BẢN VẼ Bản vẽ 1: Vị trí của một số loại hình móng trong kết cấu của một công trình kiến trúc cổ truyền Việt mô hình giả định Bản vẽ 2: Địa tầng vách nam hố khai quật địa điểm chùa Phật T
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
BÙI VĂN HIẾU
MÓNG KIẾN TRÚC THỜI LÝ, TRẦN, HỒ
QUA TÀI LIỆU KHẢO CỔ HỌC
Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành: Khảo cổ học
Mã số: 60 22 60 PHỤ LỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Tống Trung Tín
Trang 2MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 3
DANH MỤC BẢNG BIỂU, BẢN ĐỒ, SƠ ĐỒ, BẢN VẼ VÀ BẢN ẢNH 4
MỞ ĐẦU 19
1TÍNHCẤPTHIẾTCỦAĐỀTÀILUẬNVĂN 19
2.MỤCĐÍCHNGHIÊNCỨU 20
3.ĐỐITƯỢNGVÀPHẠMVINGHIÊNCỨU 20
4.PHƯƠNGPHÁPNGHIÊNCỨU 24
5.NHỮNGKẾTQUẢĐÓNGGÓPCỦALUẬNVĂN 25
6.KẾTCẤUCỦALUẬNVĂN 25
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TƯ LIỆU 27
1.1MỘTSỐKHÁINIỆMLIÊNQUANĐẾNLUẬNVĂN 27
1.2LỊCHSỬNGHIÊNCỨU 33
1.3TIỂUKẾTCHƯƠNG1 41
CHƯƠNG 2 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM MÓNG KIẾN TRÚC THỜI LÝ, TRẦN, HỒ 43
2.1THỜILÝ 43
2.1.1 Móng nền 43
2.1.2 Móng cột 53
2.1.3 Tiểu kết về móng kiến trúc thời Lý 58
2.2THỜITRẦN 61
2.2.1 Móng nền 61
Trang 32.2.2 Móng cột 66
2.2.3 Tiểu kết về móng kiến trúc thời Trần 70
2.3THỜITRẦN-HỒ 72
2.3.1 Móng nền 73
2.3.2 Móng cột 74
2.3.3 Tiểu kết về móng kiến trúc thời Trần-Hồ 75
2.4TIỂUKẾTCHƯƠNG2 76
CHƯƠNG 3 DIỄN BIẾN VÀ GIÁ TRỊ CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU MÓNG KIẾN TRÚC THỜI LÝ, TRẦN, HỒ 80
3.1.DIỄNBIẾNCỦAMÓNGKIẾNTRÚCTHỜILÝ,TRẦN,HỒ 80
3.1.1 Về mặt loại hình 80
3.1.2 Về vật liệu 84
3.1.3 Về kỹ thuật xây dựng 86
3.2.GIÁTRỊCỦAVIỆCNGHIÊNCỨUMÓNGKIẾNTRÚCTHỜILÝ,TRẦN, HỒ 86
3.2.1 Về phương diện kiến trúc 86
3.2.2 Về phương diện văn hóa 89
3.2.3 Giá trị thực tiễn 90
KẾT LUẬN 92
DANH MỤC CÁC BÀI VIẾT VÀ TƯ LIỆU CỦA TÁC GIẢ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO 95
Trang 4KHXH&NV Khoa học xã hội và Nhân văn
NPHMVKCH Những phát hiện mới về khảo cổ học
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU, BẢN ĐỒ, SƠ ĐỒ, BẢN VẼ VÀ BẢN ẢNH
BẢNG THỐNG KÊ, MÔ TẢ
Bảng 1: Bảng thống kê các loại hình móng kiến trúc thời Lý
Bảng 2: Bảng thống kê các loại hình móng nền thời Lý
Bảng 3: Bảng thống kê các kiểu móng bó nền thời Lý
Bảng 4: Bảng thống kê các loại hình móng cột thời Lý
Bảng 5: Bảng thống kê các kiểu móng cột loại 5 thời Lý
Bảng 6: Bảng thống kê các loại hình móng kiến trúc thời Trần
Bảng 7: Bảng thống kê các loại hình móng cột thời Trần
Bảng 8: Bảng thống kê các kiểu móng cột loại 3 thời Trần
Bảng 9: Bảng thống kê các loại hình móng kiến trúc thời Trần - Hồ
Bảng 10: Bảng thống kê các loại hình móng kiến trúc thời Lý, Trần, Hồ
Bảng 11: Bảng thống kê các loại hình móng cột địa điểm 18 Hoàng Diệu, Ba
Đình, Hà Nội Bảng 12: Bảng thống kê các loại hình móng cột địa điểm đàn Nam Giao, Hai
Bà Trưng, Hà Nội Bảng 13: Bảng thống kê các loại hình móng cột khu vực đền Trần - chùa Tháp Bảng 14: Mô tả đặc điểm móng cột loại 1 thời Lý
Bảng 14.1: Mô tả đặc điểm móng cột loại 1 thời Lý
Trang 6Bảng 15: Mô tả đặc điểm móng cột loại 2 thời Lý Bảng 15.1: Mô tả đặc điểm móng cột loại 2 thời Lý Bảng 15.2: Mô tả đặc điểm móng cột loại 2 thời Lý Bảng 15.3: Mô tả đặc điểm móng cột loại 2 thời Lý Bảng 16: Mô tả đặc điểm móng cột loại 3 thời Lý Bảng 16.1: Mô tả đặc điểm móng cột loại 3 thời Lý Bảng 17: Mô tả đặc điểm móng cột loại 4 thời Lý Bảng 17.1: Mô tả đặc điểm móng cột loại 4 thời Lý Bảng 17.2: Mô tả đặc điểm móng cột loại 4 thời Lý Bảng 17.3: Mô tả đặc điểm móng cột loại 4 thời Lý Bảng 17.4: Mô tả đặc điểm móng cột loại 4 thời Lý Bảng 17.5: Mô tả đặc điểm móng cột loại 4 thời Lý Bảng 17.6: Mô tả đặc điểm móng cột loại 4 thời Lý Bảng 17.7: Mô tả đặc điểm móng cột loại 4 thời Lý Bảng 17.8: Mô tả đặc điểm móng cột loại 4 thời Lý Bảng 17.9: Mô tả đặc điểm móng cột loại 4 thời Lý Bảng 17.10: Mô tả đặc điểm móng cột loại 4 thời Lý Bảng 17.11: Mô tả đặc điểm móng cột loại 4 thời Lý
Trang 7Bảng 17.12: Mô tả đặc điểm móng cột loại 4 thời Lý
Bảng 18: Mô tả đặc điểm móng cột kiểu 1 loại 5 thời Lý Bảng 18.1: Mô tả đặc điểm móng cột kiểu 1 loại 5 thời Lý Bảng 18.2: Mô tả đặc điểm móng cột kiểu 1 loại 5 thời Lý Bảng 18.3: Mô tả đặc điểm móng cột kiểu 1 loại 5 thời Lý Bảng 18.4: Mô tả đặc điểm móng cột kiểu 1 loại 5 thời Lý Bảng 18.5: Mô tả đặc điểm móng cột kiểu 1 loại 5 thời Lý Bảng 18.6: Mô tả đặc điểm móng cột kiểu 1 loại 5 thời Lý Bảng 18.7: Mô tả đặc điểm móng cột kiểu 1 loại 5 thời Lý Bảng 18.8: Mô tả đặc điểm móng cột kiểu 1 loại 5 thời Lý Bảng 18.9: Mô tả đặc điểm móng cột kiểu 1 loại 5 thời Lý Bảng 18.10: Mô tả đặc điểm móng cột kiểu 1 loại 5 thời Lý Bảng 18.11: Mô tả đặc điểm móng cột kiểu 1 loại 5 thời Lý Bảng 19: Mô tả đặc điểm móng cột kiểu 2 loại 5 thời Lý Bảng 19.1: Mô tả đặc điểm móng cột kiểu 2 loại 5 thời Lý Bảng 19.2: Mô tả đặc điểm móng cột kiểu 2 loại 5 thời Lý Bảng 19.3: Mô tả đặc điểm móng cột kiểu 2 loại 5 thời Lý Bảng 19.4: Mô tả đặc điểm móng cột kiểu 2 loại 5 thời Lý
Trang 8Bảng 19.5: Mô tả đặc điểm móng cột kiểu 2 loại 5 thời Lý Bảng 20: Mô tả đặc điểm móng cột kiểu 3a loại 5 thời Lý Bảng 20.1: Mô tả đặc điểm móng cột kiểu 3a loại 5 thời Lý Bảng 20.2: Mô tả đặc điểm móng cột kiểu 3a loại 5 thời Lý Bảng 20.3: Mô tả đặc điểm móng cột kiểu 3a loại 5 thời Lý Bảng 20.4: Mô tả đặc điểm móng cột kiểu 3a loại 5 thời Lý Bảng 21: Mô tả đặc điểm móng cột kiểu 3b loại 5 thời Lý Bảng 22: Mô tả đặc điểm móng cột loại 1 thời Trần
Bảng 23: Mô tả đặc điểm móng cột kiểu 1b loại 3 thời Trần Bảng 23.1: Mô tả đặc điểm móng cột kiểu 1b loại 3 thời Trần Bảng 23.2: Mô tả đặc điểm móng cột kiểu 1b loại 3 thời Trần Bảng 23.3: Mô tả đặc điểm móng cột kiểu 1b loại 3 thời Trần Bảng 24: Mô tả đặc điểm móng cột kiểu 2a loại 3 thời Trần Bảng 25: Mô tả đặc điểm móng cột kiểu 2b loại 3 thời Trần
Trang 9Bản đồ 4: Vị trí xã Phượng Sơn, huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang
Bản đồ 5: Vị trí xã Minh Hải, huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên
Bản đồ 6: Vị trí phường Ngọc Xuyên, quận Đồ Sơn, thành phố Hải Phòng Bản đồ 7: Vị trí xã Yên Lợi, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định
Bản đồ 8: Vị trí di tích Đoan Môn, Ba Đình, Hà Nội
Bản đồ 9: Vị trí xã Dương Quang, huyện Gia Lâm, Hà Nội
Bản đồ 10: Vị trí xã An Sinh, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh
Ban đồ 11: Vị trí phường Lộc Vượng, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định Bản đồ 12: Vị trí xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình
Bản đồ 13: Vị trí xã Hà Đông, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa
Bản đồ 14: Vị trí di tích thành nhà Hồ, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa
SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1: Vị trí các khu A, B, C, D địa điểm 18 Hoàng Diệu, Hà Nội
Sơ đồ 2: Địa điểm chùa Lạng
Sơ đồ 3: Khu khai quật địa điểm chùa Lạng
Sơ đồ 4: Vị trí các hố khai quật di tích chùa Báo Ân, Gia Lâm, Hà Nội
Sơ đồ 5: Vị trí di tích Ly Cung, đàn Nam Giao, thành nhà Hồ ở Thanh Hóa
Sơ đồ 6: Vị trí các hố khai quật năm 2004 tại thành nhà Hồ
Trang 10BẢN VẼ
Bản vẽ 1: Vị trí của một số loại hình móng trong kết cấu của một công trình
kiến trúc cổ truyền Việt (mô hình giả định) Bản vẽ 2: Địa tầng vách nam hố khai quật địa điểm chùa Phật Tích năm 2009 Bản vẽ 3: Địa tầng vách đông hố khai quật địa điểm chùa Phật Tích năm 2009 Bản vẽ 4: Địa tầng vách tây hố khai quật địa điểm chùa Phật Tích năm 2009 Bản vẽ 5: Mặt bằng dấu vết tháp chùa Phật Tích
Bản vẽ 6: Mặt tường phía bắc dấu vết tháp chùa Phật Tích
Bản vẽ 7: Mặt tường phía nam dấu vết tháp chùa Phật Tích
Bản vẽ 8: Mặt tường phía đông dấu vết tháp chùa Phật Tích
Bản vẽ 9: Mặt tường phía tây dấu vết tháp chùa Phật Tích
Bản vẽ 10: Mặt tường phía nam lòng tháp chùa Phật Tích
Bản vẽ 11: Mặt tường phía đông lòng tháp chùa Phật Tích
Bản vẽ 12: Dấu vết kiến trúc ở khu A địa điểm 18 Hoàng Diệu
Bản vẽ 13: Dấu vết kiến trúc ở khu A và A1 địa điểm 18 Hoàng Diệu
Bản vẽ 14: Dấu vết kiến trúc khu A1 địa điểm 18 Hoàng Diệu
Bản vẽ 15: Vị trí dấu vết móng tường thứ nhất thời Lý
Bản vẽ 16: Vị trí dấu vết móng tường thứ hai thời Lý
Bản vẽ 17: Dấu vết kiến trúc khu A và hố A20-A5 địa điểm 18 Hoàng Diệu
Trang 11Bản vẽ 18: Vị trí dấu vết móng bó nền kiểu 1 thời Lý địa điểm 18 Hoàng Diệu Bản vẽ 19: Mặt cắt phía tây khu khai quật địa điểm chùa Lạng
Bản vẽ 20: Mặt cắt ngang khu thượng điện chùa Lạng
Bản vẽ 21: Mặt bằng lớp kiến trúc thứ nhất địa điểm chùa Lạng
Bản vẽ 22: Vị trí dấu vết móng bó nền kiểu 2 thời Lý địa điểm 18 Hoàng Diệu Bản vẽ 23: Mặt bằng vị trí hố khai quật di tích đàn Nam Giao
Bản vẽ 24: Móng bó nền kiểu 3 thời Lý và hệ thống móng cột ở địa điểm đàn
Nam Giao Bản vẽ 25: Dấu vết móng bó nền kiểu 3 thời Lý ở hố 4 địa điểm đàn Nam Giao Bản vẽ 26: Dấu vết móng bó nền kiểu 3 thời Lý ở hố 9 địa điểm đàn Nam Giao Bản vẽ 27: Dấu vết móng bó nền kiểu 3 thời Lý ở hố 10B1 địa điểm đàn Nam
Giao Bản vẽ 28: Dấu vết móng bó nền kiểu 3 thời Lý ở hố 10B2 địa điểm đàn Nam Giao Bản vẽ 29: Dấu vết móng bó nền kiểu 3 thời Lý ở hố 10N địa điểm đàn Nam Giao Bản vẽ 30: Mặt cắt móng bó nền kiểu 3 thời Lý
Bản vẽ 31: Mặt cắt móng bó nền kiểu 3 thời Lý
Bản vẽ 32: Móng cột loại 1 thời Lý
Bản vẽ 33: Dấu vết kiến trúc khu A và hố A15 địa điểm 18 Hoàng Diệu
Bản vẽ 34: Móng cột loại 1 thời Lý, địa điểm 18 Hoàng Diệu
Trang 12Bản vẽ 35: Mặt cắt móng cột loại 1 thời Lý
Bản vẽ 36: Móng cột loại 1 thời Lý, địa điểm đền Cầu Từ
Bản vẽ 37: Móng cột loại 1 thời Lý
Bản vẽ 38: Móng cột loại 2 thời Lý ở hố 10B1 địa điểm đàn Nam Giao
Bản vẽ 39: Móng cột loại 2 thời Lý ở hố 10N địa điểm đàn Nam Giao
Bản vẽ 40: Mặt cắt móng cột loại 2 thời Lý
Bản vẽ 41: Móng cột loại 3 thời Lý ở hố 10B2 địa điểm đàn Nam Giao
Bản vẽ 42: Móng cột loại 3 thời Lý ở hố 10N địa điểm đàn Nam Giao
Bản vẽ 43: Móng cột kiểu 1 loại 5 thời Lý
Bản vẽ 44: Mặt cắt móng cột kiểu 1 loại 5 thời Lý
Bản vẽ 45: Dấu vết kiến trúc khu A và hố A10 địa điểm 18 Hoàng Diệu
Bản vẽ 46: Móng cột kiểu 1 loại 5 thời Lý
Bản vẽ 47: Móng cột kiểu 1 loại 5 thời Lý
Bản vẽ 48: Móng cột kiểu 1 loại 5 thời Lý
Bản vẽ 49: Mặt cắt móng cột kiểu 1 loại 5 thời Lý (móng cột B2 kiến trúc hố
A20-A5) Bản vẽ 50: Dấu vết kiến trúc khu A và kiến trúc “lục giác” địa điểm 18 Hoàng
Diệu Bản vẽ 51: Dấu vết các kiến trúc “lục giác” B và I
Trang 13Bản vẽ 52: Mặt cắt móng cột kiểu 1 loại 5 thời Lý (Móng cột số 1, 6 kiến trúc
“lục giác” B) Bản vẽ 53: Móng cột kiểu 2 loại 5 thời Lý ở hố 4 địa điểm đàn Nam Giao
Bản vẽ 54: Móng cột kiểu 2 loại 5 thời Lý ở hố 9 địa điểm đàn Nam Giao
Bản vẽ 55: Móng cột kiểu 2 loại 5 thời Lý ở hố 10B1 địa điểm đàn Nam Giao Bản vẽ 56: Móng cột kiểu 2 loại 5 thời Lý ở hố 10N địa điểm đàn Nam Giao Bản vẽ 57: Móng cột kiểu 2 (có ngói) loại 5 thời Lý ở hố 9 địa điểm đàn Nam Giao Bản vẽ 58: Mặt cắt móng cột kiểu 2 loại 5 thời Lý
Bản vẽ 59: Dấu vết kiến trúc khu A và hố A3 địa điểm 18 Hoàng Diệu
Bản vẽ 60: Móng cột kiểu 3a loại 5 thời Lý
Bản vẽ 61: Dấu vết kiến trúc khu A và hố A20 địa điểm 18 Hoàng Diệu
Bản vẽ 62: Móng cột kiểu 3a loại 5 thời Lý
Bản vẽ 63: Mặt bằng di tích chùa Phổ Minh
Bản vẽ 64: Mặt đứng tháp chùa Phổ Minh
Bản vẽ 65: Mặt bằng tháp chùa Phổ Minh
Bản vẽ 66: Mặt cắt cấu tạo đế và móng tháp chùa Phổ Minh
Bản vẽ 67: Mặt cắt địa chất hố đào và định dạng móng tháp chùa Phổ Minh Bản vẽ 68: Sức kháng xuyên đất móng tháp chùa Phổ Minh
Trang 14Bản vẽ 69: Dấu vết ngôi tháp tại địa điểm Ghềnh Tháp
Bản vẽ 70: Vị trí dấu vết móng tường thời Trần
Bản vẽ 71: Dấu vết kiến trúc xuất lộ tại di tích chùa Báo Ân
Bản vẽ 72: Mặt bằng và mặt cắt địa tầng hố 1 lần khai quật thứ hai địa điểm chùa
Báo Ân Bản vẽ 73: Móng cột loại 1 thời Trần, địa điểm chùa Báo Ân
Bản vẽ 74: Mặt bằng và mặt cắt địa tầng hố 2 lần khai quật thứ hai địa điểm chùa
Báo Ân Bản vẽ 75: Móng cột loại 1 thời Trần, địa điểm chùa Báo Ân
Bản vẽ 76: Mặt bằng và mặt cắt địa tầng hố 1 lần khai quật thứ ba địa điểm chùa
Báo Ân Bản vẽ 77: Móng cột loại 1 thời Trần, địa điểm chùa Báo Ân
Bản vẽ 78: Mặt bằng và mặt cắt địa tầng hố 2 lần khai quật thứ ba địa điểm chùa
Báo Ân Bản vẽ 79: Mặt bằng hố 2 lần khai quật thứ ba địa điểm chùa Báo Ân
Bản vẽ 80: Mặt bằng và mặt cắt địa tầng hố 3 lần khai quật thứ ba địa điểm chùa
Báo Ân Bản vẽ 81: Mặt bằng hố 3 lần khai quật thứ ba địa điểm chùa Báo Ân
Bản vẽ 82: Dấu vết kiến trúc xuất lộ tại di tích Thái Lăng đợt khai quật lần 1 Bản vẽ 83: Móng cột loại 2 thời Trần, di tích Thái Lăng
Trang 15Bản vẽ 84: Móng cột loại 2 thời Trần ở hố 1 địa điểm đền Thái
Bản vẽ 85: Móng cột loại 2 thời Trần ở hố 2 địa điểm đền Thái
Bản vẽ 86: Móng cột loại 2 thời Trần ở hố 3 địa điểm đền Thái
Bản vẽ 87: Móng cột loại 2 thời Trần ở hố 4 địa điểm đền Thái
Bản vẽ 88: Móng cột kiểu 1b loại 3 thời Trần ở hố 6
Bản vẽ 89: Móng cột kiểu 1b loại 3 thời Trần ở hố 7
Bản vẽ 90: Móng cột kiểu 1b loại 3 thời Trần ở hố 10N
Bản vẽ 91: Mặt cắt móng cột kiểu 1b loại 3 thời Trần
Bản vẽ 92: Móng cột kiểu 2a loại 3 thời Trần
Bản vẽ 93: Móng cột kiểu 2b thời Trần
Bản vẽ 94: Móng cột sỏi xuất lộ tại khu vực đền Cầu Từ 2
Bản vẽ 95: Móng cột sỏi ngói sành ở khu vực đền Cầu Từ 2
Bản vẽ 96: Móng cột sành ngói tại khu vực đền Cầu Từ 2
Bản vẽ 97: Mặt bằng di tích Ly Cung sau 5 lần khai quật
Bản vẽ 98: Dấu vết kiến trúc xuất lộ tại di tích Ly Cung đợt khai quật lần 1-2 Bản vẽ 99: Mặt cắt dọc cấu tạo nền móng Phật điện và sân điện hố thám sát đợt
khai quật lần 1, 2 di tích Ly Cung Bản vẽ 100: Móng cột sỏi ở địa điểm thành nhà Hồ
BẢN ẢNH
Trang 16Bản ảnh 1: Dấu vết tháp chùa Phật Tích
Bản ảnh 2: Dấu vết tháp chùa Phật Tích
Bản ảnh 3: Lớp vật liệu gia cố chân tháp chùa Phật Tích
Bản ảnh 4: Mô hình tháp trên gạch thời Lý và kiến trúc hố B3, địa điểm 18
Hoàng Diệu Bản ảnh 5: Dấu vết tháp Tường Long
Bản ảnh 6: Dấu vết tháp Tường Long
Bản ảnh 7: Dấu vết tháp Chương Sơn
Bản ảnh 8: Dấu vết tháp Chương Sơn
Bản ảnh 9: Dấu vết kiến trúc và lớp gia cố chân tháp Chương Sơn
Bản ảnh 10: Dấu vết móng tường thứ nhất thời Lý
Bản ảnh 11: Dấu vết móng tường thứ hai thời Lý
Bản ảnh 12: Kiến trúc khu A1 và dấu vết những đường bó nền
Bản ảnh 13: Kiến trúc hố A20-A5 và móng bó nền kiểu 1 thời Lý
Bản ảnh 14: Kiến trúc hố A20-A5 và móng bó nền kiểu 1, 2 thời Lý
Bản ảnh 15: Địa điểm chùa Lạng và những dấu vết kiến trúc
Bản ảnh 16: Dấu vết kiến trúc xuất lộ tại địa điểm chùa Lạng
Bản ảnh 17: Móng bó nền kiểu 3 thời Lý
Trang 17Bản ảnh 18: Móng bó nền kiểu 3 thời Lý
Bản ảnh 19: Móng bó nền kiểu 3 thời Lý
Bản ảnh 20: Dấu vết kiến trúc khu A1 và móng cột loại 1 thời Lý Bản ảnh 21: Kiến trúc móng cột sỏi hố A15 và móng cột loại 1 thời Lý Bản ảnh 22: Móng cột loại 1 thời Lý
Bản ảnh 23: Móng cột loại 1 thời Lý địa điểm đền Cầu Từ
Bản ảnh 29: Kiến trúc khu A1 và móng cột kiểu 1 loại 5 thời Lý
Bản ảnh 30: Kiến trúc hố A10 và móng cột kiểu 1 loại 5 thời Lý
Bản ảnh 31: Kiến trúc hố A15 và móng cột kiểu 1 loại 5 thời Lý
Bản ảnh 32: Kiến trúc hố A20-A5 và móng cột kiểu 1 loại 5 thời Lý Bản ảnh 33: Kiến trúc “lục giác” B và móng cột kiểu 1 loại 5 thời Lý Bản ảnh 34: Kiến trúc “lục giác” I và móng cột kiểu 1 loại 5 thời Lý Bản ảnh 35: Móng cột kiểu 2 loại 5 thời Lý
Trang 18Bản ảnh 36: Kiến trúc hố A3 và móng cột kiểu 3a loại 5 thời Lý
Bản ảnh 37: Kiến trúc hố A20 và móng cột kiểu 3a loại 5 thời Lý
Bản ảnh 38: Dấu vết kiến trúc hố A5 và móng cột kiểu 3b loại 5 thời Lý
Bản ảnh 39: Tháp Phổ Minh
Bản ảnh 40: Địa điểm Ghềnh Tháp
Bản ảnh 41: Dấu vết ngôi tháp tại địa điểm Ghềnh Tháp
Bản ảnh 42: Dấu vết móng tường thời Trần
Bản ảnh 43: Dấu vết kiến trúc tại địa điểm Đoan Môn, Hà Nội
Bản ảnh 44: Dấu vết kiến trúc tại địa điểm Đoan Môn, Hà Nội
Bản ảnh 45: Dấu vết kiến trúc tại địa điểm chùa Báo Ân đợt khai quật lần thứ hai Bản ảnh 46: Dấu vết kiến trúc tại địa điểm chùa Báo Ân đợt khai quật lần thứ ba Bản ảnh 47: Hố khai quật 1 và 2 đợt khai quật năm 2006
Bản ảnh 48: Hố khai quật 2 và móng cột loại 1 thời Trần
Bản ảnh 49: Hố khai quật 3 và móng cột loại 1 thời Trần
Bản ảnh 50: Hố khai quật 28 và móng cột loại 1 thời Trần
Bản ảnh 51: Di tích Thái Lăng
Bản ảnh 52: Móng cột loại 2 thời Trần tại di tích Thái Lăng
Bản ảnh 53: Móng cột loại 2 thời Trần tại địa điểm đền Thái
Trang 19Bản ảnh 54: Móng cột kiểu 1a loại 3 thời Trần
Bản ảnh 55: Móng cột kiểu 1b loại 3 thời Trần
Bản ảnh 56: Hố khai quật 1 và móng cột kiểu 2 loại 3 thời Trần
Bản ảnh 57: Móng cột kiểu 2a loại 3 thời Trần
Bản ảnh 58: Dấu vết móng cột có niên đại thời Lý Trần ở đền Cầu Từ
Bản ảnh 59: Dấu vết móng cột tại khu vực đền Cầu Từ 2 đợt khai quật năm 2007 Bản ảnh 60: Dấu vết đàn Nam Giao, Thanh Hóa
Bản ảnh 61: Dấu vết đàn Nam Giao, Thanh Hóa
Bản ảnh 62: Khối đá móng chân tường thành nhà Hồ và địa tầng các hố thám sát Bản ảnh 63: Di tích Ly Cung và những dấu vết kiến trúc
Bản ảnh 64: Móng cột ở thành nhà Hồ và đàn Nam Giao, Thanh Hóa
Bản ảnh 65: Móng cột ở địa điểm 18 Hoàng Diệu
Bản ảnh 66: Dấu vết lớp sành đầm ở hố khai quật 3, 4, 6 địa điểm đàn Xã Tắc
Trang 20MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài luận văn
1.1 Văn hóa vật chất, cơ sở đầu tiên của đời sống con người, biểu hiện những điều kiện sinh sống và trình độ phát triển xã hội của một dân tộc Trước khi sáng tạo ra những quan hệ xã hội và văn hóa tinh thần, con người phải giải quyết những nhu cầu vật chất cho mình Vì vậy nghiên cứu văn hóa vật chất có một vai trò đặc biệt quan trọng
Kiến trúc cổ là một trong những đề tài quan trọng và phức tạp của văn hóa vật chất Nó trở thành đề tài nghiên cứu của nhiều ngành khoa học: kiến trúc, khảo
cổ học, nghệ thuật học, dân tộc học…
1.2 Đối với bất kỳ một công trình kiến trúc nào thì yêu cầu công năng, kết cấu vật liệu, hình tượng kiến trúc là những yếu tố cấu thành cơ bản Trong đó, kết cấu chính là xương cốt của kiến trúc
Cho tới nay, người ta vẫn có chiều hướng tập trung nghiên cứu về mặt hình thể kiến trúc mà không chú ý nhiều đến vấn đề kết cấu vật liệu Thế nhưng mọi người đều biết chúng phải được xem xét trong mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại lẫn nhau Rõ ràng những vấn đề về kết cấu thường giới hạn nét thể hiện của kiến trúc
1.3 Nền móng là một trong nhiều yếu tố có ảnh hưởng lớn tới tính bền vững của các công trình kiến trúc Sự ổn định, bền vững của công trình phụ thuộc chủ yếu vào nền và móng Nó phải rắn chắc tới mức có thể làm được mà quy mô của công trình đòi hỏi Tuy nhiên nếu xây dựng móng qúa kiên cố và gia cường nền qúa chắc chắn sẽ gây sự lãng phí không cần thiết Vì vậy, giải quyết tốt bài toán về nền và móng có ý nghĩa vô cùng to lớn trong xây dựng công trình cả về kinh tế và kỹ thuật
Trang 211.4 Nền nghệ thuật kiến trúc Việt Nam thời Lý, Trần, Hồ đánh dấu một mốc son trong lịch sử kiến trúc truyền thống của dân tộc Tuy nhiên đến nay, do nhiều nguyên nhân khác nhau như điều kiện môi trường, chiến tranh loạn lạc, phần còn lại chủ yếu để tìm hiểu nền nghệ thuật kiến trúc thời kỳ này chỉ là những dấu vết nền móng Đã có những bài viết đề cập đến những dấu vết nền móng kiến trúc thời kỳ
Lý, Trần, Hồ nhưng cho đến nay chưa có bất kỳ một công trình tổng hợp nào về vấn
đề này
1.5 Ham muốn nghiên cứu về kiến trúc truyền thống đặc biệt là nền móng kiến trúc cổ luôn được nuôi dưỡng trong tác giả từ khi còn học tập tại giảng đường đại học Những lý do khách quan và chủ quan như vậy đã khiến chúng tôi không
ngần ngại chọn đề tài luận văn là: Móng kiến trúc thời Lý, Trần, Hồ qua tài liệu khảo cổ học
2 Mục đích nghiên cứu
2.1 Bước đầu tập hợp và hệ thống hóa nguồn tư liệu từ trước đến nay về móng kiến trúc thời Lý, Trần, Hồ qua khai quật khảo cổ học, nhằm cung cấp cho các nhà nghiên cứu và người quan tâm những tư liệu và hiểu biết tương đối đầy đủ nhất hiện nay về vấn đề móng kiến trúc thời Lý, Trần, Hồ qua tài liệu khảo cổ học
2.2 Trên cơ sở tư liệu về móng kiến trúc và các nguồn tư liệu khác, luận văn bước đầu tìm hiểu những đặc điểm cơ bản của móng kiến trúc thời Lý, Trần, Hồ qua các tiêu chí: loại hình, cấu trúc và thành phần vật liệu cấu tạo, kỹ thuật xây dựng, diễn biến
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn đã được chỉ rõ trong tên đề tài Đối tượng chính của luận văn là những dấu vết móng kiến trúc thời Lý, Trần, Hồ được phát
Trang 22hiện từ trước tới nay qua các cuộc điều tra, thám sát và khai quật khảo cổ học Tuy nhiên, trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi chủ yếu đề cập đến những dấu vết móng kiến trúc có niên đại thời Lý, Trần, Hồ phát hiện được qua điều tra, thám sát, khai quật khảo cổ học tại các địa điểm trên địa bàn một số tỉnh, thành phố như Hà Nội, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hưng Yên, Hải Phòng, Quảng Ninh, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa Trong số những vùng đất này, có nơi là quê hương của những vị vua sáng lập ra các vương triều Lý, Trần hay là kinh đô của quốc gia Đại Việt, Đại Ngu trong lịch sử Theo như hiểu biết hiện nay, hoạt động khai quật khảo cổ học tại những địa điểm, khu vực sau trên địa bàn các tỉnh, thành phố nói trên đã phát hiện được những dấu vết móng kiến trúc có niên đại thời Lý, Trần, Hồ, đó là:
- Địa điểm 18 Hoàng Diệu, Ba Đình, Hà Nội - Khu di tích Trung tâm Hoàng thành Thăng Long
- Di tích đàn Nam Giao, Hà Nội
- Di tích Đoan Môn, Hà Nội
- Địa điểm chùa Báo Ân, Hà Nội
- Địa điểm chùa Phật Tích (Vạn Phúc Tự), Bắc Ninh
- Địa điểm đền Cầu Từ, Bắc Giang
- Địa điểm chùa Lạng (Viên Giác Tự), Hưng Yên
- Di tích tháp Tường Long, Hải Phòng
- Di tích Thái Lăng, Đông Triều, Quảng Ninh
- Địa điểm đền Thái, Đông Triều, Quảng Ninh
- Di tích tháp Vạn Phong Thành Thiện (tháp Chương Sơn), Nam Định
Trang 23- Khu vực đền Trần - chùa Tháp Phổ Minh, Nam Định
- Địa điểm Ghềnh Tháp, Ninh Bình
- Di tích Ly Cung, Thanh Hóa
- Địa điểm thành nhà Hồ, Thanh Hóa
Như vậy, đối tượng nghiên cứu chính của luận văn sẽ là 15 địa điểm nói trên Tuy nhiên, đối với các địa điểm 18 Hoàng Diệu, địa điểm đàn Nam Giao, khu vực đền Trần-chùa Tháp, Thái Lăng, đền Thái, đối tượng nghiên cứu lại có những giới hạn nhất định cụ thể như sau:
Tại địa điểm 18 Hoàng Diệu - Khu di tích Trung tâm Hoàng thành Thăng Long do tình hình di tích vẫn đang trong qúa trình chỉnh lý nghiên cứu nên đối với
di tích này, ngoài tư liệu về hố A5 mà tác giả là người trực tiếp khai quật, chúng tôi chủ yếu sử dụng những phiếu miêu tả di tích ở khu A do tập thể cán bộ đang làm việc tại đây xây dựng Bên cạnh đó, do các loại hình móng cột phát hiện được ở khu
A có cấu tạo hết sức đa dạng và phong phú, trong cùng một móng cột, giữa các phần đôi khi cũng có sự khác biệt nhất định, chúng tôi cho rằng nếu chỉ dựa vào đặc điểm cấu tạo bề mặt phần còn lại của móng cột để tiến hành phân chia loại hình là không thật sự thỏa đáng Do vậy, sự phân chia các loại hình móng cột ở khu A trong khuôn khổ luận văn này chỉ áp dụng cho những móng cột đã được nghiên cứu mặt cắt cấu tạo Qua đó, chúng tôi cố gắng mang lại cho người đọc những thông tin cơ bản nhất về một số loại hình móng cột phát hiện được ở đây
Tại địa điểm đàn Nam Giao, Hà Nội, hai dấu vết móng cột ở Hố 1 không thật
sự rõ ràng, móng cột số 42 đã bị phá hủy chỉ còn dấu vết nền đất chân móng cột Do vậy, 52 móng cột còn lại sẽ là đối tượng nghiên cứu của luận văn
Tại địa điểm đền Cầu Từ, qua hai lần khai quật, theo những người phụ trách khai quật đã phát hiện được tổng số 18 dấu vết móng cột Nhưng theo chúng tôi,
Trang 24móng cột số 1 phát hiện được tại khu vực đền Cầu Từ 2 đợt khai quật năm 2009 không thật rõ Như vậy, 17 móng cột còn lại phát hiện ở địa điểm này sẽ là đối tượng nghiên cứu của luận văn
Tại khu vực đền Trần-chùa Tháp, Nam Định, theo những người phụ trách khai quật, qua ba lần khai quật thám sát, đã phát hiện được tổng số 39 dấu vết móng cột [88, 93] Đợt khai quật thám sát năm 2006 phát hiện được 20 móng cột, phân bố
ở các hố 1, 2, 3 và 28 (Hố 1: 02, Hố 2: 07, Hố 3: 10, Hố 28: 01) [88] Nhưng hai móng cột hố 1, không thật sự rõ ràng Đợt khai quật thám sát năm 2008 - 2009 phát hiện được 19 móng cột, phân bố ở các hố 1 và 3 (Hố 1: 12 móng cột, Hố 3: 07 móng cột) [93] Tuy nhiên, móng cột số 6 hố 1 đã bị phá hủy, chỉ còn dấu vết là một phần đất màu xám đen, 7 dấu vết móng cột ở hố 3 không thật sự rõ ràng nên chúng tôi không đề cập đến ở đây Như vậy, đối với khu vực này, 29 dấu vết móng cột nói trên sẽ là đối tượng nghiên cứu của luận văn
Tại địa điểm Thái Lăng, báo cáo kết quả khai quật lần thứ hai đang trong quá trình hoàn thiện nên những móng cột tại địa điểm này được đề cập đến trong luận
văn chỉ là những móng cột được nói đến trong Báo cáo kết quả khai quật di tích
Thái Lăng lần thứ nhất
Tại địa điểm đền Thái, báo cáo kết quả của cả hai lần khai quật thám sát đều đang trong quá trình xây dựng, hoàn thiện Do vậy, những miêu tả dưới đây về
móng cột tại địa điểm này hoàn toàn dựa vào Báo cáo sơ bộ kết quả khai quật khảo
cổ học địa điểm đền Thái lần thứ nhất
Những tư liệu về móng kiến trúc thời Lý, Trần, Hồ tại các địa điểm khác được biên soạn trong các hồ sơ báo cáo, các thông báo khoa học, các bài tạp chí, các tập kỷ yếu hội nghị, sách
3.2 Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Trang 253.2.1 Về không gian : Tập trung chủ yếu ở vùng đồng bằng châu thổ Bắc Bộ, một số tỉnh, thành đồng bằng duyên hải đông bắc Bắc Bộ và khu vực Bắc Trung Bộ, bao gồm Hà Nội, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hưng Yên, Hải Phòng, Quảng Ninh, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hóa
3.2.2 Về thời gian: Nằm trong khung niên đại thời Lý, Trần, Hồ, từ năm
1010 khi vương triều Lý được thành lập đến năm 1407, năm đánh dấu sự sụp đổ của của vương triều Hồ trong lịch sử
3.2.3 Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của luận văn không chỉ giới hạn trong không gian và thời gian nói trên mà được mở rộng hơn ít nhiều Để có tư liệu đối chiếu so sánh, chúng tôi cũng sẽ sử dụng kết quả báo cáo khai quật, sách, báo những bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành về một số địa điểm khác như tháp Nhạn, thành Hoa Lư, Lam Kinh, Huế và một vài địa điểm văn hóa Champa như Trà Kiệu, phế tích tháp Vân Trạch Hòa…
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Luận văn sử dụng các phương pháp khảo cổ học: Trong khảo sát điền dã
thực địa là các thao tác lấy tư liệu bằng đo vẽ, chụp ảnh Trong nghiên cứu là các phương pháp phân loại loại hình, khảo tả, so sánh, phân tích và tổng hợp về đặc điểm cấu trúc, thành phần vật liệu
4.2 Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu liên ngành, đa ngành:
Kết hợp liên ngành, trong luận văn còn sử dụng các phương pháp, thao tác của nghệ thuật học, kiến trúc học
4.3 Luận văn sử dụng các phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử để xem xét và lý giải các sự vật, hiện tượng, các mối quan hệ văn hóa cũng như
phác dựng bức tranh lịch sử thời qúa khứ thông qua sử liệu vật thật của những dấu vết móng kiến trúc
Trang 265 Những kết quả đóng góp của luận văn
5.1 Luận văn cố gắng tập hợp tương đối đầy đủ những tư liệu khảo cổ học, kết qủa nghiên cứu từ trước tới nay về móng kiến trúc thời Lý, Trần, Hồ và bước đầu hệ thống hóa nguồn tư liệu này
5.2 Luận văn cung cấp tư liệu, thông tin mới nhất về những dấu vết móng kiến trúc thời Lý, Trần, Hồ phát hiện được qua điều tra, thám sát, khai quật khảo cổ học
6 Kết cấu của luận văn
Lời mở đầu: 8 trang
Phần nội dung chính của luận văn: 67 trang
Chương 1: Tổng quan tư liệu: 16 trang
Chương 2: Những đặc điểm móng kiến trúc thời Lý, Trần, Hồ: 37 trang Chương 3: Diễn biến và giá trị của việc nghiên cứu móng kiến trúc thời Lý, Trần, Hồ: 12 trang
Phần Kết luận: 2 trang
Tài liệu tham khảo: 14 trang
Phụ lục bảng thống kê mô tả: 88 trang
Phụ lục bản đồ: 14 trang
Phụ lục sơ đồ: 6 trang
Phụ lục bản vẽ: 100 trang
Trang 27Xin được cảm ơn Ban lãnh đạo Viện Khảo cổ học đã quan tâm, tạo điều kiện cho tác giả rất nhiều trong qúa trình học tập, nghiên cứu Xin trân trọng khắc ghi những tình cảm tốt đẹp đó
Xin được bày tỏ sự tri ân đối với những nhà nghiên cứu đi trước, anh chị em đồng nghiệp, bầu bạn đồng học đã có những ý kiến đóng góp trao đổi, động viên khích lệ
Tác giả cũng nhận được nhiều sự giúp đỡ tận tình của Trung tâm Tư liệu Thông tin Thư viện, Trung tâm Nghiên cứu Kinh thành, Viện Khảo cổ học, Phòng Nghiên cứu - Sưu tầm, Viện Bảo tàng lịch sử Việt Nam, Bảo tàng Nhân học, Phòng
Tư liệu Khoa Lịch sử trong qúa trình thu thập tư liệu Xin trân thành cảm ơn!
Những hạn chế về tư liệu, về khả năng nhận thức của tác giả, nên luận văn này vẫn còn những thiếu sót nhất định Tác giả mong muốn nhận được sự góp ý của người đọc để tác giả ngày càng nâng cao được nhận thức của mình trên con đường nghiên cứu khoa học
Trang 28Chương 1 TỔNG QUAN TƯ LIỆU
1.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN VĂN
Để tiện cho việc theo dõi, chúng tôi thấy cần thiết trình bày ngay từ đầu một
số khái niệm, thuật ngữ liên quan đến đề tài “Móng kiến trúc thời Lý, Trần, Hồ qua
tài liệu khảo cổ học” như các khái niệm "Móng", "Nền" “Móng kiến trúc” “Móng
nền” “Móng cột”
Móng
Như đã nói ở trên, vấn đề nền móng luôn thu hút sự quan tâm của các công trình sư Vậy móng là gì?
Châu Ngọc Ẩn, trong cuốn “Nền móng” xuất bản năm 2002 và sau này ấn
phẩm tái bản năm 2009 dưới cái tên “Nền móng công trình” đã viết "Phần bên dưới
công trình, thường được gọi là móng được cấu tạo bởi những vật liệu xây dựng cứng hơn đất nền như: móng các công trình dân dụng và công nghiệp, móng cầu, móng cảng, móng dàn khoan " [2, tr.13; 3, tr.11]
Như vậy có thể thấy, Châu Ngọc Ẩn chưa đưa ra một định nghĩa thật sự đầy
đủ về móng Tác giả mới chỉ xem “Phần bên dưới công trình, thường được gọi là
móng được cấu tạo bởi những vật liệu xây dựng cứng hơn đất nền” mà chưa đề cập
đến chức năng của móng Vấn đề chức năng của móng đã được Tạ Đức Thịnh và cộng sự làm sáng tỏ hơn trong cuốn “Nền và móng công trình” Trong ấn phẩm này,
các tác giả đã đưa ra định nghĩa như sau “Móng của công trình là bộ phận nằm
dưới mặt đất của công trình, có nhiệm vụ tiếp nhận tải trọng của công trình truyền xuống nền sao cho công trình làm việc ổn định” [84, tr.8] Rõ ràng là với định
nghĩa như trên, định nghĩa về móng đã phần nào đầy đủ hơn Cùng cho rằng móng
Trang 29là phần bên dưới công trình, nhưng Tạ Đức Thịnh và cộng sự lại đưa ra một định nghĩa về móng một cách cụ thể hơn Theo các tác giả, móng là bộ phận nằm dưới
mặt đất của công trình Đồng thời, họ cũng chỉ rõ công năng của móng là có nhiệm
vụ tiếp nhận tải trọng của công trình truyền xuống nền sao cho công trình làm việc
ổn định
Quan điểm này phần nào nhận được sự ủng hộ của các tác giả tập “Bài giảng nền móng”, Bộ môn Cơ sở kỹ thuật xây dựng, Khoa xây dựng cầu đường, Trường Đại học Bách khoa, Đại học Đà Nẵng Trong tập bài giảng này, họ đã đưa ra định
nghĩa như sau về móng: "Móng là bộ phận chịu lực đặt thấp nhất, là kết cấu cuối
cùng của nhà hoặc công trình Nó tiếp thu tải trọng công trình và truyền tải trọng
đó lên nền đất dưới đáy móng" [15, tr.1] Đồng thời, các tác giả này cũng đưa ra
những khái niệm khác về móng như "Mặt móng", "Gờ móng" "Đáy móng" [15, tr.1]
Ngoài những ấn phẩm chuyên ngành xây dựng tiêu biểu nói trên, định nghĩa
về móng có thể thấy trong một số tác phẩm khác như “Từ điển bách khoa Việt
Nam”, “Đại từ điển Tiếng Việt”… Theo “Từ điển bách khoa Việt Nam” thì “Móng
là kết cấu nằm dưới cùng của công trình xây dựng (nhà, cầu, đập nước, vv) Móng truyền trực tiếp tải trọng công trình vào nền đất Móng phải được thiết kế và xây dựng sao cho công trình không bị lún quá độ lún cho phép, vì chính độ lún không đều thường gây ra nứt đổ vỡ các công trình xây dựng" [42, tr.929]
“Đại từ điển Tiếng Việt” do Nguyễn Như Ý chủ biên đưa ra định nghĩa như
sau “Móng lớp vật liệu dưới cùng nằm sâu trong lòng đất để chịu sức nặng của
công trình xây dựng [121, tr.1130]
Như vậy, có thể thấy ít nhiều có sự khác biệt nhất định trong cách định nghĩa
về móng của các tác giả nói trên nhất là về vấn đề vị trí của móng trong kết cấu của
công trình Châu Ngọc Ẩn quan niệm “phần bên dưới công trình thường được gọi
là móng” còn Tạ Đức Thịnh và cộng sự cho rằng “móng của công trình là bộ phận
Trang 30nằm dưới mặt đất của công trình” Các tác giả của “Bài giảng nền móng”, “Từ điển
bách khoa Việt Nam”, “Đại từ điển tiếng Việt” thì xác định một cách cụ thể hơn vị
trí của móng trong kết cấu của công trình Theo họ móng “là bộ phận chịu lực đặt
thấp nhất, là kết cấu cuối cùng của nhà hoặc công trình”, là “kết cấu nằm dưới cùng của công trình xây dựng” hay là “lớp vật liệu dưới cùng” Mặc dù, còn có
những khác biệt nhất định trong quan điểm về vị trí của móng, nhưng hầu hết các tác giả này đều cho rằng móng có nhiệm vụ tiếp nhận và truyền tải trọng công trình xuống nền đất để công trình làm việc ổn định
Chúng tôi cho rằng, các cách hiểu móng “là bộ phận chịu lực đặt thấp nhất,
là kết cấu cuối cùng của nhà hoặc công trình”, là “kết cấu nằm dưới cùng của công trình xây dựng”, “lớp vật liệu dưới cùng” là đúng nhưng chưa thật sự đầy đủ Đặc
biệt, khó có thể coi móng đơn thuần là “lớp vật liệu dưới cùng” như Nguyễn Như Ý
quan niệm Trong trường hợp móng là một kết cấu bao gồm nhiều lớp vật liệu khác nhau thì không thể chỉ xem lớp vật liệu dưới cùng là móng được
Theo chúng tôi, “Móng là phần kết cấu nằm bên dưới công trình, nằm hoàn
toàn dưới mặt đất hay nửa chìm nửa nổi, có nhiệm vụ tiếp nhận và truyền tải trọng của công trình xuống nền đất”
Bên cạnh việc đưa ra những định nghĩa nói trên về móng, những tác giả này cũng đưa ra những quan điểm về các loại móng
Theo “Từ điển bách khoa Việt Nam” thì “Móng có các loại móng đơn, móng
băng, móng bè, móng cọc’’ [42, tr.929] Châu Ngọc Ẩn đã phân chia móng thành
móng nông, móng sâu và móng nửa sâu Trong mỗi loại đó lại bao gồm những tiểu loại nhỏ hơn [2, tr.14-15; 3, tr.12-13] Tạ Đức Thịnh và cộng sự theo cấu tạo, hình dáng và phương pháp thi công, lại chia móng thành bốn loại: Móng nông, móng cọc, móng sâu và móng máy (bệ máy) Trong mỗi loại cũng bao gồm những tiểu loại nhỏ hơn [84, tr.7-8]
Trang 31Từ sự phân loại như trên có thể thấy, tuỳ vào từng tiêu chí mà móng có thể phân thành nhiều loại khác nhau Tuy nhiên, về cơ bản vẫn thấy trong các cách phân loại nói trên có hai loại móng chung là móng nông và móng sâu Trong hai loại cơ bản này cũng tùy từng quan điểm, tùy từng cách nhìn nhận mà nó lại bao gồm những loại nhỏ hơn khác nhau
Nền
Giữa hai khái niệm móng và nền luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau nên trong nhiều trường hợp người ta dùng cụm từ nền móng Vậy nền là gì?
Trong cuốn “Nền và móng công trình”, Tạ Đức Thịnh và cộng sự cho rằng
“Nền công trình là tập hợp các lớp đất đá tự nhiên hoặc nhân tạo, có nhiệm vụ tiếp nhận tải trọng của công trình qua móng truyền xuống” [84, tr.5] Quan điểm này có
những điểm tương đồng với định nghĩa về nền trong tập “Bài giảng Nền móng” của
Bộ môn Cơ sở kỹ thuật xây dựng, Khoa xây dựng cầu đường, trường Đại học Bách
khoa, Đại học Đà Nẵng “Nền là phần đất nằm dưới đáy móng, tiếp thu tải trọng từ
móng truyền xuống” [15, tr.5]
Như vậy, có thể thấy “Nền công trình là kết cấu tự nhiên hoặc nhân tạo, nằm
bên dưới đáy móng, có nhiệm vụ tiếp nhận tải trọng của công trình qua móng truyền xuống”
Bên cạnh đó, những tác giả này cũng đưa ra nhiều cách phân loại nền khác nhau Các tác phẩm “Nền móng”, “Nền móng công trình” của Châu Ngọc Ẩn, “Nền
và móng công trình” của Tạ Đức Thịnh hay tập “Bài giảng Nền móng” của Bộ môn
Cơ sở kỹ thuật xây dựng, Khoa xây dựng cầu đường, trường Đại học Bách khoa, Đại học Đà Nẵng đều chia nền thành “nền tự nhiên” và “nền nhân tạo” [2, tr.16; 3, tr.13-14; 15, tr.2; 84, tr5-6] Ngoài ra, Tạ Đức Thịnh và cộng sự theo cách chịu tải của nền lại phân loại nền thành “nền cứng” và “nền mềm” [84, tr.5-6]
Trang 32Tóm lại, hiểu một cách đơn giản “Móng là phần kết cấu nằm bên dưới công
trình, nằm hoàn toàn dưới mặt đất hay nửa chìm nửa nổi, có nhiệm vụ tiếp nhận và truyền tải trọng của công trình xuống nền đất” và “Nền là phần đất, đá tự nhiên hoặc nhân tạo nằm dưới móng tiếp nhận tải trọng công trình qua móng truyền xuống” Như vậy móng, nền có nhiệm vụ tiếp nhận và truyền tải trọng công trình để
đảm bảo độ bền của công trình Chúng có vai trò hết sức quan trọng đối với sự bền vững của công trình Giải quyết tốt bài toán về nền và móng có ý nghĩa vô cùng to lớn trong xây dựng công trình cả về kinh tế và kỹ thuật
Móng kiến trúc
Như đã trình bày ở trên, “Móng là phần kết cấu nằm bên dưới công trình,
nằm hoàn toàn dưới mặt đất hay nửa chìm nửa nổi…” Bởi chúng tôi cho rằng khi
xưa để tạo móng cho từng bộ phận cấu thành hay toàn bộ công trình, người thợ xây dựng phải tiến hành đào xuống nền đất những hố nhất định Do vậy, mới tồn tại các thuật ngữ xây dựng, kiến trúc như “đào móng” “hố móng” Hình dạng, kích thước của hố này tùy thuộc vào yêu cầu chịu tải trong từng trường hợp cụ thể Sau đó các loại vật liệu được đổ-đầm, xếp, xây vào trong hố móng Như vậy, phần móng của công trình đa phần chìm dưới lòng đất, những cũng có trường hợp nó nửa chìm nửa nổi
Theo cách nhìn nhận như vậy, chúng tôi cho rằng những lớp, kết cấu vật liệu được đắp, san nằm bên dưới các bộ phận cấu thành hay toàn bộ công trình kiến trúc không phải là móng và tùy từng tên gọi của các bộ phận đó hay bản thân công trình kiến trúc bên trên lớp, kết cấu vật liệu này mà chúng được gọi bằng những cái tên khác nhau như “nền nhà”, “nền sân”, “nền đường” Lớp vật liệu này cũng có tác dụng nhất định cho việc tăng cường độ bền vững của phần kiến trúc bên trên đó, nhưng không thể xem đây là móng được
Trang 33Như vậy khái niệm “móng kiến trúc” mà chúng tôi sử dụng trong luận văn về
cơ bản được hiểu là “Những hố kết cấu vật liệu nằm bên dưới công trình kiến trúc,
có nhiệm vụ tiếp nhận và truyền tải trọng của công trình xuống nền đất”
Theo quan điểm kiến trúc, xây dựng học hiện
đại thì một công trình nói chung gồm có ba bộ phận:
Kết cấu phần trên + móng + nền Do móng tiếp
nhận và truyền tải trọng của toàn bộ phần kết cấu
bên trên xuống nền đất nên diện tích bề mặt móng
rộng hơn diện tích mặt sàn phần kết cấu bên trên Nhưng đối với kiến trúc cổ truyền của người Việt, bộ phận móng lại có những nét riêng Bởi, về kỹ thuật học, kiến trúc cổ truyền Việt có hệ chịu lực bằng khung kết cấu gỗ, với cấu kiện cơ bản là hệ thống cột Sức nặng của công trình được phân tán qua hệ cột nên chân các cột đã được gia cố bằng các chân tảng làm bằng đá, có kích thước lớn gấp nhiều lần đường kính cột gỗ Các chân tảng này thường được đặt trên mặt nền công trình, đã được đầm, nện chặt và tôn đắp cao hơn xung quanh Nhiều nhà nghiên cứu đã cho rằng không có khái niệm móng trong kiến trúc cổ truyền Việt Quan niệm này hoàn toàn không đúng Đối với những công trình kiến trúc cổ truyền Việt, đa phần chúng ta không thấy phần móng chịu tải chung cho toàn bộ công trình Bởi do đặc điểm riêng của nó, những người thợ xây dựng khi xưa chủ
yếu chỉ tạo móng ở những vị trí nhất định cần
thiết để tăng độ bền vững của công trình như
bên dưới chân tảng kê cột, bó nền, bậc cấp
Trong phạm vi luận văn này, chúng tôi sử dụng hai khái niệm “móng cột” và
“móng nền” Theo chúng tôi “móng cột là hố kết cấu vật liệu nằm bên dưới chân
tảng kê cột của các công trình kiến trúc có nhiệm vụ tiếp nhận và truyền tải trọng công trình xuống nền đất” Toàn bộ những loại hình kết cấu vật liệu nằm bên dưới,
có nhiệm vụ tiếp nhận và truyền tải trọng của những bộ phận cấu thành còn lại của
Kết cấu phần trên Móng
Nền
Trang 34công trình kiến trúc, bản thân công trình sẽ được gọi chung là “móng nền” Và tùy theo từng tên gọi của các loại hình kiến trúc bên trên nó mà “móng nền” bao gồm nhiều loại khác nhau như “móng tháp”, “móng tường”, “móng bó nền”, “móng bậc cấp”…
Như vậy, có thể thấy khái niệm “móng nền” trùng với khái niệm “móng kiến trúc” và “móng cột”, là một bộ phận cấu thành của “móng nền” Việc sử dụng khái niệm “móng nền” trong luận văn cho nhóm những móng kiến trúc như “móng tháp”, “móng tường”, “móng bó nền”, “móng bậc cấp” đơn thuần chỉ có ý nghĩa phân biệt nhóm móng kiến trúc này với móng cột Bởi, kiến trúc truyền thống Việt thường là kiến trúc gỗ hình thành trên cơ sở một khung hình hộp và thành phần chịu lực chủ yếu là các cột nhà nên các chân cột thường được chú ý kê đỡ và gia cố với hai thành phần chính là chân tảng và móng cột Do vậy, ở đây chúng tôi muốn nhấn mạnh đến loại hình móng cột nên đã xếp chúng thành một loại riêng biệt Có thể nói móng cột là loại móng phổ biển, chủ yếu nhất trong các loại móng của kiến trúc cổ truyền Việt
Trong luận văn chúng tôi có sử dụng một số khái niệm niên đại lịch sử như
“Thời Lý”, “Thời Trần”, “Thời Trần-Hồ” Hai khái niệm “Thời Lý”, “Thời Trần” được sử dụng theo cách hiểu phổ biến hiện nay Riêng với khái niệm “Thời Trần-Hồ” được dùng để chỉ khoảng thời gian tử năm 1397 - năm mà theo Đại Việt sử ký toàn thư, Hồ Qúy Ly sai Lại bộ thượng thư kiêm Thái sử lệnh Đỗ Tỉnh đi xem đất ở động An Tôn phủ Thanh Hoá, đắp thành đào hào, lập nhà tông miếu, dựng đàn xã tắc… chuẩn bị cho một sự kiện đánh dấu bước chuyển quan trọng trên con đường chính trị của Hồ Qúy Ly Đó là dời đô vào Thanh Hóa - đến năm 1407, năm đánh dấu sự sụp đổ của vương triều Hồ trong lịch sử dân tộc
1.2 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU
1.2.1 Những di tích xuất hiện dấu vết móng kiến trúc
Trang 35Như đã trình bày ở phần trên, theo như hiểu biết hiện nay, hoạt động khai quật khảo cổ học tại những địa điểm, khu vực sau trên địa bàn các tỉnh, thành phố thuộc phạm vi nghiên cứu của luận văn đã phát hiện được những dấu vết móng kiến trúc có niên đại thời Lý, Trần, Hồ, đó là:
Địa điểm 18 Hoàng Diệu - Khu di tích Trung tâm Hoàng thành Thăng Long
thuộc quận Ba Đình, thành phố Hà Nội (PL2.Bđ1, PL3.Sđ1), được khai quật lần đầu tiên vào năm 2002 và đã xuất lộ nhiều di tích và hàng nghìn di vật có giá trị cho việc nghiên cứu Khu trung tâm Hoàng thành Thăng Long trong lịch sử Cho đến nay, gần 10 năm sau ngày khai quật, đã có nhiều bài viết đăng trên tạp chí Khảo cổ học [1, 55, 56, 77, 87] hay cho các cuộc hội thảo [5, 17, 48, 119], sách [43, 114, 115], luận văn thạc sĩ [54] phân tích, luận bàn về nhiều khía cạnh của khu di tích này Mặc dù, cũng đã có những bài viết nói về vấn đế móng kiến trúc ở địa điểm này [12, 13, 44, 48, 49, 53, 101, 102] nhưng cho đến nay chưa có một công trình nào thật sự đầy đủ, chi tiết về móng kiến trúc có niên đại thời Lý, Trần phát hiện được ở đây
Di tích đàn Nam Giao, Thăng Long xưa nay thuộc khu vực nhà máy cơ khí
Trần Hưng Đạo (nay là Công ty cơ khí cổ phần Trần Hưng Đạo), số 114 phố Mai Hắc Đế, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội (PL2.Bđ2) Năm 2007, di tích được Viện Khảo
cổ học phối hợp với Ban Quản lý Di tích và Danh thắng Hà Nội, Sở Văn hóa và Thông tin Hà Nội ba lần khai quật thám sát với tổng diện tích là 1.100m2 Đã phát hiện nhiều dấu vết kiến trúc quan trọng và hàng ngàn di vật có giá trị cho việc tìm hiểu di tích đàn Nam Giao trong lịch sử Năm 2008, Trần Anh Dũng và đoàn khai quật đã có bài viết về cuộc khai quật lần này trong đó có đề cập đến những dấu vết móng kiến trúc phát hiện được ở đây [13] Nhiều sử sách, địa bạ cổ nước ta như
“Đại Việt sử ký toàn thư” [59], “Đại Nam nhất thống chí” [79], “Kiến Văn tiểu lục”, “Lê triều hội điển”, “Khâm Định Việt sử thông giám cương mục”, “Thăng
Trang 36Long cổ tích khảo”, “Địa bạ huyện Thọ Xương”, “Vũ Trung tùy bút” đều ghi chép đàn có từ thời Lý [90]
Địa điểm chùa Phật Tích (Vạn Phúc Tự) nay thuộc xã Phật Tích, huyện Tiên
Du, tỉnh Bắc Ninh (PL2.Bđ3) Phế tích tháp chùa Vạn Phúc đã được L Bezacier tiến hành khai quật khoảng năm 1937 - 1940 Đã tìm thấy nền tháp cùng nhiều thành phần kiến trúc đá, đất nung có chạm chim thần, rồng, hoa lá, các mảnh tượng Kim Cương, Hộ Pháp [86] Đến năm 2008, trong qúa trình trùng tu xây dựng chùa Vạn Phúc, dấu vết tháp lại được xuất lộ Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Ninh đã tiến hành khai quật chữa cháy di tích này Những tài liệu thư tịch cổ như
“Đại Nam nhất thống chí” [80] “Việt sử lược” [118], “Đại Việt sử ký toàn thư” [59] cho biết di tích được xây dựng thời vua Lý Thánh Tông
Địa điểm đền Cầu Từ thuộc thôn Cầu Từ, xã Phượng Sơn, huyện Lục Ngạn,
tỉnh Bắc Giang [21, 22] (PL2.Bđ4) Từ 1985 đến 2007, nhiều cuộc điều tra, điền dã được tiến hành ở địa bàn hai huyện Lục Nam, Lục Ngạn và đã thu được một số mảnh vật liệu kiến trúc, đồ gốm sứ gia dụng thời Lý, Trần [21, 22] Di tích được Bảo tàng tỉnh Bắc Giang phối hợp với Viện Khảo cổ học tiến hành thăm dò, khai quật hai lần vào các năm 2007, 2009 với tổng diện tích là 163m2
[21, 22] Đã tìm thấy những dấu vết kiến trúc có niên đại thời Lý, Trần
Địa điểm chùa Lạng (Viên Giác Tự) thuộc thôn Chùa, xã Minh Hải, huyện
Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên [27] (PL2.Bđ5, PL3.Sđ2-Sđ3) Chùa Lạng được khai quật hai lần trong các năm 1972 và 1973 với tổng diện tích khai quật là 702m2 Đã phát hiện được những lớp kiến trúc có niên đại trải dài từ thời Lý đến thời Nguyễn và nhiều di vật có giá trị cho việc tìm hiểu diễn trình phát triển chùa Lạng trong lịch
sử Nguyễn Duy Hinh, người phụ trách khai quật đã có những bài viết về kết quả của cuộc khai quật lần này đăng trên tạp chí Khảo cổ học số 16 năm 1974 và số 2 năm 1977, trong đó có nói đến dấu vết móng tam cấp, móng bó nền có niên đại thời
Lý phát hiện được ở đây [24, 28]
Trang 37Di tích tháp Tường Long nay thuộc địa phận phường Ngọc Xuyên, quận Đồ
Sơn, thành phố Hải Phòng (PL2.Bđ6) Phế tích tháp Tường Long đã được Viện Khảo cổ học phối hợp cùng với Bảo tàng thành phố Hải Phòng khai quật lần đầu tiên vào năm 1978 Gần 20 năm sau, phế tích lại được Sở Văn hóa Thông tin Hải Phòng khai quật lần thứ hai Đã tìm thấy dấu vết tháp Tường Long, và nhiều di vật
đá, đất nung, gốm, sành Những tài liệu thư tịch cổ như “Đại Việt sử ký toàn thư” [59], “Đại Nam nhất thống chí” [80] đều chép tháp được xây dựng đời vua Lý Thánh Tông (1058)
Di tích tháp Vạn Phong Thành Thiện (tháp Chương Sơn) nằm trên núi Ngô
Xá thuộc thôn Ngô Xá, xã Yên Lợi, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định (PL2.Bđ7) Di tích đã được thám sát và khai quật hai lần với tổng diện tích là 1036m2 Lần đầu tiên vào năm 1965 Lần thứ hai diễn ra từ tháng 12/1966 đến tháng 3/1967 Hai lần khai quật này đã phát hiện được những di tích, di vật có giá trị cho việc tìm hiểu nền nghệ thuật kiến trúc điêu khắc thời Lý Trên cơ sở những ghi chép trong các tài liệu thư tịch cổ như “Việt sử lược”, “Đại Việt sử ký toàn thư”, câu đối, bia ký, Cao Xuân Phổ đã cho rằng tháp Chương Sơn được xây dựng dưới thời vua Lý Nhân Tông trong khoảng thời gian từ năm 1108-1117
Di tích Đoan Môn, Hà Nội hiện nay phía bắc cách nền điện Kính Thiên
chừng 300m, phía nam cách Cột cờ Hà Nội khoảng 200m, phía tây cách đường Hoàng Diệu chừng 50-100m và có cổng mở ra vào tại số 11 (PL2.Bđ8) Di tích được Viện Khảo cổ học phối hợp với Sở Văn hóa Thông tin Hà Nội mà trực tiếp là Ban Quản lý Di tích và Danh thắng Hà Nội, Văn phòng Kỷ niệm nghìn năm Thăng Long, Hà Nội tiến hành thăm dò và khai quật từ 25/10/1999 đến ngày 30/3/2000 với tổng diện tích là 133,2m2 Đợt khai quật đã phát hiện được những di tích và hàng nghìn di vật có giá trị cho việc tìm hiểu diễn trình phát triển của Đoan Môn trong
lịch sử Đầu năm 2000, trong bài viết “Khai quật địa điểm Đoan Môn (Hà Nội) năm
1999” đăng trên tạp chí Khảo cổ học số 3, Tống Trung Tín và cộng sự khi nói về
Trang 38dấu vết kiến trúc tại địa điểm Đoan Môn, Hà Nội có đề cập đến dấu vết móng của
“con đường hoa chanh” phát hiện được ở đây [95]
Địa điểm chùa Báo Ân, Hà Nội nằm ở toạ độ 105000’28’’ kinh Đông,
21000’28’’ vĩ Bắc, thuộc địa phận thôn Trung, xã Dương Quang, huyện Gia Lâm,
Hà Nội, nằm bên tả ngạn sông Thiên Đức, nằm các quốc lộ số 5 khoảng 1km về phía bắc [18, 19, 20] (PL2.Bđ9) Di tích được Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tiến hành khai quật 3 lần vào các năm 2002, 2003, 2004, đã phát hiện được các vết tích kiến trúc bao gồm nền, móng, gia cố chân tảng, hệ thống cống thoát nước của các kiến trúc, lò nung có niên đại từ thời Trần, Lê đến Nguyễn cùng hệ thống di vật đi kèm [18, 19, 20]
Di tích Thái Lăng nay thuộc thôn Trại Lốc, xã Yên Sinh, huyện Đông Triều,
tỉnh Quảng Ninh [99] (PL2.Bđ10) Từ lâu, Thái Lăng đã thu hút sự quan tâm của một số nhà nghiên cứu mỹ thuật, kiến trúc như Nguyễn Đức Nùng, Tống Trung Tín [72,86] Trong các tác phẩm của mình, những tác giả này đã đề cập đến kiến trúc, nghệ thuật của lăng Gần đây, di tích Thái Lăng được Viện Khảo cổ học phối hợp với UBND huyện Đông Triều tiến hành khai quật hai lần vào các năm 2007 và
2008 Đã phát hiện nhiều dấu vết kiến trúc và hàng nghìn di vật có giá trị cho việc tìm hiểu diện mạo của lăng trong lịch sử
Địa điểm đền Thái nay cũng thuộc thôn Trại Lốc, xã An Sinh, huyện Đông
Triều, tỉnh Quảng Ninh [100] (PL2.Bđ10) Di tích được Ban Quản lý các di tích trọng điểm tỉnh Quảng Ninh phối hợp với Viện Khảo cổ học tiến hành khai quật thám sát khảo cổ học hai lần vào các năm 2009 và 2010, đã phát hiện được nhiều di tích, di vật có giá trị cho việc tìm hiểu diễn trình phát triển của đền Thái
Khu vực đền Trần-chùa Tháp Phổ Minh, thuộc địa phận phường Lộc Vượng,
thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định [88, 93] (PL2.Bđ11) Xung quanh khu vực đền Trần đã có sáu cuộc thám sát và khai quật khảo cổ học vào các năm 1975, 1979,
Trang 391995, 2000, 2002, 2003 [88] Các nhà khảo cổ học đã phát hiện được nhiều dấu vết kiến trúc, vật liệu kiến trúc, đồ dùng sinh hoạt mang tính chất cung đình Từ năm
2006 đến năm 2009, Sở Văn hóa Thông tin Thể thao và Du lịch tỉnh Nam Định phối hợp với Viện Khảo cổ học tiến hành ba đợt điều tra, khai quật thám sát tại khu vực đền Trần-chùa Tháp với tổng diện tích 2908m2 Qua 3 lần khai quật thám sát, các nhà khảo cổ học đã phát hiện được tại khu vực đền Trần-chùa Tháp nhiều di tích, di
vật có giá trị cho việc tìm hiểu diễn trình lịch sử văn hóa khu vực này
Địa điểm Ghềnh Tháp nằm ở lưng chừng núi Thụ Mộc, ngay cạnh bờ sông
Sào Khê đoạn từ đền Đinh-Lê đi hang Luồn, thuộc địa phận thôn Yên Thành, xã Trường Yên, huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, cách đền Đinh-Lê khoảng 1km về phía đông nam, cách hang Luồn khoảng 300m về phía bắc [32] (PL2.Bđ12) Viện Khảo
cổ học kết hợp với Bảo tàng tỉnh Hà Nam Ninh tiến hành khai quật toàn bộ khu phế tích này vào năm 1983 [32] Đã phát hiện được dấu vết nền tháp và nhiều di vật có giá trị
Di tích Ly Cung thuộc thôn Kim Phát, xã Hà Đông, huyện Hà Trung, tỉnh
Thanh Hóa Phía đông, Ly Cung cách quốc lộ 1A khoảng 1km, phía nam cách sông Lèn chừng 2km, phía tây bắc cách thành nhà Hồ và đàn Nam Giao khoảng 25km [82] (PL2.Bđ13, PL3.Sđ5) Di tích đã được Viện Khảo cổ học phối hợp với Phòng Bảo tồn Bảo tàng, Ty Văn hóa Thông tin tỉnh Thanh Hóa tiến hành khai quật 5 lần vào các năm 1979, 1980, 1982, 1984, 1985 [31, 37, 40, 41] Qua 5 lần khai quật, chúng ta đã phát hiện được những di tích và di vật có giá trị mang lại những thông tin quan trọng cho việc tìm hiểu diễn trình lịch sử của di tích này Ly Cung từ lâu đã thu hút sự chú ý quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Ngoài những Báo cáo về kết quả của cuộc khai quật, còn có những bài viết đăng trên tạo chí khảo cổ học, kỷ yếu Những phát hiện mới về khảo cổ học luận bàn về nhiều khía cạnh của di tích này [31, 33, 37, 38, 39, 40, 41, 109] Bên cạnh đó, năm 2007, cũng có một luận văn cao
học về nhóm vật liệu kiến trúc phát hiện được ở đây [82]
Trang 40Địa điểm Thành nhà Hồ có tọa độ trong khoảng 200N04’06 - 200N05’01 và
1050E26’23 - 1050E37’00 nằm giữa bốn thôn Tây Giai, Xuân Giai, Thượng Giai và Đông Môn thuộc hai xã Vĩnh Long và Vĩnh Tiến, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa
Di tích nằm trên đường huyện lộ 217 từ Vĩnh Lộc đi Cẩm Thủy, Bá Thước, phía đông nam cách thị trấn Vĩnh Lộc khoảng 1km, cách di tích đàn Nam Giao khoảng 2,5km, cách di tích Ly Cung khoảng 25km [82] (PL2.Bđ14, PL3.Sđ5) Địa điểm thành nhà Hồ đã được khai quật 2 lần vào các năm 2004 và 2008 Năm 2004, đoàn hợp tác Việt - Nhật giữa trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học nữ Chiêu Hòa, Nhật Bản đã tiến hành khai quật thăm
dò lần thứ nhất với diện tích 48,5m2 Trong 4 hố thám sát đoàn khai quật đã phát hiện được một số di tích tiêu biểu như nền gạch, móng cột, cống thoát nước… [52, 82] Năm 2008, Viện Khảo cổ học đã phối hợp với Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh Thanh Hóa tiến hành khai quật tại khu vực cửa nam của thành với tổng diện tích là 301m2 Đợt khai quật lần này đã phát hiện được những dấu vết kiến trúc quan trọng mang lại những thông tin có giá trị cho việc tìm hiểu diện mạo kiến trúc khu vực cửa nam thành nhà Hồ [91]
1.2.2 Lịch sử nghiên cứu móng kiến trúc thời Lý, Trần, Hồ
Từ khá sớm, móng của những công trình kiến trúc thời Lý, Trần, Hồ đã nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Tản mạn trong các báo cáo, bài viết của mình các tác giả đã phần nào đề cập đến dấu vết móng của các công trình kiến trúc giai đoạn này
Hai năm sau ngày thành lập Viện Khảo cổ học, năm 1970, Cao Xuân Phổ cùng cộng sự khai quật tháp Chương Sơn (tháp Vạn Phong Thành Thiện) ở Ý Yên,
Hà Nam Sau đó, trong báo cáo và bài viết “Tháp Chương Sơn, nhà Lý” đăng trên
tạp chí Khảo cổ học số 5-6 năm 1970 công bố về kết quả đợt khai quật lần này, ông cũng đã đề cập đến dấu vết móng tháp [74, 75]