1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Trang trí trên ngói ở Hoàng Thành Thăng Long qua tư liệu khai quật hố D4-D5-D6 (Khu D) địa điểm 18. Hoàng Diệu - Hà Nội

129 598 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 129
Dung lượng 5,75 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trang trí trên đầu ngói ống và đầu ngói âm dương được mô tả là hai bộ phận tách rời sau đó gắn lại với phần thân ngói.. Tại khu vực đình Thái Tể đã đào 17 hố thám sát với diện tích 128m2

Trang 1

Đại học quốc gia hà nội Trường đại học khoa học xã hội và nhân văn

Khoa Lịch sử

-

Ngô Thị Lan

Trang trí trên ngói ở hoàng thành thăng long qua

tư liệu khai quật hố D4-D5-D6 (khu D) địa điểm

18.hoàng diệu - hà nội

Chuyên ngành: khảo cổ học

Mã số: 60.22.60

Luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử

Người hướng dẫn khoa học

PGS.TS.Tống Trung Tín

Hà Nội – 2006

Trang 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

5 Kết quả và đóng góp của luận văn

6 Bố cục luận văn

Chương 1.TỔNG QUAN TƯ LIỆU

1.1.Tổng quan những phát hiện và nghiên cứu về trang trí trên

ngói ở khu vực Thăng Long – Hà Nội

1.1.1.Những phát hiện và nghiên cứu trước năm 1954

18

1.1.2.Những phát hiện và nghiên cứu sau năm 1954 21 1.2 Tình hình phát hiện ngói và trang trí trên ngói ở các hố D4-D5-D6

(khu D) khu di tích HTTL tại 18.Hoàng Diệu

1.2.1.Vài nét về vị trí và địa tầng các hố khai quật

1.2.2.Tình hình nghiên cứu ngói và trang trí trên ngói ở các hố D4-D5-D6 (khu D)

27

30

Chương 2 HOA VĂN TRANG TRÍ TRÊN NGÓI Ở CÁC HỐ D4-D5-D6

2.1.Hoa văn trang trí trên các bộ phận trang trí gắn thêm trên ngói

40

2.1.3.Trang trí trên lá đề 62

2.2 Hoa văn trang trí trực tiếp trên thân ngói

2.2.1.Trang trí trên đầu ngói âm dương

89

89 2.2.2.Trang trí trên lưng ngói mũi sen đầu vát 90 2.2.3.Trang trí trên đầu và lưng ngói mũi sen đầu vát 91

Chương 3. NIÊN ĐẠI VÀ ĐẶC TRƯNG TRANG TRÍ TRÊN NGÓI Ở CÁC HỐ D4- D5- 94

Trang 3

Chương 4. NHỮNG GIÁ TRỊ CỦA TRANG TRÍ TRÊN NGÓI Ở CÁC HỐ D4-D5-D6

4.1 Trang trí trên ngói ở các hố D4-D5-D6 góp phần nghiên cứu

tiến trình trang trí trên ngói ở HTTL và lịch sử trang trí ngói Việt Nam

4.2 Góp phần nhận diện kiến trúc ở các hố D4-D5-D6

115

115

120 4.3 Góp phần tìm hiểu lịch sử Mỹ thuật Thăng Long và mỹ thuật Việt Nam 125

Chú giải các nguồn tài liệu

Trang 4

KHXH & NVQG Khoa häc x· héi vµ nh©n v¨n Quèc gia

NPHMVKCH Nh÷ng ph¸t hiÖn míi vÒ kh¶o cæ häc

Trang 5

14

Mở đầu

1 Tính cấp thiết của đề tài

1.1 Từ tháng 12 năm 2002 đến tháng 3 năm 2004 khảo cổ học Việt Nam đã tiến hành khai quật khu di tích HTTL tại 18.Hoàng Diệu với diện tích hơn 19.000m2 Giá trị của khu di tích đã được các chuyên gia trong ngoài nước đánh giá thuộc loại di sản quốc gia đặc biệt đạt tầm cỡ di sản thế giới Một công cuộc chỉnh lý nghiên cứu khoa học, quy mô lâu dài đang được Viện KCH tiến hành nhằm làm rõ các giá trị của di tích và khối lượng di vật phong phú, đa dạng kéo dài liên tục hơn 1300 năm lịch sử Mỗi loại hình di tích, mỗi loại hình di vật đều có giá trị to lớn trong việc phản ánh lịch sử oanh liệt và vẻ vang của kinh đô ngàn năm văn hiến Đó cũng chính là sự phản ánh những giá trị tiêu biểu nhất của lịch sử dân tộc Ngói và các bộ phận trang trí trên ngói là một thành phần quan trọng trong tổng thể khối di vật đồ sộ đó của kinh đô Thăng Long Chỉ riêng

những di vật trang trí cũng đã rất phong phú Chính vì vậy, tìm hiểu một phần trang trí trên ngói là góp phần thiết thực vào công việc chỉnh lý tổng thể khối di vật đồ sộ đó cũng như công cuộc nghiên cứu lịch sử Thăng Long tiến tới 1000 năm Thăng Long – Hà Nội

1.2 Kinh đô Thăng Long với bề dày lịch sử hiếm có trên thế giới, do chịu sự tàn phá ác liệt của thiên nhiên và các biến động xã hội nên gần như toàn bộ kiến trúc kinh thành đã bị phá huỷ và xáo trộn Để nhận diện được dấu tích kinh thành, có chăng chúng ta chỉ nhận diện được phần nền móng

và bộ mái kiến trúc trong đó có ngói và những thành phần trang trí trên ngói Thông thường thì mỗi loại kiến trúc đều có những thành phần ngói lợp khác nhau trang trí trên ngói khác nhau Do vậy, trang trí trên ngói phản ánh sự phong phú của kiến trúc kinh thành Trang trí trên ngói cũng

Trang 6

diễn biến kinh tế, chính trị và xã hội Chính vì vậy, việc nghiên cứu trang trí trên ngói không những góp phần tìm hiểu lịch sử nghệ thuật điêu khắc Việt Nam mà còn góp phần tìm hiểu lịch sử văn hoá xã hội Việt Nam nói chung và kinh đô Thăng Long nói riêng

1.3 Do tính cấp thiết của trang trí trên ngói như thế, được sự đồng ý của Ban chủ nhiệm dự án khảo cổ học tại 18.Hoàng Diệu, tác giả luận văn

đã chọn đề tài: "Trang trí trên ngói ở Hoàng thành Thăng Long qua tư liệu

khai quật hố D4 - D5 - D6 (khu D) địa điểm 18 Hoàng Diệu - Hà Nội" làm

luận văn thạc sĩ cho mình Trong tương lai, hệ thống vật liệu HTTL trong

đó có những thành phần trang trí trên ngói sẽ được trưng bày trong các bảo tàng Thăng Long – Hà Nội, phục vụ tham quan du lịch Vì vậy, việc thực

hiện đề tài này sẽ là cơ sở khoa học góp phần thiết thực vào việc trưng bày trong các bảo tàng, phục vụ việc nghiên cứu, tham quan du lịch, góp phần phát huy giá trị tác dụng của di tích khảo cổ học HTTL

Trang 7

16

2.2 Thông qua việc nghiên cứu trang trí trên ngói bước đầu tìm hiểu đôi nét về nghiên cứu kiến trúc ở HTTL tại các các hố D4-D5-D6 (khu D) tại18 Hoàng Diệu qua các thời kỳ lịch sử

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ thành phần trang trí trên ngói thu

được tại khu vực hố D4 - D5 - D6 (khu D), địa điểm 18 Hoàng Diệu - Hà Nội

3.2 Phạm vi nghiên cứu: những thành phần trang trí trên ngói ở các hố

D4 - D5 - D6 (khu D) và trong những chừng mực nhất định có so sánh với trang trí trên ngói ở khu vực 18 Hoàng Diệu và một số địa điểm khác như: 11.Lê Hồng Phong, Hậu Lâu, Bắc Môn, Đoan Môn, 62 - 64 Trần Phú…

thuộc kinh thành Thăng Long lịch sử

4 Phương pháp nghiên cứu và nguồn tư liệu

4.1 Luận văn sử dụng chủ yếu phương pháp khảo cổ học truyền thống: khai quật, đo, vẽ, chụp ảnh, dập, miêu tả, thống kê, so sánh đặc biệt phương pháp so sánh được vận dụng triệt để trong luận văn

4.2 Kết hợp với những phương pháp nghiên cứu liên ngành như: lịch

sử mỹ thuật, lịch sử kiến trúc nhằm góp phần tìm hiểu trang trí kiến trúc tại các hố D4-D5-D6 trong bối cảnh chung của trang trí kiến trúc Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử

4.3 Nguồn tư liệu chính của luận văn được thu thập qua kết quả khai quật và chỉnh lý trang trí trên ngói ở các hố D4-D5-D6 khu di tích HTTL tại 18.Hoàng Diệu Ngoài ra luận văn còn chú ý sử dụng các nguồn tư liệu trang trí trên ngói đã được phát hiện tại địa điểm khác ở Hà Nội, Hà Tây, Nam Định, Thái Bình, Thanh Hoá, Bắc Ninh… Các công trình nghiên cứu, bài viết, thông báo khoa học và các ấn phẩm của các nhà nghiên cứu ở trong và ngoài nước có liên quan đến vấn đề trang trí trên ngói

5 Kết quả và đóng góp của luận văn

Trang 8

17

5.1 Luận văn bước đầu tập hợp và hệ thống hoá kết quả nghiên cứu về trang trí trên ngói ở hố D4-D5 -D6 (khu D) trên các phương diện loại hình, hoa văn, kỹ thuật, đặc trưng và niên đại

5.2 Trên cơ sở tư liệu trang trí trên ngói bước đầu thử nhận diện về các

di tích kiến trúc hố D4-D5-D6 (khu D) ở HTTL

6 Bố cục luận văn

Ngoài mở đầu (4 tr.) và kết luận (4 tr.), luận văn gồm có 4 chương:

Chương 1 Tổng quan tư liệu (22 tr.)

Chương 2 Hoa văn trang trí trên ngói ở các hố D4-D5-D6 (54 tr.)

Chương 3 Niên đại và đặc trưng trang trí trên ngói ở các hố D4-D5-D6 (20 tr.) Chương 4 Những giá trị của trang trí trên ngói ở các hố D4-D5-D6 (11 tr.)

Trong luận văn còn có các phần: Lời cam đoan (1 tr.) , bảng chữ viết tắt (1 tr.), các công trình của tác giả có liên quan đến luận văn (1 tr.) , 92 tài liệu tham khảo (7 tr.), danh mục các bảng thống kê, minh hoạ ( 10 tr.), 6 bảng biểu (3 tr.), 188 bản dập (26 tr.), 150 ảnh, 20 bản vẽ và 17 tr bản so sánh (gồm bản dập, bản ảnh, bản vẽ)

Trang 9

Chương 1 Tổng quan tư liệu

1.1.Tổng quan những phát hiện và nghiên cứu về trang trí trên ngói ở khu vực Thăng Long – Hà Nội

1.1.1.Những phát hiện và nghiên cứu trước năm 1954

Trước năm 1954, các phát hiện và nghiên cứu về trang trí trên ngói được biết đến qua một số ghi chép và nghiên cứu của một số học giả của trường Viễn Đông Bác cổ Pháp (L'Ecole Franscaise d' Etrême Orient) (Hà Nội)

Theo các công bố của EFEO, có thể thấy bắt đầu từ năm 1900, trong khi

xây dựng sân Quần Ngựa ở phía Tây thành phố Hà Nội gần đường Hoàng Hoa

Thám ngày nay đã phát hiện một số lớn những mảnh ngói có trang trí [51] Đây có

thể coi là mốc mở đầu cho lịch sử phát hiện và nghiên cứu về trang trí trên ngói ở Thăng Long

Tiếp theo đó, các phát hiện về trang trí trên ngói ở Thăng Long (Hà Nội) kéo dài cho đến thập niên 40 của thế kỷ này

Năm 1901, tại khu vực Quần Ngựa đã tìm thấy một lá đề lệch cao 38cm chạm hình rồng đầu ngẩng cao, mồm ngậm ngọc, bờm uốn lượn nhiều dải, thân thon dài uốn lượn hình sin [8]

Năm 1926, ở làng Yên Lãng đã tìm thấy 2 chiếc khuôn có hình dáng giống nhau, kích thước 21cm x 18cm và 29 cm x 18.5cm Trên một mặt khuôn chạm tỉa một dải lá có cuống, bên trong có nhiều dải xoắn kiểu dây lá hình sin Đây có thể là một trong những khuôn để tạo các mào trang trí gắn ghép các tượng đầu rồng, đầu phượng lớn [8]

Năm 1928, ở Quần Ngựa, tiếp tục tìm thấy đầu ngói ống men xanh in nổi hình rồng trong hai vòng tròn đường kính 12,5cm, lá đề lệch in nổi hình rồng…[8]

Trang 10

Tính đến năm 1917, tổng số những mảnh đất nung sưu tầm được lên tới

3171 mảnh, trong đó có nhiều thành phần trang trí trên ngói [51, tr 4]

Khoảng những năm 1922 - 1925, khu vực Ngọc Hà, Kim Mã cũng tìm thấy một số đầu ngói ống bằng đất nung trang trí hoa sen, cánh sen được tạo bằng những đường chỉ nổi gồm nhiều lớp cánh [8]

Năm 1928, ở Cầu Giấy và năm 1938, ở Kim Mã đã phát hiện một số mảnh ngói ống in trang trí nổi hình người Những mảnh ngói này có xương gốm trắng, phủ men xanh lục phía ngoài Hình trang trí in nổi trên mặt của ngói ống có nhiều mẫu hình khác nhau: hình Phật ngồi toạ thiền, hình người cầu nguyện…[8]

BTLS Việt Nam còn trưng bày một viên ngói bò trên lưng gắn một tượng quan võ bằng đất nung, đầu đội mũ, khuôn mặt khoẻ mạnh [8]

Có thể thấy vùng Ngọc Hà, Kim Mã, Quần Ngựa… (tức là khu vực Hà Nội

từ khu trung tâm Ba Đình trở về phía Tây đến khoảng khu vực Quần Ngựa), việc xây dựng những công trình kiến trúc ở đây trong những thập kỷ đầu thế kỷ trước thường tìm thấy đồ đất nung trang trí hình rồng, phượng, hoa lá…Đó chủ yếu là những bộ phận kiến trúc và trang trí kiến trúc mang phong cách Lý – Trần Một bộ phận các di vật đó hiện đang được lưu giữ và trưng bày tại BTLS Việt Nam, một

số khác đã được người Pháp đưa về nước hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng

Guimé của Pháp [16]

Năm 1952, Parmentier H và Mercier R đã hệ thống tất cả những phát hiện

lẻ tẻ của người Pháp từ năm 1900 đến năm 1917 thành công trình nghiên cứu

“Những thành phần kiến trúc cổ ở miền Bắc Việt Nam” (Eléments anciene d' architecture au Nord Vietnam) Đây là công trình tương đối chuyên sâu về các

thành phần kiến trúc cổ ở miền Bắc Việt Nam mà chủ yếu là ở khu vực thành Thăng Long Trong công trình đó, các ông đã chú ý ít nhiều đến ngói và trang trí trên ngói Công trình đã phân loại tương đối rõ về các loại ngói theo loại hình, cách lợp, chất liệu và màu sắc Hoa văn trang trí được nhắc đến theo các chủ đề,

Trang 11

cách thức trang trí và chức năng của chúng trong bộ mái kiến trúc Các hoa văn như hoa sen, hình rồng, hình mặt người….được trang trí trên đầu ngói ống Đầu

ngói âm dương được gọi là những “Vật hình tam giác” Trang trí hình lá đề gọi là

“những tấm bịt đầu mái” với với các hoa văn trang trí hình rồng, phượng Tượng

uyên ương cũng được mô tả Chất liệu của những loại ngói trang trí được đề cập đến với ba màu sắc đỏ, xám và trắng Màu men được nói đến là màu men vàng Trang trí trên đầu ngói ống và đầu ngói âm dương được mô tả là hai bộ phận tách rời sau đó gắn lại với phần thân ngói Kỹ thuật tạo những thành phần trang trí này được nói đến là cắt gọt trực tiếp và dùng khuôn Đầu ngói ống và một số hình lá

đề được tạo bằng khuôn Những thành phần kiến trúc và trang trí kiến trúc được hệ thống trong công trình nghiên cứu này được xếp vào niên đại từ khoảng đầu thế kỷ

11 đến cuối thế kỷ 15 [51] Có thể nói, đây là công trình đầu tiên nghiên cứu tương đối hệ thống và chi tiết về các loại hình ngói và các thành phần trang trí trên ngói

Tuy nhiên, công trình cũng còn có nhiều điểm thiếu sót Trang trí hình lá đề không nói rõ là lá đề lệch hay lá đề cân Số lượng tư liệu thu được là rất lớn nhưng hai ông không đưa ra được số lượng của mỗi loại hình ấy là bao nhiêu, kích thước như thế nào Trang trí trên ngói ở Thăng Long được diễn ra trong một quá trình lâu dài hàng nghìn năm, nhưng trong công trình này ta không thấy các tác giả

đề cập đến đặc trưng, niên đại và diễn biến của những thành phần trang trí trên ngói

Đến năm 2004, một số hiện vật tìm thấy trong thời kỳ này hiện đang lưu giữ tại BTLS Việt Nam như đầu ngói hoa sen, lá đề trang trí hình rồng, tượng người

đặt trên ngói bò… được Nguyễn Đình Chiến giới thiệu trong bài “Vật liệu kiến trúc

thời Lý - Trần tìm được trong khu vực thành Thăng Long lưu giữ tại BTLS Việt Nam” tại Hội thảo khoa học toàn quốc tổ chức vào tháng 8 năm 2004 về giá trị của

khu di tích HTTL tại 18.Hoàng Diệu [8]

Trang 12

Tóm lại, những phát hiện trước năm 1954 tuy lẻ tẻ, ngẫu nhiên, nhưng tập

hợp lại có thể cho thấy đó là một khối lượng di vật khá lớn và phong phú có giá trị phản ánh nhiều mặt lịch sử kiến trúc và trang trí kiến trúc ở Thăng Long Tuy nhiên, tất cả các phát hiện đó đều không xuất phát từ các cuộc khai quật khoa học cho nên chúng ta không thể biết được diễn biến các di vật trong các lớp đất ra sao, cũng không có hồ sơ khoa học để chúng ta có thể tiếp cận khối tư liệu này một cách đầy đủ chỉ có công trình nghiên cứu tương đối đầy đủ của Parmentier H và Mercier R mà luận văn vừa đề cập trên đây Tuy nhiên, công trình này cũng chỉ cho phép nhìn nhận một cách tương đối tổng quan về các phát hiện về trang trí trên ngói ở Thăng Long thời đó, chứ chưa giúp được nhiều điều cho việc nghiên cứu kỹ lưỡng và chính xác về trang trí trên ngói qua các thời

1.1.2.Những phát hiện và nghiên cứu sau năm 1954

Sau năm 1954, các công trình nghiên cứu ở khu vực Thăng Long ngày càng nhiều Theo đó, các phát hiện về trang trí trên ngói cũng ngày một nhiều hơn

Năm 1970 -1971, Khoa Sử - Đại học tổng hợp Hà Nội khai quật ở sườn Tây

Nam núi Cung (làng Đại Yên – thuộc khu vực Ngọc Hà) Với diện tích khai quật 28m2 đã tìm thấy một số bộ phận trang trí trên ngói ống, diềm ngói…thuộc nhiều thời đại [36]

Tháng 11 năm 1971 đến tháng 3 năm 1972, BTLS Việt Nam khai quật khu

Đồng Gạch và Đồng Giếng (Ba Đình - Hà Nội) Với diện tích 300m2 ngoài một số các di vật thuộc các loại hình khác đã tìm thấy một số bộ phận trang trí trên ngói như trang trí hình lá đề… Những người khai quật cho rằng khu vực Đồng Gạch, Đồng Giếng được xác định nằm trong khu vực Thăng Long thời Lý – Trần nhưng không phải là khu vực trung tâm [36]

Trang 13

Năm 1975, Viện KCH, Khoa Sử - Đại học Tổng hợp Hà Nội tiến hành nghiên

cứu tại công trường 75.808 (khu vực Lăng Chủ Tịch Hồ Chí Minh) Tại đây đã tìm thấy một số mảnh đầu ngói ống trang trí hoa sen [78]

Từ tháng 9 đến tháng 11 năm1978, Viện KCH, BTLS Việt Nam, Sở VHTT

Hà Nội đã hai lần đào thám sát và khai quật khu vực Quần Ngựa (Ba Đình - Hà Nội) nhằm phục vụ cho việc giải phóng mặt bằng ở Cung Thiếu niên trung ương Tại khu vực đình Thái Tể đã đào 17 hố thám sát với diện tích 128m2 tìm thấy một

số bộ phận trang trí trên nóc mái như đầu rồng, thân rồng và trang trí gắn trên ngói như tượng uyên ương ….Những hiện vật này khá đẹp và được so sánh với những

di vật đã tìm thấy trong các di tích thời Trần ở Thái Bình, Nam Định…[55, 56] Qua bốn đợt thám sát và khai quật từ năm 1970 – 1978, có thể thấy tại khu vực Quần Ngựa, những bộ phận trang trí trên ngói tìm thấy rất ít và cũng chỉ được nhắc đến như những di vật không có trang trí Các tài liệu công bố về các di vật này cũng không được chú ý Hoa văn trang trí, kích cỡ, chất liệu, màu sắc…cũng như chức năng của chúng đều không được chú ý Do đó, rất khó tiếp cận được những tư liệu này

Năm 1996, Viện KCH, Sở VHTT Hà Nội và BTLS Việt Nam khai quật

“chữa cháy” địa điểm 11.Lê Hồng Phong (Ba Đình - Hà Nội) Chỉ với diện tích khai quật 30m2 đã tìm thấy 16 đầu ngói ống trang trí hoa sen hình tròn nổi 8 cánh Trang trí hình lá đề cân xứng với đề tài hình chim phượng Tượng uyên ương thân hình tròn, hai cánh xoè rộng, diều ưỡn, đầu ngẩng cao hướng thẳng về phía trước, lông vũ được in tỉa rất tỉ mỉ, tinh xảo Kết quả nghiên cứu vật liệu địa điểm

này đã được công bố trong tạp chí KCH số 3 năm 2000 và bài “Vật liệu xây dựng tại địa điểm 11.Lê Hồng Phong (Ba Đình – Hà Nội) tại Hội nghị khoa học toàn

quốc về giá trị của khu di tích HTTL tại 18.Hoàng Diệu tháng 8 năm 2004 Những

bộ phận trang trí trên ngói ở đây được những người khai quật xếp vào niên đại từ

Trang 14

thời Lý [28, 30] Đây là lần đầu tiên các nhà khảo cổ học chú ý khá kỹ đến trang trí trên ngói Kỹ thuật gắn trên ngói cũng được nói đến

Liên tiếp từ năm 1998 đến năm 1999, Viện KCH, Sở VHTT Hà Nội và Văn phòng ban chỉ đạo kỷ niệm 1000 năm Thăng Long đã tổ chức thám sát và khai quật bốn địa điểm thuộc khu vực trung tâm của nội thành Hà Nội

Từ 16-11-1998 đến 16-2-1999, khai quật hai đợt địa điểm Hậu Lâu (còn gọi

là Lầu Công Chúa) (Ba Đình - Hà Nội) Trong diện tích khai quật là 200m2 với 4

hố thám sát và 2 hố khai quật đã tìm thấy một khối lượng lớn những bộ phận trang trí trên ngói gồm có 71 mảnh trang trí hình lá đề cân và lệch, 125 mảnh đầu ngói ống trong đó có 76 mảnh đầu ngói hình tròn và 49 mảnh đầu ngói bán viên, 37 mảnh tượng uyên ương, 2 mảnh trang trí đầu ngói âm dương, đầu ngói bò trang trí mặt “hổ phù” và hoa văn hoa lá Chủ đề trang trí rất phong phú: trang trí hoa văn hoa lá cách điệu (hoa sen, hoa cúc), hoa văn động vật (hình rồng, phượng), hoa văn

lá đề sừng tê … Ngói được phân thành hai loại có men và không men Màu sắc có các màu: xanh, vàng, đỏ và xám Niên đại di tích thuộc các thời Lý, Trần, Lê.[66]

Trang trí trên ngói ở Hậu Lâu còn được đề cập đến trong khoá luận tốt

nghiệp của sinh viên chuyên ngành KCH với đề tài “Vật liệu kiến trúc ở di tích Hậu Lâu (hố II)”[5]

Tháng 10 năm 1999, khai quật hai địa điểm Đoan Môn và Bắc Môn (Ba

Đình - Hà Nội)

Tại địa điểm Đoan Môn với diện tích 133,2m2 Tầng văn hoá gồm các lớp

Lý – Trần và Lê Kết quả khai quật đã tìm thấy 6 đầu ngói ống trang trí hoa sen, 2 mảnh yếm ngói, 5 mảnh lá đề trang trí hoa văn hình rồng trên một và hai mặt, 15 mảnh lá đề trang trí hoa văn hình phượng trên một mặt, 1 mảnh lá đề trang trí hoa văn hoa lá cách điệu Các bộ phận trang trí này được thể hiện trên chất liệu đất nung, xương gốm màu đỏ, xám và trắng [67]

Trang 15

Tại địa điểm Bắc Môn diện tích hẹp hơn 60,40m2 Tầng văn hoá từ thời Trần đến thế kỷ 18 Đã tìm thấy: 18 mảnh đầu ngói trang trí hoa sen có màu đỏ, không men và hoa cúc màu xám, 33 mảnh yếm ngói trang trí hoa lá cách điệu và hình rồng với chất liệu có men và không men, xương gốm màu xám và trắng, 1 mảnh lá đề trang trí hình phượng trên một mặt, 1 mảnh tượng uyên ương và ngói mũi sen đầu nhọn có trang trí hoa văn “như ý” ở lưng ngói có màu đỏ xám [67]

Những bộ phận trang trí trên ngói ở hai địa điểm này có đặc điểm về chất liệu, màu sắc, kích thước và hoa văn tương tự như những loại hình cùng loại ở các địa điểm khác trong khu vực Thăng Long

Tháng 4 năm 1999, Trung tâm văn hóa khoa học Văn Miếu - Quốc Tử Giám và Viện KCH thám sát địa điểm Văn Miếu - Quốc Tử Giám (Ba Đình - Hà

Nội) Qua 6 hố đào thám sát với diện tích 50m2, tại hố 2, 4 và 6 đã tìm thấy lá đề cân trang trí hình phượng, lá đề lệch trang trí hình rồng, đầu ngói ống trang trí hoa văn hoa cúc và hoa sen, tượng uyên ương [12] Số lượng di vật và vật liệu trang trí kiến trúc không phong phú bằng địa điểm Hậu Lâu nhưng những hoạ tiết trang trí thì cùng có diễn tiến tương tự

Có thể thấy trong địa điểm ở khu vực Thăng Long, các bộ phận trang trí trên ngói đều khá thống nhất về loại hình và hoa văn trang trí Các cuộc khai quật này đều được làm các thông báo kết quả khá đầy đủ Các báo cáo đã đề cập đến các bộ phận trang trí trên ngói trên các phương diện hoa văn trang trí, màu sắc và chức năng

Trang trí trên ngói cũng được chú ý hơn trong một số bài viết về vật liệu xây dựng qua các thời ở Thăng Long Sau nhiều năm chủ trì các cuộc khai quật và nghiên cứu về Thăng Long, Tống Trung Tín và các cộng sự đã hệ thống bước đầu những kết quả nghiên cứu tại ba địa điểm Đoan Môn, Bắc Môn và Hậu Lâu trong

bài “Hệ thống vật liệu xây dựng ở kinh đô Thăng Long qua các đợt khai quật Đoan Môn, Bắc Môn và Hậu Lâu” công bố trên tạp chí KCH số 4 năm 2000 Trong bài

Trang 16

viết, trang trí trên ngói đã được các tác giả tách riêng thành một phần để trình bày Các bộ phận trang trí trên ngói được hệ thống theo từng loại hình và theo từng thời

kỳ Trong mỗi loại hình đi sâu nghiên cứu về hoa văn trang trí Từ việc mô tả chi tiết các loại hình, các tác giả rút ra những đặc trưng của từng thời Thời Lý, loại hình phong phú đường nét tinh xảo, tỉ mỉ thể hiện trình độ thẩm mỹ cao Thời Trần vẫn tiếp thu của thời Lý nhưng đường nét đơn giản hơn, thưa hơn và độ uốn cong vừa phải Loại hình đầu ngói ống chưa tìm thấy trong thời Trần Thời Lê sơ có thêm một số loại hình mới, trang trí đơn giản hơn thời Trần Thế kỷ 16-18, kích thước ngói nhỏ hơn có thêm những hoa văn mới lạ [68] Hệ thống các loại hình di vật tại ba địa điểm trên cho thấy tính đồng nhất về mặt loại hình và hoa văn trang trí giữa các khu vực thuộc phạm vi Thăng Long

Năm 2002, Viện KCH và Sở VHTT Hà Nội mà trực tiếp là Ban Quản lý và

danh thắng Hà Nội, Văn phòng Ban chỉ đạo kỷ niệm 1000 năm Thăng Long - Hà

Nội tiến hành điều tra và đào thám sát hai đợt tại địa điểm 62 - 64 Trần Phú (Ba

Đình - Hà Nội) Với diện tích 143,5m2 đã thu được 58.212 hiện vật liên quan đến vật liệu kiến trúc và trang trí kiến trúc có niên đại kéo dài từ thế kỷ 7 đến thế kỷ 19 như: đầu ngói trang trí hoa sen, hoa cúc, yếm ngói trang trí hình rồng, hoa cúc, mảnh đuôi phượng Đặc biệt có mảnh tượng uyên ương khắc chữ Hán “Chảy Tuyền Kinh” có nghĩa là đường nước chảy gợi ý tượng uyên ương này được đặt trang trí ở nơi có đường nước chảy trên mái [14, 67]

Trang 17

Để phục vụ việc xây dựng nhà

Quốc hội và Hội trường Ba Đình

(mới), từ tháng 12 năm 2002 đến

tháng 3 năm 2004, Viện KCH tiến

hành khai quật địa điểm 18 Hoàng

Diệu (Ba Đình - Hà Nội), với diện

tích khai quật hơn 19000m2, chia

làm 4 khu: khu A, khu B, khu C và

khu D (sđ 1) Sơ đồ 1: khu vực khai quật 18.Hoàng Diệu (Nguồn 32)

Trong tầng văn hoá sâu từ 1m đến trên 4m đã tìm thấy một phức hệ di tích kéo dài liên tục khoảng thế kỷ 7 đến cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 Công cuộc chỉnh

lý đang bắt đầu Chưa có con số thống kê cụ thể nhưng có thể nói các bộ phận trang trí trên ngói chiếm số lượng khá lớn và cực kỳ phong phú

Bước đầu, đã có một số bài viết đề cập đến trang trí trên ngói ở khu vực này

Trong bài “Hệ vật liệu xây dựng ở HTTL qua các thời tại địa điểm 18.Hoàng Diệu”, Tống Trung Tín đã sơ bộ giới thiệu một số hiện vật trang trí trên ngói [71]

Lê Thị Liên và Ngô Thị Lan bước đầu nghiên cứu về vật liệu xây dựng trong đó

có trang trí trên ngói theo địa tầng ở hố D5-D6 (khu D)[47]

Ngoài ra, một số bài viết khác về Thăng Long cũng đều nhắc đến vật liệu

trang trí trên ngói [15, 58, 70, 76] Hai ấn phẩm “Hoàng thành Thăng Long - phát hiện khảo cổ học” do Hội Khoa học lịch sử xuất bản năm 2004 và “Hoàng thành Thăng Long” do Viện Khảo cổ học (Viện KHXH Việt Nam) xuất bản năm 2006

đã công bố những bức ảnh đẹp về một số bộ phận trang trí trên ngói có chú dẫn niên đại [32, 72]

Tóm lại, sau năm 1954 khảo cổ học Thăng Long đã đạt được nhiều thành tựu

mới Đã tiến hành nhiều đợt thám sát và khai quật khảo cổ học Các bộ phận trang trí trên ngói đã phát hiện nhiều hơn Một số nhà nghiên cứu đã bắt đầu chú ý đến

Trang 18

trang trí trên ngói Tuy nhiên vẫn chưa có những công trình nghiên cứu sâu sắc và đầy đủ về trang trí trên ngói ở Thăng Long Vì vậy, diễn biến hoa văn trang trí qua các thời kỳ hàng nghìn năm lịch sử vẫn chưa được làm rõ Nghiên cứu trang trí trên ngói nói riêng và nghiên cứu ngói nói chung vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu cấp bách về tình hình nghiên cứu hiện nay của khảo cổ học lịch sử Chính vì vậy, việc phát lộ khu di tích HTTL tại 18.Hoàng Diệu đang mở ra những triển vọng to lớn cho lĩnh vực nghiên cứu này Hiện nay, dự án chỉnh lý địa điểm này đã và đang được tiến hành và dự kiến kéo dài đến năm 2013 Trong khi chờ đợi công trình khoa học này hoàn chỉnh và công bố, luận văn được phép đề cập đến một số tư liệu về trang trí trên ngói ở các hố D4-D5-D6 (khu D)

1.2 Tình hình phát hiện ngói và trang trí trên ngói ở hố D4-D5-D6 (khu D) khu di tích HTTL tại 18.Hoàng Diệu

1.2.1.Vài nét về vị trí và địa tầng các hố khai quật

a Vài nét về vị trí các hố D4-D5-D6:

Phần trên luận văn đã đề cập đến công cuộc khai quật địa điểm 18.Hoàng Diệu Qua nghiên cứu, giới khảo cổ học và sử học Việt Nam bước đầu khẳng định địa điểm 18.Hoàng Diệu nằm ở trung tâm của Hoàng thành Thăng Long và ở phía Tây của Điện Kính Thiên [46, 80] Địa điểm này có tổng diện tích khoảng 48.000m2 cho đến tháng 3 năm 2004, Viện Khảo cổ học đã khai quật được khoảng 19.000m2 Địa điểm chia làm 4 khu vực khai quật theo địa hình thực tế khai quật

và được đặt theo thứ tự từ Đông sang Tây là A, B, C, D (sđ 1)

Trang 19

Khu D là khu vực khai quật giáp với

đường Độc Lập gần quảng trường Ba Đình

Khu D bao gồm các hố đánh số thứ tự từ D1

D4- D5-D6 liền khoảnh thuộc khu vực sân

tennis của Câu lạc bộ thể thao Ba Đình số 1

đường Hoàng Văn Thụ (quận Ba Đình - thành

phố Hà Nội)

Phía Bắc nằm sát khu bể bơi của Trung

tâm thể thao Ba Đình, phía Tây giáp cạnh

đường Độc Lập, phía Nam giáp khu vực Hội trường Ba Đình, phía Đông gần cạnh

hố D3 (sđ 3)

Các hố này được khai quật từ ngày 1 tháng 8 năm 2003 và kết thúc vào ngày

30 tháng 2 năm 2004 với tổng diện tích là 2.223 m2 (Bắc Nam 39m x Đông Tây 57m) (a.1, 2) Lúc đầu hố được mở với diện tích 1404 m2 (Bắc Nam là 27m x Đông Tây 52m) sau đó hố được mở rộng về bốn phía: phía Bắc 6m, phía Nam 6m, phía Tây 2m và phía Đông 3m (sđ.2) Các phần mở rộng này được ký hiệu theo các

hố tương ứng Hố D4 mở rộng thêm về 3 phía: phía Đông, phía Tây và phía Nam

bao gồm các hố D4Đ, D4T, D4N (sđ.4) Hố D5 mở rộng thêm về hai phía: phía

Nam và phía Bắc gồm hố D5N và D5B (sđ 5) Hố D6 mở rộng thêm về 3 phía: phía Nam, phía Tây và phía Bắc gồm hố D6N, D6T và D6B (sđ 6)

b Vài nét về địa tầng: Hố có diện tích rộng, khu vực khai quật có các di tích

kiến trúc xen lẫn những dòng chảy đã được san lấp nhiều lần, do vậy địa tầng không ổn định và có sự khác biệt lớn giữa các khu vực nhất là phía Bắc và phía

Nam (a 4, 5 ) Với độ sâu từ 1 đến hơn 4 m, có rất nhiều dấu tích kiến trúc như:

các móng trụ, nền nhà, cống thoát nước… Sơ bộ có thể thấy đó là các vết tích kiến trúc của các thời Đại La, Lý, Trần Cùng đó là các loại di vật gồm đồ đất nung, gỗ,

Sơ đồ 3 Sơ đồ mặt bằng khai quật khu D

[Nguồn Dự án HTTL]

Trang 20

kim loại…Đồ đất nung (gạch, ngói) là loại hình di vật chiếm số lượng nhiều nhất Dựa vào mặt cắt ở một số khu vực và quan sát trong quá trình khai quật chúng tôi nhận thấy có các lớp đất sau:

Lớp đất mặt, 0m90 – 1m, có chỗ ăn sâu xuống 1m20, gồm các lớp gia cố

cho hai nền sân bê tông chồng lên nhau và nhiều lớp gạch, bê tông, nhựa đường và đất đắp nhiều loại màu nâu tơi xốp lẫn nhiều mảnh gạch, ngói, sành sứ hiện đại

Tầng văn hoá, gồm các lớp:

Lớp 1: Đất đắp màu xám nâu, nâu hồng chứa nhiều mảnh gạch, ngói vụn,

sành sứ liên quan đến thời kỳ cuối Lê, Nguyễn trong đó có các loại ngói lót, ngói bản mỏng, ngói mũi sen đầu vát

2m đến 2m70 Lớp này có những loại hình

yếm ngói, đầu ngói hoa cúc màu xám liên

quan đến lớp thời Lê Lớp này thể hiện rõ ở

khu vực phía Nam (sđ 7, a 3, 4)

đất nâu và đất nâu pha sét xám ở độ sâu từ

2m70 đến 3m40 (a 6, 8) Do bị xáo trộn

nặng nề nên hiện vật khó có thể tách biệt

này Lớp này có rất nhiều mảnh trang trí trên

ngói thuộc thời Lý, Trần

Mặt cắt lớp đất

hố D5 Mặt cắt phía Nam hố D6

Trang 21

Lớp 4: Sâu từ 3m40, lớp đất nâu pha sét xám đen chứa nhiều than tro, ngói

xám, đầu ngói âm dương gắn liền thân, những đầu ngói hoa sen cánh thưa, đầu ngói mặt người Lớp nền sớm nhất ở đây – thời Đại La

Lớp sinh thổ: Qua quan sát một hố thám sát ở D5 - D6, là một lớp cát non

màu xám xỉn dày 20cm ở độ sâu 3m50, tiếp đến là lớp phù sa nâu nhạt ở độ sâu từ

3m60 đến 3m92, sét xám nguyên gốc ở độ sâu 4m20.(a 7)

1.2.2.Tình hình nghiên cứu ngói và trang trí trên ngói ở các hố D6 (khu D)

D4-D5-a Sơ lược về các loại ngói lợp:

Theo kết quả nghiên cứu hiện nay, khu vực hố D4-D5-D6 có các loại ngói lợp như sau: nhóm ngói cong và nhóm ngói phẳng

* Nhóm ngói cong: ngói có mặt cắt cong Dựa vào hình dáng có thể phân

loại ngói cong thành 3 loại: Ngói ống, ngói âm dương và ngói bò nóc

Loại 1: Ngói ống: hình dáng gần bằng 1/2 hình tròn, phần đầu rộng, phần

đuôi thu hẹp có tạo nấc để phân biệt với phần thân và để khớp với viên ngói khác khi lợp Mặt trong thân ngói thường có dấu vết vải, dấu chải thô hoặc mịn - đó là dấu vết kỹ thuật để chống dính khuôn

Ngói ống ở các hố D4-D5-D6 có các loại chất liệu như sau:

- Xương gốm thô có lẫn hạt đen nhỏ

- Xương gốm khá xốp, nhẹ

- Xương gốm rất mịn được lọc kỹ, đanh chắc

- Xương gốm mịn, đanh chắc

Trang 22

Về màu sắc ngói ống ở các hố D4-D5-D6 có màu đỏ, màu xám, màu trắng

và trắng phớt hồng Trong đó, đa số là loại ngói màu đỏ, màu xám không tráng men, còn loại ngói màu trắng và trắng phớt hồng có phủ men xanh và vàng

Hình dáng của ngói ống qua các thời kỳ khác nhau gần như không thay đổi

mà chỉ thay đổi về kỹ thuật tạo phần đuôi và hình dáng phần đuôi ngói

Ví dụ, tiêu bản ngói ống BĐ02.D5.L4

(29.5cm x 15cm x 1.9cm) Phần đuôi ngói hơi

vểnh ra ngoài, phần đuôi và thân được tạo riêng

sau đó ghép nối lại với nhau Thân ngói được

gắn với đầu ngói trang trí được tạo hơi vát ra

ngoài Mặt trong thân ngói có dấu vết vải mịn

(bv.1, a 9)

Loại 2: Ngói âm dương: hình lòng máng So với ngói ống thì ngói âm

dương nông và rộng hơn Ngói có phần đuôi thường rộng và dày còn phần đầu hẹp

và mỏng hơn hoặc tạo phần cổ ngói để nối với những viên ngói khác Có loại ngói cũng được tạo cổ như ngói ống Ngói âm dương có phần âm và phần dương gần tương tự như nhau Trong một số trường hợp rất khó phân biệt được đâu là phần

âm, đâu là phần dương Ngói lợp diềm mái thường được trang trí hoa văn trang trí Chất liệu và màu sắc giống loại ngói ống nhưng có thêm chất liệu đất pha cao lanh, xương gốm màu trắng, men trắng, độ nung rất cao

Ví dụ, tiêu bản BĐ02.D5.L4 (33.5cm, rộng

đầu 24.5cm, dày 1.8cm, rộng đuôi 27.5cm, dày

1.9cm) Phần đuôi ngói hẹp, hơi vê tròn, phần đầu

Trang 23

rộng và phẳng Mặt trong thân ngói có dấu vết vải mịn Mép thân ngói có dấu vết

bẻ gẫy (bv.2, a 10).

Loại 3: Ngói bò nóc: dáng cong hình lòng máng gần giống âm dương nhưng

rộng và ngắn hơn, xương ngói dày Ngói bò thường có chất liệu tốt, xương gốm mịn, màu đỏ không men và màu trắng men

xanh

Loại ngói này lợp ở trên bờ nóc hoặc bờ

dải của bộ mái Loại ngói cũng như ngói âm

dương có loại có phần cổ thu hẹp để khớp nối

với viên ngói khác hoặc không có Tiêu bản BĐ02.D5.L7, kích thước dài 34 cm, dày 2.2cm (a.12)

Nhóm ngói phẳng: Ngói có thân ngói bằng phẳng Theo hình dáng

của mũi ngói có thể phân ngói phẳng thành 3 loại: Ngói

mũi vát nhọn, ngói mũi tròn và ngói mũi sen

Loại 1: Ngói mũi vát nhọn (còn gọi là ngói mũi lá)

có phần mũi được cắt vát hai bên, đầu mũi nhọn, xương

ngói mịn, để mộc không men, màu đỏ Tiêu bản

BĐ02.D5.L2 (35cm x 24.5cmx1.8cm).(bv.3, a 13)

Loại 2: Ngói mũi tròn Ngói mũi tròn, phần đầu mũi

dáng lượn tròn, không có hoa văn trang trí trên ngói

Đuôi ngói có mấu để lợp Xương gốm mịn, để mộc

không men, màu đỏ Tiêu bản BĐ02.D5.L4 (34cm x

27cm x 2cm), (bv.4, a 11)

Trang 24

Loại 3: Ngói mũi sen Ngói mũi sen có phần mũi và thân tạo hình cánh hoa

sen hớt cong lên ở phần mũi Về chi tiết có thể phân loại ngói mũi sen làm 2 loại: Ngói mũi sen đầu tròn, mũi hớt cao và ngói mũi sen đầu vát, phần mũi thấp tù

Loại 3.1 Ngói mũi sen đầu tròn: Ngói mũi sen đầu tròn, phần mũi ngói

được tạo tròn hoặc hơi tròn, phần giữa đầu mũi hớt cao Ngói có ở chất liệu đất nung: xương gốm mịn, màu đỏ, để mộc; xương gốm

màu trắng, men xanh; Loại chất liệu pha thêm cao

lanh có ở men màu trắng, độ nung rất cao Phần mũi

thường tạo mũi đơn và mũi kép Ngói lợp ở diềm

mái thường gắn hình lá đề và tượng uyên ương,

phần mũi cắt vát hai bên hình đuôi cá Ví dụ, tiêu

bản BĐ02.D5.L11.HĐ3, phần mũi là ngói mũi sen đơn, đầu mũi lượn tròn và hớt cao khoảng 4-5cm, xương gốm mịn, màu đỏ.(bv 5, a 14)

Loại 3.2 Ngói mũi sen có phần đầu vát có phần mũi thấp, tù bẹt ở chính

giữa hoặc hơi lệch sang phải hoặc trái một chút Ngói có kích thước nhỏ, mỏng, xương gốm khá mịn, chỉ có ở màu đỏ thẫm hoặc nhạt, để mộc, độ nung cao

(a.142-145 )

Trên đây là các loại hình cơ bản của ngói lợp ở các hố D4-D5-D6 Mỗi loại ngói lại có ít hoặc nhiều kiểu loại ngói khác nhau, kích thước khác nhau Nghiên cứu các loại ngói không phải là đối tượng của luận văn cho nên luận văn không đi sâu vào giới thiệu các kiểu loại ngói này mà chỉ đi sâu vào nghiên cứu trang trí trên ngói

b Các hình thức và các bộ phận trang trí trên ngói ở hố D4-D5-D6

Trang 25

Để cho bộ mái của công trình kiến trúc tăng thêm vẻ đẹp tráng lệ, linh thiêng, trên nhiều vị trí của bộ mái được trang trí rất đẹp và cầu kỳ trong đó có rất nhiều bộ phận trang trí trên ngói lợp

Nghiên cứu tổng quan các loại ngói và các bộ phận trang trí trên ngói ở các

hố D4-D5-D6, có thể thấy có hai hình thức trang trí chủ yếu trên ngói như sau:

- Các bộ phận trang trí gắn thêm trên ngói

- Trang trí trực tiếp trên thân ngói

b.1 Các bộ phận trang trí gắn thêm trên ngói

Các bộ phận thuộc nhóm này bao gồm các loại: đầu ngói ống, đầu ngói ống gắn thêm các bộ phận trang trí khác, đầu ngói âm, lá đề, tượng tròn

b.1.1 Trang trí trên đầu ngói ống:

Đầu ngói ống là các bộ phận trang trí được gắn lên các đầu những ngói ống lợp ở diềm mái Qua nghiên cứu, có thể cho thấy các thành phần trang trí gắn thêm vào đầu ngói ống có hai loại: hình tròn và hình bán viên

- Đầu ngói ống hình tròn: Loại này đầu ngói được làm hình tròn và gắn vào

phần mép đầu ngói ống Phần mặt tròn quay ra phía ngoài được trang trí hoa văn Loại hình này ở Trung Quốc gọi là ngói “câu đầu” chỉ vị trí của viên ngói được sử dụng ở hàng cuối cùng trong mái kiến trúc để liên kết hai viên ngói âm lại với nhau

và giải quyết thoát nước cho bộ mái

Ví dụ, đầu ngói BĐ02.D6T.L4 (14cm x

2cm) được gắn vào mép đầu của thân ngói

Phần tiếp giáp này được đắp thêm đất sét và

được miết kỹ để kết dính giữa đầu ngói và

Trang 26

thân ngói Đầu ngói trang trí một bông sen cánh thưa khối đặc (bv 9, a.17 )

- Đầu ngói nửa hình tròn (hình bán viên): Đầu ngói là một nửa hình

tròn và gắn lên đầu ngói

Ví dụ, đầu ngói BĐ02.D4Đ.L3

(16cm x 1.8cm) Qua bản vẽ ta thấy cách thể

hiện gắn ghép giữa đầu ngói và thân ngói

Đầu ngói hoa văn trang trí hai đường chỉ

chìm viền quanh (bv 10, a 18)

b.1.2 Trang trí trên đầu ngói âm:

Là loại hình trang trí thường tạo dáng hình hoa văn “như ý” để gắn lên đầu các viên ngói âm Loại hình này có nhiều cách gọi khác nhau, có một số tài liệu trước đây gọi là “Yếm ngói” [68], “Hình lá đề” [3], “Diềm lá đề” [14], “Vật hình tam giác có đính rủ xuống” [51]

Ví dụ, tiêu bản BĐ02.D4N.L7

(23cm x 9cm x 2cm) Cũng như đầu ngói

ống, phần đầu ngói âm được gắn với mép

thân ngói, giữa hai mép gắn ghép còn

được đắp thêm đất sét và miết khá nhẵn

những vẫn còn rõ dấu vết gắn ghép này

(bv 13, a 21)

Trang 27

b.1.3.Trang trí hình lá đề: Thành phần trang trí có

hình dáng của lá cây bồ đề có mũi nhọn, vai xuôi, thân

phình, dáng thót được chạm phổ biến trong các chùa tháp

và là một biểu trưng của Phật giáo Lá đề có nhiều tên gọi

khác nhau “Vòng hào quang hình lá đề”, “Vòng hào

quang”, “Vòng sáng nhọn đầu” [7] Ví dụ, tiêu bản

BĐ02.D5B.L2 (bd 12, h.1, a 75)

Các lá đề thường được gắn trên các viên ngói lợp diềm mái Tuy nhiên vị trí gắn của lá đề khác hoàn toàn với đầu ngói ống hình tròn Các lá đề không gắn vào phần đầu ngói mà gắn trên lưng ngói ở phía đầu (phần lưng phía đầu viên ngói)

Lá đề được gắn trên cả ba loại ngói: ngói ống, ngói mũi sen và ngói bò

Về hình dáng, có hai loại lá đề: Lá đề cân xứng và lá đề lệch

- Lá đề cân xứng: Lá đề cân xứng mô phỏng theo hình dáng gần với hình

dáng chiếc lá đề thật như ví dụ đã dẫn ở trên Lá đề cân xứng thường được trang trí

ở mặt trước Chỉ có lá đề có kích thước lớn đặt ở giữa nóc mái thì mới trang trí ở hai mặt

BĐ02.D6.L3 Lá đề được gắn

trên lưng ngói mũi sen, phần

mũi cắt vát hai bên như hình

đuôi cá Phần mặt sau của cuống lá đề được đắp thêm và miết kỹ để tăng độ kết dính giữa hai thành phần Lá đề trang trí hình hai con phượng chầu nhau, phần diềm hình ngọn lửa nhỏ (bv.15, a.19)

- Lá đề lệch: là kiểu lá đề cân xứng tách đôi ra Lá đề lệch có loại có kích

thước nhỏ, có loại có kích thước lớn Lá đề lệch, kích thước nhỏ, trang trí một mặt

Trang 28

được gắn trên ngói lợp diềm mái Loại có kích thước tương đối lớn, trang trí thể hiện trên hai mặt và thường đặt chính giữa lưng các viên ngói trang trí trên bờ nóc

và bờ dải của mái

Ví dụ, tiêu bản BĐ02.D6.L2

(25cm x 26cm x 5cm) Là một lá đề lệch

được gắn trên lưng ngói bò, phần tiếp

giáp giữa hai đầu nối được đắp thêm và

Ví dụ, tiêu bản BĐ02.D4.L2, là một con

uyên ương kích thước dài 14cm, cổ cao 15cm,

rộng 7cm Uyên ương được gắn trên chính giữa

lưng ngói bò nóc (bv.17, a 22)

b.1.5 Trang trí gắn thêm liên hoàn

trên lưng ngói ống:

Trang 29

Ví dụ, tiêu bản BĐ02.D5.L2 (8cm x 10cm x

2cm), đã bị vỡ gần hết chỉ còn một phần thân ngói

Phần lưng ngói này thể hiện một vây rồng nhọn được

gắn thêm trên lưng ngói phía cổ ngói Ngói được làm

bằng khuôn, phần hoa văn trang trí tạo khối và khắc

tay sau đó gắn trên lưng ngói (bv 20, a 26)

Thực tế đây là loại ngói thể hiện cách trang trí liên hoàn Nhiều viên ngói nối lại với nhau thành một hình rồng Kiểu trang trí này rất hiếm và chỉ thấy xuất hiện ở đây

b.1.6 Kết hợp giữa các hình thức trang trí gắn thêm lại với nhau:

Hình thức trang trí này là sự kết hợp giữa hình thức trang trí này với hình thức trang trí kia

Ví dụ, tiêu bản BĐ02.D5.L6

(32cm x 16cm x 2cm) thể hiện rõ kỹ thuật

gắn ghép này: ngói ống vừa được gắn đầu

ngói trang trí hoa sen vừa gắn lá đề trên

lưng ngói Phần đuôi ngói cho thấy có

mấu đề khớp với dui mè (bv.8, a.25)

ở hố B12 (khu B) đã tìm thấy tượng

uyên ương gắn trên đầu ngói ống hoa sen thời

Trần ở Tam Đường (Thái Bình) thì có tượng

uyên ương và lá đề gắn trên lưng ngói mũi sen

Tam Đường (Thái Bình)

b.2.Trang trí trực tiếp trên thân ngói

Trang 30

Tại các hố D4-D5-D6, trang trí trên thân ngói được thể hiện ở ba vị trí khác nhau:

- Trang trí trực tiếp trên đầu ngói

- Trang trí trực tiếp trên lưng ngói

- Trang trí trực tiếp trên đầu và lưng ngói

b.2.1 Trang trí trực tiếp trên đầu ngói

Trang trí trực tiếp trên đầu ngói thường xuất hiện trên loại ngói cong được xác định là ngói âm dương Những hình trang trí được thể hiện trực tiếp trên đầu các viên ngói lợp ở phần diềm mái

Ví dụ, tiêu bản BĐ02.D5.L11 (34cm x phần

đầu 27 cm x 2.5cm, phần đuôi 23cm x 2cm)

Hoa văn là hai đường thẳng ngắt quãng kết hợp

đường răng cưa ở mép ngoài được khắc tay trực

tiếp lên đầu thân ngói (bv.18, a.24)

b.2.2 Trang trí trên lưng ngói:

Trang trí trực tiếp trên thân ngói thường xuất hiện trên cả hai loại ngói: ngói cong và ngói phẳng Hình thức trang trí này thể hiện ở ba loại ngói khác nhau:

- Trang trí trên ngói âm:

Loại hình trang trí này tư liệu khai quật ở ba hố D4-D5-D6 chỉ gặp một mảnh ngói âm có trang trí ở trên lưng ngói Đó là loại ngói

có xương gốm màu trắng đục, mặt trong có tráng men

trắng, độ nung rất cao

Trang 31

Viên ngói này được xác định là ngói âm, lưng ngói đề mộc trang trí một đoạn hoa cúc có khắc chìm, đường nét rất mềm mại Mảnh ngói có ký hiệu BĐ02.D5.L5 (21cm x 16cm x 2cm) ( a 15)

- Trang trí trên lưng ngói mũi sen đầu vát

hoặc in nổi trên lưng phía đầu ngói Kiểu trang trí này xuất hiện ở ngói mũi sen thời Trần như ở Kiếp Bạc (Hải

Lê và thời Nguyễn.(a 28)

Ví dụ, tiêu bản BĐ02.D6N.L3 (19cm x17cm x

1.2cm), trang trí đắp nổi liền một nụ hoa sen chưa nở hết (bv.14, bd.26, h 1, a

144 )

b.2.3 Trang trí trực tiếp trên đầu và lưng ngói

Kiểu trang trí này vừa thể hiện trên lưng ngói lại vừa thể hiện ở đầu ngói mũi sen đầu vát Cách trang trí trên lưng ngói giống

như cách trang trí trên nhưng phần đầu mũi sen lại có

thêm các hoa văn trang trí khác

Ví dụ, tiêu bản BĐ02.D6N.L4 (10cm x 16cm x

1.8cm) có trang trí hình hoa văn “như ý” trên lưng

h.8, a 142)

3.Tiểu kết chương 1

Chương 1 gồm hai phần chính Phần thứ nhất trình bày tổng quan về những phát hiện và nghiên cứu trang trí trên ngói ở HTTL từ trước năm 1954 đến nay Trong phần này khái quát chung nhất về tình hình nghiên cứu trang trí trên ngói cổ

Trang 32

ở HTTL Qua đó có thể thấy trang trí trên ngói cổ còn rất nhiều hạn chế và thiếu sót Để góp phần khắc phục những hạn chế đó nhằm góp phần tìm hiểu lịch sử vật liệu xây dựng Thăng Long nói riêng và lịch sử vật liệu xây dựng Việt Nam nói chung Luận văn chọn một khía cạnh nhỏ, tuy khó khăn, phức tạp nhưng cũng hết sức hấp dẫn và thú vị là trang trí trên ngói ở các hố D4-D5-D6 (khu D) thuộc khu

di tích HTTL tại 18.Hoàng Diệu

Phần thứ hai, giới thiệu sơ lược về các hố D4-D5-D6, tình hình phát hiện các loại ngói, các hình thức, các bộ phận trang trí trên ngói ở các hố khai quật này Có thể nhận thấy ngói và các hình thức trang trí ở các hố D4-D5-D6 rất phong phú và

đa dạng Ngói gồm các loại ngói cong và ngói phẳng Mỗi loại ngói ở những vị trí đặc biệt của nó có các hình thức trang trí thích hợp để làm các bộ mái thêm đẹp và trang trọng như đầu ngói ống, đầu ngói âm, lá đề, tượng tròn và các bộ phận trang trí khác

Trang 33

Chương 2 Hoa văn Trang trí trên ngói ở các hố D4 – D5 – D6

Trang trí trên ngói ở hố D4-D5-D6 bao gồm nhiều bộ phận trang trí khác nhau trên các loại ngói khác nhau như đã nói ở chương 1 Hoa văn trang trí trên các bộ phận trang trí trên ngói ở ba hố D4-D5-D6 rất phong phú và đa dạng Do vậy, trong từng loại hình sẽ có các tiêu chí để phân loại khác nhau Tuy nhiên phương pháp chung là theo kỹ thuật và hoa văn trang trí để phân loại Dưới đây luận văn sẽ lần lượt trình bày các loại hình hoa văn trang trí trên các bộ phận trang trí trên ngói đó

2.1 Hoa văn trang trí trên các bộ phận trang trí gắn thêm trên ngói

2.1.1.Trang trí trên đầu ngói ống

Trên đầu ngói ống ở các hố D4-D5-D6 có 440 tiêu bản gồm các loại hoa văn

như hình mặt người, hình rồng, hoa sen, hoa cúc và hoa mẫu đơn (b.1) Hoa văn

trên đầu ngói ống phổ biến tạo bằng kỹ thuật in khuôn

a Hình mặt người

Bố cục chung của hoa văn này như sau: toàn bộ mặt ngói tròn được chia làm thành hai phần: phần diềm và phần trung tâm trang trí hoa văn hình mặt người Hoa văn hình mặt người được thể hiện nhìn thẳng chính diện với phần má nổi cao, miệng rộng, sống mũi cao, hai mắt to, tóc, râu được cách điệu bằng các đường gân nổi tỏa đều ra xung quanh như tiêu bản BĐ02.D4Đ.L6

Về chi tiết có thể thấy hình mặt người có hai kiểu sau (Bảng 1) (bd.1, h.1, 2, a 34):

Bảng 1 Bảng tóm tắt đặc điểm trang trí hình mặt người trên ngói ống

Chất liệu, màu sắc

SL Minh hoạ

ĐK Dà

y

Trang 34

Thô, màu xám

màu xám

1

b Hình rồng

Trên đầu ngói ống hình tròn, hoa văn hình rồng được thể hiện như sau: mặt ngói tròn được chia làm hai phần: phần diềm và hoa văn trung tâm Phần diềm để trơn thường bằng hoặc nổi cao hơn mặt hoa Phần trung tâm in nổi một hình rồng Dáng rồng nhìn chung đầu ngẩng cao, mồm ngậm ngọc hướng vào giữa lòng ngói,

Chất liệu, màu sắc

Phẳng, rộng có hai

Mịn, màu

đỏ

5

Trang 35

Hẹp, nhỏ, có hai

đường

gờ nổi

Mịn, màu

gờ nổi

Mịn, màu

Rộng, phẳng,

đường

gờ nổi

Thô, màu trắng, men xanh

Rộng, phẳng

có 1 đường

gờ nổi

Thô, màu

đỏ thẫm

3

c Hoa sen

Bố cục chung là một bông sen nở choán gần hết đầu ngói tròn, bao quanh

là một gờ nổi thường để trơn

Hoa sen trên đầu ngói thường có 3 cách thể hiện như sau:

- Hoa sen được thể hiện theo chiều nhìn thẳng, chính diện

Trang 36

- Hoa sen được thể hiện theo chiều nhìn nghiêng thẳng

- Hoa sen được thể hiện theo chiều nhìn nghiêng bổ dọc

c.1 Hoa sen thể hiện theo chiều nhìn thẳng, chính diện

Theo cách thể hiện này, hoa sen được diễn tả thành hình tròn, chính giữa là gương sen với các chấm nổi tròn, xung quanh là cánh hoa sen tỏa đều ra bốn phía Cánh sen bao gồm cánh chính và cánh phụ Về chi tiết, cánh hoa được thể hiện thành 4 nhóm khác nhau:

- Nhóm hoa sen cánh nổi đặc

- Nhóm hoa sen cánh nổi đặc và có đường chỉ nổi bao quanh

- Nhóm cánh sen cánh vát chéo, cạnh sắc

- Nhóm hoa sen cánh là các đường chỉ nổi

 Nhóm 1: Nhóm hoa sen cánh nổi đặc

chung là in nổi cao thành một khối Ví dụ, đầu ngói

và các chi tiết phụ:

- Loại 1: Hoa sen cánh đặc, dáng ngắn

- Loại 2: Hoa sen cánh đặc, dáng thon dài

- Loại 3: Hoa sen có cánh đặc, dáng mập, có các tia nổi xen giữa

- Loại 4: Hoa sen cánh đặc, dáng thon, có đường gờ xen giữa

- Loại 5: Hoa sen cánh đặc, dáng mập

Loại 1 Hoa sen cánh đặc, dáng ngắn Về chi tiết dáng cánh hoa có 4 kiểu

Chất liệu,

SL

Minh hoạ

Trang 37

Đk Dày diềm màu

Rộng, phẳng bằng mặt hoa

Thô, màu xám

là chấm tròn nổi

Rộng, phẳng

Thô, màu xám

Thô, màu xám

Bị vỡ Thô,

màu xám

2

Loại 2 Hoa sen cánh đặc, dáng thon dài

Về chi tiết, loại này có 2 kiểu khác nhau được mô tả chi tiết theo bảng kê sau

Chất liệu, màu sắc

Hơi nhô cao

Thô, màu hơi vàng

1

Trang 38

Thô, màu xám

1

Loại 3 Hoa sen có cánh đặc, dáng mập, có các tia nổi xen giữa Về chi tiết,

loại này về dáng cánh và biến thể về cánh phụ có 6 kiểu theo bảng kê sau (Bảng 5) (bd.2, h 5-8, bd.3, h 1-3, a.37, 38):

Bảng 5 Bảng tóm tắt đặc điểm các kiểu cánh hoa sen trên đầu ngói ống loại 3

Chất liệu, màu sắc

thẳng và một chấm tròn ở đầu

Hơi nhô cao

Thô, màu xám

Hơi nhô cao

Hơi xốp, màu xám

Thô, màu nâu xám

8

Trang 39

5N.L7

cánh phụ kéo dài xuống gương sen, phần đầu cánh là khối nổi hình tam giác, gương sen gồm nhiều nhuỵ

cao, vuông

màu

đỏ sắc vàng

Mịn, màu

Rộng, phẳng bằng mặt hoa

Mịn khá

bở, màu

đỏ

15

Loại 4 Hoa sen cánh đặc, dáng thon, có đường gờ xen giữa (bd.3, h 5, a 39 )

Loại này có 1 kiểu duy nhất BĐ02.D6T.L6 (18cm x

3cm) Cánh sen phần đầu nhọn gần hình tam giác gồm 11

cánh, cánh phụ là một đường chỉ thẳng, xung quanh là 15

chấm tròn nổi cao, gương sen rộng thể hiện 7 chấm nhuỵ

Đường diềm vê tròn, xương mịn, màu đỏ

Loại 5.Hoa sen cánh đặc, dáng mập

Trang 40

Loại này có 1 kiểu, cánh sen là khối nổi dẹt, phần

đầu mũi hớt cao, cánh phụ nhỏ (BĐ02.D6.L4, đường kính

14cm, dày 1.2cm) Kiểu này có ở chất liệu màu đỏ có ở

loại có men màu xanh và loại không men, xương gốm mịn

(bd.3, h 4, a 40)

 Nhóm 2: Nhóm cánh hoa sen cánh đặc có đường chỉ bao quanh

Nhóm này có hai loại: Loại cánh hoa có một đường chỉ bao quanh và loại có cánh hoa là hai đường chỉ bao quanh

Loại 1 Cánh sen nổi đặc có một đường chỉ bao quanh

Về chi tiết, loại 1 có 4 kiểu theo bảng mô tả sau (Bảng 6) (bd 3, h.6-8, bd

Chất liệu, màu sắc

màu

đỏ nhạt

Rộng, phẳng nổi cao

Mịn,

đỏ thẫm

4

Ngày đăng: 23/03/2015, 13:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Ngô Thế Bách (2005), Sưu tập hiện vật ở di tích chùa Báo ân (Gia Lâm – Hà Nội) khai quật đợt II – năm 2003, Tư liệu Khoa Lịch sử Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sưu tập hiện vật ở di tích chùa Báo ân (Gia Lâm – Hà Nội) khai quật đợt II – năm 2003
Tác giả: Ngô Thế Bách
Năm: 2005
2. Báo cáo kết quả khảo cổ học một số di tích thời Lý - Trần ở Nam Định (2005), tư liệu Bảo tàng Nam Định Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả khảo cổ học một số di tích thời Lý - Trần ở Nam Định (2005)
Tác giả: Báo cáo kết quả khảo cổ học một số di tích thời Lý - Trần ở Nam Định
Năm: 2005
3. Bảo tàng lịch sử Việt Nam, Trung tâm bảo tồn di tích cố đô Huế (2003), Khảo cổ học tại di tích cố đô Huế 1999 - 2000, Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo cổ học tại di tích cố đô Huế 1999 - 2000
Tác giả: Bảo tàng lịch sử Việt Nam, Trung tâm bảo tồn di tích cố đô Huế
Năm: 2003
4. Nguyễn Ngọc Chất (2005), Kết quả khai quật di tích thành cổ Sơn Tây (Hà Tây) năm 2003 – 2004, NPHMVKCH năm 2004, Nxb, KHXH, H. tr 311-314 Sách, tạp chí
Tiêu đề: NPHMVKCH năm 2004
Tác giả: Nguyễn Ngọc Chất
Năm: 2005
5. Nguyễn Ngọc Chất (1999), Vật liệu kiến trúc ở di tích Hậu Lâu (hố II), tư liệu Khoa lịch sử, Đại học KHXH & NVQG Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vật liệu kiến trúc ở di tích Hậu Lâu (hố II)
Tác giả: Nguyễn Ngọc Chất
Năm: 1999
6. Nguyễn Ngọc Chất, Vũ Quốc Hiền, Nguyễn Tuấn Lâm (2004), Hệ thống vật liệu kiến trúc đất nung thời Nguyễn ở Hoàng thành Huế và mối quan hệ với vật liệu kiến trúc ở HTTL, tư liệu Viện KCH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống vật liệu kiến trúc đất nung thời Nguyễn ở Hoàng thành Huế và mối quan hệ với vật liệu kiến trúc ở HTTL
Tác giả: Nguyễn Ngọc Chất, Vũ Quốc Hiền, Nguyễn Tuấn Lâm
Năm: 2004
7. Nguyễn Du Chi (2003), Hoa văn Việt Nam từ thời tiền sử đến nửa đầu thời kỳ phong kiến, trường Đại học Mỹ thuật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoa văn Việt Nam từ thời tiền sử đến nửa đầu thời kỳ phong kiến
Tác giả: Nguyễn Du Chi
Năm: 2003
8. Nguyễn Đình Chiến (2004), Vật liệu kiến trúc thời Lý – Trần tìm được trong khu vực thành Thăng Long lưu giữ tại Bảo tàng lịch sử Việt Nam, tư liệu Viện KCH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vật liệu kiến trúc thời Lý – Trần tìm được trong khu vực thành Thăng Long lưu giữ tại Bảo tàng lịch sử Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đình Chiến
Năm: 2004
9. Cơ sở khảo cổ học Trung Quốc (1977), Tập III, Bộ ĐH & THCN và Trường ĐHTH Hà Nội, 1977 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở khảo cổ học Trung Quốc
Tác giả: Cơ sở khảo cổ học Trung Quốc
Năm: 1977
10. Nguyễn Mạnh Cường (1980), Khai quật Tam Đường (Thái Bình), tư liệu Viện KCH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khai quật Tam Đường (Thái Bình)
Tác giả: Nguyễn Mạnh Cường
Năm: 1980
11. Nguyễn Mạnh Cường (1996), Bộ mái nhà thời Trần, KCH, số 1, tr. 31-42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: KCH
Tác giả: Nguyễn Mạnh Cường
Năm: 1996
13. Nguyễn Mạnh Cường, Phạm Như Hồ, Nguyễn Thị Dơn, Vũ Quốc Hiền (1980), Điều tra thám sát Quần Ngựa (Hà Nội) đợt 1, NPHMVKCH năm 1979, Nxb KHXH, H, tr 226 - 227 Sách, tạp chí
Tiêu đề: 1, NPHMVKCH năm 1979
Tác giả: Nguyễn Mạnh Cường, Phạm Như Hồ, Nguyễn Thị Dơn, Vũ Quốc Hiền
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1980
14. Trần Anh Dũng (2004), Vật liệu kiến trúc ở Tây thành Thăng Long qua cuộc khai quật địa điểm 62 - 64 Trần Phú, tư liệu Viện KCH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vật liệu kiến trúc ở Tây thành Thăng Long qua cuộc khai quật địa điểm 62 - 64 Trần Phú
Tác giả: Trần Anh Dũng
Năm: 2004
15. Trần Anh Dũng và Lê Thị Liên (2004), Vật liệu kiến trúc 10 thế kỷ đầu công nguyên ở HTTL, tư liệu Viện KCH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vật liệu kiến trúc 10 thế kỷ đầu công nguyên ở HTTL
Tác giả: Trần Anh Dũng và Lê Thị Liên
Năm: 2004
16. Nguyễn Thị Đào (2004), Tư liệu ảnh chụp tại bảo tàng Guimé (Pháp), Tư liệu VKCH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư liệu ảnh chụp tại bảo tàng Guimé
Tác giả: Nguyễn Thị Đào
Năm: 2004
18. Đại Việt sử ký toàn thư, tập II (1971), Nxb KHXH, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử ký toàn thư
Tác giả: Đại Việt sử ký toàn thư, tập II
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1971
19. Đại Việt sử ký toàn thư, tập III (1972), Nxb KHXH, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử ký toàn thư
Tác giả: Đại Việt sử ký toàn thư, tập III
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1972
20. Đại Việt sử ký toàn thư, tập IV (1968), Nxb KHXH, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Việt sử ký toàn thư
Tác giả: Đại Việt sử ký toàn thư, tập IV
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1968
22. Nguyễn Văn Đoàn (2004), Hệ thống vật liệu kiến trúc di tích Lam Kinh (Thanh Hoá), KCH, số 6, tr 113 - 123 Sách, tạp chí
Tiêu đề: KCH
Tác giả: Nguyễn Văn Đoàn
Năm: 2004
23. Hà Thị Hương Giang (2002), Trang trí kiến trúc bằng đất nung ở tháp Sùng Thiện Diên Linh (Duy Tiên - Hà Nam ) qua cuộc khai quật 2001, tư liệu Khoa Lịch sử Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trang trí kiến trúc bằng đất nung ở tháp Sùng Thiện Diên Linh (Duy Tiên - Hà Nam ) qua cuộc khai quật 2001
Tác giả: Hà Thị Hương Giang
Năm: 2002

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Bảng tóm tắt đặc điểm các kiểu trang trí hình rồng trên đầu ngói ống - Trang trí trên ngói ở Hoàng Thành Thăng Long qua tư liệu khai quật hố D4-D5-D6 (Khu D) địa điểm 18. Hoàng Diệu - Hà Nội
Bảng 2 Bảng tóm tắt đặc điểm các kiểu trang trí hình rồng trên đầu ngói ống (Trang 34)
Bảng 4. Bảng mô tả chi tiết các kiểu cánh  hoa sen trên đầu ngói ống loại 2 - Trang trí trên ngói ở Hoàng Thành Thăng Long qua tư liệu khai quật hố D4-D5-D6 (Khu D) địa điểm 18. Hoàng Diệu - Hà Nội
Bảng 4. Bảng mô tả chi tiết các kiểu cánh hoa sen trên đầu ngói ống loại 2 (Trang 37)
Bảng  9 . Bảng tóm tắt đặc điểm các kiểu  cánh hoa sen trên đầu ngói ống loại 1 - Trang trí trên ngói ở Hoàng Thành Thăng Long qua tư liệu khai quật hố D4-D5-D6 (Khu D) địa điểm 18. Hoàng Diệu - Hà Nội
ng 9 . Bảng tóm tắt đặc điểm các kiểu cánh hoa sen trên đầu ngói ống loại 1 (Trang 41)
Bảng 11 . Bảng tóm tắt các đặc điểm  cánh hoa sen trên đầu ngói ống  loại 2 kiểu 2 - Trang trí trên ngói ở Hoàng Thành Thăng Long qua tư liệu khai quật hố D4-D5-D6 (Khu D) địa điểm 18. Hoàng Diệu - Hà Nội
Bảng 11 Bảng tóm tắt các đặc điểm cánh hoa sen trên đầu ngói ống loại 2 kiểu 2 (Trang 43)
Bảng  12 . Bảng tóm tắt các đặc điểm  hoa sen nhìn nghiêng trên đầu ngói ống - Trang trí trên ngói ở Hoàng Thành Thăng Long qua tư liệu khai quật hố D4-D5-D6 (Khu D) địa điểm 18. Hoàng Diệu - Hà Nội
ng 12 . Bảng tóm tắt các đặc điểm hoa sen nhìn nghiêng trên đầu ngói ống (Trang 44)
Bảng 14. Bảng tóm tắt đặc điểm các kiểu cánh hoa cúctrên đầu ngói ống  loại 2     Kiểu/ - Trang trí trên ngói ở Hoàng Thành Thăng Long qua tư liệu khai quật hố D4-D5-D6 (Khu D) địa điểm 18. Hoàng Diệu - Hà Nội
Bảng 14. Bảng tóm tắt đặc điểm các kiểu cánh hoa cúctrên đầu ngói ống loại 2 Kiểu/ (Trang 47)
Bảng  16. Bảng tóm tắt đặc điểm các  kiểu  hoa mẫu đơn trên đầu ngói ống - Trang trí trên ngói ở Hoàng Thành Thăng Long qua tư liệu khai quật hố D4-D5-D6 (Khu D) địa điểm 18. Hoàng Diệu - Hà Nội
ng 16. Bảng tóm tắt đặc điểm các kiểu hoa mẫu đơn trên đầu ngói ống (Trang 49)
Bảng  18. Bảng tóm tắt đặc điểm  các kiểu hoa cúc trên đầu ngói âm  loại 1 - Trang trí trên ngói ở Hoàng Thành Thăng Long qua tư liệu khai quật hố D4-D5-D6 (Khu D) địa điểm 18. Hoàng Diệu - Hà Nội
ng 18. Bảng tóm tắt đặc điểm các kiểu hoa cúc trên đầu ngói âm loại 1 (Trang 52)
a.1. Hình  rồng - Trang trí trên ngói ở Hoàng Thành Thăng Long qua tư liệu khai quật hố D4-D5-D6 (Khu D) địa điểm 18. Hoàng Diệu - Hà Nội
a.1. Hình rồng (Trang 53)
Hình  ngọn  lửa  nhỏ - Trang trí trên ngói ở Hoàng Thành Thăng Long qua tư liệu khai quật hố D4-D5-D6 (Khu D) địa điểm 18. Hoàng Diệu - Hà Nội
nh ngọn lửa nhỏ (Trang 57)
b.1. Hình rồng - Trang trí trên ngói ở Hoàng Thành Thăng Long qua tư liệu khai quật hố D4-D5-D6 (Khu D) địa điểm 18. Hoàng Diệu - Hà Nội
b.1. Hình rồng (Trang 65)
B.1.2. Hình chim phượng trên lá đề lệch trang trí hai mặt - Trang trí trên ngói ở Hoàng Thành Thăng Long qua tư liệu khai quật hố D4-D5-D6 (Khu D) địa điểm 18. Hoàng Diệu - Hà Nội
1.2. Hình chim phượng trên lá đề lệch trang trí hai mặt (Trang 72)
Bảng 35. Bảng tóm tắt đặc điểm  thân tượng uyên ương  loại 1 - Trang trí trên ngói ở Hoàng Thành Thăng Long qua tư liệu khai quật hố D4-D5-D6 (Khu D) địa điểm 18. Hoàng Diệu - Hà Nội
Bảng 35. Bảng tóm tắt đặc điểm thân tượng uyên ương loại 1 (Trang 77)
Bảng 40. Bảng tóm tắt đặc điểm  hình văn “như ý” trên đầu và lưng ngói  mũi sen đầu vát - Trang trí trên ngói ở Hoàng Thành Thăng Long qua tư liệu khai quật hố D4-D5-D6 (Khu D) địa điểm 18. Hoàng Diệu - Hà Nội
Bảng 40. Bảng tóm tắt đặc điểm hình văn “như ý” trên đầu và lưng ngói mũi sen đầu vát (Trang 84)
Hình chim phượng  Nhóm  1:  Loại  1  và  loại  2  (kiểu  1 - Trang trí trên ngói ở Hoàng Thành Thăng Long qua tư liệu khai quật hố D4-D5-D6 (Khu D) địa điểm 18. Hoàng Diệu - Hà Nội
Hình chim phượng Nhóm 1: Loại 1 và loại 2 (kiểu 1 (Trang 95)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w