳ theo khoảng cách giữa hai dải núi mà người ta cần đắp để nối liền chúng lại Tường dài nhất là tường Dền (dài 500m), tường ngắn nhất là tường Bim (dài 65m) Hiện tại các tường thành trên dã bị sạt lở nhiều, có chỗ chỉ còn lại một vài vạt đất cao hơn mặt ruộng chung quanh một chút, khó mà phân biệt được nếu không có sự chỉ dẫn của nhân dân địa phương Nhưng phần nhiều tường thành còn khá cao và lớn, có thể dễ dàng nhận thấy

Những tường thành lớn hầu hết che chở mặt đông và phía bắc khu thành Hoa Lư, tức là phía trông ra sông Hoàng Long, thung lũng mở ra, tiếp cận với một vùng đồng bằng trống trải

Trong khu vực thành Ngoại còn có một số di tích tương truyền là của thời Đinh - Tiền Lê như:

Trang 27

- Động Am Tiên tương truyền là nơi vua Đinh nhốt hổ báo để trị kẻ có tội Động này khá lớn, ở lưng chừng một quả núi trong một thung lũng hẻo lánh phía đông nam khu thành Ngoại, hiện nay là nơi thờ Phật

- Ghềnh Tháp ở phía đông nam khu thành Ngoại, là một mỏm núi thấp nhô ra sát bờ con sông Sào Khê chảy từ phía nam qua hang Luồn vào khu

Đinh đứng duyệt thuỷ quân thao luyện

- Chùa Nhất Trụ nằm ở giữa thôn Yên Thành, hiện nay trong khuôn viên chùa còn một cột kinh bằng đá rất lớn, hình trụ tám cạnh, trên có khắc bài kinh Lăng Nghiêm và có dòng chữ “Đại Thánh Minh Hoàng Đế Lê tổ tự thừa thiên mệnh đại định sơn hà thập lục niên…” cho biết rằng cột kinh này được dựng vào thời Lê Đại Hành ( 981 - 1005)

- Đền Phất Kim là nơi thờ công chúa Phất Kim, con gái Đinh Tiên Hoàng Đền nằm ở giữa thôn Yên Thành, trước cửa đền có một cái giếng nhỏ, tương truyền là nơi Phất Kim tự vẫn Sử cũ có chép việc Đinh Tiên Hoàng gả Phất Kim cho sứ quân Ngô Nhật Khánh và Phất Kim đã bị Ngô Nhật Khánh ngược đãi, ruồng bỏ

- Ao Giải ở chân núi Chợ, ở phía bắc Thành Ngoại, tương truyền thời Đinh dùng làm nơi nuôi giải để hành hạ kẻ có tội

- Lăng vua Đinh để trên núi Mã Yên ở giữa khu Thành Ngoại, muốn lên tới nơi phải trèo qua mấy trăm bậc đá

- Lăng vua Lê ở ngay chân phía nam núi Mã Yên Hai lăng vua Đinh và vua Lê chỉ có tính chất tượng trưng (thời Minh Mệnh có dựng hai bia đá ở ngay hai lăng này)

Ở khu vực thành Hoa Lư còn có những hang núi mang tên Hang Muối, Hang Tiền, Hang Quàn… nhân dân địa phương cho đấy là những di tích của thời Đinh - Tiền Lê

Trang 28

Ngoài những di tích kể trên, ở thành Hoa Lư còn có nhiều đền, phủ, chùa

cổ như đền thờ vua Đinh, đền thờ vua Lê, chùa Bà Ngô, tháp Báo Thiên, Đình Ngang, chùa Ngần, chùa Thủ, chùa Dền, phủ Vật, phủ làng Thong, phủ Đường Xẻo, Phủ Đông Vương… Phần nhiều di tích loại này đã bị phá huỷ, nhiều chỗ không còn lại một vết tích gì trên mặt đất, nhưng cũng có thể cung cấp nhiều tư liệu phong phú để nghiên cứu kinh thành Hoa Lư

Đền Đinh và Đền Lê là hai di tích có giá trị về nghệ thuật kiến trúc cổ, nằm ở chính giữa khu thành Ngoại, kiểu kiến trúc thời Hậu Lê (thế kỷ XVII - XVIII) Tương truyền hai ngôi đền này xây dựng trên nền cung điện thời Đinh

có liên quan đến dã sử của Hoa Lư và còn làng Đại Hữu, xã Gia Phương, huyện Gia Viễn, tương truyền là quê hương của Đinh Bộ Lĩnh

Riêng ở khu thành Nội, ngoài những tường thành mà ta đã xác định được

rõ ràng, còn có những vết tích của kiến trúc cổ và có một số truyền thuyết nói rằng thành Nội là nơi ở của gia đình các quan lại hoặc liên quan đến nhân vật

Như vậy, có thể nói rằng, hiện nay toàn bộ những dấu ấn kiến trúc thế kỷ

X hầu như còn nằm dưới lòng đất Những dấu tích kiến trúc đã xuất lộ qua các cuộc khai quật cho thấy cũng đã bị tàn phá và xáo trộn nặng nề, hầu hết

Trang 29

các nền móng, tường gạch đều không còn nguyên vẹn, bị xô lệch hoặc bị bóc

quật do chưa có điều kiện bảo tồn đành phải lấp lại, có những hố khai quật bắt buộc phải lấy hiện vật về bảo tàng Ninh Bình bảo quản Duy nhất có một hố khai quật vào năm 1998, bên cạnh Đền Lê được bảo tồn tại chỗ, xây nhà trưng bày phục vụ nghiên cứu và khách tham quan du lịch Trong quy hoạch tổng thể Khu di tích cố đô Hoa Lư cũng đã có kế hoạch bảo vệ và khai quật để có thể khôi phục phần nào bộ mặt kinh đô Hoa Lư thế kỷ X, trung tâm văn hóa

Việt Nam thế kỷ X, biểu trưng cho tinh thần bất khuất, tự lực

1.2.3 Quá trình nghiên cứu và tình hình tư liệu về vật liệu kiến trúc

Khi kinh thành Hoa Lư ra đời cho tới nay đã hơn một ngàn năm tuổi, gần như thời nào cũng có các sử gia, các nhà nghiên cứu quan tâm và tìm hiểu, ghi chép, khảo cứu về nó Tuy vậy phải nói rằng, trừ một vài bản báo cáo khảo sát, khai quật khảo cổ về kinh thành Hoa Lư trong thời gian gần đây còn lại chưa có một công trình tầm cỡ nào đề cập riêng đến vật liệu kiến trúc ở

Khu trung tâm di tích Cố đô Hoa Lư

Vào thế kỷ XIV, thời Trần một tác giả khuyết danh đã viết cuốn Đại Việt

sử lược, cuốn sử sớm nhất của ta viết về kinh đô Hoa Lư Theo cuốn sử này,

năm 968 sau khi lên ngôi “ở động Hoa Lư” vua Đinh “xây cung điện chế triều nghi…và 16 năm sau, năm 984, vua Lê cho xây dựng cung điện ở núi Hỏa

Lạc, Trường Xuân, Long Lộc và lầu Hỏa Vân, đến năm 992 xuất hiện thêm lầu Càn Nguyên Một số trong các công trình đó được dát vàng bạc [74: tr

Trang 30

Sang thế kỷ XV, thời Lê, Nguyễn Trãi viết Dư địa chí cho biết thêm

kinh đô nước Đại Cồ Việt ở Hoa Lư, mà “Hoa Lư xưa là Đại Hoàng, bây giờ

là phủ Trường Yên” [69: tr 24]

Cũng vào thời Lê, Ngô Sỹ Liên viết cuốn Đại Việt sử ký toàn thư, cho

biết rõ hơn về ý đồ chọn đất đóng đô của vua Đinh cũng như địa điểm và qui

mô của kinh thành Hoa Lư Qua đó cho biết thêm điện Bách Bảo Thiên Tuế là nơi coi chầu, điện Trường Xuân là nơi vua ngủ và biết thêm trong số lầu các,

cung điện đó có cửa Minh Đức Ở đây Ngô Sỹ Liên cũng viết rõ hơn Việt sử lược việc vua Đinh xây cung điện là “đắp thành đào hào, làm cung điện” (Đại Việt sử lược chỉ ghi: “xây cung điện”) [23: tr 215]

Sang thời Nguyễn, các bộ sử và thể loại “Chí” có ít nhiều đều đề cập tới

Kinh thành Hoa Lư trong đó có bộ Cương mục, Đại Nam nhất thống chí, Ninh Bình phong vật chí, Ninh Bình toàn tỉnh địa chí khảo biên, Ninh Bình tỉnh chí…

Cương mục đề cập vấn đề này tương tự như Toàn thư, ngoài ra cho biết thêm: “Thành Hoa Lư ở Trường Yên là nơi đóng đô của họ Đinh Họ Đinh

(thành nhân tạo) khoảng 1.500m

Ninh Bình phong vật chí, gọi điện Bách Bảo Thiên Tuế là Bách Tuế

Thiên Bảo, điện Tử Hoa là Trang Quang và cung cấp thêm: “Đô cũ của nhà Đinh và nhà Lê đóng ở Tràng An thượng và Tràng An hạ… về hạt Gia Viễn…

có ngoại thành và nội thành và có cây tháp thiết trường cùng chùa Một Cột, tuy tháp chùa lâu ngày mai một, mà các danh hiệu vẫn còn… đến nay trải qua mấy tang thương cung điện hóa thành đám cỏ, duy còn hai cột đá cao một trượng, bốn bên có nét chữ, nhưng vì lâu ngày cỏ rêu mờ mịt không hiểu là chữ gì cả” [10]

Trang 31

Đại Nam nhất thống chí nói đến Ccố đô Hoa Lư kỹ hơn: cửa (thành) xây bằng đá, cùng với di tích cầu Đông, cầu Dền, cầu Mống, Tràng Tiền, chùa Tháp, chùa Nhất Trụ… nay còn một cột đá lớn hai quầng, cao một trượng,

Ninh Bình tỉnh chí có bổ xung thêm một di tích nữa ở khu cố đô Hoa Lư

là đình Ngang [40]

Gia Viễn huyện chí được ông Hoàng Tạ Ngọc viết dưới thời Nguyễn mô

tả Kinh thành Hoa Lư: “Nhà Đinh dựa núi đắp thành, trong là thành, ngoài là quách, dựa vào sông để làm hào, có bốn cửa kiên cố chắc chắn… núi Ba Chon là vọng tiêu phía bắc thành, núi Kình Phong là vọng đài nội thành, núi Cột Cờ là kỳ đài nước Đại Cồ Việt, núi Bái Đính là đại thế tàng phục phía

Trên đây là những ghi chép, khảo tả, chú giải Kinh thành Hoa Lư thế kỷ

X trong các bộ sử nước nhà, kể từ thời Nguyễn về trước Riêng tài liệu nước ngoài có lời tâu của viên sứ giả Tống Cảo và bài nghiên cứu của học giả Pháp G-Đuy-mu-chi-ê

Tống Cảo là sứ giả nhà Tống đến Kinh thành Hoa Lư vào năm 989-890 khi chính quyền Đại Cồ Việt nằm trong tay họ Lê Đây là tài liệu duy nhất,

là kinh đô, nhưng không được nhiều lại thiên về nói đến cách ứng sử của vua

Còn G-Đuy-mu-chi-ê cũng chỉ khẳng định rằng Hoa Lư là quốc đô đầu tiên

Từ hòa bình lập lại đến nay, một loạt các bài nghiên cứu thế kỷ X nói

thành Hoa Lư, được đăng tải trên báo, tạp chí, in thành sách Đi tiên phong giai đoạn này là các nhà sử học, khảo cổ học, bảo tàng học, thông tin được

Trang 32

công bố chủ yếu dựa vào khảo sát điền dã, khai quật khảo cổ học trên vùng đất Hoa Lư (Bảng 1) Nội dung nghiên cứu Kkinh thành Hoa Lư giai đoạn này là đi sâu tìm hiểu tổng thể mặt bằng, các tuyến tường thành, cung điện, nhà cửa, các kiến trúc tôn giáo, hệ thống bố phòng… để từ đó đánh giá về giá trị, tầm quan trọng của kinh thành, sự ra đời, quá trình tồn tại và sự chấm rứt vai trò kinh đô, sự đóng góp của nó ở nửa cuối thế kỷ X Có thể liệt kê ra

những tài liệu dưới đây:

Những năm 60 ở thế kỷ trước tác giả Mạc Kính Dương viết: “Thắng cảnh Ninh Bình” khảo cứu sơ bộ những di tích có liên quan đến hai triều đại Đinh - Lê và khu Cố đô Hoa Lư như đình chùa, miếu, núi, hang động nhằm

Năm 19892 tại hội nghị “Lịch sử thế kỷ X”, trong tham luận giáo sư Trần Quốc Vượng có viết “không gian Hoa Lư” là bản lề, quá độ, trung gian giữa Giao và Ái, giữa sông Hồng và sông Mã, Mường và Việt, rừng núi và đồng bằng, giữa An Nam Tống Bình và Đại Việt Thăng Long giữa thế kỷ IX

và thế kỷ XI, có ý nghĩa địa kinh tế - chính trị - xã hội - chiến lược lớn lao

chủ yếu cắt ngang một đoạn tường thành phía bắc để nghiên cứu cấu trúc, kỹ thuật xây thành Kết quả đợt công tác đó cho thấy đây là lần đầu tiên nghiên

Năm 1976 - 1977, Bảo tàng Hà Nam Ninh tiến hành đợt khảo sát với qui

mô tương đối lớn toàn bộ vùng đất huyện Hoa Lư đồng thời tiến hành đào

Trang 33

thám sát và khai quật một loạt địa điểm trong khu vực thành ngoại Ccố đô Hoa Lư, kết quả đã tìm thấy một số nền gạch vuông có trang trí hoa văn cùng

gạch chữ nhật có chữ “Đại Việt quốc quân thành chuyên”, “Giang tây quân”

Tháng 5 năm 1991 đã tiến hành khai quật một số điểm trong khu “Thành Ngoại” đã phát hiện được một hệ thống móng kiến trúc và móng tường thành,

Năm 2002 tác giả Đặng Công Nga cho ra đời cuốn sách Kinh đô Hoa Lư thời Đinh-Tiền Lê [27] trong đó có tập hợp khá đầy đủ tài liệu về Ccố đô Hoa

Lư, đây là tập hợp tài liệu của tác giả, với sự cộng tác của các cán bộ Bảo tàng Ninh Bình

Từ tháng 11/2009 đến tháng 4/2010 Bảo tàng Lịch sử Việt Nam phối hợp với Sở văn hóa, Thể thao và Du lịch Ninh Bình tiến hành đào thám sát và

thu thập nhiều di vật mang lại những nhận thức mới về diện mạo kiến trúc của kinh đô Hoa Lư xưa [11; 12] (Bảng 2; Bản ảnh 3.2; 4.2)

1.3 TIỂU KẾT

Chương 1 giới thiệu tình hình lịch sử của nước Đại Việt vào thế kỷ X Thế kỷ X là một thế kỷ có nhiều biến động lịch sử và đây chính là giai đoạn bản lề đánh dấu sự thắng lợi của cuộc kháng chiến chống ngoại xâm, đô hộ suốt hơn 1000 năm lịch sử Các triều đại phong kiến non trẻ Việt Nam từ

Trang 34

Ngô, Đinh, Tiền Lê tiếp nối nhau khẳng định nền độc lập dân tộc bằng những chiến thắng oai hùng trước giặc ngoại xâm và cả những thế lực cát cứ địa phương để thống nhất đất nước Trong bối cảnh lịch sử đó vùng đất Hoa Lư

đã được các triều đại phong kiến Việt Nam vừa mới hình thành chọn làm nơi đóng quốc đô của đất nước

Lư xưa chỉ còn là nhứng dấu tích kiến trúc nằm ẩn trong lòng đất và cũng đã

bị xáo trộn nặng lề

đặc biệt nhiều cuộc khai quật khảo cổ học được tiến hành đã góp thêm nhiều

tư liệu quý giá làm sáng tỏ hơn những thông tin đã được ghi trong các bộ chính sử phong kiến trước đây

Trang 35

CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU KIẾN TRÚC KHU TRUNG TÂM

DI TÍCH CỐ ĐÔ HOA LƯ(THẾ KỶ X)

2.1 GẠCH

Gạch là loại vật liệu đất nung, là một trong những loại vật liệu chính tham gia vào các công trình kiến trúc khu trung tâm Hoa Lư Các loại gạch đã

loại: gạch hình khối chữ nhật, gạch hình khối vuông và gạch có hình khối đặc biệt Tùy theo từng loại hình mà gạch có chức năng khác nhau như xây, lát…

ở nhiều vị trí khác nhau trong công trình kiến trúc

Căn cứ vào thực tiễn tư liệu, chúng tôi phân loại gạch theo chức năng

từ 3,5cm - 5,5cm Chất liệu gạch khá mịn, chắc, nhưng độ nung không cao nên khi nằm lâu trong lòng đất, gạch thường bị mềm, bở và rất dễ bị mủn nát

Về màu sắc, phần lớn gạch đều có màu đỏ tươi, đỏ vàng, một số ít có màu

ảnh 12; Bản dập 2; 3)

Về chi tiết, gạch hình khối chữ nhật được phân chia thành 5 loại:

- Loại 1: Gạch có dáng hình khối chữ nhật, dẹt Tất cả đều làm từ đất

Trang 36

nung màu đỏ tươi, màu đỏ hoặc đỏ vàng Một mặt in nổi lên giữa mặt gạch

trong khuôn hình chữ nhật chữ Hán “Đại Việt quốc quân thành chuyên” (gạch

dùng để xây thành của nước Đại Việt) Kích thước viên gạch nằm trong khoảng: dài 27cm - 32,5cm, rộng: 14,5cm - 18,5cm, dày 3,7cm - 4,5cm Mặc

dù số lượng phát hiện không nhiều, nhưng đây lại là nhóm hiện vật quan trọng

hiện, chúng thường nằm trong các đoạn tường xây thành hoặc tường kiến trúc

ở Hoa Lư lẫn trong rất nhiều viên gạch cùng loại nhưng không in chữ Cũng

có một số viên, đa phần bị vỡ nát, nằm vương vãi ở nhiều nơi trong thành do những đoạn tường kiến trúc xưa bị người thời sau phá vỡ, san bạt Qua vị trí xuất lộ của chúng ở các đoạn tường, có thể thấy rằng chúng chỉ được dùng ở một vài vị trí nhất định trong kiến trúc Loại này có 4 tiểu loại khác nhau dựa

vẽ 16; 17.a,b,c; Bản dập 1.1,4,5)

+ Loại 1 kiểu 1 (L1.k1): khuôn chữ hình chữ nhật, quanh khuôn chữ có

một đường gờ nổi, chữ “Quốc” viết đủ nét Khuôn chữ to, kích thước dài

23cm, rộng 5,5cm - 6cm, chữ nét to mập

+ Loại 1 kiểu 2 (L1.k2): khuôn chữ hình chữ nhật, quanh khuôn chữ có

một đường gờ nổi, chữ “Quốc” viết đủ nét Khuôn chữ nhỏ, kích thước dài

20,5cm, rộng 4,1cm - 4,5cm, chữ nét rất mảnh, sắc

+ Loại 1 kiểu 3 (L1.k3): khuôn chữ hình chữ nhật, quanh khuôn chữ

không có gờ nổi, chữ “Quốc” viết giản nét, khuôn chữ dài 20cm, rộng 3,5cm

Trang 37

- Loại 2: Gạch có dáng hình khối chữ nhật, dẹt, đất nung màu đỏ gạch, vàng gạch, bề mặt có vết chải, độ nung thấp Những viên gạch loại này có số lượng nhiều nhất, xuất hiện phổ biến ở các phế tích kiến trúc hiện còn thấy ở các tường gạch bo bên trong tường Thành Nội, Thành Ngoại và tường các phế tích kiến trúc ở Hoa Lư và xuất hiện ở hầu hết các hố khai quật khảo cổ ở dạng các mảnh vỡ Kích thước trung bình: dài 28cm - 31cm, rộng 16cm -

- Loại 3: Gạch có dáng hình khối chữ nhật dẹt, đất nung màu xám đen,

bề mặt có vết chải, độ nung thấp, xương mịn, bở, kích thước trung bình: dài

Nhìn chung, cả ba loại gạch trên đều có kích cỡ cơ bản tương đương nhau, trong đó nhóm gạch có in chữ (loại 1) có kích thước chiều rộng viên

gạch nhỏ hơn chút ít so với hai loại còn lại

Xét về số lượng, nhóm gạch loại 2 có màu đỏ gạch, vàng gạch chiếm số lượng nhiều nhất, đa số những viên gạch tìm thấy trong kiến trúc đều thuộc nhóm này Hai nhóm còn lại có số lượng ít hơn rất nhiều so với nhóm gạch loại 2

- Loại 4: gạch hình khối chữ nhật, to và dày hơn các loại trên, độ nung cao, màu xám xanh, trên mặt có in chữ “Giang Tây quân” Loại này cũng phát hiện được ở hầu hết các đợt điều tra và khai quật khảo cổ tuy nhiên số lượng

- Loại 5: gạch hình khối chữ nhật, màu đỏ, độ nung thấp, ở cạnh có in văn nổi hình trám lồng hoặc hình những đường thẳng bố trí theo những đồ án hình học nhất định (Bản ảnh 16.1)

Về loại hình học, có thể thấy gạch loại 4 và loại 5 là những viên gạch thời Bắc thuộc (thế kỷ VII - IX) được tái sử dụng để xây thành Hoa Lư cùng với những viên gạch ở ba nhóm trên

Trang 38

Những vị trí sử dụng gạch xây, qua nghiên cứu khảo cổ cho biết như sau:

- Ở mặt trong tường thành Đông Bắc nối từ núi Chẽ sang núi Cột Cờ, đợt điều tra khảo cổ năm 1969 đã thấy một tường gạch xây theo chiều dọc của tường thành Tường gạch dày khoảng 0,45m, xây rất cẩn thận, đều đặn và chắc chắn Giữa những viên gạch có lớp liên kết mỏng Mặt ngoài là những viên gạch còn nguyên vẹn, mặt trong dùng nhiều viên gạch vỡ Toàn bộ tường gạch này kết hợp chặt với đất đắp thành Tường thành hơi khum nghiêng vào

bị phá huỷ cùng với chiều cao của tường thành Tường gạch còn lại hiện nay chỉ cao khoảng 1,75m, gồm 28 hàng gạch Có thể tường gạch còn cao hơn ngày nay khá nhiều Dưới chân tường gạch có kê nhiều đá và cọc gỗ lớn chồng chéo Mặt trong của tường gạch ốp vào tường đất, mặt ngoài cũng có lớp đất phủ kín Tường gạch chỉ xây dọc theo mép trong của tường thành, phần còn lại là tường đất Tường đất đắp dày phía ngoài và phủ kín tường gạch, và có thể được đắp cao hơn tường gạch Căn cứ vào cấu tạo của tường thành, khả năng tường gạch này có tác dụng là bức tường để bó tường thành

và chống xói lở Gạch xây ở đây chủ yếu là loại gạch hình chữ nhật, kích thước không đều nhau, khoảng 30cm x 16cm x 4cm, làm từ đất sét mịn, màu

đỏ, độ nung không cao lắm, thường có vài vết văn chải (gạch loại 2) Ở một

số viên trong hàng gạch có tìm thấy những chữ “Đại Việt quốc quân thành chuyên” (gạch loại 1) Ngoài ra, ở lớp đất đắp ngoài bên cạnh tường gạch, có tìm thấy một số viên gạch mang chữ “Giang Tây Quân”, nằm lẫn lộn với loại

Trang 39

gạch xây thành nói trên Kích thước và màu sắc của loại gạch này hoàn toàn

Nhìn mặt cắt ngang tường thành, có thể thấy rõ cấu tạo của toàn bộ tường thành Tầng dưới cùng là móng tường thành, dày 2m, gồm nhiều lớp lá cây, cành cây và những lớp đất xen kẽ nhau Những lớp này hơi trũng ở giữa

Độ dày của các lớp đất và lá không đều nhau Tầng trên là thân tường thành,

có chỗ dày 2,2m, những chỗ không bị sạt lở nhiều có thể dày đến 4,5m Tầng này thuần nhất không chia thành những lớp riêng biệt, chỉ đắp bằng một loại đất sét khá mịn, màu xám, có vân nâu hoặc vàng, không pha tạp, kết cấu rất chắc Tường thành rộng từ 8m - 10m, những chỗ còn cao thì mặt tường thành hẹp hơn, mép trong là tường gạch, mép ngoài có đóng những hàng cọc gỗ để chống sạt lở Như vậy tường thành đông bắc hiện còn dài khoảng 300m, chân thành rộng từ 15m - 17m, trên mặt tường rộng từ 8m - 10m Căn cứ vào những vết tích còn lại có thể giả định rằng chiều cao của tường thành khi còn nguyên vẹn có thể lến tới 8m - 10m, bề rộng của mặt thành có thể từ 3m - 4m,

vẽ 5)

Căn cứ vào sự cấu tạo của các tầng đất, có thể cho rằng tường thành này được đắp một lần Không thấy hiện tượng xây đắp chồng chất của nhiều thời đại nối tiếp nhau [20: tr 37]

- Tường Thành Đông nối từ núi Cột Cờ đến núi Thanh Lâu, đợt khảo sát năm 1969 cũng cho biết tường thành này cấu trúc hoàn toàn giống với tường thành Đông Bắc Tường dài 233m, độ cao hiện còn so với mặt ruộng là 2,75m, rộng mặt trên là 4m, hiện nay đã sửa lại thành một con đường lớn Tường được đắp xuyên qua một vùng lầy lội, móng tường dày khoảng 2m, là những lớp đất xen kẽ những lớp lá và cành cây Mặt trong tường có xây một tường gạch chạy dài suốt tường thành, cách xây và hình dáng giống như

Trang 40

tường gạch của của tường thành Đông Bắc, nhưng có phần cao hơn một chút

và nhiều chỗ còn nổi rõ lên trên mặt đường Tường thành này đã bị phá huỷ rất nghiêm trọng cả chiều cao lẫn bề rộng Căn cứ vào những vết tích còn lại,

có thể thấy rằng tường thành này rất dày và có thể rất cao Đặc biệt ở đây còn

có dấu tích của những công trình kiến trúc khá lớn, như ở đầu tường thành phía núi Cột Cờ, cách chân núi 26m có một nền gạch lát đã bị phá huỷ

trình kiến trúc có quy mô to lớn xưa kia

- Đợt khảo sát năm 1977 - 1978 của Ty Văn hoá Hà Nam Ninh, đã phát hiện trong hố thám sát số 14, mở trong khu vực đền Lê, một hàng gạch xếp

điện ở thời Đinh - Lê

- Trong đợt khai quật năm 1998 xuất hiện một số đoạn tường gạch nằm trong hố I và hố III Đoạn tường ở hố I đã bị đổ, chiều dài 2m, rộng 1,1m, chạy theo hướng bắc nam, đoạn đổ còn nguyên vẹn nhất có 6 lớp xếp nghiêng đều từ tây sang đông, gạch xây màu đỏ, độ nung không cao nên khá mềm và hầu hết đều bị vỡ Gạch có chiều rộng nằm trong khoảng 14cm - 18cm, dày 3cm - 4,5cm Đoạn tường trong hố III còn khá nguyên trạng ở vị trí ban đầu, hướng đông tây, dài 12,2m và còn phát triển tiếp về phía đông, ước tính chiều dài của cả đoạn tường là 16m, chỗ tường cao nhất còn lại 8 hàng gạch Mặt tường nơi rộng nhất là 0,86m, nơi hẹp nhất là 0,42m Những đoạn còn rõ nhất, gạch được xếp ngang xen lẫn các viên xếp dọc và được lát rất ngay ngắn Trong đoạn tường này có 2 viên gạch có ghi chữ Hán, một viên chữ đã bị mờ nhưng còn đọc được ba chữ “Đại … thành chuyên”, viên còn lại bị vỡ nhưng

Ngày đăng: 23/03/2015, 13:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. Nguyễn Văn Đoàn (2010), Khai quật di tích cố đô Hoa Lƣ 2009 - 2010: kết quả và vấn đề. KCH số 3/2010, tr 107-133 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khai quật di tích cố đô Hoa Lƣ 2009 - 2010: kết quả và vấn đề
Tác giả: Nguyễn Văn Đoàn
Nhà XB: KCH
Năm: 2010
26. Vân Bồng Nguyễn Tử Mẫn (), Ninh Bình toàn tỉnh địa chí khảo biên, Bản đánh máy Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ninh Bình toàn tỉnh địa chí khảo biên
Tác giả: Vân Bồng Nguyễn Tử Mẫn
49. Nguyễn Cao Tấn (2011), Phật giáo thời Đinh – Tiền Lê trên đất Ninh Bình, Phật giáo thời Đinh – Tiền Lê trong công cuộc dựng nước và giữ nước, tr 250 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phật giáo thời Đinh – Tiền Lê trong công cuộc dựng nước và giữ nước
Tác giả: Nguyễn Cao Tấn
Năm: 2011
5. Đào Duy Anh (1994), Đất nước Việt Nam qua các đời. Nxb Thuận Hóa, Huế Khác
6. Sông Băng - Văn Hạc (1942-1943), Việt Hoa thông sứ sử lƣợc, Tủ sách quốc học Khác
7. Phan Huy Chú (1992), Lịch triều hiến chương loại chí, Tập I. Nxb KHXH, Hà Nội Khác
8. Nguyễn Thị Kim Cúc (2010), Hoa Lƣ di tích và danh thắng. Nxb VHDT, Hà Nội Khác
9. Mạc Kính Dương (1964), Thắng cảnh Ninh Bình, Ty Văn hóa Ninh Bình Khác
10. Thiện Đình (1931), Ninh Bình phong vật chí, đăng trong báo Nam Phong, số 163, ra tháng 6, năm 1931 Khác
11. Nguyễn Văn Đoàn (2010), Báo cáo khai quật Khu trung tâm Cố đô Hoa Lƣ 2009 - 2010, Tƣ liệu Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam Khác
13. Lê Quý Đôn (1962), Vân Đài loại ngữ, tập II, Nxb Văn hóa Khác
14. Nguyễn Duy Hinh (1983), Thành và thành Thăng Long, Thông báo khoa học Viện Bảo tàng lịch sử Việt Nam, số 1 Khác
15. Phạm Nhƣ Hồ, Đặng Công Nga (1988), Khai quật ngọn tháp thời Trần trên mỏm Ghềnh Tháp (Hoa Lƣ - Hà Nam Ninh). KCH số 3/1988, tr 84-91 Khác
16. Nguyễn Quốc Hội (1977), Báo cáo khai quật Hoa Lƣ, Tƣ liệu Bảo tàng Nam Định Khác
17. Nguyễn Công Hội, Đặng Công Nga (1978), Kết quả điều tra và thám sát khu di tích Hoa Lƣ năm 1977 - 1978. NPHMVKCH năm 1978, Hà Nội, tr 326-329 Khác
18. Nguyễn Gia Khang (1970), Những di vật lịch sử phát hiện ở Hoa Lƣ từ năm 1963 đến năm 1968, Khảo cổ học, số 5 - 6/1970, tr 19-46 Khác
19. Hán Văn Khẩn (Cb) (2008), Cơ sở khảo cổ học, Nxb ĐHQGHN Khác
20. Phạm Văn Kỉnh, Nguyễn Minh Chương (1970), Thành Hoa Lư và những di tích mới phát hiện, Khảo cổ học (số 5-6), tr. 32- 46 Khác
21. Ngô Thị Lan (2006), Trang trí trên ngói ở Hoàng Thành Thăng Long qua tƣ liệu khai quật hố D4-D5-D6 (khu D) địa điểm 18 Hoàng Diệu – Hà Nội, Luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử, Hà Nội, tƣ liệu khoa Lịch sử Khác
22. Phan Huy Lê, Trần Quốc Vƣợng (1978), Lịch sử Việt Nam, Tập 1, Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT - Vật liệu kiến trúc thời Đinh - Tiền Lê ở khu trung tâm di tích Cố Đô Hoa Lư
BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT (Trang 6)
Bảng 1: Thống kê các lần điều tra, thám sát và khai quật ở Cố đô Hoa Lƣ - Vật liệu kiến trúc thời Đinh - Tiền Lê ở khu trung tâm di tích Cố Đô Hoa Lư
Bảng 1 Thống kê các lần điều tra, thám sát và khai quật ở Cố đô Hoa Lƣ (Trang 7)
Bảng 1: Thống kê các lần điều tra, thám sát và khai quật ở Cố đô Hoa Lƣ - Vật liệu kiến trúc thời Đinh - Tiền Lê ở khu trung tâm di tích Cố Đô Hoa Lư
Bảng 1 Thống kê các lần điều tra, thám sát và khai quật ở Cố đô Hoa Lƣ (Trang 87)
Bảng 2 : Bảng thống kê vật liệu và trang trí  kiến trúc khai quật năm 2009 - Vật liệu kiến trúc thời Đinh - Tiền Lê ở khu trung tâm di tích Cố Đô Hoa Lư
Bảng 2 Bảng thống kê vật liệu và trang trí kiến trúc khai quật năm 2009 (Trang 89)
Bản vẽ 1: Sơ đồ hiện trạng khu di tích Hoa Lƣ năm 2010 - Vật liệu kiến trúc thời Đinh - Tiền Lê ở khu trung tâm di tích Cố Đô Hoa Lư
n vẽ 1: Sơ đồ hiện trạng khu di tích Hoa Lƣ năm 2010 (Trang 122)
Bản vẽ 2: Sơ đồ hiện trạng và các vị trí thám sát, khai quật năm 1998 [Nguồn: 59] - Vật liệu kiến trúc thời Đinh - Tiền Lê ở khu trung tâm di tích Cố Đô Hoa Lư
n vẽ 2: Sơ đồ hiện trạng và các vị trí thám sát, khai quật năm 1998 [Nguồn: 59] (Trang 123)
Bản vẽ 3: Sơ đồ vị trí các hố thám sát và khai quật năm 2009 - 2010 - Vật liệu kiến trúc thời Đinh - Tiền Lê ở khu trung tâm di tích Cố Đô Hoa Lư
n vẽ 3: Sơ đồ vị trí các hố thám sát và khai quật năm 2009 - 2010 (Trang 124)
Bản vẽ 4: Sơ đồ thành Hoa Lƣ - Vật liệu kiến trúc thời Đinh - Tiền Lê ở khu trung tâm di tích Cố Đô Hoa Lư
n vẽ 4: Sơ đồ thành Hoa Lƣ (Trang 125)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w